{"text": "Tên sách: LUẬN ĐỀ VỀ TRẦN TẾ XƯƠNG\nTác giả: GS. NGUYỄN DUY DIỄN\nGiáo sư NGUYỄN DUY DIỄN LUẬN ĐỀ VỀ TRẦN TẾ XƯƠNG THĂNG LONG 1952\n\nÔng Trần-tế-Xương\ntên chữ là Tử-Thịnh, hiệu là Vị-Thành, người làng Vị-Xuyên, huyện Mỹ-lộc tỉnh Nam Định, sinh năm Canh Ngọ (1870), đời vua Tự Đức thứ 23, Thân phụ ông là cụ Trần-kế-Nhuận. Hồi trước, thân phụ ông có làm chức Tự-Thừa, và có cửa hàng buôn bán ở phố Vị Xuyên, tỉnh Nam Định (vì thế người ta thường gọi là cụ Tự). 1\nNgay từ khi còn đi học, Trần-tế-Xương đã tỏ ra rất thông minh, văn hay chữ tốt, và lại sở trường về văn thơ quốc âm.\nTính ông mau mắn, và hào phóng : cầm kỳ, thi họa, món gì ông cũng tỏ ra thông thạo cả. Ngoài ra, ông lại còn thích làm dáng. Nghèo kiết đến đâu mặc dầu, những bộ cánh bao giờ cũng sang trọng, ngựa xe không lúc nào ngớt.\nVì tính bướng bỉnh, phóng khoáng, nên ông không chịu câu thúc vào một qui thức nhất định, đến nỗi bao lần đi thi, mà ông cứ bị đánh hỏng mãi chỉ vì lỗi phạm trường qui. Mãi đến năm giáp Ngọ (1891) tức năm Thành Thái thứ 6 mới thi đỗ Tú tài (khi ấy ông đã 25 tuổi).\nBà Trần tế Xương là một người đảm đang, khuôn mẫu, nên nhờ bà, mà nhà thi sĩ nhàn hạ được đôi phần. Ông thường đi lang thang, do đó, hiểu rõ nhân tình thế thái của thời đại và làm được nhiều thi phẩm có giá trị. Thơ ông hầu hết đều : tự nhiên và bao hàm một xu hướng trào lộng khi cảm động, khi chua chát, lúc biến thành những lời uất hận khôn cùng.\nHồi về sau này, gia cảnh ông rất bi đát, chỉ vì ông đã đứng bảo đảm cho một người quen vay nợ. Người đó không trả được, nên chủ nợ đến tịch biên gia sản ông. Gặp cảnh vận cùng, thế bĩ đó, ông lại càng làm được những bài thơ nói về cảnh nghèo mọt cách vô cùng thấm thía.\nSau khi đỗ tú tài khóa Giáp Ngọ, ông vẫn tiếp tục đi thi, nhưng thi mãi mà hỏng vẫn hoàn hỏng, có nhiều người bàn ông nên đổi tên họ may ra vận có khá hơn chăng. Ông nghĩ ngợi và sau cùng ông, đổi chữ đệm, Tế thành Cao. Do đó Trần tế Xương biến thành Trần cao Xương là vì vậy. Khóa Bính Ngọ. « Thành Thái thứ 18 » (1906), ông lại đi thi, nhưng dù đã đổi chữ đệm, mà ông vẫn bị hỏng như lần trước. Chán nản, ông trở về làm được ít bài thơ, tỏ nỗi uất hận thi trượt của mình.\nMùng 6 tháng chạp năm ấy (1906) ông sang quê ngoại ăn giỗ, rồi ông bị mất luôn tại đó tức là làng Địa-Tứ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định hưởng thọ 37 tuổi.\n\n*Ông Trần thanh Mại, trong cuốn. « Trông * *d* *òng sông Vị » khi phê bình văn chương ông Tú Vị Xuyên, có viết :* *« Hơi văn đi ra như một luồng nước chảy xuôi * *d* *òng, êm, khoẻ, mau… »* *Lời phê bình của ông Trần thanh Mại như vậy có đúng không ? Hãy dùng văn chương của ông Tú Vị Xuyên để dẫn chứng.* **Vào bài : **Trần tế Xương là một trong những nhà thơ nổi tiếng bậc nhất vào quãng cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX. Phê bình văn chương ông, ông Trần thanh Mại, trong cuốn « Trông dòng sông Vị » có viết : *« Hơi văn đi ra như một luồng nước chẩy xuôi * *d* *òng, êm, khoẻ, mau… »* Muốn hiểu rõ lời phê bình trên đây có đúng không chúng ta cần đọc lại thi ca của ông Tú Vị Xuyên để xét lại từng điểm một. **Thân bài : ** *Hơi văn đi ra như mớt luồng nước chẩy xuôi * *d* *òng.*\nĐúng như lời ông Trần Thanh Mại, một số bài thơ của Trần tế Xương dễ dàng, giản dị, thao thao như những lời nói chuyện.\n« Ấm không ra ấm, ấm ra nồi,\nẤm chạy loăng quăng ấm chẳng ngồi,\nChán cả đồ chuyên cùng chén mẫu,\nLuộc giò, nấu thịt lại đồ xôi… »\nHoặc :\n« Cử nhân cậu ấm Kỷ,\nTú tài con đô Mỹ,\nHọc thế thế mà thi,\n*Khỉ ơi, ơi hỡi khỉ !* * »* **- Êm :** Văn chương của ông nhiều câu êm ả, dịu dàng, như một hơi gió thoảng :\n« Ta nhớ người xa cách núi sông\nNgười xa xa có nhớ ta không ? »\n(Nhớ bạn thân)\nHoặc :\n« Gọi người chỉ thấy non xanh ngắt\nĐợi nước càng thêm tóc bạc phơ… »\n(Đi lạc đường)\n**- ** **Khoẻ :**\n« Cống hỉ mét xì đây thuộc cả\nChẳng sang tầu tớ cũng sang tây… »\n(Thi hỏng dặn bảo con)\nHoặc :\n« Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,\nCũng lều cũng chiếu, cũng đi thi… »\n(Đi thi)\nHoặc :\n« Rứt cái mề đay quẳng xuống sông\nThôi thôi tôi cũng mét-xì ông… »\n(Cô Tây đi thi)\n**- ** **Mau :** *êm *và *khỏe*, thơ tú Xương còn mau lẹ, thanh thoát tưởng như không còn thấy kỹ thuật là gì nữa :\n« Hán tự chẳng biết hán\nTây tự chẳng biết tây\nQuốc ngữ cũng mù tịt\nThôi thôi về đi cầy… »\nHoặc :\n« Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà\nTrước nhà có miếu có cây đa… »\nHoặc :\n« Sao đương vui vẻ ra buồn bã\n*Vừa mới quen nhau đã lạ lùng »* *.* **Kết luận : **Nói về hơi văn của Trần-tế-Xương, ông Trần-thanh-Mại đã nhìn một cách khá chu đáo. Tuy nhiên chúng ta cũng nên thêm vào : không phải những hơi êm, khỏe, mau đó đứng tách bạch, nhiều khi nhà thi sĩ đã phối hợp cả ba tính chất đó ngay trong một vài câu thơ – do đó nhạc điệu xôn xao, linh động, làm cho người đọc càng bị mê ly, hấp dẫn thêm. **Vào bài : **Trần-tế-Xương là một nhà thơ nổi tiếng bậc nhất vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ thứ 20. Phê bình văn chương ông, ông Trăn-Thanh-Mại, trong cuốn « Trông dòng sông Vị » có viết : *« Hơi văn đi ra như một luồng nước chảy xuôi * *d* *òng êm khỏe, mau… » *Muốn xác nhận lời phê bình đó có đúng không chúng ta cần phân tách hơi thơ của nhà thi sĩ Sông Vị theo từng điểm đã được nêu lên đó. **Thân bài ** **:** **-** ** Hơi văn đi ra như một luồng nước chảy xuôi ** **d** **òng** ** : **Đọc thơ Trần-tế-Xương, điểm làm cho ta chú ý ngay từ phút đầu là sự dễ dàng, giản dị – dễ dàng giản dị nhưng mà không tầm thường – Hơi văn, một khi đã được khơi lên, thì cứ thế trào ra, lai láng như không có sức gì có thể cản lại nổi. Chúng ta bị hấp dẫn, bị lôi cuốn theo giọng thơ như một chiếc lá bị cuốn theo chiều gió. Để có một ý niệm về sự giản dị, về sự trôi chảy vừa nói trên, chúng ta hãy đọc lại bài thơ sau đây của thi sĩ :\n« Ấm không ra ấm, ấm ra nồi,\nẤm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi\nChán cả đồ chuyên cùng chén mẫu,\nLuộc giò, nấu thịt, lại đồ xôi… »\nHoặc :\n« Cử nhân cậu ấm Kỷ,\nTú tài con đô Mỹ,\nHọc thế thế mà thi,\n*Khỉ ơi, ơi hỡi khỉ !* * »*\nSự giản dị, dễ dàng đó làm cho ta chợt nghĩ tới một vài bài thơ của Nguyễn Khuyến :\n« Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,\nNó lại lôi ông đến giữa đồng ;\nCướp của, đánh người, quân tệ nhỉ,\n*Xương già da cọp có đau không ?* * »*\nSự giản dị, dễ dàng của Trần tế Xương cũng như của Nguyễn Khuyến đã nêu hẳn một sức sống linh diệu làm vẻ vang cho văn chương Việt nam chúng ta.\n**-** ** Êm : **Văn chương của ông còn có nhiều câu êm ả, dịu dàng như một hơi gió thoảng. Tỉ dụ, để diễn tả nỗi lòng sầu muộn nhớ nhung của mình với một người tri kỷ ở nơi trùng khơi xa cách, tác giả đã dùng một nhạc điệu bâng khuâng, hiu hắt, như một lời than thở.\n« Ta nhớ người xa cách núi sông\n*Người xa xa có nhớ ta không…* * »*\nHoặc :\n« Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn.\n*Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn* * ».*\nCó người cho rằng cái nhạc điệu êm dịu đó có được là vì tác giả thường dùng nhiều tiếng bằng hơn tiếng trắc. Tỷ dụ như 2 câu trên, tác giả đã dùng tới 9 tiếng bằng trong tổng số 14 tiếng. Hai câu thơ dưới cũng thế, 8 tiếng bằng trong tổng số 14 tiếng.\nNhưng hỏi thế thiết tưởng cũng không hẳn đúng. Nếu đọc những câu thơ sau này, những câu rất êm ả, rất nhẹ nhàng, mà số tiếng bằng chỉ ngang với tiếng trắc mà thôi :\n« Khách hỏi nhà ông tới\nNhà ông đã bán rồi ! »\n(5 tiếng bằng, 5 tiếng trắc)\nCó nhiều khi tiếng trắc lại còn nhiều hơn cả tiếng bằng nữa :\n« Gọi người chỉ thấy non xanh ngắt,\nĐợi nước càng thêm tóc bạc phơ… »\n(tiếng bằng đặt cạnh 8 tiếng trắc)\nSau khi điều đó đã được nêu lên, chúng ta càng nhận thấy rằng, Trần tế Xương đã tạo nên những bài thơ có một nhạc điệu êm ả, dịu dàng, hoàn toàn không dựa vào những tiếng bằng một cách dễ dãi như người ta tưởng, mà là do cái nhịp nhàng của hơi thơ nói chung. Với hơi thơ tinh tế đó, những tiếng trắc đã bị « tôi » gần hết cái tính chất cứng nhắc của nó, để biến thành những lời nhẹ nhàng, thanh thoát do cái ma thuật kỳ diệu của con người nghệ sĩ.\n**-** ** Khoẻ : **Cạnh những câu thơ êm ả, dịu dùng như đã nói trên, Trần tế Xương còn có những câu thơ khỏe mạnh, xốc vác. Chúng ta có cảm tưởng rằng những nỗi uất hận bị kìm hãm trong thâm tâm, trong một lúc bột phát, chảy ùa ra, dồn dập… phăng phăng như một dòng nước lũ.\n« Cống, hỉ, mét-xì đây thuộc cả\n*Chẳng sang Tầu tớ cũng sang Tây* * ».*\nHoặc :\n« Tấp tểnh người đi tớ cũng đi\n*Cũng lều cũng chiếu cũng đi thi* * »*\nNhiều khi, hơi thơ còn trở nên sôi nổi, gay gắt, nghênh ngang một cách « không cần gì nữa ».\n« Rứt cái mề đay quẳng xuống sông\n*Thôi thôi tôi cũng mét-xì ông…* * »*\nHoặc :\n« Chuyện nở như gạo rang,\nChuyện dai như chão rách,\nĐổ cả bốn chân giường,\nXiêu cả một bức vách… »\nCái khỏe của âm điệu, một phần, cũng là một số những tiếng trắc đã được đặt vào\n*đúng chỗ *của nó. Nó đã biến thành những điểm nhấn mạnh : gằn lên, giống như những chỗ « lệch nhịp » (Syn-cope) trong một bản nhạc vậy. (Tỉ dụ như : Rứt, quẳng, mét nở, chuyện, đổ, vách trong những câu thơ trên đây). **- ** **Mau : **Cạnh những giá trị êm vào khỏe, hơi thơ của Trần tế Xương còn mau lẹ, thanh thoát, như loại thơ « xuất khẩu » đến nỗi ta tưởng như không còn tìm thấy dấu vết của kỹ thuật đâu nữa.\n« Khách hỏi nhà ông tới\nNhà ông đã bán rồi… »\nHoặc :\n« Hán tự chẳng biết hán\nTây tự chẳng biết tây\nQuốc ngữ cũng mù tịt\nThôi thôi về đi cầy… »\nHoặc nữa :\n« Sao đương vui vẻ ra buồn bã\n*Vừa mới quen nhau đã lạ lùng* * ».* **Kết luận : **Nói về « hơi văn » của Trần tế Xương, ông Trần thanh Mại nhìn nhận một cách chu đáo. Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhấn mạnh : Không phải hơi thơ êm, khỏe, mau đứng riêng rẽ, tách bạch, nhiều khi nhà thi sĩ đã phối hợp cùng một lúc, cả ba « tính chất » đó ngay trong một bài thơ, hoặc trong một câu thơ, tỷ dụ : *« Sông kia rầy đã nên đồng *( **êm**) *Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai* ( **êm, mau**) *Đêm nghe tiếng ếch bên tai* ( **êm**) *Giật mình* ( **khỏe gằn**) * còn tưởng tiếng ai gọi đò* ( **êm, mau**) * ».*\nChính vì ba « yếu tố » đó cùng được áp dụng ngay trong một bài, thích hợp với tùy từng ý thơ, nên có sức hấp dẫn, mê hoặc ta, như một bản nhạc phong phú vậy.\n*\n**Đề tài đề nghị :** *Hãy phân tích nghệ thuật dùng chữ và đặt câu trong thi phẩm của Trần tế Xương.*\n\nThơ của Trần tế Xương không những có dân-tộc tính mà hơn thế, nó còn bao hàm những sắc-thái của thời đại ông nữa. Hãy dùng văn-chương của ông Tú Vị Xuyên để chứng mình lời nhận định trên đây.\n**Vào bài :** *dân tộc tính *mà hơn thế ông còn ghi tất cả cái *sắc thái *của thời đại ông nữa.\nThân bài :\n**1) ** **Dân tộc tính trong thi phẩm Trần tế Xương**\nNhận định về dân tộc tính\n. Nhìn vào ca dao, một kho tàng vô giá về dân tộc tính, ta có thể thấy ngay những nét lớn sau này : 2 *- * *Tình cảm :* nồng nàn, nhưng bao giờ cũng chân thành, tế nhị. *- * *Ý tưởng* : thành thực, thỉnh thoảng len vào những câu bông đùa hóm hỉnh. *- * *Lời thơ :* giản dị, hồn nhiên.\nNhìn vào thi phẩm Trần tế Xương, ta thấy những nét đó nổi lên rõ rệt. Tình cảm nồng nàn, nhưng bao giờ cũng chân thành tế nhị.\n« Hôm qua tát nước đầu đình.\nBỏ quên cái áo trên cành hoa sen,\nEm được thì em cho xin,\n*Hay là em để làm tin trong nhà…* * »*\n(Ca dao)\n« Hôm qua anh đến chơi đây,\nGiày giôn anh diện, ô tây anh cầm,\nRạng ngày sang trống canh năm,\nAnh dậy, em vẫn còn nằm trơ trơ,\nHỏi ô ? Ô mất bao giờ…\nHỏi em ? Em những ẫm ờ không thưa\nSợ khi rày gió mai mưa\nLấy gì đi sớm về trưa với tình ! »\n(Trần tế Xương)\nHoặc :\n« Đêm qua chớp bể mưa nguồn,\n*Hỏi người tri kỷ có buồn hay không ?* * »*\n(Ca dao)\n« Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn\n*Đêm nảo, đêm nao tớ cũng buồn…* * »*\n(Trần tế Xương)\n**- ** **Ý tưởng :**\n« Trăm năm dù lỗi hẹn hò\nCây đa bến cũ, con đò khác đưa… »\n(Ca đao)\n« Đêm nghe tiếng ếch bên tai\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * »* *.*\nHoặc :\n« Lạnh lùng thay ! Láng giềng ôi !\nLáng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều… »\n(Ca dao)\n« Tương tư chẳng lọ là mưa gió\nMột ngọn đèn xanh trống điểm thùng… »\n(Trần tế Xương)\n**- ** **Bông đùa, hóm hỉnh :**\n« Ba cô đội gạo lên chùa\nMột cô yếm thắm bỏ bùa cho sư\nSư về sư ốm tương tư\nỐm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu… »\n(Ca dao)\n« Thấp thoáng bên đèn, lên bóng cậu,\nThướt tha dưới án nguýt sư ông,\nChị em thỏ thẻ đêm thanh vắng :\n*Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng* * ».*\n(Trần tế Xương)\nVề ý tưởng hóm hỉnh trong thơ của nhà thi sĩ Vị Xuyên, chúng ta có thể trích ra đây khá nhiều để làm biểu chứng :\n« Nghe tin bà cố cười khì khì\n*Đổ cả riêu cua xuống vũng lội* * »* *.*\nHoặc :\n« Nghe tin cụ cố cười ha hả\n*Vứt cả dao cầu xuống ruộng khoai…* * »*\nHoặc nữa :\n« Có năm ba chữ nhồi trong ruột\nKhéo khéo không mà nữa cũng rơi… »\nv.v…\n**- ** **Lời thơ hồn nhiên, giản dị :**\n« Con cò mà đi ăn đêm\n*Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…* * »*\n(Ca dao)\n« Quanh năm buôn bán ở ven sông ;\nNuôi nấng đàn con với một chồng\nLặn lội thân cò khi quãng vắng\n*Eo sèo mặt nước buổi đò đông… » * 3\nSự hồn nhiên, giản dị hiện lên rõ rệt quá đến nỗi bao nhiêu dấu vết của sự gọt dũa biến đi hết :\n« Viết vào giấy dán ngay lên cột\n*Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay…* * »*\nHoặc :\n« Khách hỏi nhà ông tới\n*Nhà ông đã bán rồi* * ».* **2) ** **Bao hàm sắc thái của thời đại :** **- ** **Thời đại của Trần tế Xương :** *- * *Mất nước : *(Hãy đọc bài đi lạc đường, Đại Hạn).\n« Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt\n*Đợi nước càng thêm tóc bạc phơ…* * »*\nHoặc :\n« Nước biếc non xanh coi vắng vẻ\nKẻ đi người lại dáng bơ vơ… »\n*Cuộc bảo hộ bành trướng*. Một chế độ mới khắc nghiệt bắt đầu được thiết lập khắp mọi nơi : *« Hà nam danh giá nhất ông cò * 4 *Trông thấy, ai a¡ chẳng dám ho…* * »* *- * *Nho học suy đồi :*\n« Đạo học ngày nay đã chán rồi\nMười người theo học chín người thôi… »\n*Thi cử sắp bỏ*, nên việc chấm thi không còn công minh như trước. Hầu hết các người dốt đều đỗ. Ở đây ta có thể thấy rõ cái lộn xộn bừa bãi của trường thi :\n« Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa\nĐứa khoe văn hoạt đứa văn già\nNăm nay đỗ rặt phường hay chữ,\nKìa bác Lê kia cũng thứ ba… »\nVà cái cảnh tượng khúm núm của những người thi đỗ trước sự kiêu hãnh của kẻ « chiến thắng ».\n« Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt.\n*Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng* * »* *.*\nĐến nỗi một số đông trí thức đã không thể giữ vững được bản ngã, đành sợ hãi đầu hàng, dùng văn chương để a dua nịnh hót một cách thảm hại :\n« Sĩ khí rụt rè gà thấy cáo\nVăn chương liều lĩnh đấm ăn xôi… »\nĐồng thời những bọn « đầu cơ chính trị » nhảy ra múa rối để kiếm chút cơm thừa canh cặn của kẻ chiến thắng. Thời đại đó, nhân vật đó, ông đã mỉa mai bằng bài : « Bọn hát tuồng ».\n« Dẫu rằng dối được đàn em trẻ\n*Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn »* *.*\nTrong khi đó, thì những người trí thức có bản ngã đành chịu đựng sự túng đói bệ rạc không bút nào tả xiết :\n« Một tuồng rách rưới con như bố\n*Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng…* * »*\nHoặc :\n« Khách hỏi nhà ông tới\n*Nhà ông đã bán rồi* * »* *.*\nHoặc hơn nữa :\n« Vợ lăm le ở vú\n*Con tấp tểnh đi bồi* * »* *.*\nCảnh bại vong, túng quẫn đến nỗi nhiều lúc thi sĩ đã phải nghẹn ngào mà kêu lên :\n« Sao bằng đi học nghề thông ký\n*Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò* * ».*\nNói đến phản ảnh của thời đại trong thơ Trần tế Xương không thể nào hết được. Mỗi bài thơ là tượng trưng cho một tâm trạng một sắc thái của thời đại. Về ý tưởng đã vậy, đến cả lời văn, sắc thái của thời đại còn rõ rệt hơn nữa. Luôn luôn ông dùng những tiếng rất mới, những tiếng chưa từng có âm hưởng trong văn chương Việt Nam từ trước ông – chỉ có thời đại ông mới bắt đầu có những tiếng đó, cà phê nước đá, mét xì, sâm banh, sữa bò, thông, ký, bồi, bà đầm, ông cò, v.v…\n**Kết luận** : Thị ca của Trần tế Xương là một loại thi ca có đặc tính của dân tộc – Hơn thế, nó còn bao hàm hầu hết – những phản ảnh của thời đại. Ta có thể tìm thấy ở đó rất nhhiều những tài liệu tỉ mỉ để xây dựng một cuốn lịch sử xã-hội Việt Nam cận đại. **Vào bài : **Trong những nhà thơ xuất hiện vào thế-kỷ 19 sang đầu thế kỷ thứ 20, thì Trần-tế-Xương là một nhà thơ lừng lẫy nhất. Với một thiên tài lỗi lạc, Trần tế-Xương đã làm bộc lộ một cách rõ-rệt qua thi phẩm của ông, không những cái đặc tính cố hữu của dân tộc mà hơn thế, ông còn ghi lại tất cả cái sắc thái phức tạp của thời đại ông nữa.\nThân bài :\n**1) ** **Dân tộc tính trong th¡ phẩm Trần Tế-Xương**\nTrước khi nói về dân tộc tính trong thi phẩm Trần-tế-Xương, chúng ta thấy cần phải nhận định một cách tổng quát, thế nào là dân tộc tính đã. Để có một ý kiến cụ thể về vấn đề này, không gì hơn là chúng ta hãy trở lại tìm nó trong ca dao,\n*một kho tàng vô giá về dân tộc tính* và chúng ta có thể thấy ở đó những nét chính sau đây :\n-\n*Tình cảm *nồng nàn, thắm thiết, nhưng bao giờ cũng duyên dáng tế nhị.\n-\n*Ý tưởng *thành thực, thỉnh thoảng len vào những câu bông đùa, hóm hỉnh.\n-\n*Lời thơ *giản dị, hồn nhiên.\nSau khi đã đề lên những nét chính đó, ta thấy cần phải trích những đoạn thơ của Trần-tế-Xương, đặt song đôi với những đoạn ca dao, để ý niệm của chúng ta về từng điểm được rõ rệt khúc chiết.\n*- * *Tình cảm nồng nàn, nhưng bao giờ cũng dịu dàng tế nhị :*\n« Đêm qua tát nước đầu đình,\nBỏ quên cái áo trên cành hoa sen,\nEm được thì cho em xin,\nHay là em để làm tin trong nhà… »\n(ca dao)\nTrần-tế-Xương cũng có được những tình cảm nồng nàn, tế nhị ấy và ông đã diễn đạt được một cách nhẹ nhàng duyên dáng không kém gì ca dao :\n« Hôm qua anh đến chơi đây\nGiầy giôn anh diện, ô tây anh cầm,\nRạng ngày sang trống canh năm,\nAnh dậy, em vẫn còn nằm trơ trơ,\nHỏi ô ? ô mất bao giờ\nHỏi em ? Em những ẫm ờ không thưa !\nSợ khi rầy gió mai mưa,\n*Lấy gì đi sớm về khuya với tình* * »* *.*\n(T.T.X)\nĐến cả những nỗi nhớ nhung quằn quại, ông cùng lựa chiều phô diễn được một cách dìu dịu, bát ngát như trong ca dao.\n« Đêm qua chớp bể mưa nguồn\n*Hỡi người tri kỷ có buồn hay không ?* * »*\n(Ca dao)\n« Trời không chớp bể, chẳng mưa nguồn.\nĐêm nảo đêm nao tớ cũng buồn… »\n(Trần tế Xương)\n**- ** **Ý tưởng :** Tình cảm đã thế, đến cả ý tưởng Trần tế Xương cũng tỏ ra hết sức thành thực.\nNghĩ thế nào, ông viết ra như thế, không phóng đại, hoặc dùng kỹ thuật để che đậy sự nghèo nàn, trống rỗng bên trong. Trong thơ ông, chúng ta rất ít tìm thấy những câu « xảo ngôn ». Luôn luôn nhựa sống trào ra, dào dạt ở mỗi dòng, mỗi chữ.\n« Trăm năm dù lỗi hẹn hò.\n*Cây đa bến cũ, con đò khác đưa »* *.*\n(ca dao)\n« Đêm nghe tiếng ếch bên tai\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * ».*\n(Trần tế Xương)\nHoặc :\n« Lạnh lùng thay ! láng giềng ơi !\n*Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều* * ».*\n(ca dao)\n« Tương tư chẳng lọ là mưa gió.\n*Một ngọn đèn xanh, trống điểm thùng* * »*\n(Trần tế Xương)\nRất hiếm những nhà thơ có những ý tưởng mộc mạc, chất phác, đặt ngang hàng với những ý tưởng trong ca dao được đến như thế.\n**- ** **Bông đùa, hóm hỉnh :** Cạnh những ý tưởng mộc mạc chất phác ấy, nhà thi sĩ của chúng ta lại luôn cho xen vào những ý tưởng bông đùa hóm hỉnh, hoặc châm biếm một cách hồn nhiên nữa.\n« Ba cô đội gạo lên chùa\nMột cô yếm thắm bỏ bùa cho sư\nSư về sư ốm tương tư\n*Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu* * ».*\n(ca dao)\n« Thấp thoáng bên đèn, lên bóng cậu,\nThướt tha dưới án nguýt sư ông\nChị em thỏ thẻ đêm thanh vắng\n*Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng »* *.*\n(Trần tế Xương)\nNếu hai đoạn vừa trích ra bên đây có khác nhau, chỉ là ở chỗ ca dao châm biếm nhà sư, còn Trần tế Xương thì châm biếm các cô đồng thế thôi, còn về phương diện châm biếm, bông đùa thì ta thấy cả hai đều giống nhau như đúc.\nVề điểm khôi hài hóm hỉnh này thi phẩm của nhà thi sĩ sông Vị còn trưng lên rất nhiều, chúng ta có thể trích ra đây một vai câu khác nữa để làm biểu chứng :\n« Nghe tin bà cố cười khì khì\n*Đổ cả riêu cua xuống vũng lội* * ».*\nHoặc :\n« Nghe tin cụ cố cười ha hả\n*Vứt cả dao cầu xuống ruộng khoai* * ».*\nHoặc nữa :\n« Có năm ba chữ nhồi trong ruột\n*Khéo khéo không mà nữa cũng rơi »* *.*\nThực là chất phác, và cũng thực là linh động, lý thú !\n**- ** **Lời thơ hồn nhiên giản dị :** Lời trong ca dao hồn nhiên, giản dị bao nhiêu, thì lời trong thơ Trần tế Xương cũng hồn nhiên và giản dị bấy nhiêu. Mà thực vậy, trong thi phẩm, Trần tế Xương không bao giờ để cho *từ chương *và *điển cố *huyễn hoặc. Tất cả chỉ là những tiếng Việt thuần tuý. Dân tộc tính, do đó, càng nổi lên rõ rệt. Đọc thơ Trần tế Xương, chúng ta có cảm tưởng như được nghe những lời mộc mạc phát ra từ tấm lòng đại chúng :\n« Con cò lặn lội bờ sông\n*Gánh gạo cho chồng tiếng khóc nỉ non…* * »*\n(ca dao)\n« Quanh năm buôn bán ở ven sông,\nNuôi nấng đàn con với một chồng\nLặn lội thân cò khi quãng vắng\nEo sèo mặt nước buổi đò đông… »\n(Trần Tế Xương)\nNhiều đoạn, sự hồn nhiên, giản dị của thơ hiện lên rõ rệt quá, đến nỗi bao nhiêu dấu vết của kỹ thuật, nhất đán, biến đi hết.\n« Viết vào giấy dán ngay lên cột.\n*Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay* * ».*\nHoặc :\n« Khách hỏi nhà ông tới\n*Nhà ông đã bán rồi…* * »*\n(Trần tế Xương)\n**- ** **Bao hàm sắc thái của thời đại :** Thi ca của Trần tế Xương không những chỉ bao hàm những dân tộc tính, mà hơn thế, nó còn là tấm gương phản chiếu trung thành những hình thái đặc biệt của thời đại ông nữa. Trần tế Xương sống từ năm 1870 đến 1906. Trong khoảng thời gian ấy, đã xẩy ra biết bao nhiêu biến cố lớn lao. Điểm đau xót nhất là nhà thi sĩ của chúng ta đã phải chứng kiến cái hiệp định mất nước 1884 và sau đó, cuộc Bảo Hộ của người Pháp bành trướng ở khắp nơi, lấn át kinh tế, cai trị và đảo lộn nền văn hóa cũ cùng với giai cấp nho sĩ mà chính ông là một trong những phần tử tiêu biểu.\nNhững nét chính của thời đại đó chúng ta có thể tìm thấy một cách vô cùng linh động trong thi phẩm của Trần tế Xương.\n**- ** **Vong quốc :** Về điểm vong quốc, chúng ta hãy đọc lại bài đi lạc đường, Đại hạn, v.v…\n« Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt\n*Đợi nước càng thêm tóc bạc phơ »* *.*\nHoặc :\n« Nước biếc non xanh coi vắng vẻ\n*Kẻ đi người lại dáng bơ vơ…* * »*\nRồi, sau việc mất nước, chúng ta được chứng kiến cuộc bảo hộ bành trưởng ở khắp nơi. Cuộc bảo hộ ấy rộng rãi, hay hà khắc ?\nMuốn hiểu rõ điểm này, không gì hơn là chúng ta hãy đọc lại bài thơ giễu « Ông Cò », một đại biểu của nền Bảo Hộ :\n*« Hà-Nam danh tiếng nhất ông Cò. * 5\nTrông thấy, ai ai chẳng dám ho ;\nHai mái trống tung đành chịu dột\nTám giờ chuông đánh, phải nằm co… »\nKhông một bức tranh nào có thể mô tả một cách rõ rệt và thấm thía hơn thế được. Cuộc bảo hộ đó, không chỉ lấn át chính trị, quân sự, mà nó còn lật đổ cả nền văn hóa cũ nữa. Đây, ta hãy nhìn lại cái quang cảnh của nho học suy đồi.\n« Đạo học ngày nay, đã chán rồi.\nMười người theo học, chín người thôi\nCô hàng bán sách lim rim ngủ,\nThầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi… »\nVì sắp bị bãi bỏ, nên các kỳ thi hương cũng đâm ra bừa bãi. Việc chấm thi mất hẳn sự công minh. Hầu hết những người dốt đều đỗ – Ở đây, ta có thể trông thấy rõ cái lộn xộn của trường thi :\n« Hai đứa tranh nhau, cái thủ khoa,\nĐứa khoe văn hoạt, đứa văn già\nNăm nay đỗ rặt phường hay chữ…\nKìa bác Lê kia cũng thứ ba… ! »\nVà còn đây là cảnh tượng khúm núm nhục nhã của những người thi đỗ trước sự kiêu hãnh của kẻ chiến thắng :\n« Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,\n*Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng…* * »*\nVì sự suy đồi, đổ vỡ của « đạo học », nên những người trí thức cũ, một số, đã dùng văn chương để nịnh hót một cách thảm hại, ngõ hầu kiếm miếng cơm manh áo. Không một cảnh tượng đầu hàng nào bi đát bằng cảnh tượng đầu hàng sau đây :\n« Sĩ khí rụt rè gà thấy cáo\nVăn chương liều lĩnh đấm ăn xôi… »\nTrong khi ấy thì bọn « đầu cơ thời cuộc » ra hò hét, múa rối và đã chiếm được những địa vị « vinh thân phì gia ». Thời đại đó, nhân vật đó đã phản ảnh rõ rệt trong bài « Bọn hát tuồng » :\n« Dẫu rằng dối được đàn con trẻ,\nCái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn »\nTrong khi đó, thì một số phần tử trí thức có nhân cách, có bản ngã, đành chịu đựng sự túng đói bệ rạc không bút nào tả xiết :\n« Một tuồng rách rưới con như bố\n*Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng…* * »*\nHoặc :\n« Khách hỏi nhà ông tới\nNhà ông đã bán rồi… »\nHoặc hơn nữa :\n« Vợ lăm le ở vú\n*Con tấp tểnh đi bồi »* *.*\nCảnh bại vong, túng quẫn đến nỗi đại biểu của nhóm người đó đã phải nghẹn-ngào mà kêu lên :\n« Sao bằng đi học nghề thông ký\nSáng rượu sâm banh, tối sữa bò… »\nNói đến phản ảnh của thời đại trong thi ca Trần-tế-Xương không thể nào hết được. Mỗi một bài thơ là tượng trưng cho một tâm trạng, một sắc thái của thời đại.\nVề ý tưởng đã vậy, đến cả lời văn sắc thái của thời đại còn rõ rệt hơn nữa. Cạnh những tiếng « đặc Việt-Nam » như :\n* mẹ mày, bu nó, ông nghè, ông cống, tư lương* *,* * v.v… *ông cho xen vào những tiếng « rất mới », những tiếng mà từ trước đến giờ chưa từng có âm hưởng trong thi ca Việt-nam : * cà phê, nước đá, mét-xì, xâm banh, sữa bò, bà đầm, thông ký, bồi, ông cò* *,* * v.v…*\nSự phối hợp những danh từ « mới cũ » trong một bài thơ, hoặc một câu thơ càng làm nổi rõ cái màu sắc nhố nhăng của cuộc tiếp xúc Việt Pháp trong buổi giao thời.\n**Kết luận : **Sau khi đã trình bày từng điểm, ta thấy thi ca của Trần-tế-Xương quả là một loại thi ca có đặc tính của dân tộc. Ngoài ra, nó còn phản-chiếu hầu hết những sắc thái phức tạp (cả về tinh thần lẫn vật chất) của thời đại ông nữa. Vì thế thơ của Trần-tế-Xương có thể được coi là một kho tàng chứa đựng những tài liệu vô giá, rất hữu ích cho việc biên soạn một cuốn nghiên cứu « Thực Trạng Xã hội Việt-Nam Cận Đại ».\n*\n**Đề tài đề nghị :** *Hãy trình bầy những đặc tính Việt Nam trong thi phẩm của ông Tứ Vị-Xuyên.*\n\n*Hãy phân tách những đặc tính trào phúng * 6 * trong thi ca Trần-Tế-Xương.* **Vào bài :**\nThân bài :\n**1** **) Loại trào phúng bông lơn, hồn nhiên**\nTiếng cười ở đây giòn tan, thẳng thắn, giống như tiếng cười trong ca dao.\n« Nghe tin cụ cố cười ha hả,\n*Quẳng cả dao cầu xuống ruộng khoai* * ».*\nHoặc :\n*« * *…Giang hồ khí cốt,*\nViết vào giấy dán ngay lên cột\nHỏi mẹ mày rằng dốt hay hay,\nRằng hay thì thật là hay\nChẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài,\n*Xưa nay em vốn chịu ngài…* * »*\nHoặc :\n« Chị em thỏ thẻ đêm thanh vắng\n*Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng* * ».*\nHoặc nữa :\n« Đồng giỏi sao đồng không giúp nước\n*Hay là đồng sợ súng thần công…* * »*\nTiếng cười đậm đà, ý vị, giống như tiếng cười của Đông Phương Sóc.\n**2** **) Loại trào phúng có tính cách đả phá**\nTiếng cười ở đây là tiếng cười hiểm hóc, độc địa. Không những ông dùng văn chương để bông lơn, đùa cợt mà còn dùng nó như một phương tiện để công kích, để đả phá.\n**- ** **Ông đả phá những căn bệnh của thời đại :** Ông ghét nhất cái lối xu thời *a dua nịnh hót *để kiếm ăn. Cái lối xu thời đó không những chỉ ảnh hưởng tới hành vi, mà còn hiện lên cả trong văn chương của một số nho sĩ nữa, có lẽ điều này là điều ông lấy làm chua xót nhất :\n« Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi… »\nSau đó là sự\n*giả dối* của người đời. Sự giả dối đến trâng tráo đó, ông đã ghi lại bằng những nét đậm đà, ý vị qua bài thơ « chúc tết ». Còn gì lý thú bằng câu :\n« Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu\nTrăm nghìn vạn mớ để vào đâu ?\nPhen-này ắt hẳn gà ăn bạc\nĐồng rụng đồng rơi lọ phải cầu… »\nSự giả dối đó, ông công kích quyết liệt như vậy mà vẫn chưa cho là đủ – Ông còn ghi lại trong câu đối ngày tết nữa :\n« Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo,\nNhân tình bạc thế lại bôi vôi… »\nNhững\n*căn bệnh* của thời đại dù sao cũng chỉ là một phần nhỏ. Cái phần quan trọng nhất, chua cay nhất, độc địa nhất, trong thi phẩm Trần tế Xương là phần công kích những nhân vật lố lăng của cả một thời đại. Đây ta hãy nghe ông châm biếm những người dốt mà thi đậu và đồng thời cả cái « mù » của trường thi nữa :\n« Cử nhận Cậu Ấm Kỷ\nTú tài con Đô Mỹ\nThi thế cũng đòi thi\n*Ôi khỉ ơi là khỉ* * ».*\nCòn đây ông giễu những ông Cử :\n« Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt\n*Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng* * ».*\nVà những bọn tham quan :\n« Chữ y chữ chiểu không phê đến\nÔng chỉ phê ngay một chữ « tiền ».\nNhững người xu thời, ích kỷ, chỉ nghĩ tới « bơ sữa » háo-danh một cách quá trâng tráo cũng được ông ghi lại bằng những nét thực đậm :\n« Sao bằng đi học nghề thông-ký\n*Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò* * ».*\nHoặc :\n« Công đức tu hành sư có lọng\n*Xu hào rủng rỉnh mán ngồi xe* * ».*\nNhững lời công kích độc địa nhất, tàn ác nhất phải là những lời công kích ông cò :\n« Ngớ ngẩn đi xia may vớ được\nChuyến này ắt hẳn kiếm ăn to… »\nNói đến những nhân vật của thời đại mà ông công kích, thì không thể nào hết được (ông đồ, ông ấm, bác quyền, v.v…) Bất cứ một người nào « khác người » đều bị ông đưa lên « sân khấu ». Sự công kích đó ông làm một cách vô tư chí thành và chỉ nhằm có mục đích :\n« Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước\nSao được cho ra cái giống người… »\n**3** **) Loại trào phúng chua chát thấm thía**\nTrên đây chúng ta đã được nghe những tiếng cười, hoặc hồn nhiên, hoặc tàn ác. Còn sau đây mới thực là những tiếng cười ngậm ngùi, nức nở nó làm cho người nghe phải chau mày, rơi lệ như cái cười của Molière tiên sinh. Hãy đọc lại những bài thơ trào phúng về cảnh tàn tạ, suy đồi của nho học :\n« Đạo học ngày nay đã chán rồi.\nMười người theo học chín người thôi.\nSĩ khí rụt rè, gà thấy cáo\n*Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi…* * »*\nHoặc :\n« Nào có ra gì cái chữ nho\nÔng nghè ông cống cũng nằm co\nSao bằng đi học nghề thông ký\n*Sáng rượu xâm banh tối sữa bò »* *.*\nNhưng thấm thía hơn cả là những bài tả cái hoàn cảnh chua xót túng quẫn của thi sĩ.\nĐọc lại bài : « Mùa nực mặc áo… bông », « Than cùng Quan tại gia », « Vay nợ sư ông », « cảm tết », v.v… Thực là những bức « tranh sống ». Đằng sau những nét bút kỳ tài đó, ấp ủ không biết bao nhiêu là tâm sự.\n« Bức sốt như mình cứ áo bông\nTưởng rằng ốm nặng, hóa ra không\nMột tuồng rách rưới con như bố\n*Hai chữ nghêu ngao vợ chán chồng…* * »*\nHoặc :\n« Vợ lăm le ở vú,\n*Con tấp tểnh đi bồi* * ».*\nHoặc :\n« Có năm ba chữ nhồi trong ruột,\n*Khéo không mà nó cũng rơi* * ».*\nHoặc :\n« Lúc túng toan lên bán cả trời\n*Trời cười thằng bé nó hay chơi* * ».*\nHoặc nữa :\n« Khách hỏi nhà ông đến,\n*Nhà ông đã bán rồi* * »* *.* **Kết luận :** **Vào bài : **Thi ca của Trần tế Xương chia ra, làm nhiều loại : loại tâm tình, loại lãng mạn, v.v… nhưng loại đã làm cho tên tuổi ông bất-tử trong văn học là loại thơ trào phúng. Được như vậy, là vì loại thơ trào phúng của ông rất phong phú. Tiếng cười được phát lộ dưới nhiều hình thái khác nhau. Và hình thái nào cũng tiến tới chỗ sâu rộng.\nChúng ta có thể ghi lại lời thơ trào phúng của ông dưới ba hình thái chính sau đây :\n- Hình thái bông lơn, hồn nhiên.\n- Hình thái đả phá.\n- Hình thái thấm thía, chua chát.\nThân bài :\n**1** **) Hình thái bông lơn, hồn nhiên**\nTrần tế Xương là một nhà thơ « rất » Việt-Nam. Tính cách đó đã hiện ra rõ rệt qua giọng thơ bông lơn, hồn nhiên. Nó nhắc nhở ta những tiếng cười chất phác trong những bản chèo cổ :\n« Nghe tin cụ cố cười ha hả,\nQuăng cả dao cầu xuống ruộng khoai… »\nHoặc :\n« …\n*Giang hồ khí cốt*\nViết vào giấy dán ngay lên cột,\nHỏi mẹ mày rằng dốt hay hay,\nRằng hay thì thật là hay,\nChẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài\nXưa nay em vốn chịu ngài… »\nNhiều khi tiếng cười trở nên dí dỏm, ranh mãnh :\n« Chị em thỏ thẻ đêm thanh vắng\nChẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng… »\nĐể rồi chỉ trong khoảnh khắc, tác giả lại che miệng cười ngất :\n*« Đồng giỏi sao đồng * 7 * không giúp nước*\nHay là đồng sợ súng thần công… »\nVề điểm này, ông Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, trong tập Đào Nương ca, đã viết một câu đáng chú ý như sau :\n*« Giọng hoạt kê của ông Tú thật đáng buồn cười, tưởng không kém gì Đông Phương Sóc »* *.* **2** **) Hình thái đả phá**\nCạnh những tiếng cười chất phác, hồn nhiên ấy, Trần tế Xương còn có giọng cười châm biếm đả phá – ở đây tiếng cười đã trở nên hiểm hóc, độc-địa, nhiều khi, đi đến chỗ tàn ác cùng độ.\nCông việc đả phá của ông thường nhằm vào hai mục tiêu chính sau đây :\n**- ** **Những căn bệnh của thời đại :** Căn bệnh đã làm cho ông « chướng tai gai mắt » nhất là căn bệnh a dua nịnh hót. Trong một hoàn cảnh xã hội đương đi tới chỗ suy tàn, một nhóm người vẫn mệnh danh là trí thức, đã quên cái bản ngã hiên ngang, cái tính cách tự trọng, quay ra xu thời, dùng văn chương làm cái « cần câu » cơm áo :\n« Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi… »\nSau căn bệnh a-dua, xu thời là căn bệnh « giả-dối ». Người ta lừa dối nhau bằng sự phản bội, bịp bợm đã đi một chuyện, đến cả những lời chúc tụng lẫn nhau lại cũng môi mép, giả dối nữa. Sự giả đối đến lõa lồ đó, tác giả đã ghi lại bằng những nét thực đậm qua bài thơ « chúc tết ». Đây ta hãy trích ra một đoạn trong bài đó để thưởng lãm :\n« Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu.\nTrăm nghìn vạn mớ để vào đâu ?\nPhen này ắt hẳn gà ăn bạc,\nĐồng rụng đồng rơi lọ phải cầu… »\nSự giả dối đó, ông công kích quyết liệt như vậy mà vẫn chưa cho là đủ, ông còn ghi lại bằng câu đối tết nữa :\n« Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo\nNhân tình bạc thế lại bôi vôi »\n- Những nhân vật của thời đại : Những căn bệnh của thời đại dù sao cũng chỉ là một phần nhỏ. Cái phần quan trọng nhất, chua cay nhất, độc địa nhất trong thi phẩm Trần tế Xương là phần công kích những\n*nhân vật *của thời đại.\nĐây ta hãy nghe ông châm biếm những người dốt mà thi đậu và đồng thời cả cái « mù » của trường thi nữa :\n« Cử nhân cậu ấm Kỷ,\nTú tài con đô Mỹ\nThi thế cũng đòi thi\nÔi ! khỉ ơi là khỉ ! »\nNăm Đinh Dậu, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897) khoa thi rất náo nhiệt, trong khi các ông cử đứng khúm núm một cách thảm hại ở dưới sân, thì Trần tế Xương đã tức cảnh và ngâm ngay một bài thơ :\n« Một đàn thằng hỏng đứng mà trông\nNó đỗ khoa này có sướng không ?\n*Trên ghế bà đầm* ngoi đít vịt *Dưới sân ông cử* ngỏng đầu rồng *… »*\nNhững lời thơ tuy là hài hước, nhưng nó chua xót và có giá trị « cảnh tỉnh » biết bao nhiêu. Còn đây, ta hãy nghe ông công kích bọn tham quan bọn người bỉ ổi không hề nghĩ tới công lý, mà hoàn toàn chỉ làm sao vơ vét cho đầy túi :\n« Chữ « y » chữ « chiểu » không phê đến\n*Ông chỉ phê ngay một chữ « tiền »…* * »*\nNhững người xu thời, ích kỷ, chỉ nghĩ tới cơm no ấm cật, bơ sữa phè phỡn, hoặc những người háo danh hợm hĩnh, cũng được ông ghi lại bằng những lời hí hước :\n« Sao bằng đi học nghề thông ký\nSáng rượu sâm banh tối sữa bò… »\nHoặc :\n« Công đức tu hành sư có lọng !\n*Xu hào rủng rỉnh mán ngồi xe* * ».*\nNgoài ra, ông cũng không quên – mà ông quên làm sao được – bọn người xu thời « đầu cơ » chính trị nhẩy ra múa rối với những lời tuyên bố : « yêu nước, thương nòi » hòng lừa gạt dân chúng. Ông để cho chúng một đòn « chí tử » qua bài « Bọn hát tuồng ».\n« Nào có ra chi lũ hát tuồng :\nCũng hò, cũng hét, cũng y uông…\nDẫu rằng dối đuợc đàn con trẻ\nCái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn… »\nNói tới những nhân vật thời đại mà ông công kích thì không thể nào hết – (ông đồ, ông ấm, bác quyền, v.v…). Bất cứ một người nào « khác người » đều bị ông đưa lên « sân khấu » và châm biếm bằng : những lời cay nghiệt. Ông công kích như vậy có nhằm một chủ trương gì không ? hay chỉ công kích cho thỏa mãn cái xu hướng trào phúng của mình ? Muốn hiểu rõ điều đó, không gì hơn là chúng ta hãy nghe ông trình bày :\n« Vua quan, sĩ, thứ người muôn nước\nSao được cho ra cái giống người… »\nThực là rõ rệt, thực là khiêm tốn, nhưng hỡi ơi ! cũng khó thực hiện biết là bao nhiêu… !\n**3** **) Hình thái chua chát thấm thía**\nTrên đây chúng ta đã được nghe những tiếng cười, hồn nhiên, hoặc khắc nghiệt tàn ác. Còn sau đây mới thực là những tiếng cười ngậm ngùi nức nở. Để có một ý kiến, ta hãy đọc lại bài thơ trào phúng « giễu » về cảnh nho-học suy tàn :\n« Đạo học ngày nay đã chán rồi\nMười người theo học, chín người thôi.\n… … …\nSĩ khí rụt rè gà thấy cáo\n*Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi »* *.*\nHoặc :\n« Nào có ra gì cái chữ nho\nÔng Nghè, ông Cống cũng nằm co\nSao bằng đi học nghề thông, ký,\n*Sáng rượu xâm banh tối sữa bò* * ».*\nĐọc xong, chúng ta không khỏi không nghẹn ngào và rờn rợn như vừa đụng phải một sự thực quá não lòng ! Nhưng não lòng hơn cả là những bài thơ trình bày cái cảnh nghèo xơ xác của thi sĩ.\nĐọc lại bài : « Mùa nực mặc áo bông » « Than cùng », « Quan tại gia », « vay nợ sư ông », v.v… chúng ta tưởng như đương đứng trước một sự thực trần truồng, sống, động và sau mỗi một câu thơ hí hước ấy, ấp ủ không biết bao nhiêu là tâm sự :\n« Bức sốt như mình cứ áo bông\nTưởng rằng ốm nặng hóa ra không\nMột tuồng rách rưới con như bố\n*Hai chữ nghêu ngao vợ chán chồng…* * »*\nHoặc :\n« Vợ lăm le ở vú\nCon tấp tểnh đi bồi… »\nHoặc nữa :\n« Khách hỏi nhà ông đến\nNhà ông đã bán rồi… »\nCả một tấm thảm kịch được dịp phơi bày qua những lời thơ trào phúng. Một nụ cười vừa nở ra trên môi thì một giọt lệ đã long lanh trong khóe mắt. Chúng ta tưởng như vừa đọc những đoạn hài kịch ý nghĩa nhất, thấm thía nhất của Molière tiên sinh.\n**Kết luận : **Sau khi đã phân tách để nhận định, chúng ta thấy rằng loại thơ trào phúng của Trần tế Xương rất phong phú. Nó đã phát lộ dưới nhiều hình thái khác nhau – Và hình thái nào cũng đi tới chỗ độc đáo hiếm có – Cạnh những ý tưởng trào phúng khi hồn nhiên, khi ác nghiệt, khi thấm thía chua chát, Trần tế Xương lại có thêm cả một nghệ thuật diễn đạt nữa, nên lời và ý của ông rất cân xứng. Ông quả là một nhà thơ trào phúng số một trong khoảng hậu bán thế kỷ 19 và có thể cả tiền bán thế kỷ 20 nữa.\n*\n**Đề tài đề nghị :** *Hãy so sánh xu hướng trào phúng trong thi phẩm Trần-tế-Xương với xu hướng trào phúng trong thi phẩm của Nguyễn Khuyến – Những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai nhà thơ ấy.*\n\nHãy nhận định xu hướng tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương. Xu hướng đó có quan trọng không, tại sao ?\n**Vào bài :**\nThân bài :\n**1** **) Tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương rãt phong phú**\n- Tình cảm đối với Thiên Nhiên :\n*« Lòng sông dãi nguyệt bóng chênh chênh* * ».*\n(vịnh chinh phu)\n- Tình cảm ngậm ngùi trước sự biến đổi :\n« Sông kia rầy đã lên đồng\nChỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai\nĐêm nghe tiếng ếch bên tai\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * ».*\n(Hoài cổ)\n- Tình cảm đối với người :\nĐối với bà Tú :\n« Lặn lội thân cò khi quãng vắng.\n*Eo sèo mặt nước buổi đò đông* * »* *.*\nĐối với bạn thân :\n« Ta nhớ người xa cách núi sông\n*Người xa xa có nhớ ta không* * »* *.*\nĐối với chinh phụ :\n« Ngơ ngẩn dạ tằm tơ rối khúc\n*Vẩn vơ hồn bướm suốt năm canh* * »* *.*\nVà đối với mình :\n« Một việc văn chương thôi cũng nhảm\n*Trăm năm thân thế có ra gì* * »* *.*\nTrên đây chỉ mới trích một phần trong cái mớ tình cảm dào dạt, phong phú của thi sĩ. Tình cảm đó còn luôn luôn phát lộ rõ rệt ngay trong những bài thơ trào phúng nữa : Tỷ dụ trong bài Tự Vịnh :\n« Ngày giữ lệ thường hai bữa một\nVợ quen thói cũ ba năm đôi\nHai khoa hương thí không đâu cả\n*Mấy thước vườn hoang bán sạch rồi… !* * »*\nHoặc :\n« Bức sốt như mình cứ áo bông\nTưởng rằng ốm nặng, hóa ra không\nMột tuồng rách rưới con như bố\n*Hai chữ nghêu ngao vợ chán chồng… !* * »*\nNhững câu thơ như trên len vào giữa tiếng cười càng làm cho tình cảm thêm rõ rệt, thấm thía.\n**2** **) Tình cảm diễn đạt trong thi phẩm Trần-tế-Xương rất tế nhị. Thường thường ông diễn đạt tình cảm bằng hình ảnh**\n« Bối rối tình duyên cơn gió thoảng\n*Nhạt phèo quang cảnh bóng trăng suông* * ».*\nHoặc bằng những\n*âm hưởng :*\n« Đêm nghe tiếng ếch bên tai.\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * ».*\nHoặc bằng cách dùng cả hai thứ trong một câu thơ :\n*« Một ngọn đèn xanh (hình ảnh) trống điểm thùng… (âm hưởng)* * ».*\nNgoài ra, ông tìm cách diễn đạt tình cảm một cách kín đảo – súc tích – để cho sức gợi cảm của nó được mạnh. Không mấy khi ông nói hết. Thường thường ông chỉ diễn đạt một phần nào đấy thôi – còn dành cho ta cái phần hiểu rộng thêm lên. Tóm lại, ông áp dụng cái chủ trương « ý tại ngôn ngoại ».\n« Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn\n*Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn…* * »*\nHoặc :\n« Tương tư chẳng lọ là mưa gió\n*Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng…* * »*\nChúng ta cũng phải công nhận một đôi khi cũng có những tình cảm tầm thường, gượng gạo, như :\n« Vì chưng chẳng có, hóa thân hèn\n*Hổ với anh em chúng bạn quen* * »* *.*\n(Thân phận nghèo)\nHoặc loãng như :\n« Xuân sang rồi đấy chị em ơi !\n*Sắm sửa chơi xuân kẻo nữa hoài* * ».*\n(Rủ chơi xuân)\nHoặc sáo như :\n« Ta lại cùng nhau gặp gỡ xuân\n*Xuân đi xuân lại biết bao lần* * »* *.*\n(Hỏi xuân)\nNhưng vì tình cảm trong những câu thơ khác phong phú quá, tế nhị quá, thấm thía quá nên cái nhược điểm đó hầu như bị lấn át.\n**Kết luận :** **Vào bài : **Nói đến Trần tế Xương người ta chỉ thường quan tâm tới loại thơ trào phúng mà quên – hay ít ra là lơ đãng – với những bài thơ hoặc những câu thơ tạo nên do xu hướng tình cảm… Nếu xét kỹ, ta không khỏi thấy rằng xu hướng tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương rất quan trọng, nó đáng được một chỗ vinh dự trong văn học sử, vì những lý do sau đây.\nThân bài :\n**1** **) Tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương rất phong phú**\nĐọc thơ của Trần tế Xương, ta thấy cái dư vang còn kéo dài trong tâm hồn, in sâu trong não cân chúng ta, chưa hẳn đã là những câu thơ trào phúng mà chính là những câu thơ tạo nên do tình cảm. Điểm đó có được một phần lớn là do cái kho tình cảm phong phú của ông. Đây ta hãy « lắng nghe » những tình cảm thắm thiết của ông đối với Thiên Nhiên :\n*« * *Lòng sông dãi nguyệt bóng chênh chênh* * ».*\n(Vịnh chinh phụ)\nHoặc :\n*« Hớn hở cười xuân với Hóa công…* * »*\nVà những tình cảm ngậm ngùi trước sự biến đổi của cuộc đời :\n« Sông kia rầy đã lên đồng\nChỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai\nĐêm nghe tiếng ếch bên tai\nGiật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò… »\nCó thể nói được rằng nỗi niềm hoài cổ ở đây còn sâu sắc, thấm thía hơn hẳn nỗi ngậm ngùi, nhớ tiếc của bà Huyện Thanh Quan trong bài « Thăng Long Hoài cổ », bởi người ta vẫn thấy ở bà Huyện Thanh Quan một phần nào những tình cảm giả tạo.\nTình cảm đối với thiên nhiên, đối với cuộc đời đã vậy, đến cả những tình cảm của ông đối với người cũng không phải là kém dồi dào phong phú.\nĐây ta hãy lắng nghe ông nói về bà Tú :\n« Lặn lội thân cò khi quãng vắng\nEo sèo mặt nước buổi đò đông… »\nVà ông nói với người bạn ở nơi chân trời xa thẳm :\n« Ta nhớ người xa cách núi sông\n*Người xa, xa có nhớ ta không…* * »*\nÔng còn cảm thương đến cả những người chinh phụ có lẽ đương nức nở trong cái tịch liêu của đêm trường :\n« Ngơ ngẩn dạ tằm tơ rối khúc\n*Vẩn vơ hồn bướm suốt năm canh* * »* *.*\nDù ông đã cố nén nhưng vẫn không sao kìm hãm được mối tình cảm xót thương cho chính thân thế mình :\n« Một việc văn chương thôi cũng nhảm\nTrăm năm thân thế có ra gì… »\nTrên đây chỉ mới trích một phần nào trong cái tình cảm dào dạt của thi sĩ. Mớ tình cảm đó không chỉ dành riêng cho loại thơ tâm sự mà nó còn phát lộ rõ rệt ngay cả trong những bài thơ trào lộng nữa :\n« Ngày giữ lệ thường hai bữa một,\nVợ quen thói cũ ba năm đôi,\nHai khoa hương thí không đâu cả\nMấy thước vườn hoang bán sạch rồi… ! »\n(Tự vịnh)\nHoặc :\n« Bức sốt nhưng mình cứ áo bông,\nTưởng rằng ốm nặng hóa ra không…\nMột phường rách rưới con như bố\n*Hai chữ nghêu ngao vợ chán chồng… !* * »*\nNhững câu thơ như trên xen vào giữa những tiếng cười càng làm cho ta nhận thấy rõ thêm cái phong phú của ông về tình cảm. Dù cố làm ra thản nhiên, dù cố lấy tiếng cười để lấn át, mà nó vẫn tràn ra lai láng, không thể nào kìm hãm lại được.\n**2** **) Tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương rãt tế nhị**\nNguồn tình cảm của ông phong phú bao nhiêu, thì cái nghệ thuật giãi bày những tình cảm đó lại tế nhị bấy nhiêu. Thường thường ông diễn đạt những tình cảm không bằng sự kể lể, mà bằng những hình ảnh :\n« Bối rối tình duyên cơn gió thoảng\n*Nhạt phèo quang cảnh bóng trăng suông* * ».*\nHoặc bằng những\n*âm hưởng* :\n« Đêm nghe tiếng ếch bên tai\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * »* *.*\nhoặc bằng cả hai thứ phối hợp chặt chẽ trong một câu (âm hưởng hình ảnh) Ví dụ :\n*« Đì đẹt *(âm hưởng) * ngoài sân tràng pháo chuột *(hình ảnh) *Om xòm* (âm hưởng) * trên vách bức tranh gà* * »*\nHoặc :\n*« Một ngọn đèn xanh *(hình ảnh *) trống điểm thùng* (âm hưởng) * »*\nNgoài ra, ông còn cố gắng diễn đạt tình cảm một cách kín đáo, hoặc cô đặc lại để cho sức gợi cảm của nó được mạnh. Mà thực thế, không mấy khi ông cao hứng nói hết. Thường thường ông chỉ diễn đạt một phần nào đấy thôi, còn dành cho người đọc cái phần hiểu rộng thêm lên. Tóm lại, ông áp dụng triệt để cái chủ trương « ý tại ngôn ngoại » :\n« Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn\nĐêm nảo đêm nao tớ cũng buồn… »\nHoặc :\n« Tương tư chẳng lọ là mưa gió\n*Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng* * ».*\nHoặc :\n« Đêm nghe tiếng ếch bên tai\n*Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò* * »* *.*\nQuả thực, chúng ta cũng phải vô tư mà nhận rằng, một đôi khi trong thơ ông cũng trưng lên những thứ tình cảm\n*tầm thường*, như :\n« Vì chưng chẳng có, hóa thân hèn\n*Hổ với anh em chúng bạn quen* * ».*\n(Thân phận nghèo)\nHoặc\n*loãng *như :\n« Xuân sang rồi đấy chị em ơi\nSắm sửa chơi xuân kẻo nữa hoài… »\n(Rủ chơi xuân)\nHoặc\n*sáo *như :\n« Ta lại cùng nhau gặp gỡ xuân\n*Xuân đi xuân lại biết bao lần* * ».*\n(Hỏi xuân)\nNhưng vì tình cảm trong những câu thơ khác, hoặc bài thơ khác phong phú qúa, tế nhị quá, thấm thía quá, nên những nhược điểm đó hầu như bị lấn át, cũng như trường hợp những câu thơ nhạt nhẽo, « đặc vè » ở trong Kiều như :\n« Mai cốt cách, tuyết tinh thần\n*Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười* * ».*\nChe đậy và nâng đỡ để cho người đọc không còn kịp trông thấy nữa.\n**Kết luận** ** :** Sau khi đã trình bày từng điểm, ta thấy xu hướng tình cảm trong thi phẩm Trần tế Xương đã đóng một địa vị rất quan trọng. Cái cười trong loại thơ trào phúng, dù sao, cũng chỉ là những cái hãn hữu, do người và sự, vật, gây nên. Loại thơ tình cảm mới là cái phần chính, cái phần phát ra tự cõi lòng của ông vậy.\n*\n**Đề tài đề nghị :** *Hãy so sánh xu hướng tình cảm của Trần tế Xương với xu hướng tình cảm của Nguyễn Công Trứ.*\n\nInconnu(e)\n\nCó nhiều bản đề là Trần kế-Xương, chúng tôi đã hỏi bà Bành là con dâu trưởng nhà thi sĩ, thì bà Bành cho chúng tôi biết quí danh nhà thi sĩ là Trần-tế-Xương chứ không phải Trần-kế Xương như người ta vẫn gọi lẫn.\n\nVì đây chỉ là một bài luận, phạm vì chật hẹp, chúng tôi không dám lạm bàn về dân tộc tính một cách tỉ mỉ, mà chỉ đề lên mấy nét chính mà thôi.\n\nTheo lời một người cháu ruột của ông Tú Vị Xuyên thì câu ấy chính là : « Le te chân vịt buổi đò đông » để tả dáng đi « chữ bát » của bà tú – và có thể vế đối mới chính.\n\nInconnu(e) [←4] Tức ông Cẩm (Commissaire).\n\nInconnu(e) [←5] Tức ông Cẩm (Commissaire).\n\nỞ đây chúng tôi dùng chữ trào phúng cho hợp với danh từ trong cuốn V.H.S.Y. của giáo sư Dương Quảng-Hàm là một cuốn sách đã được coi là giáo-khoa. Nhưng theo ý kiến chúng tôi thì nó là loại thơ **trào đời. **Loại thơ *trào đời *bao gồm hết thảy những thi ca có tính cách làm cho người ta cười hoặc bằng sự mỉa mai, hoặc bằng sự châm biếm, hoặc bằng lời văn bông đùa vô hại. Loại thơ trào đời đó chia ra làm nhiều thể khác nhau (có chừng 6, 7 thứ) trong số đó có ba thứ chính : *Trào lộng *(làm cho người đọc cười một cách hồn nhiên, không có dấu vết của sự chua chát. *Trào phúng *(loại chế giễu châm biếm nhưng còn có mục đích sửa chữa – nó là một lợi khí tỉa những cái dở để phát huy những cái hay. *Trào ma *(loại đả phá, công kích có mục đích phá hoại hẳn bởi không còn mong gì ở sự sửa chữa nữa) ở đây là chúng tôi chỉ trình bày ý kiến sơ lược vì khuôn khổ cuốn sách – chúng tôi mong sẽ có dịp đưa vấn đề đó lên thảm một cách rõ rệt tỉ mỉ hơn.\n\nInconnu(e) [←7] Tức là ông đồng, bà đồng.\n\nCover\n\n", "file": "books_text_final/ebooks.epub_33978.txt"} {"text": "Tháng chạp năm Giáp Dần (1854) đời Tự Đức thứ bảy, quan phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đi đánh bắt được Cao Bá Quát, đem về chém tại làng.\n(\n*Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim*)\n... Tự Đức phái thêm 500 lính từ Thanh Hóa ra đóng tại Sơn Tây và treo giải thưởng 500 lạng bạc cho người nào bắt được Cao Bá Quát và 300 lạng bạc cho người nào giết chết được Cao.\nQuân nhà Nguyễn do lãnh binh Sơn Tây là Lê Thuận và quân khởi nghĩa do chính Cao Bá Quát chỉ huy đã giao chiến tại vùng Yên Sơn, phủ Quốc Oai. Trong lúc giao tranh, Cao Bá Quát đã bị viên đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Quân của Cao Bá Quát bị tan vỡ, 100 chết, 80 bị bắt sống. Tự Đức ra lệnh đem đầu của Cao Bá Quát bêu khắp các tỉnh ở Bắc Hà rồi bổ ra ném xuống sông.\n(Lời giới thiệu \"\n*Tuyển tập thơ văn Cao Bá Quát*\" của *Vũ Khiêu* - Nhà xuất bản Văn Học 1984)\n... Cao Bá Quát phải giam ở ngục Sơn Tây, bị đóng cũi đem xuống Hà Nội rồi đem về nguyên quán ở làng Phú Thị chịu án xử quyết.\n... Anh em sinh đôi của Cao Bá Quát là Cao Bá Đạt, Đạt đương làm Tri huyện Nông Cống (Thanh Hóa), vì việc liên lụy mà bị bắt giải về Kinh. Đau đớn nỗi vạ diệt môn, đi dọc đường cắt đầu ngón tay lấy máu, viết tờ biểu kêu thương để lại, rồi tự đâm cổ mà chết. Cháu gọi Cao Bá Quát bằng chú ruột là Cao Bá Nhạ, con Cao Bá Đạt, bỏ trốn. Tám năm trời Cao Bá Nhạ lẩn lút ở vùng núi Hương Sơn, tưởng đã thoát, không ngờ có kẻ tố giác, Cao Bá Nhạ bị vây bắt đóng cũi đem về giam ở Hà Nội rồi sang ngục Bắc Ninh, sau bị phát vãng chết trên đường ngược.\n... Cao Bá Quát không bị chết trận, không bị đem về chém ở làng - vì cả làng không ai kể lại chuyện ấy. Còn Cao Bá Nhạ phải về chém ở làng thì ai cũng nhớ ngày 19 tháng 7 âm lịch (1861), bây giờ vẫn còn kể lại và vài chục năm trước vẫn còn giỗ. Đồn rằng Cao Bá Nhạ vừa bị chém xong thì có chiếu vua ra cho ân xá. Hai con Cao Bá Nhạ trốn được. Sau khi Cao Bá Nhạ chết khoảng mười năm thì có một người con về làng ít ngày rồi đi hẳn.\n... Về vạ tru di tam tộc như các sách nói thì người làng Phú Thị còn kể rằng quan quân về bắt cả già trẻ lớn bé họ Cao đem ra chợ Sủi đóng cọc, trói lại rồi tra hỏi ai biết Cao Bá Quát ở đâu. Bỗng một đám nghĩa quân ở trên đê tràn xuống. Quan quân chạy hết, mọi người được cởi trói rồi tất cả bỏ làng đi, mấy chục năm sau mới có vài nhà về - trong đó có chị họ nhà thơ Cao Bá Thao.\n... Khi thua trận ở Mỹ Lương, Cao Bá Quát đã một mình chạy về Hà Nội, vào một ngôi chùa vùng Khâm Thiên có người nhà tu ở chùa ấy. Cao Bá Quát thay hình đổi dạng thành nhà sư, rồi đi biệt tích.\n(Những mẩu chuyện trên, nhà thơ Thao Thao - Cao Bá Thao đã kể lại theo lời ông thân sinh và nhiều cố lão làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội).\n**Đêm ngồi một mình ** **(Độc dạ)** [1]\nMột mảnh đất vừa ồn vừa thấp ở nơi thành thị\nMột con người vừa già vừa ốm giữa trời đất\nĐem thân ra đời đã thành người thừa\nNáu vết hãy chịu lầm than vậy\nNhưng nạn rét nạn lụt cứ liên tiếp phát sinh\nHuống chi dân đen bị tai nạn chưa được hồi phục\nKhông có một sách lược gì cho đời được thái bình\nThẹn mình là nhà nho mà tầm thường đến thế.\n**Vũ Khiêu** (dịch nghĩa) **Trong lúc ốm ** **(Bệnh trung)**\nLà một anh đồ hủ, thân tàn mà chưa chết\nCố gượng mang bộ xương mỏi mòn còn phải nhờ người nâng hộ\nNép mình giữa trời đất, thương bàn tay cô đơn\nNgoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vùng vẫy\nBiết bao giờ được về ở yên trong tổ như con chim én\nMột ngày kia lại thẹn với đàn quạ đậu nơi vườn tốt tươi\nChú bé con không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta\nCứ hỏi luôn rằng: vành đai lưng có gầy đi phần nào không.\n**Hoàng Trung Thông** (dịch nghĩa) **Chải đầu ** **(Sơ đầu)**\nMột đời đã phụ cả năm xe sách\nTrải mãi gió bụi, mái tóc càng thưa thêm\nTâm sự và tóc cần chi phải so sánh ngắn dài\nĐến lúc đã rối bời thì cũng rối bời như nhau.\n**Xuân Trang **(dịch nghĩa) **Chiều tà, say trở về ** **(Bạc vãn; Túy quy)**\nSay mềm, đi về không cần người đỡ\nCả một dải sông mịt mờ những khói cùng tre\nLầm rầm khẻ hỏi bông hoa sen\n\"Có đỏ được bằng mật rượu của ta không?\"\n**Nguyễn văn Bách** (dịch nghĩa) **Họa bài thơ thọ 70 tuổi của ông Kinh Doãn họ Nguyễn - Nguyễn Công Trứ** **(Phục họa Kinh Doãn Nguyễn Công thất thập thọ, thứ vận)**\nMột mình ngồi chống tay vào cằm nhìn về núi phía nam\nXa tưởng đến hồi tiên sinh còn chưa già\nSự gặp gỡ của bậc anh hùng từ xưa vẫn khác thường\nNhững người tuổi cao đức cả (như tiên sinh) ngày nay thật hiếm\nMùi đời đã nếm đủ rồi rút cục vẫn cần đến rượu\nCấm ngặt hoa sương không cho bén vào râu\nNghe nói người muốn quay về ngọn núi Hồng\nCó lẽ sáu mươi chín năm qua đều là sai cả.\n**Trúc Khê** (dịch nghĩa)\n° ° °\nPhải khi mùa hanh hao, gió bấc thổi đêm ngày liên hồi kỳ trận, trời đất mù mịt trên sông Cái, thoạt trông sang chẳng thấy Bà Móc, chợ Cầu Cháy đâu, cả đất Kẻ Chợ vùi vào làn cát đỏ rực. Song để ý kỹ, dần dần nhìn ra những cái nan, cái thúng, người với gồng gánh sang ngang và đôi chốc, một cái mảng, một chiếc thuyền đại tạt vào ăn bến chợ ông Nước, bọn người neo lái phải vừa chèo vừa hò ơi ới để lấy đường nước giữa làn cát mờ mờ táp vào mặt. Tưởng như gió cát triền miên, đò giang cách trở thế, chẳng mấy ai qua lại, thế nhưng mọi đồn thổi thì chỉ một nhát, bên này sông, bên kia sông đã dậy lên.\nCái tin ông giáo thụ Cao bị hại ở Kệ đưa về đến Dâu Chùa hầu như ai cũng biết. Dĩ nhiên bởi có người ở các xóm trong bãi dâu này bấy lâu đã đi theo ông. Ai cũng còn mong ngóng tin tức người khác nữa. Nhưng cái hung tin ông giáo thụ bị chém chết, lại nói rõ bị đội Quang đã khét tiếng ác ở Sơn Tây chém ngã ngựa giữa trận thì đích rồi. Có người làng khi vỡ trận chạy từ trên ấy về đã kể được mắt thấy rõ ràng.\nCó một người bụng nóng như lửa đốt, ấy là cái nhà Cõi ở làng bên. Cõi đã cắp sách cắp tráp hầu thầy từ hồi ông giáo thụ còn ngồi bảo học ở làng nhà. Rồi thầy vào Kinh làm quan, chẳng biết phạm thượng phải tù tội thế nào, đến khi thầy về phủ Quốc làm giáo thụ, nhưng làng nước cứ gọi tôn lên chức huấn đạo. Thầy về làng ai cũng một điều thưa bẩm quan huấn. Thầy lại gọi Cõi lên theo.\n° ° °\nTháng ba ngày tám, rồi những khi chưa đến kỳ hạn tải dầu xuôi, Cõi lại lên phủ Quốc. Thôi thì cắp sách hay cắp tráp, mài mực hay cầm cờ, cầm súng vẫn một dạ vậy. Một ngày nên nghĩa, vả chăng, Cõi cũng được đứng hàng môn sinh, đồng môn học trò thầy. Hàng năm, đồng môn thuộc ngày kỵ hai cố sinh ra thầy, hay khi cơm mới và tết nhất, thầy ở nhà trong làng, thầy ra ngoài đình Ngang hay trên hồ Tây, Cõi cũng được dự. Gia cảnh thầy thanh bạch, nhưng một nhà có đông đủ học trò bố, học trò con, đồng môn đơn đồng môn kép, thật phúc đức hiếm thấy.\nNgày thầy Cao về phủ Quốc rồi nổi quân, Cõi theo ngay. Cái gánh dầu kiếm ăn độ nhật để nhà cho mụ Cõi. Ra đi, chỉ nói: \"Này nhà nó, thầy nhắn việc nước như lửa cháy, ta phải đi đây\". Mụ vợ vùng vằng, lẩm bẩm: cháy thiên hạ chứ cháy đâu nhà mình mà mua việc. Chẳng biết Cõi có nghe tường câu than vãn ấy không, nhưng Cõi đã đi buột ra ngoài cổng rồi. Vợ Cõi gánh dầu đi bán các xóm, hết lại sang đong bên bến Bà Móc. Bần cùng mới phải lấy xỉ thế, chẳng được mấy lời lãi.\nThỉnh thoảng, đôi khi Cõi về, đi cất dầu trên phủ Lâm rồi nhờ bè mảng thả về. Khi đi khi ở, chẳng nói chẳng rằng, cứ lầm lụi thế, nhưng thực thương vợ vất vả, con cái lại muộn mằn. Người vợ cục tính, có hôm về, Cõi phải lụi hụi thổi cơm lấy. Cõi chịu nhịn vì Cõi biết mình cũng phũ tính, nó mà cằn nhằn, ỷ eo thì Cõi vật cổ, đòn nhừ tử ngay. Chuyến vừa rồi, Cõi về, đã mấy phiên hết dầu, mụ vợ ở lì nhà. Cõi cũng động lòng, lại tất tả lên ngược. Rồi xin chân đẩy bè gỗ, để ghé được cả chục thùng dầu chẩu. May mà lúc ấy Cõi nhớ ra, ngóc dậy, cố neo cái bè ghé được vào đậu bến chốc lát, không đến nỗi trôi thẳng. Chỉ vì mấy hôm Cõi lên cơn sốt rét, nằm run trong lều mảng. Rõ lạ, ở trên Kệ, cả tháng trong rừng, leo núi nhoăn nhoắt như con tườu, thế mà chỉ một phiên qua Hưng đã ngã nước. Vừa dứt cơn sốt, lại sốt ruột trên Kệ Sơn. Từ khi rút vào Mỹ Lương thì có cơ dừng chân lâu được. Nhưng mà rồi thế nào chứ, đâu lại chịu ru rú trong xó rừng. Chắc là thầy mong... Cũng vì cứ lo, cứ thao thức thế đâm ra tỉnh ngủ, may mà canh chừng nhớ được bến làng...\nNhưng mà, khi quá gian lao, người ta hay gắng sức, sau rồi mới thấy nhọc. Bước vào nhà, Cõi bíu tay lên cái cột hiên, hai đầu gối còn run. Con ma làm bệnh sốt rét, càng khỏe nó càng hành, tưởng lại quị. Rồi Cõi nằm liệt giường cả phiên chợ, mặt hốc hác bệch như mảnh giấy bản. Vừa mới ngóc đầu dậy được thì cái tin thầy Cao chết trận ập về. Cõi ngồi lên, tựa lưng vào vách. Cõi cứ ngồi như pho tượng, từ chiều cho đến nửa đêm.\nCõi còn nhức nhối hơn cả lúc đương cơn sốt. Mới tháng trước, Cõi về trong Kệ. Mấy năm đi hầu thầy khắp các trận, từ phủ Thanh Oai vào phủ Ứng Hòa, sang bên Quế Quyển, đến khi ngược lên phủ Quốc lượt nữa, chạm trán với quân lãnh binh Sơn Tây rồi mới lui vào Mỹ Lương. Thong thả, Cõi được thầy để về lo việc nhà ít ngày. Bấy lâu, thỉnh thoảng thầy vẫn cho thế. Thì Cõi lên ngay phủ Lâm lấy dầu về. Định ở nhà vài phiên đi bán đỡ mụ ấy. Thế mà bây giờ nghe thầy bị đụng ở Kệ, thầy đã chết ở Kệ, vậy là ra làm sao?\nCõi không thể tin. Vừa mới hôm nào ở Kệ với thầy kia mà. Đến hôm có người trưởng tràng lẻn đến bảo nhỏ :\n- Mai đồng môn cúng năm mươi ngày thầy.\nCõi mới nửa tin nửa ngờ. Lừa một lúc mụ ấy đi đâu, Cõi chống cái đòn cán, buông cửa, đi đến đấy. Đám đồng môn cúng năm mươi ngày thầy làm kín ở một nhà ngoài đầu đồng. Bọn chức dịch mà biết thì phải mang vạ nên không mổ lợn, thịt trâu cúng và không ăn uống, mà chỉ thắp nén hương, những nén hương đen châm lên rồi cẩn thận quây cót cho khói tụ bay lên trời, trong xóm không ngửi thấy mùi hương cúng. Hầu khắp các học trò thầy đến. Người trưởng tràng quỳ lạy trước bàn thờ có bài vị thầy, gào hai tiếng: Ô hô! Ô hô! Rồi khóc rưng rức.\nBấy giờ Cõi mới ngờ ngợ thầy đã mất thật. Cõi về, nằm như bị sốt lại mất nửa buổi. Hôm sau, Cõi lử khử bảo vợ :\n- Sớm mai, nhà mày cho tôi một nắm cơm.\n- Người còn như con sên thế, đi đâu?\nCõi thở dài :\n- Phải ra ngoài xem thế nào.\nMụ Cõi gắt :\n- Xem xỏ cái gì?\n- Chưa biết à?\n- Làng này còn mấy đứa toi theo rồi. Rõ ở dưng chẳng lành...\n- Ông vả vỡ mồm bây giờ!\nMọi khi, thế nào mụ cũng được ăn mấy cái đạp, quả thụi. Nhưng lúc ấy Cõi chỉ trợn mắt, chắc là mắt trắng nhả, trong nhà tối âm sâm, mụ không nhìn thấy.\nHôm sau, Cõi còn lẩy bẩy, cũng chưa đi được. Mụ ấy ở ngoài xóm về, cầm một nắm lá chuối khô lót chõng làm ổ, rồi nằm úp mặt, rên ư ử :\n- Tôi... lây con ma rừng... Con ma ngã nước...\nChẳng biết thật hay vờ. Thế là mụ nằm một xó. Đến trưa, mụ trở dậy thổi niêu cơm rồi lại vào chõng nằm rên rỉ không ăn. Mụ hay giả cách, nhưng cũng có thể mụ bị lây con ma ngã nước Cõi đem trên ngược về.\nCõi nói :\n- Tao đi đây.\nMụ khóc hu hu :\n- Giời đất ơi, đi mà chết, người ta đi chết kia kìa.\nHôm sau, Cõi đi từ gà gáy. Cõi sang bên Sủi xem thế nào. Cõi tất tả đi. Một lúc, ngước nhìn, thấy đỏ xuộm. Không phải mặt trời đã mọc, mà lúc ấy mới tang tảng sáng. Đương mùa cày, không phải lửa đốt gốc rạ sưởi của trẻ chăn trâu bỏ trên cánh đồng còn âm ỉ đến sáng. Cháy, cháy rồi. Cháy làng, cháy cướp đốt làng. Cõi ba chân bốn cẳng chạy về phía ngọn lửa bốc trên lũy tre, càng đến gần càng rõ đương cháy ở Sủi.\nChợt nghĩ ra, có thể quân quan về đốt làng, tróc nã họ Cao. Cõi vừa lo vừa thấp thỏm, thở hồng hộc. Cơn sốt mới dứt, tưởng đứt hơi được. Nhưng một sức mạnh lạ lùng đẩy Cõi chạy băng băng.\nCõi đã lên đến trên một gò cao ven bờ đê. Đường vào làng trước mặt, Cõi đã thuộc làu mỗi quãng. Cõi đứng sững, bởi vì đúng, đương cháy to trong làng Sủi. Quân quan về giết người, đốt làng rồi. Cõi bủn rủn tay chân, toát mồ hôi lạnh. Không phải vì gió cũng không phải những cơn sốt làm bải hoải cả người, mà Cõi trông vào trong bóng mờ lũy tre, trong ấy tàn lửa vẫn bay đỏ hon hỏn từng mảng. Những mắt tre, mắt vầu nổ ran như pháo lệnh.\nTịnh không một bóng người. Bao nhiêu người đã chết vùi trong những đám cháy, có lẽ suốt cả ngày đêm qua. Cõi dậm chân than nôi cái mụ vợ đã cản, đáng lẽ Cõi về được Sủi từ hôm trước. Thế này là thầy Cao đã mất thật rồi. Người đi làm giặc, quan quân về triệt hạ làng. Khói những đám cháy bốc lên, tỏa ra làn mây đen vần vụ.\nChỉ nghe tiếng nổ, tiếng lửa lên thành gió phừng phựt. Cả buổi sáng, một màu lửa đỏ khé máu. Cõi cứ đứng ngay đơ như cái cột vách.\nTrong con đường cổng đồng cuối xóm, thoáng một bóng lũi cũi ra. Chưa nom rõ là con chó, con trâu hay là người. Thoắt một cái, từ bóng nhập nhoạng, đã hiện lên trước mặt Cõi một thằng bé cởi trần, đóng cái khố một cả người xanh xám như ám khói, như trong bùn chui ra. Thình lình thấy người, thằng bé rụi xuống, chắp hai tay lên đỉnh cái đầu trọc vái khóc thút thít.\n- Lạy quan nhớn, lạy quan nhớn...\nCõi xốc thằng bé dậy. Da dẻ nó lạnh như đất. Thằng bé chỉ trạc bảy, tám tuổi, đầu cạo trọc lông lốc, nắm tóc hoa roi dài đến vai - rõ cái hoa roi \"tóc học trò\" như Cõi ngày trước.\nCõi vỗ cái lưng trần thằng bé.\n- Tao không phải quan nhớn, đừng sợ, đừng sợ.\n- Thế... Thế... quan là...\n- Tao đi chợ Sủi.\n- Không có chợ Sủi đâu. Bác chạy đi, chạy đi. Các quan ra bây giờ thì chết hết.\nRồi thằng bé vùng khỏi tay Cõi, vọt đi. Không biết thế nào, Cõi đuổi theo thằng bé. Đến một quãng khuất bên kia đê, nhìn lại không còn bóng lửa cháy trong chân tre nữa. Cõi giữ vai thằng bé, thằng bé cũng đứng lại thở, mặt càng xanh mét.\n- Đứng chơ vơ chỗ này cũng không được. Xuống dưới kia, chui vào cây rơm trong cánh đồng khô.\nHai người núp vào chân đống rạ ải giữa ruộng.\n- Làm sao cháu lại phải chạy trốn thế này? Lính đốt tàng hả?\n- Mấy hôm rồi, lính bắt người, hôm qua còn trói đi. Người già cũng phải đóng gông vào cổ. Bố cháu đẩy cháu vào ruột cây rơm, bảo ở yên trong ấy. Loa gọi cả xóm ra đình, cả trẻ con nữa. Rồi đi đốt nhà, ai cũng phải nhảo ra.\n- Thế bố mẹ cháu đâu?\n- Bố cháu mẹ cháu sợ loa quá, đi rồi, đi đâu cháu không biết. Bảo cháu cứ đợi đấy, chốc thì về đem theo. Đến lúc thấy lính vào đốt nhà, cháu sợ lính ra đốt cây rơm, cháu mở mắt thấy nhà cháu cháy, cháu chạy lên đây. Bác có gặp bố mẹ cháu không?\nCõi toan nói: \"Có khi quan bắt rồi, giết cả rồi\", nhưng Cõi chỉ nhìn thằng bé, lặng im.\nThằng bé ho bụi rơm rồi nức nở. Cõi nói :\n- Im, im để tao nghe thế nào rồi đi với tao.\nĐến quá trưa, hai người ra khỏi đống rạ. Đường sá lạnh tanh. Mọi khi, hôm nào chẳng có ba buổi chợ, cả chợ trưa ở các đầu làng, trên đê, dưới bờ sông. Hai người lại chạy, đã xa lắm rồi, đã qua những bờ giếng dạt bèo ong xanh om và vào bờ tre, thấy vẻ êm ả bình thường, the nhưng vẫn chẳng gặp người, không đâu có khói nóc bếp. Những làng tận bên này gần đường cái quan cũng lây cơn hoảng hốt, bỏ đi hết. Một chốc, văng vẳng tiếng nghé ngọ, con trâu nào có người dắt chạy đằng kia, con nghé bồn theo. Nhưng cũng không trông thấy ai. Rồi lại im như không.\nCõi không trở về làng. Cõi qua đò ngang bến Ghềnh sang Kẻ Chợ. Trong phường phố dường như không biết cảnh tao loạn đang xảy ra bên kia sông. Chẳng kể được người tứ xứ xuôi ngược đường đất đường sông ra các đầu ô, những quân trảy, ngựa chạy hỏa bài, lúc nào cũng tấp nập. Cõi bơ phờ, gầy hom, đi với thằng bé lấm bùn đến tận mắt, đóng cái khố lồng dây bẹ chuối. Cũng chẳng ai để mắt tới.\nCõi vào quán nước chè tươi chợ ống Nước gần đền Bạch Mã. Ngồi một lát, đã nghe mọi chuyện. Thế ra bên này cũng đã biết, xôn xao nhất, quân quan đang đốt làng sủi, có cả quân ông lãnh trên Sơn xuống. Các người họ Cao bị đem đi chém hết rồi. Những đồn đại về trận làng Kệ trên Mỹ Lương vân rối như canh hẹ.\nLàng Sủi bị triệt hạ, mắt đã trông thấy, mà những tin về thầy Cao bị hại thì thật trái ngược, song chuyện nào cũng rành rọt như thật. Những đồn đại mà Cõi chỉ muốn nghe đầu mối những chuyện nhẹ nhàng nhất, không có càng hay. Người kể: lúc thầy Cao cho trống lệnh thu quân, đội Quang đã lập mưu đánh tập hậu. Bất ngờ, quân gia đã về đến xóm Kệ ở sâu trong thung thì quân đội Quang đổ ra. Thầy Cao bị chém ngã ngựa. Đội Quang chặt đầu thầy, đem về phủ Quốc. Quan lãnh binh bắt nhiều người lên nhận mặt. Lại có người nói thầy bị bắn đằng lưng lúc quân hai bên giáp chiến dưới cánh đồng Yên Sơn. Thầy đang thúc quân ùa lên thì bị một tên nỏ thuốc độc xuyên đằng lưng sang ngực. Thế là quân đang tiến, không nghe tiếng trống trận, hậu quân nhốn nháo chạy dạt trước.\nLại nghe chuyện thầy Cao không chết đâu. Hai bên đánh nhau ở đầu rừng, quân thầy Cao núng thế, rút vào Kệ. Quân địch đuổi chặn. Thầy Cao luồn về xuôi. Quân nghĩa đã mấy lần xuống chợ Tư đánh Bặt, lại còn sang Yên Lạc, sang cả Quế Quyển nên thầy thông thạo đường. Một đêm quân nghỉ, thầy Cao biệt tăm, không ai biết. Chỉ thấy để giấy lại nói thầy đi tìm cứu viện. Bằng như không thấy thầy trở lại thì đừng đi tìm, ai quê đâu về đấy, chí thú làm ăn, đợi thời. Thầy không bao giờ phụ ơn các người bấy lâu theo thầy vì nghĩa cả. Thế thì chưa chắc thầy Cao đã mất. Tuy tin ấy cũng mong manh như mọi tin khác, nhưng Cõi bám lấy, ngỡ như thật. Thầy đã đi đâu, bây giờ ở đâu? Thực ra thì mấy lâu nay quân nghĩa các nơi chẳng còn được như xưa. Nhớ có lần rộn rịch xuất quân từ giữa cánh đồng vào chiếm huyện Thanh Oai. Tưởng như chẳng mấy lúc đại quân đã vượt Quán Quạ, Đại Định sang tận Lủ vào lấy cả phủ Hoài, huyện Thọ, hãm quân quan trong Kẻ Chợ hết đường xoay xở. Thế mà rồi chẳng còn gì. Mấy năm nay xem chừng không mấy nơi nhúc nhích... Chỉ thấy bọn đầu trâu mặt ngựa sạo sục trong phường ngoài trấn, đâu đâu dân tình cũng ngậm bồ hòn làm ngọt, không dám ho he. Tuy nhiên xem kỹ ra thì tấm lòng hướng nghĩa mong mỏi đến đỏ con mắt vẫn nung nấu. Thầy ta giấu quân vào Kệ cũng là ngấm ngầm đợi các nơi lại ra quân...\nCó người nói :\n- Nhà đội Quang đã được thăng quan đổi xuống Kẻ Chợ, mấy hôm nay có tiệc to. Lính dắt về hàng chục con trâu mộng. Phen này thì quan đội lên quan lãnh đến nơi.\nCó người buông một câu mát mẻ :\n- Rồi lên cả quan tổng đốc, khao thăng quan chén cả thịt rồng rồi đi làm cỏ cả một huyện người cho mà xem.\nMột người quẳng đồng kẽm trả tiền nước, nói như quát :\n- Ừ, tao vừa đi qua cổng nhà đội Quang. Thấy trong vườn nhà nó khói thui trâu um lên. Ăn tiệc mừng công giết được một thằng thầy đổ, khác nào ăn thịt người. Con chó còn biết không ăn xương chó, quân này không bằng giống chó.\nRồi người ấy đi thẳng. Quán nước lại có bọn khác kéo đến, quanh bát nước, vẫn những chuyện ấy. Trong lòng Cõi lại bồn chồn. Tưởng như ở Mỹ Lương vừa qua, nếu có Cõi ở đấy thì biết đâu thầy chưa đến nỗi nào. Thật như vậy chứ. Đã bao phen thầy trò một đồng một cốt kẻ hô người ứng giữa mũi tên hòn đạn mà cứ như vào chỗ không người. Nhớ lần kéo ra phủ Quốc cũng thế, giữa ban ngày mà đến đỗi bọn đơm đó, đánh giậm dưới đồng sâu, trong khe rộc đến người tứ xứ lái buôn tay nải đi qua, nghe quan giáo thụ đã đưa quản về, tất cả kéo ra lạy mừng. Lương tiền các nơi bí mật tải về cả tháng ăn chưa cạn.\nThế mà chỉ một khoảnh khắc đã sa cơ. Làm thế nào mà Cõi về quê có dăm phiên chợ, nhưng khi lên ngược mấy hôm, lúc trở về lại lăn ra ốm. Bây giờ thì sao, Cõi vẫn phập phỏng chưa thể nghĩ là thầy không còn. Thầy còn sống. Phải rồi, vận nước đang như tơ vò thế này, thầy không thể khuất được.\nHy vọng chỉ le lói như ngọn đèn lụt bấc. Cái trận trên Kệ là có thật. Mà hôm nay qua Sủi, thấy lửa đốt làng lan ra tận chân tre, chỉ có mỗi một thằng bé chạy được ra, Cõi đã trông tận mắt. Thế là cái chết của thầy đã lụy đến cả làng, cả họ mạc. Thầy sống khôn chết thiêng, chúng con phải trả được thù này, lạy thầy. Có khi cũng bởi thầy run rủi, con lại nhặt được thằng bé có lẽ dòng máu họ Cao. Nhưng hỏi, nó cũng chẳng biết tên nó. Dẫu sao, đã cứu được thằng bé ở sủi, như nghĩa thầy trò ta vẫn đây.\nCõi và thằng bé theo bến Bà Móc xuống ven hồ Tây. Cái nhà ở đình Ngang cũng gần hồ, đã bán rồi. Vợ con thầy phải trở về làng, chuyến thầy lại vào Kinh. Nhưng Cõi nhớ bên vùng Giám có ngôi chùa Xiển. Sư bác chùa Xiển với thầy vốn tâm đắc, trước thầy thường lui tới, có khi cả tháng đàm đạo chưa dứt chuyện thời thế, chuyện quốc sự. Biết đâu thầy chẳng đã về ẩn ở đấy.\nChùa Xiển tọa lạc ngay giữa vườn, cạnh mấy miếng ruộng hậu. Cảnh chùa tiêu điều, mái lá cọ cột xoan đã xiêu vẹo. Chùa mà đến cái chuông cũng chả có. Mỗi năm, vào tháng hạ, nhà chùa phải khăn gói thúng mủng đi thập phương khuyên giáo cái ăn bù đắp cho qua tháng ngày. Bấy giờ đã sang cữ cuối xuân, trời còn u ám, suốt ngày mưa phùn nặng hạt rả rích như mưa ngâu, thầy trò nhà Cõi về đến chùa thì đã tối, người ướt rũ rượi cả. Cõi vừa ốm dậy, hai bả vai lại đau ê ẩm. Nhưng trông vào chùa thấy ánh lửa lui hui, mừng như đã thấy ấm hẳn.\nCõi khua gậy đánh tiếng từ cổng ngoài. Con chó nhà chùa sủa vang dưới cửa bếp. Có người ra mái hiên, đứng trong bậc cửa.\n- Ai đấy?\n- Con...\n- Con là ai?\n- Con ạ... Con người nhà thầy Cao...\n- Thầy Cao nào? Cao nào? Nhà chùa kém đói lắm, chẳng quen biết ai đâu.\n- Con là người nhà...\n- Đừng có rỡn, buộc tội cho nhà chùa. Nhà chùa không quen ai cả.\nTiếng cánh cửa đóng ập lại. Nhưng Cõi đã bước tới trái bếp. Nhà sư xuống đằng ấy, nhận ra Cõi. Nhà sư thì thào :\n- Cõi đấy a?\nChỉ được câu ấy, hai người nắm áo nhau, có tiếng nức. Rồi sư Thiện Tâm nói nhỏ: \"Chú lên nhà hậu lạy sư tổ. Thảo nào mà lúc chặp tối chim khách, chim liếu điếu kêu râm ran ngoài bờ chuôm, thế mà nghiệm\". Nhà chùa còn vị sư già đã ngoài chín mươi. Nhiều lần đến, Cõi đã biết cụ còn minh mẫn, cũng thuộc mặt Cõi. Nhất là mấy năm trước đây, khi thầy Cao đã ra thiên hạ dấy quân, cứ quãng tiết tháng bảy lại sai Cõi lén quảy gạo về cúng chùa, năm nào cũng vậy, đã giữ lệ. Thầy lại còn gửi lời hẹn sư Thiện Tâm khi nào rỗi thầy về chơi, đánh cờ thế.\nNửa đêm, sư Thiện Tâm và Cõi vẫn thức. Ngoài kia, đôi chốc, một cơn gió dạt dào qua vườn chuối, nước đọng trên lưng lá rơi lộp bộp như mưa nặng hạt. Bấy giờ Cõi mới nói :\n- Con xin hỏi thực, quan huấn con đã về chùa nhà chưa?\nSư thầy vẫn như nhìn đi đâu, nhưng câu hỏi lại có vẻ ngơ ngác, lạ lùng :\n- Nhà người hỏi thế là thế nào?\n- Không, con mong vậy, con hỏi vậy.\n- Nhà chùa hỏi thử con thôi, những kẻ tà tâm mới hay vu oan giá họa. Con cũng biết đấy, mấy năm nay, quan huấn không về chùa. Mới đây, được tin người đã khuất núi rồi.\n- Con cũng nghe người ta nói. Các quan tỉnh cho quân về đốt làng, giết người bên Sủi thì con đã thấy tận mắt, chỉ còn thằng bé này con đem đi được. Vì không trông thấy cho nên cứ ngợ, cứ mong.\nIm lặng một lúc lâu. Tiếng dế rỉ ran, day dứt trong bóng khuya. Rồi tiếng sư Thiện Tâm như văng vẳng, nói lại :\n- Quan huấn không về chùa.\nRồi lại nói :\n- Cơ chừng thì hỏng mất rồi.\nCâu chuyện hai người đàm đạo cho tới tan canh rồi ngoài sân đã tang tảng.\n- Nhưng mà hỏng hay không, thành hay bại, con đã định như trình với sư thầy. Thầy con còn sống hay chẳng may thầy đã mất, con vẫn nghĩ vậy. Chúng con đã bàn rồi. Nợ máu thì chúng nó phải đền bằng máu. Chúng con phải trả được cái thù ấy. Con phải đi hỏi cho ra cái tội thằng đội Quang. Cõi tôi mà chết, đã có anh em khác, Cõi khác.\nTiếng giun dế về sáng râm ran từng đợt, rợn người. Khi Cõi đi, thằng bé còn ngủ thiếp. Sư Thiện Tâm cẩn thận mở cổng nhà hậu cho Cõi ra.\n- Con gửi thằng bé lại nhà chùa. Cháu mà có cơ duyên, xin thầy cho cháu được xuống tóc. Nếu lâu vẫn không thấy con trở lại, thì nhà chùa biết thế là việc trả nghĩa thầy con chưa xong. Rồi nhà chùa kể cho cháu nghe nguồn cơn gia cảnh nhà cháu như thế, phải ghi lòng tạc dạ cái thù của cha ông.\nCõi ở chùa Xiển đi từ tờ mờ đất thì sang sông về đến nhà cũng xâm xẩm tối. Thầy Cao ngày trước ngồi bảo học nhiều làng trong vùng, mỗi làng có đến mấy lớp môn sinh ăn mày chữ cửa thầy. Có nhiều người đã thành đạt, nhưng cái số quan trường của thầy thì khốn khổ, giữa triều đình rồi mà vẫn còn phải hoạn nạn tù tội, chẳng khác gian nan vào sinh ra tử nơi trận mạc. Cho đến năm phải biếm về làm chân giáo thụ ngồi bảo học ở phủ Quốc, rồi thầy nổi quân, thì lúc ấy cũng là cái thế cùng. Chí lớn không còn thi thố được ở đâu thì phải nổ bùng như vậy, không thể khác. Bảo là bí quá, phẫn chí, bảo là vét hầu bao ném vào canh bạc cả cơ nghiệp, ai đàm tiếu thế nào cũng được. Chỉ có điều thế là chí tiến thủ đã có cơ hội vùng vẫy, trời đất có ta, còn ta. Nhưng từ năm \"ông giáo thụ Cao làm giặc\" nhiều người sợ. Nhỡ ai hỏi: có phải học trò thầy Cao, đã chân tay bủn rủn, chối đây đẩy, việc đồng môn đóng góp thì lánh mặt từ lâu rồi.\nCõi không được là con nhà, như ai. Chẳng qua điếu đóm hầu thầy, được võ vẽ dăm chữ. Không phải cứ lắm chữ mới là người tử tế. Ai cũng đến lúc có xoay vần mới biết lòng dạ thế nào. Cái tên là Cõi cũng không phải tên tự, tên sách ra sao. Bố mẹ Cõi cũng không ăn mày đâu được một chữ. Cái năm mẹ đi chợ sớm, đến cánh đồng Cõi thì đẻ rơi. Rồi đặt tên thằng bé là Cõi.\nCõi về đến cổng, thấy ngõ rấp cành rong. Chẳng thấy mụ vợ đâu. Mới khặc khừ thế mà giờ biến đến tận tối. Mụ này thất thường, chẳng biết thế nào, có khi ra đầm kéo vó tôm rồi nằm vạ vật ngay ở lều, mà đi chợ thì tha thẩn la liếm đến tan chợ, là người về sau cùng. Ôi thôi, thằng chồng chẳng có nổi của ăn của để, thì con vợ phải ăn mày ăn nhặt từng hạt cơm. Cõi nghĩ qua loa vậy thôi.\nCõi xuống xóm dưới, đến nhà Trắt, - một người đồng môn. Trắt cũng chỉ học thầy được dăm ba chữ, rồi phải khi nhà khó, Trắt đi bán dầu độ nhật, như Cõi. Nhưng Trắt cũng khác Cõi, từ khi thầy Cao \"đi làm giặc\", Trắt không theo thầy.\nTrắt tự nghĩ: thân phận hèn đớn, chẳng biết đâu những việc triều đình trên đầu trên cổ. Tên là Trắt, có phải con cái cháu chắt nhà ai đâu. Mẹ kể mẹ đi mót lúa về, đương ngồi cắn trắt thì trở dạ, mới đặt nó là thằng Trắt. Ông bà, cha mẹ lặn lội, mấy đời chỉ biết vai buông cái đòn gánh thùng dầu xuống lại vác cái cày lên. Nhưng mỗi khi gặp Cõi thì thầm chuyện thầy gặp gian truân rồi nổi tướng, Trắt cũng vừa ngậm ngùi, vừa lo.\nCõi đến thấy Trắt ở nhà. Có một mình Trắt, cũng dễ chuyện. Đoán có việc quan trọng, Trắt bảo để rủ thêm người nữa, chú này ít tuổi hơn Cõi và Trắt, bây giờ làm ruộng, nhưng cũng là học trò thầy khóa sau rốt, lúc thầy Cao về làng chờ trên gọi đi giáo thụ phủ Quốc.\nCõi nói :\n- Thầy ta không thể chết chém như thế được. Nếu thật vậy thì phải đi giải cái oan cho thầy. Ba chúng ta đi tìm giết thằng đội Quang. Kỳ đem cho được cái áo máu, cái đầu, cái tai nó về đặt lên bàn thờ thầy. Các chú cùng anh ăn thề một lời...\nBa người cùng ứa nước mắt. Rồi bàn bạc thâu đêm.\n- Thấy bảo đội Quang đã được đổi về dưới này, đợi sắp thăng quan to.\n- Thế thì càng dễ.\n- Ta sang Kẻ Chợ dò tình hình đã. Rồi tìm cách lẻn vào nhà nó. Việc mạo hiểm, nhưng không thế không xong. Lính tráng nó như rừng, đi một bước cũng gươm súng đằng trước đằng sau, xưa nay nhà quan nó vẫn thế, vừa cẩn mật lại làm oai.\n- Ta đi dò la thử xem. Làm thằng bán dầu...\n- Nhà quan cách người ta mua cả bè dầu thùng chứ ai đong gáo bán rong bán chợ. Nhưng mà có thể, trong nhà nó còn lính tráng, kẻ ăn người ở.\n- Thợ mộc, thợ cối thì dễ ở nhà người ta được lâu. Mà làm gỗ với cái tay luyện đất cứt mối đắp cối, anh em ta cũng thạo cả. Lọt được vào nhà nó thì cũng bằng như sắp túm được sỏ nó đặt lên đĩa này rồi.\n- Phải, làm đồ ngõa, đồ mộc còn có thời buổi, chứ đóng cối dễ tìm việc, nhà nào chẳng có cối xay, cối giã, nhất là những nhà đông người ăn như thế.\n- Mai, cả ba chúng ta cùng ra Kẻ Chợ xem sao cái đã.\nCuối cái xóm khuất, cả ba người lúc to lúc nhỏ. Cạn chén rượu thì đập vỡ chén. Ai sai lời thì phải chịu chết tan nát như thế. Tưởng như lời thề độc đã buộc người ta keo sơn lại.\nVừa chợp mắt, đã sáng.\n- Ta thổi cơm sớm ăn cho chắc dạ.\nNgười đồng môn nọ nói :\n- Cho em về lấy cái khăn gói.\n- Ù lên nhé!\nCơm chín đã lâu, rồi dần dà nắng lên lưng bụi tre. Những người đi lưới sớm ngoài sông đã vác giỏ cá về chợ mai. Đám trẻ kéo tôm trong đầm đã bỏ vó, nhảy xuống nước bơi đùa loạn xạ. Vẫn chưa thấy chú ấy trở lại. Trắt bảo để đi gọi. Nhưng Cõi xua tay:\n- Ta ăn rồi còn đi. Nó vừa nói lời đã nuốt lời rồi, gọi làm gì!\nThế là có hai người thợ đóng cối sang Kẻ Chợ. Những khi tháng ba ngày tám rỗi rãi, đồng ruộng chẳng còn một hột việc, các vùng hai bên sông Cái thường khi vào kiếm miếng trong Kẻ Chợ vãn cả làng. Người xách người đeo cái bị đựng cái tràng, cái vồ, con dao gọt và quàng trên vai mấy vòng mây đã chẻ khoanh tròn như khua nón, thoạt trông cũng biết những bác thợ cối. Để làm hiệu thôi, chứ cái dăm cối còn phải gọt, phải đẽo gốc tre đực, còn cái đất cứt mối đùn để đắp mặt thớt thì đến nhà chủ ở, vừa làm vừa đi kiếm.--------------------------------\n|[1]||Những bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (1808-1854) được dịch nghĩa in trong tiểu thuyết này đã trích ở Tuyển tập thơ văn Cao Bá Quát, in lần thứ ba, Nhà xuất bản Văn Học 1984.|\n\n**Nỗi nhớ ** **(Hữu sở tư)**\nCon nhà ai nho nhỏ\nHai đứa sóng đôi vừa đi vừa nói\nĐã mấy người quên hẳn được tình\nTa cũng nhớ đến con ta\nNào lúc bám lấy mẹ kêu đói\nNào khi níu lấy ông học vái\nNay trước cửa nhà vắng đi một nửa\nThấy bay mà sinh lòng nhớ thương\n**Hóa dân** (dịch nghĩa) **Chiêm bao thấy con gái đã mất ** **(Mộng vong nữ)**\nCha mẹ xa, mình thì đang ốm\nNhớ con mà vẫn phải nén đau thương\nBỗng nhiên trong giấc mơ lúc nửa đêm\nNhác trông thấy con mà nước mắt giàn giụa\nÁo quần đã không đủ ấm, lại rách\nNét mặt buồn bã\n(Con ạ) Nhà ta tuy nghèo nhưng dưa muối không thiếu\nDù có tân khổ thì con hãy cứ trở về.\n**Nguyễn văn Bách** (dịch nghĩa) **Viết hôm tiếp được thư nhà** **(Đắc gia thư, thị nhất tác)** Người ta sinh ra không phải là cỏ cây\nCó buồn có vui vì có hiểu biết\nAi không có cái lụy gia đình\nNhìn xuống trông lên, nước mắt tràn thấm ngực\nDời ta trót lầm lỡ vì danh hờ\nHàng mười năm chìm đắm trong bút mực\nSau bao khó khăn thi mới đỗ\nTiều tụy không còn ra hồn người\nLần này gặp vận mà đi\nĐã xét mình sửa hết mọi khiếm khuyết\nBỗng trận gió kinh khủng từ đâu đưa đến\nLàm cho chim bay phải cụp cánh\nĐời thịnh đâu có bỏ phí tài năng\nChỉ có mình lơ đãng, vụng về, tự rước lấy lỗi\nĐương miệt mài nghĩ đền bù những điều sai trái\nBuông màn chỉ cúi đầu im lặng\nChợt có khách từ quê nhà đến\nTrông thấy ta chỉ những than thở\nBáo tin rằng: \"Ông có sự buồn\nBà chị đã qua đời rồi\"\nVội vàng tay mở phong thư\nTinh thần bàng hoàng, rối loạn\nThan ôi! Tình cốt nhục\nLà khách phương xa, lại càng đau thương\nTa mới đi chưa được vài thảng\nMà đã bao nhiêu biến cố không ngờ\nNữa rồi ra ngày còn dài\nAi lại có thể không có sự may rủi\nNỗi buồn dằng dặc như trời đất\nThương cảm biết bao giờ cùng\nTrời đã tối, một mình trầm ngâm\nBa lần trở ra, nhìn về phía Bắc thành.\n**Hoàng Tạo** (dịch nghĩa) **Về đến nhà** **(Để gia**)\nMái tóc đã bơ phờ rồi mà mình vẫn không biết\nNay là lúc được về trông thấy làng xóm\nĐây là điếm Cây Gạo, sương đã tan rồi\nKia là hổ Ngựa Trời, vầng ô đương lên chậm\nBạn hàng xóm thình lình gặp nhau, sủng sớt hỏi thăm\nMẹ già chợt trông thấy con, mừng mừng tủi tủi\nTrước nay đã trải nhiều hoạn nạn, từ đây xin chừa\nĐối với người nhà không dám nhắc đến chữ \"biệt ly\" nữa.\n**Nguyễn Văn Tú** (dịch nghĩa)\nCác phường hội làm ăn ở Kẻ Chợ đều có quê gốc. Cả đến bọn nhuộm thâm, nhuộm nâu ở Đồng Lầm dưới Nam lên, trú lại bên kia hổ Ba Mau, thế mà đông dần thành một phường, con đường phía nam vào Kẻ Chợ rồi cũng thành tên ô Đồng Lầm.\nĐất Kẻ Chợ là như vậy. Người tứ xứ đến ở thành phường phố, hàng chục, hàng trăm nhà vẫn giữ tên đất quê. Riêng hai chữ Kẻ Chợ thì lại khác. Thời vua Minh Mệnh đã lấy của trấn Sơn Tây và của Sơn Nam nhiều phủ huyện ghép vào Kẻ Chợ lập nên tỉnh Hà Nội, quan Tổng đốc đóng trong thành cũ, gọi là Bắc thành. Bấy giờ sang đời vua Tự Đức, cái tên tỉnh Hà Nội được đặt đã ngoài hai mươi năm. Nhưng chẳng mấy ai để ý, vẫn chưa quen, người qua lại cứ gọi đấy là Kẻ Chợ.\nTrong Kẻ Chợ, các phường đều có đình miếu thờ vọng thành hoàng làng. Ấy là nói về những nhà thợ nghề đã ngụ một đời, vài đời ở đây. Không kể mỗi mùa mỗi vụ gặt hái xong, người các nơi ra đất thị thành kiếm cái ăn thì các đình, chùa, các đền miếu, am thờ đều là nơi trú chân quen thuộc của mỗi cánh, mỗi nghề.\nChỉ có thợ cối chẳng vùng nào chuyên. Đâu cũng có thợ cối và mỗi nhà hàng năm lại sửa sang lại cối, nhất là từ tháng mười sau tết cơm mới cho tới một chạp áp tết cả. Thợ cối cũng chẳng thành cánh. Thường thì hai ba người họp lại, đi rong. Ai quen thì hỏi mối các nhà đã làm, nhà nọ mách nhà kia. Rồi nằm đợi việc hay có việc rồi, cơm rượu chiều ở nhà chủ xong, ra nằm trọ đình cổ Lương. Cũng thành lệ, tìm thợ cối thì hỏi ông từ đình cổ Lương. Chẳng thế mà từ bao giờ đã có câu vè:\n\"Nên ra thì múa tứ linh. Không nên thì lại nằm đình cổ Lương\". Mình chẳng được nên gì thì cũng nằm đình cổ Lương. Thợ cối làm mỗi nhà vài ba hôm thì đã xong việc, không như thợ chữ, thợ khắc trọ ở đình cả tháng. Phó hai, phó nhỏ nhộn nhịp gạo nước thổi nấu lấy, chẳng giống thợ cối, thợ đấu chỉ tạm bợ một hai bữa thì ăn ghé bếp ông từ.\nĐình Cổ Lương cũng như đình, đền các phường, lại như cái chợ tìm việc, hỏi việc. Năm nào, mùa nào cũng đã quen. Cái am, cái miếu phường nào hầu như đâu cũng thế. Một quán chè tươi, có cả rượu trắng dọn ở góc ngoài. Những chân tường, chân cột phía trong, các nồi cơm nghi ngút khói rơm, khói vỏ bào. Tùy hạng người, cái tam quan cũng chẳng khác cái chợ. Chợ Cầu Đông, chợ Ông Nước, chợ cửa Nam họp ban ngày, các cửa đình, tam quan là cái chợ đêm - chợ đêm chỉ rặt người ăn uống, người ngủ trọ. Đình Hàng Quạt, đình Hàng Hài, những người lên theo vụ, đẽo bản khắc in, nghề giấy, bàn xoay thợ tiện rồi người gánh hàng dầu, thúng than hoa, những bong bóng lợn đựng rượu, không ai biết ai, có người chỉ dựa tường ngủ ngồi ngoài cửa, không mất tiền cho các ông từ, ông tự.\nCõi với Trắt trọ ở đình cổ Lương đã được mấy đêm. Chỉ mình Cõi phó cối, Trắt đã ra bến Bà Móc đong dầu rồi quảy thùng dò dẫm đi các phố. Ngày ngày, mỗi người mỗi việc, người gánh dầu, người khoác vòng mây lên vai dạo các ngõ ngách, xẩm tối trở lại ngủ đình.\nCõi nói :\n- Chẳng được một kẽm gãy. Đi rạc cả cẳng, không ma nào gọi thợ cối. Chưa đến tháng mười mà.\n- Ừ nhỉ!\n- Nhưng mà biết nhà đội Quang rồi.\n- Tôi cũng đi qua mấy lần.\n- Mới trên Sơn xuống mà dinh cơ đã oai lắm.\n- Chuyện! Nhà quan, đâu chẳng đã sẵn.\nCõi bàn :\n- Chú ở ngoài này xem xét ra sao đến khi tôi ra thì ta tính. Cạn túi rồi. Tôi phải về trữ lương ăn đem ra. Hôm đi không để ý, hai người ăn mà không kiếm ra đồng nào thì hỏng.\n- Ừ nhỉ!\nRa bến đò sang Ghềnh, Cõi còn quay lại, dặn Trắt :\n- Cứ thế, chú ạ.\nTrắt cười :\n- Được, được rồi.\nSuốt ngày, Trắt gánh dầu qua các phố. Tối về nghỉ chân ở đinh Hàng Hòm. Kể ra, đình cổ Lương cũng vào những đình giữa phố xá, tiện đi lại, nhưng đêm ngày người nghỉ, người trọ nhiều đâm ra tạp. Bên đình Hàng Hòm tuy nhỏ mà thoáng hơn, lại yên tĩnh. Ở đình Cổ Lương cứ ghê ghê. Chẳng bận đến mình nhưng lỡ chẳng phải đầu cũng phải tai. Ở đấy, trong phường các phố Hàng Buồm, phố Hàng Bạc, Hàng Đào - những phố có hiệu buôn to, người Khách, người ở Trâu Khê lên mở cửa hàng, lại nghề đổi tiền đồng tiền kẽm. Hàng Đào thì mua lĩnh Kẻ Bưởi, the La, chồi Bùng, toàn những của một đống tiền, cái đám thợ ra làm, đám lái đeo đây đi bán, trong lưng ai mà chẳng sẵn của. Dễ bị cướp như chơi.\nKhông mấy khi trọ đình Hàng Bạc. Có bạc thì chắc mất toi, bằng như khố rách thì chẳng ai ngu mà rước lấy cái dại. Ngay ở đình cổ Lương, những lúc quá chén, có người cũng lè nhè :\n- Cứ đong rượu đi, thiếu tiền thì chốc nữa sang chịt cổ vài thằng thợ bạc Trâu Khê.\n- Phải, phải, bạc của nó cũng là bạc ăn cắp của chủ hiệu, của thiên giả địa.\n- Hay là ra Hàng Đào lột cái váy lĩnh của con mẹ Kẻ Bưởi, bọn lái hàng tơ này hay về chợ sớm.\n- Ha, ha!\nỞ đình Hàng Hòm thì cánh trọ cũng ăn nói bặm trợn chẳng kém, nhưng đám lam lũ này chắc có kém ngang tàng. Quanh quẩn, mấy người khố đuôi lươn đi cắt cỏ voi ngựa bán chợ Hàng cỏ. Đến mùa vụ, người Cầu Nôm lên quét mực bản khắc. Dân làng Dũi làm ở Hàng Tiện. Người Giới Tế trọ ở Hàng Mành, uống rượu ngữ, cơm bát úp ăn với cà chan nước lã. Ngay bọn ở Hàng Đồng Giọt đập cái mâm đồng, cái âu trầu hay Hàng Hòm thì lỏng chỏng mấy chiếc tráp sơn then, cái hòm gỗ cánh gián nhợt như áo quan.\nĐốt cả phố Hàng Tiện, Hàng Hòm cũng chỉ ra tro mấy thứ thổ tả ấy với cái bàn tiện. Còn người ngủ đường ngủ chợ có cái tràng, cái đục, cái con lăn, con cóc quăng đan mành mành thì vứt ra đấy, chó cũng chẳng buồn tha. Cho nên êm nhất là ngã vào đình Hàng Hòm, phải hơn bên đình Cổ Lương hay Hàng Bạc - chỉ có mấy chú phó cối cả năm ra Kẻ Chợ đôi buổi không biết mới chui vào những nơi ấy.\nNgười hai bên sông vào phường phố cũng là trợ thời không thành nghề như thợ bạc, thợ đồng giọt, mà là người ở đợ, làm mướn, người bán dầu thắp. Gánh đôi thùng tre ghép sơn cánh gián, đựng dầu trẩu, dầu sở tùy mùa dầu trên ngược về, đầu mẩu đòn gánh gác một sải dầu lạc. Áp tết mới nhiều người mua dầu lạc các nhà khá giả thì quanh năm thắp dầu lạc, nhà nghèo chỉ trữ hũ dầu lạc, đèn thờ những ngày giỗ chạp, tết nhất tim bấc đèn tinh khiết không bụi khói. Những người bán dầu không điêu toa pha phách đều có thể mua quanh năm. Các nhà lấy dầu quen, mua ngữ tháng bốn phiên tơ ngày một, ngày sáu. Trắt bán dầu ngắn vốn, lại đi có chừng, chỉ gặp khách mua hóng.\nNgày nào Trắt cũng đi. Thường thì ngại ở lang chạ, chiều đến nhiều khi sang sông về nhà, gà gáy lại vào. Nhưng bây giờ gánh dầu đi có ý khác, tối tối rúc ráy vào ghé lưng nhờ các cửa đình, cửa đền. Mỗi ngày, dạo khắp xó, nhưng thế nào cũng qua nhà đội Quang vài lần. Cổng đóng kín, trên vòm có chòi canh như dinh quan, người lính đứng to hó nhìn xuống. Trắt rảo bước đi thẳng, thế là chưa được cái gì khác, vẫn như thế.\nMấy hôm ấy, trời lại sụt sùi mưa. Đã sang tháng bảy, mưa ngâu sớm ướt sũng đất. Cả một vùng xám mờ như trời buông xuống những cái màn cửa nhuộm chàm che khuất chiếc bè gỗ, bè nứa, các ông lái đường ngược đương nằm hút thuốc phiện. Tự dưng, đến người cũng bực bội, bứt rứt. Chặp tối, Trắt đỗ gánh cuối phố Hàng Gai, vào mua nắm cơm muối vừng, ăn xong ra vại chiêu ngụm nước lã rồi xuống đình Hàng Hòm. Tối rồi mà còn vắng, mọi khi, vào giờ này, đám thợ tiện, thợ xén sách, thợ khắc ván các phường quanh quẩn đã tụ tập. Biết thế nào, vì trời mưa, vì nhiều việc phải làm đêm, hay đã hết lứ hàng, người ta về quê cả.\nTrắt để ý, mà không quan tâm. Trắt đặt hai thùng dầu vào góc khuất trong lưng cột rồi ngồi xuống lấp sau bậc gạch, cho khỏi chói mắt, ngạt mũi vì bấc đèn dầu sở khét lẹt ở hàng nước phía ngoài tạt gió vào, khói tuôn cuồn cuộn.\nNhưng rồi cũng chẳng chợp mắt ngay được. Trắt vẩn vơ nhìn sang ngôi hàng nước dần dần đã có người đến xúm xít ngồi kín trên những nửa mặt cây vầu đặt quanh chõng hàng. Hàng nước chè tươi đình Hàng Hòm nước ngon đã được tiếng. Thấy bảo lão quán này kỹ tính. Chè tươi thì thửa chè đồi trong Chương Mỹ đem ra. Nước đun, mua nước giếng đất gánh tận chùa Bà Ngô cạnh Giám. Bát nước múc ra xanh óng, uống đến bỏng môi, nhưng đậm giọng, nhiều người đã nghiện chè tươi quán đình Hàng Hòm. Người uống quen là phải, bởi chưng cũng không phải lão quán chỉ bán nước chè xanh. Cái đóm nỏ, cái điếu cày lúc nào hút cũng giòn tanh tách thì chẳng kể, và cũng chẳng có là bao mấy thứ khác, nhưng sau lưng lão xếp một dãy vò rượu Kẻ Mơ. Cái Kẻ Mơ chính tông mới ngọt giọng làm sao. Uống suông cũng được vài chén, khách ngổ ngáo thì cứ vài hơi đã hết be.\nNhững khuôn mặt vuông vức nhấp nhoáng quanh ánh đèn, trông dữ như mặt thằng quỷ ở bên vạc dầu chỗ cảnh thiên đường địa ngục trên chùa. Họ đương rượu. Xem ra không phải mấy cánh thợ mọi khi. Có người vắt vẻo trên đầu mảnh vải thâm gấp đuôi khăn tai chó, như lái bè lái buôn trâu dưới bến lên hay ở trong cửa rừng ra.\nTường vách, kèo cột cửa đình nhem nhuốc ám khói bếp nấu nước, khói thuốc lào, hơi người, đã lâu năm két lại lẫn màu nâu sổng của những khách ngồi quanh, mọi thứ đều đen nhẻm như trong lòng chảo.\nNhững câu chuyện cũng lạ tai. Họ cãi nhau về cách bẫy chó, đánh chó, lừa chó.\n- Quả mướp, quả nướng thui chín nục quăng ra, thằng chó tham ăn càng hăng càng chết. Thấy khói bốc tưởng miếng đớp được, ngoặp một cái, thế là hai cái hàm dính lại, rụng ngay hết răng. Chỉ còn nằm mọp, rên ư ử.\n- Không xong. Có thù con chó thì làm vậy thôi. Chứ cũng không lọt vào nổi đâu.\n- Sao không xong?\n- Nó không há được mõm, thì nó cũng rên, cũng rú váng lên chứ. Thế là nó đánh trống ngũ liên báo cướp được rồi.\n- Này bảo cho mà sáng mắt ra. Thằng kẻ trộm không đánh bả, không ném mướp nướng lừa chó bao giờ. Trò trẻ ranh!\n- Mắt tao đã thấy mà.\n- Cách vào này thì thần tình lắm. Có ghét con chó thì lúc ra, ném lại ít bả. Thế thôi.\n- Ha! Ha!\n- Tay này vẫn làm thế đấy.\nTrắt đoán bọn này không đầu trộm thì đuôi cướp. Vào giữa phường sầm uất thì làm trộm, ra đầu ô vắng vẻ thì thành kẻ cướp. Tối đến, tù và, ốc, trống ngũ liên loạn xạ. Khắp các phố, những tiếng khiếp đảm hú vào các đầu hồi, các cây bương nứt ống, những ngọn cau tùm hum như có người ngồi rình trên ấy. Nơi nơi im thin thít đợi cơn hoạn nạn đến. Nhà phải người ném mồi lửa. Người bị chém sã vai... Tất cả nem nép trong bóng đêm, mưa ồ ạt rơi trong cơn giông, đêm nay cũng thế, trông ra trời đất thảm xịt như ai bịt mắt. Cái đèn dầu chẩu trước điếm canh đầu phường đứa nào đập vỡ đã tắt ngóm từ bao giờ để dễ bề khua khoắng. Trắt đoán bọn này tụ bạ rồi đi cướp, hay xé lẻ ra đi thón từng nhà. Bọn này đây. Trắt nghĩ ra một việc, việc khác, việc đương cần.\nTrắt lò dò đến ngồi cạnh. Một người quát vào mặt Trắt :\n- Thằng tuần phường Hàng Hòm à?\n- Trói cổ thằng này, tội vạ đâu tao chịu.\n- Không có thì chốc nữa nó cũng gông ta lại. Đem chọc tiết thằng này để tế cờ, anh em ơi!\nTrắt vội nói to :\n- Em là thằng bán dầu, các liền anh cứ hỏi ông chủ quán nước thì biết.\nMột người trợn mắt hất hàm ý hỏi chủ quán. Nhưng ông lão không nói gì.\n- Thằng bợm mắt lấm lét thế kia mà đi bán dầu a?\n- Đêm nó đào tường khoét ngạch, ngày nó bán dầu.\n- Không, nó là thằng tuần đi rình mò...\nTrắt vào xách hai thùng dầu lại cho mọi người nhìn. Rồi kể lể :\n- Nhà em ở bên kia sông, mấy hôm nay hàng họ ế ẩm quá. Ngủ đây cho gần, mai có buổi chợ cầu Đông.\n- Ngày đi bán dầu, tối đi ăn trộm cũng thế. Nhập bọn với chúng tớ được.\n- Em không có tài, chứ em cũng thèm.\n- Tài tải tài tai, tài tai cái tai bị cắt ấy mà.\n- Ngồi xuống đây làm một chén. Hay là mày uống chỗ dầu ế no say rồi.\nMột con xọt xành bám trên hốc cột gõ mõ cành cạch. Con xọt xành kêu hay con mối chép miệng đớp muỗi, con dế tỉ tê rên rỉ thâu đêm, cũng thế - chẳng trông thấy con xọt xành đâu nhưng tiếng xọt xành lại thành câu ví von. Mọi người cười khục khục cùng bật một nhịp :\n- Xọt xành là anh kẻ trộm! Xọt xành là anh thằng kẻ trộm!\n- Thằng xọt xành nhầm nhà rồi. Chúng anh đây đi ăn trộm mà có đứa nào dám đến đây khiêng các hũ rượu của ông quán đi đâu!\nÔng hàng nước cắm cúi bê hũ rượu chiết ra từng be, từng ống nứa rồi ra ngửa mặt cười khà. Đích thị! Đích thị! Mọi chuyện lại râm ran. Trắt đã rõ, đám kẻ trộm này chợt ngồi đây, chốc lại biến đi.\nMột người nói :\n- Này các đằng ấy, rượu vào rồi ra ngồi phơi sương, hơi người hả đi nhanh lắm. Mới đêm qua thôi, uống đến nửa đêm ở đây thì tớ đứng dậy, ra bãi tha ma nằm ngủ trên một cái mả, đến canh một thì các cụ dưới mồ lên vành mắt dựng tớ dậy, người chết đánh thức người sống. Tớ đi vào chui cổng chốt phường Hàng Đào đằng kia kìa rồi nậy cửa hiệu cái nhà có tiếng nanh ác ấy, tớ khuân một ôm lụa lĩnh như khiêng cây rơm trên lưng, vừa đi vừa thở phì phì, vẫn còn say, thế mà chẳng có một tiếng chó cắn. Chó đuổi theo chỉ ngửi ngửi, hơi người lẫn với hơi sương rồi mà.\n- Bây giờ mới biết á? Cụ tổ nghề đã dạy sách ấy từ đời nam nữ kia! Cái rượu nó bốc hơi người đi, không phải cái xương cốt gì đâu.\nTrắt tưởng tượng ra chốc nữa ở đây rồi họ phắt lên các nóc nhà, bờ tường, xuống ao chuôm, cả rừng chông trà, hàng chục ròi cổng chẳng là gì cả. Tiếng tù và, tiếng ngũ liên đêm nào cũng hốt hoảng thấp thỏm thì biết được trong thành, ngoài cửa ô nhộn nhạo trộm cướp thế nào.\nTrắt mon men :\n- Nghe các ông anh nói em sướng cả bụng.\n- Sướng là làm sao?\n- Sướng là cái nỗi những đứa nứt đố nổ vách lúc nào cũng bở vía, tóc gáy cứ rợn lên thế thì đến rụng trọc đầu mất.\n- Ừ, nghe mày nịnh thế tớ cũng nở hai lỗ mũi đấy.\n- Đàn anh cho em theo với.\nMột người cười ha hả :\n- Đội Quang mai về đấy. Rồi mày đi báo đội Quang chém chúng ông, đầu chúng ông là củ chuối để mày xách đi lĩnh thưởng a?\nTrắt rụi mắt :\n- Không, em nói thật.\nMột người khác trầm ngâm :\n- Nhưng mà chúng tao không phải kẻ trộm kẻ cướp đâu.\nTrắt ngần ngừ.\n- Nói thực, em theo học các ông anh.\n- Học cái gì?\n- Tay không mà đâu cũng vào lọt, như lúc nãy chư ông nói.\n- Được rồi, tối nay tao uống mày chi tiền rồi tối mai tao cho đi theo.\n- Vâng ạ.\nĐến lúc Trắt gà gà mắt tựa vào tường thì các tay anh chị nọ tản mát đi lúc nào không biết. Trong tiếng mưa khuya, câu chuyện phảng phất như ngủ mê.\nHôm sau, Trắt lại quảy gánh dầu đi qua cổng nhà đội Quang có đến mấy lần. Nhà đội Quang ở gần đầu ô Chợ Dừa. Một dinh cơ của một quan lớn mới được bổ vào Kinh để lại. Đội Quang chuyển trên Sơn xuống, thấy cơ ngơi khang trang thì ông đội mới có công to cử vừa xin lên trên, vừa ở luôn. Thế lực đội Quang dấy lên, mỗi lúc một hống hách, quan dạng. Xa trông dưới những cây cau, mái nhà ngói bát vần, giàn trầu không xanh thẫm leo phủ bên bể nước mưa trước hiên. Ra ngoài phường, các dinh thự nhà quan đều xum xuê nhà cửa vườn tược thế.\nNhà đội Quang cũng dinh cơ; lại là nơi xét xử giam cầm người, không biết trên huyện hay Bắc thành cho mở công đường hay cái lệ đội Quang ở trên Sơn vẫn tự tiện vậy, bây giờ được lên chức lãnh binh lại càng ghê. Có đủ lệ bộ như công đường quan án đầu tỉnh. Lính gác, lính tuần, lại ông lục, thầy cai, thầy thừa - chẳng rõ có thật các chức tước ấy không, những người có việc kêu cầu, kiện cáo thường quen xưng hô đội lên chức thầy, chức quan lớn, người ta càng khiếp đảm vì ở nhà đội Quang xử tội rồi giết người được cả: đánh đòn, bỏ rọ trôi sông, đâm chết tươi, đem chôn. Trong các hàng quán ở đất Kẻ Chợ, tuy đội Quang mới về, cũng chẳng phải quan nhất quan nhì hàng tỉnh nhưng người ta đã thì thào về cái tính cục cho toi mạng người không ghê tay của quan lãnh mới được thăng.\nTrắt nhìn hàng rào những cây vông hoa đỏ như tiết, mà ngẫm nghĩ về câu chuyện trộm cướp tối hôm qua ở đình Hàng Hòm. Trắt tưởng tượng có một đêm Trắt ra nằm bãi tha ma một hai trống canh, nhạt hết hơi người rồi Trắt vào leo qua cái hàng rào ô rô, leo khéo thế nào để các chòi canh trên tường không biết, cả đàn mấy chục con chó săn lùng sục suốt đêm quanh tường không đánh hơi ra. Trắt lọt vào tận buồng đội Quang. Bấy giờ mới phải tính thế nào đây, cắt đầu cả con vợ nó, hay chỉ một mình thằng chồng. Thôi, tội ai người nấy chịu.\nTrắt đương nghĩ như thế, nhưng đến lúc cảm thấy một bên vai nặng trĩu cái đòn gánh và đôi lúc gió thổi dạt làn nước mưa xuống cái lòng nón sụp trên mặt, như cả vòm trời xám xịt ụp xuống. Mới lại nhớ đương quảy dầu và xưa nay chưa biết trèo leo, nạy cửa, vượt mái nhà như kẻ trộm, kẻ cướp, làm sao chui qua, trèo qua được cái bờ rào ô rô rậm rịt rối lại xoay xở thế nào những cơ ngũ chỗ ăn chỗ ở ra sao trong ngôi nhà ngói mênh mông thế kia.\nNghĩ thế, Trắt xịu mặt. Nhưng một lúc, Trắt lại hy vọng, không biết hy vọng gì. Trắt quay lại, qua cổng nhà đội Quang lần nữa. Chặp tối, Trắt trở lại đình Hàng Hòm, đòn gánh trên vai như đêm qua. Về đây, Trắt lại có ý mong và hy vọng rành rõ.\nNhưng đêm tạnh ráo mà đến khuya cũng chẳng thấy bóng dáng người nào tối hôm qua. Có mấy đám, bọn thợ cối ở Thượng Thanh lờ vờ ra, đi cả ngày chẳng ai gọi tối lại về tá túc đây. Rồi vẫn thợ tiện Hàng Hòm, Hàng Tiện, thợ khắc Hàng Gai. Những bọn này vùi đầu vào đám xóc đĩa trong góc tường, thỉnh thoảng ra làm bát nước, bát rượu lảm nhảm khấn cho khỏi cơn khát nước, rồi lại nhảo vào đỏ đen.\nTrắt hỏi lão quán :\n- Đám hôm qua chẳng thấy tăm hơi nhỉ?\n- Dào ôi, đã sang cả bên kia sông lại xuống ô Đồng Lầm, đi như ngựa, có khi gần sáng mới mò về. Có khi vắng cả tháng.\n- Các anh ấy đi dắt đất?\n- Hình như bên kia sông, tận trên bến Bỏi. Đi ăn cướp mà lại được tiếng tướng cướp. Đã nghe tiếng tướng cướp bến Bỏi bao giờ chưa?\nMấy đêm nữa cũng không thấy người nào đến.\nTrắt chịu khó chờ, dẫu biết chim trời cá nước, khó lòng còn có khi gặp. Có đêm lại rả rích mưa, Trắt vẫn mò về Hàng Hòm, rồi ngày lại ngày, quảy hai thùng dầu qua các phố. Như thường lệ, đi đường nhà đội Quang, Trắt nhẫn nha, thong thả đếm từng bước.\nĐến những cây vông trong bờ rào ô rô - cái vườn rộng thênh thang như vườn nhà chùa, rồi tới hai cột trụ cổng vào, những búi cỏ ấu lầy lội bùn cát pha. Cũng chẳng lạ, lối này ra đường thập đạo, người qua lại, quân trảy chẳng lúc nào ngớt, nếu lâu lâu không mưa thì những cây muỗm, cây đề, cây gạo ngoài ngã ba, bụi đường nhuộm đỏ xuộm cả gốc cây, cả vòm lá.\nĐằng sau, tiếng vó ngựa lộp cộp. Nhìn lại, không phải, một người tráng đội nón chóp, giơ cành tre dứ lên đầu bốn con trâu chen nhau định bồn, miệng quát \"họ... họ...\" dồn cho trâu chững lại. Bùn nhóp nhép vết chân trâu, thảo nào bờ cỏ ven đường nhàu nát, ngả rạp thế. Nhưng hôm nay không phải ngày chợ. Mà trâu bò các làng đem vào bán chợ cũng không qua ngả này. Đàn trâu này mẫm mạp, béo nây tròn khoáy mông, dáng trâu vỗ béo, trâu thịt, không phải trâu cày. Lại nhà quan nào có tiệc trong thành...\nBốn con trâu bị quát \"họ\" loanh quanh dồn lại trước cổng nhà quan đội Quang. Người tráng đánh trâu kéo cái ốc đeo bên vai, nghiêng cổ, phổng má thổi tí... u... tu... tí... u..., mấy tiếng ngắn. Lính trên chòi chạy xuống, cũng vừa lúc người trong sân cầm cái chìa khóa tất tả chạy ra. Hai người cùng rầm rầm cong lưng đẩy cái cổng sang đôi bên. Phía đường lát gạch men quanh khoảng sân rộng liền tới những tòa ngang, dãy dọc, nhà lính tráng, nhà cối xay cối giã với kẻ ăn người ở cạnh nhà bếp chầu vào ngôi nhà trên, cơ ngơi nhà quan đại thần cũng còn thua, rõ như thế. Vì mấy đời trước, vua chúa đã vào trong Kinh, đất Kẻ Chợ chỉ còn là nơi đô hội, dẫu cho có quan tổng đốc Hà Nội đấy nhưng lâu đài, thành quách mọi thứ đểu hoang lạnh và luật pháp thì tờ lệnh cũng bằng mảnh giẻ, quyền vua phép nước đều lụi bại chẳng ra thế nào. Đâu đâu cũng vỡ đê vỡ đường, đến con châu chấu, con chuột, con cào cào cũng nổi lên thành giặc tụ hội hàng vạn hàng triệu con về phá tan cánh đồng hàng tỉnh. May ra các quan võ còn có quyển chứ văn quan chỉ biết ngậm cái bút lông mèo không há được miệng chẳng ra ngô khoai gì. Bởi vậy, chỉ mới ông lãnh, ông đội ở đâu thì dinh cơ đã ra trò. Lại hung tợn quyền sinh quyền sát như đội Quang thì trong thành ngoài cõi đều một phép, trông thấy thì cúi đầu, đi qua cổng phải bước nhanh.\nĐàn trâu thịt được đánh vào trong cổng. Thế là nhà quan sắp có tiệc. Người qua đường chợt thấy thì đoán vậy, nhà quan lãnh mới, tân quan, tân chức phiên nào cũng có tiệc. Khi thì đàn trâu mộng, cùng các gánh cá chắm, cá chuối vừa đánh dưới hồ ao hay sông Cái lên được lần lượt quảy theo. Trắt phải đỗ gánh dầu đợi mấy con trâu vùng vằng quăng quả chịu qua cổng đã. Nhưng Trắt cũng không vội. Mà lại ra ý lân la đứng lại. Trông thấy con cá, chẳng hiểu cơn cớ sao, Trắt lại nghĩ thằng đội Quang ở trong kia cũng bằng con cá nằm trên thớt - quanh quẩn xó nhà thì khác nào trên thớt chốc nữa ông thò tay vào, cầm con dao hạ xuống chặt khúc. Có lẽ sự sốt ruột đã khiến Trắt nghĩ ra thế, như thật. Chứ đã được lần nào nhìn vào, đã biết đội Quang mặt ngang mũi dọc ra sao. Ngay phía trong cổng vừa mở, mới thoạt thấy lần đầu. Bọn kẻ trộm ở đình Hàng Hòm nói đúng, phải có người dắt đất, phải thông thuộc đường trong ngõ ngoài như nhà mình rồi mới hòng. Vậy thì ta chưa ra đâu vào đâu. Trắt lại dùng dắng ngẩn ngơ.\nĐàn trâu đã được xua khuất vào vườn sau. Trắt gánh dầu men sang bên cổng, không để ý người lính canh trên chòi đang chăm chăm nhìn xuống. Một tiếng gọi bên trong lanh lảnh :\n- Hàng dầu, này hàng dầu!\nO một túp nhà tranh bên trái cổng có một người đàn bà bước ra. Rõ vẻ người nhà quan, váy lĩnh Bưởi đen nhánh, thắt lưng nhiễu tam giang, tay xách cái khóa đuôi chuột, rỉ sắt đen xỉn to bằng ống tay. Ai gọi hàng dầu? Người này ra khóa cổng mà. Nhưng người đàn bà ấy lại cất tiếng :\n- Vào đây, vào đây mua vài cân dầu. Quảy hẳn vào trong này để khóa cổng.\nKhông phải người đàn bà ấy khóa hai cánh cổng lim nặng như hai gọng cùm. Một người búi tóc, chít chăn lượt, dáng ông lại, ông nho trong sân tất tả đi ra, cầm lấy khóa đem móc vào lỗ cổng giữa cái rõi sắt rồi cả hai người lính trên chòi xuống đẩy. Cánh cửa cót két nặng nể đóng sập lại. Trắt đã vào trong cổng rồi, ngẩn ngơ toan hỏi cửa khóa thế thì tôi ra làm sao. Nhưng lại nhớ đây tà cửa quan, mà người ta gọi mua dầu, bỗng dưng chợt thấy được may mắn quá.\nTrắt gánh dầu theo người đàn bà. Người ấy không còn trẻ, nhưng cũng chưa hẳn đã già. Da bánh mật, đuôi mắt rạn chân chim nhăn nheo, vẻ ủ ê lại như cau có rõ người hay bẳn tính, hấp tấp.\nNgười đàn bà bảo cái bác chít khăn lượt :\n- Bảo trong ấy có nhà đứa nào hết dầu thì ra mà đong.\nNgười chít khăn, áo dài đã đi vào sân. Một lúc cũng chẳng thấy ai ra. Trắt đỗ thùng dầu, ngồi lên cái đòn gánh.\nRồi Trắt tự nhiên hỏi như đùa :\n- Nhà quan tuyển võ sanh đàn bà gác cổng?\n- Cái nhà anh này ăn nói chớt nhả! Liệu giữ cái mồm đấy. Ai lính tráng gì với nhà các người.\nNói như mắng ấy nhưng mặt lại tươi tỉnh, rồi tủm tỉm. Trắt cảm thấy dễ làm quen.\n- Thấy nhà bác giống cái chòi gác, mà lại ở cạnh cổng.\nNgười đàn bà chép miệng, mặt lại ỉu ngay.\n- Ừ, cũng là chòi gác thôi.\n- Để tôi về bảo vợ con ra đây xin tuyển lính, ở dưới quê đương đói, nhờ bác giúp cho. Trần đời chưa trông thấy lính đàn bà như dinh quan nhớn đây.\nHình như người đàn bà ấy gọi Trắt vào để nói chuyện dông dài vậy, không thấy hỏi đến dầu. Hai người đàn bà khiêng ra cái nồi đồng ba mươi, lồng quai vào chiếc đòn ống.\nTrắt hỏi :\n- Đựng dầu bằng nồi đồng à?\n- Còn bao nhiêu dầu đong hết. Nhà cỏ việc phải phiên phiến lên.\n- À...\nBấy giờ hai người vợ lính cúi đầu.\n- Chào bà Tư. Bà cũng đong dầu ạ?\n- Tôi gọi hàng dầu cho các người đấy. Trông từ sáng mới thấy. Đỡ phải đi đong chợ.\n- Đội ơn bà gọi giúp cho.\nNhững người đàn bà mặc cả nì nèo. Nhưng Trắt cũng chẳng đong bán diết dóng, cho nên rồi ngã giá được ngay. Lại cố ý để hời cho người nhà được vài tiền ăn bớt, tôi tớ nhà quan đều đã thạo mua bán thế. Chỉ để lại cho bà Tư mấy gáo, cả hai thùng dầu đổ vào cái nồi ba mươi còn sóng óc ách, chưa đầy được cắn mép nồi. Mấy khi đã gặp may nhường này.\nHai người tong tả khiêng nồi dầu vào. Một mình, Trắt lúng túng :\n- Phúc đức quá, bà giúp cho đi chợ được thuận mua vừa bán ngay. Mà lúc nãy tôi dám hỗn, khí không phải, bà nhớn xóa tội, bỏ quá cho.\nNgười đàn bà ngẩng nhìn Trắt :\n- Chưa rằm tháng bảy, đâu mà xá tội vong nhân sớm thế.\n- Bà cứ nói giỡn!\n- Anh ở đâu vào bán dầu?\n- Nhà cháu ngoài đầu ô.\n- Hôm nào cũng đi à?\n- Cũng buổi đực buổi cái.\n- Đực cái là thế nào?\n- Cháu làm ruộng, phải bớt việc nhà mới đi chợ được.\n- Nói toạc thế cho dễ nghe, lại đực vởi cái, rõ con hươu con vượn.\nCứ sa sả, nhưng lại rõ là người vui chuyện. Những câu lọt tai làm cho người ta gần gũi. Trắt cảm thấy bớt e dè.\n- Cháu hỏi khi không phải, bà Tư là thế nào?\n- Tư là tư, một hai ba bốn chứ tư gì nữa, năm à? Năm, sáu, bảy đến mười mươi người ta cũng không thiếu.\nTrắt không hiểu thế nào.\n- Bà bỏ lỗi cho.\nRồi Trắt im. Người đàn bà lại nói, với người đàn ông chất phác, nhưng giọng chua chát, kể lể :\n-Chẳng giấu chú, tôi là con hầu thứ tư trong nhà, nhưng quan nhà này có đến đứa hầu thứ mười lăm, thứ hai mươi kia. Chật chội quá, tôi phải ra ở riêng cho mát mẻ.\nTrắt nghe biết vậy, không nghĩ là câu nói xót xa của người đàn bà bị hắt hủi trong cảnh năm thê bảy thiếp.\n- Bà ở ngoài này lâu chưa?\n- Lâu rồi.\n- Quê bà ở đâu?\nNgười đàn bà nghe hỏi, hàng nước mắt tràn ra mí, đong lại rồi chảy xuống hai bên má đã rám. Không nói được nữa, mặc nước mắt cứ ròng ròng.\nMột lát mới thở dài :\n- Đừng gọi tôi bằng bà. Tôi không phải là bà. Tôi cũng chưa đến tuổi ấy. Nghĩ lắm, cay đắng lắm thì nó rộc người ra như thế này.\nNgoài cổng, tiếng ốc rống lên, xói vào tai, như tiếng ốc rúc cháy nhà. Trắt nhớn nhác nhìn ra.\n- Chú cứ ngồi, chẳng ai vào đây mà ngại. Tôi gọi nó đem khóa ra. Lại của nhà bếp về đây mà. Không sợ, mặc kệ các thằng tráng xuống đẩy cổng.\nNgười đàn bà thoắt vào sân trong. Trắt nhác nhìn nhanh mắt một lượt. Ngôi nhà một gian, hai trái, vách dựng đất trấu. Đằng sau một chuồng gà. Con gà mái đương túc túc gọi con. Vại nước có cái mo buộc vào gốc thân cây chuối, vắng lạnh, gọn như nếp nhà của người già ở một mình. Thế là được biết chị ta là vợ thứ tư đội Quang. Nhưng tội tình gì mà phải ra ở đây. Trắt tặc lưỡi: \"Những nhà giàu, nhà quan, vợ nhiều như lợn con. Nếu không phải vì thằng chồng rẫy thì cả lũ ở với nhau cũng đủ chết vì nói cười thơn thớt mà bụng bổ dao găm, những toan giết nhau không tanh dao\".\nLại mấy người quảy vào mấy cái bu đại. Toàn là gà Mía trên Sơn đưa về. Những chiếc đòn càn thọc qua nan miệng bu, con gà trống lông mã đỏ tía thò cổ kêu hộc hộc, như nỗi khó nhọc đường xa.\nTrắt hỏi :\n- Nhà có tiệc à?\n- Cả tỉnh này đồn mà anh không biết sao?\nLúc nãy là chú em, bây giờ gọi anh, người đàn bà cứ nói, tình cờ như không để ý.\n- Tôi chẳng biết gì cả.\n- Nhà làm tiệc khao.\n- Tiệc tùng nhà quan thì như cơm bữa ấy mà!\n- Ông đội Quang cứ mỗi trận đi đâm chém về lại mở tiệc. Nghe nói dạo trước cái trận trên Mường được to lắm, về đã khao ngay ở Sơn, xuống đây lại tiệc, lại tiệc, cơ mà cũng được thăng chức nữa kia.\n- Chắc là lên quan lãnh.\nCô Tư chép miệng :\n- Nào tôi biết được?\nTrắt rùng mình, nóng bừng mặt tai nghe những tiếng \"đâm chém\", \"trên Mường\" mà cô Tư vừa nói. Ngoài đường lại inh ỏi tiếng ốc. Cô Tư lại lụi hụi chạy vào sân trong, vạt áo đổi vai tứ thân nâu non lất phất ra sau, chỉ kịp vắt lên một bên vai trần. Trắt nhìn theo, nuốt nước bọt.\nLại đến bọn buôn gạo. Gạo mới ở thuyền lên, hầu như gạo cả dãy chợ Bạch Mã ngoài cầu Đông quảy vào. Thấy tíu tít đông người lại lạ mắt, Trắt ỷ tứ vào đứng sau tấm mành mành nhìn ra đám hàng gạo quảy những chiếc bị cói đại đậy vỉ buồm, những đôi thúng to, nặng trĩu đòn gánh. Nhìn đám gánh gạo, Trắt nghĩ: cô vợ tư đội Quang đương thù cả lũ chúng nó, có khi có thể tin được. Cứ một việc lọt được vào đây ngồi từ bấy tới giờ, đã chẳng ngờ.\nCô Tư vào. Trong nhà sau bức mành, nồng mùi hói dầu mỡ và hơi người, cô quát khẽ :\n- Chết chửa, đứng thò đầu đòn gánh ra ngoài mành mành thế, khác nào nhà này chứa tù xổng. Ngồi hẳn vào trong kia nào!\nTrắt thật thà :\n- Tôi là thằng bán dầu, có trộm cắp gì đâu.\n- Nhỡ cái, có đứa trông thấy thì tôi phải vạ.\nTrắt nói :\n- Thằng lính trên cổng để người vào mới phải tội.\nRồi Trắt dịu giọng :\n- Cô cho tôi đứng xem người ta một mảy. Mấy khi đã được ở cửa nhà quan.\n- Vào trong khuất kia mà nghển cổ lên. Không phải dọa. Đây là cửa quan, đừng giỡn mà chết!\n- Tôi, tôi...\n- Bọn gánh gạo nữa lại vào mà anh vẫn luẩn quẩn đây. Thằng lính trên cổng đã trông thấy anh ra đâu. Nó tinh ma lắm đấy. Chết thôi...\nTrắt chắp tay :\n- Chẳng phải giấu ai, tôi có việc...\n- Ở đây không có ai là ai.\n- Tôi xin...\n- Lại tiếng chân trâu, chân ngựa nhốn nháo ngoài đường kìa.\n- Tôi thưa với cô Tư.\nNgười đàn bà ngơ ngác nhìn Trắt.\n- Anh nói thế nào, tôi nghe chưa ra.\n- Chuyện dài, không nói hết ngay được.\nCô Tư ghé gần lại :\n- Bảo thật, ra ngay, không có không xong. Đấy lại tiếng ốc, thằng tráng lại xộc xuống kia. Có chuyện gì phiên sau đến.\n- Phiên sau là bao giờ?\n- Phiên chợ ngoài ô, ngày tám.\n- Lại vào đây à?\n- Ừ.\nTrắt còn ngẩn ngơ vì được cái hẹn đột ngột, người đàn bà như đã sắp sẵn câu nói :\n- Từ nãy, đông người ra vào, thằng tráng khó nhớ được anh đã ra chưa, nhưng anh cứ đi đằng cổng cho nó trông thấy hẳn hoi. Phía sau bụi chuối có cây tre bắc qua hào, ngoài ấy có cái chỗ dưới bụi ô rô, cày cáo vân chui. Phiên chợ sau chịu khó chui vào đằng ấy, đừng để ai trông thấy. Nhớ chưa?\n- Nhớ!\n- Phiên chợ sau, buổi trưa, bây giờ khách đương đông. Thấy người thì nép xuống đám cỏ lau chớ ngẩng đầu lên, nó chém đứt cổ đấy. Rồi lên đây.\n- Vâng ạ.\nLâu nữa, Trắt nhìn cô Tư, lại thấy không hiểu. Nét ủ ê lúc nãy bây giờ thân mật tươi ra, nói vẻ săn sóc, dặn dò, như với người trong nhà.\nAnh hàng dầu đã ra ngoài trước cửa. Cô Tư lại tất tả vào sân trong rồi ra cùng người nhà áo the, khăn lượt, cầm cái chìa khóa đuôi chuột.\nCô Tư nói to với Trắt, với bọn lính :\n- Tiện cổng mở thì ra đi. Nó đợi ra từ nãy, tôi không dám tần phiền các ông.\nRồi lại ghé vào tai Trắt :\n- Lần sau đi chân tay không, đừng rước hai cái thùng của nợ ấy đến nhẻ...\nĐứng với Trắt, đợi mở khóa rồi hai người tráng khom lưng đẩy cánh cổng, cô Tư cứ chuyện bâng quơ với mọi người, cô Tứ bẻo lẻo mồm miệng, cứng tuổi rồi mà xưa nay vẫn bẻm chuyện.\n- Chú hàng dầu sướng nhẻ, chưa đứng bóng mà đã bán sạch một lèo cả hai thùng. Sớm nay ra ngõ gặp giai.\nTrắt nghĩ, mà không dám đối đáp \"Gặp gái thôi, nhưng mà được cái may\".\nTối hôm ấy, rồi quanh quẩn, Trắt lại lần về Hàng Hòm. Ngồi nín lặng, vẫn nghĩ về lúc sáng vào được trong cổng nhà đội Quang, được chuyện với người vợ lẽ chắc là bị đánh đuổi, hắt hủi ra đấy, lại được cái hẹn. Trắt cứ ngỡ ngàng không thể nghĩ ra trước được. Thế thì những ông đã ngồi đây có thể giúp một tay. Lúc thì bốc lên, nhưng rồi nghĩ lại, phải có cách rõ ràng. Cách thế nào thì cũng phải trèo tường lên dỡ ngói.\nNhưng không thấy ai trở lại. Mấy hôm nay vẫn chỉ đông đám thợ cối, thợ khắc, thợ thuộc da bò da trâu cho các nhà chủ ở Hà Trung, ở Hàng Da. Mãi quá nửa đêm mới thấy một người lò dò vào. Trắt nhận ra cái dáng cao lớn, cằm bạnh, cẳng chân dài như những người quen sông nước, chèo lái cả đời, vai ngực vạm vỡ hơn đôi bắp chân. Ngoài trời vẫn mưa sập sùi. Bước vào trong mái hiên, người ấy nhấc chiếc áo tơi lá sột soạt giống con gà đội mưa chạy vào chỗ ráo, rũ một cái. Nước bắn cả vào đám đương nằm ngủ sau cái giại đầu hiên, mà cứ làm như không, bọn kia cũng ngủ say, không biết.\nVừa vào, đã thì thào với lão quán. Trắt ngồi ngay đấy, nghe rõ, nhưng người kia cứ nói chẳng để ý, như người bên cạnh đã là chỗ quen biết.\n- Khuya một mảy, tôi đem đến.\n- Cái gì đã?\nKhách cười hô hố.\n- Của giời cho mà lại biết trước hả?\nLão quán gật gật.\n- Cũng phải biết chứ. Nhỡ đem cái đầu lâu về thì để vào đâu, thối hoăng lên.\n- Không, không. Gửi cái mới.\n- Nói đùa vậy, cái mới hay cái sỏ người sỏ lợn cũng được.\nNgười ấy đứng dậy, toan đi. Trắt giơ chén.\n- Ông anh cạn với em một chén cho ấm bụng. Mưa gió thế này.\nNgười nọ cúi nhìn Trắt rồi cười khà khà.\n- À, chú mày, thằng lái dầu! Xem ra chú mày cũng nhớ bọn tớ đấy nhỉ. Nhưng mà tao cũng hỏi lại, mày là trương phiên khán thủ hay thủ túc lạnh Quang đấy? Khai thực ra, không thì ông xiên cho một nhát ngay.\nLão chủ quán nói :\n- Đã bảo rồi, người tử tế mà. Chú ấy mong các ông đã mấy hôm.\nTrắt nói :\n- Ông anh cho đàn em theo với.\n- Chú mày túng đói hay có thù ai?\n- Thằng đội Quang...\n- Đội Quang mới ở Sơn về được thăng chánh phó lãnh binh ấy a?\n- Chính nó.\n- Tao phải hỏi lại, mày đi rửa thù hay mày muốn vào ăn trộm nhà nó?\n- Em trả thù.\n- Cái thằng đội Quang ấy thì cả thiên hạ Sơn Tây, Kẻ Chợ này thù nó. Khéo đến lúc mày lọt được vào nhà nó thì đã có đứa chặt mất đầu nó rồi.\n- Em đã vào được nhà nó.\n- Có đứa dắt mối a?\nTrắt lúng túng, ấp úng. Người kia nói luôn :\n- Cái ả Tư phải không? Trông mặt chú mày tao đã biết bà già, gái tơ còn khối đứa chết mệt với chú này. Thằng bán dầu mà chấp chới đào hoa đấy! Đã thuổng cuốc với ả Tư được chưa?\n- Không, em không phải lòng phải bề ai đâu, em còn cái thù phải...\n- Bây giờ chú cần gì anh?\n- Anh dạy em leo tường, moi vách, cậy cửa... Các ngón...\n- Được, gì nữa?\n- Thế thôi. Em nậy cửa vào buồng nó, em chặt đầu nó, xách ra.\n- Không dễ như mày nói đâu.\n- Phải học các anh đã. Rồi em vào nhà nó đương lúc có tiệc này.\n- Ừ, nhưng mà mấy hôm, hôm nào nhà nó chả có tiệc.\n- Em đã có...\n- Cứ hú hí với ả Tư, vài đêm nằm đợi đấy, vội gì.\n- Em đã có hẹn.\n- Đã bảo có hẹn thế thì càng tốt.\n- Lạy anh, em chỉ ước một điều.\n- Được tao sẽ hộ mày.\nNgười ấy đi khỏi, ông lão quán nói :\n- Hôm nọ tao đã kể. Trên bến Bỏi có một đám cướp tài lắm. Tiếng là đi ăn cướp nhưng không cướp của ai một đồng kẽm, một manh áo rách.\n- Lạ nhỉ!\n- Gầm giời có một đấy. Chỉ cướp cứu người giúp người.\n- Thế lúc nãy bác ấy bảo xồi đem đến gửi...\n- À, khi thì gửi tin, khi thì gửi người trọ.\n- Chắc bác ấy là người cánh cướp trên bến Bỏi?\n- Biết được!\nTrắt đã biết thêm một tin lạ. Ngay từ lúc ấy, Trắt đã phấn chấn, quên cả chuyện về bàn với Cõi. Không, Trắt không quên, mà Trắt tưởng đến một sáng sớm kia, Trắt qua đò về đến nhà Cõi, Trắt cởi cái tay nải nâu, Trắt ném ra cái đầu lâu đội Quang. Trắt ngỡ như thật.\nTrên tường thành Cửa Đông, Cửa Nam những tiếng trống điểm canh vọng lại. Các ông ăn sương, cái gì các ông cũng biết. Cả đến cái cô Tư hay giăng dện. Lai còn thế vậy. Các ông như thầy bói sáng, nói vanh vách. Có thể như thế, không thì sao chỉ chốc lát chẳng quen biết ra thế nào mà người ta đã đậm đà, đã cặn kẽ thế. Nhưng Trắt cũng chỉ thoáng nghĩ vậy. Từ giờ đến đầu phiên sau còn ối cái phải lo tính. Trước nhất được các ông dạy cho mấy miếng nhà nghề. Có lúc định gọi Cõi ra, nhưng lại thấy chưa đâu vào đâu, ra thêm bộn, mà không có cái ăn. Thế này là thấy mói rồi. Để xem đã.\nCái tiệc nhà ông đội Quang mừng được thăng chức chánh lãnh binh mà rộn cả đất Kẻ Chợ. Như làng vào đám, cỗ bàn linh đình trong nhà, rộn rã chèo hát ngoài sân suốt ngày đến đêm. Hai cánh cổng gỗ mở toang, không đóng im ỉm như mọi khi. Ngoài tường, đình liệu đốt suốt sáng. Dãy đèn dầu treo quanh các mái hiên thành một chuỗi sao sa. Người các phường quanh đấy nô nức vào xem hát, đông như hội.\nCác quan đầu tỉnh, đầu hạt, dưới Đông lên, trên Đoài xuống khắp mặt, chốc chốc lại một đám khách mới. Ngựa đứng trong tàu chen chúc, đá nhau nhảy tung lên, phải buộc cả ra ngoài vườn. Những cái chân giá cáng đỡ võng nghỉ xếp chổng đống hai bên tường. Các quan lớn xuống võng, có ông áo thụng lam như vào buổi chầu. Những quan võ để râu ria ba chòm oai vệ áo gấm thắt lưng điều. Ngựa hay cáng tới, đoàn tùy tùng theo xách điếu, cầm hèo hoa, lại bưng những cái quả sơn son thếp vàng đựng đồ mừng - không phải buồng cau, trăm hồng Hạc, cam Canh, cam Cáo mà là những xếp bạc nén, vàng lá bọc giấy hồng điều trang kim phủ tấm nhung đỏ màu hoa hải đường, cả vàng bạc và nhung sắm ở các nhà khách buôn to bên Ô Quan Chưởng. Hai gia nhân chít khăn lượt, áo the, thắt lưng nhiễu bỏ giọt trịnh trọng bưng cái quả lên ngang vai, như khiêng long đình.\nTiếng pháo không lúc nào dứt. Thợ pháo làng Bình! Đà trong phủ Thanh Oai ra túc trực. Những cây pháo: dựng cao hơn ngọn cau, mỗi đêm pháo hoa đốt tua tủa ra ngũ sắc hoa cà hoa cải. Người ta đồn đến hội và những khao vọng ngoài kẻ Mọc kẻ Vẽ đất quan cũng chưa đâu vui bằng đám này.\nMọi toan tính của Trắt không kịp với những thuận; lợi đưa tới. Trắt chưa gặp lại được các ông ở đình Hàng Hòm, các ngón leo trèo, phá cổng, phá khóa chưa được biết thử. Ngày hẹn \"phiên sau\" với cô Tư đã sắp tới. Trắt lại nghĩ vơ vào. Xưa kia, Trắt cũng là tay quyền cước, tấn trung bình, chảo mã vững rồi phượng hoàng cũng ra miếng được như ai. Vả lại, hãy gặp cô Tư xem thế nào đã. Không do dự nữa. Có vào việc lại thấy nhiều cái đã định cứ phải xem lại từng ly từnq tý.\nĐến đầu phiên chợ rồi, nhà đội Quang vẫn còn ăn uống, nhưng khách đã hết, chỉ còn những đám gia nhân và lính đánh cỗ vét. Bớt ồn ã nhiều, không như những hôm chính tiệc, tuy vậy người ra vào vẫn đông như đi xem chọi gà. Chỉ không còn pháo hoa Bình Đà, nhưng người hàng xứ vào sâu xem hát. Ba cánh phường Bắc được đón về thay nhau diễn ban ngày lại cả tối. Trà trộn vào lúc nào cũng được, nhưng Trắt cẩn thận làm như cô Tư đã dặn.\nTrắt mặc cái áo chồi năm thân nhuộm cậy nâu sẫm, ống tay rộng như áo khách - lẫn với bọn tôi tớ nhà quan, lại như anh lái bè củ nâu, bè đó trên ngược mới về bến Bà Móc, lên dạo phường phố, chỗ nào thấy hay mắt cũng tạt vào. Trắt cốt mặc áo rộng để quấn được ngang lưng cái thừng đay, nhét được con dao bầu con dao bổ cau. Cứ sẵn sàng thế, nhỡ dùng đến đã sẵn. Thấy đông người, Trắt vừa lạ vừa mừng. Trắt đứng lại bên kia cổng, nhìn người ra vào.\nNhộn người thế này cũng tiện, cứ việc lũ lượt vào trong sân, tháo khoán rồi mà, chẳng nghe tiếng quát hỏi chửi bới nữa. Bọn lính tráng trèo cả lên chòi canh cổng đứng ngoảnh vào xem hát, mặc người chen nhau ở dưới. Một lúc, Trắt lững thững sang chỗ bờ ô rô như mọi người đi. Trắt để ý quả là chỗ bụi ô rô ấy, cày cáo chui đã thành một lỗ trống, thoạt trông tưởng tổ mối đùn đất đỏ.\nTrông trước trông sau, Trắt cúi xuống, ôm hai tay giữ búi tóc, luồn thoắt qua bờ rào. Rồi trèo cái cầu noi lung lay vượt hào nước, Trắt lom khom qua bãi cỏ tranh, lên đứng núp vào lưng búi chuối, ngay cạnh cái chuồng gà. Đứng đấy nhìn ra mồn một rõ người đi bên ngoài. Trắt lé mắt vào nhà cô Tư, nhà buông cửa liếp trong, lại mành ngoài, tối như bưng. Cô ấy có trong nhà, hay đã vào ăn cỗ, hay ra sân xem phường chèo hát ban ngày vừa bắt đầu. Nhà đương nhộn nhịp thế này. Bất giác, Trắt thấy trợn. Tự dưng chui vào đây. Ngộ người ta bẫy mình thì sao?\nTrắt ép mình đến cái vách bên cửa. Trắt mới giơ tay chưa kịp rờ vào, đã nghe tiếng hỏi ra :\n- Đã đến à?\nRồi cánh cửa liếp kênh lên một bên.\n- Vào, vào đi.\nTrắt vừa bước qua ngưỡng cửa, chưa đứng vững, cô Tư đã kéo tay: \"Dịch vào trong này, để buông cửa\". Rồi cô Tư thở thở, hỏi hỏi dồn. Líu ríu như chim liếu điếu hót rì rầm to nhỏ lúc mặt trời vừa lặn, Trắt chưa nghe rành ra câu gì. Bàn tay cô Tư vuốt vào lưng áo Trắt. Một tiếng kêu khẽ :\n- Ối, cái gì thế này?\n- Chiếc thừng thôi mà.\n- Cả con dao, hai con dao, giời ơi!\nTrắt giữ hai tay người đàn bà nóng hổi, đầm mồ hôi, và nói thong thả: \"Tôi đã bảo hôm nọ với cô Tư thầy tôi mất mạng để nó được lên quan to thế này, cho nên vào cái lúc nó sung sướng, nó phải đền mạng. Thầy tôi, cũng là giời có mắt. Cái may run rủi tôi được gặp cô, cũng là giời xui khiến vậy\". Cô Tư rút tay trong tay Trắt ra. Những tơ tưởng vẩn vơ lúc nãy của cô Tư đã tiêu tan cả. Chỉ còn vang lên cái câu Trắt vừa nói, và những con dao, cái cuộn thừng thế này... Trong bóng tối gian nhà mờ mờ, người đàn bà đột nhiên ngồi gục đầu. Chốc lại ngửng mặt, không biết cô Tư khóc hay đương nhìn bóng Trắt. Những câu Trắt nói mỗi lúc một rợn.\n- Tôi sẽ cắt đầu nó đem đi. Cho tôi cái tay nải...\n- Anh ạ.\n- Chỉ cho tôi biết hôm nay nó nằm buồng nào.\n- Không vội được. Vội cũng không xong đâu. Trong nhà bây giờ đang bề bộn, mà cái thằng già ấy hay đa nghi, hay đáo dở, nó lắm chỗ ngủ lắm, mười mấy con đĩ mỗi con một buồng, cả một dãy buồng, phải lần khéo mới ra.\nTrắt đã nổi nóng, quên cả những ý định lúc trước khi vào đây, hãy dò la xem sao. Trắt nói rít trong hàm răng :\n- Để hôm khác a? Thế thì phí công quá.\n- Không phải để hôm khác.\nTrắt hăm hở :\n- Mình bảo thế nào?\n- Tôi đã trữ thức ăn đây, đợi đêm. Đến lúc ngoài sân tan hát tối thôi. Người xem về hết, trong nhà chè chén xong, lại như mọi hôm, chúng nó lăn ra ngủ như chết. Bấy giờ sẽ vào lần các cửa buồng. Không trông thấy nó vào, nhưng tôi đã biết cái lối, cái lệ nó đóng cửa buồng, đoán thì được.\n- Cô đưa tôi vào à?\n- Vâng.\n- Cô Tư, cô Tư, tôi ơn...\nTrên phản, cô Tư đã bày ra đĩa xôi, liễn thịt trâu tái bát tương gừng và một be rượu. Hai người ngồi ăn nhẩn nha, như trong buồng cô dâu chú rể. Trời đã tối lúc nào. Chợt, có tiếng gọi ngoài liếp :\n- Bà Tư ơi, bà Tư!\n\"Chui xuống gầm giường nằm yên\", cô Tư thì thào như thở. Một lát không thấy gọi nữa. Tiếng chân lạo xạo bước ra. Có lẽ lính tuần định vào nhờ cái lửa hút điếu thuốc. Hay là đứa nào ở đám chèo vừa tan ra định nhập nhoạng vào bâng quơ. Họ tưởng cô Tư đã ngủ hay đi xem hát chưa về.\nĐợi. Kỳ lạ, oái oăm lúc ấy giữa hai người. Trong gian nhà tối om, thỉnh thoảng người xem hát tối đã ra về, ánh đuốc loang loáng qua khe vách. Tiếng nhị, tiếng mõ, tiếng trống cơm đôi lúc còn inh ỏi như lúc giáo đầu, cả phường hát vỡ nước... bung bung nhóc... bung nhóc... bung nhóc..., nhưng tiếng trống chầu thì rời rạc - hát chèo không phải hát tuồng, mà hát tuồng thì cũng thế, ông cai, ông chánh, các ông chức việc rượu vào rồi vênh váo chen nhau ra ngồi cầm chầu nhưng chỉ một lúc, tiếng tùng, tiếng cắc đã loạc choạc rồi im, các cụi say khướt, mắt dip ngồi ngật ngưỡng, hay là đã vứt dùi trống, chúi đầu loạng choạng đi đâu rồi.\nNgười đàn bà vẫn nắm chặt tay Trắt, nhưng hễ động đến con dao bầu thì lại run bần bật. Có một người đàn ông, một người đàn bà trong góc nhà. Ai cũng cứ chợt mơ màng lại chợt tỉnh rồi chỉ còn tựa vào nhau, đợi cái sắp đến cứ nghĩ như xa xôi nhưng rõ ràng là khuya nay. Chốc chốc, Trắt lại ngoái tay rút con dao, chùi lưỡi dao vào ống tay áo rồi nghiêng tai nghe ngóng ngoài vách. Người đàn bà ôm chặt người đàn ông, nhưng mặt cũng lắng ra ngoài, hơi người sực lên ở bàn tay, ở vai áo cạnh cuộn thừng quấn quanh bụng, cái lưỡi dao bầu lạnh ngắt. Tất cả, đợi.\nNgười đi xem vãn dần rồi vãn hẳn. Chừng như đã khuya. Ngoài kia, tiếng vó ngựa xa xa rồi dồn dập lướt qua. Ngựa chạy đêm về trạm vào phía Cửa Nam. Chẳng mấy lúc, trên tường, trong chòi canh đã đổ mõ nửa đêm. Bắt đầu lại thanh vắng như khuya mọi khi.\nCô Tư đứng dậy.\n- Anh ngồi đây, để tôi lên nghe thế nào.\nMột lát, người đàn bà đã rón rén về.\n- Nó ngủ buồng con Mười.\nTrắt nắm lại cái thừng đay rồi rút con dao ra cầm tay. Trắt bước theo cô Tư. Chẳng rõ lối trong nhà này bao giờ, nhưng xăm xăm vội vã, chỉ nghe nói \"nó ngủ buồng con Mười\" đã như trông thấy, biết rồi. Người đàn bà đành phải đi đằng sau, chốc lại kéo lưng áo Trắt.\nĐầu tháng, lại ẩm ướt sương đêm, có lúc Trắt quay lại, chỉ thấy bóng cô Tư, Trắt yên chí như sắp đến nơi, lại cung cúc bước.\nNgôi nhà ngói bát vần hiện lên lù lù, hai người đi như chui vào bụng con voi, ngóc ngách, quanh quẩn. Đã hết cơn bối rối, cô Tư len lên trước Trắt. Bây giờ Trắt không hùng hục đi trước nữa. Đến một chỗ tối bưng, cô Tư cầm tay Trắt đặt vào cái cánh cửa. Trắt xòe tay lên mặt cánh cửa đã đóng cài then trong. Trắt đã săn cả -thói quen anh thợ đóng cối, cái lạt mà thiếu cũng đành ngồi chơi. Trắt moi trong cái cạp quần lá tọa ra một chiếc que đóm mỏng, lách vào khe, đẩy then.\nĐâu đây, ngay sau nhà, những tiếng gà gáy canh một dồn dập. Đến lúc im, trống đầu canh trên chòi, người lính chợt tỉnh ngủ, cầm dùi đánh từng tiếng một, uể oải. Chiếc chốt cửa đã ngãng ra, kịch một cái xuống đất. Cửa mở hé, nhưng then rơi xuống khác nào sập cái bẫy chuột. Ở đâu bật ra tiếng quát giật giọng :\n- Ai?\nTức khắc, tiếng mõ nổi khắp nơi. Những bó đuốc bập bung lên. Như đã rình sẵn, những đám người rùng rùng xô đến. Cả Trắt và cô Tư bị trói nghiến lại, không kịp quay lưng.\nLãnh Quang lè nhè ngái ngủ giọng rượu, ở trong buồng như bấy giờ mới thức giấc.\n- Cái gì mà bay làm ầm nhà lên thế?\n- Bẩm quan có động.\nLãnh Quang xộc ra, lưng thắt bó que, tay cầm con dao bảy sáng nhoáng. Dường như nó vẫn ngồi săn thế. Ánh lửa đuốc rừng rực. Cả lúc ngủ, quân ác này vẫn phòng xa thế hay nó vẫn giăng bẫy hàng đêm vậy. Trắt bị trói giật cánh khuỷu, cùng một dây với cô Tư bị đạp rụi xuống chân cột. Các tay súng, đại đao, đinh ba xỉa xuống, như rào chông sắt vây quanh.\nLãnh Quang làm như chưa trông thấy, dõng dạc hỏi :\n- Sao, sao nào?\n- Cái nhà Tư dắt đất cho thằng này nậy cửa.\n- Cửa nào?\n- Cửa buồng quan ạ. Mảnh tre nó lách gảy then ra, con nhặt được để làm chứng đây.\n- Á!\nMấy người lính tâng công nhao nhao.\n- Con đã nghi từ lúc tan hát cái nhà Tư ngoài ấy có khang khác, con gọi cửa thử.\n- Bẩm quan con theo chúng nó từ ngoài sân.\nNgười trên chòi cổng lật ngửa dây trói rồi nói :\n- À thằng bán dầu, cái thằng bán dầu hôm nọ đây. Thế có chết không!\nLãnh Quang nói thong thả :\n- Hừ, con Tư rước giai vào ngủ rồi đem nhau đi giết tao. Thế thì tao tống cổ mày đi là phải. Đáng nhẽ phải chém đầu mày, tao chỉ đuổi mày ra ngoài ấy, tao cũng chưa đo hết được bụng dạ mày. Ha! Ha! Bay lấy rượu ra đây.\nMột người nói :\n- Nó giắt sẵn cuộn thừng trong lưng, nó còn đi ăn trộm nữa, thằng kẻ trộm này táo gan thật.\nTrắt quát to :\n- Tao không phải đứa trộm cướp. Tao...\nNếu không có lãnh Quang đứng đấy, nhiều người đã cười nhao nhao. Ai cũng há hoác miệng không thành tiếng. Nửa đêm nậy cửa, không trộm thì cướp, chứ còn không với có thế nào.\n- Tao chỉ lấy cái đầu thằng đội Quang\n[1]!\n- Á.\n- Tao lấy cái đầu đội Quang đem lên Kệ tế thầy tao.\nLần này lãnh Quang \"á\" một tiếng như hét. Rồi rối rít quát :\n- Bay! Bay đâu! Đem ra hai rọ, nhốt chúng nó vào rồi buộc đá ngay trước mặt tao. Khiêng đi trôi sông lập tức. Nhanh lên!\nLãnh Quang vừa sừng sộ lại vừa loạng quạng, liệu xiêu như hãi quá, tưởng tên cướp và con quỉ cái sắp dựng dứng lên, xông đến. Bấy giờ đã sang canh, nhưng còn mù mịt đêm dày. Trên không trung, những con vạc ăn đêm ở ngoài sông bay về ngang qua, buông từng tiếng rời rã. Xa xa, tiếng chim lợn sà xuống mặt nước tìm cá chết nổi đương bay lên, kêu éc éc rùng rợn báo điềm chết chóc đến nơi. Lãnh Quang vung con dao bảy như đỡ gạt người chém mình rồi cầm be lên tu ồng ộc, lại hét \"Nhanh! Nhanh lên!\" Bọn gia nhân đã vác tới hai cái rọ tre, ngã xuống, đẩy Trắt và cô Tư, mỗi người vào một rọ, trong bỏ sẵn mấy tảng đá rồi buộc lại.\n- Vác đi, bỏ xuống sông Cái, đem ra tận giữa sông.\nNửa đêm, đoàn người khiêng rọ như khiêng cái võng vong đám ma, xung quanh dáo mác, đóm đuốc đùng đùng theo. Giữa khuya, vào qua Cửa Nam, ra bến Đá ngoài sông Cái.\nChỉ nghe tiếng nứa đuốc nổ lép bép, tiếng khóc rưng rức. Hai cái rọ bị ném sang chiếc đò ngang. Mấy chiếc đò nữa đã sẵn quanh đấy, xúm lại, cả đuốc cả người xô xuống, những chiếc đò bơi băng băng ra. Đã đến con nước giữa. Sông Cái vào mùa cạn, thành cát cao, nước miên man réo xiết. Không ai nói một tiếng. Nhưng cả ba bốn người ngồi áp đầu đuôi cái rọ. Bỗng thế nào mà Trắt quều được bàn tay sang cái rọ nhốt cô Tư. Một người giơ cái sào, định đập xuống, một người khác kéo vai, khẽ nói: \"Mặc nó. Đằng nào nó cũng sắp chết rồi\".\nCả mấy người ngồi đò đều lầm rầm như khấn :\n- Chúng tôi không làm nên tội. Các người đừng oán chúng tôi. Ân trả ân oán trả oán, thiên hạ sinh sự, chúng tôi không làm nên tội. Các người...\nThình lình, hai cái rọ bị đẩy lăn tùm xuống nước. Thuyền quay ngay mũi, vun vút lao vào bờ. Trên thành, trống vừa điểm canh năm, ngoài sông vẫn tối mờ mịt. Đám lính bước lên bãi, quỳ xuống cát, vái vọng xuống nước.\nLúc nãy, lãnh Quang luống cuống, bắt đem trôi sông ngay hai đứa không nhớ lột xống áo chúng nó ra xem còn dao búa gì không. Đằng lưng Trắt vẫn còn con dao bổ cau sắc mũi. Trắt oằn người cắt được cái dây trói từ lâu, đã quên vội thò tay ra. May mà những người lính cũng không phải đứa cố tình giết người. Bây giờ ở trong nước, Trắt quơ tay tìm cái rọ cô Tư. Nước réo ào ào, không thấy. Trắt dứt những cái lạt buộc nắp rọ, chui hẳn ra, ngoi lên mặt nước. Bốn phía mờ mờ hơi nước, hơi sương. Trắt lại lặn xuống chỗ đoán là vừa chui rọ ra. Trắt đạp chân, quạng tay. Cái rọ có đá chặn, khó trôi ngay. Nhưng chỉ thấy cát, đáy sông đương mùa kiệt, hai tai ù tiếng nước réo, cát cuốn trôi qua, phủ lên mặt. Thế này có lẽ cái rọ chuồi mất rồi. Trắt nổi lên, thờ thẫn vào bờ.\nTảng sáng, Trắt lại về đình Hàng Hòm. Ông lão quán vẫn ngồi hàng hay đã tựa vào cái thúng nổi nước mà ngủ ngồi, vừa mới mở mắt, ánh dầu chẩu nhấp nhoáng, trông ông gầy đét như pho tượng ông Nhịn Ăn ngồi ở dãy tượng La Hán trên chùa.\n- Bố ơi! Có thấy cái ông hôm trước về đây không?\nÔng lão hàng nước đứng dậy, trố mắt kèm nhèm.\n- Ối, ông ấy vừa kể đội Quang cho lính đem mày bỏ rọ trôi sông lúc nửa đêm rồi mà.\nTrắt rầu rĩ :\n- Vâng ạ. Con chui dưới sông về đây.\n- Quần áo rách bươm lại ướt như chuột lột thế kia, làm ngụm rượu rồi vào nằm cho lại người.\nCũng vẫn người thức, người ngái ngủ quanh chõng hàng, Trắt mặc. Thời buổi này, người cụt đầu, người chém nhau mất mạng, ngày ngày người chết như gà dây, chẳng ai để mắt - mà cũng sợ, bỗng dưng cái ách quàng vào cổ, người ta lảng nhau, ai hỏi thì lắc đầu, nói không biết. Trắt vắt lên dây cái áo ướt, cái quần chỉ còn một mảnh rồi cứ trần truồng tô hô chui vào ổ, kéo rơm lên kín mặt, ho sặc sụa.\nTrắt thở khò khò như ngáy mà không tài nào chợp đi được. Nghĩ lại thương cô Tư chết oan. Oán thù chồng chất thế này, Trắt nghẹn trong cổ.\nTrắt ngồi dậy, ướm cái quần rách, không mặc được mà cũng không thành cái khố. Chỉ còn cái áo chồi nâu xám xịt, ẩm sì như nhuộm thâm. Thế mà vẫn còn con dao bổ cau giắt trong áo. Trắt mặc áo, rồi rút cái khố đuôi lươn của ông quán. Quay ra hỏi nhưng lão đã vào cái ổ rơm bên kia từ lúc nào. Không biết đương nói mê hay ư ử rên quen miệng của người có tuổi.\nTrắt ghé tai ông lão :\n- Ông nói hộ ông ấy tối nay vào cái chỗ hôm qua đỡ cháu một tay. Nhớ tối nay.\nNhững ý nghĩ đau đớn giục Trắt đến quên cả suốt đêm qua chỉ đợi chết, đáng nhẽ Trắt đã chết. Trắt không mảy may còn nhớ thế. Trắt chỉ biết thế là đã thuộc đường đất, biết thung thổ, nó phải mất mạng. Bác Cõi, hôm nào em về thì em trói cái ma nó về, em thề với bác.\nRồi Trắt đi.\nChặp tối, Trắt đã trèo lên cây vông rồi chui bờ rào ô rô ngồi giữa đám cỏ tranh. Một lát thấy vắng, Trắt bò vào. Chòi canh hai đầu lặng tờ. Trắt như con nhái bén, đã qua được hào nước. Trắt kiểm lại, trên búi tóc giắt con dao bổ cau, cuộn thừng đay và con dao bầu mới. Ngước lên, chỗ nhà cỏ Tư chỉ còn tà một đống than âm ỉ khói. Bụi chuối đã bị đẵn trụi. Vại nước vỡ từng mảnh. Cái chuồng gà thì đứa nào đã khiêng mất. Trắt lẩm nhẩm: cô Tư sống khôn chết thiêng, cô Tư...\nTrắt men sân đến cuối thềm nhà trên, leo lên núp trong cây nhãn lồng bùm tum góc ngoài bể nước ngay đầu vườn. Cũng đã chạng vạng, nhưng không ngờ vào được tận đây. Có lẽ giờ này những con chó săn, chó ngao canh đêm bọn lính còn chưa thả trong cũi ra. Ẩn trong cây nhãn rậm rạp, người đi lại trong nhà, buồng nào hiên nào cũng rõ mồn một. Kia kìa lãnh Quang. Lãnh Quang mặc áo lụa hoa cau, phanh dải áo bụng, ngồi uống rượu trên hiên nhà khách, hai lính hầu đứng dưới sân chốc chốc lại phảy một nhát quạt lông, ở nhà lãnh Quang chỉ ngồi chén một mình, cả chục người vợ cũng phải dọn mâm một lũ với nhau bên nhà ngang. Cái tính nó khoái chè chén thảnh thơi thế. Tinh mắt, còn nhận ra thập thò hai lính nữa cầm súng, đeo thanh đại đao canh ngoài cửa. Chắc nó mới cẩn thận hơn từ đêm qua.\nLãnh Quang đứng lên, ngất ngưởng ra. Những đĩa đèn dầu treo một dây trên hiên, ở nhà ngang, ả Mười đã đứng đợi sẵn, vội bước lên, đỡ lão vào cái buồng đầu nhà. Đến cửa, lãnh Quang đứng lại, rồi ngoắt lưng ra. Ả Mười bước tới. Lãnh Quang giơ chân đạp thốc một cái vào bụng ả. Ả nọ ngã lăn xuống thềm rồi cứ nằm úp mặt trong rãnh. Lãnh Quang hét :\n- Con Chín đâu!\nMột người đàn bà ở buồng cạnh đấy, ra giơ cánh tay dìu lão vào buồng. Cánh cửa khép lại. Ả Mười nằm lăn như chết dưới rãnh một lúc, rồi không biết vì đau không đứng lên được hay ả sợ quá, cứ bò lồm ngồm như con cún, lết xuống nhà ngang. Ngồi trong cây nhãn, Trắt nhìn được hết. Dần dần khuya, đèn các buồng và quanh hiên lần lượt tắt. Cả khu nhà ngập trong bóng tối. Vai áo Trắt đã ẩm. Trắt tụt trên cây nhãn xuống. Từ tối tới giờ, hơi người đã hả lẫn vào hơi sương, người như bóng ma. Các bợm đình Hàng Hòm nói phải. Đêm ở lâu ngoài trời, người lẫn vào sương. Khi nãy, những con chó dưới sân còn có lúc hích mũi đánh hơi quanh gốc nhãn, có túc Trắt đã toan tìm cách lủi, nhưng bây giờ người đứng ngay cạnh gốc cây, những con chó vẫn ngồi, không nhúc nhích, mõm hếch ra phía cổng. Không một tiếng chó sủa. Rồi mấy con chó rỗi rãi quần đùa nhau huỳnh huỵch giữa sân. Trắt lướt qua sau lưng cấy rơm, đàn chó vẫn mải vờn nhau.\nTrắt bò lên thềm, bíu cái cột hiên rồi lần vào vách buồng. Đích xác cái ả Chín dắt nó vào buồng nầy. Quang đèn dầu trẩu ngoài kia đã cạn, chỉ còn khói bốc khét lẹt đưa vào. Vài bước cũng tối mò. Người ngủ, tiếng thở, tiếng ngáy, tiếng cựa mình trong các buồng rập rờn thoảng ra.\nTrắt ngồi xổm, nghe ngóng, rồi khác đêm trước Trắt nhảy thoắt lên cửa buồng ả Chín. Trắt lại lách mảnh tre cật mỏng như cái lạt vào khe cửa, nhẹ nhàng nhích dần chiếc then ở trong.\nXung quanh im phăng phắc. Cánh cửa lỏng then, hũm vào rồi doãng ra. Cho khỏi vướng, Trắt thò hẳn tay, nắm được, đẩy khẽ.\nBỗng hai cánh cửa toang ra. Bất thần, một suýt thì Trắt ngã đâm đầu vào. Nhưng một cái đá thúc, hất Trắt té ngửa ra ngoài hiên.\n- Trộm! Trộm!\nLập tức, người ở đâu xô đến ngay. Những bó đuốc bật tức khắc, trong khi bọn lính tuần đêm đã bẻ quặt tay Trắt ra sau lưng, trói ngồi vào chân cột.\n- A! Lại thằng bán dầu hôm qua!\n- Nó chết rồi cơ mà?\nCái thằng bán dầu đêm qua đã đem trôi sông! Khiếp quá, lãnh Quang kêu lên, nhiều người mới la lối theo. Nhưng vừa kêu vừa nhớn nhác :\n- Ối giời ôi, con ma...\n- ... Con ma thằng bán dầu.\n- Nó chết trôi sông rồi mà...\n- Ma à? Còn con ma Tư kia kìa...\n- Chết! Chết!\nThì ra, lúc nãy vào trong buồng, lãnh Quang cũng như ngủ, như rình. Nhảy trong buồng ra, mà không phải áo lụa năm thân phanh bụng ra như chặp tối, lãnh Quang áo chẽn, thắt lưng nhiễu thâm, quần chồi thâm buông lá tọa, lại giày Tàu cẩn thận, tay lăm lăm con dao bảy. Đủ lệ bộ bằng đi trận. Lúc nào lão cũng giữ gáy. Lão ngủ chỉ nhắm một mắt, có nhẽ. Lúc cánh cửa hé, trong buồng ngoài sân vẫn tối thui, nhưng có một làn gió lành lạnh khác thường thoảng vào. Lão hất ả Chín xuống đất, ngồi ngay dậy. Chính lãnh Quang đá tống Trắt ngã ngửa ra, rồi kêu \"trộm\".\nLãnh Quang chống con dao bảy, mặt phừng phừng, nhòm xuống Trắt.\nTrắt giãy giụa, gào :\n- Tao đây, tao không phải ma, tao là người, tao đến lấy đầu thằng đội Quang đem lên Kệ tế thầy đây. Các đồng môn đương đợi tao đem đầu mày về, đầu mày đâu, đầu con chó đội Quang đâu?\nLãnh Quang đứng yên, con dao bảy rơi xuống cạch một cái mà không biết. Tiếng hò hét của Trắt như điên, nhưng lãnh Quang còn điên hơn. Lãnh Quang nhặt con dao, tựa lưng vào vách, như sắp ngã.\nKhông ả Chín, ả Tám nào dám đến đỡ. Mỗi câu Trắt thét \"Đầu mày đâu?\" lại đẩy con dao bảy trong tay lãnh Quang quờ quạng vung lên, chém chát chát vào cột, vào vách. Lãnh Quang phát rồ rồi. Không ai dám đến gần. Trắt thì cứ nhảy như con ếch bị buộc dưới chân cột. Những cửa buồng quanh đấy đóng lại hết. Bọn lính lủi cả ra sân. Cái hãi, cái hóa dại của lãnh Quang đương cơn, con dao bảy ấy chém loạn lên vào đầu vào tai bây giờ!\nLãnh Quang hỏi to :\n- Đứa nào đêm qua đem thằng này trôi sông? Ra ông xem mặt, những đứa nào?\nBa, bốn người rúm ró đùn đẩy nhau đến cạnh ánh đuốc. Lãnh Quang nói, lần này nhẹ nhàng tỉnh như không :\n- Ba thằng, bốn thằng, còn thằng nào nữa? Hai thằng kia vào đem ra bốn cái rọ. Bỏ rọ chúng mày đã. Mai ban ngày ban mặt, ông xử xem tội xổng tù hay thả tù.\nBốn cái rọ được xách ra, bốn người lính bị đẩy vào. Bốn cái rọ khiêng ra treo vào cành cây sau vườn. Lãnh Quang lơ láo đảo mắt nhìn quanh rồi bỗng hét rền như sấm :\n- Đem chôn sống thằng này ngoài vườn. Chôn ngay cho tao trông thấy.\nĐèn đuốc ra sáng cả vườn nhãn, một chốc đã đào xong gần bờ rào ô rô, một cái huyệt loang lổ đất.\nNhững sợi dây mây trói cả hai tay, hai chân Trắt. Chiếc đòn ống khiêng bổng lên như vừa bắt con lợn trong chuồng ra. Lãnh Quang quẳng cái áo chồi, trần lưng ra, ngửa mặt, tu cả be rượu còn lại rồi quẳng be xuống cái hố huyệt, rên hừ hừ, trong khi Trắt nằm ngửa mặt trên đống đất, vẫn sa sả :\n- Ông chặt đầu mày. Mày kề cổ ra đây. Thầy ông, anh em ông đương đợi ông vác đầu mày về. Đầu thằng... đầu...\n- Chôn ngay! Chôn đứng!\nTrắt bị ném huỵch vào hố. Đất rào rào lấp xuống như dội mưa. Phút chốc con người đã bị vùi biến, mặt đất lại phẳng như lúc nãy.\nMọi người lật đật về, như sợ ma đuổi. Lãnh Quang nhớn nhác chạy trước. Như hãi cái hồn người ngoi lên bíu lại. Vào đến trong hiên, lãnh Quang lại rối rít: sao chúng mày chôn nhanh thế hay đấy là cái bóng thằng trôi sông, không phải, nó còn rủa tao đến tận lúc hạ huyệt...\nCàng khiếp đảm, lãnh Quang đâm vào buồng con vợ nào chẳng biết. Lãnh Quang hét lấy cái khóa đuôi chuột to, khóa trái lại, khóa trái... Ngoài kia, khu vườn đã tối om sương mờ phủ.\nLúc ấy, hai cái bóng trên cây nhãn nhảy ngay xuống. Không biết những mũi dao, những nhát thuổng hay tay bới thoăn thoắt. Chỉ một loáng đã lôi được một cái bóng trong lỗ ra.\n- Em... em...\n- Im!\nBa người đi về phía mấy con trâu tiệc còn lại buộc đằng góc vườn. Trên chòi canh vẳng ra tiếng mõ. Bọn lính tuần, cả đàn chó ngao dường như chưa hoàn hồn từ lúc đào huyệt chôn sống người, cả đám xúm lại giữa sân như một đống rạ. Chỉ những con trâu không biết gì đang đánh sừng cộc cộc vào gốc cây như tiếng ban chiều mõ đạc ở cổ trâu.\nBa con trâu được cởi thừng mũi ra. Người cưỡi cúi rạp, bàn tay vỗ hai bên yếm cổ. Những con trâu lồng dựng đứng, lội ào ào qua hào, nhảy húc đổ một quãng đường đất, bật rễ chỗ rào ô rô, gãy ngang một thân cây vông. Những con trâu cong lưng băng băng bôn trong đêm, như những con trâu điên.\nBấy giờ, trong nhà lãnh Quang còn điên hơn. Tiếng lội hào, tường đổ ầm ầm ngoài kia đã dựng người dậy. Đèn đuốc lao xao dọi ra vườn. Mấy con trâu còn lại, đã tụt hết thừng mũi bồn lộp cộp cả lên sân gạch. Chỗ vừa chôn người, đất bị bới tung, còn trơ lại cái hố. Thằng bán dầu mới bị chôn đã biến mất. Bọn lính chạy dạt vào rồi lại men ra. Trâu lóa mắt húc cả vào người, vào đuốc. Rối tinh lên.\nLãnh Quang lom khom đứng, mắt trợn cắm xuống cái hố đất loang lổ. Rồi, chẳng nói chẳng rằng, như ma đuổi, lại đâm bổ vào một buồng. Lãnh Quang vừa thấy thằng bán dầu cầm con dao xông tới. Ngoài vườn, trong sân, đàn trâu vẫn chạy tứ tung lẫn với người. Lãnh Quang lại nhìn thấy thằng bán dầu, kia kìa. Lãnh Quang đóng sập cửa. Rồi nằm thẳng cẳng trên giường.\nÁnh đèn dầu lạc vừa khêu bấc, lãnh Quang cũng chưa kịp nhìn mặt nó là con vợ nào, lãnh Quang đẩy bắn nó xuống chỗ xó luồn góc nhà. Lãnh Quang lại chồm lên, mở cửa rồi quay lại hét :\n- Xách quang đèn ra đây.\nĐứng trước thềm, lãnh Quang vung con dao bảy.\n- Cái Ba, cái Năm, lên đây. Vào thành trình quan Tổng đốc, xin quan cho lệnh truy nã thằng bán dầu, hỏa tốc. Bắt được... bắt được...\nRồi thở hổn hển, ngồi bệt xuống. Cô Chín, cô Tám mon men đến, xốc nách lãnh Quang đứng lên.\nBuổi sáng ấy, cũng bình thường như mọi ngày, chợ Cầu Dền, chợ Dừa, chợ Cửa Nam tấp nập hơn, vì ngày phiên. Dưa cải, từng bó củ trắng nõn bên thúng cà chua đỏ ối như nhót chín, từ trong làng kĩu kịt quảy ra. Lại sắp vào cuối năm hanh hao, trên các bãi hoang dưới bờ tre, ở những chân ruộng đã gặt quang, những cây lá bánh khúc đã chớm trổ hoa. Thoạt trông, tưởng đàn bướm vàng về nhầm mùa. Sương sớm đọng trên lá khúc long lanh như hạt nước. Lũ trẻ hái lá khúc, sương ướt bắn li ti lên bờm tóc. Người chợ búa, người tất tả công việc. Gặt hái đã xong, ngoài đồng rặt những đống khói chân rạ của trẻ chăn trâu đốt hun chuột. Chợ Bưởi chợ Canh lại sắp vào những phiên cuối năm, bán tranh gà lợn Kim Hoàng, có chợ trâu bò cho người mua về đụng thịt ăn Tết. Trong trạm Hà Trung phóng ra một con ngựa chạy công văn hỏa tốc, bụi lầm suốt đường Hàng cỏ ra ngoài ô Đồng Lầm.\nCả ba con trâu được tròng thừng vào cổ, đứng nghênh ngang trước thềm đình Hàng Hòm. Nghỉ lại phường này mấy hôm cũng chẳng bận đến ai. Buộc ra bãi cho gặm cỏ, trâu bò đem bán chợ hay cho đi làm mùa, của nhà người ta hay của ăn trộm đem về qua, thì cũng thường thấy.\n- Chú làm nốt bát rượu ấy rồi Lại vào trong đình mà ngủ cho lại sức. Nằm dưới đất khí lạnh liễm vào, dễ ốm. Này lão quán hôm nay dọn hàng sớm, dắt một con trâu ra bờ hồ mà thui. Tùy lão, phần bán phần để chén, tối nay khao.\nHôm sau, lão quán bảo Trắt :\n- Hai con trâu kia, các ông ấy nhủ rằng cho mày đem về làng. Trâu này còn làm đồng được, cày bừa được, thịt thì phí.--------------------------------\n|[1]\n||Mặc dù đội Quang đã lên chức quan lãnh, nhưng một số học trò của Cao Bá Quát vẫn gọi hắn là thằng đội, tỏ ý khinh miệt.|\n\n**Bài ca cái roi song** **(Đằng tiên ca)**\nSau hôm rằm tháng chín, khí trời đã dịu\nMặt trời u ám, ban mai không có ánh sáng\nNgười bị giam xù đầu ngồi trên giường gãy\nGió lạnh buốt thổi phần phật vào áo quần\nChợt có lính của bộ đến, tiếng lanh lảnh\nGọi ra thúc giục đến công đường\nĐứng dậy mang gông đi theo\nKhăn rách xốc xếch chân bước vội vàng\nLúc vào cửa có lính canh ngục kèm hai bên\nNgười ở kinh đô ngơ ngác đứng xem, vây kín như bức tường\nCác quan lớn ngồi trên, dưới có một viên quan nhỏ\nGọi bày những hình cụ bày ra la liệt\nCó cái roi song to, dài thật là dài\nDa nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ ra\nNgười bị tội nằm duỗi, sợ hãi xanh xám\nĐầu quay nghiêng, mặt lấm lét, như con dê hoảng hốt\nChân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên\nLúc đó sau trận mưa, hơi thấp độc xông lên đến bàng quang\nGiờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được\nChỉ khan vã kêu: \"Oan! Oan!\" và gào trời\nQuan thét lên như tiếng sét rung cả rường nhà\nRoi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp\nLúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở\nLúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi\nHai cái nọc đứng sững, có vẻ vững chắc\nTiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang\nThan ôi! Cành hoa hải đường đương xuân\nBị bẻ tan nát không kể gì đến hương thơm, ở Xương Châu nữa\nBấy giờ đã muộn, trời sâm sẩm tối\nỞ nơi góc đài, những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên\nRoi song rũ xuống thôi không hăng hái như trước nữa\nChắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn được vào ngón tay\nĐược, mất do mệnh là sự thường\nTa cũng mày mặt như mọi người việc gì mà đau thương\nƠn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp\nLà người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự\nChao ôi, roi song ôi\nMày không thấy:\nỞ phía nam sông Đức Giang ở đỉnh núi Nguyệt Hằng\nTrên đó cây tùng, cay bách chết một nửa\nNhưng vẫn đứng trơ trơ giữa trời rét mướt\nVí phỏng có người thợ giỏi, biết dùng không bỏ nó\nThì những hạng cây như bồ kếp và chương não kia đáng kể vào đâu\nVậy mà còn đốn chặt nó thì có đáng không.\n**Vũ Khiêu** (dịch nghĩa) **Ngày 17 tháng Mười, sau khi bộ Lễ tra tấn nghiêm ngặt, nhịn đau viết luôn bốn bài** **(Thất nguyệt thập thất nhật, thừa Lễ bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh mãn chí tứ thủ)**\nSấm gầm chớp giật trơ trọi một thân\nBạn quen trông thấy sợ không dám gọi\nKhiêng về, bỗng mê man như trong cơn mưa gió ác liệt\nTỉnh lại thấy tiếng nói khác thường\nNửa đời thân phận mỏng manh nghĩ những chuyện gân gà mà thương\nMười phần chết chín, tấm lòng chua xót, tưởng đến râu hùm mà sợ\nĐa tạ chú bộc cũ nhà họ Tiêu\nĐã khóc lóc đem những lời ôn tồn mà yên ủi thân này.\n**Nguyễn văn Tú** (dịch nghĩa)\n° ° °\nTrắt ở bên kia sông về. Nhưng Trắt còn dắt trâu ra chợ bán. Bán trâu, được tiền, dễ chạy ra việc, chứ bây giờ cũng chẳng bụng dạ nào mà lo đồng áng. Chặp tối Trắt mới về đến nhà Cõi. Trắt vẫn đóng cái khố một, mặc cái áo nâu đêm trước, bùn rong trâu bết lên tận bẹn, tận mặt, như vừa lội dưới đồng sâu lên. Đã nhập nhoạng tối mả những con chó từ đầu làng xuống cuối xóm đồng chỉ sủa hoáng vu vơ. Cái mùi bùn, phân trâu chó đánh hơi được ở người hàng ngày. Những con chó nhà không nhận được mặt, nhưng cũng là quen thuộc nên chỉ cắn hóng.\nThoạt trông ra, Cõi chỉ thấy người giống mang máng.\n- Trắt đấy phải không?\nTrắt đã vào bên bậu cửa. Những mảnh bùn trên cổ, trên bẹn, ống chân đã khô róc ra. Cả chiều, cả đêm hôm kia đánh chén, ngủ vùi, mồ hôi nhày nhụa trên mặt, những đám bùn bắn lúc lội qua hào, lúc trâu bồn trên đường, lại cả ngày hôm nay lặn lội đuổi trâu, đánh trâu ra chợ, các lớp bùn bết lại rồi khô, lúc bám lúc rơi, bây giờ mới rời ra từng miếng như bóc. Cõi kêu lên :\n- Ô, sao thế này?\nTrắt cười :\n- Giống thổ công, vua bếp, không nhận ra hả? Bị trôi sông, bị chôn sống, chẳng ngờ hãy còn về được.\n- Lấy quần áo tao mà mặc cho khô. Tớ đi kiếm cái nhắm.\n- Có tiền đây, cầm đi mà mua.\n- Khoan đã. Chui vào ổ rơm đi, run cầm cập kìa.\n- Thế bác gái đâu?\n- Biết được nó đi đâu!\nLúc ấy, mụ Cõi vừa mới về, đứng ngoài mái tranh đằng hắng nói trống không cốt cho trong nhà nghe tiếng.\n- Lại quân ăn tàn phá hại nào đấy!\nCái mừng Trắt về đã át cơn tức, Cõi quên cho mụ ác khẩu một quả thụi. Cõi cung cúc đi. Mụ Cõi cũng chẳng nhìn rõ mặt Trắt. Chỉ thấy cái hình thù đen nhẻm, như lội dưới bùn lên, mụ đoán thằng kẻ trộm này mò ở đâu về, trơ trụi thế chắc chẳng được cái qué gì. Mụ lẳng lặng như trong nhà không người, mụ vào bếp thổi đống dấm. Ánh lửa nhen lom dom rồi mụ cũng ngồi nguyên đấy.\nMột lát, Cõi về, dựng huỵch chiếc gậy, lở cả một mảnh vách trấu. Lúc đi, Cõi định bụng hỏi nhà ai cho vay con gà - đôi khi vẫn thế, rồi Cõi trả sòng phẳng. Không thì cũng bất cần, thấy gà chưa lên chuồng thì quơ một con. Cõi không có thói gà què ăn quẩn, túng quá mới mượn, khi có lại đền, cười hề hề. Nhưng số ăn mày, chẳng được cóc khô gì. Đã tối, trời lại trở gió, cổng tán nhà nào cũng buông kín. Mụ Cõi ngồi trong bếp, cũng đoán chồng đi mõi gà. Mụ vốn háu ăn. Mụ đã lấy cái nồi đất, rút rơm đun nước sần để làm lông gà. Rõ chưa bắt được ếch đã ngả thớt. Cõi trông thấy lửa lom đom trong bếp, cũng đoán mụ đun nước làm gà, nghĩ cười thầm con mụ chết đói, nhưng Cõi không vào bếp, Cõi không biết mụ đã vùi cái ngô nướng trong đống tro.\nTrắt đã rúc vào ổ lá chuối khô, ngủ ngáy khò khò. Cõi để yên, Cõi mò xuống bếp.\n- Nhà mày ăn vụng cái gì đấy?\nMụ hỏi lại :\n- Ai trên nhà thế?\n- Chú Trắt.\n- Đi biệt tăm mấy phiên chợ mà về tay không a?\n- Xà, rõ nhà mày...\nMụ hỏi một câu lửng :\n- Bảo đi kiếm cái nhắm kia mà? Được gì không?\n- Được cái con bòi đây này.\nMụ cười khành khạch. Cõi đùa :\n- Tại nhà mày đun nước trước đấy. Đi câu cá mà bảo là đi câu, sẵn lửa củi, thì có mà ăn mày.\nMụ Cõi nghiêm mặt, nói :\n- Hỏi thật đấy, tưởng dạo này chú ấy đi ăn trộm? Có thế mới phải tối mò mới về, lại ướt như ngã xuống ao. Khéo nó còn giấu, chứ vác bạc nén về không biết chừng. Hỏi xem.\n- Lúc nãy nó cũng bảo cầm tiền mà đi mua cái ăn, chắc nó có. Chuyện còn dài lắm, tao cũng chưa kịp hỏi. Bây giờ có gì ăn không?\nMụ Cõi ngỡ đã đoán đúng chồng biết Trắt có của nả thế nào, mụ đấu dịu :\n- Niêu tép mới đánh dặm hôm qua, được không?\n- Ừ nhỉ? Thế thì ù đi mua cho xó rượu rồi về bờ rào sờ sẫm quả ớt, cố nhìn mấy quả ổi chiêm ngay đấy, rượu với ổi chấm muối ớt được. Cá dấm, tép kho thì chết cơm rồi. Được, được...\n- Chỉ hươu vượn tán ăn. Nhấc niêu cá trong đống tro ra, để bắc nồi thổi cơm. Mà nhà hết gạo, còn có mẹt tấm mới sảy hôm nọ.\n- Tấm cám được tất! Mà thôi, đêm hôm thế này để tao lại đi vậy.\nMụ Cõi nghiêm mặt nguýt một cái rồi đẩy nắm rạ vào bếp. Không mấy khi mụ dễ sai, lại không nói cục và ngoan làm thế.\nỞ vùng đồng trũng cả đời sũng nước này hiếm hạt thóc, nhưng được cái dễ vơ váo. Con nhái, con chẫu, lá mùng tơi, cây dền cơm, đâu cũng sẵn. Ra đồng người nào cũng đeo cái giỏ, cái ống, lại sẵn mấy cái lạt. Khi về, cái lạt xâu con ếch, con rắn nước, ngửa nón ra thấy quả bàng, quả nhót, nắm lá mảnh bát nấu bát canh láo nháo. Cái giỏ đựng con cua, con trạch, bọn mài mại, săn sắt thì dốc vào cái chĩnh đậy tàu lá cọ, trong đã lót muối sẵn. Tháng tháng đổ chĩnh chắt hết cá mú đã ngấu đem bỏ vào nồi, nước cáy với giềng cả miếng, trát bùn quanh nồi, quấn rơm hầm cả đêm. Sáng ra, nồi kho đã nục như bánh đúc ngô. Cái nước cáy ăn quanh năm, ngọt hơn mật. Một tay mụ Cõi làm nên cái ăn cái uống. Thằng chồng nợ đời lúc nào cũng lầm lầm như chó ăn vụng bột, như đứa chết rồi, lại đòi đi ăn trộm gà, cái lông gà chẳng được, về lại hét cơm hét rượu. Nhưng mà có nhẽ thằng Trắt có tiền!\nCõi lên gian trên, đã thấy Trắt ngồi bó gối, sột soạt giữa đống lá khô. Không biết Trắt tỉnh ngủ ngồi dậy hay đương cơn hốt hoảng, như con đồng môi mới ốp, đầu đảo lắc lư. Thấy thế, Cõi nán lại, chưa đi vội.\nCõi lay vai Trắt. Trắt nhớn nhác kêu :\n- Ối!\n- Mê ngủ à?\n- Đây là đâu? Đình Hàng Hòm hả?\n- Ở nhà rồi, ở nhà...\n\"Ở nhà rồi\" - Trắt lẩm nhẩm nhắc lại, như chưa tan cơn bàng hoàng. Bao nhiêu khúc sống, khúc chết, Trắt đã về được đến đây, nhưng từ cái đêm chui từ dưới đất lên ấy, đi đâu, làm gì, ăn uống gì, Trắt biết cả lại cũng quên cả. Vẫn nửa tỉnh nửa mê.\nTrắt nói :\n- Chết ngạt rồi, tắc mũi rồi.\n- Vẫn sống nhăn răng ra đấy thôi.\n- Nó đã đem chôn tôi, tôi chết rồi...\nNồi cơm gạo tấm mụ Cõi đã bắc lên. Một mình Trắt lùa cơm không, vét sạch. Nóng giãy môi mà không biết. Hết cả nồi, chưa đụng đến niêu tép. Ăn xong, Trắt nằm ngửa, vật hai cánh tay xuống, bụng kênh lên, trợn mắt, thở phì phọc. Như người bội thực chết đến nơi.\nCõi như không để ý, bấy giờ mới lủi ra ngoài trời tối. Trắt thẳng cẳng một lát, lại gà gà mắt ngủ. Mụ Cõi lại đã đoán chồng đi đâu. Mụ đem cái nồi đất đã nhăn cơm ra vại múc nước vào bắc lên bếp. Lại nhác mắt tìm cái thớt con dao phay. Mụ chẳng để ý câu hèm đi câu, đi đơm lúc nãy chồng nói. Mụ đã trông thấy cái hầu bao của Trắt để cạnh ổ lá chuối khô, ló cái bẹ mo cau, hằn vệt những xâu tiền kẽm.\nCõi lại đã lù lù về. Tay cầm be rượu, tay xách con gà trống đã bị bóp họng, mào lỉu xuống, nhưng cái mỏ vẫn ngoác như giật mình sắp quang quác vỗ cánh kêu thì bị chịt cổ. Lúc này vào trộm gà nhà người ta thì phải chui rào. Nhưng mụ Cõi chẳng hỏi, lẳng lặng đun nước sôi vặt lông gà. Cõi rót rượu. Trắt đã lại ngất ngư ngồi lên. Cơm lèn vào rồi, ngửi thấy hơi rượu, mới thật lại người.\nNửa đêm, vẫn lỉnh kỉnh chén chú chén anh. Cơn thảng thốt đã nguội hẳn, Trắt mới giật mình. Mê man thế mà sao Trắt biết ra chợ bán được trâu, lại lần mò được về đến đây. Nhưng rồi dần dà, chắp nối lại, Trắt kể cho Cõi nghe từ hôm Cõi về, Trắt đi bán dầu...\nĐến gà gáy, Trắt lại lăn ra ngủ. Mấy hôm, ăn cơm xong, lại ngủ. Một buổi tối, Trắt nói tỉnh táo :\n- Tôi định thế này. Tôi định lại ra đình Hàng Hòm. Ta phải có cánh, cánh to, cánh vững mới được. Tôi mà còn sống là nhờ anh em bên Bắc Bỏi kia. Nhiều người các nơi theo về với Bắc Bỏi rồi. Không phải kẻ cướp, không phải tướng cướp như thiên hạ đồn đại, đây là những người cứu nhân độ thế. Anh em ấy sẽ giúp ta.\n- Đã đành các ông ấy là người trọng nghĩa. Nhưng mối thù của anh em ta, thì ta phải lo.\n- Phải, là việc của ta. Nhưng mà đấy, không có người đỡ một tay thì em đã ngỏm rồi.\n- Chịu thầy, chịu thầy. Chú biết hơn tôi, vậy bây giờ thì làm sao?\n- Như thế này...\nNhững chuyện tày đình tính đếm giằng co có lúc tức tốc rồi lại phân vân, chẳng khác tháng tám tháng chín ngắn ngủi, không biết trời trở lại nắng nôi hay đã sang mùa gió bấc nổi. Mùa màng sông nước cũng nhấp phỏng cái đói ngày ba tháng tám bao phủ xóm làng. Đã sang cuối tháng tám lại như đang còn, không biết ngày mai nóng nực hay mưa dầm, cũng chưa dứt những trận mưa rào. Chỉ còn ấm áp khoảnh khắc, mà lúa ra giêng ngùn ngụt xanh khắp các ruộng cao gần chân tre. Những khóm xương rồng ông lủa tủa quanh bờ cái giếng đất trước cửa đền, hoa lốm đốm vàng hây như đĩa xôi đậu. Bỗng dưng, tiếng sấm rền chân trời hệt những đêm đầu mùa hạ. Nhưng không phải chớp bể mưa nguồn đâu đâu, một cơn gió đùng đùng tới cây cối điên đảo như phải bão rớt, nhưng rồi sấm chớp nối theo ầm ầm. Đây là trận mưa cuối mùa hạ còn sót lại, trong đêm tối, vật vã trên các khoanh tre, bờ rào và cánh đồng.\nMỗi cơn gió giật những tàu cau đổ đùng xuống, ánh chớp ngoài bậu cửa xanh lè hắt vào. Vẫn thấy hai người âm thầm ngồi. Tất cả những cái đói, cái hốt hoảng như mê như tỉnh của Trắt thì những chén rượu đã đuổi bạt từ lâu, từ sau lúc Trắt đã kể ngọn ngành mọi sự việc, lại còn tính xa những việc mới. Be rượu đã lăn lóc giữa đống xương gà cạnh đĩa muối. Họ chẳng say cũng không buồn ngủ. Những ngày đêm khủng khiếp của Trắt vừa qua đã khiến hai người tỉnh như sáo, cứ đăm đắm nghĩ chưa ra thế nào. Một lằn chớp ngoằng xuống xanh lét, tiếng sét đánh ngay đâu trên ngọn tre.\nCõi gọi vào trong bếp :\n- Mùi khét lắm. Sét đánh ngoài bụi tre đây thôi. Nhà mày dậy chịu khó ra xem có con cò nào sợ sét rơi xuống thì nhặt về ta làm nồi cháo gạo tấm. Cái cháo cò giã rượu đấy. Dễ đến sang canh rồi.\nMụ Cõi lổm cồm bò trong ổ ra, đội cái rổ sáo lên đầu tránh mưa, biến ra sân. Cõi nhìn theo, nói :\n- Có nhẽ con mẹ này vẫn nằm nghe chuyện. Nó cứ đòi giữ cái hầu bao tiền bán trâu của chú. Nó mà cầm tiền thì bằng gió vào nhà trống. Mai phải đuổi nó đi đâu, nó là đứa trống mồm lại hay gàn quải. Nện cho luôn mà không chừa. Của nợ!\nTrắt vươn vai, ngáp :\n- Em chưa có cảnh vợ con, chẳng biết thế nào. Nhưng thế nào thì cũng phải bớt thượng cẳng chân hạ cẳng tay, ông anh ạ.\nRồi lại nói :\n- Tính chẳng ra, ngáp sái quai hàm mà cái ngủ không đến cho.\n- Chú cứ đi nằm. Mai lại bàn xem thế nào.\nNói thế, nhưng hai người vẫn ngồi ngật ngưỡng, có lúc tựa vảo cột tre, nghe răng rắc trên mái ọp ẹp. Ngoài kia, mưa đã dứt hạt. Từng cơn gió nhẹ lướt qua, nước đọng trên những tàu cau, bụi chuối, ào ào trút xuống. Những bụi tre kẽo kẹt đưa võng đã chui xuống từ lúc mưa gió to, cái nhà cột tre xiêu xiêu như người rượu say.\n- Khi nãy ấy mà, mò vào cái chuồng gà đầu xóm, tớ bóp cổ con gà không kịp quéc một tiếng. Sau lại rứt nắm lông cánh, lông cổ rắc ra đằng bờ chuôm, làm như gà bị con cày con cáo tha ra ngoài đồng.\n- Mẹo đấy!\n- Mẹo thằng trộm gà nào cũng thế thôi, nhà chủ nó biết tỏng rồi. Vết chân người hay chân cáo, nó dò chứ. Rồi mai bảnh mắt, có người chửi \"đứa nào ăn gà nhà tao\" rong khắp xóm cho mà xem.\nCõi lại như phân trân :\n- Nhưng mà nói có quỷ thần hai vai, tao có trộm gà nhà nào bao giờ.\n- Mới lúc nãy thôi.\n- Để mừng chú mày về, túng thì phải tính, chứ mai chú đưa tiền tao ra chợ mua con gà, gà to hơn con này rồi nửa đêm tao đem bỏ vào chuồng nhà nó. Tao hay làm thế đấy.\n- Lại cao tay nữa!\n- Đi học, vẫn nhớ thầy chả đã đánh toét đít những đứa ăn không nói có.\nRồi Cõi thì thào :\n- À có cách này.\n- Cách sao?\n- Thằng đội Quang...\n- Không phải cứ nghĩ mà được. Đấy, tôi...\n- Hai thằng cùng đi.\n- Bác còn ngờ em à?\n- Đừng nói nhảm! Nghĩ oan anh thế phải tội, đời mình cũng còn không tiếc cơ mà. Hai người cùng đi, cùng lo thì dễ việc. Lần trước, bởi tôi vụng tính, không có đồng nào giắt lưng.\n- Lần này có tiền đây.\n- Không, ta tính việc khác.\nTrắt nghển cổ lên :\n- Bác liệu thế nào?\nCõi chậm rãi nói :\n- Bây giờ thì nó sợ, nó nghi ta rồi. Lại đang truy nã chú nữa. Thì ta làm hẳn như thật, cho nó hết đường nghi, cho nó phải tin. Đóng một cái cũi. Chú ngồi vào cũi, tôi trói tay trói chân cẩn thận, ừ tôi trói. Rồi bắn tin cho đội Quang biết làng ta đã bắt được thằng hàng dầu. Nó đang truy lùng mà.\n- Tôi không hiểu.\n- Ta đóng lấy cái cũi. Tay tôi phó cả thợ mộc đây. Mộng mẹo đinh lim, đinh tre khớp đâu vào đấy, thật chắc, nhưng ta lại tháo ra tháo vào được, chỉ có ta tháo được.\n- Thế để làm gì, tôi chưa tường.\n- Nó đã đa nghi thì làm cho nó phải tin. Người của nó khiêng cũi, thế nào cũng gõ, cũng thử xem cũi có chắc không. Chắc chứ, lung lay không được, đạp không chuyển. Nhưng ở trong ta làm mộng khác, chốt khác, đẩy một cái mở được ra như cánh cửa liếp này, mà chỉ một người ở trong mở được.\n- Bác làm thế nào...\n- Anh đã cả đời giữ chân phó nhỏ, phó hai hầu hạ cụ phó cả làm đình, làm chùa mà!\n- Vâng, vâng.\n- Tớ sẽ đi với lính lên hầu quan, tớ được lên nhận thưởng bắt được thằng hàng dầu cơ mà. Cái cũi được khiêng về đặt trước mặt đội Quang.\n- À... à...\n- Thằng đội Quang cúi xuống nhòm vào cũi, chú tung cũi nhảy ra đấm ngay vào giữa mặt. Thế tất chúng nó bấn cả lên. Tớ rút dao chém ngay cái sỏ nó. Đường đất nhà ấy, chú đã thuộc, phải không? Hãy biết thế đã. Chắc nhà tớ nó sắp về rồi, còn nồi cháo cò. Nhớ giữ mồm giữ miệng, con mẹ ấy mà biết thì sinh lôi thôi. Hay là chú cho nó giữ bao tiền, bịt miệng nó lại. Con mẹ ấy mà thấy tiền thì mắt nó đỏ hơn mắt cá chày.\nCâu chuyện càng dữ dội, lôi cuốn, hai người càng tỉnh ngủ. Vừa lúc, mụ Cõi bưng về cả một thúng cò. Lổn nhổn những cò bợ, cò bạch, cò lửa bị ướt sắp chết rét, lông bết tóp lại như những bắp ngô còi, lố nhố thò đầu lên cạp thúng, nhưng hai cánh đã rúm lại không nhảy ra nổi. Trong khi ngoài trời tối đôi lúc sấm sét lại oang oang, gió đùng đùng quật ngọn tre rạp xuống trước cửa, những con cò còn lại văng cả vào trong vách. Cò rớt bão nhiều quá. Mụ Cõi đặt thúng xuống, lũ con cò lổm ngổm lẫn với những con cò trong vách vừa dò ra.\nMụ ấy với Cõi và Trắt, nước mưa hắt ướt lõng võng, xúm xít vặt lông sống từng con. Những con cò bị nước ngấm lâu lông bở bùng bục. Rồi thì mổ vứt lòng mề, con thui vào đống rạ, con bỏ vào nồi cháo. Chẳng bao lâu giữa ánh chớp lằng nhằng chốc lại lóe vào như đuốc sáng, mọi người nhồm nhoàm vừa nhai, vừa húp xoàn xoạt, như cả ngày chưa được miếng nào. Và Cõi lại quên câu mình vừa dặn Trắt, Cõi nói bô bô :\n- Phải mẹo thế cái thằng đa nghi mới mắc.\nTrắt đương hứng như cắt nghĩa lại cho Cõi :\n- Khôn thế nào thì được người ta khiêng đến tận nhà cái thằng định giết mình cũng phải sướng tửng lên. Sướng là phải, xúm lại xem là phải, chỉ có bác mới cao tay thế, em chịu không nghĩ ra.\n- Gặp cái đứa thâm hiểm...\n- Em chỉ chưa hạ thủ được nó chứ nhà nó em đã vào hai lần, đâu cũng thuộc như lòng bàn tay. Thế thì phen này...\nCõi lại to tiếng, vẻ lên mặt :\n- Thế đã thật chắc chưa?\n- Cái cũi ta đóng, ta lại có khóa hiểm, yên trí rồi. Nhưng còn điều này.\n- Còn cái gì?\nTrắt nói :\n- Lo nó vẫn phòng bị. Nhỡ nó chỉ ngồi trên sập, không bước chân xuống đất, không sờ đến cái cũi. Nó sai lính xỉa giáo vào cũi...\n- Tính rồi, tính cả rồi. Làm cho nó phải sốt ruột, phải háo ra nhìn cho được mặt cái đứa mà nó giết mấy lần chưa chết. Nó phải trông xem có đích không cái đã.\n- Bác bảo rồi làm ra làm sao?\n- Trình cho quan biết là đánh nhau suýt chết mới tóm được giặc chứ chẳng phải ngon ăn. Quan cứ ra trông thì biết. Có thế thằng tù mới chịu bị trói nằm ngửa trong cũi. Nhưng nó cũng bị đòn quá tay, đã gãy một chân. Bắp đùi phải quấn lá chuối khô cho cầm máu. Không thì nó nghẻo từ hôm nào ấy rồi. Đổ máu lợn vào cho đọng mặt cũi. Trong bọc bẹ chuối ta cặp con dao ba. Chú ngồi phắt dậy, đạp cũi, không phải đấm mà rút dao đâm thẳng, phóng thẳng vào giữa mặt nó.\n- Em chịu! Thế thì em chịu rồi.\nMọi chuyện ngon ơ như húp bát cháo cò. Rồi lăn ra ngủ. Mụ Cõi như cái bóng, sập cửa xuống rồi nhặt các thứ thừa mứa bỏ vào thúng. Mụ thò tay vào mép ổ, kéo cái hầu bao, thấy nặng không xách được. Mụ sờ soạng từng buộc quan tiền. Mụ đẩy lại cái hầu bao vào chỗ mép ổ, nghĩ mừng mừng. Bên ngoài, đằng xa thỉnh thoảng ánh chớp dây, không nghe tiếng sấm. Đã tan cơn mưa cuối mùa, chẳng khác rớt bão.\nHôm sau, Trắt nói với Cõi :\n- Còn một điều thật cần.\n- Gì thế?\n- Tôi về được đến đây lả nhờ các ông đình Hàng Hòm.\n- Chú đã kể rồi.\n- Các ông ấy không phải chỉ vài ba người. Người của các ông khắp cõi, có nhẽ ở Kẻ Chợ thì xó nào cũng có. Cái hôm ăn cỗ thịt trâu ở đình, em biết cái tài của các ông ấy. Khắp nơi, trong phường ngoài chợ, động chệ thế nào, biết ngay, chuyện cần thì tin về bến Bỏi.\n- Bên Kẻ Chợ thì ở hồ Tây theo ven sông Cái lên bến Chèm sang Bỏi hay sang Hối, rồi vào đầm Ao cả Vực Đê, phải không?\n- Nhưng ở đây lên thì gần, chỉ nửa buổi. Phải, chỗ Chèm sang. Đương khét tiếng có ông tướng cướp lạ lắm tôi đã kể đấy. Cướp mà đêm hôm không đốt nhà, trộm lợn trộm trâu, không giết người lấy của. Các ông kẻ cướp chỉ cất công đi tìm ma, trừ ma ở lẫn với người, lấy được của rồi đem phát chẩn cho người khố rách, phát hết, rồi về tay không. Hay là thấy đâu trái tai gai mắt thì đến xóa đi. Ngay tôi đây thoát chết cũng nhờ một lời hẹn với các ông ấy. Chỉ một lời hẹn giữa đường giữa chợ mà không quản sống chết, họ hàng máu mủ nào bằng.\n- Bây giờ ta nên thế nào? Đêm qua, chú bảo tôi phải có cánh. Tôi thấy là nên, nếu được cánh các ông bến Bỏi giúp cho.\n- Em đã nghĩ thế. Hai anh em cố sang bến Bỏi. Bẩm kỹ với các ông việc của ta. Xem có thể thì cậy các ông một tay.\n- Được thế thì còn gì! Nhưng phải cẩn thận ngay ở nhà này. Chú đã biết con đĩ rạc nhà tôi, chúng mình mà đi, nhỡ nó nổi cơn, nó báo bọn lý hương thì rầy rà.\nBao nhiêu cái kín đáo, đêm qua đã nói toạc ra cả. Bây giờ vẫn nhớ giữ gìn, nhưng lại quên phứt cái hở. Một lúc sau, Cõi nói :\n- Mặc nó, để rồi tôi liệu. Nghe chú nói, tôi cũng thèm đi. Nhưng nhiều cái gấp quá. Lần này, chú đi một mình. Tôi ở nhà lo thế nào lúc chú về thì ta ra Kẻ Chợ được ngay. Đóng cái cũi giả, chỉ một tay mình tháo lắp được không phải một lúc mà xong. Tôi cũng chỉ biết học lỏm thế, còn phải sang nhờ cụ phó cả chỉ vẽ thêm cho. Cụ đã yếu, ta đem con gà, chai rượu đến nhà, cụ khỏi phải đi. Mà lại kín việc, vả chăng...\n- Ừ thế thì em đi một mình. Nhưng ở nhà anh liệu lời bảo chị ấy. Đưa cho chị ấy giữ tiền cũng được.\n- Chú mặc tôi, đã bảo mà.\nTối hôm ấy, thế nào mà vợ chồng Cõi lại chửi nhau, rồi Cõi nện vợ ra trò, mụ vẫn cờn lên.\n- Nhà này sắp rủ nhau đi giết người hả?\n- Giữ mồm giữ miệng nào. Mồm mày như cái tĩ gà, ỉa xoèn xoẹt.\n- Biết tỏng ra rồi.\n- Á! Á! Đi đâu thì ông cũng phải chọc tiết mày cái đã.\n- Ối giời ôi!\nCõi mới để ý mấy hôm mụ chạy lên chạy xuống, lúc đun nước, lúc kín nước, lại lúc ngồi ăn, thế ra nó tỏ tường cả. Không xong rồi. Phải giã một trận cho nó nhớ đời.\nNào Cõi có biết gốc gác ả ở đâu. Nằm với nhau thì là vợ ra đường cũng người dưng nước lã, thế thôi. Ngày trước quãng mùa tháng mười, các ả đi thành bọn như phường đánh dặm đến gặt mướn cho nhà người ta. Gặp nhau giữa chợ rồi nên vợ nên chồng. Nghe nói quê dưới đồng chiêm - những miền đất xót như phèn, nắng đến con cua con cáy cũng chết như rang, người phải trôi dạt ra kiếm cơm thiên hạ. Kể thì, lấy vợ nhặt cũng không ra mặt mũi thế nào. Chẳng gì, Cõi đã ngậm cái bút lông mèo theo thầy, nhưng mà cả làng, cả chi họ này không lạ nhà Cõi, đời bố đến đời con, chẳng đời nào có đồng gãy giắt lưng. Làm sao lấy nổi vợ. Lấy vợ theo không thì nghĩ tủi thân, chứ làng nước ai trách cứ, ai rỉa róc đâu. Người ta lại còn khen - chẳng biết mỉa mai hay thật bụng, kiết xác mà cũng tậu được vợ, lại còn học đòi nghiên bút. Cái nông nỗi vợ chồng Cõi thế vậy.\n- Có câm đi không? Mày mà...\n- Sợ chó ai! Thấy trái tai gai mắt thì nói giữa giời đấy. Kiếm mửa mật không ra hạt cơm, ngữ ấy mà vào lính thì chẳng có nổi hạt gạo làng gánh đi nuôi, ở lính cũng chẳng nên thân, lại còn ra điều ta đây đòi đâm chém ai.\n- Con tuyệt tự!\n- Ới ông cả bà nhớn ơi! Chúng nó tụ bạ đi giết người, ối...\nCõi xông đến. Ả cũng chẳng vừa. Hai bên dần nhau ăng ắc, tưởng có đứa gãy xương. Sáng hôm sau, ả nằm trong đống lá chuối, rên hừ hừ. Mặc kệ, Cõi sang làng bên kia đìa, đến nhà cụ phó cả. Không biết chỉ một lúc sau, mụ Cõi đã trở dậy, lục hết ổ lá chuối ổ rơm, cả trên các hốc cột, hai bên mái nhà. Nhưng không thấy cái hầu bao đựng tiền.\nGiữa trưa, Trắt mải miết đi một mạch mới lên đến bến Bỏi. Sông Cái vào mùa lặng, hai bên bờ cát nổi cao như gò, ở dưới sâu, những làn nước đỏ lừ vẫn cuồn cuộn như có gió to. Trời quang, trong xanh. Từng đàn chim bói cá bụng trắng cánh đen kêu khanh khách ở đâu đến chốc lại vút lên rồi rơi bõm xuống mặt nước như ai ném mảnh sành thia lia. Bay lên, đã quắp được gáy con thiểu, con thờn bơn trắng nhoáng. Mùa này hai bên bờ, các bến Chèm, bến Bỏi quang vắng. Chỉ đến khi nước cả, những bè giang nứa, song mây, bè củ nâu, bè dó hay là vào cuối năm các của rừng tải về cho đường xuôi ăn Tết, những thuyền măng khô, măng củ, mộc nhĩ, nấm hương, lại lá dong, cây rễ ăn trầu... bấy giờ các bến mới lại nhộn nhịp khách buôn khách lái. Tuy vậy, bến bên này cũng không sầm uất bằng bến Chèm bên kia, tiện xuôi Kẻ Chợ hơn.\nThường vào mùa cạn kiệt, cả những phiên chợ hai bên sông cũng vắng đò ngang, mà buổi chợ mới có đò chuyến. Các thuyền đánh cá chỉ đi về có buổi chợ cá eo sèo đôi lúc đầu hôm, sớm mai, mà cũng bất chợt cái thúng, cái mảng nứa ghé vào, chợ tạm mỗi hôm một nơi mà thôi.\nCó người sang bến Chèm, nhỡ buổi, phải chặt cây chuối, ôm thân chuối bơi ghé qua bãi Giữa vào khi vắng đò, đôi bên sông vẫn quen lội thế. Nhưng Trắt không sang sông, mà Trắt ngóng thuyền qua lại, để hỏi thăm.\nMột cái nan câu lướt nhanh ngoài mép nước.\nTrắt gọi :\n- Ơi đò!\nChiếc nan ghé vào.\n- Cho tôi hỏi thăm thuyền bác Bỏi.\n- Bác Cả hả? Ở đâu về đấy?\n- Ngoài đình Hàng Hòm.\n- Xuống đây.\nChẳng biết thế nào, nhưng thấy người dưới nan sốt sắng tự nhiên, lại nói như ra lệnh, cũng chẳng do dự Trắt leo xuống cái thúng câu. Người ấy cúi đầu sải bàn tay. Thúng tạt ra dòng rồi xuôi vun vút. Chắc cái thúng này đi rút câu cắm hay thu lưới về, túm lưỡi câu cắm với đống lưới đã xếp bên mạn, những con cá nhảy lục đục dưới cái vỉ tre cật, người ngồi xổm lên.\n- Thuyền bác Cả đậu chỗ kia.\nMột đám lô nhô thuyền mờ mờ dưới bóng cây ven bờ. Trắt bỡ ngỡ, lặng im. Nhưng người nan câu lại vui chuyện.\n- Cả vạn này vừa hội đánh cá tiến ngã ba sông trên ngược về, đã mấy đêm vào đám ăn cỗ đấu võ ở thuyền bác cả.\n- Liền anh cũng ở đám à?\n- Ừ.\n- Hội võ bác Bỏi a?\n- Tôi chỉ là thằng cầm bùi nhùi bật hồng thỏi, võ viền đâu thứ tôi.\n- Hội võ trên thuyền thì to thế nào?\n- Mấy đời các vạn ở bến Bỏi là con cháu nhà bác Cả. Nghề cá ở nước thì hội võ các vạn cũng như đình đám xóm làng bên trên bãi. Ở vạn thì chỉ bao giờ có đám ma mới phải đưa lên bờ.\nDần dần, trông rõ nhấp nhô cả chục chiếc thuyền gỗ đỗ chen chúc trong hũm bờ lở, dưới mấy cây súng xanh mát như bụi tre và những cây muỗm cổ thụ um tùm. Những cái nan len lỏi giữa đám thuyền, ra vào ve vé, như bọn trẻ con chạy quanh người lớn.\nCái nan câu Trắt ngồi, người chèo đã ném sợi thừng vắt lên cọc trước mũi chiếc thuyền rồi quay lại bảo Trắt :\n- Bíu mà lên trước đi.\nTrắt dún chân, nắm mạn thuyền. Người nan câu dận Trắt vào khoang trong. Thấy một người mặt rám nắng màu cát đỏ xạm, chạc trên dưới năm mươi, hàng râu ria ba chòm đen rậm xõa ngang ngực vạm vỡ để trần.\nTrắt đoán đây là bác Cả, bác cả Bỏi, ông tướng cướp bến Bỏi đã được nghe lão quán nước Hàng Hòm thì thào.\nÔng tướng mà sao cái anh thuyền câu không vẻ sợ sệt, mà lại nói suồng sã vui vui.\n- Người Kẻ Chợ về chơi với bác Cả đấy!\nBác Bỏi ngẩng lên :\n- Mày vẫn trọ đình Hàng Hòm à? Thằng Cõi đâu?\nTrắt giật mình. Dường như bác ấy đã biết hết.\n- Bẩm quan, anh Cõi con chưa lên được, cho con sang tạ ơn quan. Con là thằng Trắt bán dầu, quan đã ra tay cứu. Bây giờ chúng con có việc lên xin quan chỉ bảo.\n- Quan nhớn, quan bé, thằng lãnh, thằng đội gì tao. Tao là cả Bỏi, thằng chài lưới bến Bỏi.\n- Vâng ạ.\n- Về đây thì cứ thong thả. Ra mui nghỉ chốc nữa vào ăn cơm.\nTrắt ra ngồi mảnh chiếu cói ngoài mũi thuyền. Gió mát rượi, ngủ gật được, nhưng không chợp mắt nổi vì người các thuyền nhảy sang, đi như chạy rầm rập. Chỉ một thoáng đã biết đại khái quang cảnh và mọi việc quanh mình. Bác Bỏi đã vào bữa chén, ngồi với mấy tay chân sào, chắc thuyền khách. Các thuyền bên bưng sang cả rổ vỉ cá nướng thơm mõ còn sèo sèo với những vò rượu nút lá chuối được xách cổ theo. Cũng như vẻ mặt dễ dãi phúc hậu của bác Bỏi, tấp nập thế nhưng không nghiêm như cửa quan, mà còn bộn rộn, có người vừa đi vừa ê a múa hát. Ngoài sông, gió cát bốc lên đỏ xuộm, những chiếc nan như lá tre bay trong làn bụi.\nLát sau, Trắt được gọi vào. Chén bữa cơm toàn cá với rượu thuốc uống bằng bát. Không biết rượu rắn hay ngâm cá, vị hoi hoi. Về chiều, lại nhiều thuyền nữa chen đến, những chiếc to bản đậu rúc mũi vào nhau ghép liến thành cái sàn, người bước thoăn thoắt như trong nhà ra sân. Lúc ấy, thuyền nào cũng như có chén, chẳng biết tiệc hay cơm tối, khói nấu nướng xanh bốc trên mui. Ánh nước hắt lên lẫn khói, lẫn sương phảng phất, đôi chỗ còn rớt lại một vết nắng vàng nhạt.\nDần dần, khói bếp thành làn mờ mịt trên đám thuyền lẫn vào sương tỏa ra mặt nước. Cả đêm, Trắt ngồi xem những trận đấu võ, múa võ, kỳ lạ, hào hứng, không biết mỏi mắt. Khoảng sàn như mỗi lúc rộng hơn, những cây đình liệu sáng rộng tít ra các mép thuyền mới tới, chụm mũi lại, các mái khoang dỡ ra hết, neo khít lại rồi đánh đai chão dây song.\nBác Bỏi vẫn trần trùng trục, đứng ra khoang giữa, một tay giơ bổng thanh trung bình tiên bằng cả cây tre đực, như dựng cờ. Rồi vỗ bụng đốp đốp mấy cái.\n- Anh em ời, anh em ới! Vụ nước kiệt vào mùa năm nay, các vạn ta ngược ngã ba Hạc được mẻ cá tiến\n[1], thuyền nào cũng đầy. Có biếu, có tiến ai đâu cá ngon thì làm cỗ ăn chơi, đấy là tục lệ từ thời các cụ ta ở bến Bỏi.\nNhững cây đình liệu tiếp nối rừng rực sáng chưng một khúc sông. Hầu như mỗi thuyền là một lò võ, một môn võ khác nhau, lúc chặp tối thì múa võ, khuya thì đấu, sau cùng đánh trung bình tiên. Mắt người xem đã lóa rượu, thấy đâm thấy gạt như múa hoa, không nhìn ra đấy là cây roi tre, cái sào chống hay chiếc bê chèo. Bây giờ mới thấy bác Bỏi ra võ thượng thặng, cả bốn ngọn roi chúc lại, bác cả gạt ngang hết ra rồi đâm sang vun vút.\nĐình liệu tàn, các tay quyền tay roi nằm lăn lóc ra sàn ngáy pho pho. Trắt vui như minh cũng được là người các vạn đi đánh cá tiến về hội võ, rồi Trắt cũng nằm ngủ ngay trên ván thuyền.\nSáng sớm, bác Bỏi cho người ra lay Trắt dậy. Nhà chài thức khuya mấy cũng quen dậy sớm. Bác Bỏi hỏi :\n- Có việc gì nào?\nTrắt kể tình đầu.\nNghe xong, bác Bỏi chỉ nói: \"Chẳng cứu chúng mày thì cứu người khác, không phải ơn huệ đâu!\"Rồi bác ngồi yên, mặt lạnh không động râu, không nhếch mép, cũng không hỏi thêm câu nào. Bác Cả bảo người nhà thuyền dọn rượu sớm. Rồi bác bảo Trắt :\n- Ăn cơm sớm rồi về cho kịp, kẻo tối.\nTrắt mạnh dạn :\n- Chúng con định làm thế, bố bảo sao?\n- Đã định thế thì cứ thế mà làm.\nCả thuyền đã xong bữa sáng. Bác Cả im lặng, nhưng dường như bác vẫn nghĩ cả lúc Trắt kể lể, bây giờ bác mới nói một mạch :\n- Giá năm trước mà cụ huấn Cao kéo quân qua Bỏi thế nào tao cũng lên với cụ rồi. Tao vẫn còn tiếc. Bây giờ giúp môn sinh rửa thù cho cụ, thế cũng như tao được làm quân của cụ. Có phúc mới được theo việc nghĩa trời đất chứng giám này. Anh em mày đã bàn, mưu chúng mày thì chúng mày làm, tao có nghĩ ra đâu mà tao được như chúng mày. Bây giờ chỉ còn ở cái trí, cái gan. Hãy nhớ, không được trệch sự hẹn, việc quân không sai một bước chân, biết chưa. Hẹn sao giữ hệt thế. Ngày nào chúng mày vào nhà lãnh Quang thì tao khắc biết, khỏi phải báo lại. Cứ ngày ấy, ngày ấy, lúc chặp tối, người của tao vào trói cả nhà lãnh Quang, gắn sơn vào mồm, không đứa nào kêu được một tiếng. Chúng mày bắt sống thằng lãnh Quang hay xách cái đầu nó ra bến Đá thì tùy cơ ứng biến. Bấy giờ đã sẵn thuyền đợi ở bến Đá. Được chưa?\nTrắt cũng thấy rõ ràng không thể hỏi được hơn.\n- Vâng, lạy bác.\nMặt trời lên ngọn tre, Trắt đã ra thuyền, vẫn chiếc nan câu hôm trước đưa Trắt đến. Như cái nan hòm ấy đã cố tình qua bãi chỗ Trắt đợi chứ không phải hấc lờ. Trắt biết mọi việc bác Cả ngồi đấy mà đã sắp đặt trước sau đầy đủ. Bác ấy như có con mắt đằng sau gáy. Trắt định hỏi anh thuyền câu có phải thế, lại hỏi có phải anh đã ngồi đình Hàng Hòm, anh đã biết mặt tôi. Nhưng Trắt không dám tò mò. Bấy giờ những thuyền tụ tập thâu đêm đã tản đi nhiều nhưng vẫn còn một đám dưới gốc sung xanh lưa thưa. Có khi chiều nay lại tụ hội, lại đấu võ như đêm qua. Chưa tan hội cá tiến mà.\nNgười chèo nan nói như biết được cái nghĩ của Trắt.\n- Còn đấu nữa, mấy đêm rồi vẫn chưa ngã ngũ thuyền nào giật được giải.\n- Chén hết cá tiến mới tan hội?\n- Có năm còn lâu hơn. Giật hết giải mới thôi, bảo là cái hèm thế. Càng lâu mới hết giải là càng lắm trai tráng mạnh khỏe, là điềm được mùa.\nNgười ấy cười :\n- Cả đời, ở sông nước, mong trên đồng được mùa lúa mới có hạt gạo thổi cơm.\n- Sao lại có tiếng tướng cướp bến Bỏi?\n- Cái tiếng ấy cũng phải. Thiên hạ sợ vạn Bỏi như sợ thành hoàng làng, mới nên cái tiếng dữ dội thế.\n- Bác nói như sao?\n- Như bác Cả bảo ông sáng nay đấy. Nói thẳng ra bận gì mà bác Cả phải ra tay. Có thế phải không?\nNhững thuyền lưới đương tấp nập từng quãng sông. Đôi lúc gió lớn như bão cạn thổi cát lẫn phù sa đỏ ngùn ngụt bốc lên ngang trời, những chiếc thuyền qua lại mơ hồ như trong mây. Tiếng gõ cá, tiếng mái chèo va mạn thuyền tiếng chài quăng roàn roạt, nghe văng vẳng trong thinh không. Gió cát và dòng nước nhuộm trời đất đỏ lừ.\nTrắt rụt rè hỏi :\n- Phải cái đêm anh em cứu tôi ở nhà đội Quang, bác cũng ở đình Hàng Hòm?\nNgười chở nan cười, không nói.\nTrắt về đến thì Cõi ở bên làng cuối đìa nước cũng vừa về. Quả là học thêm được mánh nghề của cụ phó mộc - những ngón hiểm chơi khăm khi hiệp thợ dựng kèo cột các nhà giàu độc ác, bủn xỉn. Nhà hờ, cột hờ, cũi hờ, cụ phó đã bảo ban cho.\nThấy Cõi, Trắt reo lên :\n- Bác Cả cho cái hẹn rồi. .\nCó đến mấy phiên chợ, Cõi và Trắt lúi húi các bụi chọn những cây tre chết róc rắn chắc, lại cả tre non về hun khói giả tre già. Bốn cột cọc cũi chắc như gỗ lim, cứng như sắt, mỗi đòn nan bằng ống tay. Các nút chặt chẽ không lay được, lại nức chằng sợi mây. Con hổ, con trâu ném vào cũi này, có quạy đến rời sống tưng cũng đến chịu chết nằm co. Chỉ riêng người thợ cả nắm được ngóc ngách của cái cũi bề ngoài vững như cột đình. Cái thằng nằm trong cũi đã tường chỗ hiểm, giựt một nút lạt mây, cả cái cũi lập tức toang từng mảnh. Quả là phàm thợ ngõa, thợ mộc giỏi đểu có đòn phép. Gia chủ không được lòng thợ, cả đời phải vận áo xám vậy.\nNửa đêm, hai người đã bật dậy hì hục làm. Bấy giờ chỉ bào, chỉ tiện vì đêm hôm khuya khoắt, còn đồ nghề tràng đục thì làm vào buổi trưa, khi hàng xóm đã ra đồng, đi chợ, xuống bến. Trắt đã nằm vào cũi, giựt thử. Cả mấy lần, cái cũi đương bề thế phút chốc rụng rời ra. Mà chưa yên tâm, lại chính Cõi chui vào, đến lúc Cõi dạy Trắt đẩy nhanh thoăn thoắt thuận cả tay phải, tay trái, mới được bằng lòng.\nCó điều Cõi áy náy, nhưng nói ra e Trắt cản, gạt đi. Nhưng rồi cũng phải thổ lộ rồi mới yên mà làm.\n- Cái con mẹ mồm loa mép giải nhà tôi, chú ạ.\n- Anh bảo thế nào?\n- Thế là đằng nào nó cũng đã biết. Phải thịt nó đi, mới bịt được mồm nó.\n- Ấy chết!\n- Không có, nhỡ một cái, mình chưa động tình mà cả hàng tổng đã biết thì nước lã ra sông. Chẳng những công cốc mà có khi mình mất mạng.\n- Tôi đã nói bác nên khuyên bảo. Một ngày nên nghĩa, thầy cô, cũng như cha mẹ, con cái phải báo đền, nói thế chắc bác ấy phải nghe ra.\n- Biết thì nó vẫn biết, tôi đã nói, nhưng nó trống mồm lại cục tính.\n- Nhưng mà đánh chết người thì không nên.\nRồi bẵng đi ít hôm. Cõi bảo Trắt :\n- Nghĩ ra rồi, khi đi thì ta trói nó lại, bảo trước nó vậy, làm thế nào đến hôm nó cởi được thì việc ta đã xong.\nTrắt ngần ngừ :\n- Tùy bác.\nTùy Cõi, chứ Trắt biết tính sao. Vợ chồng mới biết nhau và chỉ Cõi mới làm được thế. Cái trái tính trái nết là những đối xử với nhau, lúc mặt nặng lúc mặt nhẹ, Cõi nói quá đi vậy chứ không đến nỗi Cõi ngờ ả có ý phản phúc, nhưng cái thói ba hoa nói hóng nói hớt lại hay nói dối vặt thì có thể khốn đấy. ừ đem trói nó ra ngoài xó vườn, bảo nó rằng làm thế cho hết nhẽ, nhỡ xảy ra điều không may, quân quan về tra soát mà thấy nó bị trói, giẻ nhét vào mồm, ắt người ta cho là vô tội, không liên lụy. Nói trước với nó thế, cho nó nghe ra.\nNgày ấy, ngày ấy đã ước với bến Bỏi. Cơ chừng đã xong xuôi cả. Trắt đã nói, ta cứ khởi sự, thế nào các ông ấy cũng biết, lại hẹn giờ giấc, như đinh đóng cột.\nBây giờ đến việc tung tin. Thổi hé ra cho người làng đi chợ, phao rằng nhà Cõi đã bắt được thằng kẻ cướp vào nhà ông lãnh Quang trốn về đây. Nó bị nhà Cõi gô cổ lại rồi. Tóm được đứa có tội tày đình phải truy nã thì được thưởng to, phen này nhà Cõi lên voi ngồi kiệu rồi. Câu chuyện kín đáo ghê thế, chỉ rỉ tai, đã loang ngay, càng được thêm thắt ly kỳ hơn.\nThằng bán dầu kẻ cướp ấy đã mấy lần vào rình nhà ông lãnh Quang. Nó biết ông lãnh Quang mới chém giáo thụ Cao nổi giặc, ở phủ Quảng, được thăng chức, được thưởng hàng chum bạc, lại được đổi ngay về Kẻ Chợ. Cả Kẻ Chợ đã ca dao chuyện nhà lãnh Quang làm tiệc khao, ăn cỗ, xem hát ròng rã mấy phiên chợ liền, khách tận Sơn Tây xuống nườm nượp. Nhà ấy thăng quan được về Kẻ Chợ mà. Chẳng phải chỉ vài chum tiền đâu mà cả cây bạc, cây vàng nữa. Thằng bán dầu mới hóa ra thằng kẻ cướp gan liền. Nhưng nó chưa tính hết nước. Lãnh Quang còn cao mưu hơn. Lọt vào mấy lần mà không quơ được cái váy rách, không dắt được một con trâu, lại còn suýt cụt đầu.\nThằng kẻ cướp trốn được sang sông toan lập bọn định làm mẻ nữa. Bị nhà Cõi vờ theo, đổ cho một trận rượu, thế là trói nghiến được. Phen này thì vợ chồng nhà thằng Cõi kiết xác sắp được ngồi vắt chân chữ ngũ, vuốt râu xốc váy mà ăn mấy đời chưa hết của.\nCâu chuyện đồn, được bàn tán râu ria thêm mãi. Trói rồi, đóng cũi rồi, đợi quan trên về giải đi thôi. Nhà Cõi đương gọi người khỏe, táo tợn đến vác thằng kẻ cướp sang Kẻ Chợ để lĩnh thưởng cho nhanh. Có mấy đám đến xin việc bị Cõi chê ỏng eo là: \"Ốm đói sắp chết\", thằng tù này dữ hơn ông ba mươi. Cái giả thổi đi, những người thật đến hỏi. Có người thợ cày lực lưỡng, bác Cõi bĩu môi: \"Ngữ mày chưa khiêng nổi cái cũi qua bờ ao làng\", rồi xua ra. Chuyện bịa, chuyện thật cứ tung lên thế.\nNhững đồn thổi xuống sông, sang chợ, mắm muối thêm mãi. Đến đỗi rồi người ta quá sợ, nhìn chỗ nào cũng thấy cướp, chỉ dám thầm thì sau bức vách, trong cột hàng nước, nấp vào cái mành mành buông sụp xuống, nhưng như thế cái hãi hùng lại càng lan nhanh. Cũng chỉ ghé tai, thật cũng chưa ai tò mò lởn vởn đến nhà Cõi xem thế nào. Cái nhà bác Cõi mưu mẹo tài ba nhường mấy mà lôi được quỷ sứ dưới địa ngục lên nhốt vào cũi. Xóm nhà Cõi rồi vắng teo, khác lệ thường trong làng, động một mảy, đám cãi nhau, người say rượu, người trẫm mình, con trâu chết, cứ lũ lượt kéo đi qua, kéo đến xem. Đằng này, bề ngoài dửng dưng như không, nhưng là sợ.\nMụ Cõi te tái hớt hải ngoài chợ về. Mụ nói bô bô từ cổng tán :\n- Cả chợ người ta nói dăng dăng nhà này sắp làm giặc, nuôi giặc chết lây đến cả con mẹ này đây, chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào.\nCõi ngọt nhạt :\n- Có gì đâu, nhà mày biết cả rồi. Cái cũi kia kìa...\n- Nó đồn các người định đi chọc tiết những ai... những ai... Đã bảo đừng dại...\n- Nhà mày dại thì mới nói thế.\n- Các người ăn phải bùa mê bả dột thì có. Rước cái cũi về... rồi thế này, thế này... Một đống tiền của chú ấy đấy, ở yên mà chén chú chén anh nào.\n- Chớ dông dài. Kín tiếng cái đã. Hôm nào đáo sự tôi sẽ nói cho mà nghe.\n- Chẳng nghe đứa nào. Cái hầu bao ấy, đưa đây không thì chẳng mấy lúc mà hết tong.\n- Hôm nọ, chú ấy đã bảo thế.\n- Hừm, sao chưa đưa. Đến phải đi báo quan cho trắng mắt ra rồi mới đưa chắc?\nCõi nổi cáu :\n- Mày mà nho nhoe, ông chặt cổ.\n- Rõ ở dưng không lành, ăn cơm không ăn, ăn...\nCó lúc, Cõi cũng toan nhỏ to bàn bạc với ả, như đã định thế. Nhưng Cõi không chịu được ả nói bẳn mà ả thì mở miệng lại xẵng lời. Đáng lẽ bàn chuyện cái hầu bao tiền, Cõi lại xông vào ục tới tấp. Mụ Cõi cấu xé lại, khóc hu hu. Lúc ấy Trắt đi đâu vắng.\nMột hôm, một cơ lính - chưa vào đến nơi đã có người chạy về báo lính quan tổng đốc ngoài Kẻ Chợ, đã tràn cả trên đê. Khắp cả làng nháo nhác sợ đên đỗi như những cái mắt tre cũng phải giương mắt ra như mắt người. Hơn ba mươi người lính, áo nâu dài, thắt lưng bo que, vác súng vác dáo, có ông suất đội cưỡi ngựa đeo thanh gươm - thật đấy là con dao bảy nước sơn then bọc vỏ đã tróc nham nhở mặt gỗ. Ngoài sông, gió cát đỏ xẫm lên cả cánh đồng, bụi lấm vó ngựa và chân người. Mấy cô con gái đi cấy chiêm không dám tiếc rẻ cắm rốn nốt tay mạ, hớt hải chạy núp vào bờ tre.\nBọn lính đến nhà lý trưởng, nhưng cả trương phiên khán thủ và tuần đinh cũng trốn tiệt từ bao giờ. Bao nhiêu năm lụt lội, loạn lạc, không biết cánh nào là kẻ cướp, là quân quan, chẳng đâu còn ra lệ luật, thể thống. Huống chi lại từ khi bên Sủi bị triệt hạ, đã thấy nhãn tiền. Cứ nghe có lính, thế là chẳng biết sao, hãy chạy đã. Các chánh lý, cụ tế chủ, cụ từ giữ đền cũng mất tăm. Con trâu, con chó theo người, cả xóm không một tiếng chó sủa, tiếng nghé ọ. Có lẽ chỉ còn mỗi nhà Cõi ở lại.\nKhông biết đâu đã mách, lính xồng xộc vào thẳng nhà Cõi. Người người hốc hác, từ mặt xuống hai ống chân, đỏ xạm, loang lổ từng tảng cát rơi xuống. Ai nấy đói vàng mắt, lã người ra rồi, không lê bước được nữa. Ông suất đội cũng mặc cái áo nâu da bò, khác lính có dải thắt lưng điều bạc nhờ nhệch, đầu quấn vòng khăn lượt che cái búi tó. Ông vẫn ngồi trên ngựa, nhưng trông cũng khướt lắm. Con ngựa còm nhom, lưng trần, cái yên lót bằng mảnh mo cau, với hai dẻ thừng làm cương. Chẳng biết bắt được ngựa làng nào, hay vì phải đi ngoắt ngéo nhiều xóm tìm người tìm chỗ, con ngựa thở phì phì, mõm rớt rãi rỏ giọt.\nÔng suất đội cất tiếng đói thuốc phiện khàn khàn :\n- Ới ới! Đinh Ất, đinh Giáp, đinh Bính, nhà này nhà đinh nào? Có đứa nào ở nhà không?\nCõi chạy ra, hai tay chắp lòng khòng.\n- Bẩm con là đinh Cõi.\n- A, mày là thằng Cõi.\n- Con là thằng Cõi.\n- Có lệnh về hạch tội đinh Cõi cho ra nhẽ. Phải mày là thằng Cõi?\n- Bẩm quan...\n- Quan đem lệnh trên truy nã thằng bán dầu có tội cướp nhà quan. Có phải mày chứa chấp thằng bán dầu?\n- Con không biết thằng bán dầu nào. Con chỉ biết con bắt được một thằng ăn cướp. Mời quan vào nhận diện nó.\nSuất đội quay đầu lại. Những người lính đương đứng, ngồi xổm lố nhố, chống cái mác, khẩu súng dài ngoẵng, ai cũng còn khượt ra hơn thế. Cũng chưa ai biết mặt mũi thằng bán dầu, thằng kẻ cướp thế nào.\n- Trói đinh Cõi lại. Quân ta đóng lại ở nhà nó, nhà nó đây rồi.\nThấy bảo \"nhà nó đây, đóng lại\", cả lũ sướng ngã ngồi ra. Cố quá rồi, cái xương sống không còn sức đỡ được cái lưng nữa. Có người rút cuộn dây mây quàng ở cổ con ngựa ra.\n- Ô hay, sao các quan trói tôi?\n- Trói cho nghiêm lệnh, rồi mới tra hỏi. Mày chưa biết cửa quan bao giờ a?\nNgười lính đương trói tay Cõi, rỉ tai :\n- Bảo chạy thuốc phiện về cho quan thì mày được nới tay. Mau lên.\nÔng suất đội lại hét :\n- Tên Cõi!\n- Dạ.\n- Quan nghỉ ở nhà mày. Quân đóng ở nhà mày. Cơm rượu, thuốc hút bưng ra. Không có thì chúng mày giải nó đi tìm...\n- Bẩm mấy phiên chợ rồi con ở nhà canh tù, con phải nhịn đói. Làng này sợ có giặc, sợ các quan về. Chạy hết cả rồi.\n- Làm cái thòng lọng, buộc cổ đinh Cõi lại, giải đi tìm người về.\nChẳng ai nhúc nhích. Một người xách con dao vào.\n- Cho chúng con đem cắt tiết thằng này thì mới ra được rượu thịt.\nCái lệ quan quân đi việc công ở đâu cũng bắt đầu dọa một vài câu từa tựa thế thì rồi mới tòi cơm rượu ra được. Cõi quì xuống vái ông suất đội. Rồi cứ hai tay bị trói, Cõi lật đật ra ngõ.\n- Thằng kia định trốn à?\n- Tôi đi réo vợ tôi về tìm rượu, tìm thuốc cho các quan. Nó biết các chỗ người ta trốn.\nÔng suất đội nói :\n- Không được cho đàn bà làm việc quan. Mà đinh Cõi, mày phải đứng yên, quan hỏi đã. Thằng kẻ cướp bán dầu đâu? Có mấy đứa?\n- Có mỗi nó. Con đã cũi nó đằng sau nhà.\n- Đem ra đây.\nCõi dẫn bọn lính ra sau nhà. Ngoài vườn, dưới gốc cây ổi, cái cũi cao lù lù như cái bẫy hổ, bốn chân lênh khênh bằng cây vầu đực. Ở trong, một người cởi trần nằm ngửa, đóng chiếc khố một, mình mẩy thâm tím bê bết bùn, một bên bắp đùi buộc cái bẹ chuối. Tưởng như con hổ mắc bẫy. Lại trông ra mảnh vườn hoang, cỏ tranh mọc lút đầu, ngỡ là vẫn có cánh cướp nấp trong ấy cả bọn hoảng hốt khiêng vội cái cũi ra sân trước.\n- Làm sao chân nó phải bọc thế kia?\n- Bẩm phải đánh nhau tợn mới bắt được nó. Tôi đâm một mũi thùng lùng. Không biết nó có gãy xương đùi hay không, nhưng máu nó ra nhiều quá, nhỡ nó mà chết thì tôi buột mất tiền thưởng, tôi phải lấy bẹ chuối buộc cho nó cầm máu lại.\nCâu rỉ tai lúc nãy của người lính mà đúng, ông suất đội dịu giọng, nói khác :\n- Thế là được. Bây giờ cho hai thằng dẫn nó đi gọi vợ con nó về.\nCõi ra đầu ngõ, gọi ới ới một lúc, chẳng thấy bóng mụ vợ đâu. Nó trốn chỗ nào, chẳng biết. Thế là cái việc định trói nó một chỗ chưa biết ra sao. Mà cũng chẳng biết rõ hôm nay hay mai bọn lính mới về Kẻ Chợ. Thường thế này, quân quan còn nằm hạch sách. Cõi ngước nhìn trời, mai hay hôm nay sao cho sang đến Kẻ Chợ hôm này thì vừa nhọ mặt người, cái hẹn của bác Cả lúc chập choạng tối mà.\nHai người lính lại lôi Cõi vào. Đã thấy một lũ, ông khán thủ với bọn tuần phiên lố nhố trong ngõ. Biết lính về bắt thằng kẻ cướp ở nhà Cõi thì các chức sự trong làng lại mò ra. Chẳng phải vì mẫn cán, đợi việc, mà ai cũng đều thuộc trò vè về để ghé gẩm, ăn ghẹ. Cứ rêu rao không có, chết đói đến nơi, đi ăn mày cả làng rồi. Nhưng làng bỏ hoang thì người ta đốt làng mất. Ông lý lại sai gõ vào mỗi đinh, rồi cũng biện được đủ. Người đến làm cỗ, đến chực ăn cỗ, người vào xem, chen chúc đông dần. Những người lính xúc xạo đi các nhà bắt lợn. Thoáng thấy trong chuồng hay ở xó vườn có lợn, bọn ấy nhanh như chớp, đuổi túm hai cẳng sau, xách ngược lên. Tiếng lợn eng éc vang động. Những con chó nghe lợn kêu, chạy mất dạng. Rồi chẳng mấy lúc, đã đủ các thứ, gạo nếp thổi xôi, cả liên muối còn rượu thì từng hũ sành, lại bàn đèn và những cóng những ngao thuốc phiện. Chỉ không có khách khứa dập dìu, còn thì chẳng khác đám khao vọng quan cửu, quan bát hàng tổng. Hôm nào tính tráng kéo đi rồi, phờ phạc đến cả những cây rơm, bụi tre.\nÔng suất đội đã nằm dài bên bàn đèn, quên cả hạch cái thằng Cõi lúc nãy nói láo là cả làng trốn tiệt. Chưa đủ mâm đã ngả. Ở lại hôm nay, hay còn mấy ngày nữa. Cuộc chén lu bù đến chặp tối, rồi cả đêm. Việc khẩn, ông suất đội cũng không dám dùng dắng, hôm sau, làm bữa sáng xong quân quan trảy. Tuần đinh, trai tráng được ăn ké nhưng cũng một phen khó nhọc, phục dịch rồi lại phải khiêng cũi tù ra tận bờ sông. Cõi cũng bị trói tay, thêm cái gông ở cổ rồi đẩy theo xuống thuyền.\nCái cũi thằng tù buộc gò bốn cọc giữa chiếc thuyền tam bản. Có lính canh bốn phía. Một chiếc nan kéo con ngựa của ông suất đội bơi theo. Một lúc, con ngựa sặc nước, giằng đứt thừng. Ngựa chìm vào làn sóng, không biết nó bơi được hay chết đuối đâu. Chỉ có ông suất đội trên nan, ngẩn ngơ nhìn theo. Cõi cũng phải ngồi ngay cạnh cũi. Hai tay trói, cái gông sáu khấc đóng khít cổ, gần tắc thở.\nChẳng sốt ruột sớm tối nữa. Có lo cũng bằng khống, cốt sao về được Kẻ Chợ lúc chặp tối, mà liệu. Mặt trời mới xế đỉnh đầu, đã vàng vàng chiều. Những năm ấy, vào mùa này, gió đùng đùng như bão cát. Trời đất vẩn vụ đỏ lừng lững. Đoàn thuyền rào rạt trôi theo dòng. Tưởng như sắp tối, thế là trong bụng lại như có lửa đốt.\nĐám lính dưới các thuyền lên, xúm xít như đàn kiến tha mồi, bò về dinh ông lãnh Quang. Cái cũi khênh cao giữa bọn, đằng sau một dây thừng đay lôi theo một người cởi trần, gông đóng sáu then, những tay tre mới đẵn còn xanh ngắt. Đám rước lạ mắt, kinh hãi đến thế những người đi chợ chiều cũng chẳng ai dám ngước mắt, cả gồng gánh tránh dạt ra ven đường. Lơ láo rồi biết thế nào, nhỡ cái thì chỉ có oan gia. Ngày nào ở Kẻ Chợ chẳng có đám đánh người, giết người, những cũi, những rọ, những tù dây gông đóng tróng mạng, từ trong thành ra, dưới sông lên và ở các cổng nhà quan lãnh, quan chưởng đem đi trôi sông, đem chôn sống, đem vùi xác ngoài tha ma.\nÁn này đưa về xử giữa sân nhà quan lãnh. Bấy giờ chưa hẳn tối. Cái sân gạch bát tràng đỏ xẫm như máu khô, thoạt nhìn đã hãi. Dinh cơ vẫn thế, nhưng chằng chịt thêm những búi chông trà, những quãng hào được đào rộng ra. Trên mặt nước, không biết vì mưa rào cá rạch, hàng đàn rô, trê lúc nhúc ngoi lên ăn nổi như tép nhảy ngoài sông Tô Lịch, ở mỗi góc cất lên một cái lều vó. Từng bọn lính vừa canh gác vừa kéo cá, kiếm cái ăn cái để. Lính ở nhà này vừa gánh việc quan, vừa cày cuốc, đánh cá. Người nào cũng vậy, cả hạn ở lính, các nhà các làng cứ từng vụ theo lệ, quảy thóc, đeo xống áo chăn chiếu lên đóng lương lính thì quản gia nhà quan nhận đem cất vào kho. Không ai được biết mặt lương xoạn của làng, của nhà nộp thế nào. Ông lãnh coi đấy là bổng nhà quan, còn lính thì cày ruộng, làm vườn, nấu nước mắm cáy \"được quan cho kiếm lấy mà ăn, sướng ưỡn lưng ra rồi\" quan lãnh bảo thế, chẳng ai dám ho he.\nCái sân lên nhà trên trước kia sân đất, lát gạch xong thì vừa dịp tiệc khao. Lên quan lãnh rồi quan chưởng, quan bố đến nơi, như sân đình làng, chẳng khác công đường dinh tổng trấn, tổng đốc. Ở giữa uy nghi án thư sơn son thếp vàng, hai bên giá cắm hươm vàng bát bửu. Đằng kia, một đống cùm, xích, bàn tra gông, gậy song, thừng đay, dây mây trói... Người có việc vào đi nem nép, những viên gạch xẫm gan gà rợn cả mắt.\nĐã chiều rồi mà người đầy sân, đám này quan trọng quan xử gấp đây. Mấy người xách những đĩa dầu ra treo sẵn dọc hiên, sắp tối đến nơi, Cõi bỗng dưng đỡ nóng ruột, mà lại mong ngóng, lo lo. Bọn lính điếu đóm, lính canh, lính chạy thư đã ngồi đứng trực quanh. Ông lục khăn lượt quấn gấp nếp áo dài the trong lót áo lụa bạch, không biết cái quản bút tháp bút hay cái xiên giữ búi tóc cài trên gáy, các ông đã ra ngồi sau án thư làm vì, bên sập ông chánh lãnh binh. Trên sập đầu hè trải chiếu hoa, ông lãnh áo nhiễu cẩm, xếp bằng tròn bệ vệ. Một người lính cắp cái điếu ống khảm, xe trúc cong vắt đặt xuống. Một lính khác đứng nghiêm, cầm cái quạt lông, chốc lại phảy làm phép một cái.\nLãnh Quang khệnh khạng xuống sân, bước lại, nhìn cái cũi, cười khà khà rồi nói :\n- Thằng bán dầu, tao tưởng mày trốn lên giời rồi. Lần này thì mày lên giời thật, con ơi!\nLãnh Quang đứng ra trước mặt Cõi, thản nhiên hỏi một câu rùng rợn :\n- Mày nhìn xem tao tháo cũi có đúng cái mộng của mày không?\nLãnh Quang xoe ống tay áo đến khuỷu, nắm hai cọc cũi, lay ngược một cái. Cả cái cũi vững chắc bỗng tung ra từng thanh. Y như hôm trước Cõi với Trắt đã kỳ khu lắp những cái mộc chệch. Việc xảy ra như chớp, Cõi hốt hoảng không kịp kinh ngạc. Cõi vẫn đứng đây, cái gông khoác vào chiếc cọc tre, chẹt hai con mắt trố ra xanh lè mắt mèo trước cái cũi vỡ.\nLãnh Quang lủi lên thềm, hét dồn dập :\n- Chặt chân, chặt đến ngang bẹn, bắt nó hóa ra con ếch nhảy chồm chồm cho ông xem.\nTrắt đã choàng dậy. Nhưng những ngọn xà mâu dằn Trắt ra. Hai nút thừng trói cổ tay Trắt buộc mẹo đã đứt tung. Mảnh bẹ chuối tuột hết, Trắt lại chồm lên chộp cái chuôi con dao bầu. Vừa lúc, cả chục mũi giáo đâm xọc vào hai vế đùi. Trắt lại ngã ngửa xuống, máu phun ồng ộc ra như nước cống. Đã đứng sẵn, một người lính vung cái rìu. Hai vế đùi đứt đỏi, cái đầu gối quắp lại, hai bàn chân giãy như đuôi con thạch sùng đứt. Trắt lăn lộn trong vũng máu, trên các mảnh cũi vỡ.\nLãnh Quang ra lệnh từng câu như từng nhát búa.\n- Cho nó mấy mũi giáo vào cổ. Quấn chiếu lại, khiêng ra ngoài tha ma. Đâm cho nó chết hẳn rồi mới chôn.\nCác hiệu lệnh răm rắp như đã định đâu vào đấy. Cái chiếu mộc trải sẵn trên sân, Trắt bị hất lăn vào đấy. Bọn lính xúm lại, buộc túm hai đầu. Rồi cứ thế, thằng đâm vào chiếu, như đánh cồng, hai thằng khiêng ra cổng. Rơi xuống những thanh củi, một bên căng chân thò ra lỗ chiếu thủng, máu chảy đỏ đòng đọc.\nChiếc chiếu bó người chết đã đem đi khuất rồi, cả cái sân như còn khiếp đảm. Mới vàng mặt trời mà những người lính đã bật bùi nhùi đi châm bấc các đĩa dầu.\nKhông biết chúng nó luống cuống quên cả, hay cái lệ ông lãnh làm việc quan buổi chiều phải lên đèn sớm thế.\nThấy ánh lửa, Cõi như tỉnh hơn. Cũng đã thành thói tục, chiều đến thì gia nhân dọn mâm rượu ra đặt giữa sập. Khuỷu tay lãnh Quang vẫn xắn như lúc nãy bây giờ chống lên mặt chiếc gối xếp da bò thuộc, tay nâng chén rượu.\n- Thằng kia, quỳ, quỳ xuống!\nCõi vẫn đứng trơ. Cõi chỉ cong chân lại, cũng không bỏ chân được. Cái gông tre kéo cổ lên, cổ khò khè như sắp tắt.\n- Bướng, không quỳ hả?\nLãnh Quang cầm cái tay thước, rướn người ra, quật vào đầu gối Cõi. Cõi vẫn không nhúc nhích. Lãnh Quang mới nhận ra.\n- À thế thì cho mày bình thân.\nRồi lãnh Quang hỏi :\n- Tên mày là Mỗ, là Giáp, là Ất...\nMắt Cõi vẫn trợn.\n- Những đứa nào xui chúng mày đi giết tao? Đứa nào?\nBè đảng giặc Quát còn bao nhiêu tên, chúng nó ẩn náu, trốn tránh những đâu, khai ra.\nKhông phải lãnh Quang chỉ cáu tiết mà bực quá đến lú lẫn. Không trông thấy cái gông xiết như treo cả hai con mắt Cõi lên, không chớp được. Lãnh Quang lè nhè, cảu nhảu :\n- À.... bè đảng giặc Quát sai chúng mày về cắt đầu tao...\nCõi nhìn như cứng mắt lại, không chớp. \"Ra gan mấy thì rồi mày cũng toi thôi, con ạ\". Lãnh Quang làu bàu. Rồi ngoảnh mặt, hét to :\n- Con nặc nô đâu, ra quan thưởng.\nMụ Cõi ở trong sân bước ra. Đúng mụ Cõi, vẫn bước lanh chanh, cẳng dài sắp xoạc váy, như mọi khi ở nhà. Cái váy đụp dày mo nang nhuộm vỏ dà đã bạc màu. Vẫn cái váy ấy. Bàn chân to như bàn cuốc đi vớt bèo thuê cho người ta nuôi lợn, không cần giã, chân chỉ vò mấy nhát, bèo đã nát như tương đâm. Mụ thế kia, mà Cõi ngỡ không phải. Hai mắt Cõi vẫn không cúp xuống được nhưng mặt Cõi xám như nhuộm chàm. Cơ sự này tưởng không bao giờ ra thế, mà ra thế. Thật mụ không?\nKhông biết lãnh Quang đã nguôi ngoai cạn mấy chén rượu rồi, lão nhẹ nhàng hỏi :\n- Phải đinh Cõi chồng mày không?\n- Bẩm quan, phải.\n- Nó câm hả?\n- Mọi khi nó vẫn chửi đánh con cả ngày.\nNghe tiếng the thé giọng đồng trũng mới biết đích con tuyệt tự ấy.\n- Bẩm quan...\n- Quan hỏi mới được nói.\n- Bẩm... bẩm...\n- Đứa nào xiên cho nó một mũi dao vào họng bắt nó im.\nLãnh Quang cầm cái gối gỗ mít to bằng cái tráp đen quăng thẳng vào mặt mụ Cõi. Máu mũi mụ tóe ra. Mụ khụy xuống, vái lia lịa :\n- Bẩm...\n- Câm ngay! Đứng lên.\nMụ đứng, chắp tay. Miệng rì rầm như thường ngày hay lẩm bẩm thế.\n- Mày đã có công giết chồng thì bây giờ quan thưởng. Chúng mày đem một cái rọ ra đây.\nHai người lính bê cái rọ tre to cao bằng hai cái chũm úp cá cộp lại, đặt giữa sân.\n- Quan thưởng cho mày được ngồi trong cái rọ này rồi bay đâu, đem nó đi trôi sông.\n- Bẩm... bẩm...\nKhông biết mụ định nói câu gì, nhưng một tiếng lãnh Quang quát như sét đánh đã đóng đinh miệng mụ lại. Lập tức, những người lính quấn tóc mụ, ấn thốc cả người vào cái rọ rồi rút cái thừng buộc túm lại. Một chiếc đòn ống xiên qua mắt rọ, hai người khiêng bổng lên.\n- Buộc đá! Buộc ở đây cho quan nhìn đã. Buộc đá cho nó chìm được mát mẻ ngay.\nMụ Cõi lên cơn hốt hoảng rồ dại. Mụ víu, hai bàn tay cứa vào nan rọ chảy máu lõa lợi, mụ gào inh ỏi :\n- Ối giời ôi, sao thế này, sao thế này...\nCái rọ đã ra khỏi cổng. Những người lấp ló ngoài bức tường đất, các gia nhân đầy tớ vẫn hay ra xem xử kiện, bỗng chạy sạch. Không biết người ta sợ kẻ phải đi chết hay họ đã táo gan đuổi theo ra bến xem bỏ xuống sông cái rọ con quạ mổ.\nTrong sân, vẫn mọi người chức việc như lúc nãy, nhưng im vắng hồ như con dơi bay qua cũng nghe tiếng gió cánh. Mắt Cõi vẫn trợn ngược thế. Đầu gối Cõi rúm cong lên như người chết treo. Nhưng cái góc gông vẫn ngáng vào cọc. Tiếng thở hắt dồn dập, cặt cặt.\nTưởng nốc rượu nhiều thế đã làm lãnh Quang say khướt thế mà vẫn tỉnh. Mới nhìn ra, không phải nó hỗn, Không phải nó câm. Cái gông đương thít cổ lại, thằng tù chết đến nơi. Lãnh Quang quắc mắt :\n- Hạ gông xuống cho nó thở!\nRồi lại nhớ ra.\n- Đứa nào gông nó?\nSuất đội lập cập :\n- Bẩm...\n- Ông suất hả? Lại đây.\nSuất đội hí hửng tưởng sắp có thưởng.\n- Ông gông nó nghẹt cổ thế thì đến bố ông cũng chết. Mà nó chết thì mày mang tội thay. Tao thử gông mày xem.\nLãnh Quang nhặt cái gông cạnh đấy quàng vào cổ suất đội, đã tụt cả giải khăn lượt xuống. Lãnh Quang đóng khấc chốt gông sâu nhất, chẹt cổ. Suất đội kêu ặc ặc như đứt lưỡi, lật đật quỳ mọp xuống.\nLãnh Quang cười hì hì :\n- Mới dứ một cái mà đã vãi cứt ra quần rồi.\nLãnh Quang tháo bật cái chốt gông. Suất đội đứng dậy, thở hổn hển.\nLãnh Quang rót một chén tống rượu.\n- Ông cũng đáng tội chết, cái tội để con ngựa chết đuối, nhưng hãy gác đấy. Thưởng cho ông suất một chén.\nMột mình Lãnh Quang ngồi nhắm rượu. Chốc lại nghĩ ra một trò quỷ quái như vừa rồi. Lúc ấy, chẳng biết nắng nhạt vào đến giọt gianh hay ánh trăng non, hay dãy quang đèn đã sáng lung lay. Không! có việc cũng không ai dám nhúc nhích. Những mũi giáo, những mặt dao bảy sáng trắng. Mọi người phục dịch đã thuộc tính lão, chẳng cứ rượu vào mới thất thường. Có khi chỉ khác mắt, chỉ muốn nghe tiếng roi, lãnh Quang cũng bắt một thằng lính nằm thẳng cẳng, nọc ra đánh vun vút hàng chục roi. Không dám kêu, nếu lạy van thì còn quất cho đến phải cấm kêu rên mới thôi.\nLãnh Quang gật gù :\n- Thằng kia!\nCõi đương ngồi sụp xuống từ lúc được tháo gông, nghe gọi, đứng câm như cái cột.\nLãnh Quang nói :\n- Ừ, mày không phải cái giống phản phúc thì mày biết nghĩ. Tao cho mày hết đêm nay phải nghĩ cho ra bè đảng mày là những đứa nào, ở đâu. Sáng mai, ông cho bắc sẵn cái nồi ba mươi ở góc sân, mày mà không phun ra đủ ngọn ngành đầu đuôi thì ông xẻo thịt, ông luộc, ông nhắm rượu sớm. Mày nói thì sống, không nói thì chết, thế thôi. Hỏi chúng nó ở đây mà xem, ông đã nhắm tim, gan, bồ dục luộc, toàn những thứ bổ, đã bao nhiêu là thằng, ở cái sân này tao đã ăn thịt cả trăm thằng chứ không ít đâu. Bây giờ đến lượt mày. Nhớ đấy, cứ nhớ con vợ mày đem bán rẻ mày như bán con chó, tao đã giết nỏ như giết con chó, thì mày phải mang ơn tao.\nVừa tối, Cõi bị trói tay, dắt ra sau vườn - cái vườn nhốt tù của lãnh Quang. Ở đấy, sẵn một đống rọ. Cõi phải đẩy vào một cái, mỗi rọ đựng một tù, treo lên cành nhãn.\nTrên cao lơ lửng, Cõi nằm vật xuống mặt nan. Người rời rã như sắp chết. Chốc chốc lại giật mình. Mọi việc một ngày hôm nay nhanh như bóng nắng, không kịp nhớ. Thế là Trắt chết rồi. Đáng nhẽ Cõi chết mới phải. Oan khuất quá! Ai biết đâu chữ ngờ. Tưởng nó chỉ là cái đứa ngồi lê đôi mách, cái tật to nhất chỉ là thèm ăn vặt. Thế mà mày đã bán cả tao hòng được miếng ngon. Lạy thầy, cũng tưởng ngày một ngày hai thế mà hóa ra mang lụy một đời.\nBối rối thế, quên cả cái hẹn. Mà nhớ cũng chẳng để làm gì. Trắt không còn nữa. Ai biết thằng Cõi. Mà bây giờ nằm trong cái lồng treo trên cây vườn hoang. Đành mai chết nốt thôi.\nỞ trên chòi canh nghe tiếng trống rồi tiếng mõ báo vào thời khắc đêm hôm. Tiếng trống, tiếng mõ như vây bốn phía tường. Đàn dơi sà xuống lạt xạt trong vòm nhãn. Chưa phải mùa, nhãn còn xanh mắt mèo, đàn dơi đói sục quăng quả vào đêm như tối giữa rừng.\nMỗi khoảng trống canh, tiếng mõ khắc khoải, rời rạc. Dinh cơ ông lãnh Quang cũng chẳng khác doanh trại trong thành, lính võ sanh đi rẻo cẩn mật thâu đêm.\nMới dứt hai đợt mõ, các phường xung quanh đã im lặng như tờ. Rồi lần lượt, mõ sang canh, trống tàn canh. Những tiếng cầm canh trong thành và các dinh thự cũng đánh hiệu cho các phường, các làng xa gần. Người già thức giấc, đun nước uống theo tiếng mõ. Người chợ đường xa, người làm đồng dậy thổi cơm sớm, liệu mà nghe trống canh mấy.\nNhưng lạ, đêm ấy trong dinh lãnh Quang chỉ văng vẳng có một đợt mõ, rồi im. Thoạt đầu, phường xã chẳng để ý, vì cũng chưa đến nửa đèm, vả chăng tiếng trống tiếng mõ quanh năm suốt đời cũng quen tai như nghe con dê ri rỉ thâu đêm. Lúc ấy đã khuya, bỗng đằng dinh cơ nhà ông lãnh Quang bừng lên. Người chạy ra đầu nhà nhìn, không nghe tiếng nổ mắt nứa mắt vầu, không phải đám cháy. Nhưng mà cả hai tòa nhà ngói bát vần sáng rõ, các gờ tường, những chuôi vồ đấu mái. Chắc có đám cướp đã lọt vào dinh ông lãnh Quang. Vừa xử cướp chặp tối, bây giờ lại bị cướp Cướp quanh Kẻ Chợ ra vào như chợ không người chẳng biết trên đầu có ai. Cướp thật, cướp đã bật hồng rồi. Bùi nhùi lên cả trăm cây đuốc nỏ sáng như ban ngày. Nhưng bốn bên chưa nghe đâu nổi ngũ liên hiệu ốc, điệu tù và. Cứ băn khoăn mãi sao đuốc đóm sáng ra tận chân tre, mà tuyệt nhiên không một tiếng kêu gào, hò hét nhốn nháo, vẫn tiếng giun dế xung quanh than vãn ri rỉ như nước rãnh chảy.\nĐấy chính đám cướp bến Bỏi đã đến theo hẹn của bác Cả với Trắt. Đông lắm, hầu như các tay chèo dưới vạn lên. Bác Cả bảo đêm nay ta xuống hạ thành mà. Một thành chứ mấy thành Kẻ Chợ cũng chỉ vài mồi lửa. Cái hẹn cứu nhau, một lời nói nặng như đá đeo, như ăn thề. Quả là người ngoài Bỏi đã vào được nhà lãnh Quang lúc nhập nhoạng tối. Cho quân vào lúc ấy cũng là ý tứ đã chín. Bấy giờ ngoài đường còn lác đác người, lại vào lúc đó, khó nhận. Các nhà hàng phố đương lên cửa, cổng phường sắp đóng, tuần tráng chưa cắt canh, các làng quanh đã ra họp chợ đuổi ngoài đầu ô. Người vào người ra, con trâu và gồng gánh, bó củi, rổ rau vào cổng làng. Dinh nhà lãnh Quang ngay đấy, nửa làng nửa phố, cũng nhộn nhịp trước cổng một quang cảnh ấy.\nNhững người bến Bỏi bất ngờ tỏa ra, rạt dần vào bốn phía bờ ô rô. Vào được trong cây rồi, người hóa con thằn lằn, con mối bò rướn chân dưới gốc cây rồi leo lên tường, rồi lại trở xuống nước bơi đứng qua hào. Người đàng sông, ở nước còn thạo hơn đi trên bộ, qua mặt hào từng búi chông chà như lùm cây. Lướt nhẹ phơ con thuổng luồng, chẳng mũi chông nào bợn được vào mình. Những con dao và cây đình liệu bọc lá chuối giơ lên đầu, đẩy trước mặt. Cả mấy chục con người đã lọt vào quanh nhà.\nKhi ấy đám xử đã xong, trên sân không còn ai.\nPhút chốc, biến bong khắp nơi. Trên chòi canh, người lính đương giơ các dùi mõ, bị khóa tay trói vào cột lều. Miệng vừa há hốc đã bị một nắm bùi nhùi bẹ cọ luyện với một cục sơn then tống vào miệng, không đụng đậy được cả lưỡi. Các chòi canh trên tường, trên cổng đã cùng một lúc, im bặt. Trên gian chính giữa nhà, ở buồng toàn đàn bà con gái, xuống nhà ngang các gian bếp, gian lính, mấy chục con người đều phải trói như lợn, một miếng râu cọ sơn then trám vào tận họng. Những con chó ngao sợ mùi bả, nhưng lẩn không kịp. Trong xó luồn, gầm giường, ngoài bờ rào, đã bị tròng lọng bốn chân, chó giãy lên mấy cái, đã chết thè lưỡi. Chỉ phút chốc, một vùng im phăng phắc.\nNhưng tìm đâu cũng không thấy Trắt. Phá khóa cả dãy cửa kho, tường nhà giam, cũng không thấy. Khốn nỗi, chưa ai tường mặt lãnh Quang. Lại tối như hũ nút mà chưa dám động tay bật hồng. Mọi người xô ra giữa sân, bác Cả vẫn đứng đấy từ lúc mới vào, chỗ ấy nắm được động tĩnh nhà trên nhà dưới.\n- Thấy thằng Trắt chưa?\n- Không thấy.\n- Bắt được lãnh Quang chưa?\n- Chẳng biết đứa nào là lãnh Quang.\n- Thế thì khốn rồi.\nBác Cả rít răng :\n- Dẫn những đứa đã khóa mõm đi từng nhà.\nDường như đêm vẫn im ắng, nhưng trong đầu mỗi người thì căng như sợi thừng néo. Đêm càng tối càng thấp thỏm. Chốc chốc, mấy bóng người lại tất tả qua trước bác Cả.\n- Bắt được chưa?\nNhững đứa đi nhận mặt vừa rập đầu lạy vừa lắc. Trông mẽ cũng chẳng đứa nào ra dáng thằng quan.\n- Lại tìm nữa!\n- Bác Cả cứ cho lệnh không chỉ ra mặt lãnh Quang thì chém hết cả nhà. Có thế mới được!\nBác Cả lắc đầu.\n- Không được.\n- Tối quá, sờ vào mặt cũng không biết!\nBác Cả nói :\n- Bật hồng lên. Bắt được thì giải ngay thằng lãnh Quang về đây.\nRồi chợt nhớ :\n- Tìm cho được thằng Trắt!\nTrong dinh lãnh Quang lúc nãy sáng bốn phía, là như thế.\nNhững người bị trói lại phải lôi đi nhận mặt. Nhưng ai cũng chỉ lắc đầu. Vào các buồng vợ cả vợ bé, đến cả chục người đàn bà cũng cúi đầu lạy, đổ nước mắt ra. Lại khua ngọn dáo vào xó nhà, dưới gầm giường, cũng chẳng đụng cái gì. Không lẽ lãnh Quang đã trốn được cũng chẳng thể chui ra kịp, ra đăng nào. mà tuyệt nhiên không thấy, cả thằng Trắt cũng mất bóng.\nCó những tiếng rú hồng hộc như chọc tiết lợn ngoài vườn. Những bó đuốc được nhảo ra, soi ngửa lên cây. Đám dơi ào ào bay ra. Nhiều những cái rọ treo, trong rọ có người cựa quậy, rên hừ hừ.\n- Người phải không?\n- Người... Người...\n- Phải tội treo lên cây à?\nCó tiếng hỏi lại :\n- ... Các ông... bên Bỏi phải không?\n- Bỏi đây. Thằng Trắt đấy à?\nTíu tít những tiếng hỏi lên :\n- Thằng Trắt đấy à? Lãnh Quang bắt mày bỏ rọ, Trắt!\n- Không.\nMọi người lúng túng. Tiếng khóc rưng rức.\n- Thì đem nó xuống hẵng hỏi.\nBác Cả đã vào vườn. Bác cả hỏi vào cái rọ vừa được cắt dây buộc, hạ trên mặt đất.\n- Thằng Trắt đâu?\n- Thằng Trắt chết rồi.\n- Mày là thằng nào?\n- Bẩm, tôi là thằng Cõi.\n- A! Cõi đồng môn thằng Trắt?\n- Vâng.\nNgay lúc ấy, tất cả các rọ người treo trên cây đều được cắt xuống, giứt lạt buộc hom rọ. Có người không đứng lên được, quềnh quàng bò ra. Cõi ngã phục xuống, hai tay víu vào cái tay thước bác cả Bỏi đương chống xuống. Cõi chưa biết mặt bác Cả. Nhưng trông bộ râu ba chòm của bác ấy và bao nhiêu chuyện đêm trước Trắt đã kể. Bây giờ thành nước mắt cả. Cõi khóc rống lên. Bác Cả quát :\n- Không phải lúc vãi nước đái mắt ra. Im ngay!\n- Lạy quan...\nHỏi khắp các người tù vừa được cứu ra khỏi rọ.\n- Có biết mặt thằng lãnh Quang không?\n- Có, có...\n- Đưa đi bắt thằng lãnh Quang.\n- Lãnh Quang... Lãnh Quang...\n- Đi, đi ngay.\nBác Cả nói :\n- Một thằng Cõi đi thôi. Tất cả ở lại đây. Lúc nào chúng tao về thì cũng tha cho chúng mày về!\nCõi đứng lên, lẩy bẩy.\n- Cõng nó đi. Vào từng gian, nhìn mặt từng đứa.\nLát sau, cả bọn đã ra tụ tập trước sân. Cõi chống cái gậy tre.\n- Thế nào?\n- Không thấy đâu.\n- Có thật mày đã tường mặt nó chưa?\n- Con biết rồi mà. Không thấy đâu, không thấy đâu cả. Con đã bảo khua vào các gậm giường, lại dò bụi cây, trong chum bể nước.\n- Quái nhỉ?\nBác cả Bỏi nhăn trán, hất chòm râu xõa vai, lặng đi một khắc, rồi nhìn lên :\n- Sao nhạt thế kia, sang canh rồi. Không thể nấn ná được. Đành vậy.\nMột người nói :\n- Cho đốt cả mấy tòa nhà này. Mỗi mái một mồi lửa thì xong.\nCó khi thằng lãnh Quang trốn chui trong mái nhà phải chết cháy.\n- Cháy nhà ra mặt chuột!\n- Mỗi cái bùi nhùi một mái!\n- Đốt, đốt hết đi!\nBác Cả nghiêm mặt, giơ tay thước.\n- Không, không được! Chưa biết thằng lãnh Quang có chết hay không, nhưng chết cả trăm người đương phải trói trong ấy. Thôi, không nên việc thì về.\nTất cả đi dòng dài, chập chờn, lẳng lặng ra đằng cổng. Những cây đình liệu tắt rụi rồi. Trời quang, chỉ có đốm sao li ti, nhưng những người đã quen đi đêm không cần biết sáng biết tối. Đã ra đến ngã ba bờ hào. Phía ngoài cổng vẫn tanh bành, trống hốc, im ỉm. Hai người lính gác trên chòi bị trói đứng cả đêm, không biết chúng nó lả đầu ra ngủ hay đã chết nghẹt. Cái tai bác Cả như có thần nghe xuống hào nước. Bác dừng lại, hỏi khẽ :\n- Đã có đứa nào xuống soát các nhà bè chưa? Nghe tiếng sột soạt, xỉa giáo vào mà hỏi.\nTiếng nói đêm, ngay bờ nước, nhỏ mấy cũng vang rõ mồn một. Dưới hào, nghe động vó, cái cần gọng vó nhúc nhích. Một bóng người lom khom kéo cái thừng vó bè, nói lên :\n- Lạy các quan. Tôi là thằng kéo vó. Các quan đừng...\n- Thằng Cõi đâu, chúng mày xuống tận nơi.\nCõi bước đến bên bác cả, thì thào :\n- Nó đấy, tiếng nó đấy. Thằng...\nLập tức, bác Cả với mấy người nhảy phắt xuống. Chiếc bè vó răng rắc nghiêng hẳn lên. Nhưng bóng \"cái thằng nó\" vừa lom khom ra cầm cái thừng néo gọng vó đá lặn mất tăm. Những ngọn giáo, những mũi đinh ba lao xoèn xoẹt xuống nước, chẳng thấy đâu.\nMọi người chưng hửng ngước quanh. Bác Cả đột nhiên nói :\n- Đi đốt tất cả các nhà bè nhìn xem nó có còn bám quanh đây không!\nNhững cái lều vó cháy đùng đủng như con rắn lửa trôi trên mặt nước. Chốc lát, rồi tắt ngấm trong vắng lặng.\nĐã ra bờ sông Cái, ngược một quãng. Những chiếc nan đón men sang bãi Giữa, rồi cứ thế, nan bơi ngược nước về Bỏi.\nTang tảng sáng, trên chòi canh nhà lãnh Quang, tiếng tù và liên hồi inh ỏi. Bốn bên phường xóm mù mịt sương sớm, vẫn tiếng tù và rền rĩ. Không thấy bóng lửa như lúc nửa đêm, lúc gà gáy. Nhưng vào khi rạng đêm sang ngày thế này mà tù và nổi thì chỉ báo có cướp, có án mạng hay là có việc quan trọng thành. Nhưng việc quan trọng ấy thì chẳng bận đến ai. Người già lại ra đầu hồi nghe ngóng rồi vào ngồi chõng thổi mồi hút thuốc, uống một bát nước chè tươi. Các bên láng giềng đã lục đục trở dậy. Tiếng tù và đánh thức người ta có sớm đôi chút, nhưng thế là cũng đã tan canh. Lửa rơm lập lòe trong bếp. Cái rõi chuồng trâu được tháo rơi bịch xuống. Quang gánh buổi chợ mai đã sắp ra ngoài hiên, đầu mái tranh.\nBảnh mắt rồi, vẫn không một ai đến gần bờ rào nhà lãnh Quang. Bây giờ đã biết tiếng tù và rền rĩ lúc sáng sớm từ trên chòi canh nhà quan lãnh Quang. Nhưng không ai rõ chính lãnh Quang đã bò dưới hào lên thổi tù và. Cứ phồng má, trợn mắt cho đến lúc hết hơi, lãnh Quang lả người, sụp xuống cái chân giá gác giáo mác trước chòi. Cứ nằm trơ thế mà không ai biết. Những người mọi khi gồng gánh đi chợ qua cổng, sớm ấy sợ động dụng thế nào đã đi tránh đường khác.\nMột làn sương lạnh ướt phả vào mặt, lãnh Quang chớp mắt ngóc cổ nhìn vào trong chòi. Mới trông rõ hai thằng lính bị trói đứng vào cột lều, không biết chúng nó đã chết hay còn đương ngủ. Một miếng sơn then nhếnh nhoáng đen như mõm chó trám vào miệng.\nLãnh Quang lùng vào các gian nhà trên tất cả mọi người, ông già, bà lão, trẻ con, chỗ nào cũng la liệt người bị trói, bị miếng sơn trám chặt, phải lôi nắm bùi nhùi râu cọ ra mới há được miệng.\nNhững cái rọ nhốt người treo ngoài vườn nhãn đã bị rỡ tung. Lãnh Quang lẩy bẩy, run rẩy :\n- Cướp bến Bỏi! Kẻ cướp bến Bỏi! Bay đâu vào thanh... vào... bẩm đêm qua kẻ cướp bến Bỏi xuống cướp Kẻ Chợ, mau lên!--------------------------------\n|[1]||Cá anh vũ sinh sống vùng ngã ba sông Cái ở Bạch Hạc, còn gọi là cá tiến, ý nói cá ngon tiến vua. Phong tục cũ, những thức ngon lạ được đặt cho để tiến vua: Nhãn tiến Hưng Yên, chuối ngự Hà Nam, rau muống tiến Sơn Tây.|\n\n**Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, cùng gửi cho ông bạn già là Lê Hy Vĩnh** **(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín, kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)**\nCố nhân chia tay trên đường Hà thành\nNghìn dặm lên xe, mắt trông như vũ\nTôi đang ốm không có rượu tiễn bạn lên đường\nTrông nơi giang đình xa tít sắc cây sẫm tối\nKể từ lúc bạn cởi áo vải theo việc văn thư\nTrước làm ở huyện Thạch An, sau huyện Phù Cừ\nThạch An rặt núi thì vui với núi\nPhù Cừ rặt sông thì ở với sông\nAi cũng muốn yên, đó là bản tính của mọi người\nTa không nhiễu dân là mọi việc xong xuôi cả\nHai huyện công việc khác nhau, nhưng chính sự như một\nChỉ nằm mà cai trị vẫn đâu ra đấy\nNgày nay phụng mệnh đến đất này\nLà \"giản\" hay \"yếu\" bạn đã biết rõ\nTrước người ta cho đây là nơi vãn vật có tiếng\nNhưng nay chủ trương về thuế khóa thì lại có khác\nSông ngòi và đồng ruộng giáp liền ba tỉnh\nThợ thuyền trăm nghề ở lẫn với lính, với dân\nNhững nhà khoa hoạn, một nửa là dòng dõi thanh bạch\nNhững kẻ hào trưởng trong làng xóm, phần nhiều là người làm việc cũ\nTrong thì lo bọn sai dịch mọt già, ngoài thì lo đám quan tham lại nhũng\nTrên thì sợ phép lệnh nhà vua, dưới thì sợ điều tiếng\nBọn chúng ta có bác Phan làm tri huyện đã có tiếng tốt để lại\nViệc ở Ứng Hòa ngày trước cũng chưa xa gì\nBạn là người thành thạo sáng suốt không phải nói nữa\nBa điều châm qui của quan trường đã được dán lên chỗ ngồi.\n\"Bồi đắp\" hay là \"bòn rút\", bạn đã thấu suốt đằng nào phải\nLàm \"chim diều chim cắt\" hay làm \"chim loan chim phượng\" bạn đã nắm chắc đàng nào khó hơn\nTôi nay viết bài tặng bạn, để đưa bạn lên đường\nNhân tiện tôi muốn nói thêm điều này\nPhủ đó, xưa đã có tiếng nhiều danh nhân\nTiều Ẩn và Ức Trai là hai nhân vật tuyệt vời\nTài trai sống ở đời đã không làm được việc phơi gan bẻ gãy chân song, giữ vững cương thường\nĐến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương\nCũng không kham nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương\nCúi đầu luồn mái nhà thấp, nhụt cả khí phách\nĐến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết\nGiả sử hạng người ấy xuống suối vàng có gặp hai cụ\nThì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi mà thôi\nNgồi nghĩ đến chuyện ấy mà dạ những bùi ngùi\nThan ôi! Tôi già rồi, còn trông mong gì nữa\nBạn về đấy, xin đến thăm làng Nhị Khê và làng Cung Hoàng\nBước lên nhà thờ của hai cụ\nVì tôi mà lạy xuống hai lạy, dâng lên chén rượu.\nVà cũng báo cho bạn cũ tôi là Lê Hy Vĩnh biết.\nRằng tôi còn khỏe, không chết, chỉ mắc chứng điên mà thôi.\n**Nguyễn Quý Liêm** (dịch nghĩa)\nMọi người phải thay vai cõng Cõi ra thuyền. Về đến Bỏi, lại lên bờ. Buông xuống, Cõi ngã bật ngửa rũ ra như con mèo ốm.\nBác Cả nói :\n- Thằng này chưa lại người. Liệu cơm cháo cho nó.\nCõi nằm trong con đò giữa bụi lau. Suốt ngày, trông lên nhọn vút những ngọn lau gió lung lay, từng đàn chuồn chuồn ớt đỏ hắt, tưởng như ăn được thì cay xé miệng, cứ con đậu con bay rập rờn như những chiếc thuyền, chiếc nan quăng chài, chăng lưới trên sông ngoài kia mà ở trong bụi nhìn ra như trông qua khe vách. Thoạt mặt nước mênh mang quạnh quẽ, thế mà chẳng mấy lúc ngớt thuyền đò, bè mảng xuôi ngược. Có hôm cả lũ thuyền như chuồn chuồn cắn đuôi nhau ghé vào - dường như đều là tôi tớ, con cháu, người nhà bác Cả.\nMỗi hôm, sớm sổm, bác Cả lại đâm nan vào ghé lên mạn lau hỏi han Cõi.\n- Thế nào, đã đỡ chưa?\n- Đỡ rồi ạ.\n- Khỏe nhanh vào. Khỏe để còn tính việc, có sức mới tính ra việc được.\nNghĩ đến hôm suất đội đem lính về làng, Cõi hỏi :\n- Ở đây không sợ quân quan dưới Kẻ Chợ về bắt ạ?\nBác Cả cười ha hả :\n- Ở sông nước thì đã có ông Hà Bá giữ cửa, không ai vào được. Mà đừng lo, cụ tổ chúng nó sống lại mà bảo cũng không đứa nào dám đụng đến kẻ cướp bến Bỏi.\nMỗi hôm, có người đưa cơm đến. Tối rồi, những chiếc nan len lách vào, trò chuyện, ngủ đỗ; tinh mơ lại mải miết chèo ra. Nan nhỏ, náu trong bụi lau, tránh được sóng thình lình, ngủ đẫy giấc.\nMươi ngày, Cõi đã cảm thấy chân tay bình thường nhưng trong đầu thì còn u ám như chiều phù sa mờ sương. Cái nỗi chỉ trong một lúc mà quay chong chóng, tối tăm mặt mũi. Muốn quên không thể quên, thật khủng khiếp, thật cay đắng, cái con tuyệt tự kia, Cõi vẫn không thể ngỡ ra cái mà nó lủi đi ton hót giết tươi người ta như thế. Đành rằng chẳng qua cũng tình nghĩa giời ơi, đò nát đụng nhau, nhưng sao có thể nên thù oán đến vậy. Cả cái hầu bao mấy chục quan tiền bán trâu của Trắt, nó nằng nặc đòi cầm, đã đưa cả cho. Còn thế nào nữa, nó còn hám tiền của đến đâu nữa mà đành lòng đem bán anh em tôi vào chỗ chết. Biết sâu nông thế nào được nỗi đời. Bây giờ thì con cá đã rỉa xác nó từ hôm nảo hôm nao, ấy nhưng Cõi vẫn thảng thốt. Không vì sợ, không vì thù, mà vì vẫn không thể ngờ được, nguôi được. Còn như thằng Trắt mà chẳng may sa cơ cũng vì chúng ta không tính ra cạn nhẽ. Chỉ nghĩ giận mình, chứ nó, chứ ta đã ngậm lời thề như hòn máu, có vì thầy mà phải thế nào đi chăng nữa, cũng không còn bận tâm. Nhớ hôm đồng môn đèn hương cúng vọng thầy, tự dưng chân nắm hương đen cháy bốc trong bát ra, thì bao nhiêu môn sinh hôm ấy không người nào cầm được nước mắt. Thầy đã về chứng giám cho lòng thành chúng con. Mà chúng con chưa báo đền được nghĩa thầy. Trưởng tràng đâu, những anh trưởng tràng các nơi, cầm đi mỗi người một nắm chân hương cháy dở, búng tay lên miệng: Ô hô! Ô hô! Lạy thầy, thế là thầy đã về, thầy đã về với chúng con, chúng con để tang thầy ba năm như con cái trong nhà, chúng con để tang cho đến ngày nào xóa được mối thù cho thầy, năm năm, đồng môn về giỗ thầy chúng con xem ai còn ai mất, ai đã báo đáp được ơn nghĩa thầy.\nKhông biết các nơi thầy đã ngồi bảo học trong vùng, ở phủ Quốc, bên Kẻ Chợ hay trên Kệ, anh em ấy thế nào. Nhưng ở đây chỉ còn một Cõi. Nghĩ thế Cõi lại tưởng như vẫn trông thấy Trắt, Cõi đứng lên. Hai đứa lại tính việc - như bác cả đã bảo, phải có sức mới ra việc được.\nHôm sau, Cõi theo mọi người đi làm. Nghề sông nước, cái thuyền là cái nhà, mỗi nhà kiếm miếng mỗi nơi, đến những ngày giỗ chạp, tết nhất, có công chuyện thì cả vạn lại thành một xóm, một làng trên mặt sóng. Đứa trẻ mới sinh khóc oe oe, người già sắp vế cõi, cả đời ở dưới thuyền. Nước cả hay mùa cạn, mỗi thuyền rải rác, nhưng vẫn như một bè. Những cái nan len lỏi như những con kiến gặp nhau thì chụm đầu hỏi han, tin tức nan nọ sang nan kia, nhắn nhe công việc cũng ngày ngày theo đấy. Bởi thế, kiếm ăn xa mấy, thuyền với người một bến vẫn như quây quần. Cưới hỏi, ma chay, giỗ chạp, hội hè các vạn dưới nước chẳng khác mọi phường xóm hai bên bờ. Chỉ khác làng dưới nước không có hương lý - chẳng hương lý nào đuổi theo được người tản mác trên nước, có việc quan nha thì lại biện chè lá lên nhờ các nhà chức việc làng ven sông. Dưới nước chỉ có người đầu đàn, những bác Cả, chẳng ai phong chức tước mà tự dưng thành. Như bác cả Bỏi một đời vùng vẫy, chưa bao giờ biết đến cửa quan.\nChỉ ít lâu, Cõi đã thạo việc, cả nan câu, cả thuyền lưới... Những gà gáy thả nan đi gõ mạn dồn cá rồi quăng chài. Khi trở trời, cá chắm ăn nổi thì ngồi thúng đi thả lưới lửng. Hai bên bờ những chợ mai, chợ hôm ở bến ở bãi, các làng ra mua bán, đổi chác. Con chó ngồi đầu thuyền sủa ông ổng khi qua bến chợ đông người. Và lúc tan canh, những con gà trống đứng trong bu buộc bên mạn dưới khoang lái eo óc gáy báo giờ giấc nửa đêm rồi chẳng mấy lâu đã rạng sáng. Mỗi cái thuyền, cứ biết lệ mà lên lửa, le lói thổi cơm.\nNhưng việc nhà chài của vạn bác cả làm ăn sinh sống không phải chỉ có thế. Cõi đã giỏi đường nước, Cõi lại biết nghề lên bờ đi ăn cướp. Chẳng biết vạn đi ăn cướp như thế từ đời nào, mà cả trong Kẻ Chợ cũng nức tiếng kẻ cướp bến Bỏi. Chỉ nghe mà khiếp, mà lạ, những đồn thổi. Bởi vì vạn chài bến Bỏi mỗi khi kéo quân đi, không phải vì thiếu đói như cướp trộm thường xảy ra tựa cơm bữa mọi nơi.\nĐằng này khác. Chẳng mấy hôm mà không có người ra tìm thuyền bác cả Bỏi - có người đường xa hàng ngày. Người khốn khổ đến để kể nỗi oan khuất, cái nhục của kẻ lép vế, tội ác của kẻ cửa quyền. Người ta trông cậy bác Cả hỏi han, trò chuyện, bảo ban. Thông thường, tưởng như đây là những đứa dắt đất, nhưng kẻ cướp bến Bỏi không đi ăn cướp. Khách về rồi, bác cho người theo chân xem thực hư thế nào rồi mới liệu xử sự. Không phải quan nha to bé mà thực chốn công môn giữa dân gian được các nơi trông đợi đến thế.\nNhững đêm cánh bác cả Bỏi kéo đi cướp, Cõi đã được theo. Các tay chèo thoắt nhảy lên bờ, mặt trát nhọ nồi, xách câu liêm, quắm, dao bảy, thùng lùng, thiết lĩnh, một giỏ đựng râu cọ trộn sơn, lại cả thừng chão.\nĐêm tối trời, ngước mắt ra dòng sông lóng lánh như khuya mùa hạ, vòm sao in xuống nước khống biết trời đâu đất đâu. Nhưng đêm ấy tối trời, đêm tối trời mới là đêm của những tay anh chị đã được tên là người đi ăn sương. Thế mà lại một dải hiện ra dòng sông sao sa nhìn kỹ, không phải sao trời, mà là trên mặt nước đương lấp lánh như rắc sao. Ấy là những đàn đom đóm nhấp nháy suốt hai bên bãi sông, cả vạn triệu những đốm lập lòe sáng xuống nước, ánh lên trên cánh đồng như trăng suông. Gió thổi ánh sáng đom đóm dạt đi dạt lại những vạt sáng tận dưới đồng sâu vào đến chân tre. Có khi cánh bác cả thâu đêm thung dung đi trong sáng đom đóm suốt các cánh đồng, như có đuốc soi.\nNhưng dẫu có tối như bịt mắt thì chân bước trong đêm đã quen. Cũng có khi bật hồng đỏ rực đánh tiếng ngay ngoài lũy tre rồi leo tường, cắt trổ vào tận sân nhà có của, những nhà có của và sừng sỏ thường ở giữa làng. Những con chó dữ đến mấy cũng bị ống thòng lọng siết cổ. Tuần tráng khiếp vía lẩn đi, răng đánh cầm cập như chân chạy. Có điếm canh mới nổi một hồi ngũ liên báo cướp, đến khi nghe loa gọi: \"Cướp bến Bỏi, cướp bến Bỏi đây\" thì ông khán thủ cũng quăng dùi trống lủi thoát thân. Có xóm nổi lên tiếng reo hò đón tướng cướp bến Bỏi. Trong khi ấy, những kẻ cướp đã lệnh đi các xóm: \"Bớ bàn dân thiên hạ! Bớ bàn dân thiên hạ! Đêm nay đốt nhà chánh Ất. Các quan không đụng đến nhà ai, ở đâu ở yên đấy. Đốt nhà chánh Ất. Đốt nhà chánh Ất!\" Một đêm khác, ở làng khác \"Bớ bàn dân thiên hạ! Vào nhà tổng Giáp! Cho vào nhà phó Đinh, nhà hương Tý mà hôi của! Hôi của, làng nước ơi!\".\nNhững người trong nhà lý Ất, chánh Đinh, trùm Lý được dắt ra ngồi quán giữa đồng, cứ đứng ngồi đấy trơ mắt ếch ra mà đợi sáng. Trong ánh lửa đốt nhà cháy rực, người các xóm kéo đến xúc thóc, khuân hòm xiểng vần cả cái cối đá đập lúa trong sân. Quá nửa đêm cánh cướp kéo đi, như lúc lẳng lặng đến. Mỗi người ngồi ngoài quán, bị trói tay, miệng trám một miếng sơn then. Ai cũng biết đấy là dấu hiệu cướp bến Bỏi. Biết cướp bến Bỏi, không nhà nào dám đi trình báo, mà có đi thì quan cửa nào cũng làm ngơ.\nSáng hôm sau, những thuyền gõ cá, những nan thả lưới lại tấp nập ra sông như chẳng dính đến những chuyện đêm qua ở tận làng xa nào. Chẳng một động tĩnh cái tiếng và những chuyện thần tình về kẻ cướp bến Bỏi càng âm ỉ bay xa.\nCả những chuyện cướp của cứu người ấy nữa, Cõi đã thạo. Đánh võ, vượt tường, lát phên qua chông chà, khóa trái tay, trám miệng cho câm họng... Một hôm, bác Cả gọi Cõi đến thuyền. Bấy giờ buổi trưa, không phải chiều thường ngày, các thuyền ríu lại vào đậu bụi lau cơm nước rồi qua đêm ở đấy hay vào men bãi cát, dưới hõm bờ sông lở. Có việc trọng hay giỗ chạp thì đã biết từ hôm trước, các thuyền gỗ dưới mũi tặc hai con mắt thô lố uy nghi bơi về chơi đấu quyền, đấu võ, nếu không đi đánh dẹp đâu làm cứu tinh cho thiên hạ thì các thuyền vẫn hay chè chén, chơi nhởi thế. Cõi ở vạn cũng đã lâu, như mọi người, cơ hồ bác Cả cũng nhãng đi rồi, chẳng thấy trò chuyện với - dường như bác Cả chỉ ngồi xếp bằng suốt ngày. Thế mà không ai có thể qua mắt, việc nào cũng đến tay. Bây giờ, nửa buổi, bác Cả bảo đến. Cõi phân vân, lo. Trước mặt bác Cả, Cõi phủ phục xuống.\n- Ơn bác cứu sống con... Từ khi về đây, hôm nay con mới được lạy bác.\n- Mày ở đây thì mày tường rồi, cái vạn bến Bỏi này mang tiếng kẻ cướp nhưng chỉ đi làm phúc cho người ta, cả cho mày, mày biết đấy. Ngồi dậy, vào uống vài chén rồi ra đi vài đường quyền chơi. Nghe nói dưới làng mày cũng có lò võ được tiếng lắm, phải không? Rồi tao mới hỏi, có chuyện bảo mày.\nCõi ngồi vào chiếu, hầu rượu bác cả, mãi đến chiều, đến tận tối. Những thuyền về luyện võ, tấp nập hò reo rộn một quãng sông. Nửa đêm, bác Cả nói câu chuyện đã rao lúc trưa. Không phải chợt nhớ lại, mà bác ấy đã nghĩ, đã định.\n- Dạo này thế nào?\n- Nhiều lần con đã toan thưa.\n- Ở đây, theo vạn rồi lấy vợ đất Bỏi.\n- Lạy bác, không phải vậy.\n- Hà hà, lại còn giỏi đào tường khoét ngạch. Thế thì hôm nào cho mày xuống Kẻ Chợ, vào chơi nhà lãnh Quang một cái. Bây giờ thì mày như con thằn lằn, bò vào nhà nó lúc nào chả được.\n- Bác cho con đi. Con chưa dám nghĩ đến đường vợ con nữa.\n- Ừ đi thì đi. Hôm nào mát trời đã. Tao bảo mày thành người bến Bỏi, nhưng mày còn hãi cái đứa phản phúc thì thôi, bao giờ hết sợ hãy hay.\n- Con biết bác có lòng thương. Nhưng anh em đồng môn chúng con đã thề trước vong linh thầy. Thằng đội Quang được sống trên cõi đời này, chúng con không thể...\nRồi Cõi giơ tay gạt nước mắt.\n- Được, cứ khóc đi cho hả cơn đau, rồi ta lại chuyện.\n- Ơn bác, ơn anh em, con đã khỏe mạnh như mọi khi rồi.\nBác Cả cười mỉm, vuốt râu :\n- Từ nãy tao nói mọi sự để muốn nghe mày đấy thôi. Tao quý người, nhưng tao quý nhất cái người biết lo, mày biết lo. Được rồi. Tao không cản cái chí con người biết lo nghĩ. Con muốn thì con ở lại đây, rồi lấy vợ, sinh con như mọi đứa chúng nó. Tao tác thành cho. Nhưng con còn gánh nặng việc thầy con, thì con cứ đi. Hôm nào đi cũng được, ừ, để hôm nào mát trời. Có việc gì thì nhớ về bảo.\nMột ngày kia, Cõi lại khăn gói vào Kẻ Chợ. Vẫn một dạ, một chí ấy. Chỉ ở nơi thanh vắng không bao lâu mà thấy quang cảnh nơi đô hội có dập dìu, có tấp nập hơn xưa. Kẻ Chợ khác trước thật. Nhìn người qua lại, không phải chỉ vì nông nhàn rỗi rãi, hay ngày ba tháng tám kém đói, người ta như con chim kiếm mồi phải tìm nơi cầu thực. Không biết từ đời nào, đất Kẻ Chợ chẳng khi nào được yên hàn. Lâu lâu lại nghe tin có giặc, chẳng biết giặc giã đâu, thế là trộm cướp nổi như ong. Người ta kéo bầu đoàn thê tử quáng quàng chạy loạn sang Bắc, xuống Đông, nương náu nhờ vả chán rồi nghe ngóng, lại mon men gồng gánh về. Mãi rồi tai lành tai điếc thế nào, lại nghe giặc đã vào đến đầu ô, nhưng cũng chẳng nhúc nhích, vì nháo nhác rạc cả người rồi. Sau, chỉ còn nhà có máu mặt mới sốt ruột của nả, lo thân. Chẳng mấy nhà chạy nữa, chợ búa lại có người rồi đông dần, trông cái chợ thì biết yên hay loạn.\nBây giờ ai cũng bảo: các vùng kẻ quê phải lo sốt vó đủ thứ, chứ ở Kẻ Chợ lại đâm ra đỡ rối ruột. Trong làng trộm cướp, người như con ngóe, lúc nào cũng bóp cổ nhau được. Thế là lại dồn ra, Kẻ Chợ càng đông hơn. Có nhiều người thì thêm công chuyện, ngành nghề, tiện kẻ mua người bán. Trước kia, ở các vùng đồi trên ngược có nghề ghép thùng, sơn thùng - cây sơn, cây cọ, tre vầu, song mây ngay quanh nhà, các thức đấy làm đấy rồi mỗi chuyến cả chục thuyền, xuôi về bán cất cho các phường. Bây giờ, một dãy bên kia hồ đã hóa ra phố Hàng Sơn, phố Hàng Thùng. Có những cô lo sơn ăn mặt, phải đi tránh không dám qua các nhà bán sơn, bán thùng ghép. Rồi lại cái bàn cuốc cái lưỡi cày, cái cuốc bướm, cái đinh bừa, thuở thường trong Bùng, trong Canh, Diễn quảy ra bán cho người xáo vườn, làm bãi. Giờ ngoài cửa Đông mới dựng san sát lều quán lò rèn, người đến chọn, đến thửa dao phay, dao bầu, đinh đỉa, đặt tên là phố Hàng sắt, phố Hàng Bừa đều như nhau. Lại còn phố Hàng Mụn, mụn vá cũng thành phố, giàu có nhà quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ thật. Không phải phố Hàng Mụn chỉ bán mẩu vải màu làm bùa túi trẻ đeo tết giết sâu bọ tháng năm, mảnh vải vá, miếng chồi sẩn dệt đuối tay, mà cả tấm vải nâu non, cái thắt lưng hầu bao hoa cau. Các cô mua vì thay miếng vải nâu non mới cho cái áo đổi vai, trông vẫn tươm, vẫn đỏm chán. Phố xá càng bộn người lên đông vui như thế.\nCõi lại vác cái rìu, tay xách chão buộc mấy đồ nghề thợ mộc. Người làm mộc đi lẻ thế này không phải các hiệp thợ cất đình cất chùa, mà là người trong làng đi dong. Cõi đã cẩn thận ngay từ lúc ở Bỏi lên không để lộ người phường chài. Cõi vào chặp tối đến đình Hàng Hòm. Thời buổi nhiễu nhương. Người ra đốc canh, cổng phường đã buông, sắp cài chốt.\nQuả là đương khi ruộng đồng cạn việc, chỗ chứa trọ, người ngồi đầy mái hiên, sang cả dưới hiên, ngoài hàng nước. Đủ thứ, có bọn chân ướt chân ráo tới, nhiều người đã có việc chủ nuôi cơm, tối ra trọ đêm. Bọn thợ ván in ngủ khuất gian trong, nằm gối trên đống gỗ ván thòng mực mua thửa tận cửa rừng, đứa cáo già nào muốn rút trộm mấy miếng làm củi đun cũng chịu. Rồi thì đám đóng cối vào đình cổ Lương không chỗ len chân, lại mò xuống đây. Người nhỡ độ đường, chẳng biết người ngủ nhờ thật hay là chú chích, hay lũ dắt cướp vờ vịt nghe ngóng, đợi cánh, có khi nửa đêm gà gáy thoắt một cái như ma biến.\nNhưng quả là chen vai thích cánh, không ai biết ai, nồng nặc hơi người hơi rượu. Ngoài hàng phố im ỉm. Chốc chốc, điếm canh bên cổng phường nổi hồi tù và làm nhịp, bốn phường bên rúc ốc, điểm trống đáp, tiếng trống, tiếng ốc đối đáp xa dần rồi tại phẳng lặng như tờ. Nhưng trong cái đình thờ vọng ở phố Hàng Hòm vẫn huyên náo như chợ vỡ.\nCõi ngồi bó gối, ru rú một xó, chẳng bắt chuyện với ông mãnh nào đương ngả ngốn, la liệt quanh đấy. Từ lúc vào cái đình này, Cõi động lòng chỉ buồn, chỉ thương. Hai mắt nhòe nước mắt, nhưng không ai trông thấy. Mới như hôm nào ra đây còn Trắt. Mà nay tan tác cả. Cõi tựa lưng vào tường, mua xỉ từng chén một, nhấp suông. Đến lúc tà tà nằm nghỉ ghếch đầu lên cái chuôi rìu. Không biết khuya sớm thế nào, ngước ra thấy ông lão hàng nước đã úp cả mấy loạt bát đàn. Ông lão ngả lưng vào cái thúng rơm quấn nồi nước. Không biết ông lão ngồi ngủ hay con rượu ngủ.\nNhững quán nước trên đầu chợ, ở ngã năm ngã ba ngoài đường, các đình đền thờ ở các phường thấp, ẩm ướt chỉ bằng cái am trong làng. Nhớ ngôi hàng hơn nhớ người, bởi vì chỉ là nơi ghé chân bên đường, cho nên cái câu rằng khách nhớ nhà hàng ví với các tay bán quán đủ loại ở Kẻ Chợ thì không phải. Lão ấy là ông từ, ông từ vừa quán nước vừa nhà đền lo sớm tối đèn nhang ngày sóc ngày vọng. Có khi lão là người thiên hạ - cả đất Kẻ Chợ này ai chẳng là người thiên hạ dạt đến rồi thành quê, người cưỡi cổ làm quan người ngồi dưới đất, ai đâu biết ai. Ở cổng các đình đều có người đến kê cái mâm chõng, đặt chồng bát bên cái thúng quấn rơm ủ nồi nước chè tươi. Bán nước chè tươi hay đặt thùng nước vối làm phúc cho người qua lại uống cũng là việc phúc đức. Có khi thấy nơi quang thì dọn hàng, cũng hỏi qua người trương tuần thổ công thần đất ở đấy, thì người ta cũng ừ. Bởi đêm hôm mà ra đầu phường được bát nước chè đậm cũng giải nhiệt, cũng ấm bụng. Ngày nắng chang chang, khát rã họng thế mà uống hết bát nước chè tươi nóng xanh đặc, cơn khát vã mồ hôi, tan hẳn.\nKhối người nghiện chè tươi, nhưng đun nấu, vò rửa lỉnh kỉnh, người ta ngày đôi ba bữa ra quán. Đến khi Kẻ Chợ chen chân thêm nhiều ngành nghề thì các đình chùa am miếu có quán nước chè lại là nơi chứa trọ trợ thời đêm hôm. Thợ đấu, thợ ngõa, thợ sơn, cả những người lang thang vô công rồi nghề không biết tông tích thế nào. Các quán nước tiện dụng cho những người này.\nLão hàng nước người thế nào, không hơi đâu tò mò. Những ông bán quán lem nhem nhưng có điều hầu như ai cũng nghi ngờ thế nào. Cái lão mặt mũi sừng sẹo ngồi cúm rúm như con sâu đo, tay cầm gáo múc nước, mắt nhìn trộm. Lão đấy, người ra người vào, từ câu chuyện dúm rau dúm bếp, đến dáng vẻ con người, khác mắt lão thế nào được. Trông cái lão quán nước đình Hàng Hòm không thể đoán được tuổi, có lẽ vì thiên lôi đánh không chết, chẳng bao giờ lão chết nữa nên cái gì cũng biết như người trên thiên tào. Nhất định rồi, không thế này cũng thế khác, một chuyến mối lái, một câu mách nước, thì bằng công cả tháng ngồi còm cọm múc nước ấy mà. Lại còn, biết đâu, những việc quốc sự tày trời. Các quan ngồi trong thành tường cao hào sâu, có tay chân, tai mắt các cõi, thế mà đêm ngày còn lo xanh mắt. Làm sao mà quân nghĩa ở đâu cũng phao tiếng sắp kéo về lấy Kẻ Chợ. Những quán nước ông lão giả vờ khù khờ kia là trạm tin, chỗ hẹn, chỗ chắp chân, chỗ tụ quân. Nào ai dò được tổ con chuồn chuồn, những nghe ý tứ ở những quán nước lập lờ, không đầu trộm đuôi cướp thì cũng những tay trọng nghĩa khinh tài. Lão hàng nước nào cũng được lão quán nước đình Hàng Hòm, ai cũng kín bưng như cái hũ rượu nút lá chuối khô.\nSáng hôm sau, Cõi bảo lão hàng :\n- Ông cho tôi mượn đôi thùng kiếm bữa. May ra có người thuê quảy nước sông, chứ vác cái rìu Thạch Sanh này thì xem ra trắng bữa mất. Ông cho tôi mượn thùng rồi tôi xuống quảy nước giếng đền bà Ngô đỡ ông.\nÔng lão nhìn Cõi, nói :\n- Bác có nhỡ thì tôi đỡ, cứ đem thùng đi. Nước giếng đền bà Ngô thì chỉ có tôi thuộc giờ linh gánh mới được nước ngon lộc thánh cho.\nCái rìu, bó đồ mộc Cõi gửi lại. Ông lão hàng nước nhìn Cõi, nói :\n- Bác này thật vô duyên với cái tràng cái đục. Lần trước ra cũng ế sưng lên rồi.\nCõi chắp hai tay vái ông lão. Cõi cũng quên cả cái lần đầu đi với Trắt, không biết ngủ đình cổ Lương hay Hàng Hòm. Đích rằng ông lão là người của bác Cả. Nhưng Cõi không dám hỏi. Ông lão quán nước lại cử rử nói :\n- Đi buôn may bán đắt nhé.\n- Lạy cụ, con lạy cụ.\nRồi Cõi tong tả trên vai đôi thùng tre ghép. Nhưng Cõi không ra bến Đá như bọn quảy mướn nước sông - người các phường mua nước sông Cái về đánh phèn cho lắng cát rồi trữ vào chum vại lấy nước ăn hàng ngày. Cõi nhẩn nha đi về đằng dinh lãnh Quang.\nHàng bờ rào cây găng, cây ô rô phía ngoài cái lũy đất vẫn xanh om. Thấp thoáng, qua quãng tường lở, thấy bóng mặt hào nước. Cõi đã rợn. Mới hôm nào suýt bỏ đời trong kia. Bây giờ lại lù lù đến. Nhưng ở phía trong những khoanh tre pheo phờ phạc, như bị chặt, bị đốt từng búi. Đến lúc qua giữa lối vào, chẳng thấy cổng giả đâu. Chỉ như là lối sau làng đi ra đồng, gồ ghề lốt chân trâu xéo nát những đám cỏ giữa đường. Ở cái hào ngay trong chỗ thằng lãnh Quang núp giả người kéo vó, một đàn trâu ngâm mình dưới nước đương lốp cốp, ồn ã đánh sừng, quẫy đuôi. Trông xa, không thấy tòa ngang dãy dọc nhà ngói bát vần mọi khi. Cỏ lau mọc lô xô như bãi tha ma.\nNhà lãnh Quang đi đâu? Sao thế này? Cõi nhận ra ở đầu hào chỗ trâu đầm cạnh cổng có một túp lều con, giống như Trắt đã kể dạo trước cái nhà cô Tư chết oan đã ở chỗ ấy. Cái lều vẫn tại chỗ ấy... Nhưng Cõi đoán không phải lều hoang.\nMột người đàn bà trong nhà bước ra sắp đi đâu, lúi húi chống cánh cửa liếp. Cõi nhận ra cái váy lĩnh, cái áo chồi dáng hao hao bọn vợ lãnh Quang mà Cõi nằm trong rọ bị khiêng qua sân thoáng thấy chúng nó ngấp nghé sau tường nhìn vào. Chỉ khác vẻ sao xốc xếch, tiều tụy. Chiếc váy chồi đụp bạc xơ xác xắn ngang gối, như mụ vợ thằng đò ngang ngồi bán thúng ốc, thúng hến ngoài chợ.\nNgười đàn bà trông thấy Cõi.\n- Bác hàng dầu đấy phải không?\nCõi đặt đôi thùng không xuống. Người đàn bà lại hỏi:\n- Bán dầu phỏng?\n- Tôi đi gánh nước mướn thôi.\nNgười đàn bà chăm chú nhìn Cõi :\n- Này hỏi khi không phải, bác là cái nhà hàng dầu dạo trước đã vào đây bán?\nCõi choáng người. Nhưng Cõi cũng thấy ngay người này lẫn lộn không nhận ra Cõi là thằng bị đóng gông đi sau cái cũi rồi phải nhốt rọ. Ả nhầm với Trắt đã vào bán dầu. Hay đây là cái người đã vì giúp Trắt mà chết, đây là cô Tư. Nhưng cô Tư đã trôi mất tích đêm ấy, Trắt đã mò cả quãng sông không thấy. Người hay ma? Mà Trắt lần ấy cũng đã về được, biết đâu cái cô Tư cũng về được, là người này.\nNhưng thế nào đi nữa, vừa chợt tới, đã gặp những bất ngờ có lẽ rủi ro. Cõi thấy hoảng. Vì, vào đây cứ trần trần thế này, đến nỗi người ta nhận ra như một bọn, dại quá. Nhò đầu đã chui tròng lọng. Tiền đầu bất lợi rồi.\nCõi nhớn nhác, dé chân, toan chạy.\n- Hãy hượm, vào đây tôi bảo.\nXung quanh, dưới đầm, chỉ ồn ào trâu đầm, phất đuôi, đánh sừng, rõ đồng không mông quạnh ở nơi dinh cơ không còn. Mà mặt người đàn bà nhăn nhó, khẩn khoản một vẻ không hiểm ác, mưu mô thế nào. Cõi quảy thùng bước tới.\n- Lại đi bán dầu há?\n- Đã bảo mà, cái thùng rỗng đấy. Tôi ra bến quảy nước mướn.\n- Bến nào, bến nào mà mò vào trong này?\nCõi lại hớ.\n- Không, không...\nCõi còn lúng túng, người đàn bà đã cười cười :\n- Lại đi giết lãnh Quang há? Khám đằng lưng thế nào cũng có con dao bầu, đích rồi.\nKhông thể tưởng câu nói ghê gớm đến vậy, nhưng ả vừa nói vừa kéo gấu váy xuống, lại cười. Cõi lấm lét nhìn vào xó nhà, cửa sau.\n- Sợ hả?\nRồi ả lại hỏi như thật mà lại như đùa. Mỗi câu, Cõi cứ giật nảy người.\n- Này, chúng nó đã đem trôi sông, đã đem chôn đăng ấy mấy lần rồi, thế mà vẫn sống nhăn răng ra thế này, người hay ma đấy?\n- Không, không...\n- Không với có gì! Chỉ một điều...\nThật ả nọ đã nhớ, đã nhớ nhầm mà lại đinh ninh đúng. Chẳng lẽ Cõi lại cãi. Cõi đâm lo lo. Nhưng dường như ả có vẻ mau miệng, Cõi toan hỏi, mà chưa lựa được lời. Người đàn bà này cũng không như người ta, con mắt quắc như điên điên... Cõi vẫn ngồi, tay mân mê cái đòn gánh. Ả vắt vẻo ở bậu cửa rồi hỏi: \"Định đánh người ta đấy à? Đợi đấy. Cho một đòn sặc gạch bây giờ!\" Mặt ả, màu ăn trầu đỏ dần lên. Ả đưa ngón tay cái chùi hai mép quết trầu, rồi nói :\n- Lãnh Quang hãi chết lại cút về Sơn Tây ngay dạo ấy. Chưa biết à?\nKhông giữ được bình tĩnh, Cõi hỏi :\n- Vậy a?\n- Cái hôm nó suýt chết toi ấy. Phúc nhà nó còn bằng cái đình. Nó xin đổi về Sơn Tây. Lại lên Sơn rồi, không biết a?\nGiọng nói, vẻ chuyện đã khiến Cõi được tự nhiên :\n- Nhà chị được ở lại trông nom trang trại? Tôi hỏi hơi tò mò, chị bỏ lỗi cho.\n- Trông nom cái con tườu. Nhưng mà anh có phải cái người bán dầu dạo trước?\n- Chị là cô Tư á?\n- Tôi không phải chị Tư, là em Tư, là nhà nó ơi, nhà anh ạ. Tôi là bà Mười. Lãnh Quang đương ngủ với tôi, em Tư dẫn anh vào chọc tiết nó. Nó bảo vì nằm với tôi mà tý nữa nó ra con ma không đầu. Vận tôi là vận ăn mày, ông thầy số bảo thế. Nó đuổi tôi đi.\nRồi ả cười khanh khách, nói một thôi, như lên cơn dại :\n- Tôi không phải cô Tư, tôi là bà Mười. Đúng anh là con ma thằng bán dầu về báo oán. ừ, ma, tôi ở với ma cũng được. Anh ma cứ ở đây với tôi rồi hôm nào tôi đưa anh lên Sơn, ân oán phải rõ ràng chứ nhỉ. Cất cái thùng, cái đòn gánh đi. Hà hà! Anh ma bán dầu, anh ở đây với em. Thích quá.\nCõi hãi ả sắp phát rồ. Cõi nhẹ nhàng :\n- Nói khẽ chứ!\nNhưng ả quát tướng lên :\n- Ở đây chỉ có con trâu nghe thôi, nói với con trâu thì phải nói to.\n- Thế thì tôi về đây.\n- Ấy, đừng, đừng. Em nói nhỏ vậy.\nIm lặng một lát. Hình như mọi hoảng loạn ở hai người cùng dịu đi. Cõi hỏi :\n- Chị trông nom vườn trại à?\n- Cái anh này rõ ngu. Ngu thế mà ở với tôi thì phải ăn chửi, ăn đòn đánh suốt ngày thôi. Trông cái chỗ trâu đầm, chó ỉa này mà bảo là trang trại. Bầu đoàn nhà lãnh Quang vừa cuốn gói buổi sáng thì một lúc sau, người các nơi xông vào phá, khuân đi tiệt, con chó đá canh cửa người ta cũng đào mất, không còn cái giống gì. Chẳng qua cái số tôi, giời đày chẳng đứa nào khiêng, nhưng mà, bây giờ gặp anh...\n- Nó đuổi nhà chị sao?\n- Nó chê cái mả mẹ nó ọp ẹp, hãm tài, nó vứt đi.\n- Như cô Tư ngày trước?\n- Con Tư, con Năm, con Bảy, con... ối không đếm được. Ngày ây, con Tư ghen tức thèm giết tôi, bây giờ tôi là cái kiếp con Tư đây. Tôi đã toan ra sông Cái trầm mình, nhưng tôi phải bóp chết con dê già ấy tôi mới nhắm mắt được.\n- Chị một mình ở đây?\n- Lại còn mấy mình nữa. À thêm đằng ấy, thế là hai mình.\nRồi ả nói :\n- Chưa dám vào nhà à? Còn sợ cơn chết hụt thì ngồi xuống bậu cửa này - Ả nhích người sang một bên - Em kể cho mà nghe. Em bây giờ cũng như các ông anh, bao giờ em cắt được cái sỏ thằng giời tru đất diệt ấy thì em mới khỏi bệnh dở người.\nẢ hỏi Cõi :\n- Thế nhà bác bao giờ lên Sơn?\n- Lên Sơn Tây quảy nước a?\n- Ô hay! Đi cứa cổ cái thằng cướp ngày ấy, không phải đi quảy nước, đi chơi. Chơi thì ở đây mà chơi chứ đi đâu. Nhưng trông hai con mắt ông anh thế kia thì vẫn vậy đấy.\nCõi rùng mình. Câu nói không điên dại chút nào.\nẢ lại trêu :\n- Mắt em na ná mắt anh, không soi gương em cũng biết. Phải đến khi đòi nợ xong mới dịu đi được, phải không? Ở đây vài hôm, ta bàn cái đã, rồi cùng lên Sơn.\nCõi chột dạ, nói bực :\n- Rồi chị đi báo cho nó, để nó bắt tôi bỏ rọ à?\n- Cái nhà anh này ăn nói bất nhân! Tôi đi theo nhà anh lên Sơn thì có. Cái Tư đã dắt anh vào nhà này thì ở trên Sơn, dinh cơ nhà nó, tôi đã thuộc như cháo, tôi dẫn anh vào. Nhưng tối nay ngủ đây đã, đi đâu mà vội.\nCõi không muốn nói với người sảng, Cõi lảng :\n- Tôi chỉ đi quảy nước kiếm ăn qua ngày, chẳng biết chuyện vua quan ở đâu.\nẢ bấm ngón tay, tính toán :\n- Anh đứng ngoài, để em vào trước. Thằng ấy có bùa, nó nhiều mặt lắm, em mới nhớ được, chứ anh chẳng biết hết mặt nó đâu.\n- Tôi chỉ đói thôi.\n- Nhà còn cơm nguội kia.\n- Tôi đói việc, phải đi làm.\n- Anh còn nhớ đã có người cứu anh rồi chết vì anh đấy thôi. Em cũng muốn được thế, quân bạc như vôi Quên rồi sao?\nNghe những chuyện đau đớn, Cõi bối rối không yên.\nCái người mê cơn mê trận này cử nói xưng xưng như thật chẳng ra thảng thốt. Ôi chao, mớ bòng bong.\nCõi đứng dậy.\n- Tôi phải ra bến Đá cho khỏi nhỡ buổi.\nRồi Cõi quăng quả đi. Người đàn bà níu một dẻ quang, Cõi giựt ra được. Nhưng Cõi cũng nói lấy lòng: \"Rồi tôi lại về, chốc nữa tôi về\". Người đàn bà nhoẻn cười, không giằng quang nữa. - \"Chiều về đây nhé!\". Cõi lùi lũi đi. Ả đứng trông cho đến lúc Cõi ra khuất sau bụi tre ngoài đường. Ả lại sập cánh liếp cửa xuống. A nghĩ người này chẳng phải bọn gánh nước, bán dầu. Nhưng mà chưa dám tin ta. Lại một người đi tìm giết lãnh Quang. Lắm người thù nó thế. Anh ấy đã hẹn trở lại, chốc nữa trở lại. Ả vào cái giường chõng, nằm vật xuống, rên rỉ rồi khóc rưng rức.\nCõi quảy đôi thùng không về trả ông quán nước đình Hàng Hòm.\n- Đi muộn, chẳng ma nào hỏi!\nÔng lão gật gù, nói đưa chuyện.\n- Ở đất này bây giờ cũng người khôn của khó.\nÔng lão sờ thấy mặt thùng ráo khô, không dính giọt nước nào thật, ông lão bảo :\n- Uống bát nước đã.\nNhưng Cõi chào ông lão rồi vác cái rìu đi. Trên sông Cái, cát bay mù mịt đỏ xạm, không thấy rõ, lẫn lộn dòng nước, bãi ngô, bãi dâu. Ngang trời vẫn vần vụ màu phù sa. Cả ngày âm u không thật là còn trưa nay đã sắp tối. Người bước co ro trong gió ào ào.\nCõi trở về bên kia sông. Lãnh Quang lại lên Sơn, dinh cơ hoang phế, người đàn bà bị ném ra đường hóa dại, ngổn ngang trăm nỗi. Thì bước chân về quê, may ra. Nhưng về cái xó đầu đồng ấy chẳng còn ai, lại thêm nghĩ. Đứng trên đê đã trông thấy làng thầy, thầy ta kia rồi. Lạ thay, mà vẫn hiển hiện như xưa, mặc dù quân quan đã tàn phá, bây giờ không ai đến đất ấy, cũng không dám gọi tên làng nữa. Nhưng trong tưởng tượng Cõi vẫn thấp thoáng thấy mình đầu trọc để hoa roi kín gáy đi trên đường cái vào làng rồi tạt về phía chợ, cây gạo cổ thụ trước điếm canh, là đình, là xóm nhà mái nhấp nhô bát úp. Nhưng nhìn kỹ lại, một gốc tre cũng chẳng còn. Cỏ lau lên ngút ngàn, mặt đầm nước xanh rợn những cây rút dại. Đương tàn mùa hoa lau, màu bàng bạc hoa lau trắng đục suốt chân trời. Người đi rảo bước vội vội. Sợ cướp đường cũng có, nhưng hãi nhất bao năm nay cả vùng đã là tha ma không có nấm, dưới đất ngổn ngang, người chết cháy, người chết chém ở trong làng, ở giữa chợ, xó xỉnh nào cũng còn nghe tiếng văng vẳng kêu khóc. Cõi ngồi trên đường cái nhìn xuống. Đến lúc tàn nén hương Cõi đứng lên vái xuống những bụi lau xác xơ: \"Lạy thầy, thầy phù hộ cho con...\".\nRồi Cõi lại ra bến xuống đò trở sang Kẻ Chợ. Nhưng Cõi không đến đình Hàng Hòm tối hôm ấy, cũng không qua dinh cơ nhà lãnh Quang. Cõi đương tính xem nên thế nào.\nĐường ra Cửa Nam về Giám trước kia cứ chạng vạng tối, chỉ nghe chẫu chàng uôm oạp khắp các đồng hoang, bây giờ đèn đuốc rải rác, chỗ là nhà, chỗ người đi, chẳng khác chợ cá nửa đêm ven sông. Mà chợ đêm thật. Các phường trên Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Điếu, cả đến trong ngõ Hà Trung, các nhà, các cửa hàng thì tối tối, chẳng khác cái hũ nút, tuần tráng đóng cổng phường đốc canh, nhà nhà lên cửa kín bưng rải ra bó chông chà từng chiếc như cái đinh đặt ngược lại còn lẫn lộn mảnh Chĩnh, mảnh chai sắc như lưởi dao, bỏ khắp từ đỉnh mái xuống chân tường. Ngoài đường thi thoảng mới có bóng người lui hui. Tuần tráng nhìn vào tận mặt hay chỉ nghe đối đáp thoáng qua, đã biết ai, đêm hôm đi đâu.\n- Người nhà cụ Ất, cụ Ất đình Ngang ấy mà.\n- Đi mua thuốc đau bụng bà lang Bính chứ gì!\n- Vâng ạ, đau bụng máu lên cơn lại hết thuốc.\n- Không nhớ đi đêm phải mang đuốc à?\n- Vội quá. Bác cầm mấy đồng uống nước cho tôi đi.\n- Đứa nào kia? Đứng lại.\n- Tôi đi gọi bà mụ, nàng dâu nhà ông hương Đinh vỡ ối, đẻ đến nơi rồi.\n- Được.\n- Thằng này sao đi lỉnh kỉnh thế. Tên gì?\n- Mỗ Ất, mỗ Giáp, mỗ con chó. Hỏi lắm thế.\n- Tiên sư mày, đi đâu?\n- Ông đi tìm rượu.\n- Đi đêm phải có đèn đóm!\n- Đéo có.\n- Nhớ kiếm vài xó đem về điếm.\n- Đéo đem!\n- Ông gông cổ mày!\n- Hà... hà...!\nChẳng ra phép tắc, chẳng ra ỡm ờ. Lơ mơ thế mà vẫn có người yếu bóng vía bị đóng gông ngồi điếm đến sáng vì tội đi đêm không có đuốc. Người nhà phải đem mấy tiền ra chuộc không thì cứ ngồi đấy. Thế mà lúc nào cũng có người vào ra. Ấy là chẳng kể những kẻ không ai biết tông tích, chui chỗ nào cũng lọt, như con chuột rũi. Nhưng không phải ai cũng mưu mẹo được thế. Phố xá đêm ngày cứ nghìn nghịt, trong làng kéo đến Kẻ Chợ mỗi vụ càng nhiều hơn chỉ vì đói, vì rỗi việc, vì có nghề thì đổ ra nơi đô hội kiếm miếng. Lâu nay, Cõi đã thế, đi bán dầu, đi thợ ngõa, thợ mộc, Cõi biết! Cái ngày còn chưa thạo, đêm hôm bị tuần trong phường bắt nạt, phải dạt ra đầu ô, như Cõi vừa thấy lắm đóm đuốc trước mặt. Ở những nơi nửa phường xóm, nửa đồng không mông quạnh này, đến cả trăm kẻ cướp tụ tập cũng chẳng ai biết đâu, huống chi những cái đuốc lập lòe ma trơi hay người đi lủi thủi. Bởi thế, ở các cổng tỉnh còn bộn bề hơn trong phường. Bất giác, Cõi thở dài. Những năm gần đây càng lắm người ra tỉnh. Mất mùa, vỡ đê liên miên, người ta đi tha phương.\nCõi về đến chùa Xiển thì đã tối mịt. Vừa thấp thoáng lũy tre, ao bèo, con trâu nghênh sừng lẳng lặng qua, rồi đuốc đóm chấp chới, bây giờ thanh vắng, cứ ang áng nhớ đường mà đi. Tiếng mõ thỉnh kinh, niệm Phật đều đều như nước giọt gianh. Mùa hoa mộc rưng rưng ngan ngát, thơm thanh khiết. Hai cái cột xoan cổng tán đã xiêu, chỉ một trận mưa rào mùa hạ tới thì đổ cả. Cái liếp cành rong đã hạ xuống, nhưng cũng tuông một mảnh, cả người lọt vào được. Nhưng mà chặp tối không ngửi mùi khói bếp, không tiếng gọi lợn, không tiếng cãi nhau chửi rủa léo xéo. Con người đã vào cõi khác, u tịch trầm ngâm không như cái nhộn nhạo thường ngày ngoài trần gian.\nGian giữa chùa, trong ánh đèn dầu trám lung lay đỏ bẻm, chú tiểu đương tụng kinh. Mỗi lần thỉnh cái chuông nhỏ trước mặt bằng bàn tay úp, cái đầu trọc tròn xoe cúi rạp, đến khi ngửng lên, tay mõ lại đều đều, tiếng niệm Phật rì rầm thăm thẳm. Cõi đã nhận ra chú tiểu là thằng bé trong Sủi chạy ra năm ấy. Bây giờ nó đã lớn. Có còn nhớ làng bị đốt, cha mẹ chết cháy hay chết chém, mày còn nhớ không? Cõi cứ đứng yên ngó khe cửa, không bước vào, không muốn động đến giờ giấc của nhà chùa. Và Cõi cũng đương chìm đắm trong cái thư thái này. Nhưng lòng Cõi thì không yên. Cõi cứ nhớ hôm nao thằng bé trần trụi như cục bùn lăn trong đống lửa ra.\nMột lúc, một hồi chuông lanh lảnh ngân nga rồi vắng lặng, chú tiểu đứng dậy. Trong tĩnh mịch như thế, hồ như cảm có hơi hướng gì lạ. Chú tiểu quay ra, mở then cửa, giơ bát nến khói đen cuộn lên. Chú tiểu đã nhìn thấy người ngồi ghé bậu cửa đứng dậy.\nCõi nói khẽ :\n- Nhà chùa có còn nhớ tôi không?\n- A bác, lạy bác, con... Con quên làm sao...\nHai người vào nhà hậu. Sư tổ chùa Xiển đã về nước Phật lâu rồi. Mấy năm nay, sư ông Thiện Tâm lại hay ốm đau, mọi việc chùa, cơm nước, kinh kệ, khách thập phương lễ bái rồi vào hạ đi khuyên giáo, cả việc đồng bãi lấy ngọc thực nuôi thân nhất nhất đều một tay tiểu Từ Tâm gánh vác lần hồi.\nNhà chùa chỉ có sào ruộng hậu vừa cày cấy vừa vườn tược, thầy trò quanh năm quần nâu áo vá. Ấy vậy nhưng sư ông Thiện Tâm vẫn thường nói: thầy ngẫm ra phúc đức cửa từ bi không bao giờ thiếu, thầy đã theo hầu sư tổ được hơn sáu mươi năm đến khi sư tổ khuất núi, bây giờ Phật phù hộ độ trì, có con về...\nBên giường sư Thiện Tâm, chú tiểu Từ Tâm quỳ xuống trước mặt Cõi :\n- Lạy bác, bác cho con gọi bác là bố, là mẹ, bác là bố mẹ con, bác nhận cho con.\nCõi mủi lòng, nâng tiểu Từ Tâm đứng dậy. Lại nghĩ đến cái làng Sủi đương cháy.\nTối hôm ấy, sư ông Thiện Tâm hỏi Cõi :\n- Những lo toan của bác được đến thế nào rồi?\nCõi chắp hai tay vái sư ông.\n- Sư ông có lòng thương hỏi đến. Gian truân lắm, nhà chùa ạ.\nSư ông Thiện Tâm không hỏi thêm, mà nói sang chuyện lúc nãy :\n- Bấy lâu nhờ cơ duyên mà bác cho tiểu Từ Tâm về chùa tôi, cái may thật không kể xiết. Thế mới biết đất Phật ở đâu thì có hương khói đấy, không bao giờ suy vi được.\n- Công đức thầy dựng nên, đời này mới có đời kia, đời đời thế vậy.\nĐêm ấy, ở gian nhà hậu trông ra vườn sau, Cõi kể cho tiểu Từ Tâm nghe lúc ban ngày vừa về qua làng, thắp nén hương cúng thầy với oan hồn cả làng. Tiểu Từ Tâm nói :\n- Ở chùa năm nào vào hè ra hè, sư ông cũng dạy con cúng cháo giải oan cho chúng sinh, con lại khấn về làng, con vảy cháo về phía bờ sông.\nTrận mưa đầu mùa rào rào trong đêm, như cả nghìn vạn người ai oán khóc. Nhưng Cõi không nói một lời về cái đau đớn khủng khiếp những ngày qua. Cõi nghĩ dầu sao nó cũng còn là đứa trẻ, lại đã lênh đênh mồ côi thế này, chẳng nên cho nó khổ ải thêm nữa.\nTiểu Từ Tâm hỏi bác Cõi :\n- Bao giờ bố lại đi?\n- Mai.\n- Hay là bố ở đây. Thầy con dạo này yếu lắm không biết thế nào. Mai bố lại đi đâu?\nCõi ngồi lên, như lắng tai đợi dứt mưa. Rồi nói :\n- Đi việc ấy. Bao giờ xong thì mới yên được.\nTừ Tâm lặng im. Đứa trẻ mười mấy tuổi đầu, nhưng những khốn đốn đã trải thì óc đã cả nghĩ chẳng khác người có tuổi. Dẫu chẳng rõ việc gì nhưng Từ Tâm hiểu câu nói ngắn ngủi mà buồn, mà quả quyết ấy có ý nghĩa đến như thế nào.\nHôm sau, Cõi đi sớm. Sư ông Thiện Tâm chống gậy ra tận cổng ngoài.\n- Biết khi trở lại có còn gặp nhau không?\nCõi chắp tay vái nhà sư.\n- Nhà chùa cho lộc cứu vớt tiểu Từ Tâm, không bao giờ con quên được, thì dẫu rồi đây thế nào cũng là như ta còn gặp nhau, sư ông ạ.\nSư ông Thiện Tâm không nén được nước mắt lã chã trên khuôn mặt úa võ vàng.\nChỉ mới mấy ngày ở Kẻ Chợ mà dường như đằng đẵng. Căn do chỉ vì thằng lãnh Quang đã chạy chết về Sơn Tây rồi. Mọi việc phải tính lại cả. Chi bằng hãy lên Bỏi cái đã.\nBuổi trưa, Cõi sang đến bến. Cõi đã thuộc nơi vạn trú những giờ giấc các nan thuyền qua lại. Bến Bỏi đã là làng nhà, khác nào nơi chôn rau cắt rốn. Mà Cõi còn trông vào đây, trong khi phương nào cũng bơ vơ rồi.\nBác cả Bỏi với một lũ tay lưới cởi trần phơi cá trong những cái nia đại đặt trên mái khoang. Nghề này học được dưới đường bể, tháng sau đã sẵn cá ướp bán cho phường buôn các chợ ven sông để các nhà khó mua về trữ, phải khi mưa dầm gió bấc, ăn cá sông muối khô còn nạc hơn cá mắm bể, mà khéo tay còn làm nước mắm ăn Tết, chẳng kém mắm cáy. Bác Cả rõ ra một nhà chài lão luyện nghề, cả đời đứng chèo chống, hai vai nở lực lưỡng hơn vế chân. Chẳng một vẻ nào là tướng cướp. Cũng hay ở đời, biết bao kẻ như hầm hố cắm chông, nhưng lại có người như bác Cả mà lắm người sợ, người phục. Bọn quan nha các huyện và ở Kẻ Chợ tảng lờ làm như không biết kẻ cướp bến Bỏi, tướng cướp bến Bỏi, nhưng trong dân gian thì lũ lượt tìm đến vái lạy, kêu cầu như trước bàn thờ Đức Ông và những ông hộ pháp thiện ác giữ cửa chùa.\nBác Cả trông lên bờ, thấy Cõi :\n- Đã về đấy a? Công cốc chứ gì!\n- Chẳng được một hạt việc. Chán quá.\n- Việc gì mà chán! Phải nghĩ nó lại cút ngay về Sơn Tây, thế là nó khiếp chúng mày, khiếp cái gan chúng mày. Về đây nghỉ đã, rồi lại tính, ngày rộng tháng dài mà.\nCái bến đò ngang sang Bỏi những buổi chợ vẫn tấp nập.\nVào mùa cạn, các bè luồng, bè gỗ, bè vỏ dó, bè củ nâu, gỗ, bè sơn thùng gỗ mò trên ngược về đậu dài dằng dặc đến tận bến Bà Móc, chợ ống Nước dưới Kẻ Chợ trên bến dưới thuyền vui như hội.\nĐến bữa chặp tối, Cõi mới biết chuyện vừa rối Cõi đi, ai nấy đều sốt ruột. Bác Cả đã nhắn xuống dưới Kẻ Chợ. Trong đám nhốn nháo đêm hôm ở đình Hàng Hòm vẫn có người bến Bỏi, cả lão quán nước cứ giả bộ ngơ ngơ ăn nói lửng lơ thế, đã đủ biết, mà không ai thấy Cõi đâu.\nCõi vái bác Cả :\n- Bác cũng là người đẻ ra con, bác thương con.\nBác Cả quát :\n- Ô hay, làm thằng đàn ông không được lúc nào cũng vái lạy, lúc nào cũng vãi nước mắt ra. Bây giờ mày muốn sao?\n- Con phải lên Sơn.\n- Được rồi. Hôm nào ngược, tao sắm cho cái nan tre đực. Nhưng mấy bữa rày được nắng, hãy ở nhà phơi cho xong vụ cá này.\n- Dạ.\nViệc nhà chài, có vụ có mùa vất vả chẳng khác những nặng nhọc cổ cày vai bừa đồng ruộng.\nSuốt ngày dãi nắng, đến tối sáng trăng, thuyền dỡ mái khoang, mâm cơm dọn ra như ở giữa sân gạch thoáng mát hây hẩy gió. Đương vui chuyện, bác Cả hỏi Cõi :\n- Mày tằng tịu với con vợ thải của thằng lãnh Quang?\n- Không, oan cho con.\nBác Cả cười :\n- Tao hỏi cợt thế thôi. Chứ thằng người đã có phen những con nặc nô ấn vào cửa Âm Phủ rồi thì phải biết kệch quân chó má chứ.\nCõi chỉ biết cúi mặt, ực một ngụm vào họng như tiếng trả lời câu nói điếng người. Cái gì bác cũng biết, như từ trong bụng người ta đi ra, bác thánh quá.\nHôm sau, Cõi lại ra anh thuyền chài. Lúc thì ve vé chiếc nan đi dăng lưới, trưa nắng, cởi trần, truyền mái khoang bưng nong nia phơi cá. Chẳng khác mọi người xung quanh, mọi công việc ngày ngày. Không gì sốt ruột hơn chờ đợi, vừa nấn ná lại vừa nhấp nhỏm. Mà không dám hỏi. Tính bác Cả thế, chỉ nói như ra lệnh. Chuyện rắc rối, khó khăn đến thế nào cũng hỏi một câu, nói một câu. Rồi lại như dạo nào, Cõi dông dài đi bỏ lưới, đi cắm câu, lại có đêm vác thang theo anh em đi ăn cướp. Lắm lúc, cáu bực vu vơ, nằm khàn trong bụi lau, trông lên bờ, thấy xa xa những cây xoan cuối mùa, cành trụi đen, đàn cò trắng bay qua, không biết về tận đâu, như trêu ngươi thằng nằm xó. Nghe sóng óc ách rồi ngủ quên lúc nào.\nBác Cả lay Cõi.\n- Tao đã chọn được cái nan tre cật nhẹ lắm. Sắm lưỡi câu, lưới lửng, lưới chũm đủ phòng khi. Cả đồ nghề thợ mộc. Ở dưới nước thì sống nhờ con tôm con cá, lên bờ có cái tràng, cái đục, cái thùng dầu. Thế nào thì cũng không chỉ ở Sơn một ngày. Đi đâu cũng phải cẩn thận cắm cái nan một chỗ. Nan là cái nhà, cái cần câu cơm, chỗ nào cũng kiếm được, cá ăn cá bán, thế là mọi thứ xong. Bây giờ mày đi hôm nào cũng được.\nBác Cả chu đáo, trước sau, định hỏi thì thấy đã đủ, lại không hỏi. Trong bụng mừng khấp khởi, hôm sau, Cõi lên lò rèn trên bến làm cái lưỡi cuốc, đánh hai con dao - bấy giờ chưa bận rộn thời vụ gặt hái, bố con nhà phó lò chỉ phòm phọp kéo bễ, động búa nửa buổi đã xong tất. Cõi xách con dao mới ra rệ sông, thẳng cánh phạt một lúc, đã ngả quang mấy bụi chuối dại Được rồi, những con dao đem lên Sơn làm cỏ cả nhà chúng nó được, phen này thì mày chạy đằng trời.\nTinh mơ, sương đọng ngọn lau lộp độp rơi xuống nan như mưa nặng hạt. Những cái thuyền đi cá sớm đã vun vút ra, mặt sông vẫn mịt mù hơi nước và những con gà ngỡ chưa sáng còn gáy ran quanh mạn lái.\nĐêm qua, Cõi đã đến chào bác Cả. Bác cả Bỏi nhìn Cõi giây lâu rồi \"ừ\" một tiếng, nét mặt tươi dịu, bộ râu rung rung. Tiếng \"ừ\" bằng lòng như bảo: được rồi, mày cố làm nên việc.\nMọi thứ lỉnh kỉnh đã xếp cả lên nan, mà nửa đêm qua Cõi vẩn vơ không chợp mắt. Nhớ cái hôm bỗng dưng bác Cả hỏi có giăng gió cái con vợ thải nhà lãnh Quang không. Rồi biết bác Cả nói chơi, thế mà khiến bây giờ Cõi áy náy. Nhà chị Tư đáng thương kia bị nó ghét bỏ thì Cõi chỉ nghe Trắt kể, nhưng cái ả đương dở dại dở điên đây, có thể nó dám cầm dao chém con dê già lắm. Giọng cay đắng, tròng mắt đỏ đọc, có thể. Thêm một tay hạ thủ được con chó. Hay là cho ả đi theo, biết đâu mà nên việc. Huống chi, ả lại thông thuộc đường đất cái dinh cơ nhà nó trên Sơn.\nNhưng ý nghĩ về người đàn bà ấy cũng chỉ loáng thoáng chập chờn từng lúc. Cái đau giết người mà con mụ đồng chiêm gây ra khiến Cõi không thể nào để tâm hơn về cái hạng đàn bà bây giờ. Dẫu cho là chưa tình nghĩa một đời, thì đã ngần ấy năm trời ăn nằm với nhau, mà nỡ nào nó lật mặt không biết gớm tay, nó cầm con dao đâm chết tươi cái đứa mới đêm trước ngủ với nó, mà tội nợ, mà oán thù truyền kiếp nào cho cam.\nNghĩ thế, Cõi bàng hoàng, Cõi không còn tơ tưởng đến chuyện có thể đem cái người đàn bà tội nợ kia lên Sơn. Thế mà băn khoăn, mà bồn chồn, không dứt nghĩ được, chốc lại ngồi, cái nõ điếu lại kêu giòn tanh tách. Đến lúc nghe những con vạc đi ăn đêm về lác đác qua kêu trong sương ngang đầu, biết đã tang tảng sáng. Cõi vớ cái điếu cày vẽ một điếu hút cho tỉnh hẳn ngủ.\nChiếc nan của Cõi đã ra ngoài bụi lau, nhấp nhô giữa dòng nước cuồn cuộn đỏ. Hai tay hai mảnh ván, cái bàn vả chém nước như con cá bơi. Từ đây lên Sơn Tây, đồng đất chỉ quá nửa buổi. Nhưng chẳng biết đường sông mà lại ngược nước thì mấy ngày. Gặp nước tĩnh thì cho nan vào men bờ, thả vài quãng lưới, nhấc lên con măng, con chép có khi gặp con chắm đói, lôi băng cả nan đi một quãng. Hôm trở trời, đêm câu cắm trong bờ chỉ được con rắn mòng. Sáng sớm chợ mai, chiểu đến chợ hôm, chỗ nào thấy người lố nhố ra bãi thì biết gặp bến, gặp làng, đấy có chợ. Nhưng chợ ven sông bao giờ cũng có thoảng có thì chốc lát. Cõi đẩy nan vội vào bán cá, đổi cá lấy gói muối, đong đấu gạo rồi bẻ củi, đẵn ống nứa, xuống nan đun nấu, làm cơm. Tối tối, vào trú bụi sậy, núp chỗ bờ hoắm bớt sóng, hôm sau lại đi. Ngồi mũi, hai tay như vây con cá, cái nan chổng đuôi mải miết ngược nước.\nCũng một dòng sông Cái, nhưng càng lên, mỗi lúc một khác dưới kia, làng mạc và bãi ngô, bãi dâu đôi khi nhô ra mép cát, mùa nước cả, các nhà phải khuân dọn chạy lụt vào trong đồng cao. Trên này, suốt ngày trông không thấy một mái nhà, hai bên sông bát ngát lau sậy, hoa lau trắng mờ, lúc nào cũng như sương chiều. Hôm qua, thấy một bến cát đỏ, ghé vào hóa ra có tảng đá ong trỗi lên. Rồi đến quãng lác đác bờ tre, tường đá ong xếp, không phải vách đất. Những cây cải dại như dóng ngô, không ai hái, đã xù xì như gốc chuối cụt. Thế mà những đàn bướm vàng, bướm trắng vỡ tổ ở đâu ra. Mùa rồi, dưới bến Bỏi, bướm ra nhiều Nhưng bây giờ đã tàn các loài hoa, bướm đã vãn rồi vắng hẳn. Trong khi bướm ở trên này vẫn ra nhiều như hoa cải vàng nở trôi trên dòng sông. Đàn bướm rống cánh như nhung như gấm giỡn theo bè nứa vào bến, như những cái bè chở đàn bướm từ trên ngược xuôi về làm đẹp tận Kẻ Chợ. Đàn bướm vàng phấp phới mặt nước bỗng bay cất cao lên bờ lác đác mái nhà, lá cọ, tường đá tổ ong đỏ hắt. Chắc gần tới thành Sơn. Nhẩm tính, không nhớ được nan ngược đã mấy ngày, sắp đến Sơn Tây, đàn bướm rực rỡ như đón rước, chắc là điềm lành. Lúc chia tay với sư Thiện Tâm lại nhớ lời dặn của bác Cả, đến đây thì được những đàn bươm bướm vàng nô nức múa chào. Tự dưng, Cõi thấy vững tâm. Trông ra sông, bướm tới tấp bay, như đàn bướm vàng đã theo nan từ Kẻ Chợ lên.\nChẳng mấy lâu, Cõi ghé hỏi thăm biết đã đến Phù Sa, trông lên thấy bờ cỏ cao như con đê vào đường cái quan. Bến tỉnh có khác, đò ngang sang Phú Nhi trở người về chợ Nghệ ngày nào cũng có chợ. Gồng gánh qua lại tíu tít, mép nước đậu san sát những bè gỗ, bè nứa lá đợi xuôi Kẻ Chợ. Trên đường, ngựa quan hay ngựa lính hỏa bài phi rầm rập, bụi đỏ lầm.\nĐã xế chiều, nan của Cõi ghé vào giữa đám bè cây luồng, lá cọ đậu cao lừng lững như những tòa nhà dập dềnh mặt sóng. Những người kiếm ăn sống nước, nay đây mai đó, ai cũng như đã sẵn quen biết. Cõi sang bè được kéo vào ngồi ăn uống rồi ngả xuống chiếu xóc đĩa. Toàn những người nghề chở bè, kéo bè - các chủ bè thì từ chặp tối đã rủ nhau vào tỉnh chè chén, đú đởn hàng thịt chó, thịt trâu thui trong phường Đông Tác đầu chốt Nghệ, nghe nói ở những nơi ăn chơi ấy có hát phường chèo, hát nhà trò. Những người chở bè thuê chưa bao giờ lên đấy mà cũng chẳng để ý. Các mụ bán quán, gái hàng cơm với chè rượu, bài bạc cả đêm trên bè thế này cũng đã đủ mê tơi. Chẳng biết Cõi là thằng nào, ở bè hay ở thuyền, nhưng thấy có giỏ cá, có ống rượu, lại có gạo góp thổi cơm, thế là chụm đầu một mâm ngay được. Trong câu chuyện Cõi dò hỏi bọn khố rách chở các bè này, dẫu đã thuộc nhẵn bến Phù Sa, lại thường có khi xuống các bến dưới kia, nhưng vẫn không hề bước chân lên phường phố đất Sơn Tây, đất Kẻ Chợ, nên cũng không biết gì. Chẳng qua cầm cái cày hay độn vai đẩy cái sào ngược nước cũng thế, người lên khỏi cánh ruộng xuống con nước cũng là moi móc đi kiếm cái ăn cho vợ con ở nhà mà thôi.\nChẳng mấy lâu, Cõi đã thuộc bến, lại có hôm lên chợ Nghệ ngồi quán như một chủ bè qua lại Sơn Tây, đã lẫn với tay chơi sõi.\nCõi cắm nan trong bụi lau, buộc chắc cho sóng to cũng không tuột được. Rồi lên chợ Nghệ, - chợ quê, chợ núi mà người đi chợ đỏng như kiến cỏ. Chỉ la cà một thôi trong chợ đã biết mọi sự về dinh cơ lãnh Quang. Ông lãnh không ở chỗ cũ. Ông đã lên quan chánh lãnh binh, ông sai lính và đốc thợ trong làng ra làm dinh cơ mới, còn bề thế hơn tòa nhà dưới Kẻ Chợ - ấy người nọ nghe người kia, chưa chắc ai đã nhìn thấy cái nhà ông ở dưới Kẻ Chợ. Bây giờ dinh cơ mới ở đường vào cửa Hậu, mỗi chòi canh cổng một bọn lính gác, cha chả là oai, nhà ông đội thăng lên ông lãnh oai nghiêm khác nào dinh quan tổng đốc dưới Kẻ Chợ, trên Lâm Thao. Mà sẵn lính tráng trong tay, các ông quan võ hét ra lửa, quyền sinh quyền sát gấp mấy ông quan văn ngồi trên cao.\nĐi với những gồng gánh các nơi đổ về chợ, Cõi đã ra cửa Hậu, qua cổng nhà lãnh Quang. Cũng hệt cái nhà dưới Kẻ Chợ. Thế thì càng dễ, nhưng bây giờ thì sao, hãy cốt lọt được vào đã. Đồ nghề mộc xem ra dễ kiếm việc nhưng khó xử. Nghễu nghện vác chiếc rìu đi hỏi việc, ai biết được nó là thợ mộc hay là kẻ trộm, kẻ cướp. Cái đinh, cái búa thật lộ liễu, dễ bị nghi. Mà cái nghề làm mộc thì trên này vứt đi. Không thấy ở đâu bóng dáng chiếc hòm thợ mộc. Đất đường rừng không như dưới Kẻ Chợ, đóng cối, làm nhà, thì làng xóm giúp một tay chẳng cần đến mặt anh thợ nhọ. Nhưng thấy người bán dầu ngồi cả dãy ngoài chợ. Thế thì lại đi bán dầu.\nLại làm thằng bán dầu. Dầu sở, dầu trẩu, dầu lạc, dầu thắp cũng là nghề thực của Cõi xưa nay. Có điều là phải ngừa trước. Đây chẳng phải là Kẻ Chợ, không ai quen, nhưng Cõi đã từng vào nhà lãnh Quang, nhiều đứa có thể đã chạm trán Cõi, ngộ nó mà nhận ra thì khốn. Cái này khó nghĩ nhất đây.\nCõi lại xuống nan. Càng thấy bác Cả cho Cõi đi nan lên thì thật giỏi, bác đã bảo \"nó là cái nhà\" của mình, ở nhà thì không phải nhờ vả, không lộ tung tích.\nCõi nằm nghĩ suốt ba đêm.\nRồi Cõi điềm nhiên lấy con dao xẻo ra từng miếng má, lại đâm nham nhở vào trán cho chảy máu lõa lợi. Cõi cắn răng, nằm sốt li bì mấy hôm. Cho đến khi hai bên má, trên trán đã thành sẹo, Cõi cắt mớ tóc để lòa xòa như người mới ốm dậy, rụng cả tóc, đầu loi thoi cạo dở. Chòm râu quai nón trổ ra, rậm rịt lấp nửa mặt. Cõi đã thành ông lão dị dạng, mặt rỗ về vệt, bước đi lom khom không còn ra dáng người cầy cuốc khỏe mạnh nhanh nhẹn xưa kia.\nHôm ấy, sắm sửa quyết định. Hai cái thùng vầu ghép, một bên đựng dầu trẩu, đèo ngoài ống dầu lạc, một thùng không, trong để con dao bầu, dao phay. Bộ quần áo nâu da bò, bạc như mo nang, Cõi xé thủng thêm một bên gối cho thật tơi tả, thất thểu. Định dạo qua cổng, có cơ hội vào được thì hay, bằng không thì đến tối, quẳng thùng dầu đâu, rồi chui rặng ô rô. Đất lạ, nhưng Cõi không lúng túng, bỡ ngỡ như cái lần vào dinh lãnh Quang dưới Kẻ Chợ. Bây giờ Cõi đã từng là quân cướp bến Bỏi, bơi lội như con dái cá, leo tường chẳng khác nhái bén, khóa nào cũng móc được, mở êm ru.\nCõi đi qua mấy lần, đã để ý vẫn cái bờ rào ô rô kín mít ngoài cùng, rồi đến tường đá ong. Bên trong, một vòng hào đầy nước bọc quanh, ở giữa, cũng tòa nhà bát vần hàng chục gian, hai phía nhà ngang, nơi kho đụn, xay giã, nơi bếp núc, nơi lính tráng ở. Gian nào cũng hàng hiên chạy dài. Đằng trước, cái sân gạch mới, cả trăm người ngồi đứng được. Trên hè, lại chiếc sập gụ chân quỳ, ngày ngày có việc quan lãnh Quang ra ngồi đấy, vẫn như mọi khi ở dưới Kẻ Chợ. Đằng sau nhà, một khoảng vườn cây cối lẫn tre pheo. Có khi lại cũng là nơi treo các rọ tù trên cây. Cái thằng Diêm Vương này ác tuyệt trần đời, không làm nhà ngục, chỉ bỏ rọ người treo lên cây, mặc mưa nắng, khi nào chật quá, hết chỗ buộc rọ thì lại đem vứt trôi sông cho chết bớt đi. Cõi định đến xế trưa đi qua cổng một lần nữa. Rồi náu vào cái gò mối sau bụi tre, đợi nhập nhọạng tối, xé bờ rào ô rô vào sau vườn. Bơi qua hào rồi leo lên cây nằm phơi mình đến khi sương xuống nhạt hết hơi, người như đống cỏ khô, những con chó và cả đàn ngỗng thính người cũng không thể đánh hơi được. Những việc này đã thuộc như nghe bài thầy giảng.\nCõi lên chợ Nghệ. Thường ngày, chợ Nghệ quá buổi đã vắng người làng xa. Nhưng ngày mai phiên, các vùng xung quanh, từ Cần Kiệm ra đến Bún, đến Gạch, người đã về chợ từ trưa hôm trước, đem của rừng, những củ nâu, mật ong, các thứ lá thuốc, rễ cây thuốc hái trong núi và những chiếc bu nhốt con trăn, con khỉ, đôi khi người Mường, người Mán trên Ba Trại xuống, khiêng đi chợ cả cái cũi con hổ, con gấu bẫy được. Thành thử lại có cả cái chợ Nghệ con con họp từ trưa hôm trước chuyên tay bán đổi vai. Bên hào thành trước cổng chợ có các hàng cơm, quán trọ tươm tất đủ cả.\nCõi ngồi ngất ngư vài chén với bánh đậu Nghệ nướng vàng óng, chấm muối. Trông ra, ánh nắng đã xuống chấm ngọn tre. Cõi đứng dậy, thong thả quảy đôi thùng đi. Đã đành xưa kia cũng đã quen trận mạc theo thầy kéo quân qua hầu khắp đất Sơn Tây, nhưng đêm nay thì thế nào? Lạy thầy, thầy sống khôn chết thiêng...\nNắng đã xế ngang lưng bờ tre, vàng rợn như sau cơn mưa có cầu vồng mọc lên trong bụi cây. Cõi quảy đôi thùng, nhẹ nhàng bước. Tiếng tù và vừa dứt, người lính trên chòi cổng xuống đẩy hai cánh cổng mở hoác. Có đồ nhà bếp về. Mấy người lính ở trong sân ra, như đã thành lệ, thấy người nhộn nhạo thì canh chừng rồi cùng lính canh đẩy hai cánh cổng lim nặng như tấm phản, khép vào cho thầy đề khóa lại.\nLúc ấy mấy người đánh hai con trâu mộng cùng với một gánh hai bu gà Mía ngon thịt có tiếng. Mấy hôm rồi, đã lân la hỏi chuyện bọn lính lệ, quân gia nhà lãnh Quang ở hàng quán chợ Nghệ, biết được các thói nó ở các buồng vợ và cả những khi lãnh Quang vào chân núi Ba Vì săn nai, lại các dịp nó lên tỉnh trên Lâm Thao. Vừa oai vừa cẩn mật, thôi thì tuần tráng canh đường, đứng đường, tổng lý các làng ven cũng phải vất vả ra túc trực. Quân đi một đoàn, có đến mấy người cùng cưỡi ngựa, đội nón dứa chóp bạc, quần chổi nâu, đeo gươm giống hệt ông chánh lãnh binh. Muốn ám hại cũng khó biết người nào là nó. Từ khi mấy lần chết hụt dưới Kẻ Chợ, lại trở về Sơn, càng phòng bị ráo riết. Cõi đã trông thấy mấy con trâu thịt béo tròn, những bu gà Mía, lại tiệc tùng đến nơi, cái tật ham mê chè chén thì nó không giữ gìn được, của ngon vật lạ quảy vào kìn kìn thế kia, chắc là lãnh Quang đương có nhà.\nCõi lững thững qua, mặt ngước thẳng, nhưng mắt nhìn xéo vào cổng. Đôi trâu mộng nữa vào rồi, những người nhà người lính tíu tít ra mở cổng, lại sắp đóng cổng nhộn nhịp. Người gác trên chòi canh vẫy cái tay thước, nói chõ xuống :\n- Các ông đừng khóa cổng vội!\nRồi gọi ra đường :\n- Thằng già kia, vào đây.\nCõi quay lại không thấy ai. Nhìn lên cổng, hỏi to :\n- Thầy cai gọi tôi?\n- Vào đây.\nCõi vẫn cái đòn gánh trên vai, đứng ngoài cổng. Người gác trên chòi đã xồng xộc xuống :\n- Vào hẳn trong này. Các ông đóng cổng lại.\nCả mấy người đóng cổng xong xúm lại, như sự lạ. Cõi vẫn điểm nhiên nhìn mọi người, toan hỏi: \"Các ông mua dầu?\". Nhưng người gác nọ đã sừng sộ :\n- Mày quảy cái gì?\n- Tôi đi bán dầu.\n- Bán dầu à? Thế thì vào hẳn đây, bỏ cái gánh xuống.\nCõi đặt hai chiếc thùng ngay ngắn sang bên - ý tứ, cẩn thận, rồi đứng khoanh tay. Người lính thình lình nện một tay thước vào bả vai Cõi.\nCõi kêu :\n- Tôi đi bán dầu mà!\n- Không giàu với có gì cả. Ông hỏi, thật mày bán dầu a?\nCõi lật nắp thùng, mặt dầu chẩu vàng sẫm, lại lấy ống dầu lạc xuống mở nút ra.\n- Dầu chẩu, dầu lạc, ông mua...\nGiữa lúc ấy, cả lũ lính kêu lên :\n- Bỏ mẹ mày rồi!\nLập tức Cõi bị dằn ngã ngật xuống. Người lính rút sợi dây mây trên mái cổng, trói ghì cả hai tay hai chân. Cõi kềnh ra như con lợn sắp đem chọc tiết.\n- Ối giời ôi, tôi làm gì mà các ông trói tôi?\n- Nằm đấy rồi thì mày biết.\n- Cắn rơm cắn cỏ lạy các ông.\nNgười lính nói dõng dạc như hiểu thị :\n- Quan đã có lệnh cấm ngặt những đứa bán dầu qua cổng nhà quan. Mày không biết thì mày chết. Ông chỉ có việc trói cổ mày lại. Rồi quan cho đánh mày một trăm roi, bấy giờ mày mới rõ mày có còn sống không!\n- Quả tình con không biết. Con ở trong Bương Cấn ra. Lần sau con xin chừa.\n- Rồi thì mày chừa, được rồi, còn sống thì còn chừa, nhưng mày đã thuộc chưa, thuộc cái lệ vào cửa quan phải có quà đấm mõm, đấm mõm chúng tao đây này. Mày có bao nhiêu tiền?\n- Không...\nNgười lính cúi xuống nắn hầu bao tức khắc. Trong thắt lưng lão già chỉ có một xâu tiền kẽm.\nNgười lính định đút vào ngực áo. Một người lính đứng cạnh cười hể hề :\n- Ông vừa bảo đấm mõm chúng tao kia mà. Chia ra.\n- Mỗi người một hai kẽm cũng là lấy may.\nĐưa mỗi người mấy đồng kẽm, hết cả xâu tiền, người lính như bực mình, chưa thôi, lại lần lần moi ra được toàn những thứ kỳ quái. Đằng lưng nó, ép vào cái bẹ chuối lòi ra một con dao sắc. Hèn nào, lúc quật cái tay thước vào bả vai nghe keng một tiếng. Đến lúc đá cái thùng, một bên dầu đổ tung tóe, một thùng kia văng ra cuộn thừng đay, con dao phay, một dao bầu. Hai con dao mới đánh sáng loáng, sắc ngọt. Làm sao, thằng bán dầu lại đem những con dao này đi đâu?\n- A cái lão kẻ Bương, kẻ Cấn này, đi cướp đường hả?\n- Tôi làm đồ tể, mổ lợn, mổ trâu, kiếm thêm ấy mà. Ông cai tha cho tôi, tôi biếu cả cái hầu bao.\nNgười lính quát như át đi :\n- Mày chưa thịt được đám nào a? Cái hầu bao chó không thèm nhá.\n- Oan tôi quá. Tôi già cả rồi, trộm cướp gì tôi.\n- Tao không biết. Rồi quan ra chặt chân thằng bán dầu.\n- Tôi có vào nhà quan bán dầu đâu.\n- Đi qua cổng cũng phải tội, lệnh quan thế!\nRồi những người lính đang kể lể gì ấy. Không, họ nói chuyện với nhau.\n- Cái nghiệp tổ tông nhà quan lãnh này cứ phải đánh thằng bán dầu.\n- Chắc ngày xưa bố quan lãnh chứ, bố quan bị thằng bán dầu nhét cứt vào mồm nên đến bây giờ còn thù.\n- Cũng vô phúc cái lão Bương Cấn này.\nRồi mấy người lính cầm chìa khóa đi vào. Còn lại người canh cổng. Cõi nói :\n- Ông cai tha cho tôi.\n- Còn tiền không?\n- Chẳng còn đồng nào. Hay là ông cai cầm mấy con dao về.\n- Những thằng vừa đứng đây đã vào báo quan rồi, tao chẳng dại, mày trông thấy chúng nó đi vào đấy. Bắt được thằng bán dầu, tao có thưởng. Vào báo quan thì chúng nó cũng có thưởng. Hê... hê...\n- Ông cai tha cho con.\n- Bố tao sống lại cũng không cứu nổi mày. Tao tha mày để tao thế mạng à?\nNhưng đến tận tối mịt cũng không thấy quan ra. Suốt đêm, Cõi bị trói nằm co quắp dưới đất. Vừa muỗi đốt, rĩn cắn, vừa đau nhức các vết trói, cứ lử lả như người ốm liệt. Thế là lại gặp cái chẳng may rồi. Mấy lần đổi gác, người lính khác đến lại lần túi áo, cạp quần, không thấy gì, lại đạp Cõi một cái lăn chúi mặt xuống.\nGà gáy, nghe phía trong nhà rộn rịch. Tiếng lợn kêu, tiếng trâu lồng, chắc có tiệc hôm nay. Vừa sáng, Cõi đã phải dựng dậy, được cởi dây trói chân. Hai người lính xách cái thùng đựng mấy con dao, tay cầm sợi thừng trói tay, ấn cổ Cõi đi vào trong sân.\nCõi như quen như lạ. Sân rộng, gạch đỏ tía, hệt cái sân làm tội người ở nhà lãnh Quang dưới Kẻ Chợ. Chỉ khác quanh sân viền đá ong bước gai chân như dẫm vào vỏ gấc và cái tường cũng xếp đá ong vàng như đất thó.\nRồi trên sân lại như in những đao búa bày trong cửa quan để đánh đấm hành hạ người: cái cùm, cái gỏng, thanh mã tấu, cây đao, cây thiết lĩnh, thùng lùng, chiếc hèo song, cái tay thước. Trên sập trải chiếu hoa đã bày sẵn chiếc mâm đồng vàng chóe và một chồng gối da xếp, cái gối gỗ mít giống như tạc cảnh ở dinh dưới Kẻ Chợ. Cõi đã thấy trợn, nhưng lại nhớ mặt mũi mình bây giờ đã đổi khác. Cõi bình tĩnh.\nTrong dinh hôm nay có tiệc. Hai bên nhà ngang đã tấp nập người làm ra vào, tiếng chày giã nem chạo, khói thui trâu phía vườn tạt mù mịt lên. May ra, nhà người ta đương bận rộn linh đình thế này, có khi còn được đem nhốt chuồng trâu hay bỏ rọ cũng nên. Cõi mơ màng.\nNhưng không, lãnh Quang đã ra xử sớm, định làm gọn trước khi khách khứa đến. Chặp tối hôm qua, thấy báo bắt được thằng bán dầu hay thằng kẻ cướp, lãnh Quang đã định ra xem ngay. Từ khi lên Sơn, lãnh Quang cấm tiệt đứa nào bán dầu đi qua cổng. Mà có ra đường gặp thằng bán dầu, lãnh Quang lôi ngay lại, nọc ra giữa đường, cho lính đánh một trăm hèo. Cả tỉnh Sơn không ai dám bán dầu rong, chỉ ngồi thành dãy ở chợ. Quan lãnh như lên cơn điên, lại như cái hèm, cho nên người thiên hạ cũng như trong quân gia mới đặt ra những sự tích quỷ quái rằng bố lãnh Quang bị thằng bán dầu... mẹ lãnh Quang bị thằng bán dầu... Cả nhà lãnh Quang bị... ở đất sơn cước này bắt cướp, chém cướp thì hàng ngày. Nhưng chỉ nghe đến thằng bán dầu, có thằng bán dầu lãnh Quang đã sởn gai ốc rồi cho đi tróc ngay, đánh ngay. Thế mà vẫn còn có đứa dám quảy thùng bán dầu qua cổng à? Nhưng đêm qua, đang bữa đến lúc say rồi ríu chân lại, các ả nõn nường ra dìu vào buồng. Đến nửa đêm tỉnh giấc lãnh Quang nhớ ngay. Quá khuya mất rồi.\nCõi thấy lãnh Quang thũng thĩnh ra. Vẫn chân bước vòng kiềng, tấm áo the năm thân chuội mộc râu ria lòng thòng quết xuống. Sáng sớm, mặt đã đỏ lựng, đỏ rượu hay đỏ cơn cáu kỉnh, bực bội không biết. Đang đi lãnh Quang sững lại, một tay chống mạng sườn, mắt chăm chăm nhìn thằng tù già râu tóc rối bù lom khom dưới thềm, hai tay bị sợi dây mây thít lại đã hằn tím. Lại ngắm đến tròn nứt kẽ mắt cái thùng dầu với ba con dao sắc được bày ra bên thềm hè.\nMột ông lục áo the thâm dài, chít khăn lượt đứng nghe lãnh Quang rỉ tai rồi bước ra quát :\n- Thằng già kia, ngẩng mặt lên.\nCõi ngước cái mặt râu tóc xồm xoàm, lồi lõm những mảng sẹo. Lãnh Quang bỗng hét váng :\n- Thằng bán dầu giả câm dưới Kẻ Chợ. Thằng bán dầu giả câm, đích nó rồi. Nó đem cả dao vào mà đứa nào dám để nó suốt đêm trong nhà. Đứa nào, tội chúng mày tội chết thôi. Trói thằng bán dầu lại, trói ngay lại.\nCõi bị xô ngã vập mặt xuống. Hai cẳng chân bị quấn dây mây lên đến tận cổ, cả người cứng đơ như cái cột nhà. Cõi như khúc gỗ nhưng không một lời năn nỉ, van xin như tối hôm qua với bọn lính trạm gác ngoài cổng.\nLãnh Quang rít :\n- Thằng này biết bay đấy. Cắt gân chân nó đi. Cắt ngay!\nMấy người lính xúm lại. Hai vũng máu tươi đầm đìa tứa ra sau gót chân Cõi. Nhưng Cõi không cựa quậy, không rên rỉ, Cõi yên lặng như người ngủ mở trợn mắt.\nLãnh Quang lên sập, nhưng quên ngồi, cứ đứng lênh khênh.\n- Mày có tỉnh không, nghe tao hỏi đây. Mày tìm lên tận đây giết tao. Tao biết. Tao với mày có thù đã mấy đời? Đằng nào thì mày cũng chết. Tao chưa cắt lưỡi mày, tao còn để cho cái lưỡi mày nói cho hả cái vong linh, có khi tao cho sống đấy.\nCõi nằm ngửa mặt, hốt nhiên nước mắt ứa dòng dòng sang hai bên thái dương. Cõi hét to :\n- Bẩm quan nhớn, con xin nói.\n- Tao cho nói.\nCõi nói thong thả, nước mắt càng chảy xối ra.\n- Bẩm quan, thầy con chẳng may chết ở Mỹ Lương. Thằng đội Quang giết thầy con. Con đi cắt cho được cái đầu thằng đội Quang đem về để đồng môn chúng con giỗ thầy con năm nay.\nMỗi tiếng Cõi nói, lãnh Quang giật bắn lên. Đến câu sau cùng \"giỗ thầy con năm nay\" thì như sét đánh, lãnh Quang bủn rủn ngã đổ xuống, hai mắt ngược xếch lên, cứng hàm lại. Bọn gia nhân rối rít, tất bật vực lãnh Quang vào. Tiếng chân rầm rập phía trong ấy. Đám lính trong sân chĩa sẵn ngọn giáo quanh Cõi đợi lệnh đâm xuống, lại như sợ Cõi vùng dựng đứng, cầm con dao bầu đuổi theo lãnh Quang.\nMột tiếng nói vọng ra.\n- Dẹp hết! Dẹp hết! Để hôm khác xử.\nCái rọ mới đựng người được vác ra treo lắc lư trên một cành cây cuối vườn. Đám thui trâu đã bỏ dở, chạy hết bạt cả đi đâu, không còn một sợi khói. Cõi sóng sượt trong rọ, nhắm nghiền mắt, thở òng ọc, ngất đi. Hai bên gót chân máu vẫn nhỏ xuống từng giọt.\nCổng dinh lãnh Quang đóng im ỉm. Cây gỗ dõi cổng chèn ngang, cả cái khóa đuôi chuột khóa trái. Ai gọi, lính canh trên chòi cổng chỉ giương mắt nhìn không trả lời, không xuống mở cổng. Thế là tan đám cỗ.\nĐêm đến, chỉ có sự im lặng và bóng tối. Trên nhà, trong trại lính, bên nhà ngang tiếng con dơi bay qua. Buổi tuần đêm đã bắt đầu, nhưng không nghe trống. Rồi từng canh, chỉ có tiếng mõ các chòi lác đác đối đáp quanh bờ tường, ngoài hào nước. Cứ thế cho đến sáng, một hồi mõ tan canh. Mấy hôm liền, cổng cài dõi ngang, không một người ra vào. Và đêm canh nếu ai để ý thấy liền cả phiên chợ Nghệ, không nghe tù và thổi, không cả tiếng trống vào canh, tan canh. Ông lãnh Quang ngã ngất hôm ấy không chết, nhưng không trở mình, cấm khẩu, không nói được. Nghe thoảng tiếng tù và, tiếng trống, cả người lại run rùng rùng như lên cơn chó dại cắn. Không ai dám đánh trống, thổi tù và nữa.\nMột đêm kia trong bóng tối giun dế nỉ non không dứt nghe ra ai oán triền miên. Chẳng cơn cớ gì người ta cũng đoán được lại sắp đến mùa mưa dầm gió bấc, dầm dề, lạnh lẽo.\nVào khoảng trống canh hai, một bóng người hiện ra, leo thoăn thoắt lên cây dướng cuối vườn, chỗ treo cái rọ nhốt Cõi. Hai cẳng chân Cõi sưng như hai bắp chuối. Đã mấy ngày không một hạt cơm, một giọt nước. Trong kia, lãnh Quang đã cấm khẩu, liệt giường. Không ai có thù oán với thằng bán dầu, cái việc đem xử thằng bán dầu chẳng còn quan nào ngó ngàng tới nữa. Có lẽ quan nha coi như trong sổ sách không có việc ấy. Thằng tù sống hay chết, cũng quên.\nNhưng Cõi không chết, Cõi nằm đau mà vẫn tỉnh, chỉ không nhúc nhích, động đậy được. Cái bóng bò đến, cành cây dướng hơi rung, Cõi biết ngay. Rồi cái rọ được hạ từ từ xuống đất. Cõi nghe tiếng thì thào :\n- Đã cởi cho hết các rọ tù chưa?\n- Chẳng còn cái nào! Chúng nó khuân nhau đi từ đời tám hoánh. Ta ra thôi.\nMột người hỏi vào rọ :\n- Cõi hả? Còn sống không?\n- Tôi vẫn còn.\n- Vịn tay, ra đây.\n- Nó cắt gân chân tôi rồi, không đi được.\nCó hai cánh tay xốc Cõi lên. Cõi đã nằm trên lưng cái bóng, mấy cái bóng. Những người ấy không lội qua hào, mà trèo lên một thân tre, cây tre trĩu sang bờ bên kia. Đã ra đến chỗ tường tổ ong. Trên bờ tường, hai con mối người cõng Cõi trườn đi rồi luồn xuống chui qua rặng ô rô ra ngoài.\nCái nan cắm trong bụi lau bến Phù Sa, sương đêm còn mù mịt. Cõi lại đau ngất đi, không biết chiếc nan đương thuận dòng xuôi vùn vụt. Một lúc, mấy giọt sương lạnh rỏ xuống mặt, Cõi vẫn nhắm mắt, nhưng chợt tỉnh.\n- Cho tôi xin hớp nước.\nCõi oàm oạp uống nước. Nghe óc ách hai bên, Cõi biết đương trên thuyền giữa dòng.\nCõi thều thào hỏi :\n- Thằng lãnh Quang chết chưa?\n- Không biết .\n- Đi đâu bây giờ?\n- Ta về Bỏi.\nCõi lại thiêm thiếp, nhưng không phải lại ngất đi mà những tiếng \"về Bỏi\" đã cho Cõi thấy cái sống rồi. Ngoài kia, làn sóng nhối tưởng như đỏ lừng, chiếc nan thấp thoáng băng băng như cái lá tre.\nChặp tối, đã về đến bến Bỏi. Mấy người xuống bờ cát cõng Cõi lên. Cõi mở mắt, đã thấy bác Cả ngồi đăm đăm trên sạp thuyền. Cõi ứa nước mắt.\n- Bác lại cứu con.\n- Ừ, con đã về. Còn cái mạng, thế là còn người.\n- Nó cắt gân hai chân con rồi. Những con dao đánh ở lò rèn trên bãi, thế là vô dụng. Con thua nó rồi.\n- Không, còn người là được. Cho khỏe lại đã, mọi việc ta lại tính sau.\nBác Cả Bỏi nói thế, rồi quay mặt đi. Nhìn Cõi nằm, hai bàn chân vả xuống, bác Cả rơi nuớc mắt. Nhưng bác không muốn để ai trông thấy bác khóc.\nBuổi sớm đã sang thu, trời cứ tang tảng từ gà gáy mà mãi chẳng sáng. Những con vạc tưởng đã tan sương lả tả bay về, từng tiếng kêu rời rạc rơi xuống đầu thuyền. Đàn cá trôi, cá tiến đêm ngủ trong hốc đất cũng ngỡ trời đã sáng theo nhau lượn ra giữa dòng. Đến khi, trong chốc lát, mặt nước thở hơi lên, trời lại mù mịt sương phủ như mới tan canh, thế là những cá đàn rối loạn, cuống quýt.\nBấy giờ, các thuyền mới ra sông. Người gõ mạn nan dồn cá, bủa lưới cá tạc tứ tung tránh tiếng gõ, mắc lưới lao xao, người đứng ngoài mũi hất vào khoang những mẻ cá nặng lấp lánh. Có một con vạc ăn đêm về muộn đỗ trú vào bụi lau. Trời đã sáng hẳn, những thuyền cá cũng đã đầy mẻ, thong dong về. Mỗi mùa chỉ có vài buổi nhẹ nhàng mà được nặng cá thế.\nNhưng hôm ấy, sáng hẳn cũng chẳng một con cá nào ra giữa dòng. Chiếc nan xuôi bờ rồi sang ngang, lại dọc về, mảnh tre gõ mạn liên hồi, không một mống cá dồn đến. Mà sớm nay tang tảng từ sớm, rồi lại âm u, đáng lẽ cá phải ra như chấu. Cái gì thế?\nSương muộn, cá đã ra sông sớm hay lại có con giải, con thuồng luồng vào chặn chén hết cá từ nửa đêm rồi. Có hôm, nan Cõi đi nhổ cần cắm cá sớm vẫn còn gặp con giải đói tìm mồi. Những con giải, con thuồng luồng ở sông lớn lập lờ như con trăn dưới nước, dài rộng bằng mấy cánh phản. Có hôm, con giải bơi luồn dưới nan, bóng nó tỏa đen xẫm như nghiên mực, một chốc mới lượn qua hết. Con giải hay lùng cá gà gáy, lúc sắp hết đêm mà trời chưa rạng. Như người ta khỏe mạnh thì ngồi trên nan xỉa xuống một mũi đinh ba, rồi thả thừng cho con giải cứ kéo thuyền đi. Đến lúc đuối sức, con giải, con thuồng luồng bị mũi ngạnh đinh ba cắm vào sườn vào sọ còn cố lồng lộn, đôi khi hất lật cả nan. Thì người nhà thuyền xuống nước bơi đứng, thong thả dường như thờ ơ kéo dần cái thừng lôi con giải lên thẳng bãi cát. Con giải, con thuồng luồng lọc xương nấu cao tốt như cao hổ, còn thịt xả ra vác vào các chợ bán được tiền bằng con lợn ỷ thờ. Nhưng nan của Cõi thì chịu, Cõi hèn sức mất rồi. Con giải mà nổi cơn vật vã đánh sóng lật nan thì Cõi chỉ có chết chìm. Hai bàn chân mất gân oải gót xuống, không khiến được. Thằng người hỏng cái chân mà kiếm ăn ở sông nước, biết tính sao?\nCõi cho nan đậu nép vào bờ cho đến sáng hẳn đi. Tự dưng, thấy sóng dồn dập vờn đến. Quả nhiên, từ trong hốc đất bên bờ lở, một con giải đương lững lững ra như một cây gỗ đen nháy lao ngang sắp đội cái nan của Cõi lên. Cõi mím môi, bíu hai tay vào thành cố giữ khỏi bị lật úp.\nCon giải ấy từ đêm đã xục hết cá trong các hốc bên bờ rồi thảnh thơi bơi ra. Cõi nhìn theo hút con giải nguồn đi tận giữa sông. Bất giác, Cõi rười rượi buồn vẩn vơ. Con giải, con thuồng luồng tung hoành thế, con người như ta thì nên thế nào?\nCõi chỉ biết có sông nước. Ngước lên lại thấy sông nước mênh mông. Kể gì khi nước cả, mà vào những ngày gió bấc thổi kiệt nước, dòng sông vẫn một màu đỏ lừ lên hai ven cát và những quãng bên lở bên bồi. Khi chiều đến rào rạt ánh vàng hoàng hôn thì hầu như sông nước rực xẫm cả trời đất. Tối đến, sông Cái thở lên bao phủ cả vùng Kẻ Chợ đến sáng tan sương, cảnh vật bựng rựng như người dậy muộn vẫn còn ngái ngủ, ấy là vì trong đêm hơi thở dòng sông đọng lại một màn sương dày mãi mới rạng sáng được.\nCõi đắm chìm trong màn sương bao phủ ấy.\nThế rồi lại một ngày mới, trên sông tíu tít những thuyền, những nan, những tiếng gõ quây cá từ tinh mơ. Cõi nhìn ra mặt nước man mác sáng dần ra.\n\nNgoài vườn chùa Xiển, thửa ruộng hậu làm màu cuối tháng ba đương vào vụ cà. Những luống cà bát được vun gốc, lên xanh mơn mởn, chỉ tháng sau đã ra hoa. Cái rét năm nay hết muộn, năm ngoái nhuận tháng tám bây giờ đã chớm sang tháng hạ mà có hôm còn rơi rớt gió bấc, mưa dây mưa dợ mờ mờ bóng cây gạo cổ thụ ngoài kia. Thế mà nụ gạo đã chi chít sớm. Nay mai, hoa cà tím ngát dưới ruộng, hoa gạo đỏ khé ngã ba đường, hàng đàn sáo đá, bồ các lại về ríu ran suốt ngày.\nChú tiểu Từ Tâm thoăn thoắt xới đất, vun gốc cà. Một chốc dừng tay, chống cán cuốc bướm, nhìn ra lúi húi. Không phải trẻ trâu, có lẽ người đi đường vào nghỉ chân. Nhưng ngã ba đường tận ngoài chân tre, tạt vào xa thế. Cũng chẳng phải khách chùa, hôm nay chưa đến rằm. Nghĩ đoán thế, rồi lại cúi xuống, nhấc cái bướm, mải miết làm. Nhưng lâu lâu ngước mắt ra, vẫn thấy người ngồi đấy. Một lúc, khi đứng lên, mới trông rõ ra một cụ già râu tóc bạc trắng, hai bên nách chống hai chiếc nạng tre, nhích từng bước khó nhọc, ông cụ đi vào chùa.\nTừ Tâm ghếch cái cuốc bướm lên luống cà, bước ra xem ai. Tới trước mặt, ông lão thẳng người lên, run run tay nạng, gọi :\n- Ôi, con.\n- Bố! Bố về chùa!\nRồi Từ Tâm bước lại, ôm hai vai ông lão. Ông lão vẫn xúc động, cả cái nạng cũng loạng choạng. Từ Tâm cúi xuống, xốc ông lão lên lưng. Từ Tâm cõng ông lão vào chùa. Vừa đi, vừa khóc thút thít.\n- Sao lại nên nông nỗi này? Bố chẳng nhắn người gọi con.\nÔng lão nép mặt vào vai chú tiểu, không nói. Mấy gian chùa vắng lặng. Cái trái nhà hậu đã đổ, những chiếc cột tre được bó lại, để làm củi. Nền đất chỗ ấy trổng cây mộc. Chỉ có mùi hoa mộc thơm ngan ngát nhưng cũng chỉ làm bớt cái hiu quạnh nhà chùa.\nÔng lão hỏi :\n- Sư ông con đâu?\n- Thầy con về đã bốn năm nay rồi.\n- Bây giờ chỉ có mình con?\n- Vâng.\nÔng lão rơm rớm nước mắt. Trước kia, bác cả Bỏi hay nói như mắng: \"Vãi nước mắt ra thì còn làm được trò trống gì!\" nhưng mà rồi những năm về sau này không giữ được nước mắt nữa. Tuổi tác và bao nhiêu thương đau chổng chất, con người như sập xuống, giống hai cái bàn chân chỉ còn thõng ra thế, có khi tự dưng nước mắt cũng ứa ra.\nÔng lão ngước nhìn quanh, nói như nhắc lại :\n- Thế là còn có một mình con.\nNgôi chùa, mái tranh, tường đất, hoang tàn. Ông hộ pháp văn đã đổ, chỉ còn cái bệ đất, trên đặt bát bình hương, vẫn được quét tước sạch sẽ, khách đến lễ thì cắm hương, khách có tâm, làng xóm bốn bên quanh chùa tuy nghèo khó, nhưng những ngày có việc thì đèn nhang cũng bày ra đầy đủ. Vậy mà công của không bao nhiêu, đành chịu chùa làng tiêu điều, ông hộ pháp võ bên kia, thanh long đao cũng gãy tụt cả cái chuôi cắp. Ban ngày mà những đàn dơi bay ra bay vào hốc cột như mắc cửi. Bệ thờ Đức Ông thường thì quanh năm được đèn hương nay đã tàn lạnh cả. Cũng là trên đất Kẻ Chợ, ngoài kia dập dìu bề bộn sang hèn, có mấy bước vào trong này mà nhà chùa bần bách tang thương quá.\n- Bấy lâu bố ở đâu?\n- Bố ở vạn ngoài sông Cái.\n- Chân bố đau thế, sao kiếm được ăn...\n- Bà con hàng vạn đỡ đần chu tất lắm, chẳng thiếu đâu, bố ở đến hết đời vẫn no đủ, nhưng mà ngày đêm chỉ nhúc nhích trên cái nan, cái thúng bơi quanh quẩn buồn quá.\n- Bố về ở với con.\n- Bố cũng định về bàn với con xem thế nào. Bây giờ chỉ còn có hai bố con. Cái hôm con thoát được trong làng ra...\nNói đến đấy, ông lão lại nghẹn ngào. Hai người ngồi im một lúc lâu. Như cùng nhớ lại buổi sáng đỏ máu ấy. Từ Tâm chẳng biết gì. Từ Tâm chỉ mang máng không rõ bố mẹ đã chết chém hay chết cháy. Cho đến lúc bố Cõi dắt đi. Đã nhiều ngẫm nghĩ, càng lớn càng nung nấu nhưng chưa bao giờ hỏi ai cho biết được câu chuyện thương tâm đến thế nào. Bố Cõi thì biền biệt. Từ Tâm không nhớ cả tên họ, không biết mình có tên hay không, về chùa, đến năm được xuống tóc, thầy đặt tên nhà chùa cho. Thầy Thiện Tâm chỉ biết việc chùa. Thầy kể thầy đã được ở chùa và đã xuống tóc từ khi còn bé hơn Từ Tâm. Cũng có khi hỏi, thầy chỉ nói: \"Xưa thế nào, thầy nhãng hết chuyện ngoài thế gian rồi con ạ\".\nĐêm hôm ấy, bữa cơm ngô với chuối bung nghệ rồi hai bố con ngồi mãi. Trời se lạnh, ngoài kia lại mưa, mưa dầm thành giọt, chốc chốc những giọt mưa rơi xuống bập bùng lưng tàu lá chuối. Buồn rứt ruột.\n- Lần trước về, chân bố còn vững như mọi người ta.\n- Cái già, mỗi năm mỗi tuổi, chẳng thể biết!\nĐĩa dầu bấc hiu hiu, lúc chợt sáng, lúc nhòa đi. Từ Tâm ngồi xếp bằng như niệm Phật. Ông già nằm ghếch đầu lên cái gối gỗ. Chừng như đã khuya, nhà ai ở phường ngoài Giám, tiếng gà đã eo óc gáy mỗi lúc một sôi dần lên.\nTừ Tâm nhìn bố :\n- Bố ơi, con hỏi bố câu này.\n- Câu gì thế?\n- Con định hỏi bố từ lâu.\n- Con cứ hỏi.\n- Lạy bố, bố có phải là quan huấn Cao?\nÔng già ngồi dậy, chằm chằm ngó Từ Tâm, rồi nói :\n- Bố không phải là quan huấn Cao. Bố là học trò quan huấn.\nRồi bố Cõi quay mặt, chắp tay lạy vào vách hai lạy cung kính, như chuyển lên thầy cái lạy chào của người trẻ tuổi biết trọng thầy.\nÔng già và nhà sư còn rủ rỉ chuyện có đến sáng bạch. Cha mẹ sinh ra ta, thầy cho ta được chữ. Ông lão Cõi chẳng có nổi mấy hạt chữ. Đã mồ Cõi, nhà lại khó quá. Mài mực, viết phóng, nhai chữ ê a, khi người trưởng tràng bảo nhận mặt chữ, trông thấy thầy cầm cái roi mây lại nhấc cái bút son, đã run. Nhưng mà nhớ không thể quên, nhớ thầy nhớ anh em đồng môn ngày ngày nằm, ngồi xúm xít quanh thầy. Những chuyện đồng môn nghe kể như cổ tích đã bao đời. Ngày mùa, đến nhà thầy cày bừa, tát nước, làm cỏ, gặt hái, góp giỗ chạp, tết nhất. Nhỡ mà thầy mất, đồng môn đi lại, trông nom lo liệu việc nhà thầy, thầy đã khuất, còn cô, thì đồng môn như con cái trong nhà.\nChẳng được chữ nghĩa là bao, nhưng cứ nhất nhất nghe anh cả trưởng tràng. Người trưởng tràng cũng ví như con trưởng nhà thầy mà thầy đã cắt đặt ra mỗi khóa, mỗi nơi thầy ngồi bảo học. Người trưởng tràng được sự phó thác và cái hãnh diện hồ dễ ai đã được. Thầy ngồi đọc sách tựa tráp trên phản, trưởng tràng lo buổi học. Cũng là người đi học, nhưng lại là người thay thầy bảo ban, thưởng phạt. Dẫu cho mỗi người thay một phận, có không được học thầy nữa, mà người trưởng tràng vẫn trưởng tràng cả đời.\nNhững chuyện xưa một ngày nên nghĩa ấy đã nhập tâm vào môn sinh bài học chữ hiếu. Đạo thờ thầy, phàm đã là người biết ngậm cái bút lông thì ai cũng thuộc làm lòng từ lúc mới được đến cho thầy khai tâm. Như Cõi, như Trắt cũng chỉ ăn mày thầy được đôi ba chữ thế mà theo thầy, chỉ biết có thầy. Đã cắp sách đến, trên đầu chỉ biết có thầy.\nCái năm thầy về giáo thụ trên phủ Quốc rồi mưu dấy binh cùng các nhà lang cun Đinh Công Mỹ, lang đá Bạch Công Chân, đất Mỹ Lương thầy cho người về gọi quân thì Cõi, thì bao nhiêu đồng môn nữa đã gác cày cuốc. Cõi bỏ gánh dầu, đồ lề thợ mộc, đóng cối, khăn gói cơm đùm cơm nắm lên theo thầy. Bây giờ nhớ lại mấy năm xông pha vào sống ra chết, kể đã hiên ngang chọc trời, khuấy nước một phương. Lắm gian nan, nhưng cũng nhiều khi đã nắm trong tay được thiên hạ. Cái lần đưa quân về đánh chiếm phủ Thanh Oan, phủ Ứng Hòa, án ngữ một dải đồng chiêm bọc quanh cả Kẻ Chợ vào đến chân dãy núi chùa Hương trong phủ Mỹ Đức. Đến khi chẳng dè đại quân ra Đồng Dương ngoài Thanh Oai bị thất trận, bèn vượt núi tạt sang Quế Quyển bên Hà Nam định theo sông Châu vào đồng bằng phủ Lý Nhân, nhưng cũng không qua được. Lại trỏ lên phủ Quốc, thì lần này chiếm được phủ lỵ. Người Kinh, người Mường, người Mán từ trong Mỹ Lương ra Ba Trại quanh xuống đến các vùng ngoài chốt Nghệ dưới Sơn Tây, làng làng mổ trâu làm tiệc linh đình mừng quân tướng. Thừa thắng, luồn sang Tam Đảo, đánh xuống đốt thành Tam Dương ra đống tro tàn. Đương giữa tưng bừng đến khi trở lại, thì Quốc Oai đã bị quân quan Tổng đốc trên Lâm Thao tràn ngập xuống rồi. Thầy cho rút quân vào thủ hiểm trong Mỹ Lương, vùng rừng núi cát cứ của nhà lang Bạch Công Chân. Định chỉnh đốn, nghỉ ngơi ít lâu ở nơi sơn cước khuất nẻo cho nên Cõi đã được về làng lo việc nhà vào dịp ấy. Thế nào mà quan triều đình đã mạo hiểm vào tận Kệ Sơn. Thầy ta ngộ nạn giữa trận ở đấy.\nCái hôm năm mươi ngày thầy, người trưởng tràng đứng ô hô thầy rồi lạy phục xuống, tất cả môn sinh và khóa trưởng ấy cùng ôm tay lên miệng, ô hô, ô hô khóc dòng. Có rửa được thù này mới là báo đáp được công ơn thầy. Từ ấy tới giờ, người trưởng tràng đi đâu. Những trưởng tràng của thầy ở các nơi đâu rồi. Vì thầy, ai còn ai đã chết, ai đã bỏ mình thảm thương như Trắt, ai giữ được tấm lòng như xưa, ai đã muối mặt đành tâm quên cả, ai phải chịu đau đớn như Cõi. Bao giờ đồng môn lại tụ hội ngày giỗ thầy, bác trưởng tràng khấn thầy được an giấc dưới suối vàng hay chúng con phải tạ tội với thầy. Nào những ai còn, ai mất?\nĐêm ấy, bác Cõi kể đầu cuối ngọn ngành với cậu bé làng sủi sống sót.\nVừa sáng, sư Từ Tâm cầm cái cuốc bước ra vun gốc luống cà, nhưng vẫn hôi hổi trong đầu những câu chuyện của bố Cõi. Có lúc nhà sư buông cuốc, cúi mặt, nghĩ đến bàn tay chai khẳng khiu như cái que khô của bố Cõi, mà thấy thật bồi hồi.\nCả ngày, sư Từ Tâm mải miết ngoài ruộng cà. Trời đã có khi mưa cơn mưa trận, phải vun vội cho đất kịp mát. Nụ cà đã chúm chím tím mờ từng dải. Đôi chốc, chống cái cuốc bướm thẫn thờ nhìn vào gian bên chùa chỗ cánh liếp thủng lỗ, mở hé. Bố Cõi ngồi trong ấy, cắm cúi đan lát, chốc chốc cái đuôi lạt thoăn thoắt vút lên. Người già chẳng ngơi tay lúc nào.\nSư Từ Tâm vẫn đăm chiêu tư lự. Chưa bao giờ người trẻ tuổi ấy được nghe biết như vậy. Bấy lâu một lòng kính yêu, ơn nghĩa người đã cứu mình. Bây giờ,... hai bàn chân mất gân chúc thõng xuống, như người tù ngồi xó trong ngục, cái gông kéo trĩu cổ nhưng câu chuyện bố kể xót như xát muối mà nghe tiếng nói lại như một người vẫn đương ngùn ngụt chí rửa thù. Đến lúc với cầm cái nạng mới lê bàn chân đứng dậy, ông lão rầu rĩ thở dài: \"Biết đâu đến phải nước này. Bố chết không nhắm được mắt con ạ\".\nMột hôm, sư Từ Tâm nói với bố :\n- Con xin thưa...\n- Bố ơi! Bố để con đi, con xin đi báo thù cho cụ huấn. Bao giờ bố yếu, con mà báo được thù thì bố yếu đến đâu bố cũng được nhắm mắt như ngủ. Bố cho con đi...\n- Được! Được!\n- Bố chỉ đường cho con lên Sơn Tây.\n- Con hãy về bến Bỏi đã. Hỏi thăm, bây giờ là cụ Cả Bỏi. Con lạy cụ, con nói con là con bố Cõi.\nSư Từ Tâm đi khuất đã lâu, bác Cõi đứng bên cái cổng rong ngoài chùa trông ra. Đã sang đầu hè, cây gạo ngã ba đường đương cữ nở hoa đỏ ối. Dưới ruộng, những luống cà bát hôm nào sư Từ Tâm mới xới, bây giờ quả cà trắng toát, to bằng cái bát chậu, đã hái muối xổi được. Những cây gạo xa xa ven đường thấp thoáng rực rỡ. Như một niềm mong mỏi.\nTừ đấy, ông lão ở lại trông nom chùa Xiển. Ngư làng gọi là ông sãi, ông sãi chùa Xiển. Ông sãi có tật chân, nhưng khéo tay như thợ mộc, cột kèo được bào đẽo nhẵn nhụi, cảnh chùa có phong quang hơn. hỏi thăm thầy Từ Tâm, ông sãi nói xưa rày nhà chùa vẫn phải đi khuyên giáo, ăn mày thập phương. Lâu lâu không thấy về, khách đến lễ cũng không tò mò nữa. Đương thời buổi tao loạn, kẻ gian người ngay lẫn lộn, thầy đi việc nhà chùa hay việc quốc sự, biết nào mà tọc mạch.\n**HẾT**\n\nKẻ Cướp Bến Bỏi Kẻ Cướp Bến Bỏi Tô Hoài", "file": "books_text_final/ebooks.epub_36560.txt"} {"text": "**I. ĐẠI CƯƠNG**\nViêm phế quản cấp (VPQC) là một bệnh viêm không đặc hiệu niêm mạc các phế quản lớn và trung bình.\nBệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất ở trẻ em và người già. Hay xảy ra vào mùa lạnh, mùa đông - xuân.\nVị trí: Thường xảy ra ở các phế quản lớn và vừa. Tổn thương chỉ khu trú ở niêm mạc phế quản, có thể lan tỏa hoặc cục bộ.\nBệnh khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng.\n**II. NGUYÊN NHÂN**\n* Tác nhân gây bệnh:\nVi khuẩn như phế cầu, liên cầu, Micrococcus Catarrhalis. Virut: virut cúm, virut sởi.\nHóa chất: hơi độc, bụi ô nhiễm.\n* Điều kiện thuận lợi: Do thay đổi thời tiết.\nDo viêm đường hô hấp trên như viêm mũi, viêm họng, viêm thanh quản. Vi khuẩn, virut từ đó lan xuống.\n**III. TRIỆU CHỨNG**\nMở đầu bằng viêm đường hô hấp trên như hắt hơi, sổ mũi, đau rát họng. Tiếp theo có sốt vừa hoặc sốt cao 38 - 390C.\nTriệu chứng cơ năng: ho nhiều, có khi ho dữ dội. Lúc đầu ho khan sau ho có đờm, lúc đầu đờm trong sau đó đờm đục. Khó thở nhẹ, có khi thấy khò khè.\nKhám phổi lúc đầu có ran ngáy, ran rít rải rác hai phổi. Khi có ram ẩm, ran nổ là bệnh nặng.\nXét nghiệm máu: Số lượng bạch cầu tăng, bạch cầu da nhân trung tính (N) tăng.\nX-quang: Rốn phổi đậm. Không có thâm nhiễm ở nhu mô.\n**IV. ĐIỀU TRỊ**\nKháng sinh: Amocyclin, Ampicilin. Trường hợp nặng có thể dùng Ceficxim, Ciprobay, Augmentin.\nSát trùng đường hô hấp trên: Nhỏ mũi Argirol 0,1% Chloromycetin 0,4% ngày 3 - 4 lần.\nGiảm ho: Người lớn: Neo-codion, Toplexil viên, thuốc ho đông y: Bảo thanh, P/H. Trẻ em: Toplexil dung dịch uống, thuốc ho trẻ em. Tuyệt đối không được dùng loại có codein cho trẻ em.\nChống co giật: Hỗn hợp\nBromuacanxi 1% x 5 - 10ml (Do dược pha chế).\nDimedrol 0,1% x 5 - 10ml (Do dược pha chế).\nCó tác dụng an thần, chống dị ứng.\nHoặc seduxen chống co giật tốt. Liều lượng tùy theo lứa tuổi.\n\n*Chronic obstructive pulmonary disease (COPD)* **I. ĐẠI CƯƠNG**\nBệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (viết tắt tiếng Anh là COPD) có đặc điểm là hạn chế lưu lượng thở dai dẳng, tiến triển và thường kết hợp với viêm mạn tính ở đường thở và nhu mô phổi do các hạt nhỏ (particles) và khí độc hại. Những đợt cấp tính và bệnh lý đi kèm góp phần làm cho bệnh nặng lên.\nChưa có thống kê toàn diện ở Việt Nam, nhưng số người vào viện vì những đợt tiến triển cấp tính của COPD là rất cao. Trên thế giới COPD là một trong những nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và tử vong, một gánh nặng rất lớn về kinh tế và xã hội. Bệnh đang tăng lên hàng năm.\n**II. NGUYÊN NHÂN** **1. Yếu tố cá thể**\nNam giới bị nhiều hơn nữ giới.\nNgười có thiếu hụt Alpha1- Antitrypsin. Đây là chất ức chế men phân giải đạm lưu hành trong máu.\nDo khuyết tật của phổi trong quá trình phát triển từ lúc bào thai, khi mới đẻ đến lúc trưởng thành.\nNhiễm khuẩn hô hấp tái diễn nhiều lần, nhất là khi nhỏ tuổi.\n**2. Yếu tố môi trường**\nKhói thuốc lá là nguyên nhân chính gây nên COPD.\nÔ nhiễm môi trường: Khói nhà máy, lò cao, khói bếp; các loại bụi: bụi silic, bụi than, bụi đá, bụi xi măng; các hóa chất độc hại ở các nhà máy, các kim loại nặng…\n**III. TRIỆU CHỨNG** **1. Đối tượng**: Hay gặp ở nam giới tuổi từ 50 - 60 trở lên. Có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm. Người hút thuốc sớm có khi 40 tuổi đã bị. **2. Triệu chứng cơ năng**\nHo và khạc đờm nhiều năm. Lúc đầu ho vào sáng sớm, ho thỉnh thoảng vài ba ngày, về sau ho cả ban ngày và ho thường xuyên hơn.\nKhạc đờm, lúc đầu đờm nhầy trong, về sau đờm đục nhầy mủ, nhất là những đợt bùng phát.\nKhó thở xuất hiện âm thầm. Lúc đầu bệnh nhân không để ý, về sau thấy khó thở khi vận động mạnh như leo thang gác hoặc chạy bộ. Dần dần thấy thở rít, đau tức ngực.\nNhững bệnh nhân bị môi tím, hay có đợt bùng phát, chóng suy hô hấp, suy tim, tâm phế mãn sớm, là những bệnh nhân thuộc type B.\nNhững bệnh nhân ho và khạc đờm ít hơn nhưng lồng ngực giãn nở hình thùng, khó thở nhưng môi vẫn hồng, tâm phế mãn muộn hơn, là những bệnh nhân thuộc type A.\n**3. Triệu chứng thực thể** **Giai đoạn sớm**: Triệu chứng chủ yếu chỉ thấy loáng thoáng ran rít, ran ngáy rải rác hai bên phổi. Nhưng rất giá trị nếu phát hiện ở những người thuộc đối tượng nêu trên. Bác sỹ phải cảnh báo họ bỏ thuốc ngay và phải đưa vào diện theo dõi. **Về sau các triệu chứng rõ hơn:**\nLồng ngực giãn hình thùng, di động kém. Gõ vang, nghe rì rào phế nang giảm. Tiếng tim mờ.\nNếu nặng thì có rút lõm trên ức, trên đòn, rút lõm các cơ liên sườn.\nRan rít ran ngáy đầy hai phổi. Có thể có ran ẩm, ran nổ. Type B nghe phổi ồn ào. Type A phổi yên tĩnh hơn, ít ran.\nDấu hiệu Campbell: Khi bệnh nhân hít vào, nhìn thấy khí quản trên xương ức tụt xuống và co ngắn lại.\nDấu hiệu Hoover: Khi bệnh nhân thở vào, phần đáy hai bên lồng ngực co hẹp lại (ngược với người bình thường) do cơ hoành co lại.\n**Nếu có suy tim phải:**\nPhù mặt phù hai chân.\nGan to, tĩnh mạch cổ nổi.\nPhản hồi gan - tĩnh mạch cổ dương tính.\nDấu hiệu Harger dương tính.\nTiếng tim T2 vang mạnh ở huyệt động mạch phổi.\n**Đợt tiến triển cấp tính:**\nSốt trên 380C, ho khạc đờm tăng lên, đờm nhầy mủ. Khó thở tăng trên 25 lần/phút, khó thở nổi bật, rút lõm các cơ hô hấp phụ. Tím tái tăng, phù hai chi dưới, nhịp tim trên 110 lần/phút. Dáng vẻ chậm chạp, phờ phạc, lờ đờ.\n**4. Xét nghiệm cận lâm sàng**\n- X-quang phổi: Type B chủ yếu là hình ảnh phổi bẩn, phổi tăng sáng, các mạch máu ngoại vi thưa thớt. Type A: Khoang gian sườn giãn rộng, nằm ngang. Cơ hoành dẹt xuống, hạ thấp. Bóng tim nhỏ lại và dài ra. Khoảng sáng sau xương ức và sau tim tăng lên.\n- Chức năng hô hấp: FEV1 giảm, Tỷ số FEV1/VC giảm, FEF 25 - 75 giảm, RaW tăng, RV tăng.\nKhí máu: PaO\n2 giảm, SaO 2 giảm, PaCO 2 bình thường hoặc tăng.\nĐiện tim: Dầy nhĩ phải (sóng p cao nhọn trên 2,5mm), dầy thất phải (Rv5 + Sv1 > 11mm).\n- Siêu âm Dopler: áp lực động mạch phổi > 25mmHg.\n- CT: Khí phế thũng trung tâm tiểu thùy hoặc khí phế thũng đa tuyến nang.\n- Soi phế quản: Niêm mạc phế quản dầy, tăng tiết dịch nhầy, thay đổi mẫn cảm với ho, hình ảnh viêm với 3 mức độ: xung huyết đỏ, dầy mất vòng sụn, phế quản bị xoắn. Qua soi phế quản ta có thể hút dịch phế quản xét nghiệm vi trùng, sinh thiết phế quản chẩn đoán mô bệnh.\n**IV. ĐIỀU TRỊ**\n1. Kháng sinh. Những vi khuẩn thường gặp ở Việt Nam: Tụ cầu, phế cầu, Hemophilus Influenzae. Kháng sinh thường dùng:\nLincomycin + Gentamycin\nCefalojec + Gentamycin\nClaforan + Peflacin\n2. Thuốc giãn phế quản:\nVentolin dạng xịt, Berodual dạng xịt, Seretide dạng xịt.\nCác thuốc giãn phế quản dạng khí dung dùng cho máy khí dung.\n3. Thuốc long đờm: Mucitux, Mucomyst, Mucosolvan.\n4. Corticoide: Prednisolon, Solu-Medrol.\n5. Thở oxy ngắt quãng (Bệnh nhân nặng nên có bình oxy tại nhà).\n6. Những trường hợp cần điều trị ở Khoa Hồi sức tích cực: Điều trị tích cực vẫn không đỡ khó thở.\nHội chứng não - hô hấp: lú lẫn, ngủ gà ngủ gật (do suy hô hấp)\nToan máu pH < 7,3.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nHen phế quản là một bệnh có đặc điểm là:\nCác phế quản phản ứng mạnh với những tác nhân kích thích đặc hiệu hoặc không đặc hiệu, dẫn đến co thắt toàn bộ phế quản, biểu hiện lâm sàng bằng cơn khó thở chậm, rít, đột ngột. Mức độ nặng nhẹ tùy bệnh nhân và tùy từng cơn hen.\nCơn hen có thể tự hồi phục hoặc hồi phục nhanh dưới tác dụng của các thuốc giãn nở phế quản.\nGiữa các cơn, phổi lại bình thường.\n**II. NGUYÊN NHÂN** **1. Yếu tố cá thể**\nDi truyền: Người có nhiễm sắc thể 11q, và HLA-DW2, gen HLA- DRB1-15.\nTạng Atopy (cơ địa dị ứng).\nNội tiết: Rối loạn chức năng buồng trứng, thiếu hụt Glucococticoide, kinh nguyệt, chửa đẻ, tiền mãn kinh.\nChấn thương tâm lý, stress.\nVận động gắng sức.\n**2. Yếu tố môi trường**\nDị nguyên là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của hen phế quản.\nBụi bẩn, phấn hoa, lông thú, nấm mốc, thức ăn, hoa quả, đồ uống, các chất có mùi vị như nước hoa, sữa tắm, xăng dầu, hóa chất; các chất cao phân tử như cao su, chất dẻo.\nCác thuốc như: Aspirin, các kháng sinh penicilin, Streptomycin Tetracyclin, Cephalosporin, các thuốc chống viêm nonsteroide, thuốc ức chế giao cảm: propranolon.\nÔ nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí nơi công cộng: khói bụi nhà máy, bụi nhà, mùi sơn, mùi gỗ lạ.\nNhiễm khuẩn: các vi khuẩn, virut gây nhiễm trùng đường hô hấp vừa là tác nhân gây dị ứng, vừa là tác nhân gây viêm nhiễm.\n**III. TRIỆU CHỨNG** **1. Lâm sàng**\n- Đối tượng: Gặp ở mọi lứa tuổi. Nhưng khi khai thác bệnh thường bắt dầu từ bé.\nBệnh nhân đã nhiều lần có những cơn khó thở. Các cơn khó thở đó giống nhau, xảy ra trong những điều kiện giống nhau.\n- Trạng thái tiền hen: Có tiền sử di truyền về hen và về bệnh dị ứng. Bản thân có bệnh dị ứng như nổi mề đay, viêm mũi dị ứng, phù Quink, có viêm phế quản thể hen khi còn nhỏ, xét nghiệm máu có E tăng, đo chức năng hô hấp có rối loạn thông khí tắc nghẽn nhẹ.\n- Cơn hen điển hình: Trước cơn hen bệnh nhân thường có các tiền triệu như ho, hắt hơi, người thấy mệt mỏi nhẹ, khó chịu nhưng thường không để ý (chỉ khi bác sỹ khai thác bệnh nhân mới biết và nói ra). Cơn hen đến làm bệnh nhân khó thở cò cử, khó thở chậm rít, khó thở thì thở ra là chính. Bệnh nhân hốt hoảng, toát mồ hôi, da tái nhợt hoặc tím tái. Cứ như thế khó thở kéo dài từ 30 phút đến vài tiếng. Bệnh nhân ho và khạc đờm quánh dính, đờm hạt trai. Khạc được đờm ra bệnh nhân thấy dễ thở hơn. Cơn khó thở rút lui và hết. Cơn khó thở đến đột ngột và ra đi cũng đột ngột.\n- Khám phổi trong cơn:\nHội chứng giãn phổi cấp lồng ngực giãn, phổi gõ vang.\nHội chứng phế quản: ran rít, ran ngáy đầy hai phổi.\nNghe tim tiếng tim mờ, nhịp tim nhanh.\nKhám ngoài cơn phổi bình thường.\n- Có ba hình thái lâm sàng:\nCơn khó thở kịch phát (cơn điển hình như đã mô tả ở trên).\nCơn khó thở liên tục (khó thở thường xuyên, kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày gây ảnh hưởng xáo trộn cả ăn uống, ngủ và sinh hoạt cá nhân).\nHen ác tính là một hình thái rất nặng, chúng tôi sẽ trình bày trong một bài riêng.\n- Có 4 mức độ một cơn hen: Dựa vào một trong các chỉ tiêu sau:\nKhó thở nhẹ: Nói được gọn cả câu, FEV1 50 - 80%, PEF > 80%\nKhó thở vừa: Nói từng cụm từ, 25% < FEV1 < 50%, PEF 60-80%.\nKhó thở nặng: Nói một từ, 10% < FEV1 < 25%, PEF < 60%\nKhó thở rất nặng: Li bì hoặc hôn mê nên các XN CNHH không đo được.\n**2. Biến chứng**\nTràn khí màng phổi, tràn khí trung thất.\nNhiễm khuẩn phế quản - phổi.\nXẹp phổi.\nKhí thũng phổi.\nTâm phế mạn.\nSuy hô hấp mạn.\nHội chúng giả Cushing do dùng corticoid kéo dài.\n**3. Xét nghiệm**\n- X-quang: Hình ảnh giãn phổi, phổi tăng sáng, di động kém (chiếu Xquang), không có thâm nhiễm và những tổn thương khác.\n- Chức năng hô hấp: FEV1 giảm, tỷ số FEV1/VC giảm, FEF 25-75% giảm, RaW tăng. Rối loạn thông khí tắc nghẽn có hồi phục.\n- Điện tim: Nhịp tim nhanh, có thể có T (-).\n- XN máu: Bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ, E tăng.\n- XN đờm: Có bạch cầu ái toan E, tinh thể Sharcotte - Leyden, vòng xoắn Curshmann.\n- Thăm dò: Test phản hồi trong cơn. Test gây cơn nếu nghi ngờ, ngoài cơn.\nTest da để phát hiện dị nguyên. Giá trị, rẻ tiền, kết quả nhanh.\nXét nghiệm IgE: IgE toàn phần tăng, XN IgE đặc hiệu bằng Prick test.\n**IV. ĐIỀU TRỊ** **1. Nguyên tắc điều trị**\nLoại bỏ triệt để các yếu tố làm bùng phát cơn hen.\nĐiều trị tích cực cắt cơn hen.\nĐiều trị dự phòng cơn hen và các biến chứng.\nHướng dẫn cho bệnh nhân về điều trị và kiểm soát bệnh.\n**2. Các thuốc điều trị hen phế quản.**\nCó 5 nhóm thuốc. Có khi chỉ dùng một thuốc, có khi phải phối hợp 2 - 3 thuốc thuộc 2 - 3 nhóm để cắt cơn (không nên phối hợp hai thuốc cùng nhóm). Có khi dùng thuốc viên, thuốc xịt, khí dung, có khi phải tiêm hoặc truyền tĩnh mạch. Điều này tùy thuộc trước hết vào bệnh nhân, sau đó còn tùy thuộc vào thuốc được trang bị của người thầy thuốc.\n- Nhóm chủ vận bê ta 2 - Adrenergic: Loại tác dụng ngắn 3 - 6h thường dùng để cắt cơn: Salbutamol (Volmax, ventolin), Terbutalin(brycanyl), fenoterol. Loại tác dụng dài 8 - 12h thường dùng dể duy trì, không dùng cắt cơn: Salmeterol, formoterol.\n- Nhóm Methylxanthin: Theophylin, theostat, diaphylin.\n- Nhóm kháng M-cholin: Ipratropium bromid (atrovent).\n- Nhóm Glucocorticoid: pednisolon, depersolon, solu-medrol, Becotid,pulmicort.\n- Thuốc chống dị ứng và chống viêm, không có tác dụng giãn phế quản nên không dùng để cắt cơn. Thường dùng để dự phòng và điều trị củng cố hen dị ứng mãn tính. Nhóm Cromones: Cromoglycate sodium. (Cromon,cromolyn), Nedocromil sodium. Thuốc ngoài nhóm Cromones: Ketotifel (Zaditen).\n**Một số thuốc xịt hai thành phần:**\nSeretide (Salmeterol xinafoat + fluticasone propionate).\nBerodual (Fenoterol HBr + Ipratropium Br).\nSymbicort Formoterol + budesonide).\nVent - SF 250 (Salmeterol + Fluticasone propionate)\nThuốc dạng viên: Theo - Asthalin (Salbutamol + theophyllin)\n**3. Điều trị cụ thể.** Sau đây là phác đồ hay dùng để cắt cơn. **Cơn hen nhẹ:**\nHít hoặc khí dung thuốc chủ vận bê ta 2 Adrenergic tác dụng ngắn (liều thấp).\nHít corticoid hoặc uống prednisolon (liều thấp).\n**Cơn hen trung bình:**\nHít hoặc khí dung thuốc chủ vận bê ta 2 Adrenergic tác dụng ngắn (liều gấp đôi thể nhẹ).\nUống Prednisolon 0,5 - 1mg/Kg cân nặng/ngày, hoặc tiêm hoặc truyền solu-medrol.\nThở o xy.\n**Cơn hen nặng:**\nHít hoặc khí dung thuốc chủ vận bê ta 2 Adrenergic tác dụng ngắn như với cơn trung bình.\nHít hoặc khí dung thuốc kháng cholinergic.\nUống hoặc tiêm truyền corticoid như cơn trung bình.\nCó thể phối hợp uống hoặc tiêm truyền thuốc nhóm xanthin.\nThở ô xy.\nSau khi cắt cơn có thể duy trì bằng thuốc chủ vận bê ta 2 Adrenergic loại tác dụng dài, hoặc thuốc nhóm cromones.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nTrước một bệnh nhân hen phế quản nặng ta thường phân vân tự hỏi: “Có phải là cơn hen ác tính không? Nghĩa là có khả năng gây ngạt thở và trụy tim mạch dẫn đế tử vong không?”. Vấn đề đặt ra là:\nXác định hen phế quản và tiêu chuẩn chẩn đoán hen ác tính.\nThái độ xử trí tích cực tình trạng suy hô hấp.\nHen ác tính là một hình thái của hen phế quản. Đó là một cơn khó thở nặng, liên tục kéo dài trên 24h, do tắc nghẽn toàn bộ các tiểu phế quản tận bởi co thắt và dịch nhầy, dùng các thuốc hen thông thường không kết quả, kèm theo triệu chứng suy hô hấp cấp, suy tim phải.\nHen tối cấp tính là hen gây ngạt thở đột ngột có thể tử vong trong vòng 1 giờ.\nCần phân biệt với: Hen tim phù phổi cấp. Tắc động mạch phổi. Phế quản phế viêm. Đợt bùng phát của COPD. Cách xử trí các bệnh trên là khác nhau.\n**II. NGUYÊN NHÂN**\nSai lầm trong điều trị: Dùng thuốc kiểu giao cảm kéo dài (Adrenalin). Ngừng corticoid đột ngột. Dùng thuốc ức chế hô hấp, ức chế phản xạ ho. (Mocphin).\nDị ứng mạnh với Penicilin, Aspirin. Giải mẫn cảm đặc hiệu quá liều.\nBội nhiễm phế quản dai dẳng.\nChấn thương tâm lý mạnh (stress).\nPhẫu thuật đường hô hấp trên.\n**III. TRIỆU CHỨNG** **Biểu hiện chung: Suy hô hấp cấp**\nSuy tim phải.\nRối loạn ý thức.\nDấu hiệu suy hô hấp với hai biểu hiện cơ bản: Thiếu ô xy não, vật vã, giẫy giụa, lo mơ. Thiếu ô xy cơ tim (ECG).\nSau đây là những triệu chứng cụ thể.\n**1. Triệu chứng hô hấp:**\nCơn hen phần lớn xảy ra đột ngột có tính chất kịch phát. Một số xảy ra trên cơ sở của một cơn khó thở liên tục.\nKhó thở nhanh nông, chủ yếu là khó thở ra, rút lõm, tím tái do thiếu ô xy máu.\nĐặc biệt mất phản xạ ho, bệnh nhân không khạc được đờm ra.\nKhám phổi: Lồng ngực căng, liên sườn giãn rộng, ít di động. Gõ rất trong. Đặc biệt dù bệnh nhân khó thở nặng nhưng nghe phổi chỉ thấy rì rào phế nang giảm nhiều, ít ran rít ran ngáy. Có khi không có ran rít ran ngáy. Trường hợp “phổi im lặng” như thế là rất đáng ngại.\nPEF < 50% số lý thuyết.\n**2. Triệu chứng tim mạch**\nMạch nhanh > 120 lần/phút, huyết áp hơi tăng, sau đó giảm. Có triệu chứng suy tim phải: tĩnh mạch cổ nổi, gan hơi to, ECG sóng p cao, thiếu máu cơ tim sóng T (-) từ V1 - V3.\n**3. Triệu chứng thần kinh**\nXảy ra vào giai đoạn cuối, rối loạn ý thức lờ đờ, thẫn thờ, lú lẫn, dần dần có thể vật vã, giãy giụa rồi hôn mê.\nDấu hiệu tăng PaCO\n2 máu thường xuất hiện muộn, toát mồ hôi ở mặt, mạch nhanh, HA giảm, trụy tim mạch. **4. XN cận lâm sàng** **X-quang:** Lồng ngực giãn rộng, phổi sáng, không có hình viêm nhiễm. X-quang giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác. **Sinh hóa:** Đo phân áp khí động mạch:\nPaO\n2 máu giảm < 70mmHg.\nPaCO\n2 máu tăng > 60mmHg - 150mmHg. **IV. ĐIỀU TRỊ** **Hướng xử trí:** Tìm mọi cách chống co thắt phế quản. **Hồi sức hô hấp**\nÔ xy liệu pháp: Lưu thông đường thở, lau đờm rãi, thở ô xy lưu lượng 4 - 6lít/phút, liên tục 12 -15h.\nKhí dung Salbutamol, ipratropium, có thể tiêm terbutalin.\n**Corticoid liệu pháp:** tiêm truyền tĩnh mạch Depersolon, solu-medrol, Hydrococtizon henisuccinat, pha vào HT ngọt đẳng trương 5%.\nTruyền aminophyllin xen kẽ với corticoid. Cho sinh tố C và Kalichlorua 2 - 3g.\n**Kháng sinh phổ rộng:** nhóm cephalosporin, quinolon. **Chống trụy tim mạch:** caphein, aramin, isupren. **Bổ sung nước** qua đường truyền tĩnh mạch và đường uống 1 ngày từ 2 - 3 lít, vừa chống mất nước vừa chống khô cục đờm ở phế quản. **Thở máy: **Khi có chỉ định:\nPEF < 33% so với lý thuyết.\nPaO\n2< 60 mmHg, PaCO 2> 70 mmHg.\nNhiễm toan mất bù.\nTím tái rõ rệt. Thở nông, thở yếu, rì rào phế nang mất (phổi câm). Thần kinh hốt hoảng, lú lẫn, hôn mê. Mạch chậm, trụy tim mạch.\nPhải đặt nội khí quản, không nên mở khí quản vì đây là bệnh mãn tính. Nói chung thở máy chỉ nên điều trị ở các cơ sở hồi sức tích cực.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nGiãn phế quản là bệnh giãn thường xuyên, không hồi phục các phế quản trung bình từ cấp 4 đến cấp 8, do tổn thương các cấu trúc: cơ, sợi chun, sụn của thành phế quản, kèm theo bít tắc hoàn toàn các nhánh phế quản dưới chỗ giãn.\nKhông coi là bệnh giãn phế quản trong một số trường hợp sau: Giãn phế quản có hồi phục trong một số bệnh cấp tính.\nGiãn các phế quản nhỏ trong viêm phế quản mãn, khí phế thũng. Giãn các tiểu phế quản tận trong xơ phổi kẽ.\n**II. NGUYÊN NHÂN**\n- Viêm hoại tử thành phế quản. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất, quyết định nhất. Viêm nhiễm làm cho quá trình chống đỡ của thành phế quản bị giảm đi. Thông thường do căn nguyên nhiễm khuẩn hàng đầu. Tác nhân hóa chất, trào ngược dạ dày… ít gặp hơn.\n- Chít hẹp phế quản: u carcinoide trong lòng phế quản, lao phế quản, lao hạch cạnh khí quản. Phía dưới chỗ chít hẹp dễ bị nhiễm khuẩn, đồng thời áp lực nội phế quản tăng gây giãn phế quản. Nguyên nhân này hay gây giãn phế quản cục bộ.\n- Tổn thương xơ hóa quanh phế quản, co kéo gây giãn phế quản: lao xơ hang, lao xơ phổi, áp xe phổi mãn tính. Nguyên nhân này gây giãn phế quản cạnh tổn thương xơ.\n- Căn nguyên bẩm sinh ít gặp hơn: Hội chứng Kartagener, Hội chứng Muonier-Kuhn, Hội chứng Young, Hội chứng William-Campbell…\n**III. TRIỆU CHỨNG** **1. Triệu chứng toàn thân**\nHay gặp ở nữ giới nhiều hơn nam. Khởi đầu sớm trước 20 tuổi, hay có ngón tay dùi trống. Thể trạng chung vẫn tốt, mặc dù có ho ra máu nhưng không gầy sút cân, không sốt (trừ những đợt bội nhiễm).\n**2. Triệu chứng cơ năng**\nHo và khạc đờm nhưng khạc đờm là chủ yếu. Đờm rất nhiều, số lượng 200 - 400ml/24h. Đờm nhầy mủ và lẫn bọt. Đờm nhiều vào buổi sáng, để vào một cái cốc thủy tinh, đờm lắng thành 4 lớp, tính từ dưới lên: mủ, thanh dịch, nhầy, bọt.\nHay có ho ra máu, mức độ nhẹ, vừa hay nặng. Giãn phế quản thể khô hay gặp ho ra máu hơn nhưng lại ít khạc đờm.\nKhó thở xuất hiện khi có những đợt cấp, có co thắt phế quản ở bệnh nhân giãn phế quản liên tục. Khi có khó thở thì tiên lượng đã xấu.\n**3. Triệu chứng thực thể**\nNghe phổi ở nền phổi có ran nổ và ran ẩm ở một bên hoặc cả hai bên, vị trí nghe thấy thường hằng định. Có khi thấy ran rít, ran ngáy nhưng ít hơn, ran nổ, ran ẩm vẫn là chủ yếu.\nBệnh nhân có những đợt viêm phổi tái diễn, điều trị kháng sinh thì hết. Sau đó vẫn có thể bị lại.\n**4. Xét nghiệm**\nChụp phim X-quang phổi chuẩn: cho biết những hình ảnh gián tiếp của ổ giãn.\nChụp CT rất hữu ích vì nó là phương pháp không xâm nhập.\nChụp phế quản cản quang là biện pháp chẩn đoán quyết định vì nó giúp ta biết vị trí và hình thù ổ giãn. Ngày nay người ta chụp phế quản cản quang khi có chỉ định mổ. Chụp xong, có kết quả thì mổ luôn.\nSoi phế quản giúp ta lấy bệnh phẩm tìm nguyên nhân tại chỗ.\nChụp động mạch phế quản: áp dụng khi có ho ra máu nặng hoặc dai dẳng.\n**5. Tiến triển và biến chứng**\nGiãn phế quản là một bệnh mãn tính, không hồi phục được. Nếu không được điều trị thì các ổ giãn sẽ lan rộng ra. Bệnh tiến triển kéo dài, có những đợt cấp tính do bội nhiễm. Dần dần nhiễm khuẩn trở nên khó điều trị, các đợt bội nhiễm làm cho bệnh nặng lên, xuất hiện khó thở.\nHo ra máu rất hay tái phát. Có khi ho ra máu nặng, đe dọa tính mạng. Tiên lượng kém nếu là giãn phế quản lan tỏa ở nhiều thùy, có bội nhiễm, suy hô hấp mãn, suy tim phải.\nBiến chứng toàn thân: Amiloidosis (thoái hóa dạng tinh bột ở thận, gan, lách).\n**IV. ĐIỀU TRỊ** **1. Nội khoa**\nKhi bệnh nhân khạc đờm mủ, cho bệnh nhân khạc đờm ra bằng cách: Thuốc long đờm Nabenzoat, Mucomyst, Mucosolvan. Khí dung phun mù nước muối ấm nếu đờm đặc quánh. Thuốc tiêu nhầy Alpha Chymotrypsin. Dẫn lưu đờm theo tư thế, vỗ rung. Làm như thế cho đến khi đờm trong trở lại mới thôi.\nĐiều trị kháng sinh các đợt bội nhiễm. Chọn kháng sinh theo kháng sinh đồ là tốt nhất. Kháng sinh đường tiêm, uống, khí dung 10 - 15 ngày cho đến khi hết sốt, đờm trong.\nCác vi khuẩn hay gặp là: Staphylococcus aureus, Streptococus pyogen, Hemophylus influenzae, Streptococcus pneumonia, vi khuẩn Gram (-) khác. Các kháng sinh thường phối hợp:\nLincomycin + Gentamycin\nClaforan + Nebcin\nKháng sinh nhóm Cephalosporin + Kháng sinh nhóm Quinolon. Nếu có ho ra máu thì điều trị ho ra máu: Transamin viên hoặc tiêm. Điều trị khó thở: Theostat viên, Ventolin hít hoặc khí dung.\n**2. Điều trị ngoại khoa**\nHiện nay ít làm vì điều trị nội khoa đã tiến bộ rất nhiều.\nChỉ định: Giãn phế quản cục bộ. Ho ra máu nặng đe dọa tính mạng. Phương pháp: cắt phân thùy hoặc thùy phổi.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nCác phế nang bình thường vẫn có tính chất đàn hồi, nở ra co lại rất nhịp nhàng. Khi thành phế nang bị tổn thương, tính đàn hồi đó bị mất, do đó nó chỉ nở ra và không co lại được.\nKhí phế thũng là bệnh giãn thường xuyên, vĩnh viễn, không hồi phục các khoang khí phía dưới tiểu phế quản tận cùng, do tổn thương phá hủy không hồi phục các thành phế nang và tiểu phế quản hô hấp.\nCần phân biệt khí phế thũng (emphysema) với giãn phổi (distantion). Giãn phổi chỉ mang tính tạm thời, có hồi phục, ví dụ: hen phế quản trong cơn, giãn phổi bù.\n**II. NGUYÊN NHÂN**\n- Hen phế quản gây khí phế thũng type A.\n- Viêm phế quản mãn gây khí phế thũng type B.\n- Lao xơ phổi, bệnh bụi phổi (nhất là silicosis) gây khí phế thũng cạnh tổn thương xơ.\n- Thiếu hụt alpha1 antitrypsin, bệnh có tính di truyền, trạng thái đồng hợp tử kiểu hình ZZ, hoặc dị hợp tử kiểu hình Mx. Bệnh có thể gây khí phế thũng nặng ở người trẻ tuổi.\n- Biến dạng lồng ngực, những người thổi thủy tinh, thổi kèn, người già.\n**III. PHÂN LOẠI**\n1. Khí phế thũng (KPT) toàn tiểu thùy, hay KPT đa tuyến nang, Khí phế thũng type A (Ashthma), KPT type PP (Pink Puffer) (type khó thở môi hồng).\n2. Khí phế thũng trung tâm tiểu thùy, hay KPT trung tâm tuyến nang, KPT type B (Bronchitis), Khí phế thũng type BB (Blue Bloater) (type tím tái mặt xị).\n3. Khí phế thũng cạnh tổn thương xơ (do lao xơ, bệnh bụi phổi silicosis, xơ phổi kẽ).\n**IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG** **1. Khí phế thũng type A**\nToàn thân gầy, môi hồng, không tím tái.\nKhó thở nhiều, nhất là khi gắng sức, tiếng nói bị ngắt quãng do khó thở.\nKhạc đờm ít.\nKhám phổi: Lồng ngực nở to, trên dưới bằng nhau gọi là “lồng ngực hình thùng”, lồng ngực di động kém, nở cả phía trước và phía sau trông gù đi. Gõ vang trong, nghe rì rào phế nang giảm, rất ít tạp âm nên có vẻ “phổi yên tĩnh”.\nBệnh chậm tiến đến tâm phế mãn.\n**2. Khí phế thũng type B**\nToàn thân: mặt xị ra, môi tím, có thể thấy ngón tay dùi trống.\nthở, ho và khạc đờm nhiều hơn.\nKhám phổi: lồng ngực giãn nhẹ, không có hình thùng, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy khắp hai phổi nên thấy “phổi ồn ào”.\nBệnh nhanh tiến triển đến tâm phế mãn.\n**Bảng so sánh hai loại KPT:**\n**V. CẬN LÂM SÀNG** **1. X-quang**\nKhoang liên sườn giãn rộng, các xương sườn nằm ngang.\nHai phế trường tăng sáng, mạng lưới phổi thưa thớt.\nCơ hoành hạ thấp và dẹt xuống.\nBóng tim trông nhỏ lại và dài ra (KPT type A).\nHình phổi bẩn (KPT type B).\n**2. Chức năng hô hấp**\nThể tích khí cặn RV tăng, dung tích toàn phổi TLC tăng, độ bão hòa ô-xy SaO\n2 giảm, khuếch tán ô-xy DLO2 giảm, sức nở phổi Compleance giảm, rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục FEV1 giảm, Vmax giảm, FEV1/VC giảm, sức cản đường thở RaW tăng, test phản hồi âm tính (Sau khi tiêm Synthophylin FEV1 < 15%), thông khí phế nang VA giảm nếu 70% nhu mô phổi bị phá hủy. **3. Xét nghiệm máu:**\nHồng cầu tăng (trong KPT type A là chính), Hematocrit tăng.\nĐiện tim: Dầy nhĩ phải, dầy thất phải, chủ yếu gặp trong KPT type B, do sớm bị tâm phế mãn.\n**VI. PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ** **A. Dự phòng** - Bỏ thuốc lá, thuốc lào. Tránh bụi.\nĐiều trị tốt hen phế quản.\n**B. Điều trị**\nKháng sinh chống nhiễm trùng phế quản. Chọn kháng sinh thích hợp. Dùng đường uống hoặc đường tiêm. Đối với type B, trong mùa đông: kháng sinh từng đợt 10 ngày/tháng x 6 tháng.\nChống khó thở: Salbutamol, theophyllin, Ipratropium Bromid.\nLong đờm: Mucitux, mucosolvan, tiêu nhầy alpha chymotrypsin.\nCorticoid liều thấp, đợt ngắn.\nCortancyl 20mg/ngày, sau đó giảm liều dần rồi cắt.\nTập thở bụng để đẩy khí cặn ra.\nĐiều trị biến chứng nếu có như: suy hô hấp (thở ô-xy), suy tim phải (điều trị suy tim).\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nViêm phổi cấp tính do vi khuẩn là quá trình viêm nhiễm và đông đặc nhu mô phổi, xảy ra nguyên phát ở phổi trước đó vốn bình thường, hoặc thứ phát ở phổi đã mắc bệnh mãn tính, không phải do vi trùng lao.\nVới cách hiểu trên ta đã loại đi những nguyên nhân khác như: virut, mycoplasma pneumoniae, ký sinh trùng, nấm, và các tác nhân vật lý, hóa học khác.\nTrước một viêm phổi cấp tính người ta còn chia ra: Viêm phổi cấp tính mắc phải ở cộng đồng (viêm phổi cộng đồng) và viêm phối cấp tính mắc phải ở bệnh viện (viêm phổi bệnh viện). Viêm phổi bệnh viện là viêm phổi sau khi vào viện trên 2 ngày. Chủ yếu do vi khuẩn gram (-), vi khuẩn yếm khí. Những điều kiện trong bệnh viện tạo ra khả năng gây viêm phổi như: bất động, suy mòn, các dụng cụ như máy thở, máy khí dung, ống mở khí quản, ống xông tĩnh mạch…\nViêm phổi cấp do vi khuẩn chiếm khoảng 60% các loại viêm phổi. Viêm phổi cấp do vi khuẩn gram (+):\n- Phế cầu.\n- Tụ cầu.\n- Liên cầu.\nViêm phổi cấp do vi khuẩn gram (-):\n- Klebsiella pneumoniae (trực khuẩn Friedlander).\n- Hemophilus influenzae.\n- Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh).\n- Pseudomonas pseudomalei.\n- Proteus.\n**II. VIÊM PHỔI THÙY CẤP DO PHẾ CẦU KHUẨN** **1. Nguyên nhân**\nPhế cầu khuẩn (còn có tên là pneumococcal, diplococus pneumoniae, streptococcus pneumoniae) là vi khuẩn gram (+) có vỏ bọc polysaccharid. Tính chất lâm sàng của bệnh là do phản ứng của cơ thể với vỏ phế cầu khuẩn. Phế cầu khuẩn có nội độc tố, số lượng nội độc tố ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh. Phế cầu khuẩn khu trú ở mũi họng, lan xuống phế quản theo trọng lực, gây bệnh khi sức đề kháng của cơ thể giảm.\n**2. Triệu chứng** *a. Khởi phát*\nBệnh xảy ra ở người trước đó vốn bình thường, tuổi thường từ 17 đến 35. Hay xảy ra sau một nhiễm lạnh. Khởi phát đột ngột bằng cơn rét run dữ dội kèm theo sốt cao 39 - 400C.\n*b. Toàn phát*\n- Hội chứng nhiễm trùng sốt cao 39 - 400C, số lượng bạch cầu tăng 10.000 - 15.000. N tăng. Đôi khi có tụt huyết áp, đau khớp, ban đỏ, khoảng 10% có buồn nôn, nôn, đau bụng nên dễ nhầm với bệnh khác.\n- Triệu chứng cơ năng: ho từng cơn, khạc đờm có màu gỉ sắt. Đau ngực bên bị viêm, nhip thở nhanh nhưng không khó thở.\n- Toàn thân: mặt đỏ, lưỡi đỏ hoặc trắng bẩn. Môi, miệng có những hạt Hecpet.\n- Khám phổi: hội chứng đông đặc điển hình, thường ở nền phổi. Rung thanh tăng, gõ đục, rì rào phế nang giảm, ran nổ, ran ẩm, có tiếng thổi ống. Nếu có phản ứng màng phổi có thể nghe tiếng cọ màng phổi.\n- Xquang: Đám mờ chiếm một thùy phổi, bên phải nhiều hơn bên trái, thùy dưới nhiều hơn thùy giữa và thùy trên. Tính chất mờ thuần nhất, có hình phế quản hơi, không có phá hủy thành hang.\n- XN máu: Bạch cầu tăng, N tăng, VS tăng, XN đờm BK (-)\nCấy máu sớm có thể thấy phế cầu khuẩn.\n*c. Lui bệnh*\nĐến ngày thứ 8 có thể thấy “cơn bệnh biến” với nhiệt độ tăng, triệu chứng cơ năng tăng. Sau đó thì nhiệt độ giảm, ra mồ hôi, nước tiểu tăng, toàn thân dễ chịu. Triệu chứng cơ năng giảm, các ran ở phổi giảm dần rồi hết. X-quang xóa muộn hơn, sau 3 tuần thì xóa hết, không để lại di chứng.\n*d. Biến chứng:* rất ít. **3. Điều trị**\nKháng sinh.\nPenicilin G (vẫn rất nhậy cảm) 3 triệu đv/ngày tiêm rải ra.\nHoặc cephalosporin hoặc augmentin.\nĐiều trị triệu chứng.\nGiảm ho Neocodion, tecpincodein.\nGiảm đau paracetamol, alaxan.\nTrợ tim mạch, tuyền dịch nâng huyết áp.\n**III. VIÊM PHỔI CẤP DO TỤ CẦU** **1. Nguyên nhân**\nTụ cầu vàng Staphylococus aureux gram (+), sản sinh ra các độc tố và agrexin có độc tính gây hoại tử mô phổi và hình thành áp xe, một phần cũng do tắc các mạch máu nhỏ. Vì vậy viêm phổi tụ cầu là một viêm phổi hoại tử.\nMàng vi khuẩn có thể tạo vỏ polysaccharid chống lại thực bào. Tụ cầu vàng kháng coagulaza và kháng nhiều kháng sinh (penicilin).\nThường là biến chứng của nhiễm virut đường hô hấp, như virut cúm, chúng thường đi trước gây tổn thương biểu mô phế quản tạo điều kiện cho viêm phổi tụ cầu.\nCó thể xuất hiện sau nhiễm khuẩn huyết như ở bệnh nhân đinh râu, cốt tủy viêm, nhọt, bỏng, viêm đa cơ…\nXảy ra ở viêm phổi mắc phải ở bệnh viện: qua nhân viên y tế, do dụng cụ y tế không tiệt trùng, mở khí quản, đặt nội khí quản…\n**2. Triệu chứng**\nChú ý khai thác tiền sử nếu có mụn nhọt, viêm đa cơ, cốt tủy viêm… sẽ rất có giá trị. Nếu nhiễm khuẩn huyết thì có thể thấy áp xe ở não, gan, thận, viêm mủ màng ngoài tim.\nKhởi đầu từ từ. Sốt cao, rét run, mạch nhanh, mệt lả, tình trạng nhiễm độc, suy sụp nhanh.\nHo, đau ngực, khó thở, khạc đờm mủ vàng.\nKhám phổi thấy ran nổ, ran ẩm ở thùy phổi bị viêm, gõ đục.Có thể có tràn dịch màng phổi hoặc tràn khí màng phổi kèm theo.\nBệnh tiến triển nhanh và nặng.\nX-quang: Thâm nhiễm rải rác ở nhiều phân thùy phổi tính chất thay đổi nhanh, vì vậy phải chụp X-quang nhiều lần để theo dõi. Có hình áp xe, lúc đầu nhỏ sau to dần ra, một ổ hoặc nhiều ổ áp xe. Có hình bong bóng khí. Có tràn dịch màng phổi thanh tơ rồi nhanh chóng chuyển thành mủ màng phổi. Có thể có tràn khí màng phổi.\nXét nghiệm máu số lượng bạch cầu tăng rất cao. Xét nghiệm đờm bằng nhuộm soi. Cấy máu có tụ cầu (khoảng 25%).\n**3. Điều trị**\nKháng sinh: Methicilin, Lincomycin + Gentamycin, Cephalosporin thế hệ thứ 3, Rifampicin, Unasyn, Vancomycin.\nChống trụy tim mạch, truyền dịch, trợ tim.\nNuôi dưỡng tốt, cân bằng nước điện giải.\n**IV. VIÊM PHỔ CẤP DO KLEBSIELLA PNEUMONIA** **1. Nguyên nhân**\nTrực khuẩn Klebsiella pneumonia (còn gọi là Friedlander) là một loại trực khuẩn gram (-). Bệnh thường xảy ra nguyên phát do cơ chế hút, đối tượng bị bệnh là những người sức đề kháng kém, suy mòn, nghiện rượu, đái đường.\n**2. Triệu chứng**\n- Khởi đầu đột ngột hoặc từ từ.\n- Hội chứng nhiễm khuẩn sốt cao nhưng số lượng bạch cầu có khi bình thường hoặc giảm. Toàn thân mệt lả, suy sụp nhanh. Có thể có nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, tụt huyết áp.\n- Triệu chứng hô hấp nổi bật: Ho, đau ngực, khó thở, khạc đờm mầu đỏ gạch hoặc đờm máu, đờm keo thạch khá đặc trưng.\n- Khám phổi có hội chứng đông đặc, ran nổ, ran ẩm ở thùy trên bên phải hoặc nhiều thùy.\n- X-quang: Tổn thương hay ở thùy trên vì vậy cần chẩn đoán phân biệt với lao. Áp xe hang lớn có mực nước ngang. Phổi nở to dấu hiệu bulging (+). Có thể có phản ứng tràn dịch màng phổi hoặc tràn khí màng phổi.\n- XN khác: Số lượng bạch cầu bình thường, không tăng. Soi đờm thấy vi khuẩn gram (-).\nCấy máu, chọc khí quản hút bệnh phẩm xét nghiệm tìm thấy trực khuẩn Klebsiella pneumonia.\nTiến triển: Bệnh nặng, tiên lượng xấu, tử vong cao. Có khả năng tiến triển thành mãn tính. Điều trị tích cực vẫn có kết quả tốt.\n**3. Điều trị**\nKháng sinh chủ yếu là nhóm aminoglycoside: nebcin, gentamycin hoặc nhóm quinolon, cephalosporin thế hệ thứ ba, nhóm Chloramphenicol.\nChống trụy tim mạch: truyền dịch, trợ tim.\nCân bằng nước điện giải, nuôi dưỡng tốt.\n**V. VIÊM PHỔI ĐỐM (PHẾ QUẢN PHẾ VIÊM)** **1. Nguyên nhân**\nBệnh do nhiều loại vi khuẩn phối hợp với nhau gây nên.\nNhững vi khuẩn như: Phế cầu, liên cầu, tụ cầu vàng, hemophilus influenzae, legionella pneumophila, pseudomonas pseudomalei.\nNhững virut như: vi rút cúm, vi rút sởi, vi rút hợp bào hô hấp, vi rút hạch.\nVi khuẩn + vi khuẩn hoặc vi khuẩn + virut.\nKhi sức đề kháng giảm thì khả năng bảo vệ của phổi giảm.Những vi rút đi trước phá hủy các nhung mao, làm giảm khả năng thanh lọc của phổi, vi khuẩn dễ sinh sản phát triển gây bệnh.\n**2. Triệu chứng**\n- Bệnh xảy ra từ từ, đi sau một số bệnh chính như sởi, ho gà, ung thư, sau mổ.\nCác đối tượng hay bị: trẻ em, người già, người nằm lâu, người phải bất động.\n- Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân: sốt cao 30 - 400 C, số lượng bạch cầu tăng cao, N tăng, mạch nhanh, xanh xao, lờ đờ, mệt mỏi, mất nước, đầu chi lạnh.\n- Hội chứng suy hô hấp cấp nổi bật: khó thở nhanh nông, thở khò khè, cánh mũi phập phồng, rút lõm trên ức, trên xương đòn, da tím tái hoặc xám xịt.\nCó thể khạc đờm nhầy mủ.\n- Khám phổi: triệu chứng ồ ạt, đối xứng, nhiều loại ran: ran rít, ran ngáy, ran nổ, ran ẩm ở hai bên phổi.\n- X-quang: những nốt mờ < 1cm rải rác hai bên phổi, quanh hai rốn phổi và thùy dưới. Không có hình phá hủy.\n- Biến chứng: suy hô hấp cấp, viêm mủ màng phổi, biến chứng ngoài phổi: viêm mủ màng tim, màng bụng.\n**3. Điều trị**\nKháng sinh phổ rộng: penicilin G + gentamycin.\nlincomycin + gentamycin, cephalosporin + nebcin.\nThời gian dùng kháng sinh 10 - 15 ngày, chỉ dừng kháng sinh khi X-quang xóa hết.\nChống suy hô hấp: lau đờm rãi làm giảm ùn tắc phế quản. Thở ô-xy 1 lít/phút liên tục 10 - 12h. Mở khí quản, thở máy khi có chỉ định.\nĐiều chỉnh nước, điện giải: truyền huyết thanh mặn, ngọt.\nDinh dưỡng: truyền đạm, bổ xung sinh tố, nuôi dưỡng tốt, chống loét. Trợ tim mạch.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nÁp xe phổi là một viêm cấp tính gây hoại tử ở nhu mô phổi, tạo nên một hang mới chứa mủ, căn nguyên không phải do lao.\nĐịnh nghĩa trên đã loại trừ đi những trường hợp hang đã có ở nhu mô phổi như kén khí, giãn phế quản, hang ung thư. Những trường hợp này khi nhiễm trùng tạo thành mủ thường dùng danh từ “mưng mủ phổi” hoặc “áp xe hóa”. Ví dụ: Kén khí áp xe hóa, giãn phế quản áp xe hóa.\nCó hai hình thái lâm sàng\n- Áp xe phổi cấp tính: triệu chứng lâm sàng rầm rộ, tiến triển nhanh. Điều trị kịp thời và đúng phương pháp, bệnh sẽ khỏi sau 4 - 8 tuần lễ.\n- Áp xe phổi mãn tính: Là áp xe phổi đã điều trị sau 2 tháng không khỏi, ổ áp xe vẫn tồn tại.\n**II. NGUYÊN NHÂN SINH BỆNH** **1. Nguyên nhân**\n- Vi khuẩn gram dương: Tụ cầu, liên cầu, phế cầu.\n- Vi khuẩn gram âm: Trực khuẩn klebsiella, escherichia coli, pseudomonas aeruginosa.\n- Vi khuẩn yếm khí: proteus, bacteroide, s.anaerobius.\n- Ký sinh trùng: amip, sán lá phổi (paragonimus westermani).\n- Nấm: aspergilus, actinomices.\n**2. Đường xâm nhập của vi khuẩn và các căn nguyên trên**\n- Đường phế quản: vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp trên rồi lan xuống phổi theo “cơ chế hút” (vi khuẩn bị hút xuống khi thở vào).\n- Đường máu: vi khuẩn từ một ổ nhiễm trùng như nhọt, đầu đanh, hậu bối, cốt tủy viêm, bỏng… theo đường máu gây nhiễm khuẩn huyết, rồi di căn đến phổi.\n- Đường tiếp cận: áp xe gan, áp xe dưới hoành vỡ vào phổi.\n- Nghẽn tắc động mạch phổi gây nhồi huyết phổi, rồi nhiễm trùng tạo nên ổ áp xe.\n**3. Yếu tố thuận lợi**\nDị vật đường thở: hạt ngô, hạt lạc, hạt nho… khi đang ăn cười, ho sặc rơi vào đường thở, sặc nước khi uống, khi bơi.\n**III. TRIỆU CHỨNG** **1. Lâm sàng**\nCó ba giai đoạn:\n*a. Giai đoạn ổ mủ kín *(hoặc giai đoạn ngủ). Bệnh cảnh lâm sàng giống một viêm phổi cấp.\n- Sốt cao, môi khô, lưỡi bẩn, số lượng bạch cầu tăng cao 15.000 - 20.000.\n- Ho khan, đau ngực, khó thở.\n- Khám phổi có hội chứng đông đặc điển hình: rung thanh tăng, gõ đục, rì rào phế nang giảm, nghe có tiếng thổi ống và ran nổ.\n*b. Giai đoạn ộc mủ*. Sau 6 - 15 ngày bệnh nhân đột ngột ho tăng lên, đau ngực dữ dội, có thể ho ra máu, sau đó ộc ra hàng trăm ml mủ, bệnh nhân thấy bồn chồn lo lắng. Nhưng sau khi ộc mủ ra thì nhiệt độ giảm, bệnh nhân thấy dễ chịu hơn, đỡ ho, đỡ đau ngực.\n- Giai đoạn này cần đề phòng mủ trào vào đường thở, gây ngạt thở. Cần quan sát đại thể mủ khạc ra để sơ bộ có chẩn đoán nguyên nhân.\n- Mủ màu vàng: thường do tụ cầu.\n- Mủ màu xanh nhợt: liên cầu.\n- Mủ sô cô la: Amip.\n- Mủ thối và có những cục hoại tử đen: vi khuẩn kỵ khí.\n*c. Giai đoạn ổ mủ thông với phế quản.*\n- Bệnh nhân vẫn ho dai dẳng nhất là khi thay đổi tư thế. Tiếp tục ho và khạc mủ, tuy số lượng có ít hơn. Giai đoạn này cần theo dõi số lượng mủ/24h. Có thể thấy đường biểu diễn trái ngược nhau giữa số lượng mủ và nhiệt độ.\n- Số lượng mủ tăng thì nhiệt độ giảm.\n- Số lượng mủ giảm thì nhiệt độ tăng.\n- Điều đó nói lên bệnh chưa thuyên giảm. Khi nào thấy số lượng mủ giảm đồng thời nhiệt độ giảm thì có khả năng bệnh đỡ.\n- Khám phổi có thể thấy tiếng thổi hang hoặc tiếng thổi bình\n- Áp xe phổi mãn tính thường có ngón tay dùi trống.\n**2. Cận lâm sàng**\n* X-quang:\n- Có thể thấy một hang hoặc nhiều hang. Hay gặp một hang.\n- Đặc điểm của hang áp xe là thành trong hang nhẵn, hay có mực nước ngang, có viêm xung quanh hang.\n- Cần phân biệt với hang lao, hang ung thư.\n- Hang to đường kính > 6cm gọi là hang khổng lồ.\n- Vị trí gặp ở phổi phải nhiều hơn phổi trái, thùy dưới gặp nhiều hơn thùy trên.\n- Áp xe phổi ở sát thành ngực cần phân biệt với tràn khí màng phổi cục bộ.\n- Cần chụp nghiêng và chụp CT để xác định vị trí ổ áp xe\n* XN máu: XN công thức máu, cấy máu ở giai đoạn sớm. Số lượng bạch cầu tăng với vi khuẩn gram (+), bình thường hoặc giảm với vi khuẩn gram (-).\n* XN đờm: Soi BK để loại trừ lao, cấy đờm (ít giá trị với phế cầu, có giá trị với những vi khuẩn khác). Soi tìm kén amip, sợi nấm.\n* Một số thủ thuật và xét nghiệm khác để chẩn đoán nguyên nhân.\n- Soi phế quản hút mủ xét nghiệm.\n- Chọc khí quản hút bệnh phẩm xét nghiệm.\n- Ổ áp xe ở gần thành ngực thì chọc ổ áp xe hút mủ xét nghiệm.\n- Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang với amip để chẩn đoán nguyên nhân do amip.\n**IV. ĐIỀU TRỊ** **A. Điều trị nội khoa** **1. Vấn đề cơ bản là dùng kháng sinh**\n- Tùy theo vi khuẩn mà chọn kháng sinh cho thích hợp. Tốt nhất là dựa theo kháng sinh đồ. Không làm kháng sinh đồ thì tùy theo triệu chứng lâm sàng, X-quang, tính chất mủ mà có hướng xác định căn nguyên vi khuẩn học.\n- Nên phối hợp 2 - 3 kháng sinh.\n- Thời gian sử dụng kháng sinh kéo dài 2 tuần trở lên.\n- Sử dụng kháng sinh bằng nhiều đường: truyền tĩnh mạch kết hợp tiêm bắp, sau đó tiêm bắp kết hợp với đường uống. Sau đây là một số kháng sinh tùy theo loại vi khuẩn.\n- Liên cầu, phế cầu: Penicilin G.\n- Tụ cầu: Methicilin, Cephalosporin thế hệ thứ 3, Lincomycin, vancomycin.\n- Klebsiella: Gentamycin, Quinolon.\n**2. Điều trị triệu chứng:** giảm đau, long đờm, điều trị ho ra máu **3. Dẫn lưu mủ theo tư thế** (Drain posture).\nTùy theo vị trí ổ áp xe mà chọn tư thế dẫn lưu cho thích hợp, kết hợp với vỗ rung mỗi lần 15 phút, mỗi ngày 2 - 3 lần. Mục đích để cho mủ theo đường phế quản thoát ra ngoài.\n**4. **Nếu ổ áp xe ở gần thành ngực thì chọc hút ổ áp xe qua thành ngực, đặt dẫn lưu ổ áp xe qua thành ngực. **5. Trợ tim và nâng đỡ cơ thể**\n- Cho Uabain, truyền đạm. truyền dịch cân bằng nước điện giải.\n- Tăng cường bồi dưỡng: trứng, sữa, hoa quả, chất đạm.\n**B. Điều trị ngoại khoa**\nChỉ định:\n- Áp xe phổi mãn tính, điều trị nội khoa trên 2 tháng không kết quả.\n- Ho ra máu nặng đe dọa tính mạng.\n- Hang di sót.\nPhương pháp: Cắt thùy phổi hoặc phân thùy phổi.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nUng thư phế quản là một khối u ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản tận, hoặc phế nang.\nUng thư phế quản là ung thư nguyên phát ở phế quản, chiếm 95% các loại u phổi. Không xếp vào đây các loại u lành tính, ung thư thứ phát và ung thư trung biểu mô màng phổi.\nUng thư phế quản là bệnh đứng hàng đầu trong các loại ung thư ở nam giới. Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. Bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới, tỷ lệ 90% nam giới, 10% nữ giới.\n**II. NGUYÊN NHÂN** **1. Hút thuốc lá.** Là căn nguyên chủ yếu, liên quan tới sự phát sinh phát triển của ung thư dạng biểu bì, ung thư tế bào lớn và ung thư tế bào nhỏ. Những bằng chứng sau đây kết tội cho thuốc lá:\nTrong khói thuốc lá có chất 3, 4 Benzopyren được coi là chất gây ung thư. Bằng thực nghiệm người ta bôi chất 3, 4 Benzopyren lên da chuột đã gây ung thư ở chuột.\nChất phóng xạ polonium và radon có trong khói thuốc lá cũng là chất gây ung thư.\nTheo thống kê: trên 90% ung thư phế quản xảy ra ở người nghiện thuốc lá, nghiện càng lâu năm thì tỷ lệ càng cao.\nThực nghiệm trên động vật: mở khí quản cho chó hít khói thuốc lá qua ống mở khí quản gây được ung thư phế quản.\nLý do để thuốc lá vẫn tồn tại: không bị ngay sau khi hút hoặc sau một thời gian ngắn. Có người hút thuốc lá mà không bị ung thư. Có người không hút thuốc lá vẫn bị ung thư.\n**2. Yếu tố nghề nghiệp, môi trường**\nPhải tiếp xúc, hít phải các chất: amiăng, asen, chromat, kiền, ô-xit sắt.\n**3. Các chất tác động đến gen:**\nAryl hydrocacbon, Hydroxylaza…\n**4. Trên nền tổ chức xơ sẹo ở nhu mô phát triển ung thư tuyến.** **III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG**\nĐối tượng hay gặp: nam giới trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào (thường trên 20 năm). Trên lâm sàng ta thường gặp nghịch cảnh sau: khi khối u còn nhỏ, khả năng điều trị tốt thì triệu chứng lâm sàng lại không rõ rệt. Khi triệu chứng rõ rệt thì khối u đã to, không còn khả năng điều trị.\n**1. Triệu chứng cơ năng hô hấp**\n- Ho khan hoặc có đờm, kéo dài.\n- Đau ngực, lúc đầu đau âm ỉ không liên tục. Cường độ đau tăng dần và sẽ trở nên liên tục. Đau liên quan tới di căn màng phổi và thành ngực. Thuốc giảm đau chỉ có tác dụng nhất thời, hết tác dụng của thuốc, bệnh nhân lại đau trở lại.\n- Ho ra máu gặp khoảng 50% thường số lượng ít, xẫm màu, xuất hiện vào sáng sớm khi ngủ dậy. Có khi chỉ ho ra máu một lần nên dễ bỏ qua. Ho ra máu gặp ở ung thư trung tâm nhiều hơn.\n- Khó thở thường xuất hiện khi u đã to, có chèn ép gây tắc nghẽn các phế quản lớn hoặc có tràn dịch màng phổi.\n**2. Triệu chứng toàn thân**\nMệt mỏi tăng dần, ăn uống ngày càng kém.\nGầy sút cân là triệu chứng rất trung thành, sút 3 - 4 kg/tháng. Ngón tay dùi trống rất có giá trị.\n**3. Triệu chứng thực thể**\nGiai đoạn đầu nghèo nàn, càng về sau càng rõ.\n- Tiếng thở rít (wheezing) do khối u chèn ép làm hẹp lòng phế quản.\n- U có đường kính > 3cm khám thấy gõ đục, rì rào phế nang giảm.\n- U chèn ép không hoàn toàn gây viêm phổi tắc nghẽn phía dưới (Distal obstructive pneumonia), khám có hội chứng đông đặc.\n- U chèn ép hoàn toàn gây xẹp phổi, khám có hội chứng đông đặc co kéo.\n- Một số bệnh nhân có hội chứng phế quản (ran rít, ran ngáy) dễ nhầm với hen phế quản hoặc viêm phế quản mãn, do khối u tiết ra serotionin làm co thắt phế quản.\n- U di căn ra màng phổi gây tràn dịch màng phổi, khám có hội chứng ba giảm, chọc hút màng phổi có dịch màu hồng.\n**4. Hội chứng cận u**\n* Hội chứng thấp khớp cận u (Hội chứng Pierre - Marie).\nU phổi + Đau xương khớp, dày cốt mạc, ngón tay dùi trống.\nCác triệu chứng trên không phải của khối u, không phải do di căn, không tìm thấy tế bào ác tính ở xương khớp. Nếu cắt bỏ khối u hoặc chiếu tia xạ cho khối u nhỏ lại thì các triệu chứng trên cũng hết. Cơ chế chưa rõ. Người ta giải thích do khối u sản xuất ra hoóc môn tăng trưởng làm cho cốt mạc dầy lên, kích thích gây đau xương khớp.\n* Một số biểu hiện khác của hội chứng cận u.\n- Hội chứng nội tiết cận u, hay gặp trong ung thư tế bào nhỏ. Ví dụ hội chứng curshing, vú to ở nam giới.\n- Hội chứng thần kinh cận u: bệnh thần kinh ngoại vi, thoái hóa não cấp, nhược cơ (hội chứng Eaton - Lambert).\n- Hội chứng máu cận u: thiếu máu, tăng bạch cầu đa nhân (N), tăng bạch cầu ái toan (E).\n- Hội chứng da cận u: tăng sừng hóa, biến đổi sắc tố.\n- Tim mạch: viêm tắc tĩnh mạch, viêm màng trong tim u sùi hạt cơm không nhiễm khuẩn.\n**5. Hội chứng chèn ép trong lồng ngực** **Hội chứng Pancoast - Tobias:**\nU đỉnh phổi + Đau mặt trong cánh tay, lan xuống cẳng tay ngón cái và ngón út (đau kiểu rễ do chèn ép vào rễ thần kinh cổ 8 và D1).\nGặm mòn xương sườn hoặc xương đòn (do khối u tì vào xương sườn hoặc xương đòn).\nNếu khối u chèn ép vào hạch giao cảm cổ có thể thấy hội chứng Claude Bernard Horner: 1/2 mặt ửng đỏ, sụp mi, khe mắt hẹp, đồng tử co.\n**Hội chứng chèn ép trung thất**\nCổ bạnh, hố trên đòn đầy, phù áo khoác, tuần hoàn bàng hệ ở ngực (do chèn ép tĩnh mạch chủ trên).\nKhó thở do chèn ép khí quản và phế quản gốc.\nNói khàn do chèn ép dây thần kinh quặt ngược, thường ở bên trái, gây liệt dây thanh bên trái.\nNuốt nghẹn, uống sặc do chèn ép thực quản.\n**6. Triệu chứng di căn**\nDi căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi.\nDi căn hạch ngoại vi (60%). Hay gặp hạch cổ, hạch trên đòn, dưới đòn, hạch hố nách.\nDi căn xa: não, xương, gan, thận, tuyến thượng thận.\nSau đây là\n**thống kê tỷ lệ các triệu chứng** qua những công trình nghiên cứu lớn:\n**IV. CẬN LÂM SÀNG** **1.** X-quang là biện pháp rất quan trọng không thể thiếu, nó giúp gợi ý và làm các biện pháp chẩn đoán.\nĐược gọi là chẩn đoán sớm ung thư phế quản khi u trung tâm có đường kính d < 1,5cm, u ngoại vi có d < 2cm.\nSau đây là một số hình ảnh gợi ý:\n- U tròn đơn độc bờ rõ, có khe nứt, nhiều múi, đa cung.\n- U tròn đơn độc có nhiều tia như mặt trời.\n- Bóng mờ đậm ở đỉnh phổi.\n- Bóng mờ tròn đậm ở rốn phổi.\n- Hình trung thất rộng.\n- Hình xẹp thùy phổi hoặc phân thùy phổi.\nThời gian u tăng gấp đôi tùy theo mô bệnh học.\nUng thư tế bào nhỏ: 30 ngày\nUng thư tế bào lớn: 80 - 90 ngày\nUng thư dạng biểu bì: 80 - 90 ngày\nUng thư tuyến: 120 ngày\n**2. Một số kỹ thuật hình ảnh**\n- Chụp CT (computed tomography): có thế chẩn đoán khối u chỉ 5 mm ở ngoại vi hoặc trung tâm. Phát hiện di căn hạch trung thất, phát hiện di căn não.\n- MRI (nuclear magnetic resonan imaging) giúp chẩn đoán u đỉnh phổi, u trung thất. Hình ảnh càng rõ hơn.\n- Siêu âm giúp chẩn đoán tràn dịch màng phổi, di căn gan\n- Chụp nhấp nháy với đồng vị phóng xạ: I 131, Te 99, Ga 67, Hg 157. Giúp chẩn đoán phân biệt với viêm phổi, phát hiện di căn xương.\n**3. Một số xét nghiệm thông thường**\n- Xét nghiệm máu: tốc độ máu lắng tăng cao > 100mm giờ đầu.\n- Mantoux thường âm tính.\n- Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư trong đờm, nếu có sẽ rất giá trị.\n- Xét nghiệm dịch màng phổi: ly tâm tìm tế bào ung thư trong dịch màng phổi.\n- Chọc hạch hoặc sinh thiết hạch ngoại vi.\n**4. Kỹ thuật xâm nhập**\n- Nội soi. Soi phế quản ống mềm giúp quan sát để phân loại T N M, giúp sinh thiết chẩn đoán mô bệnh, giúp phát hiện có xẹp phổi không.\n- Sinh thiết hút qua thành ngực bằng kim nhỏ, áp dụng cho u ngoại vi.\n- Sinh thiết màng phổi nếu có di căn màng phổi.\n- Xét nghiệm kháng nguyên bào thai ung thư CEA (carcinoma embrinoic antigen). Phát hiện cả ung thư phế quản và ung thư đại tràng,(vì thế không đặc hiệu riêng với ung thư phế quản).\n**V. PHÂN LOẠI** **1. Phân loại theo vị trí giải phẫu**\nK phế quản trung tâm: K phế quản gốc, phế quản thùy hoặc phế quản phân thùy, soi phế quản nhìn thấy.\nK phế quản ngoại vi: K phế quản dưới phân thùy, soi phế quản không nhìn thấy.\n**2. Phân loại theo mô bệnh**\nK biểu mô biểu bì (Epidermoid carcinomas, squamous cell carcinomas).\nK biểu mô tuyến (Adenocarcinomas).\nK tế bào lớn (Large cell carcinomas).\nK tế bào nhỏ (Small cell carcinomas).\n**3. Phân loại theo giai đoạn tiến triển, dựa vào T N M**\nT (Primary tumor, khối u nguyên phát) chia ra: To, Tx, Tis, T1, T2, T3, T4.\nN (Lymph node, hạch lympho) chia ra: No, Nx, N1, N2, N3\nM (Metastasis, di căn) chia ra: Mo, Mx, M1.\nPhân loại TNM chưa dừng lại và vẫn được bổ sung cho chi tiết hơn, phù hợp với những tiến bộ trong việc phát hiện sớm ung thư phế quản.\nPhân loại theo TNM rất quan trọng, là cơ sở đầu tiên để chỉ định phẫu thuật. Giai đoạn I, II, IIIA là giai đoạn có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u. Giai đoạn IIIB, IV là giai đoạn không thể phẫu thuật cắt bỏ khối u được.\n**4. Phân loại giai đoạn lâm sàng theo Feistein**\nGiai đoạn I: Không có triệu chứng lâm sàng.\nGiai đoạn II: Chỉ có triệu chứng tại phổi => 6 tháng.\nGiai đoạn III: Có triệu chứng tại phổi < 6 tháng. Giai đoạn IV: Có triệu chứng toàn thân.\nGiai đoạn V: Có triệu chứng di căn.\n**VI. ĐIỀU TRỊ**\nKhả năng điều trị hiện nay là: Loại trừ khối u hoặc diệt tế bào ung thư. Giảm biến chứng. Kéo dài đời sống và cải thiện chất lượng sống.\n**1. Phẫu thuật**\nLà biện pháp cơ bản để điều trị K phế quản.\n- Mục đích của phẫu thuât là làm giảm khối u cho người bệnh, sau đó dùng những biện pháp khác như hóa chất, tia xạ diệt nốt những tế bào K còn sót lại.\n- Chỉ đinh: Ung thư phế quản không phải tế bào nhỏ. Giai đoạn IIIa trở lại.\nTình trạng toàn thân cho phép (chức năng tim phổi tốt).\n- Phương pháp: Cắt thùy hoặc phân thùy phổi. Lấy triệt để các hạch vùng quanh rốn phổi và vùng trung thất. Thời gian sau mổ sống > 5 năm là kết quả lý tưởng.\n**2. Hóa chất trị liệu** *Nguyên tắc*: dùng đa hóa chất (phối hợp 2 - 3 hóa chất). *Chỉ định*: K tế bào nhỏ.\nĐiều trị bổ sung cho phẫu thuật.\n*Phác đồ hay dùng*\n|\n|\nC.A.V\n|\n|\nCyclophotphomid\nAdreamycin\nVincristin\n|\n|\nP.E\n|\n|\nCisplastin (platinol, plasosin, platamin)\nEtoposit\n*Theo dõi trong quá trình điều trị:*\n- Số lượng bạch cầu > 4000/ly3.\n- Số lượng tiểu cầu > 100.000/ly3.\n- U rê < 9mmol/lít (có tài liệu viết < 7mmol/lít).\n- Creatinin < 140 micro mol/lít (có tài liệu viết < 100 micro mol/lít).\n**3. Tia xạ** *Chỉ định:*\n- Bổ trợ cho phẫu thuật, diệt nốt các tế bào K còn sót lại.\n- K không phải tế bào nhỏ.\n- Điều trị triệu chứng cho bệnh nhân không phẫu thuật được.\n*Chống chỉ định:*\nKhối u quá to, sợ tia xạ không diệt tế bào ung thư mà diệt tế bào lành. Khối u gần các mạch máu lớn (đe dọa thủng mạch máu).\n*Chất dùng:*\nThường là Cobalt. Liều trung bình 5000 - 6000 rad/1 khối u.\nPhải xác định chính xác vị trí của khối u để chiếu tia xạ đúng chỗ. Chạy 3 tuần nghỉ 3 - 4 tuần rồi lại chạy tiếp.\n**4. Miễn dịch trị liệu**\n- Sinh tố C liều cao 2g/ngày (có tác giả dùng 3 - 5g/ngày).\n- Tam thất 3 - 10g/ngày.\n- LH1 (ASLEM) ống 2ml = 0,3mg. 3 ngày 1 lần tiêm bắp.\n- Phylamin 4 viên/ngày (Sản phẩm của HVQY).\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Màng phổi có hai lá: lá thành và lá tạng. Lá thành ở bên ngoài tiếp giáp liền với thành ngực, lá tạng ở bên trong bao bọc lấy toàn bộ bề mặt phổi, len vào các rãnh liên thùy bọc lấy các thùy phổi. Giữa lá thành và lá tạng có khoang màng phổi, là một khoang ảo. Áp lực trong khoang màng phổi là áp lực âm tính trung bình âm 5cm nước (- 5cm H O).\n- Bình thường trong khoang màng phổi có một lớp dịch mỏng (khoảng vài ml) chỉ đủ làm ẩm và làm trơn nhẵn để hai màng phổi trượt lên nhau dễ dàng. Dịch này thấm từ hệ thống mạch lá thành vào khoang màng phổi, rồi từ đó lại hấp thu vào hệ thống mạch lá tạng. Sự vận chuyển này luôn cân bằng.\n- Trong trường hợp bệnh lý làm mất cân bằng sự vận chuyển dịch màng phổi, dịch ứ đọng lại trong khoang màng phổi, gây nên tràn dịch màng phổi. Dịch đọng trong khoang màng phổi gọi là tràn dịch tự do trong khoang phế mạc lớn. Khi dịch chỉ đọng lại một phần nhỏ ở rãnh liên thùy, vòm hoành, hoặc thành ngực… ta gọi là tràn dịch màng phổi khu trú.\n- Tràn dịch màng phổi là một hội chứng chứ không phải là một bệnh. Chỉ khi nào xác định rõ nguyên nhân tràn dịch màng phổi mới chẩn đoán được bệnh.\n- Nói tràn dịch màng phổi là ta đã loại trừ đi: tràn mủ màng phổi, tràn máu màng phổi, tràn dịch dưỡng chấp khoang màng phổi.\n- Cần làm rõ một số khái niệm sau đây:\n*Tràn dịch màng phổi xuất tiết *(gọi tắt là dịch tiết) hay còn gọi là “phế mạc viêm tràn dịch thanh tơ”. Về đại thể dịch mầu vàng chanh, trong suốt, có thể đông lại do fibrin nhiều. Dịch tồn tại trên 2 tháng gọi là tràn dịch thanh tơ mãn tính. *Tràn dịch màng phổi thẩm thấu *(gọi tắt là dịch thấm) hay “thủy phế mạc”, là dịch thấm từ hệ thống mạch máu vào khoang phế mạc. Về đại thể dịch vàng nhạt, trong suốt, không đông. *Tràn dịch màng phổi huyết thanh máu*. Về đại thể dịch hút ra màu hồng hoặc đỏ, để không đông do máu bị thoái hóa. Khác hoàn toàn với máu lồng ngực (hemothorax), máu hút ra đông lại khi tiếp xúc với không khí. **II. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG** **1. Khởi phát cấp tính hoặc từ từ lặng lẽ.** **2. Triệu chứng cơ năng hô hấp.**\n- Ho khan, xuất hiện khi thay đổi tư thế.\n- Đau ngực, đau tăng khi thở sâu và khi ho.\n- Khó thở tăng dần, khó thở ậm ạch.\n- Tràn dịch màng phổi ít bệnh nhân nằm bên lành đỡ đau, tràn dịch màng phổi nhiều bệnh nhân phải nằm nghiêng bên bị tràn dịch.\n**3. Triệu chứng thực thể**\n- Toàn thân: mạch nhanh do tim bị đẩy.\nTràn dịch màng phổi bên phải gan bị hạ thấp, có thể sờ thấy gan dưới bờ sườn. Tràn dịch bên trái khoang Traube mất, tim bị đẩy sang bên phải.\n- Nhìn: Biên độ hô hấp giảm, bên bị tràn dịch lồng ngực vồng lên, gian sườn giãn rộng.\n- Sờ:\n*Rung thanh giảm dần* từ đỉnh phổi xuống rồi mất ở vùng đáy. Bên phổi lành rung thanh có xu hướng tăng. Có dấu hiệu tăng cảm ngoài da vùng tràn dịch.\n- Gõ:\n*gõ đục* là dấu hiệu rõ, đặc biệt có giá trị khi diện đục thay đổi theo tư thế, gõ khi nằm khác khi ngồi dậy. Tràn dịch màng phổi trung bình, gõ vùng đỉnh phổi hoặc dưới đòn thấy vang gọi là dấu hiệu Skoda (do phần phổi còn lại thở bù). Khi diện đục đến mỏm xương bả vai thì lượng dịch đã khoảng 1 lít, sau đó cứ lên một gian sườn lượng dịch tăng thên 500ml.\n- Nghe: Giai đoạn đầu và giai đoạn hấp thu nghe có tiếng cọ màng phổi. Vùng tràn dịch nghe rì rào phế nang giảm nhiều và mất. Có thể nghe thấy tiếng thổi màng phổi, tiếng dê kêu và tiếng ngực thầm nếu ngang mức tràn dịch dưới đó viêm nhiễm.\nNgười ta thường tóm tắt bằng\n*dấu hiệu 3 giảm*: Rung thanh giảm, gõ đục, rì rào phế nang giảm. **III. CẬN LÂM SÀNG** **1. Hình ảnh X-quang**. Chú ý ta chỉ nói tràn dịch màng phổi ít, trung bình và nhiều chứ không nói tràn dịch màng phối nhẹ, vừa hay nặng vì số lượng dịch không phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh. *a. Tràn dịch màng phổi ít:* Góc sườn hoành tù, cử động vòm hoành giảm khi chiếu. *b. Tràn dịch màng phổi trung bình:*\n- Hình mờ đậm, mất góc sườn hoành, mờ liền với cơ hoành, liền với bóng tim. Bờ trên cong lõm xuống giữa, kéo dài về phía thành ngực vùng nách tạo thành đường cong Damoiseau (Đa ma dô).\n- Tim và trung thất bị đẩy về bên lành.\n- Vị trí và hình thể đám mờ thay đổi theo tư thế bệnh nhân (khi chiếu hoặc chụp ở các tư thế khác nhau).\n*c. Tràn dịch màng phổi nhiều:*\nTràn dịch màng phổi tới liên sườn 2 phía trước và gai xương bả vai phía sau là tràn dịch màng phổi nhiều. Có thể tạo nên hình ảnh tối mờ nửa lồng ngực. Ba hiện tượng có thể xảy ra.\n- Đẩy đồng bộ: Toàn bộ trung thất, khí quản và tim bị đẩy sang bên đối diện. Trường hợp này hay gặp tràn dich màng phổi do lao.\n- Đẩy phân ly: Tim bị đẩy, khí quản vẫn đứng giữa, hoặc tim vẫn đứng yên, khí quản bị kéo. Trường hợp này hay gặp do ung thư phế quản. Có thể gặp đến 30%.\n- Kéo đồng bộ: Khí quản và tim bị kéo về bên tối mờ. Trường hợp này hay gặp do xẹp phổi.\n*d. X-quang* giúp ta phát hiện những tổn thương khác ngoài tràn dịch như viêm, lao, u, tổn thương xơ… những bệnh lý gây nên hoặc đi kèm tràn dịch màng phổi. Sau khi hút hết dịch, chụp lại phim X-quang kiểm tra những phần phổi trước đó đã bị dịch che lấp. **2. Siêu âm:** Giúp phát hiện tràn dịch màng phổi ngay cả khi lâm sàng và X-quang không phát hiện ra. Siêu âm màng phổi phát hiện ra tràn dịch màng phổi khi trong khoang này chỉ có chừng vài chục ml dịch. **3. Chụp CT: **Rất có giá trị trong những trường hợp khó xác định có phải tràn dịch hay không. Đặc biệt hữu ích với những trường hợp tràn dịch màng phổi khu trú. Nó giúp ta xác định chính xác vị trí tràn dịch để chọc thăm dò. Phát hiện những bệnh lý đi cùng tràn dịch như: u, lao, viêm nhiễm… **4. Chọc dịch màng phổi **hút ra có dịch là biện pháp quyết định. Dịch màng phổi cần quan sát đại thể (như đã nói ở trên), xét nghiệm sinh hóa, tế bào và vi khuẩn để chẩn đoán nguyên nhân. **5. Sinh thiết màng phổi:** Thường dùng sinh thiết mù, là biện pháp hữu ích giúp chẩn đoán nguyên nhân. **6. Nội soi màng phổi:** Giúp ta quan sát màng phối, sinh thiết chỗ nghi ngờ để chẩn đoán nguyên nhân.\nHai kỹ thuật 5, 6 áp dụng ở những cơ sở chuyên khoa.\n**7. Một số xét nghiệm**\n• Xét nghiệm dịch màng phổi\n- Sinh hóa: Phản ứng Rivalta, định lượng fibrin, protein, glucose, LDH.\n- Tế bào: số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu, ly tâm tìm tế bào lạ.\n- Vi trùng: soi, cấy.\n• Xét nghiệm máu ngoại vi: số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu, số lượng tiểu cầu, tốc độ máu lắng.\n• Xét nghiệm Mantoux.\n• Xét nghiệm đờm soi tìm BK hoặc tìm tế bào K.\n**8. Phân biệt dịch tiết và dịch thấm** **IV. CĂN NGUYÊN TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI**\nThống kê sơ bộ có hơn 33 căn nguyên, những căn nguyên sau đây hay gặp:\nTràn dịch màng phổi do lao 48 - 56%\nTràn dịch màng phổi do ung thư 17 - 21%\nDo nhiễm khuẩn, nhiễm vi rút 6 - 16%\nCăn nguyên do tim mạch 6 - 9%\nCăn nguyên khác và không rõ căn nguyên 12 - 19%\n**A. Tràn dịch màng phổi do lao** **1. Bệnh sinh**\nNgày nay đa số người ta cho rằng có tràn dịch màng phối do lao bởi vì bản thân màng phổi bị lao.\n• Đường gây bệnh\n- Đường tiệm cận: Săng sơ nhiễm hoặc lao thâm nhiễm ở ngay dưới màng phổi lan đến màng phổi.\n- Đường bạch mạch: Hệ thống bạch huyết ở phổi và màng phổi lá tạng giao lưu với nhau. Vì vậy BK từ một ổ sơ nhiễm, thâm nhiễm hoặc lao hạch có thể đi đến màng phổi.\n- Đường máu: Trường hợp lao kê cấp tính, lao đa màng, có thể BK đã lan đến theo đường máu từ thời kỳ tiền dị ứng.\n• Thể lao nào hay gặp?\n- Lao tiên phát: Có nhưng ít. Tràn dịch màng phổi là biến chứng của lao sơ nhiễm, xuất hiện sau lao sơ nhiễm từ 3 - 6 tháng hoặc 1 năm.\n- Lao hậu tiên phát: Lao màng phổi đơn thuần là loại hay gặp hơn cả. Có khi là biến chứng của các thể lao phổi như lao huyệt, lao thâm nhiễm, lao tản mạn đường máu. Hãn hữu là biến chứng của lao ngoài phổi như lao đốt sống ngực (do ổ áp xe cạnh cột sống lan đến màng phổi lá thành), lao xương sườn.\n**2. Triệu chứng lâm sàng**\nKhởi phát: 90% khởi phát âm ỉ, lặng lẽ, chỉ có 10% khởi phát cấp tính.\nBệnh nhân có tiền sử lao sơ nhiễm hoặc lao thâm nhiễm.\nCó hội chứng nhiễm độc lao.\nCó lao phối hợp như lao phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao cột sống...\nChịu tác dụng đặc hiệu của thuốc chống lao. Lâm sàng giảm nhanh, dịch hấp thu nhanh.\n**3. Các xét nghiệm**\n• X-quang: có đường cong Damoiseau, đẩy đồng bộ.\n• Mantoux dương tính. Gặp ở trên 90% căn nguyên do lao, nếu theo dõi được chuyển tuberculin từ âm tính (-) sang dương tính(+) thì rất có giá trị.\n• Xét nghiệm máu: Bạch cầu bình thường, VSS tăng cao.\n• Dịch màng phổi về đại thể nhìn màu vàng chanh, trong suốt, có thể đông lại Sinh hóa: Rivalta dương tính, Protein > 30g/lít có khi đến 40 - 45g/lít (gặp trong 84% căn nguyên do lao), glucose giảm < 25\n- 30mg% (có tác giả nói < 60mg%). Chỉ có hai bệnh glucose trong dịch màng phổi thấp là lao và bệnh thấp. Biện pháp để phân biệt là truyền glucose tĩnh mạch sau đó hút dịch màng phổi xét nghiệm. Nếu là lao thì glucose trong dịch màng phổi tăng lên còn nếu là thấp thì glucose trong dịch màng phổi vẫn không đổi. Sự suy giảm thẩm thấu glucose vào màng phổi trong bệnh thấp có ý nghĩa lớn trong chẩn đoán bệnh thấp.\nTế bào: Tỷ lệ Lymphocyt tăng, Eosino giảm, Neutro giảm. Nếu E> 10%, N > 50 % thì ít nghĩ đến lao.\n• Xét nghiệm vi trùng: nuôi cấy hoặc tiêm truyền chuột lang.\n• Sinh thiết màng phổi: Sinh thiết màng phổi lá thành làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý tìm thấy nang lao, hoặc nuôi cấy môi trường Loewenstein.\n**4. Điều trị**\n• Hút dịch sớm cho bệnh nhân dễ thở, mạch đỡ nhanh, giảm fibrin đọng trên bề mặt màng phổi tránh được di chứng dày dính màng phổi. Mỗi tuần hút 2 - 3 lần. Mỗi lần < 800ml. Cần tuân thủ nghiêm ngặt qui trình kỹ thuật.\n• Dùng thuốc chống lao theo đúng phác đồ như với lao phổi.\n• Corticoide: Dùng sớm, trong 2 - 3 tuần đầu, liều bắt đầu 30mg/ ngày sau đó giảm dần trong thời gian 4 tuần. Corticoide có tác dụng chống viêm nên làm hấp thu dịch nhanh, dự phòng dầy dính.\n• Tập thở ngay sau khi hết dịch để phòng dầy dính màng phổi.\n**B. Tràn dịch màng phổi do căn nguyên ác tính** **1. Căn nguyên ác tính gây tràn dịch màng phổi thường gặp là:**\n- Ung thư phổi nguyên phát.\n- Ung thư phổi thứ phát (di căn).\n- Ung thư trung biểu mô màng phổi.\n- Leukemia và Lymphoma. Danh từ Lymphoma bao gồm Hodgkin, sarcoma lưới, và lymphosarcoma (các bệnh này có những đặc điểm giống nhau như: hạch to, gan to, lách to, thiếu máu). Nếu là leukemia thì xét nghiệm máu ngoại vi, chọc tủy xét nghiệm, có thể nhuộm máu trên lam kính.\n**2. Đặc điểm chung**\n• Tuổi > 45. Nhưng ngày nay đã gặp nhiều bệnh nhân còn trẻ tuổi.\n• Ngón tay dùi trống.\n• Đau ngực nhiều, tràn dịch nhiều, gây khó thở nặng.\n• Dịch màng phổi là huyết thanh máu như rượu vang. Hoặc lúc đầu vàng chanh sau đó chuyển sang huyết thanh máu.\n• Dịch tái tạo nhanh, hút xong hôm sau đã lại đầy. Có tài liệu đã mô tả một bệnh nhân phải hút dịch hơn 300 lần/năm.\n**3. Biện pháp chẩn đoán**\n• X-quang, Mantoux, xét nghiệm đờm tìm tế bào K.\n• Xét nghiệm dịch màng phổi tìm tế bào K.\n• Sinh thiết hạch ngoại vi nếu có hạch to vùng cổ, nách, trên đòn, dưới đòn.\n• Sinh thiết màng phổi.\n• Soi phế quản và sinh thiết phế quản nếu nghi ung thư phế quản.\n• Soi màng phổi rồi sinh thiết qua nội soi.\n**4. Điều trị**\nTùy theo căn nguyên ác tính nào mà lựa chọn biện pháp cho thích hợp. Ví dụ:\nHóa chất với từng loại K + corticoide + hoocmon. Chọc hút dịch cho bệnh nhân đỡ khó thở. Gây dính màng phổi.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Màng phổi có 5 lớp:\nLớp trung biểu mô.\nLớp tổ chức liên kết dưới trung mô (không có mạch máu).\nLớp xơ chun nông.\nLớp tổ chức liên kết dưới màng phổi (có mạch máu).\nLớp xơ chun sâu.\n- Có 2 loại: U trung biểu mô màng phổi lành tính, U trung biểu mô màng phổi ác tính.\n- Nguyên nhân 60% do amiăng, 40 % do những căn nguyên khác.\n- Giải phẫu bệnh: U trung biểu mô khu trú là u nằm lơ lửng trong khoang màng phổi, lành tính. U trung biểu mô lan tỏa thường là ác tính, xuất phát từ lá thành hoặc lá tạng. Type biểu mô hay gặp nhất (70%), type saccom xơ (15%), type hỗn hợp (15%).\n**II. TRIỆU CHỨNG VÀ XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG**\nU trung biểu mô lành tính không có triệu chứng, phát hiện do chụp X-quang.\nU trung biểu mô ác tính lan tỏa:\n• Đau ngực, khó thở, xưng khớp, ngón tay dùi trống. Gầy sút cân nhanh. Tràn dịch màng phổi dịch màu hồng, tái lập nhanh. Khi chọc dịch màng phổi có cảm giác đi qua một tổ chức xơ dầy. Lồng ngực lép do các khoang liên sườn bị hẹp.\n• X-quang: Hút hết dịch rồi chụp sẽ bộc lộ bề dày màng phổi, màng phổi lá tạng lồi vào trong nhiều u sùi, bờ cong như lượn sóng.\n• Biện pháp chẩn đoán: Chụp CT, MRI. XN dịch màng phổi tìm tế bào K.\nSinh thiết màng phổi mù.\nSoi màng phổi và sinh thiết qua nội soi.\nCần chẩn đoán phân biệt với ung thư thứ phát di căn màng phổi.\n• Tiến triển: U trung biểu mô lành tính tiến triển chận, ít thay đổi. U trung biểu mô ác tính lan tỏa tiến triển nhanh, tử vong từ 6 tháng - 1 năm.\nNgười ta chia ra các giai giai đoạn sau:\nGiai đoạn IA: Tổn thương chỉ ở màng phổi lá thành và vòm hoành, chưa xâm nhập vào màng phổi lá tạng và trung thất.\nGiai đoạn IB: Có tổn thương ở màng phổi lá tạng nhưng chưa xâm nhập vào màng phổi trung thất.\nGiai đoan II: U đã xâm nhập vào trung thất.\n**III. ĐIỀU TRỊ**\nU trung biểu mô lành tính: mổ cắt bỏ u. U trung biểu mô ác tính:\n- Cắt toàn bộ một bên phổi và lấy hết màng phổi tạng, vòm hoành, màng ngoài tim là một phẫu thuật lớn. Áp dụng với giai đoạn IA và tình trạng toàn thân tốt.\n- Tia xạ coban làm giảm đau, giảm tiết dịch.\n- Hóa chất trị liệu có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của khối u, kéo dài thời gian sống. Công thức hay dùng: C.A.V; P.E\n- Liệu pháp miễn dịch màng phổi: Dùng IL - 2 (interleukin 2), và IFN (interferon gamma) truyền rỏ giọt vào màng phổi.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n• Bệnh ít gặp, liên quan đến cả nội khoa và ngoại khoa.\n• Mủ màng phổi thường là thứ phát sau một ổ nhiễm trùng ở một nơi nào đó lan đến màng phổi, hoặc từ một tràn dịch thanh tơ biến thành mủ màng phổi. Cũng có những trường hợp không tìm được ổ nhiễm trùng ở nơi khác, ta gọi là mủ màng phổi nguyên phát.\n• Mủ màng phổi không thể tự hấp thu được vì thế phụ thuộc rất nhiều vào biện pháp điều trị.\n• Phát hiện sớm, điều trị tích cực, đúng phương pháp, bệnh có thể khỏi được. Càng để muộn điều trị nội khoa càng không kết quả, biện pháp điều trị ngoại khoa càng phức tạp.\n**II. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ** **1. Nguyên nhân**\n• Vi khuẩn: tụ cầu, phế cầu, liên cầu, Escherichia Coli, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn klebsiella, vi khuẩn yếm khí.\n• Ký sinh trùng: amip.\n• Lao.\n**2. Cơ chế**\nVi khuẩn, ký sinh trùng đến màng phổi bằng những cách như sau:\n• Từ một ổ nhiễm khuẩn ở nhu mô phổi gần màng phổi lan đến màng phổi.\n• Từ một ổ nhiễm khuẩn dưới cơ hoành như áp xe gan, áp xe dưới hoành lan đến màng phổi.\n• Đường máu: nhiễm khuẩn huyết.\n• Từ ngoại vi vào như: thủ thuật chọc dò màng phổi, dẫn lưu màng phổi không vô trùng đã biến tràn dịch màng phổi thanh tơ thành mủ màng phổi.\n**III. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ**\nCó 3 giai đoạn:\n**1. Giai đoạn xuất tiết:** Giai đoạn này chủ yếu là viêm xuất tiết. Màng phổi xung huyết mạnh, còn mềm nhưng cương tụ. Dịch là mủ loãng. **2. Giai đoạn tụ mủ:** Fibrin và mủ đọng trên bề mặt màng phổi làm cho màng phổi dầy lên và có xu hướng dính lại thành những khoang. **3. Giai đoạn đóng kén:** Lớp thanh tơ trên bề mặt màng phổi đã bị tổ chức hóa. Hình thành các kén mủ, thành dầy và chắc, thường ở phía sau lồng ngực cạnh cột sống (do bệnh nhân phải nằm lâu). Mủ ở trong các kén, các khoang, mủ đặc quánh. **IV. TRIỆU CHỨNG (Tùy theo giai đoạn bệnh)** **A. Mủ màng phổi cấp tính** (Ứng với giai đoạn đầu)\n• Toàn thân: Hội chứng nhiễm trùng. Sốt cao 39 - 400C, số lượng bạch cầu tăng 15.000 - 20.000. Sưng hạch nách bên bị bệnh.\n• Triệu chứng cơ năng: đau ngực, ho khan, khó thở.\n• Triệu chứng thực thể: phù thành ngực, khám có hội chứng ba giảm: rung thanh giảm, gõ đục, rì rào phế nang giảm.\n• X-quang: Lúc đầu là bóng mờ đáy phổi, giới hạn trên không rõ, trông giống như gương mờ. Sau đó là bóng mờ đậm, mất góc sườn hoành, khu trú ở phía dưới, phía sau cột sống (cần chụp phim nghiêng), không có đường cong Damoiseau.\n• Mantoux âm tính.\n• Chọc dò màng phổi là biện pháp chẩn đoán quyết định. Phải dùng kim to (kim nhỏ không hút được mủ), hút ra mủ cần xem đại thể để sơ bộ chẩn đoán nguyên nhân:\nMủ màu vàng: nghĩ đến tụ cầu.\nMủ thối: nghĩ đến vi khuẩn yếm khí\nMủ màu sô cô la: nghĩ đến amip\n• Lấy mủ XN vi trùng và làm kháng sinh đồ\n**B. Mủ màng phổi bán cấp và mãn tính** (Ứng với giai đoạn 2 và 3).\n• Do phát hiện muộn và điều trị không đúng phương pháp. Bệnh\ntiến triển dần dần đến giai đoạn bán cấp và mãn tính. Giai đoạn này chẩn đoán khó và điệu trị nội khoa không kết quả.\n• Triệu chứng toàn thân: Hội chứng nhiễm trùng không rõ, thậm chí không sốt, bạch cầu không tăng. Bệnh nhân suy mòn rõ, xanh xao, thiếu máu. Hay có ngón tay dùi trống.\n• Khám phổi nổi bật là hội chứng dầy dính màng phổi và hội chứng tràn dịch màng phổi. Cử động hô hấp giảm, khe liên sườn hẹp lại, vai hạ thấp xuống, cột sống bị vẹo về một bên, trung thất bị co kéo lệch về bên bị bệnh. Gõ đục, nghe rì rào phế nang giảm hoặc mất.\nChọc hút màng phổi: kim chọc có cảm giác đi qua một vùng xơ chắc. Không hút được mủ vì mủ đặc quánh. Để xác định có dò phế quản - màng phổi không ta bơm xanh methylen vào khoang màng phổi và theo dõi đờm của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân khạc đờm có mầu xanh là có dò phế quản - màng phổi, nếu đờm không có mầu xanh là không có dò.\n**V. ĐIỀU TRỊ**\nMục đích:\n- Làm cho khoang màng phổi sạch mủ, hết vi trùng.\n- Làm cho phổi nở ra, tránh di chứng dầy dính màng phổi Tùy theo giai đoạn mà lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp.\n**1. Giai đoạn xuất tiết**\n• Kháng sinh. Nếu do lao thì dùng thuốc chống lao theo phác đồ. Nếu do vi khuẩn thông thường thì dùng kháng sinh. Tốt nhất nên dùng theo kháng sinh đồ, nếu không có kháng sinh đồ thì dựa theo lâm sàng và mủ màng phổi hút ra, để có chẩn đoán nguyên nhân, làm cơ sở mà lựa chọn kháng sinh.\n• Phối hợp 2 - 3 loại kháng sinh, ví dụ:\nAugmentin + Gentamycin\nLincomycin + Gentamycin\nCephalosporin + Quinolon\n• Có kháng sinh truyền tĩnh mạch kết hợp với tiêm bắp.\n• Thời gian từ 4 - 6 tuần.\n• Chọc hút và bơm rửa màng phổi, kết hợp thêm Urokinaza 1-2 ống khi chọc dịch lần đầu để giải phóng các mảnh fibrin bám vào màng phổi. Chọc bằng kim to hút mủ, bơm huyết thanh mặn 0,9% vào, rồi lại hút ra cho sạch mủ. Có thể kết hợp bơm kháng sinh vào khoang màng phổi trước khi rút kim ra: penicilin, lincomycin…\nLàm như vậy hàng ngày trong những ngày đầu, nếu lượng mủ giảm nhiều thì làm cách ngày một lần. Làm tích cực trong 10 - 15 ngày cho đến khi sạch mủ.\n**2. Giai đoạn tụ mủ**\n• Kháng sinh như trên.\n• Đặt dẫn lưu và hút liên tục.\n- Dùng Troca chọc khoang màng phổi hút rửa túi mủ, đặt dẫn lưu.\n- Mở màng phổi tối thiểu, đặt dẫn lưu vào khoang màng phổi, lắp máy hút liên tục. Qua ống dẫn lưu vẫn tiếp tục bơm rửa và bơm kháng sinh vào khoang màng phổi.\n- Làm như vậy cho đến khi màng phổi sạch mủ, phổi nở ra sát thành ngực.\n- Trước khi rút ống dẫn lưu phải kẹp thử vài lần/ngày trong 1 - 2 ngày. Bệnh nhân thấy dễ chịu mới rút ống dẫn lưu.\n**3. Giai đoạn đóng kén: **phẫu thuật. Chỉ định phẫu thuật:\n- Có dò phế quản - màng phổi.\n- Dầy dính màng phổi gây rối loạn thông khí hạn chế nặng.\n- Giai đoạn đóng kén hoặc tái phát.\n- Tồn tại các ngăn mủ sau điều trị. (Thất bại sau điều trị nội khoa). Phương pháp:\n- Mở lồng ngực và dẫn lưu.\n- Mổ bóc vỏ phổi. Các tác giả Anh, Mỹ đề nghị bóc vỏ phổi sau ngày thứ 14 nếu đặt dẫn lưu không kết quả, với viêm mủ màng phổi nhiều ngăn.\n\n*(Dưỡng chấp lồng ngực - Chylothorax)* **I. NGUYÊN NHÂN** **1. Chấn thương:** Do bị ngã, bị đè, bị chấn thương kín. Do khi phẫu thuật tim, thực quản trung thất, vô tình chạm phải một nhánh của ống ngực. **2. U trong lồng ngực:** Ung thư dạ dày di căn vào trung thất rồi vào ống ngực, u mạch bạch huyết, lao hạch trung thất. **3. Giun chỉ.** **II. TRIỆU CHỨNG**\n• Khởi đầu bán cấp hoặc mãn tính. Dấu hiệu toàn thân nghèo nàn.\n• Khám có hội chứng ba giảm. Bệnh nhân suy dinh dưỡng nhanh chóng do mất dưỡng chấp là mất chất đạm, mỡ và điện giải. Bệnh có thể trở thành mãn tính. Tiên lượng nặng nếu căn nguyên do u mạch bạch huyết và di căn ung thư.\n• X-quang có hội chứng tràn dịch màng phổi.\n• CT và siêu âm cũng chỉ xác định có tràn dịch, không phát hiện được dưỡng chấp màng phổi.\n• Không có chỉ định sinh thiết màng phổi.\n• Chọc hút dịch màng phổi là biện pháp chẩn đoán quyết định: dịch trắng như sữa, nồng độ lipit trong dịch màng phổi tăng cao.\n• Xét nghiệm sinh hóa dịch màng phổi là quan trọng nhất.\n• Cần phân biệt hai loại sau đây:\nCách phân biệt: Nhuộm Sudan III để nhận ra triglyxerit mỡ trung tính. Dùng bữa ăn của Williams và Burfort (Drug and cosmetic green no 6) thấy dịch màng phổi có màu xanh lá cây là dưỡng chấp thực sự.\n**III. ĐIỀU TRỊ**\n1. Điều trị nội khoa: Nếu do giun chỉ thì điều trị giun chỉ. Chọc hút hoặc dẫn lưu dịch dưỡng chấp rồi gây dính bằng bơm bột talc.\n2. Ngoại khoa: mổ thắt ống ngực.\n\n**ĐẠI CƯƠNG** **1. Ký sinh trùng (KST) đến phổi bằng những đường sau đây:**\nĐường máu, đường bạch huyết, ký sinh trùng bị hít xuống phổi.\n**2. Các loại KST gặp gây bệnh ở phổi**\nLoại đơn bào: amip.\nGiun tròn: giun đũa, giun lươn, giun chỉ, giun xoắn. Sán: sán máng, sán lá phổi, sán dây.\n**I. HỘI CHỨNG LOFFLER** **1. Cơ chế: **Thường do giun đũa gây nên. Ấu trùng giải phóng ở dạ dày, theo máu qua gan, tim rồi đến mao mạch phổi. Hội chứng Loffler xuất hiện do ấu trùng giun đũa di chuyển qua thành phế nang mao quản, theo hướng mạch máu tới phế quản, đến họng thì bị nuốt xuống dạ dày, xuống ruột non thì chuyển thành giun đũa trưởng thành. **2. Triệu chứng lâm sàng:** Nói chung rất nhẹ. Bệnh nhân ho từng cơn, khạc đờm nhầy, đôi khi lẫn tia máu. Có thể sốt nhẹ. Có khi khó thở nhẹ. Các triệu chứng tồn tại vài ngày rồi hết. Đôi khi có thể tái phát. **3. X-quang: **Hình ảnh thâm nhiễm có đặc trưng là mau bay, vì vậy còn có tên “thâm nhiễm mau bay”. Thâm nhiễm có thể thấy quanh rốn phổi, đáy phổi hoặc những nốt mờ rải rác hai bên, ít khi gặp ở đỉnh phổi. Hình ảnh X-quang xóa hết sau vài ngày, không để lại dấu vết gì.\nXét nghiệm: bạch cầu ái toan (E) trong máu tăng cao > 10%, có khi đến 30%. Tìm thấy ấu trùng giun đũa trong đờm và trong dịch dạ dày. Tìm thấy trứng giun đũa trong phân nhưng muộn hơn.\n**4. Điều trị:** Chỉ điều trị giun đũa sau 2 tuần lễ kể từ khi phát hiện có hội chứng Loffler. Dùng Mebendazol hoặc Albendazolol. **II. BỆNH AMÍP PHỔI** **1. Cơ chế:** Amip hay Entamoeba histolytica vào cơ thể do đồ ăn thức uống bị nhiễm amip. Amip từ đại tràng lên màng phổi bằng các đường sau:\n• Theo tĩnh mạch cửa về gan, gây áp xe gan, rồi amip chui qua cơ hoành, vào màng phổi, rồi vào phổi. Ổ áp xe gan có thể vỡ qua cơ hoành, vào màng phổi rồi vào phổi.\n• Theo tĩnh mạch trực tràng vào tĩnh mạch chủ dưới về tim rồi lên phổi.\n• Theo đường bạch mạch vào ống ngực, về tim rồi lên phổi\nCũng có bệnh án mô tả bệnh nhân hít phải kén amip khi tắm ở các bể tắm.\n**2. Triệu chứng** *a. Áp xe phổi do amip*\nTổn thương phần lớn ở đáy phổi phải, có thể ở đáy phổi trái nhưng ít. Khởi phát âm thầm, ho khạc đờm dai dẳng, đau vùng gan. Đôi khi khởi đầu dữ dội như một viêm phổi cấp tính.\nToàn phát:\n- Đau ngực, ho khạc, đờm có máu, khó thở.\n- Sốt, rét run, vã mồ hôi, người rất mệt.\n- Ộc mủ màu sô cô la, không mùi, không thối.\n- Sau khi ộc mủ thường khạc đờm mủ.\n- Khám phổi có hội chứng đông đặc, có hội chứng hang.\n- X-quang: Hình hang to > 4cm độc nhất, có mức nước mức hơi. Đôi khi thấy nhiều hang.\n*b. Thể dò gan - phế quản phổi*\nKhởi đầu là một áp xe gan do amip, rồi tiến tới dò áp xe vào phổi qua 3 giai đoạn:\n- Giai đoạn viêm gan rồi tiến đến áp xe gan: các dấu hiệu viêm gan rất rõ.\n- Giai đoạn khạc mủ: ho khạc, ho ra máu khạc ra mủ.\n- Giai đoạn khỏi nếu được điều trị tốt.\n*c. Thể không nung mủ*\n• Thể cấp tính: giống viêm phổi cả lâm sàng và X-quang. Điều trị đúng và sớm, bệnh nhanh khỏi.\n• Thể bán cấp: lâm sàng không rầm rộ, dễ nhầm với lao phổi.\n• Thể không điển hình càng làm khó chẩn đoán.\n**3. Chẩn đoán**\nSiêu âm giúp chẩn đoán áp xe gan rất tốt\nDựa vào: Xét nghiệm đờm tìm kén amip. Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang với amip.\n**4. Điều trị**\nTấn công: Đihydroemetin (diệt amip ở mô) + Kháng sinh + Trợ lực. Củng cố: Metronidazol (Flagyl) + kháng sinh.\n**III. VIÊM PHỔI DO PNEUMOCYSTIS CARINI** **1. Pneumocystis carini (PC)** là một dạng vừa giống ký sinh trùng, vừa giống nấm. Chúng gây viêm phổi ở người suy giảm miễn dịch, nhất là bệnh nhân AIDS. Chúng thường ký sinh ở đường khí đạo, gây bệnh ở trẻ đẻ non và những người suy nhược như bị bệnh máu ác tính, ung thư, điều trị các thuốc ức chế miễn dịch, sau ghép tạng.\nPC tồn tại ở ngoài dưới hai dạng: dạng tự do và dạng kén. Thấy nhiều ở động vật có vú, nhưng người ta chưa rõ dịch tễ ở gia súc như thế nào và đâu là ổ dịch.\nPC lây giữa người và người qua đường hô hấp.\n**2. Tổn thương giải phẫu bệnh**: Xuất tiết phế nang, quá sản tế bào phế nang, thâm nhiễm bạch cầu đa nhân ở tổ chức kẽ. **3. Triệu chứng lâm sàng: **Khởi đầu từ từ. Có sốt hoặc không sốt. Ho, khạc đờm, đau ngực sau xương ức, khó thở. Khám thực thể nghèo nàn.\nHình ảnh X-quang: hình lưới cục, hoặc hình cục tản mạn, hình tổ ong, hình viêm tổ chức kẽ.\nTiên lượng khó vì bệnh nhân thường mắc các bệnh nặng như ung thư, bệnh máu ác tính. Các bệnh chính nổi bật làm lu mờ bệnh cảnh của viêm phổi do PC.\n**4. Chẩn đoán:** Tìm ký sinh trùng PC ở đờm, dịch phế quản, dịch hầu bằng dàn lam kính, nhuộm Giemsa rồi soi. **5. Điều trị: **Biseptol 0,5 cách nhau 6h/1 lần × 4 lần/ngày (4 viên/24h). **IV. BỆNH SÁN LÁ PHỔI** **1. Nguyên nhân, cơ chế**\nSán lá phổi (Paragonimus Westermani ) là một ký sinh trùng (KST) có ở cua đồng, ốc, hến. Khi người ăn phải KST phá vỡ vỏ, chui qua ruột, màng bụng, cơ hoành, màng phổi vào phổi. Qua giai đoạn ấu trùng đến trưởng thành cư trú ở tiểu phế quản tận, làm cho tiểu phế quản bị giãn ra và dày lên thành các kén sán lá phổi. Ngoài ra có thể gặp tổn thương ở não, ruột, lách, hạch bạch huyết.\n**2. Triệu chứng**\nGặp ở người có thói quen ăn gỏi. Ho ra máu dai dẳng, có thể ho ra máu nặng (5%). Ho, khạc đờm, đau ngực. Người không sốt, không gầy sút. Các triệu chứng thực thể nghèo nàn.\nX-quang có 3 biểu hiện: Hình hạt cục 0,5cm, đám mờ nhu mô, mờ màng phổi.\n**3. Chẩn đoán và điều trị**\nChẩn đoán bằng cách tìm kén ở đờm, dịch màng phổi, phân.\nĐiều trị: Paraziquantel (Biltricid hoặc Cestox) viên 600mg liều 50 - 75mg/kg cân nặng/ngày chia 3 lần uống sau bữa ăn x 2-3 ngày.\nHoặc Bithional 5 - 15 mg/kg cân nặng/ngày chia 3 lần, uống cách nhật.\n**V. BỆNH BỌC NANG SÁN** (Thoracic hydatid disease)\n• Nguyên nhân do Echinococcus Granulosus. Thường ký sinh ở chó, lợn, bò, cừu.\n• Lây do người tiếp xúc, KST vào ruột, qua tĩnh mạch cửa lên gan rồi đến phổi.\n• Lâm sàng là một u nang ở phổi, chứa một chất nước trong vắt. Không có triệu chứng. Về sau nang vỡ ra mới có triệu chứng lâm sàng như ho, ho ra máu.\n• X-quang hình một nang tròn.\n• Chẩn đoán: làm test miễn dịch Casoni giúpchẩn đoán sớm.\n• Điều trị: phẫu thuật.\n**VI. BỆNH GIUN CHỈ BẠCH HUYẾT **(Filariose) **1. Đại cương**\nBệnh lây truyền qua muỗi Aedes, culex hoặc Anophenles. Giun chỉ có hai loại: Wuchereria bancrofti và Brugia malayi.\nGiun chỉ trưởng thành ùn tắc làm giãn mạch bạch huyết. Khi mạch bạch huyết giãn căng bị vỡ vào màng phổi thì gây nên tràn dịch dưỡng chấp màng phổi (Chylothorax). Trong dịch màng phổi hoặc trong máu có giun chỉ. Nếu mạch bạch huyết không bị vỡ ta chỉ thấy có một số triệu chứng.\n**2. Triệu chứng và xét nghiệm**\nTriệu chứng: sốt, mệt mỏi, ho, khạc đờm, đau ngực, khó thở ra về ban đêm.\nPhù chân voi (phù chi dưới, cả bìu, vú) và đái ra dưỡng chấp là triệu chứng rất đặc trưng quen thuộc của bệnh giun chỉ. Có thể viêm bạch mạch của ống ngực.\nX-quang: các nốt mờ thâm nhiễm, có thể ở đỉnh phổi.\nXét nghiệm máu: E trong máu và IgE trong huyết thanh tăng cao.\nLấy máu vào nửa đêm xét nghiệm tìm thấy giun chỉ trong máu.\nTet cố định bổ thể dương tính, dùng kháng nguyên chiết xuất Dirofilaria imminis.\n**3. Điều trị**\nNotezin (diethylcarbamazin) Viên 50, 100mg. Thuốc phá ấu trùng giun chỉ trong máu, giải phóng đột ngột các protein ngoại lai, gây phản ứng sốt, nhức đầu mệt, ban đỏ, mẩn ngứa. Phản ứng trên xảy ra và mất đi sau vài ngày. Vì thế có thể uống kèm thuốc kháng histamin hoặc prednisolon.\nCách dùng Notezin với giun chỉ loại Brugia malayi: ngày đầu 25mg (1/2 viên) để thử mẫn cảm. Nếu dung nạp thì cho 3mg/kg cân nặng/24h, chia 2 - 3 lần, uống sau ăn x 3 - 5 ngày. Với giun chỉ loại Wuchereria bancrofti: dùng ban đầu như trên nhưng sau đó có thể tăng liều lên gấp đôi.\n\n**ĐẠI CƯƠNG**\n\"Bệnh nấm phổi là danh từ chung để chỉ các bệnh phổi do nấm gây ra.\n- Triệu chứng lâm sàng X-quang không đặc hiệu, dễ nhầm với các bệnh như lao, viêm phế quản mãn, giãn phế quản, ung thư.\n- Nấm vào cơ thể do hít phải hoặc do một tổn thương ở gần lan đến phổi, như miệng, mũi, họng, mắt.\n- Chẩn đoán bằng soi tìm sợi nấm, nuôi cấy môi trường sabauro, kỹ thuật điện di miễn dịch.\n- Bệnh nấm phổi không lây. Nấm thường sống ký sinh và chỉ gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi như bệnh nhân suy dinh dưỡng, dùng corticoid kéo dài, dùng kháng sinh quá nhiều, bị bệnh bạch cầu…\n**I. BỆNH NẤM DO ASPERGILUS **(Aspergilosis)\n* Nguyên nhân do Aspergilus Fumigatus và Aspergilus Niger.\n* Triệu chứng lâm sàng đa dạng với các biểu hiện sau đây.\n**1. Viêm phế quản dị ứng **(khi nấm aspergilus sống ở phế quản). Biểu hiện như một hen phế quản, sốt, khó thở khò khè, thâm nhiễm mau bay ở phổi, bạch cầu E trong máu tăng. **2. U nấm aspergilus (aspergilloma)**. Thường thứ phát sau các bệnh như lao, áp xe, ung thư, nhất là sau các đợt điều trị bằng kháng sinh kéo dài. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là ho ra máu. Hình ảnh X-quang thấy u trong lòng hang. Tiến triển lành tính. **3. Aspergilus phối hợp với một hoại tử phổi**\nBệnh nhân có tiền sử nghiện rượu. X-quang có hình đông đặc và có hang ở giữa thùy phổi. Có dò phế quản - màng phổi hoặc gây mủ màng phổi.\n**4. Aspergilus lan tràn**\nBiểu hiện ở phổi cấp tính và có biểu hiện ác tính giống ung thư hoặc bệnh bạch cầu. Nhiều cơ quan bị: não, màng não, thận, tim. Tiên lượng nặng, dễ tử vong.\n* Điều trị: Amphoterixin B, hoặc imidazol, Ketonazol, flucytosin hoặc Itracomazol.\n**II. BỆNH DO NẤM CANDIDA ALBICANS**\n(Là bệnh đứng thứ hai sau aspergilus)\n**1. Lâm sàng**\nCó hai thể\n*a. Thể khu trú ở phế quản*\nHo từng đợt, khạc đờm, đờm quánh xám, đau ngực, ho ra máu. Tiến triển từng đợt. Có thể biểu hiện giống hen phế quản.\nSoi phế quản thấy viêm đỏ, xám nhạt, phù nề. Hút dịch tìm sợi nấm. Điều trị: khí dung Mycostatin hoặc Amphotericin B kết hợp với điều trị tại chỗ nếu có nấm candida ở miệng, họng.\n*b. Thể khu trú ở phổi*\n* Cấp tính: nhiều nốt mờ rải rác như phế quản phế viêm.Cũng có khi đám mờ chiếm cả phân thùy hoặc thùy phổi. Bệnh tiến triển nặng, suy hô hấp, nhiễm nấm máu, dễ tử vong.\n* Bán cấp hoặc mãn tính: triệu chứng lâm sàng không rõ, X-quang có những đám mờ nhạt không đặc hiệu.\n**2. Xét nghiệm**\n- Xét nghiệm đờm ít có giá trị vì bình thường ở miệng cũng có nấm candida albicans.\n- Soi phế quản hút dịch xét nghiệm có giá trị.\n- Xét nghiệm miễn dịch phát hiện kháng thể chống nấm canida có giá trị.\n- Sinh thiết xuyên thành phế quản tìm sợi nấm.\n**3. Điều trị**\nImidazol, Amphotericin B hoặc Nizoral, Fluconazol, Nystatin.\n**III. BỆNH PHỔI DO NẤM BLASTOMYCES** **1. Nấm phổi do Blastomyces dermatitidis ở Bắc Mỹ**\nBệnh biểu hiện là những khối u đơn độc hoặc nhiều u. Có khi giống như ung thư phổi nguyên phát có hạch to ở trung thất, kèm theo phá hủy ở xương. Hay gây dầy dính màng phổi. Trường hợp hình ảnh những hạt kê lan tràn thì có biểu hiện suy hô hấp cấp tính, tiến triển nặng. Cũng có khi bệnh tiến triển mãn tính giống lao.\n**2. Nấm phổi Blastomyces ở Nam Mỹ**\nBiểu hiện lâm sàng và X-quang giống lao hoặc viêm phổi thùy.\n**3. Chẩn đoán**\n- Xét nghiệm đờm chỉ có giá trị định hướng, không quyết định.\n- Cấy máu có giá trị chẩn đoán.\n- Dùng kỹ thuật ELISA và miễn dịch khuếch tán kép để phát hiện kháng thể trong huyết thanh.\n- Sinh thiết phổi hoặc sinh thiết xuyên thành chẩn đoán mô bệnh.\n**4. Điều trị: Amphotericin B, Ancotyl, hoặc Fluconazol** **IV. BỆNH PHỔI ACTINOMYCOSIS VÀ NOCARDIOSIS**\nNguyên nhân do Actinomyces Israelii và Nocardia Asteroides gây nên.\nĐây là hai loại vi sinh vật, nhưng gây bệnh giống hệt nhau về lâm sàng vì vậy người ta xếp chúng vào một bệnh. Là những vi sinh vật kỵ khí, sống ký sinh ở miệng. Chúng được xếp vào nhóm bệnh nấm phổi về lâm sàng và đại thể. Nhưng thực tế đó không phải là nấm, mà là những vi khuẩn dạng sợi.\nLâm sàng: giống bệnh phổi mãn tính, ho khạc đờm, ho ra máu, gầy sút. Hay có lỗ dò thành ngực.\nX-quang: có những đám mờ, có hình hang nhỏ giống lao.\nĐiều trị: Vì là vi khuẩn, không phải nấm, nên điều trị bằng kháng sinh thông thường như Ampicilin, Gentamycin.\n\n*(Pneumoconiosis)* **I. BỆNH BỤI PHỔI LÀ GÌ?**\nĐịnh nghĩa: Bệnh bụi phổi là bệnh gây nên do sự xâm nhập, tích tụ của bụi trong phổi và các phản ứng của nhu mô phổi với sự xâm nhập đó. Bệnh bụi phổi là một bệnh nghề nghiệp do hít phải các loại bụi ở nơi làm việc, môi trường làm việc, do đó còn gọi là bệnh bụi phổi nghề nghiệp hay bệnh phổi do môi trường.(Environmental lung diseases). Bệnh có tính chất mãn tính, qua một thời gian dài, có thể làm phát sinh những tổn thương xơ hóa.\nỞ Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước đã đưa vào giám định các bệnh bụi phổi siclic, bụi phổi do amiăng, bụi bông, các bệnh nhiễm độc chì, benzen, thủy ngân, nhiễm độc TNT, bệnh điếc do tiếng ồn.\nChúng ta còn nhiều vấn đề mà y học phải giải quyết như các bệnh nhiễm trùng, các bệnh tiêu hóa, hô hấp, tim mạch, ung thư… Tuy vậy các bệnh bụi phổi nghề nghiệp vẫn được quan tâm đúng mức, để đảm bảo sức khỏe cho người lao động.\n**II. CÁC LOẠI BỤI VÀ TÁC HẠI CỦA NÓ** **1.** Gọi là bụi ô nhiễm khi nồng độ của bụi vượt quá nồng độ tiêu chuẩn cho phép. Ví dụ với bụi SiO 2 < 1mg/1m3 không khí (< 100 hạt). Các hơi, khói, khí vượt nồng độ bình thường trong không khí. Ví dụ CO 2 là 5%. **2. Có hai loại bụi**\n- Bụi vô cơ (khoáng chất) gồm:\nBụi có hoạt tính hóa học gây xơ phổi như: silic, amiăng (asbest), beryli.\nBụi trơ, không gây xơ hóa: than, sắt, ximăng, cao lanh, thiếc\nBụi hỗn hợp: silic than, silic-tal, silic sắt.\n- Bụi hữu cơ.\nThực vật: bông, mía, gai, lanh.\nĐộng vật: lông gà, lông vịt, lông chim, lông chó, mèo, thỏ…\n**3. Tác động của bụi**. Có ba tác động.\n- Gây tắc nghẽn đường thở.\n- Gây phản ứng dị ứng.\n- Gây xơ hóa.\nMột số bụi gây tổn thương u hạt như beryli.\n**4. Các hơi, khí độc **như NH 3, Cl, SO 2, CO 2, Hg… chủ yếu gây nhiễm độc và kích thích niêm mạc. **5. Ảnh hưởng của bụi phụ thuộc vào bốn yếu tố**\n- Kích thước của bụi nhỏ càng nguy hiểm, từ 5 - 10 micromet là có thể vào đến phế nang dễ dàng. Bụi to hơn thì bị phế quản và hệ thống nhung mao cản lại và phản xạ ho tống ra ngoài. Bụi quá nhỏ 2 - 3 micromet thì hít vào rồi lại bị đẩy ra.\n- Nồng độ bụi. Có bảng quy định Quốc gia với từng loại bụi, do Bộ y tế ban hành. Nồng độ bụi càng cao càng nguy hiểm.\n- Thời gian tiếp xúc càng lâu càng nguy hiểm. Mỗi loại bụi cũng có những qui định riêng, do Bộ y tế ban hành.\n- Cơ địa, tính phản ứng của từng cá thể.\n**III. CHẨN ĐOÁN BỆNH BỤI PHỔI** **1. Đo nồng độ bụi ở môi trường lao động. **So sánh với bảng tiêu chuẩn bình thường ở người Việt Nam có vượt không. **2. Thời gian tiếp xúc**\nVí dụ bệnh bụi phổi silic > 5 năm, bệnh bụi bông =>10 năm\n**3. Khám lâm sàng:** phát hiện các triệu chứng về phổi như ho, đau ngực, khó thở, nghe có ran ở phổi. **4. Kỹ thuật hình ảnh. **Rất có giá trị với những bệnh bụi phổi silic, amiăng.\nChụp X-quang chuẩn thẳng và nghiêng.\nChụp X-quang độ phân giải cao.\nChụp CT.\n**5. Đo chức năng hô hấp: **thông khí phổi, khí máu, khuếch tán DLO 2. **6. Các XN khác**: phát hiện thể asbest, sinh thiết Daniel. **7. Phát hiện các biến chứng kèm theo**: viêm phế quản mãn, khí phế thũng, tâm phế mãn. **8. Chẩn đoán phân biệt, loại trừ các bệnh:** lao, ung thư, bệnh sarcoidose, bệnh tim, bệnh nấm phổi. **IV. DỰ PHÒNG BỆNH BỤI PHỔI**\n- Thực hiện các biện pháp hạn chế phát sinh bụi và giảm nồng độ bụi.\n- Thực hiện các biện pháp bảo vệ người lao động.\n- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ và tổ chức giám định.\n\n*(Slicosis)* **I. ĐẠI CƯƠNG**\nTrạng thái bệnh lý của phổi gây nên do hít phải bụi SiO2 tự do, với đặc điểm về giải phẫu bệnh lý là xơ hóa và hình thành các hạt, về lâm sàng là khó thở, về X-quang là những tổn thương đặc biệt.\nLà bệnh có tỷ lệ cao trong các bệnh nghề nghiệp được giám định. Công nhân cơ khí và đúc 21,5%, công nhân tiếp xúc gạch chịu lửa 13,9%, công nhân than 3,6%\n**II. NGUYÊN NHÂN**\n- Nguyên nhân gây bệnh là silic tự do SiO\n2. Có hai thể: thể tự do (thạch anh, Quart) và thể kết hợp (sili cát, silic vô định). SiO 2là thể tự do phổ biến\n- Si líc là thành phần quan trọng của vỏ trái đất chiếm 27,7%, chủ yếu ở dạng SiO\n2. SiO 2 có trong tất cả các mỏ, do đó công nhân khai thác mỏ nói chung rất dễ bị bệnh silicosis.\n- Những đối tượng dễ mắc bệnh.\nCông nhân khai thác mỏ: mỏ than, sa thạch, mỏ vàng, mỏ thiếc…\nCông nhân làm nghề đúc: đúc đồng, đúc gang, nấu vàng, nấu thiếc…\nCông nhân đào hầm qua núi, công nhân xây dựng các công trình bằng đá.\nCông nhân tiếp xúc với gạch chịu lửa, than chì, mê ca.\nCông nhân các nghề sành sứ, gốm, thủy tinh.\nSau khi nổ mìn thì nồng độ silíc cao kết hợp với NO\n2 tạo nên môi trường rất độc hại. Khi nung nóng lên 1000 oC thì thạch anh và cả silic vô định hình có thể chuyển thành tridymit và cristobalit rất nguy hiểm. **III. TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU BỆNH LÝ** **1. Tổn thương đặc hiệu**\nTổn thương đặc hiệu là những hạt xơ trong, thấu quang gọi là những hạt silico.\n- Hạt xơ trong đường kính 2 - 6mm, mặt cắt ngang có những vòng tròn đồng tâm, trông như vỏ củ hành. Bên ngoài là những tế bào liên kết, tế bào lympho, tế bào bụi. Hạt xơ trong không có hoại tử, cũng không có mạch máu và không có tế bào khổng lồ.\n- Các hạt xơ trong phát triển to dần cùng với thời gian tiếp xúc với bụi SiO\n2, đồng thời hình thành những hạt xơ mới.\n- Có khi các hạt gần nhau kết hợp với nhau tạo thành những khối giả u, hình tròn hoặc bầu dục, bờ nham nhở.\n**2. Tổn thương không đặc hiệu**\n- Hình phá hủy các vách phế nang tạo thành khí phế thũng.\n- Các mạch máu bị biến dạng do bị chèn ép.\n- Hạch rốn phổi đôi khi xưng to và xơ hóa.\n- Có thể thấy hình dầy dính màng phổi.\n**IV. CƠ CHẾ BỆNH SINH**\nCó nhiều giả thuyết giải thích.\n**1. Giả thuyết hóa học**\nBụi silic hòa tan trong dịch ngoại bào tạo thành axit silisic. Axit này gây tủa protein và gây nên phản ứng xơ hóa. Hoặc axit này trùng hợp thành các polyme gây phản ứng xơ hóa.\nChứng minh: Người ta hòa tan được bụi thạch anh < 1 micromet trong dung dịch Ringer pH 7,4. Người ta thấy axit silisic dạng keo độc hơn bụi thạch anh 10 lần. Khi làm giảm sự hòa tan của thạch anh thì cũng giảm khả năng gây bệnh.\n**2. Giả thuyết miễn dịch**\n- Đại thực bào ăn các hạt bụi thạch anh, không tiêu được bụi, mà bản thân đại thực bào bị tiêu hủy. Khi đại thực bào bị tiêu hủy giải phóng ra các cytokin đồng thời kích thích hoạt động của nguyên sơ bào, tạo thành các sợi tạo keo dẫn đến xơ hóa. Chứng minh: Khi gamma globulin tăng thì tương bào trong máu tăng. Trong tổ chức xơ thấy có nhiều globulin bê ta và anpha.\n- Silic + protein thành kháng nguyên. Kháng nhuyên - kháng thể thành phức hợp, kích thích cơ thể sinh ra tổ chức xơ.\n- Ngoài ra, cùng hít một lượng bụi như nhau nhưng có người bị bệnh, có người không. Có người diễn biến nhanh, có người diễn biến chậm.\n**V. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG**\n- Bệnh nhân là những người làm nghề có tiếp xúc với SiO\n2 thời gian > 5 năm. Rất cá biệt có thể < 5 năm, trường hợp này phải hội chẩn các thầy thuốc chuyên khoa. Nồng độ bụi đo được ở môi trường lao động vượt nồng độ cho phép theo qui định của Bộ y tế.\n- Giai đoạn đầu các hạt nhỏ thường không có triệu chứng gì. Bệnh phát hiện được do chụp X-quang trong các đợt khám sức khỏe định kỳ.\n- Khó thở là triệu chứng cơ bản của bệnh, do xơ phổi và do khí phế thũng. Lúc đầu chỉ khó thở nhẹ, có khi không để ý đến. Về sau khó thở khi gắng sức. Dần dần khó thở cả khi làm việc nhẹ, làm cho bệnh nhân mệt mỏi, ảnh hưởng đến công việc hàng ngày. Sau đó khó thở thường xuyên. Khi khó thở nặng có co rút cơ hô hấp phụ, rút lõm trên ức, trên đòn, co rút các khoang liên sườn. Có thể tím tái, suy hô hấp.\n- Ho, khạc đờm là triệu chứng của viêm phế quản mãn, thường là biến chứng của silicosis. Hay xảy ra ở nam giới, nghiện thuốc lá, thuốc lào.\n- Đau ngực cũng là triệu chứng hay gặp.\n**VI. CÁC KỸ THUẬT HÌNH ẢNH** **1. X-quang** là biện pháp rất quan trọng. Hình ảnh X-quang cho phép chẩn đoán sớm silicosis.\n*Yêu cầu kỹ thuật:\nĐiện thế, thời gian phải đáp ứng đúng, khoảng cách phim và bóng, tư thế bệnh nhân phải đúng.\n* Điều kiện: - Phải chụp X-quang chuẩn, phim 30 × 40, có hai phim cách nhau 1 năm để so sánh tham khảo.\n- Phải có một bộ phim mẫu để làm chuẩn.\n* Yêu cầu khi đọc phim\n- Ánh sáng của đèn soi phim phải đủ.\n- Khoảng cách giữa người đọc và phim không quá xa.\n- Hai người đọc độc lập.\n* Mô tả trên phim X-quang chuẩn:\n- Hình ảnh X-quang lúc đầu chỉ thấy một số điểm lấm tấm nhỏ như đầu kim, tập trung ở vùng rốn phổi.\n- Dần dần các điểm xuất hiện nhiều hơn và liên kết với nhau thành những nốt có bờ tròn hoặc nham nhở.\n- Bệnh kéo dài, tổn thương lan rộng chiếm 1/4 đến 1/2 phổi. Từ rốn phổi lan xuống đáy phổi, lan lên đỉnh phổi, lan đến màng phổi.\n- Có thể thấy các nốt to hơn, tròn hoặc bầu dục, gọi là những hình giả u.\n- So sánh hai phim cách nhau 1 năm: Các hạt silicosis nhất thiết phải tồn tại trên cả hai phim, ở phim sau các hạt phát triển nhiều hơn phim trước.\n**2. X-quang độ phân giải cao**\nCác lớp cách nhau 1 - 1,5mm. Giúp phân biệt được silicosis đơn thuần và silicosis có biến chứng, phát hiện thể u. Giúp phân biệt silicosis và bệnh phổi khác.\n**3. Chụp CT**\n- Giúp chẩn đoán silicosis, xác định các biến chứng. CT là hình ảnh rất giá trị và đủ là bằng chứng để chẩn đoán.\n**VI. CHỨC NĂNG HÔ HẤP**\nChức năng hô hấp đánh giá thực tế ảnh hưởng của bệnh, theo dõi tiến triển của bệnh, là cơ sở để giám định.\n- Rối loạn thông khí tắc nghẽn: FEV1 giảm, tỷ số FEV1/VC giảm.\n- Thể tích khí cặn tăng là có biến chứng khí phế thũng.\n- Rối loạn tắc nghẽn đường thở nhỏ: FEF 25 - 75% giảm, V25 50 75 < 60% so với lý thuyết.\n- Rối loạn khuếch tán: DLO\n2 giảm. Bloc phế nang mao mạch nếu tiêu tụ O 2 khi nghỉ và khi gắng sức giảm nhiều.\n- Suy hô hấp: SaO\n2 giảm, PaO 2 giảm, PaCO 2 tăng. **VII. KỸ THUẬT NỘI SOI**\n- Rửa phế nang: Phế nang viêm đại thực bào và Lympho bào\n- Sinh thiết xuyên thành có những nốt xơ trong.\n**VIII. PHÂN LOẠI X-QUANG THEO TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ 1980** (để giám định) **1. Nốt mờ**\n* Kích thước và ký hiệu\n* Mật độ 0: không có hoặc có nhưng ít hơn 1.\n1: có nốt mờ tròn nhỏ nhưng ít.\n2: nhiều nốt mờ tròn nhỏ.\n3: rất nhiều nốt mờ tròn nhỏ.\nChi tiết hơn so với phim mẫu, người ta còn chia ra.\n0/1p: Nghi ngờ so với phim mẫu.\n1/0p: có nhưng chưa bằng 1 của phim mẫu.\n1/1p: bằng bộ phim mẫu.\nTương tự ta có:\n1/2p, 2/1p, 2/2p\n2/3p, 3/2p, 3/3p\nTiếp theo p là:\nq, r\nHoặc:\ns, t, u\n* Vị trí:\nU là vùng trên, M là vùng giữa, L là vùng dưới phổi.\nR là phổi phải, L là phổi trái.\nTa có phổi phải:\nRU, RM, RL\nPhổi trái:\nLU, LM, LL\n**2. Đám mờ**\nA: Đám mờ có đường kính 1 - 5cm hoặc tổng diện tích < 5cm2.\nB: Đám mờ có đường kính > 5cm hoặc tổng diện tích < 1/3 phổi phải.\nC: Đám mờ có tổng diện tích > 1/3 phổi phải.\n**IX. Tiến triển và biến chứng** **1. Tiến triển**\n- Tiến triển dần dần từ nhẹ đến nặng, tiến triển không ngừng và không hồi phục. Các tổn thương đã hình thành sẽ không bao giờ mất đi không bao giờ khỏi. Sau này dù không tiếp xúc với bụi nữa, bệnh vẫn còn tiến triển. Thường thì sau 1 - 2 năm chụp lại X-quang phổi và đo chức năng hô hấp đều thấy có thay đổi nặng lên. Cá biệt có số ít tiến triển ác tính sau 1 - 2 năm dẫn đến tử vong.\n**2. Biến chứng**\n- Lao phổi là biến chứng đáng ngại. Lao và bệnh bụi phổi là thể lao đặc biệt, triệu chứng đặc biệt, điều trị khó khăn hơn lao phổi đơn thuần rất nhiều.\n- Khí phế thũng cạnh tổn thương xơ, giãn phế quản.\n- Tâm phế mãn.\n- Suy hô hấp.\n- Tràn khí màng phổi, do vỡ các bóng khí thũng.\n**X. PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ** **1. Phòng bệnh là quan trọng nhất**\n- Hạn chế phát sinh bụi, giảm nồng độ bụi xuống mức cho phép, bằng các biện pháp như: hút bụi, thông gió, làm ẩm không khí bằng phun nước mưa nhân tạo. Thực hiện sản xuất trong chu trình khép kín. Che đậy máy móc làm phát sinh bụi.\n- Bảo vệ người sản xuất: Đeo khẩu trang, đeo mặt nạ, mặc quần áo bảo hộ lao động, tăng cơ giới hóa, giảm lao động thủ công cho người lao động.\n- Biện pháp y tế: Kiểm tra thường xuyên môi trường lao động. nồng độ bụi, số lượng hạt bụi, hàm lượng silic tự do. Khám sức khỏe định kỳ cho công nhân. Tổ chức giám định cho công nhân. Đề xuất các biện pháp phòng bệnh cho công nhân.\n**2. Điều trị**\n* Điều trị triệu chứng là chủ yếu: giảm ho, chống khó thở, giảm đau ngực.\nDùng kháng sinh chống nhiễm trùng, trong các đợt cấp của viêm phế quản mãn.\n* Một số thuốc tác động lên đại thực bào, hạn chế quá trình tạo keo, giảm xơ hóa. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn còn đang bàn cãi. Sau đây là một số thuốc để tham khảo.\nPVPNO (Poly2vinyl piridin nitrogen oxyt).\nTetrandrin.\n77\nCitrat nhôm.\nQPP (Quinolyl piperazin phosphat).\nQPHP (Quinolyl piperazin hydroxy phosphat).\n* Corticoid nếu không có lao.\n* Phát hiện lao, nếu có thì điều trị lao sớm.\n\n*(Asbestosis)* **I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Nguyên nhân gây bệnh là amiăng (asbestos). Amiăng là hỗn hợp các chất silicat, sắt, kền, canxi, magnesium, nhôm… dưới dạng sợi trong thiên nhiên.\nAmiăng có tính chất lý hóa rất quí là cách nhiệt (không cháy), cách điện, chịu axit, chịu mài mòn, có độ dai và độ bền cao. Vì vậy người ta sử dụng đặc tính này để sản xuất các vật liệu như: lốp xe, má phanh, quần áo chống lửa, mũ phòng cháy, các vỏ dây cách điện, vật liệu xây dựng, dây neo tầu thủy, thảm chống lửa cách nhiệt, vật liệu cách nhiệt, làm thùng cách nhiệt cho nồi hơi, lò nung, ngói amiăng xi măng.\n- Nguy cơ mắc bệnh là những người có tiếp xúc với amiăng như công nhân khai thác mỏ amiăng, công nhân các nghề sản xuất các sản phẩm có dùng nguyên liệu amiăng nói trên.\n**II. TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU BỆNH LÝ**\n- Bụi asbestos gây xơ phổi kẽ lan tỏa (khác với silicosis xơ hóa là các nốt quanh phế quản và mạch máu). Ở những vùng xơ hóa dày đặc làm cho cấu trúc phế nang hoàn toàn bị thay đổi. Tổn thương là xơ hóa trong và đôi khi có hoại tử.\n- Có những thể asbest 5 - 10micromet × 50 - 150micromet bề dài, màu vàng hoặc nâu. Hình thể thắt ở giữa và hai đầu hơi phình ra, gồm sợi amiăng ở giữa, xung quanh bao bọc bởi một lớp protein có chứa sắt.\nThể asbest có thể thấy trong đờm, nuốt vào ruột không bị phá hủy nên có thể thấy trong phân. Các thể này có thể nhìn thấy trên kính hiển vi. Để lâu ngoài trời, sợi tan đi chỉ còn một đám hạt đen có thể là oxit sắt.\n- Có thể thấy tổn thương màng phổi: xơ thấu quang, vôi hóa màng phổi, và đặc biệt rất hay gặp u trung biểu mô màng phổi ác tính lan tỏa.\n**III. CƠ CHẾ BỆNH SINH**\nHiện còn đang tranh cãi.\nThuyết hòa tan và thuyết miễn dịch không được công nhận.\nThuyết cơ học được nhiều người chú ý. Sợi amiăng hít vào phổi, như một cái kim nhỏ đâm vào vách phế nang, kích thích gây tăng sản và sinh xơ ở tổ chức kẽ. Sợi amiăng cũng đâm vào màng phổi gây xơ hóa và tạo thành các đám dính.\n**IV. TRIỆU CHỨNG** **1. Lâm sàng**\n- Tiền sử có tiếp xúc với amiăng 10 - 20 năm.\n- Ho, khạc đờm trắng loãng.\n- Khó thở là triệu chứng chủ yếu khi bệnh đã rõ.\n- Nghe phổi có ran nổ nhỏ hạt ở vùng đáy hoặc ran velcro.\n- Thể trạng gầy, xanh, ngón tay dùi trống.\n**2. Cận lâm sàng**\n- XN đờm: Tìm thấy thể asbest.\n- Chức năng hô hấp: VC giảm nói lên rối loạn thông khí hạn chế. Nếu kèm theo FEV1 giảm, tỷ số FEV1/VC giảm là có rối loạn thông khí hỗn hợp. Đặc biệt DLO\n2 giảm nói lên có rối loạn khuếch tán (bệnh mô kẽ).\n- X-quang: Hình ảnh tổ chức kẽ xuất hiện muộn sau các triệu chứng lâm sàng. Hình mờ như kính mờ, hình mắt lưới đa giác ở quanh rốn phổi, và sau đó ở nửa dưới hai phổi. Hình ảnh dầy dính màng phổi, vôi hóa màng phổi vùng đáy, vòm hoành, sát bờ tim và bóng tim.\n- Chụp CT: Phát hiện vôi hóa màng phổi và u trung biểu mô màng phổi.\n**V. CHẨN ĐOÁN**\nDựa vào các yếu tố:\n- Tiền sử có tiếp xúc với amiăng 10 - 20 năm.\n- Hình ảnh X-quang như mô tả.\n- XN đờm thấy thể asbest. Tuy nhiên có tác giả cho rằng thể asbest chỉ nói lên có tiếp xúc với amiăng chứ chưa khẳng định bị bệnh, vì chỉ sau 2 tháng hít bụi đã có thể tìm thấy thể asbest trong đờm.\n- Chụp CT có hình vôi hóa màng phổi hoặc u trung biểu mô màng phổi.\n**VI. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG**\n- Tiến triển rất lâu, thường sau 10 - 20 năm. Tổn thương vĩnh viễn không hồi phục. Nhưng khi ngừng tiếp xúc thì bệnh cũng không tiến triển nữa.\n- Biến chứng hay gặp là giãn phế quản, khí phế thũng. Biến chứng đáng sợ là ung thư phổi, ung thư trung biểu mô màng phổi. Những người có hút thuốc tiếp xúc amiăng, tỷ lệ ung thư cao hơn người hút thuốc không tiếp xúc amiăng gấp 10 lần.\n**VII. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG**\n- Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Dùng corticoid giai đoạn đầu. Điều trị các biến chứng là chủ yếu. Nếu bị ung thư thì dùng hóa chất trị liệu.\n- Dự phòng: Như các bệnh bụi phổi khác.\n\n*(Byssinosis)* **I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Còn có tên gọi “bệnh khó thở ngày thứ hai”, “bệnh sốt ngày thứ hai”. Được xếp vào nhóm viêm phế nang dị ứng ngoại lai (Extrinsic allergic alveolitis) hay bệnh viêm phổi tăng cảm (hypersensitivity pneumonitis).\n- Là 1 bệnh phổ biến trong các bệnh bụi phổi do bụi thực vật. Là bệnh của công nhân tiếp xúc với các bụi của bông, gai, đay, lanh.\n- Thường gặp là công nhân dệt, ngoài ra những công nhân cán xé bông, đóng kiện, xe sợi, đều có thể mắc bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh ở công nhân dệt 20 - 38%.\n**II. CƠ CHẾ BỆNH SINH**\nĐiều chắc chắn ở bệnh nhân bụi bông là có co thắt phế quản. Đây được coi là tình trạng dị ứng muộn, dị ứng type III của Gell - Coomb.\n- Gần đây người ta giải thích sự co thắt phế quản do cơ chế phản ứng trung gian tế bào. Đại thực bào sau khi nuốt các hạt bụi thì được hoạt hóa, tiết ra các yếu tố trung gian hóa học như prostagrandin, interleukin 1, yếu tố hoạt hóa tiểu cầu PAF (platelet activating factor). Các chất trung gian này gây co thắt phế quản. Các tế bào viêm xâm nhập tổ chức kẽ đến phế nang sớm, nhưng đến phế quản muộn hơn sau 12 - 24h, do đó mới có kiểu phản ứng muộn.\n**III. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ**\nPhổi không có biến đổi gì đặc hiệu, không có xơ hóa. Tổn thương giống như một viêm phế quản mãn không đặc hiệu.\n**IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG**\n- Tức ngực, ho khan do bị kích thích. Tiếp xúc với bụi thì có thể ho có đờm do viêm phế quản.\n- Khó thở khá đặc biệt. Khó thở xuất hiện vào ngày thứ hai đầu tuần đi làm, là ngày tiếp xúc với bụi. Triệu chứng sẽ hết sau khi rời khỏi vị trí lao động.\n- Lúc đầu khó thở xuất hiện vào ngày thứ hai, các ngày sau nhẹ dần. Nhưng sau đó khó thở lan dài ra các ngày thứ 3, 4 và các ngày khác trong tuần. Có nhiều trường hợp phải nghỉ việc.\n- Ngoài ra có những triệu chứng kích thích niêm mạc mắt, mũi, họng.\n- Giai đoạn cuối triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở, không phân biệt được với viêm phế quản mãn.\n**V. CẬN LÂM SÀNG** **1. X-quang**: Không thấy có tổn thương đặc hiệu của bụi bông, cũng không xác định bệnh lý ở phổi. Tổn thương giống như biểu hiện của viêm phế quản mãn **2. Chức năng hô hấp**: Khi khó thở thì thấy FEV1 giảm, tỷ số FEV1/VC giảm.\nRaW tăng, khi hết khó thở các chỉ số trên lại bình thường, có nghĩa đó là rối loạn thông khí tắc nghẽn có hồi phục.\n**VI. PHÂN LOẠI** **1. Về lâm sàng**\n**2. Về chức năng hô hấp**\nKý hiệu F (Function) do Boulys đề xuất.\nF1/2 đo cuối ngày thứ hai FEV1 > 80% so với lý thuyết, chưa có rối loạn thông khí.\nF1 đo cuối ngày thứ hai FEV1 = 80% so với lý thuyết, rối loạn thông khí nhẹ.\nF2 đo cuối ngày thứ hai FEV1 = 60 - 80% so với lý thuyết, rối loạn tắc nghẽn vừa.\nF3 đo cuối ngày thứ hai FEV1 < 60% so với lý thuyết, rối loạn tắc nghẽ nặng.\n**VII. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG**\nTiến triển: Nếu ngừng tiếp xúc hoặc chuyển nghề thì bệnh ngừng rồi hết hẳn.\nNếu không ngăn ngừa được bụi và cứ tiếp xúc thì bệnh cứ tiến triển. Khó thở từ nhẹ đến nặng, từ không thường xuyên đến thường xuyên, từ giảm khả năng lao động đến không lao động được.\nBiến chứng: Viêm phế quản mãn, hen phế quản, nhiễm khuẩn hô hấp, suy tim phải.\n**VIII. PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ** **1. Phòng bệnh**\n- Bảo quản nguyên liệu tốt, không để ẩm làm cho vi khuẩn dễ xâm nhập, nấm mốc phát triển.\n- Đảm bảo môi trường lao động sạch sẽ, thoáng mát. Có hệ thống hút bụi, lọc bụi. Giám sát môi trường lao động. Thường xuyên đo nồng độ bụi ở môi trường lao động. Nếu nồng độ bụi duy trì < 1mg/m3 không khí thì sẽ không có ai mắc bệnh. Nếu để nồng độ bụi lên tới 4mg/m3 thì 50% công nhân sẽ mắc bệnh. Đáng sợ là “bụi hô hấp” kích thước < 7micromet.\n- Công nhân mặc quần áo bảo hộ lao động, phải đeo khẩu trang, đeo mặt nạ.\n- Tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ.\n**2. Điều trị**\nKết quả thường không như mong đợi. Thuốc giãn phế quản, corticoid.\nĐiều trị triệu chứng: giảm ho, khi có bội nhiễm thì dùng kháng sinh. Phát hiện sớm và cách ly môi trường.\n\n*(Anthracosis)* **I. ĐẠI CƯƠNG**\nBệnh bụi phổi than là bệnh do hít phải bụi than (anthracose).Nhưng bụi than là bụi trơ lành tính, chỉ gây tích tụ, không gây phản ứng xơ, bệnh ít nguy hiểm.\nTuy nhiên, những công nhân khai thác than vẫn hít phải SiO\n2 tự do trong hầm mỏ, mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào nồng độ SiO 2 trong bụi. Do đó công nhân khai thác than vẫn có thể mắc bệnh bụi phổi silic (silicosis). Hoặc vừa hít phải bụi than vừa hít phải bụi silic nên mắc bệnh bụi phổi than silic (anthracosilicosis). **II. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ**\n- Đại thể: Chủ yếu là các đám bụi than tích tụ ở phổi. Những hạt than mầu đen kích thước 2 - 3mm nổi lên mặt cắt và có thể sờ thấy, thường gặp ở phần trên và phần dưới của phổi. Vì vậy còn gọi là “bệnh phổi đen”. Các hạt bụi có mầu đen nên rất dễ phân biệt với hạt silicose.\n- Vi thể: Ta thấy các đám bụi than tập trung quanh các phế quản nhỏ và tiểu phế quản tận, xung quanh huyết quản. Các chất tạo keo không bị xơ hóa. Có nhiều đại thực bào chứa bụi trong phế nang. Người ta còn thấy bụi tích chứa trong các tổ chức lympho ở chỗ các phế quản nhỏ chia nhánh. Có thể thấy các hạt gồm đại thực bào và chất tạo keo lẫn sợi lưới xếp lẫn lộn, không có hình đồng tâm như hạt silicose.\n**III. CƠ CHẾ BỆNH SINH**\nBụi than xâm nhập vào đường hô hấp, nhưng những hạt bụi có kích thước lớn đều bị ngăn cản lại ở phế quản. Những hạt bụi nhỏ thì vào được phế nang. Nhưng vì là bụi trơ nên vào đến tận phế nang nó cũng không gây hiện tượng thực bào. Dù đại thực bào có nuốt bụi, thì khi đại thực bào chết cũng không kích thích sinh xơ. Vì thế bụi chỉ tích tụ tại chỗ hoặc theo hệ thống bạch huyết trôi đi. Phản ứng của cơ thể với bụi than chỉ tạo nên những viêm nhiễm mãn tính không đặc hiệu và những đường xơ không đáng kể.\n**IV. TRIỆU CHỨNG** **1. Lâm sàng**: Triệu chứng lâm sàng thực tế không có gì đặc biệt.\n- Ho khạc đờm mầu đen lỏng là dấu hiệu mở đầu của bệnh và tương đối đặc trưng. Trong trường hợp có viêm phế quản mãn thì ho và khạc đờm kéo dài.\n- Mức độ nặng hơn bệnh nhân có thể khó thở tùy mức độ.\n**2. Cận lâm sàng**\n- X-quang: Hình ảnh tương tự như silicosis và áp dụng bảng phân loại của ILO. Tổn thương là những nốt mờ 1 - 10mm bờ không rõ. Khác silicosis ở chỗ tổn thương ít thay đổi và khi ngừng tiếp xúc thì bệnh cũng ngừng tiến triển.\n- Chức năng hô hấp: VC giảm nhẹ nói lên có rối loạn thông khí hạn chế nhẹ. Nếu có viêm phế quản mãn thì FEV1 giảm, tỷ số FEV1/ VC giảm.\n**V. CHẨN ĐOÁN**\nDựa vào những căn cứ như chẩn đoán silicosis.\n- Nghề nghiệp.\n- Nồng độ bụi đo được ở môi trường làm việc.\n- Thời gian tiếp xúc.\n- Hình ảnh X-quang.\n- Chức năng hô hấp.\n**VI. PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ** **1. Phòng bệnh**\nNhư dự phòng các bệnh bụi phổi nói chung. Hạn chế phát sinh bụi nơi sản xuất.\nBảo vệ người lao động. Theo dõi sức khỏe định kỳ.\nTrong nghề than thì khai thác than lộ thiên ít nguy hiểm hơn so với khai thác trong hầm lò vì khả năng tiếp xúc với silic ít hơn\n**2. Điều trị**\n- Điều trị triệu chứng như giảm ho, giảm đau, chống khó thở.\nKhi có viêm phế quản mãn thì dùng kháng sinh, nhất là trong các đợt cấp của viêm phế quản mãn.\n- Phục hồi chức năng bằng tập thở bụng.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Tổ chức kẽ là tổ chức nằm xen giữa 3 - 4 phế nang, ở khoảng liên phế nang, có mạch máu và vài loại tế bào. Nơi đây không có chức năng trao đổi khí, nhưng vì nó nằm sát vách phế nang nên mọi thay đổi của nó đều ảnh hưởng đến phế nang, tức là ảnh hưởng đến trao đổi khí. Để dễ hình dung, bạn hãy cầm ba quả bóng bàn trong bàn tay, bạn sẽ thấy có khoảng không nằm giữa ba quả bóng, đó là tổ chức kẽ và ba quả bóng là phế nang.\n- Tổ chức kẽ bình thường không nhìn thấy trên phim X-quang, chỉ nhìn thấy khi có tồn thương như: phù nề, xơ hóa, u hạt làm tăng thể tích và cản trở tia X.\n- Bệnh phổi mô kẽ (interstitial lung disease) là tên chung chỉ một nhóm bệnh gây tổn thương ở tổ chức kẽ của phổi (vách phế nang, tổ chức kẽ liên phế nang, mạch máu), thường có chung các triệu chứng lâm sàng, tiến triển mãn tính, hay dẫn đến xơ phổi, có căn nguyên hoặc không có căn nguyên. Xơ phổi kẽ là giai đoạn tiến triển cuối cùng của bệnh phổi mô kẽ.\n- Người ta đã thống kê được 180 bệnh trong nhóm bệnh phổi mô kẽ.\n**II. NGUYÊN NHÂN**\n- Hít phải các bụi vô cơ như: bụi silic tự do, bụi amiăng, bụi than, bụi sắt…\n- Hít phải các bụi hữu cơ như: bụi bông, bụi đay, lanh, bụi lông thú, lông chim, gà, vịt.\n- Hít phải các hơi, khói độc hại.\n- Do thuốc: kháng sinh, thuốc chữa ung thư, thuốc chữa khớp, nhóm statin.\n- Do chiếu xạ.\n- Do nhiễm trùng: viêm phổi không điển hình, viêm phổi do pneumocystis, virut hợp bào hô hấp.\n- Phù phổi tổn thương.\n- Ung thư bạch mạch.\n- Không rõ căn nguyên.\n**III. MỘT SỐ BỆNH ĐƯỢC GỌI LÀ BỆNH PHỔI MÔ KẼ**\n- Viên phổi tăng cảm (thường do hít phải bụi hữu cơ).\n- Bệnh bụi phổi (silicosis, asbestosis, anthracosis, berylliosis…).\n- Những bệnh không rõ căn nguyên: bệnh phế nang viêm xơ hóa vô căn (bệnh xơ phổi kẽ vô căn), bệnh sacoidose, bệnh mô bào huyết X, bệnh colagen hay bệnh chất tạo keo (luput ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjogren, bệnh u hạt Wegener), hội chứng Good-Pasture, bệnh hemosiderin phổi vô căn, bệnh amilose phổi, bệnh tích protein phế nang, bệnh viêm phổi mãn tính tăng bạch cầu ái toan.\n**IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG**\n- Khởi đầu lặng lẽ, các triệu chứng cơ năng không đặc hiệu: khó thở gắng sức và tăng dần, ho khan, nặng ngực rất dễ nhầm với bệnh phổi mãn tính tắc nghẽn. Có bệnh nhân có thể ho ra máu.\n- Triệu chứng thực thể: nghe có ran Velcro (như tiếng bóc băng dính), có thể có ran rít, ran ẩm. Giai đoạn cuối có thể có tâm phế mãn.\n- Triệu chứng ngoài phổi: ngón tay dùi trống, tùy từng bệnh có sưng đau khớp, hội chứng Raynaud, xưng hạch ngoại vi.\n**V. CẬN LÂM SÀNG** **1. X-quang** *- Đường mờ* do phù nề vách liên thùy và tiểu thùy tạo nên các hình Kerley A, B, C. *- Hình lưới *do nhiều đường xơ kết hợp với nhau tạo thành mạng lưới, gặp trong xơ phổi giai đoạn cuối. *- Hình nốt *gồm nhiều nốt mờ kích thước khác nhau: 1 - 2mm, 2 - 3mm, 3 - 5mm, có những nốt lớn 5 - 10mm. Những bệnh có hình ảnh nốt trên phim X-quang như: sarcoidosis, histiocytosis, bệnh nhiễm trùng infection (mycobacterial, fungal, viral), silicosis, anthracosis…\n- Hình ảnh\n*lưới nốt*: tùy theo hình ảnh lưới nổi trội hay nốt nổi trội mà có những gợi ý chẩn đoán khác nhau. **2. Chức năng hô hấp**: rối loạn thông khí hạn chế, hội chứng bloc phế nang mao mạch. **3. Kỹ thuật xâm nhập**: soi phế quản ống mềm rửa phế quản - phế nang, sinh thiết xuyên thành là kỹ thuật hay được lựa chọn. **VI. ĐIỀU TRỊ**\nCác bệnh phổi kẽ có nhiều bệnh với quá trình bệnh lý khác nhau, vì vậy mỗi bệnh có những biện pháp điều trị khác nhau. Sau đây là bột số biện pháp chung:\n- Loại bỏ những yếu tố căn nguyên.\n- Dự phòng cúm, vi khuẩn.\n- Dùng corticoid hoặc ức chế miễn dịch.\n- Kháng sinh nếu có bội nhiễm.\n- Tập thở, chủ yếu tập thở bụng.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Hay gặp nhất là bệnh phổi mô kẽ, nhưng những tổn thương khác ở nhu mô phổi, phế quản, mạch máu, màng phổi vẫn có thể xảy ra.\n- Một số tổn thương chủ yếu là viêm, thâm nhiễm tế bào hoặc phù nề mô kẽ, một số tổn thương khác dần dần gây nên xơ phổi kẽ.\n- Triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, có khi do chụp X-quang tình cờ phát hiện ra thấy có hình lưới nốt hoặc nốt nhỏ.\n- Bất cứ tuổi nào và giới tính nào cũng có thể mắc các biến chứng do thuốc, những bệnh nhân suy thận là nguy cơ xuất hiện bệnh phổi khi dùng bleomycin, thể tạng atopy là điều kiện thuận lợi xuất hiện hen phế quản khi dùng các thuốc aspirin, các thuốc chẹn bê ta, thuốc cản quang.\n**II. CÁC BIỂU HIỆN Ở PHỔI, MÀNG PHỔI DO THUỐC GÂY RA** **1. Ho, co thắt phế quản **do khí dung một số thuốc kháng sinh cho bệnh nhân hen, hoặc tiêm penixillin, streptomyxin. **2. Hen phế quản**\n- Do các thuốc propanolol, aspirin.\n- Các kháng sinh: penixillin, cepalosporin,tetraxyclin.\n- Các thuốc chống viêm không steroid: indometaxin, analgin.\n- Thuốc axetycystein.\n**3. Thâm nhiễm phổi**\n- Không tăng bạch cầu ái toan có thể do amidaron.\n- Có tăng bạch cầu ái toan do các thuốc sulfamid (biseptol), penixellin, nitrofurantoin, methotrexat.\n**4. Viêm phổi tăng cảm** (viêm phế nang dị ứng ngoại lai): nitrofurantoin, methotrexat, ít gặp hơn là cromoglycat disodium, INH **5. Luput ban đỏ hệ thống**: hydralazin (thuốc chữa cao huyết áp), isoniazid (thuốc chữa lao), chlorpromazin (thuốc chữa bệnh tâm thần). **6. Phù phổi**\n- Phù phổi tổn thương do dùng aspirin lâu dài liều cao cho người già, các thuốc ma túy cocain, heroin.\n- Phù phổi tổn thương do dùng propanolol.\n**7. Tràn dịch màng phổi**: Methysergid (dẫn xuất của ergotamin điều trị chứng Migren), bromocriptin (ancaloit của cựa lúa mạch điều trị bệnh Parkinson), nitrofurantoin, amidaron, hydralazin, alpha methyl - Dopa. **8. Suy hô hấp **ở bệnh nhân nhược cơ do dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc phong bế thần kinh cơ. **9. Bệnh mạch máu phổi**\n- Nghẽn tắc động mạch phổi do dùng thuốc chống thụ thai (Oestroprogestaif),corticoid.\n- Cao áp động mạch phổi do dùng Aminorex (thuốc gây chán ăn).\n**10. Dùng thuốc corticoid kéo dài**, thuốc chống ung thư, làm giảm miễn dịch có thể gây lao phổi, nấm phổi. **11. Bệnh tích lipit ở phổi**: do nhỏ mũi các dầu sát trùng, dùng tinh chất hậu yên trị đái tháo nhạt, dầu paraffin, thuốc amiodaron, erythromycin, gentamycin. **12. Hội chứng Good - Pasture** (chảy máu phế nang + viêm cầu thận) do dùng.\nD-Penixillamin kéo dài trị bệnh khớp.\n**13. Viêm phổi tăng cảm do thuốc**\nNitrofurantoin, Methotrexat. Ít gặp hơn là các thuốc:\nCromoglycat disodium, INH, BCG, acebutolol.\n**III. XỬ TRÍ**\n- Ngừng ngay các thuốc đã dùng.\n- Trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp cấp, co thắt thanh phế quản thì phải cấp cứu tối khẩn cấp theo phác đồ.\n\nElastase\nCathepsin G\nProteinase 3\nCollagenase\nGelatinase\n**1. Khí phế thũng di truyền**\nKhí phế thũng (KPT) có nhiều nguyên nhân như hen phế quản, viêm phế quản mãn, xơ phổi. Những nguyên nhân này không có tính di truyền.\nKPT di truyền là do mất cân bằng của hệ thống “proteinase - kháng proteinase” không liên quan với bệnh nói trên. Do đó muốn nghiên cứu KPT di truyền ta phải tìm hiểu hệ thống “proteinase -kháng proteinase”. Vấn đề này đã được nghiên cứu khá kỹ, chúng tôi xin trình bày vắn tắt những kết quả nghiên cứu đó.\n*** Proteinase**\nBình thường trong bạch cầu đa nhân và đại thực bào chỉ có một số lượng ít các men và chúng không bài tiết các men này ra ngoài. Khi quá trình viêm xảy ra, bạch cầu, đại thực bào được huy động đến phổi với số lượng lớn. Đồng thời những tế bào này trở nên những “tế bào được kích thích” và trở nên hoạt hóa. Chúng gấp rút sản xuất ra một số lượng lớn các men, dự trữ ở các không bào. Khi cần tham gia tiêu diệt vi trùng, những men này được thoát ra khỏi tế bào. Hoặc khi bạch cầu bị tiêu hủy thì các men này được giải phóng ra.\nChức năng của các men này là tiêu hủy các vi trùng, xác vi trùng, các mảnh vỡ tế bào, các sản phẩm lên bông. Chúng còn tham gia vào quá trình tiêu hủy, sửa chữa, tái tạo các cấu trúc protein của phổi. Các men này hoạt động trong những điều kiện pH nhất định, ở những vị trí nhất định và tổ chức nhất định.\nCác proteinase của bạch cầu đa nhân gồm có:\nElastase\nCathepsin G\nProteinase 3\nCollagenase\nGelatinase\nCác proteinase của đại thực bào gồm có:\nElastase\nStromelasin\nCathepsin B&L\nCác men này được kiểm soát bởi các kháng proteinase.\n*** Kháng proteinase** (proteinase inhibitor)\nLà một nhóm các protein tìm thấy trong tổ chức và tế bào cơ thể. Chức năng của nó như tên gọi là ức chế các men proteinase. Kháng proteinase có trong huyết thanh, trong mô phổi và chất tiết phế quản.\nCác Anti proteinase (kháng proteinase) gồm có:\nAlpha 1 proteinase inhibitor: Alpha PI\nAlpha 2 Macroglobulin: Alpha 2 M\nAnti Leucoproteinase: ALP\nAlpha 1 Anti chymotrypsin: Alpha 1 Ach\nTissue Inhibitor of Metallo proteinase: TIMP\nBình thường có sự cân bằng giữa proteinase và anti proteinase. Khi có rối loạn cân bằng: do thừa proteinase, do thiếu Anti proteinase, hoặc cả hai (vừa thừa proteinase, vừa thiếu anti proteinase) đều có thể gây tổn thương phổi.\nTrong KPT người ta nhấn mạnh đến vai trò của Elastase trong sự thiếu hụt Alpha 1 proteinase inhibitor hay còn gọi là Alpha 1 Antitrypsin.\nThiếu Alpa 1 Antitrypsin có tính di truyền, gây bệnh KPT di tuyền.\n**Tính di truyền đó được trình bầy sau đây**\nTrong di truyền học, người ta phân tích ADN bằng phương pháp PCR (Polimerase Chain Reaction) cho kết quả nhanh chóng. Trong cộng đồng có ba kiểu gen hình là PiM, PiZ, PiS. Phần nhiều người ta mang gen hình PiM, có đậm độ Alpha 1. Antitrypsin trong máu ở giới hạn bình thường. Một bộ phận nhỏ dân cư mang gen hình PiZ bị thiếu hụt Alpha 1 Antitrypsin trong huyết thanh, do đó sẽ bị KPT di truyền. Bệnh này thường gặp ở người trẻ tuổi và nói chung rất nặng.\nSự kết hôn giữa các cặp của ba kiểu gen hình sẽ cho ta những thế hệ sau đây:\nMM + MM cho ra các con MM MM MM MM\nMM + MZ …………….. MM MZ MM MZ\nMZ + MZ …………….. MM MZ MZ ZZ\nMS + MS ……………. MM MS MS SS\nMZ + MS …………….. MM MS MZ ZS\nNhững người mang gen ZZ thì thiếu hụt Alpha 1 Antitrypsin trong máu, nên mất cân bằng hệ thống “Proteinase - Antiproteinase”, do đó proteinase trong máu tăng (tức là Elastase tăng) làm phá hủy vách phế nang, dẫn đến KPT.\nTheo thống kê của Liberman và cộng sự năm 1972 cho ta những số liệu sau:\nMM chiếm 86%: Alpha 1 Antitrypsin bình thường.\nMS..……...... 9%: Có thiếu hụt Alpha 1 Antitrypsin nhưng chưa KPT.\nMZ……........ 3%: (như trên)\nSS……..... 0,25%: Thiếu hụt Alpha 1 Antitrypsin có thể có KPT\nSZ..…….. 0,2%: (như trên)\nZZ.……... 0,03%: Chắc chắn bị KPT.\n**2. Bệnh nhầy nhớt **(Mucoviscidosis)\n(Hay bệnh xơ hóa kén, Cystic - fibrosis, CF).\n*a. Đại cương*\nLà bệnh rối loạn ở nhiều cơ quan, có đặc điểm chung là rối loạn tuyến ngoại tiết: Suy tuỵ ngoại, tăng tiết tuyến phế quản, tăng tiết tuyến mồ hôi. Suy tuỵ ngoại là triệu chứng hay gặp nhất (85 %), ngoài ra còn có quá trình tiến triển mãn tính của cơ quan hô hấp, bệnh gan mật, bệnh tiết niệu sinh dục. Người ta đã phát hiện có rối loạn phân tử ADN và có gen CF (xơ hóa kén).\n*b. Triệu chứng*\n* Lâm sàng\n- Hầu hết ở trẻ sơ sinh và trẻ em, một số đến tuổi trưởng thành. Đa số được chẩn đoán bệnh đường tiêu hóa, bệnh tuỵ từ sớm, vì tắc ruột, suy dinh dưỡng, chậm phát triển, sa trực tràng, ỉa chảy, vàng da, sỏi mật, xơ gan.\n- Triệu chứng hô hấp hầu hết có biểu hiện giống viêm phế quản mãn, giãn phế quản.\n- Tổn thương giải phẫu bệnh lý là phì đại tuyến phế quản, sau đó là hình thành nút nhầy làm tắc nghẽn phế quản, nhiễm trùng phế quản dẫn đến viêm phế quản mãn, giãn phế quản, viêm quanh phế quản. Ba loại vi trùng hay gặp là Staphylococcus Aureus, Hemophyllus Influenzae, Pseudomonas Aeruginosa.\n93\nViêm phế quản mãn kéo dài làm tắc nghẽn đường thở, dẫn đến suy hô hấp, suy tim phải. Ngón tay dùi trống gặp ở hầu hết bệnh nhân.\n* X-quang\nHình phổi bẩn, hình đường ray, hình những nốt tròn sáng như tổ ong, hình phổi sáng do khí phế thũng.\n*c. Chẩn đoán*\nDựa vào các yếu tố sau:\n- Bệnh phổi phế quản mãn tính (viêm phế quản mãn, giãn phế quản) ở người trẻ tuổi. Căn nguyên viêm phế quản mãn do tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh (Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa).\n- Test mồ hôi: Na, Cl, K tăng > 80mq/lit.\n- Gia đình có người mắc bệnh này.\n- Vô tinh trùng ở nam giới, vô sinh ở nữ giới.\n- Có bệnh đường tiêu hóa, suy tuỵ ngoại, suy dinh dưỡng.\n*d. Điều trị*\n- Dẫn lưu cơ học như bệnh nhân viêm phế quản mãn.\n- Kháng sinh chống Pseudomonas aeruginosa.\n- Thuốc giãn phế quản.\n- Điều trị suy tim nếu có biến chứng.\n**3. Bệnh Recklin Guansen**\nBệnh này cũng hay gặp, có ba biểu hiện:\n- Xạm da.\n- U xơ thần kinh, phát triển từ chuỗi thần kinh giao cảm trung thất sau.\n- Xơ phổi kẽ lan tỏa. X-quang có hình lưới nốt. Có thể dẫn đến suy hô hấp.\n**4. Bệnh Bournecville **(Buốc nơ vin)\nBệnh xơ cứng não củ.\nTổn thương giải phẫu bệnh lý là tăng các sợi cơ trơn của vách phế nang, do đó giống u cơ mạch bạch huyết.\nTriệu chứng:\n- Biểu hiện thần kinh là chậm phát triển tinh thần, trí tuệ, hoặc động kinh.\n- Về phổi: Biểu hiện xơ phổi kẽ hay nhiễm trùng hô hấp.\n- Biểu hiện lâm sàng khác như: u mạch xơ nhỏ ở vách mũi, cằm, móng tay, móng chân.\n**5. Bệnh thiếu hụt miễn dịch dịch thể**\nBao gồm vô gamma globulin, giảm gamma globulin.\nCác globulin miễn dịch gồm có: IgG, IgA, IgM, IgD, IgE. Thiếu hụt miễn dịch dịch thể là thiếu hụt một hoặc vài globulin miễn dịch trong số các globulin miễn dịch nói trên. Bệnh nguyên phát do di truyền.\n*a. Vô gamma globulin*\n- Vô gamma globulin thoáng qua: IgA và IgM thấp ở trẻ sơ sinh và đến 1-2 tuổi. Ở trẻ sơ sinh bình thường IgA và IgM do mẹ truyền sang sau khi sinh ra thì giảm dần, sau đó đến tháng thứ 3 cơ thể trẻ lại sản xuất ra và đạt mức bình thường. Nhưng ở trẻ vô gamma globulin thoáng qua thì đến tháng thứ 9 hoặc tháng 15 mới đạt đến mức bình thường. Ở thời kỳ mà IgA và IgM còn thấp trẻ dễ bị nhiễm trùng gram dương.\n- Vô gamma globulin bẩm sinh: Các globulin miễn dịch hầu hết đều không có. Gặp chủ yếu ở trẻ sơ sinh nam. Triệu chứng khởi phát vào năm đầu 1 tuổi. Hạch lympho không có các tế bào plasma (tương bào). Hạch to ra khi đáp ứng với nhiễm trùng. Những cháu trai này dễ bị nhiễm trùng các loại như: tụ cầu, phế cầu, liên cầu, hemophyllus influenzae, các vi khuẩn gram (+), gram (-), virut, nấm, ký sinh trùng.\nBiểu hiện ở phổi: rất dễ bị viêm phổi, phế quản phế viêm, giãn phế quản.\n*b. Giảm gamma globulin*\nNhóm I: IgA giảm, IgG giảm, IgM tăng. Bệnh có thể bẩm sinh hoặc mắc phải. Triệu chứng lâm sàng biểu hiện hay nhiễm trùng hô hấp. Kèm theo giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu đa nhân trong máu, tổn thương thận và thiếu máu huyết tán. Bệnh giống như một bệnh tự miễn, có thể khuyết tật Chromosom X.\nNhóm II: IgA giảm, IgM giảm, IgG bình thường. Loại này rất hiếm. Nhóm III: Vắng mặt IgA, có thể kèm theo IgE giảm. Biểu hiện hay nhiễm trùng hô hấp, phối hợp với giãn mao mạch và mất điều hòa tiểu não. Bệnh có tính gia đình.\n**6. Bệnh thiếu hụt miễn dịch tế bào** *a. Hội chứng Wiskott - Aldrich*\nĐây là bệnh rối loạn di truyền lặn, do Aldich mô tả 1954.\nBệnh có đặc điểm là giảm tế bào lympho trong hầu hết các trường hợp, có thể phối hợp với tăng tế bào lưới đệm (stromal reticulum), một số có bất thường về Lympho T. Ngoài ra các globulin miễn dịch bình thường hoặc gần bình thường, IgM có thể hơi giảm, IgA hơi tăng. Các kháng thể kháng nhóm máu A & B trong huyết thanh có thể ở mức thấp.\nĐặc điểm của bệnh: Giảm tiểu cầu, Eczema trong những năm đầu đời (1 tuổi), thường sau đó kèm theo hen phế quản, viêm phế quản và dễ bị nhiễm trùng hô hấp. Một số có thể chết do nhiễm trùng phế cầu. Trong các báo cáo chỉ thấy xảy ra ở các cháu trai, mà đa số chết trong năm đầu do nhiễm trùng nặng. Số sống sót qua 1 tuổi, sau này cũng dễ bị chết do nhiễm trùng máu với nhiều loại vi trùng. Có trẻ bị u lympho lưới. Cá biệt có trường hợp nhẹ hơn cũng chỉ sống đến 24 tuổi.\n*b. Bệnh bất sản tuyến ức di truyền* (Hereditary Thymic Aplasia) Đây là một bệnh miễn dịch có tính di truyền lặn, gặp cả hai giới\nnam và nữ. Cơ sở của bệnh là sự bất sản của tuyến ức từ trong bào thai. Tổ chức Lympho giảm và vắng mặt. Xét nghiệm Lympho máu giảm trong hầu hết các ca vì thế suy giảm khả năng đáp ứng với tăng mẫn cảm muộn, vô gamma globulin huyết, một số giảm gamma globulin huyết. Vì thế có thể coi là thiếu hụt miễn dịch hỗn hợp.\nTriệu chứng lâm sàng: Trẻ chậm lớn, có hội chứng “Runting” (còi cọc). Dễ bị nhiễm trùng họng, ngoài da, đi lỏng, và phế quản phế viêm. Hay mắc Pseudomonas hoặc pseudocystic, virut, Monilia. Thường không sống quá 2 tuổi.\n*c. Hội chứng De George* (Đi Giooc)\nĐây là bệnh mất tuyến ức bẩm sinh và bất sản tuyến cận giáp. Khuyết tật xảy ra vào tháng thứ 3 - 4 của bào thai.\nBiểu hiện: Có bất thường ở mặt, tai, mũi và đôi khi ở tim mạch.\nCơn Tetani xảy ra vào những ngày đầu mới đẻ. Thời kỳ sơ sinh rất dễ bị nhiễm trùng. Globulin miễn dịch bình thường, nhưng miễn dịch tế bào suy giảm, không đáp ứng với tăng mẫn cảm muộn. Do thiếu hụt miễn dịch tế bào di truyền, nên ở những bệnh nhân này nếu tiêm BCG phòng lao có thể gây tai biến tử vong.\n**7. Hội chứng bất động lông mao**\nBình thường nhung mao chuyển động ngược lại với phế quản, tức là chuyển động từ trong ra ngoài, tạo nên khả năng thanh lọc nhung mao của đường thở, để bảo vệ cho nhu mô, không cho vi trùng và dị vật xâm nhập vào nhu mô phổi.\nĐây là một bệnh di truyền do rối loạn nhiễm sắc thể lặn. Bệnh có khuyết tật cấu trúc cơ quan vi ống của tế bào biểu mô nhung mao phế quản và tinh trùng. Vì vậy nó làm giảm khả năng thanh lọc nhầy của nhung mao. Ở nam giới gây vô sinh, ở nữ giới khả năng sinh sản giảm.\n**Biểu hiện:**\n- Ho khạc đờm nhầy mủ.\n- Hay có viêm xoang, viêm tai.\n- Đảo lộn phủ tạng chiếm 50%.\nVì vậy hội chứng Kartagener còn được coi là một phó type của hội chứng bất động lông mao. (Hội chứng Kartagener = đảo lộn phủ tạng + viêm xoang hàm + giãn phế quản).\n- Hay tắc mũi, chảy nước mũi, polyp mũi.\n- Hay có giãn phế quản, viêm phế quản mãn.\n- Ngón tay dùi trống.\n**Chẩn đoán:**\nSinh thiết niêm mạc mũi hoặc phế quản. Soi kính hiển vi điện tử phát hiện có rối loạn cấu trúc nhung mao.\n**Điều trị:**\n- Lưu thông đờm, cho khạc đờm ra ngoài.\n- Kháng sinh dựa vào cấy đờm.\n- Nếu giãn phế quản khu trú thì có chỉ định mổ cắt ổ giãn (giãn phế quản lan tỏa đương nhiên không mổ được).\n\n**1. Bệnh Amilose phế quản phổi** (Bronchopulmonary amiloidosis) Ta vẫn quen gọi là thoái hóa dạng tinh bột. Là một bệnh mà phức hợp protein - polyssaccaride (còn gọi là chất amilose) lắng đọng nằm ở nhiều tổ chức của cơ thể. Xảy ra ở thận gọi là amilose thận, xảy ra ở phế quản phổi ta gọi là amilose phế quản phổi. Có hai loại thứ phát và nguyên phát. *a. Amiloidosis thứ phát*\nThường là hậu quả của một quá trình viêm mủ mãn tính kéo dài, làm cho bệnh nhân suy mòn. Hay gặp sau các bệnh: áp xe phổi mãn tính, mủ màng phổi mãn tính, giãn phế quản, cốt tủy viêm, cũng có thể sau viêm khớp dạng thấp, bệnh ung thư.\n*Triệu chứng:*\n- Thận to, sờ thấy rõ.\n- Phù trắng, kiêng muối cũng không hết phù.\n- Đái nhiều protein (dễ nhầm với thận hư nhiễm mỡ).\n- Gan to chắc, lách to.\n*Xét nghiệm:*\n- Sinh thiết gan, thận, nhuộm iod chất tinh bột bắt màu nâu.\n- Nghiệm pháp Paunz: Tiêm tĩnh mạch 4ml dung dịch đỏ công gô 1% (người nặng > 50kg), sau 5 phút 80% đã ra khỏi máu và cũng không đái ra mầu đỏ công gô vì đa số đỏ công gô đã dính vào tế bào.\n*Điều trị: *Phải chữa khỏi các ổ nhiễm trùng mủ dai dẳng, điều trị suy mòn tốt mới có thể làm ngừng quá trình bột hóa, và mới cứu được bệnh nhân. *b. Amiloidosis nguyên phát*\nBệnh này hiếm hơn loại thứ phát.\nTổn thương xảy ra ở cơ tim, mạch máu, cơ trơn, hạch, lách, dạ dày, ruột, phổi, vì thế mới có tên amilose phế quản phổi (Bronchopulmonary amiloidosis).\n* Tổn thương giải phẫu bệnh lý biểu hiện ở 2 thể:\n- Thể phế quản: Chất lắng đọng dạng tinh bột (amiloid) xảy ra ở thành của phế quản, chủ yếu dưới lớp cơ trơn. Loại này chiếm tỷ lệ 20%. Tổn thương làm hẹp và tắc nghẽn lòng phế quản do đó dẫn đến xẹp phổi, viêm phổi tắc nghẽn, giãn phế quản mãn tính.\n- Thể nhu mô: Chất amiloid đặc nằm trong nhu mô phổi, thành những đám đường kính đến 5cm hoặc hơn.\n* Triệu chứng lâm sàng\n- Thể phế quản: Khó thở khò khè giống hen phế quản, ho ra máu hay gặp, hay bị nhiễm trùng phế quản, có thể khàn tiếng nếu viêm thanh quản.\n- Thể nhu mô: Triệu chứng kín đáo. Khi nặng có thể thấy khó thở.\n* X-quang:\n- Thể phế quản: Biểu hiện bằng xẹp phổi hoặc viêm phổi tắc nghẽn.\n- Thể nhu mô: Bóng mờ đậm có đường kính 5cm, có thể vôi hóa. Hiếm khi có hang. Có thể thấy hạch rốn phổi. Thể lan tràn có thể X-quang dễ nhầm với lao kê, silicosis, sarcoidosis.\n**2. Chứng loạn globulin máu**\nĐây là bệnh rối loạn miễn dịch nhưng có đặc tính di truyền.\n*a. Bệnh Waldernstrom*\n(Chứng đại globulin huyết của Waldernstrom, Walderntrom’s Macroglobulinemia)\n- Bệnh hay có biểu hiện ở phổi. Dễ bị nhiễm khuẩn tái diễn.\n- Tổn thương giải phẫu đặc hiệu là thâm nhiễm lympho và tương bào ở tổ chức phổi.\n- Lâm sàng: lách to + xuất huyết + tổn thương thận. Sưng hạch ngoại vi hoặc hạch ở sâu. Rất hay nhiễm khuẩn phổi.\n- X-quang: Hình ảnh tổ chức kẽ. Hình lưới nốt nhỏ lan tỏa hoặc cục bộ, đôi khi có hình giả u.\n- Xét nghiệm: protein máu toàn phần tăng rất cao. Đây là yếu tố quan trọng nhất. Điện di miễn dịch huyết thanh xác định đại globulin có số lượng lớn một cách khác thường. Người bình thường đại globulin Bêta 2 M ít, ở bệnh nhân Waldernstrom rất dầy. Siêu ly tâm thấy có globulin lớn tăng, tốc độ di tản cao. (15 - 35 đơn vị Svedberg).\n*b. Bệnh đa u tủy (Bệnh Kahler)*\nBệnh do Kahler tìm ra năm 1887, gặp ở nam nhiều hơn nữ. Đặc điểm của bệnh là nước tiểu có protein Bence - Jones.\n- Bệnh có biểu hiện ở phổi thường là tổn thương thành ngực, màng phổi, liên quan đến u tăng sản ác tính.\nTriệu chứng lâm sàng.\n- Xương: đau nhiều ở xương sườn, xương sọ, đau dọc cột sống. Sau một thời gian u xương phát triển, chụp X-quang có u xương.\n- Thận hư nhưng không phù vì protein máu rất cao.\n- Cơ quan tạo máu: Tủy xương rối loạn rất nghiêm trọng vì đa số là plasmocyt. Máu ngoại vi Hồng cầu giảm, Huyết sắc tố giảm.\n- Xét nghiệm máu: protein huyết thanh rất cao, globulin tăng cao.\n- Xét nghiệm nước tiểu điều đặc biệt là có protein Bence - Jones, là đặc trưng của bệnh đa u tủy. Xét nghiệm này phải có mới giúp cho chẩn đoán. Protein Bence - Jones có điểm đặc biệt như sau: đun ở 600C thì đông đặc, nhưng ở nhiệt độ cao hơn thì nó tan ra.\n**3. Bệnh tích protein phế nang**\n(Pulmonary alveolar proteinosis)\n* Đặc điểm chung:\n- Bệnh hiếm và mới, do Rosen và cộng sự phát hiện 1958.\n- Là một bệnh không rõ nguyên nhân, ở trong phế nang có chứa những hạt mà thành phần là protein và lipit. Thành phế nang và khoảng kẽ bình thường.\n- Bệnh hay xảy ra ở lứa tuổi 20 - 50, tỷ lên nam/nữ là 2/1.\n* Tổn thương giải phẫu bệnh lý: làm thay đổi X-quang phổi.\nVi thể: Thành tiểu phế quản và thành phế nang bình thường. Trong lòng phế nang có ngưng tụ các hạt chứa protein và giàu lipit.Nhuộm bằng phương pháp PAS (Periodic Acid Schiffmethod) bắt màu hồng đậm (PAS dương tính). Có thể nhìn thấy các tế bào biểu mô phế nang đang nuốt các Mucopolisaccarit. Rosen và cộng sự cho rằng các chất ở trong phế nang là do các tế bào này biến thành hoặc tiết ra. Hình ảnh vi thể tương tự viêm phổi do Pneumocystis Carinii. Theo Pleuk thì giữa hai bệnh có khả năng có liên quan.\n* Lâm sàng: 1/3 không có triệu chứng, số còn lại triệu chứng cũng không rõ ràng.\nHo, ho khan, đờm dai, khạc mủ, hiếm khi ho ra máu, đau màng phổi. Mệt mỏi, sút cân, 50% có sốt nhẹ.\nKhám xét một số có ran, ngón tay dùi trống không phổ biến\nTỷ lệ bệnh nhân nặng chiếm 1/3. Tử vong do suy hô hấp hoặc nhiễm trùng thứ phát, nhiễm trùng cơ hội: Nocardia, Aspergillus, Cryptococci.\n* X-quang: Tổn thương cơ bản là bóng mờ tuyến nang, vị trí ở cả hai bên. Đám mờ hình cánh bướm, cánh dơi, nên đôi khi giống như phù phổi bán cấp. Nhưng chỉ có biểu hiện trên X-quang mà không có biểu hiện lâm sàng của phù phổi bán cấp. Không phù tổ chức kẽ, không có tim to, không có bằng chứng mạch máu thùy trên. Do đó cần chẩn đoán phân biệt với phù phổi. Thường thấy sự xóa đi hoàn toàn trên X-quang, sau đó lại xuất hiện một ổ mới.\nXét nghiệm:\nBạch cầu tăng nhẹ. N bình thường.\nGlobulin tăng nhẹ, chủ yếu là Alpha 2.\nLDH tăng.\nChức năng hô hấp bình thường hoặc VC giảm, Co giảm, thông khí phổi giảm.\n* Điều trị:\nKết quả không mỹ mãn, một số ca điều trị thành công.\n- Prednisolon.\n- Potassium Iodide (Ioddua Kali).\n- Enzym.\nBằng khí dung hoặc uống.\nCó tác giả rửa khí phế quản bằng nước muối, Heparin, Acetylcystein.\n**4. Bệnh tích lipit nguyên phát** *a. Bệnh Gaucher (Gô se)*\nLà một bệnh di truyền về rối loạn chuyển hóa lipit, do một chất là Glucocerebrosis tích tụ trong các tế bào thuộc hệ võng nội mô như: ở gan, lách, tủy xương, hạch, da và phổi. Các tế bào này thường gọi là tế bào Gaucher. Bệnh hay gặp ở các cháu gái (95%). Có ba thể: thể thần kinh, thể nội tạng, và thể xương. Thể xương có thể sống đến 40 tuổi, hai thể kia tử vong trước 2 tuổi.\nThể nội tạng biểu hiện gan to, lách to rất nhanh, X-quang phổi thẳng thấy những nốt mờ rải rác như hạt kê ở khắp hai phổi.\nBệnh nhân chết là do suy hô hấp, nhiễm trùng hoặc xuất huyết nội tạng.\n*b. Bệnh Niemann - Pick*\nLà một bệnh di truyền về rối loạn chuyển hóa lipit do một chất photphatit là Sphingomyelin tích tụ trong các tế bào nội mô ở gan, lách, tủy xương, hạch, phổi (xơ phổi kẽ lan tỏa), kèm theo những rối loạn dinh dưỡng và rối loạn tâm thần nghiêm trọng.\n**5. Bệnh Hemosiderin phổi** *a. Hemosiderin phổi thứ phát*\nGặp ở người mắc bệnh hẹp van hai lá. Ngoài ra có những nguyên nhân ngoại lai như: công nhân hít phải bụi sắt, điều trị bằng chất sắt, truyền máu nhiều lần.\n*b. Hemosiderin phổi nguyên phát*\nBệnh hiếm gặp, xảy ra ở trẻ em.\nTriệu chứng lâm sàng: Ho, khó thở, khái huyết, tiến triển từng đợt, chết trong vài tuần hoặc vài năm do thiếu máu giảm sắc (thiếu máu nhược sắc), hoặc suy tim, phổi. Phổi màu đỏ tím, ứ máu, đầy chất sắt với những cặn siderin trong phế nang. Các tế bào phế nang tăng sản và bị tiêu đi. Thành các mạch máu giãn rộng. Có khi là xơ phổi kẽ lan tràn.\n**6. Chứng đọng can xi (vôi) ở phổi**\nCó nhiều nguyên nhân: cường tuyến cận giáp nguyên phát, suy thận kèm theo cường tuyến cận giáp thứ phát, thừa sinh tố D, tiêu xương ồ ạt, uống nhiều sữa, uống nhiều nước kiềm.\nChẩn đoán dựa vào X-quang có nhiều nốt vôi trên bệnh nhân có các triệu chứng nói trên.\nCần chẩn đoán phân biệt với bệnh sỏi nhỏ phế nang lan tràn (Diffuse alveolar microlithiasis).\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nNghẽn tắc động mạch phổi là tình trạng một hay nhiều nhánh của động mạch phổi, bị lấp bởi các vật ngoại lai từ nơi khác đến, như: cục máu đông, hạt mỡ, bọt khí.\nCần phân biệt khái niệm\n*nghẽn mạch* và *tắc mạch*. Tuy hậu quả cùng giống nhau, nhưng cơ chế hình thành là khác nhau. Nghẽn động mạch phổi là do cục máu đông hình thành tại chỗ làm lấp động mạch ở một hay nhiều nhánh. Tắc động mạch phổi là do di chuyển cục máu đông, hoặc hạt mỡ, bọt khí * từ nơi khác* đến. *Cục máu đông* hình thành và tách ra từ huyết khối tĩnh mạch chi dưới (do viêm huyết khối tĩnh mạch), từ nhĩ phải, thất phải chiếm 90% các trường hợp. *Các hạt mỡ* từ hệ tĩnh mạch về nhĩ phải, xuống thất phải, rồi bị tống lên động mạch phổi, gây tắc động mạch phổi. *Các bọt khí* cũng lọt vào hệ tĩnh mạch, về nhĩ phải, xuống thất phải, rồi bị đẩy lên động mạch phổi, gây nghẽn tắc các tiểu động mạch phổi.\nCũng cần phân biệt\n*tắc mạch phổi và huyết khối phổi* (hay *nhồi huyết phổi*). *Tắc động mạch phổi tất gây hậu quả là nhồi huyết phổi*. Nhưng có những trường hợp tắc động mạch phổi mà không có nhồi huyết phổi trong các trường hợp sau:\n- Tắc nhánh lớn, bệnh nhân tử vong ngay mà chưa có nhồi huyết phổi.\n- Tắc nhiều nhánh nhỏ, điều trị kịp thời bằng heparin, bệnh nhân qua khỏi cũng chưa có nhồi huyết phổi.\n**II. NGUYÊN NHÂN** **1. Trong ngoại khoa**\n- Sau chấn thương.\n- Sau mổ, nhất là mổ vùng bụng, vùng chậu, xương đùi, mổ tiết niệu, mổ sản.\n- Sau đẻ.\n**2. Trong nội khoa**\n- Bệnh tim, đặc biệt là hẹp hai lá, có rung nhĩ.\n- Bệnh phổi mãn tính.\n- Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới.\nCoi chừng những bệnh nhân nằm lâu có truyền dịch đặt catheter.\n**3. Những nguyên nhân khác: **Tắc động mạch phổi do hơi, do dầu, thường do điều trị. Tắc động mạch phổi do mỡ gặp sau gẫy xương đùi. Có trường hợp do vi khuẩn ở bệnh nhân viêm màng trong tim nhiễm khuẩn, nhiễm trùng huyết. **III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG** **1. Ba triệu chứng kinh điển:** khó thở - đau ngực - ho ra máu.\n- Khó thở nhanh nông, tím tái, mạch nhanh khiến bệnh nhân sợ hãi, lo âu.\n- Đau ngực dữ dội, đau như dao đâm, đau theo nhịp thở, đau như co thắt hai bên ngực, đau như xoắn vặn như bị đè ép sau xương ức, đau cản trở hô hấp, kèm theo có ho khan.\nHai dấu hiệu trên thấy ở 80% bệnh nhân.\n- Ho ra máu xuất hiện sau 24 - 36h gặp ở 25% số bệnh nhân, hay gặp nhất khi có nhồi máu phổi.\n- Sốt, thường xuất hiện sau vài ngày.\n**2. Các thể bệnh** *a. Thể nhẹ (thể lờ mờ)*\n- Thể này hay gặp, nhưng dễ chẩn đoán nhầm do triệu chứng không điển hình.\n- Các triệu chứng lâm sàng kín đáo, không có suy tim phải, huyết áp vẫn bình thường.\n- Nhiều bệnh nhân có những triệu chứng khiến nghĩ đến những bệnh khác như: ngất lịm, sốt không rõ nguyên nhân, co thắt phế quản, cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành… Sau này phát hiện ra là do chụp X-quang có hình ảnh nhồi máu phổi, có phản ứng màng phổi.\n*b. Thể nặng*\nTriệu chứng về tim mạch nổi rõ: Bệnh nhân tím tái, tim đập nhanh, có khi loạn nhịp không đều, T2 vang mạnh ở huyệt động mạch phổi, tiếng thổi tâm thu ở huyệt động mạch phổi và ở huyệt van ba lá, tiếng ngựa phi ở tim phải.\nKhi giảm 30% lượng máu cung lên phổi: Huyết áp còn chưa tụt, nhưng đã có rối loạn chức năng thất phải, cung lượng vành bắt dầu giảm.\nKhi giảm 50% lượng máu cung lên phổi: Huyết áp tụt, có rối loạn chức năng thất phải rõ, khó thở, tím tái, ngất.\nKhi giảm đến 60% lượng máu cung lên phổi: xảy ra\n*hội chứng tâm phế cấp*, mạch nhanh nhỏ > 100 lần/phút, T2 vang mạnh ở huyệt động mạch phổi, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, áp lực tĩnh mạch trung ương > 10cm H O.\nKhi có nhồi máu phổi: Sốc, tím tái, vã mồ hôi, tụt huyết áp, thiểu niệu hoặc vô niệu, rối loạn ý thức, lo âu, sợ hãi, vật vã, mê sảng. Bệnh nhân đau ngực dữ dội, khó thở nhanh nông, khạc đờm ra máu, sốt. Khám phổi có hội chứng đông đặc, hội chứng ba giảm do phản ứng màng phổi cùng bên (tràn dịch màng phổi huyết thanh máu).\n**IV. CẬN LÂM SÀNG** **1. X-quang** (chụp phổi tại giường)\n- Vòm hoành lên cao (30%), các đường ngang xẹp phổi ở đáy phổi.\n- Động mạch phổi giãn rộng hoặc có hình cắt cụt như đuôi củ cải.\n- Hình tăng sáng nhu mô phổi dưới chỗ tắc nghẽn (dấu hiệu Westermack) gặp ở 20% số bệnh nhân.\n- Nếu có nhồi huyết phổi: Bóng mờ tam giác đậm đáy tựa ra ngoại vi phổi, hoặc bóng mờ ở góc sườn hoành sau + tràn dịch màng phổi.\n- Nếu có tâm phế cấp: thất phải và nhĩ phải to ra. X-quang phổi có thể bình thường trong thể nhẹ.\n**2. Chụp xạ phổi nhấp nháy**\nChụp nhấp nháy cả dòng máu và thông khí:\n- Nếu có một hay nhiều chỗ có khuyết tuần hoàn mà thông khí phổi bình thường thì nghi ngờ có nghẽn tắc động mạch phổi. Thăm dò này có độ nhậy (Se) cao, nhưng độ đặc hiệu (Sp) thấp.\n- Nếu Xạ hình phổi tưới máu bình thường thì không nghĩ đến nghẽn tắc động mạch lớn.\n**3. Chụp động mạch phổi**\nTiến hành khi chụp xạ nhấp nháy nghi ngờ.\nThăm dò này chính xác hơn cả, không có dương tính giả. Cần thực hiện trong 48h đầu. Trên phim chụp có dấu hiệu khuyết lòng mạch và hình cắt cụt động mạch.\nTrong nghẽn tắc động mạch phổi nếu chỉ hẹp < 15% của nền mạch phổi, thì chụp động mạch phổi có độ nhậy (Se) kém hơn so với chụp xạ phổi nhấp nháy.\nCó thể chụp động mạch phổi có máy tính hỗ trợ.\n**4. Các chẩn đoán hình ảnh khác**: CT không có chỉ định chụp, nhưng chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc thì kết quả có nhiều hứa hẹn, vì cho ta nhìn thấy cục nghẽn trong động mạch lớn. MRI không đem lại thông tin gì. Chụp tĩnh mạch chi dưới và siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới chỉ giúp ta phát hiện viêm tĩnh mạch chi dưới mà thôi. Kết quả bình thường cũng không loại trừ chẩn đoán. **5. Điện tim**\nCó thể thấy hình ảnh tâm phế cấp:\n- Nhịp xoang nhanh, có khi có rung nhĩ.\n- Trục QRS lệch sang phải, dạng S\n1 Q 3.\n- Bloc nhánh phải không hoàn toàn.\n- Sóng T âm tính ở các đạo trình trước ngực phải.\n**6. Siêu âm tim**\nGiúp phát hiện tâm phế cấp do đó cho ta có định hướng nghĩ đến nghẽn tắc động mạch phổi.\nDấu hiệu tâm phế cấp: giãn thất phải, trong khi thất trái bình thường (tỷ lệ thất phải/thất trái > 1), rối loạn vận động vách. Dấu hiệu này mất đi sau vài ngày (nếu tồn tại lâu thì là tâm phế mãn).\nĐôi khi thấy cục máu đông trong các buồng tim phải, cục này có thể di động.\n*Sự có mặt của cục máu đông trong buồng tim là chống chỉ định cho chụp động mạch phổi*. **7. Xét nghiệm**\n- Số lượng bạch cầu tăng, N tăng.\n- Huyết sắc tố giảm, homatocrit giảm.\n- Rối loạn đông máu, có thể thiếu prothrombin III, thiếu protein C hoặc S.\n- Các khí trong máu động mạch rối loạn:\nPaO\n2 giảm, thể nặng nếu < 50mmHg, thể nhẹ có thể bình thường.\nPaCO\n2 giảm thứ phát (< 40mmHg) do tăng thông khí phổi bù trừ dẫn đến kiềm hô hấp.\n- Bilirubin máu tăng.\n- XN các men ít có giá trị vì không đặc hiệu: LDH cao, CPK cao, SGOT bình thường.\n**V. CHẨN ĐOÁN**\nChẩn đoán xác định dựa vào.\n- Có các yếu tố dẫn đến nhồi máu phổi như viêm tắc tĩnh mạch chi dưới.\n- Khởi đầu hết sức cấp tính: đau ngực dữ dội, khó thở nhanh nông, ho ra máu.\n- Có biểu hiện suy tim phải cấp trên lâm sàng và điện tim, siêu âm tim.\n- Có khuyết tật điển hình trên xạ đồ nhấp nháy dòng máu và thông khí.\n- Thiếu O\n2 máu, có kiềm hô hấp cấp tính.\n- Chụp động mạch phổi (+).\nXạ hình phổi bình thường, đo khí máu bình thường có thể loại trừ nghẽn tắc động mạch phổi mới.\nChẩn đoán phân biệt với các bệnh.\n- Nhồi máu cơ tim.\n- Tràn khí màng phổi tự phát.\n- Hen ác tính.\n- Viêm phổi cấp tính nặng.\n**VI. ĐIỀU TRỊ**\nMục đích điều trị:\n- Điều trị suy tuần hoàn cấp.\n- Tránh tái phát gần và xa.\n- Hạn chế di chứng do nghẽn tắc động mạch phổi.\n**Các biện pháp điều trị** **1. Đặt bệnh nhân ở tư thế Fowler.** **2. Thở ô xy** qua mũi hoặc mặt nạ 4 - 6 lít/phút, hoặc cao hơn với thể nặng. **3. Giảm đau, an thần**\n- Promedol 0,01 hoặc Dolargan 0,1, hoặc No-Spa 40mg hoặc Visceralgin 5mg.\n- Seduxen 10mg tiêm tĩnh mạch.\n**4. Làm tan huyết khối**\nDùng cho bệnh nhân các thể nặng, đến trước 12h và không có chống chỉ định với các thuốc tan huyết khối, bệnh nhân không có rối loạn đông máu và chảy máu.\n- Streptokinase (Streptase) 250.000 IU tiêm tĩnh mạch chậm trong 30 phút, sau đó 100.000 IU truyền tĩnh mạch trong 24h.\n- Hoặc Urokinase 4.400 IU/kg tiêm tĩnh mạch chậm trong 20 phút, sau đó tiếp tục cho 2000 IU/kg/giờ truyền tĩnh mach trong 24h.\nTheo rõi fibrinogen máu (thường giảm rất nhiều trong 24h). Không được can thiệp như tiêm, chọc mạch máu, tiểu phẫu, phẫu thuật trong 48h. Khi fibrinogen tăng trở lại, có nguy cơ nghẽn tắc động mạch, thì lúc này cần cho thuốc chống đông.\n**5. Thuốc chống đông**\nKhông dùng thuốc chống đông trong những trường hợp: đang có biểu hiện chảy máu, huyết áp tăng cao, xơ gan, loét dạ dày tá tràng, vừa phẫu thuật, thận trọng với người > 70 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú.\nThuốc có thể dùng: Heparin liều đầu tiêm tĩnh mạch 3000 - 5000 IU, sau đó truyền tĩnh mạch 400 - 500 IU/kg/24. Theo dõi thời gian Howell và thời gian PTT ở mức tăng gấp 1,5 - 2 lần. Cho heparin liên tục trong vài ngày rồi thay bằng kháng vitanmin K dùng lâu dài. Nên cho gối từ ngày thứ 3 - 4, syncumar 2mg x 1-2 viên/ngày. Theo dõi tỷ lệ prothrombin, duy trì ở mức 30 - 40%, nhất là chỉ số INR, vùng có hiệu lực là 2 - 3.\n- Hoặc có thể dùng calciheparin (Calciparin), magie heparin (Cutheparin).\n- Hoặc có thể dùng heparin có trọng lượng phân tử thấp: enoxiparin (Lovenox), Nadroparin (Fraxiparin).\n**6. Chống sốc**\n- Nên dùng Dobutamin (Dobutrex) hoặc Dopamin. Theo dõi mạch, huyết áp và áp lực tĩnh mạch trung tâm.\n- Hydrocortison hemisuccinat.\n**7. Phẫu thuật lấy cục máu đông**: Chỉ đặt ra ở những trung tâm đầu ngành, tiến hành khi điều trị nội khoa thất bại.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\n\"Phù phổi cấp tính xảy ra do huyết tương từ các mao mạch phổi đột ngột tràn vào tổ chức kẽ và phế nang gây nên tình trạng ngạt thở cấp, suy hô hấp cấp, dễ đưa đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.\n- Về giải phẫu bệnh người ta chia ra: phù phổi kẽ và phù phổi phế nang. Về nguyên nhân sinh bệnh người ta chia ra: phù phổi huyết động và phù phổi tổn thương. Về lâm sàng người ta chia ra: phù phổi do bệnh tim mạch và phù phổi do bệnh ngoài tim mạch. Sự phân biệt như vậy là cần thiết vì nó đòi hỏi thái độ xử trí khác nhau.\n- Phù phổi kẽ là khi dịch tràn vào khoảng mô kẽ phổi và chỉ dừng ở đó. Triệu chứng lâm sàng phù phổi kẽ: khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, khi gắng sức nghe thấy tiếng lách tách thanh quản, nghe phổi bình thường.\nHình ảnh X-quang phù phổi kẽ: phân phối lại mạch máu phổi ở phần trên của phổi. Đường Kerley A và B có giá trị chẩn đoán sớm. Giãn tĩnh mạch phổi ở thùy dưới. Bóng mờ nhạt cạnh rốn phổi. Rãnh liên thùy dầy lên do dịch phù đi vào mô kẽ dưới màng phổi, có thể có tràn dịch màng phổi.\nĐo khí máu: PaO\n2 giảm, PaCO 2 giảm, tỷ số V/QC giảm, rối loạn khuếch tán, thăm dò huyết động: áp lực mao quản phổi khi bịt tắc > 30mmHg.\nĐiều trị: tìm nguyên nhân và điều trị kịp thời, phù phổi sẽ hết nhanh, đường Kerley B cũng xóa hết.\n- Điều mà chúng ta trình bầy dưới đây chủ yếu nói về phù phổi phế nang.\n**II. NGUYÊN NHÂN** **1. Phù phổi nguyên nhân huyết động** (thường gọi tắt là phù phổi huyết động).\n- Đó là các bệnh tim mạch như hẹp lỗ van hai lá, hẹp lỗ van động mạch chủ, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim. Các bệnh đó làm suy tim trái, ứ máu ở thất trái, rồi nhĩ trái, rồi ứ máu giật lùi ở tuần hoàn phổi sau mao mạch. Trong khi đó thất phải chưa suy vẫn đẩy máu lên động mạch phổi, do đó làm cho áp lực mao mạch phổi tăng cao. Khi đó ta gọi là áp lực thủy tĩnh tăng, vượt qua áp lực keo của huyết tương và áp lực khoảng kẽ, dịch tràn vào phế nang gây nên phù phổi cấp.\n- Do truyền dịch, truyền máu quá nhiều gây tăng gánh tuần hoàn quá nhanh, nhất là ở bệnh nhân suy thận, bệnh nhân đã suy tim trái.\n**2. Phù phổi nguyên nhân do tổn thương thành phế nang **(thường gọi tắt là phù phổi tổn thương).\nTrong thể này màng phế nang mao mạch bị tổn thương nặng, làm tăng tính thấm, dịch xuất tiết tràn vào phế nang gây ra phù phổi cấp.\n- Nhiễm độc do hít phải các khí độc dùng trong chiến tranh như Yperit, Chlor, Phosgen. Các hơi độc trong công nghiệp như khí NO\n2, CO, sulfuric, amoniac, hít phải dịch vị do trào ngược thực quản.\n- Nhiễm khuẩn, bỏng rộng, sốc, đa chấn thương.\n**3. Một số nguyên nhân khác**\nPhù phổi do protein máu giảm, làm giảm áp lực keo trong huyết tương gặp trong bệnh nhân suy tim, suy thận.\nPhù phổi do nguyên nhân thần kinh cơ như chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ, sau động kinh. Cơ chế còn chưa rõ.\n**III. TRIỆU CHỨNG** **1. Phù phổi cấp do huyết động**\n* Triệu chứng:\n- Khởi phát thường đột ngột, không có tiền triệu, hay xảy ra ban đêm, bệnh nhân đang nằm tự nhiên thấy ngột ngạt, phải vùng dậy.\n- Khó thở dữ dội, khó thở nhanh (30 - 40 lần/phút), có cảm giác bóp nghẹt vùng ngực.\n- Kèm theo là ho, lúc đầu ho khan sau ho có đờm lỏng, rồi ho khạc bọt mầu hồng, có thể thấy bọt hồng trào qua miệng.\n- Bệnh nhân vật vã, sợ hãi, da nhợt nhạt, tím tái, vã mồ hôi lạnh.\n* Khám xét:\nPhổi có nhiều ran ẩm, lúc đầu ở hai nền phổi, sau nhanh chóng lên dần tới đỉnh phổi “như triều dâng”. Mạch nhanh nhỏ, tiếng tim mờ, có thể thấy tiếng ngựa phi tiền tâm thu. Huyết áp bình thường hoặc thấp (trừ phù phổi do tăng huyết áp kịch phát đương nhiên huyết áp tăng cao).\n* Cận lâm sàng:\n- X-quang: Đám mờ như mây lan tỏa quang rốn phổi, có khi mờ hình cánh bướm hoặc mờ toàn bộ phổi. Đôi khi có tràn dịch màng phổi. Bóng tim to,nhất là thất trái.\n- Điện tim: nhịp xoang nhanh, dầy nhĩ trái trong bệnh cao huyết áp, dầy nhĩ trái và dầy thất phải trong bệnh hẹp lỗ van hai lá.\n- Khí máu: PaO\n2 giảm, SaO 2 giảm < 70 - 80%, PaCO 2 tăng > 50 - 55mmHg. Lúc đầu là toan hô hấp, sau là toan chuyển hóa vì ứ axit lactic.\n- Thăm dò huyết động: áp lực động mạch phổi và mao mạch phổi tăng.\n**2. Phù phổi do tổn thương màng phế nang - mao mạch**\n* Triệu chứng:\n- Suy hô hấp rất nặng.\n- Tình trạng toàn thân rất nặng, bệnh nhân không tự ngồi dậy được\n- Thường có sốc, huyết áp thấp.\n* Khám xét: Phổi có ran ẩm, nhưng có thể không thấy. Diện đục tim bình thường.\n* Cận lâm sàng:\n- X-quang: nhiều bóng mờ ở hai trường phổi không rõ quy tụ, bóng tim bình thường, không to.\n- Khí máu: PaO\n2 giảm, SaO 2 giảm, PvO 2 bình thường hoặc giảm.\n- Thăm dò huyết động: áp lực mao mạch phổi bình thường hoặc thấp.\n**3. Chẩn đoán phân biệt**\n- Hen phế quản ác tính.\n- Nhồi huyết phổi.\n- Cơn hen tim.\n**IV. ĐIỀU TRỊ**\nCác biện pháp phải rất khẩn trương và chuẩn xác.\n**1. Phù phổi do huyết động**\n- Đặt bệnh nhân ở tư thế Fowler, hai chân thõng xuống giường để làm giảm lượng máu về tim.\n- Băng garô tĩnh mạch ở gốc chi dưới, từng chi một và cứ 15 phút lại thay đổi sang chi bên kia.\n- Lau đờm rãi, thở ô xy 4 lit/phút. Trường hợp nặng phải đặt nội khí quản, thở máy.\n* Làm giảm áp lực tuần hoàn phổi:\n- Thuốc lợi tiểu Forosemid (Lasix) 20mg tiêm tĩnh mạch 1 - 2 ống.\n- Thuốc giãn tĩnh mạch ngoại vi: Nitroglycerin 0,5mg ngậm dưới lưỡi hoặc Natispray bơm vào miệng.\n- Thể rất nặng có thể truyền tĩnh mạch trinitrin (Lenitral) liều thấp hoặc dinitrat isosorbid (Risordan).\n* Trợ tim: Uabain hoặc Isolanid, hoặc Digoxin.\n* Có thể dùng morphin làm giảm tình trạng thở nhanh, vật vã, hốt hoảng, giảm ho, giảm các rối loạn vận mạch. Chống chỉ định khi: có bệnh phổi mãn tính, hen phế quản, nhịp thở chậm, có rối loạn ý thức, suy thận, tụt huyết áp.\n* Chống co thắt phế quản: Aminophyllin 0,24 pha huyết thanh ngọt ưu 20% × 10ml tiêm tĩnh mạch chậm.\n* Nếu huyết áp quá cao > 200mmHg có thể cho Adalat (chọc thủng viên nang) nhỏ III giọt dưới lưỡi. Thuốc làm giảm huyết áp rất nhanh do đó phải theo dõi sát.\n* Nếu trụy tim mạch: Dopamin hoặc Dobutamin (Dobutex), hoặc Nor - adrenalin. Thuốc có tác dụng tăng huyết áp, tăng cung lượng tim. Phải tính toán liều dùng rất chi tiết và cẩn thận.\n* Điều chỉnh điện giải theo kết quả xét nghiệm.\n**2. Phù phổi do tổn thương màng phế nang - mao mạch**\n- Đặt ống nội khí quản. Lau và hút đờm rãi. Chú ý khi hút phải rất thận trọng vì làm mất thông khí, mất ô xy của bệnh nhân.\n- Thở máy với ô xy 40%, áp lực dương liên tục.\n- Chống nhiễm khuẩn: Kháng sinh toàn thân. Nhỏ Gentamycin vào phế quản từng lúc một, bằng cách pha trong dung dịch NaCl 0,9%, liều 2mg/kg/24h.\n- Corticoid có tác dụng chống viêm, chống phù nề.\n- Bù nước và điện giải.\n- Điều trị nguyên nhân.\n\n**I. LÂM SÀNG** **1. Định nghĩa**\nHo ra máu là ho và khạc ra máu, máu đó xuất phát từ dưới thanh môn trở xuống. Ho ra máu dù nhiều hay ít và bất kể do nguyên nhân gì, đều là một cấp cứu. Ho ra máu không phải là một bệnh mà là một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh.\n**2. Triệu chứng**\n- Bệnh nhân có cảm giác nóng ran sau xương ức, tức thở nhẹ, ngứa họng, rồi ho và khạc ra máu. Máu khạc ra có mầu đỏ tươi lẫn bọt, hoặc đờm lẫn máu, số lượng có thể ít hay nhiều. Bệnh nhân có thể ho ra máu từ một đến vài ba lần trong một ngày, có thể một lần hoặc một ngày rồi hết, hoặc kéo dài vài ba ngày, một tuần lễ.\n- Bệnh nhân ho ra máu thường có biểu hiện hốt hoảng, da xanh xao, vã mồ hôi, có sốt hoặc không sốt. Khám phổi có thể thấy ran nổ và ran ẩm khu trú hoặc rải rác. Trường hợp ho ra máu nặng có thể thấy mạch nhanh, huyết áp tụt.\n- Những ngày sau máu khạc ra có màu đỏ thẫm rồi chuyển sang màu nâu, số lượng ít dần gọi là “đuôi khái huyết”. Khi máu khạc ra có mầu nâu đen đã đông là biểu hiện máu đã ngừng chảy.\n**3. Chẩn đoán phân biệt** *a. Nôn ra máu:* Bệnh nhân có tiền sử bệnh tiêu hóa như loét dạ dày, tá tràng, đã có những cơn đau bụng vùng thượng vị. Máu nôn ra màu đỏ thẫm hoặc nâu, thường có lẫn thức ăn và dịch vị. Sau khi nôn ra máu, bệnh nhân thường đi ngoài phân đen như bã cà phê. *b. Chảy máu cam*: Trong trường hợp chảy máu cam nhưng máu chảy ngược vào trong khoang miệng rồi bệnh nhân nhổ ra máu, không có ho khạc, máu không lẫn đờm. Khám kỹ hốc mũi có khi còn thấy máu rỉ ra. **II. NGUYÊN NHÂN**\nViệc tìm nguyên nhân ho ra máu là rất quan trọng, giúp ích cho điều trị.\n**1. Ho ra máu trong các bệnh phổi phế quản** *a. Lao phổi*\n- Là nguyên nhân hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 30 - 50% các nguyên nhân ho ra máu (tùy theo thống kê của từng tác giả). Máu khạc ra lẫn bọt và đờm, thường có “đuôi khái huyết”. Bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, chán ăn mệt mỏi, gầy sút cân, có ho khạc đờm kéo dài hơn hai tuần, đau ngực âm ỉ. Nghe phổi có ran nổ vùng đỉnh phổi, dưới đòn, vùng liên sống bả, vùng lách.\n- Cần chụp X-quang và xét nghiệm đờm tìm BK để chẩn đoán.\n- Ho ra máu trong lao phổi có thể là triệu chứng của lao tiến triển, cũng có thể là biến chứng giãn phế quản cạnh tổn thương xơ ở một bệnh nhân lao xơ đã ổn định.\n*b. Giãn phế quản*\nGiãn phế quản là nguyên nhân thứ hai hay gặp sau lao phổi. Gặp ho ra máu trong giãn phế quản thể khô. Ho ra máu hay tái diễn nhiều lần, nhưng toàn thân ít thay đổi, không có “đuôi khái huyết”. Hay có ngón tay dùi trống. Nghe phổi có ran nổ, ran ẩm ở nền phổi. Chụp CT rất có giá trị chẩn đoán. Ngày nay chụp phế quản cản quang ít còn sử dụng.\n*c. Ung thư phổi*\nLà nguyên nhân hay gặp thứ ba sau hai nguyên nhân trên. Trước đây ung thư phổi đa số gặp ở người trên 50 tuổi. Nhưng hiện nay người ta thấy xu hướng ngày càng trẻ hóa. Đối tượng là những người nghiện thuốc lá, thuốc lào. Ho ra máu màu mận chín, số lượng ít. Toàn thân suy sụp nhanh. Theo dõi trên X-quang thấy bóng mờ đa cung to dần ra. Chụp CT có giá trị. Soi phế quản, sinh thiết phế quản, sinh thiết phổi hút bằng kim nhỏ giúp cho chẩn đoán. Nếu có hạch ngoại vi thì sinh thiết hạch.\n*d. Áp xe phổi*\nCó hội chứng nhiễm trùng rõ, sốt cao bạch cầu tăng, bao giờ cũng có khạc ra mủ. Bệnh nhân khạc ra mủ nhiều thì nhiệt độ giảm. Soi phế quản có giá trị chẩn đoán.\n*e. Viêm phổi do Klebsiella Pneumonia*\nBệnh nhân có hội chứng nhiễm trùng nặng, sốt cao, bạch cầu tăng hoặc giảm, toàn thân suy sụp. Máu khạc ra lẫn đờm như keo thạch. X-quang có hình áp xe lớn, rãnh liên thùy trũng xuống (bulging).\n*f. Viêm khí phế quản xuất huyết*\nHo kéo dài, khái huyết nhẹ, thường chỉ có ít máu dính đờm. Toàn thân không có gì thay đổi. Soi phế quản giúp cho chẩn đoán.Đôi khi tìm thấy nguyên nhân do xoắn khuẩn.\n*g. Bệnh sán lá phổi (Paragonimisis)*\nBệnh do một loại sán lá Paragonimus Westermanii gây nên. Bệnh nhân ho ra máu màu nâu đen, ho ra máu kéo dài. Toàn thân không sốt và không có ảnh hưởng gì đáng kể. Xét nghiệm máu thấy bạch cầu ái toan tăng cao. Cần xét nghiệm đờm tìm trứng sán.\n*h. Bệnh nấm phổi Aspesgillus*\nBệnh phổi do nấm Aspesgillus Fumigatus thường phát triển thứ phát sau lao, ung thư phổi, áp xe phổi, nhất là sau những đợt điều trị kháng sinh và corticoid. Có thể tản mạn, thể u. U nấm phát triển trong lòng hang có sẵn như hang lao, hang áp xe, hang ung thư.\nTriệu chứng lâm sàng chủ yếu là khái huyết, kèm theo có ho kéo dài dai dẳng, đau ngực, sốt. Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm đờm tìm thấy nấm. Hoặc xét nghiệm điện di miễn dịch tìm thấy kháng thể đặc hiệu kết tủa trong huyết thanh.\n**2. Ho ra máu trong các bệnh tim mạch** *a. Hẹp van hai lá*\nLà bệnh đứng đầu trong các bệnh tim mạch có ho ra máu. Bệnh nhân chỉ ho ra máu ít, xuất hiện khi gắng sức. Khám tim ở huyệt van hai lá thấy tiếng T1 đanh, có rung tâm trương.\nCó thể gặp ho ra máu trong hội chứng Lutembacher là một bệnh tim bẩm sinh gồm hẹp van hai lá + thông liên nhĩ.\n*b. Nhồi máu phổi*\nNguyên nhân: suy tim, hẹp khít van hai lá, viêm tĩnh mạch chi dưới, sau phẫu thuật vùng xương chậu, xương đùi, nằm lâu sau đẻ. Các nguyên nhân trên làm hình thành nên cục máu đông, hoặc mỡ, di chuyển theo dòng máu đến bịt tắc động mạch phổi gây ra nhồi huyết phổi.\nBệnh nhân ho ra máu ít nhưng toàn thân rất nặng bởi bệnh cảnh của nhồi huyết phổi. Đau ngực dữ dội, khó thở, da tái nhợt, huyết áp tụt. Trên phim X-quang thấy bóng mờ hình tam giác hay hình raket đỉnh hướng vào rốn phổi, đáy tựa về phía thành ngực.\n*c. Phù phổi cấp*\nBệnh cảnh phù phổi nổi trội: dấu hiệu suy tim, khó thở rất rõ rệt, bệnh nhân khạc ra máu lẫn nhiều khí tạo nên bọt màu hồng. Nghe phổi đầy ran ẩm cả hai phổi. X-quang phổi có bóng mờ hình cánh bướm.\n**3. Ho ra máu do căn nguyên khác.**\n- Hội chứng Goodpasture: viêm cầu thận + xuất huyết phổi. Đây là một bệnh tự miễn mà hệ miễn dịch tấn công vào màng đáy cầu thận và phế nang.\n- Hội chứng sức ép: tiền sử bị sức ép do sóng nổ như bom, bộc phá.\n- Bệnh sốt xuất huyết có trường hợp xuất huyết nội tạng, nếu xuất huyết ở phổi, bệnh nhân có ho ra máu.\n- Một số bệnh về máu: bệnh bạch cầu cấp, mãn, bệnh ưa chảy máu, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Trong những bệnh này, bệnh cảnh của bệnh chính là nổi bật, ho ra máu chỉ là một triệu chứng của bệnh.\n**4. Ho ra máu không rõ nguyên nhân**\nTrong thực tế lâm sàng có một số trường hợp, dù đã khám kỹ và đã sử dụng các biện pháp cận lâm sàng hỗ trợ. Nhưng vẫn không xác định được nguyên nhân. Tỷ lệ này chiếm khoảng 1, 2 đến 5% tùy theo từng tác giả.\n**III. PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ HO RA MÁU** **1. Ho ra máu nhẹ:** Tổng lượng máu khạc ra < 50ml/24h. Toàn thân chưa có rối loạn gì. **2. Ho ra máu trung bình**: Tổng lượng máu khạc ra từ 50 đến < 200ml/24h.\nToàn thân có rối loạn nhẹ, vẻ mặt hốt hoảng, da xanh, mạch nhanh, huyết áp thay đổi nhẹ.\n**3. Ho ra máu nặng**: Tổng lượng máu khạc ra = > 200ml/24h\nToàn thân có rối loạn rõ, mạch nhanh, huyết áp tụt, đe dọa choáng mất máu.\n**4. Ho ra máu sét đánh** (ho ra máu rất nặng): Bệnh nhân ộc ra máu với số lượng rất lớn và thường tử vong ngay tại chỗ, không kịp cấp cứu. Bệnh nhân tử vong vì những lý do sau:\n- Máu tràn ngập các đường thở làm bệnh nhân ngạt thở.\n- Mất máu với số lượng quá lớn.\n- Mất máu cấp tính gây choáng không hồi phục.\nHo ra máu sét đánh thường do vỡ các phình mạch Rasmussen, vỡ các Shunt nối động mạch phế quản và động mạch phổi, đứt vỡ các mạch máu vắt qua thành hanh lao.\n**IV. ĐIỀU TRỊ HO RA MÁU NÓI CHUNG** **1. Nguyên tắc chung**\n- Bất động.\n- An thần.\n- Giảm ho.\n- Cầm máu.\n- Chống bội nhiễm.\n- Điều trị nguyên nhân.\n**2. Săn sóc hộ lý**\n- Đặt bệnh nhân ở buồng yên tĩnh, thoáng, tránh ánh sáng kích thích.\n- Nếu bệnh nhân đang ho ra máu hoặc ho ra máu nặng thì cho bệnh nhân nằm đầu thấp, nghiêng về bên tổn thương để máu chảy ra không trào sang bên lành, gây bịt tắc phế quản làm bệnh nhân ngạt thở.\n- Khi bệnh nhân hết ho ra máu thì cho nằm tư thế Fowler. Không để người nhà tiếp xúc và nói chuyện với bệnh nhân. Động viên để tránh bệnh nhân hốt hoảng.\n- Hỏi bệnh qua người hộ tống. Chỉ thăm khám sơ bộ bằng nghe phổi, không được gõ trên ngực bệnh nhân.\n- Đo mạch, huyết áp, nhiệt độ 3h/lần. Theo dõi chặt chẽ lượng máu khạc ra trong 24h để có kế hoạch điều trị thích hợp.\n- Cho ngậm nước đá và chườm nước đá trước ngực (trừ mùa rét).\n- 24h đầu cho uống sữa để nguội và nước nguội. Những ngày sau cho ăn thức ăn mềm để nguội như cháo, mì, phở để nguội, Không được uống nước nóng và ăn thức ăn nóng.\n- Những xét nghiệm cần làm ngay: nhóm máu, hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrite. Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu, máu đông, máu chảy.\n- Những ngày sau làm các xét nghiệm bổ sung: Chụp X-quang phổi tại giường, ghi điện tim tại giường, xét nghiệm số lượng tiểu cầu, xét nghiệm đông máu toàn bộ, xét nghiệm đờm tìm BK, trứng sán.\n**3. Sử dụng một số thuốc**\n- Thuốc an thần: Gardenan, Seduxen, có thể cho Morphin vừa có tác dụng an thần vừa giảm ho nhưng phải rất thận trọng ở người già và người có biểu hiện suy hô hấp. Có khi phải dùng liều Cocktailytic liều nhỏ dùng rải ra.\n- Thuốc chống ho: codein, terpin-codein, neo-codion, thuốc ho đông y. Khi đã cầm máu rồi thì cho thuốc ho long đờm để bệnh nhân khạc ra hết máu cục.\n- Thuốc cầm máu. Trước đây hay dùng Glanduitrin nhưng hiện nay thuốc không có trên thị trường dược phẩm nữa. Ta có thể dùng các thuốc cầm máu như: Transamin viên 500mg, ống 50mg/ml × 5ml, Cyclonamin ống 250mg/2ml. Một số thuốc khác như Hemocaprol ống 10ml = 2g tiêm tĩnh mạch hoặc ống 20ml uống, Sistonal (tinh chất tiểu cầu), sinh tố K, sinh tố C. Một số thuốc cầm máu đông y như cỏ nhọ nồi, trắc bách diệp, tam thất nam sao đen.\n- Truyền máu tươi cùng nhóm liều nhỏ 100ml - 150ml, hoặc truyền máu trực tiếp là biện pháp cầm máu rất tốt, vì nó cung cấp các yếu tố đông máu còn nguyên vẹn. Truyền máu trữ chỉ có tác dụng bổ sung lượng máu mất, không có tác dụng cầm máu vì các yếu tố đông máu không còn. Không truyền máu quá nhiều sẽ làm tăng huyết áp, gây khái huyết liên tục.\n- Kháng sinh: Ampicillin, Augmentin, Gentamycin, nhóm Cephalosporins, Quinolones, tùy theo bệnh nhân mà lựa chọn.\n**4. Một số biện pháp điều trị khác**\nNhững biện pháp sau được áp dụng ở tuyến chuyên khoa sâu\n- Nội soi phế quản ống cứng hoặc đặt nội khí quản để hút hoặc gắp máu cục, giải phóng phế quản khỏi bịt tắc, chống biến chứng xẹp phổi.\n- Chụp động mạch phế quản kèm theo gây tắc nghẽn bằng đút nút động mạch phế quản bởi spongel.\n- Phẫu thuật cấp cứu: mở lồng ngực thắt động mạch chảy máu, hoặc cắt bỏ thùy phổi, phân thùy phổi có chảy máu.\n**5. Điều trị nguyên nhân**\nCấp cứu ho ra máu phải luôn nhớ rằng điều trị nguyên nhân mới là biện pháp cầm máu tận gốc. Vì vậy sau khi đã cầm máu ngừng chảy ta phải tìm nguyên nhân để điều trị.\n**V. PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HO RA MÁU** **1. Ho ra máu nhẹ**\n- Bất động tương đối, ăn thức ăn mềm để nguội.\n- An thần: Seduxen 5mg x 1 viên uống.\n- Giảm ho: Terpine gonnon (terpin codein) 1 viên x 4 lần/ngày hoặc Neon-codion 1 viên x 2 lần/ngày.\n- Thuốc cầm máu: Transamin 500mg x 2 - 3 viên chia 2 - 3 lần/ngày (mỗi lần 1 viên).\n- Kháng sinh: Ampicillin 50 mg x 3 - 4 viên/ngày chia 3 lần\n**2. Ho ra máu trung bình**\n- Bất động và săn sóc hộ lý như đã nêu.\n- An thần: Gardenan 0,05 hoặc Seduxen 5mg tiêm bắp 1- 2 ống/ngày.\n- Giảm ho: Terpine gonnon (terpin codein) 1 - 2 viên x 4 lần/ngày. Hoặc Neon - codion 1 viên x 4 lần/ngày.\nCó thể dùng Morphin 0,01 tiêm dưới da hoặc bắp thịt nếu bệnh nhân không có dấu hiệu suy hô hấp.\n- Thuốc cầm máu: Transamin ống (50mg/ml x 5ml) x 2 - 4 ống/24h tiêm tĩnh mạch hoặc pha huyết thanh truyền tĩnh mạch. Nếu có tan sợi tơ huyết thì cho Hemocaprol 10ml = 2g tiêm tĩnh mạch.\n- Kháng sinh: Augmentin lọ 1,2g x 2 lọ/ngày (thử phản ứng và không dùng cho bệnh nhân có tiền sử dị ứng với penicilin), hoặc Claforan I.V lọ 1g tiêm tĩnh mạch x 2 lọ/ngày. Hoặc các kháng sinh tiêm nhóm Aminoglycosides, nhóm Quinolones.\n**3. Ho ra máu nặng**\n- Phải đặc biệt chú ý lưu thông đường thở, đề phòng máu cục làm tắc nghẽn đường thở gây ngạt thở.\n- Bất động tuyệt đối, không di chuyển bệnh nhân. Khi đang ra máu thì cho nằm đầu thấp, nghiêng về bên chảy máu, để tránh máu trào qua bên phổi lành. Khi hết ra máu thì cho nằm tư thế Fowler.\n- Chế độ ăn lỏng hoàn toàn: sữa, nước cháo để nguội. Cho ngậm nước đá, chườm nước đá lên ngực.\n- Thở ô xy 2 - 3lít/phút nếu cần thì cho thở liên tục.\n- Gardenan 0,01 hoặc Seduxen 5mg 1 ống tiêm bắp x 2 lần/ngày. Hoặc có thể cho Morphin 0,01 x 1 ống tiêm dưới da nếu không có suy hô hấp. Hoặc có thể cho ngủ nhẹ bằng liều Cocktailytic (Gardenan + Aminazin + Pipolphen) cho liều nhỏ tiêm rải ra nhiều lần trong ngày.\n- Thuốc cầm máu: Trasamin ống (50mg/ml x 5ml) x 2 - 4 ống/24h tiêm tĩnh mạch hoặc pha huyết thanh truyền tĩnh mạch. Nếu có tan sợi tơ huyết thì cho Hemocaprol 10ml = 2g tiêm tĩnh mạch.\n- Chỉ định truyền máu khi hồng cầu = < 2 triệu, hematocrite < 30% hoặc khi bệnh nhân có sốc, huyết áp tụt. Truyền máu tươi cùng nhóm liều nhỏ (100ml - 150ml) hoặc truyền máu trực tiếp.\n- Chống trụy tim mạch: Truyền rỏ giọt tĩnh mạch Dopamin ống 50mg/10ml hoặc Isupren ống 0,2mg/1ml.\n- Kháng sinh nhóm Cephalosporins, hoặc Quinolones dạng tiêm, hoặc nhóm Aminoglycosides.\n- Bằng các biện pháp trên nếu vẫn không cầm máu thì đặt vấn đề gây bịt tắc động mạch phế quản hoặc phẫu thuật.\n\n**I. ĐẠI CƯƠNG**\nCó\n*một số khái niệm* chúng ta cần phải nắm chắc sau đây:\n- Khí trong máu có hai loại: O\n2 và CO 2.\nKhí O\n2 (do không khí bên ngoài đưa vào), ở trong máu dưới hai dạng:\nHòa tan 5%\nKết hợp HbO\n2 95%\nKhí CO\n2 (do cơ thể chuyển hóa sinh ra), ở trong máu dưới hai dạng:\nHòa tan 5%\nKết hợp NaHCO\n3 80%\nHb CO\n2 15%\nSự hình thành NaHCO\n3 như sau:\nCO\n2 + H 2O ------ H 2CO 3\nH\n2CO 3 ---------- H + + HCO 3-\nHCO\n3- + Na ----- NaHCO 2\nSự cân bằng của HCO\n3 / NaHCO 3 là hệ thống cân bằng kiềm toan rất quan trọng trong cơ thể, có vai trò của CO 2.\n- Chức năng của cơ quan hô hấp là trao đổi khí. Nó cung cấp khí O\n2 cho cơ thể và thải khí CO 2 ra ngoài. Suy hô hấp là tình trạng bộ máy hô hấp đã cố gắng tối đa cùng với các cơ chế bù trừ khác vẫn không đảm bảo cung cấp lượng O 2 cần thiết cho cơ thể và thải trừ lượng CO 2 dư thừa ra ngoài. Vì thế, vấn đề mấu chốt để lượng hóa là đo thành phần khí máu động mạch: PaO 2 (phân áp khí O 2 máu động mạch), PaCO 2 (phân áp khí CO 2 máu động mạch), SaO 2 (độ báo hòa khí O 2 máu động mạch).\n- Thành phần khí máu động mạch là yếu tố quan trọng để chứng minh kết quả của chức năng hô hấp, là chỉ tiêu để đánh giá có suy hô hấp hay không. Chỉ số ở người bình thường như sau:\nPhân áp khí O\n2 máu động mạch:\nPaO\n2 = 95 - 100mmHg.\nĐộ bão hòa khí O\n2 máu động mạch.\nSaO\n2 = 98%.\nPhân áp khí CO\n2 máu động mạch.\nPaCO\n2 = 40 - 44mmHg.\nBình thường pH = 7,4\nKhi pH < 7,35 là nhiễm toan.\nKhi pH > 7,45 là nhiễm kiềm.\npH được tính toán theo phương trình Henderson Hasselbach.\npK = 6,1\npH cũng được đo bằng máy Astrup.\n- Về lâm sàng người ta chia ra:\nSuy hô hấp cấp tính.\nSuy hô hấp mãn tính.\n- Về cơ chế bệnh sinh người ta chia ra:\nSuy hô hấp do rối loạn thông khí.\nSuy hô hấp do rối loạn trao đổi khí ở nhu mô phổi\n- Dựa vào thăm dò chức năng hô hấp người ta chia ra.\nSuy hô hấp do rối loạn thông khí hạn chế.\nSuy hô hấp do rối loạn thông khí tắc nghẽn.\nSuy hô hấp do rối loạn khuếch tán (bloc phế nang - mao mạch).\nSuy hô hấp do Shunt.\n- Dựa vào kết quả đo khí máu người ta chia ra.\nSuy hô hấp type I: Chỉ có PaO\n2 giảm còn PaCO 2 bình thường hoặc giảm, nên còn gọi là suy hô hấp nhược thán với kiềm hô hấp. Suy hô hấp còn bù.\nSuy hô hấp type II: Có PaO\n2 giảm đồng thời PaCO 2 tăng, nên còn gọi là suy hô hấp ưu thán với toan hô hấp. Suy hô hấp mất bù. **II. SUY HÔ HẤP CẤP TÍNH** **1. Định nghĩa** *Suy hô hấp cấp tính* xảy ra đột ngột, trong vài phút đến vài ngày, ảnh hưởng ngay đến não, cơ tim, thận, đe dọa ngay lập tức đến tính mạng bệnh nhân.\nPaO\n2 < 50mmHg. SaO2 < 80%.\nPaCO\n2 > 60mmHg.\npH < 7,35 Toan khí mất bù.\n(Theo Campbell thì suy hô hấp cấp khi PaO\n2 < 60mmHg và PaCO 2 > 49mmHg).\nCó tác giả đưa ra danh từ “\n*trụy hô hấp*” khi SaO 2 < 50%, PaCO 2 = 100mmHg.\nCác tác giả Âu - Mỹ đưa ra khái niệm về\n*“hội chứng suy hô hấp cấp tính tiến triển ở người trưởng thành*” (Adul Respiratory Distress Syndrom - viết tắt là ARDS). ARDS có nhiều nguyên nhân nhưng hậu quả chung là tăng tính thấm màng phế nang mao mạch. Có người gọi là phù phổi tổn thương, có người gọi là tổn thương phổi cấp tính (Acut Lung Injury - viết tắt là ALI). **2. Nguyên nhân** *a. Nguyên nhân tại phổi*\n- Viêm phổi hoại tử, phế quản phế viêm, tràn khí màng phổi, xẹp toàn bộ một bên phổi, phù phổi cấp, nghẽn tắc động mạch phổi, lao thể viêm phổi bã đậu, lao kê cấp tính, viêm phổi diện rộng do vi rút như bệnh cúm A H5N1, cúm A H1N1, bệnh SARS\n- Đợt bùng phát của COPD, hen ác tính, u trung thất chèn ép phế quản gốc.\n*b. Nguyên nhân ngoài phổi*: ngộ độc thuốc ngủ, chấn thương não, màng não, bệnh bại liệt, bệnh uốn ván, bệnh nhược cơ, nhiễm độc khí CO 2, hội chứng giảm thông khí phế nang nguyên phát. *c. Các nguyên nhân gây nên ARDS*\n- Do hô hấp: hít vào phổi dịch vị dạ dày, hít phải khói và khí độc, viêm phổi diện rộng, nhiễm độc ô xy.\n- Không do hô hấp: hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, chấn thương nặng, sốc đa chấn thương, bỏng nặng, đông máu rải rác trong lòng mạch, truyền máu nhiều lần, viêm tụy cấp, nhiễm độc ma túy, tiền sản giật.\n**3. Cơ chế bệnh sinh**\nBình thường có bốn cơ chế tham gia vào quá trình trao đổi khí:\n- Thông khí phổi.\n- Sự khuếch tán O\n2 và CO 2 qua màng phế nang mao mạch.\n- Tuần hoàn phổi.\n- Sự điều chỉnh thông khí phổi của trung khu hô hấp ở hành tủy. Trong trường hợp bệnh lý, một trong bốn cơ chế trên bị tổn thương cấp tính nặng nề, đều dẫn đến suy hô hấp. Trên thực tế có khi không phải một mà là hai cơ chế cùng kết hợp trên một bệnh nhân, khó mà tách bạch.\n*a. Suy hô hấp cấp tính type I*\nPaO\n2 giảm, PaCO 2 bình thường hoặc giảm, suy hô hấp nhược thán, kiềm hô hấp, suy hô hấp còn bù.\n- Mất cân bằng tỷ số thông khí/dòng máu: VA/Qc. Bình thường VA/Qc = 1(hoặc xấp xỉ bằng 1).\nThông khí phế nang giảm (VA giảm) VA/Qc < 1 gặp trong hen ác tính, tràn khí màng phổi. Lúc đầu khi thông khí phế nang giảm, phổi thở bù, làm tăng thải CO\n2, do đó PaCO 2 giảm.\nDòng máu giảm (Qc giảm), VA/Qc > 1 gặp trong nghẽn tắc động mạch phổi.\nỞ phổi tỷ lệ Va/Qc thay đổi theo vùng và theo bệnh lý. Do đó có hai trường hợp xảy ra như sau:\n(+) Các phế nang bị xẹp hoặc chứa đầy dịch, (ví dụ đuối nước) dòng máu đi qua vẫn bình thường nhưng không được tái ô xy hóa, nên vẫn là máu đen (VA giảm, VA/Qc giảm < 1). Dòng máu đó (là máu đen) lại tiếp tục đi sang phổi lành hòa trộn với máu đã bão hòa ô xy ( máu đỏ). Trường hợp này giống hệt như máu ở tĩnh mạch phổi lại chảy về động mạch phổi, và ta có thực tế là shunt phải - trái ở phổi. Kết quả là máu thiếu ô xy, PaO\n2 giảm. Ở đây không phải shunt giải phẫu nên ta gọi là “hiệu ứng shunt”.\nXem minh họa dưới đây\n(+) Động mạch phổi bị chít hẹp làm cho dòng máu giảm (Qc giảm, VA/Qc tăng > 1), thông khí phế nang vùng đó vẫn thực hiện nhưng không có hiệu quả, không khí đi vào phế nang rồi lại đi ra, (giống hệt như khoảng chết giải phẫu từ mũi đến phế quản tận, không khí đi vào rồi lại đi ra) mà không tham gia trao đổi khí. Khoảng chết bệnh lý đó cộng với khoảng chết giải phẫu, càng làm tăng thêm thông khí khoảng chết. Kết quả là máu thiếu ô xy, PaO\n2 giảm. Trường hợp này không phải là khoảng chết giải phẫu theo định nghĩa, nên ta gọi đó là “hiệu ứng khoảng chết”.\nVề lý thuyết nếu Qc = 0, thì tỷ số VA/Qc là vô hạn, nghĩa là toàn bộ thông khí phổi là thông khí khoảng chết. Điều này chỉ xảy ra khi toàn bộ động mạch phổi bị bịt tắc hoàn toàn, ngay lập tức, là điều mà trong thực tế không có. Nếu có thì người bệnh cũng tử vong ngay, ta không kịp phát hiện được.\nXem minh họa sau đây\nTrường hợp này nếu ta nắm chắc bệnh nhân, mở khí quản kịp thời sẽ làm giảm thông khí khoảng chết, tăng thông khí phế nang cho bệnh nhân. Ta có công thức:\nVt = VA + Vd\nVậy VA = Vt - Vd = (Vt - Vd) x f. Công thức này cho thấy nếu Vd giảm thì VA tăng.\nXem minh họa dưới đây\n- Rối loạn khuếch tán màng phế nang mao mạch. Trường hợp này phát hiện dược bằng đo DLCO thấy giảm nhiều. Điển hình gặp trong các bệnh xơ phổi kẽ lan tỏa, phù phổi kẽ, phù phổi phế nang.\nTuy nhiên trên thực tế ít khi thiếu ô xy máu đơn thuần do bloc phế nang mao mạch, mà thường kết hợp cả với cơ chế VA/Qc giảm, vì hội chứng bloc phế nang mao mạch thường kèm theo rối loạn thông khí hạn chế.\nXem minh họa dưới đây\n- Trung khu hô hấp bị tổn thương như ngộ độc thuốc ngủ, chấn thương sọ não.\n* Kiềm hô hấp được giải thích là do thiếu ô xy máu, PaO\n2 máu giảm đã kích thích trung khu hô hấp gây nên thở bù. Khả năng khuếch tán của CO 2 từ máu ra phổi nhanh hơn nhiều so với khả năng khuếch tán của O 2 vào máu. Do đó khi thở bù, lượng O 2 vào máu ít, lượng CO 2 được đào thải nhiều hơn, làm cho PaCO 2 máu giảm, dẫn đến kiềm hô hấp.\nTa có Phương trình Henderson Hassellbach:\nKhi CO\n2 máu giảm thì H 2CO 3 máu giảm, do đó pH máu tăng, gây nên kiềm hô hấp. *b. Suy hô hấp type II:* PaO 2 giảm, PaCO 2 tăng, suy hô hấp ưu thán, toan hô hấp, suy hô hấp mất bù. Suy hô hấp type II là giai đoạn tiếp theo của suy hô hấp type I.\nDù thiếu O\n2 thì cơ thể vẫn chuyển hóa và sản xuất ra CO 2. Lúc đầu cơ thể thở bù đào thải được CO 2 ra ngoài hơn bình thường, do đó CO 2 máu giảm dẫn đến kiềm hô hấp. Nhưng sau một thời gian, cơ chế thở bù không đáp ứng được nữa, khí CO 2 máu tăng lên, dẫn đến toan hô hấp.\nĐến đây thì suy hô hấp đã chuyển sang mất bù.\nThông khí phế nang được tính theo công thức:\nVA = Thông khí phế nang, VCO\n2 = lưu lượng khí CO 2 thải ra ngoài.\nBình thường PaO\n2 + PaCO 2 > 125mmHg ở người trẻ, > 115 mmHg ở người già. Có hai trường hợp xảy ra:\n- Thiếu O\n2 máu và tăng CO 2 máu do thông khí phế nang (VA) giảm toàn bộ thì PaO 2 + PaCO 2 > 125mmHg.\n- Thiếu O\n2 máu và tăng CO 2 máu do thông khí phế nang (VA) giảm kết hợp với tỷ số VA/Qc giảm thì PaO 2 + PaCO 2 < 125mmHg ở người trẻ và < 115mmHg ở người già.\nVA/Qc giảm dẫn đến “hiệu ứng khoảng chết” thì VA cũng giảm và tất nhiên sau đó CO\n2 máu sẽ tăng.\n- Toan hô hấp được giải thích dựa trên phương trình Henderson Hassellbach nêu trên. Khi CO\n2 máu tăng thì H 2CO 3 tăng, pH máu giảm, dẫn đến toan máu. **3. Triệu chứng** *a. Triệu chứng thiếu ô xy*\n- Triệu chứng hô hấp: Khó thở nhanh, tím tái (xuất hiện rõ khi SaO\n2 < 80%).\nCó khi mặt bệnh nhân xám xịt, miệng há hốc, co rút các cơ hô hấp phụ. Khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, hoặc nghe thấy các loại ran tùy theo bệnh lý.\n- Triệu chứng tim mạch: Mạch nhanh nhỏ, có khi trụy tim mạch. Làm điện tim thấy các dấu hiệu tâm phế cấp, thiếu máu cơ tim, có khi thấy rung nhĩ.\n- Triệu chứng thần kinh: vật vã, giãy giụa, nhức đầu, lú lẫn, run tay chân, không giữ nổi tư thế bình thường, có thể hôn mê.\n- Xét nghiêm máu urê máu tăng, creatinin máu tăng, suy thận.\n- Đo khí máu PaO\n2 < 50 mmHg, SaO 2 < 80%. *b. Triệu chứng nhược thán*\n- Thở giảm do ức chế hô hấp.\n- Mạch lúc đầu nhanh sau giảm, huyết áp giảm.\n- Co thắt mạch não, có thể co giật.\n- XN: PaCO\n2 < 35mmHg, pH > 7,45. Kiềm hô hấp. *c. Triệu chứng ưu thán*\n- Gây giãn mạch ngoại vi, co mạch nội tạng.\n- Da hồng do giãn mạch ngoại vi, sau đó thì tím tái. Đổ mồ hôi nhiều.\n- Thở nhanh không đều, mạch nhanh, huyết áp lúc đầu tăng tạm thời.\n- Có thể thấy tâm phế cấp, hoặc loạn nhịp tim.\n- XN PaCO\n2 > 60 mmHg, pH < 7,35. Toan hô hấp mất bù. **4. Điều trị** *a. Nguyên tắc điều trị*\n- Làm thông thoáng đường thở.\n- Ô xy liệu pháp.\n- Đặt nội khí quản, mở khí quản.\n- Hô hấp hỗ trợ.\n- Chống toan máu.\n- Chống nhiễm khuẩn.\n- Điều trị nguyên nhân.\n*b. Các biện pháp điều trị* ** Làm thông thoáng đường thở*\n- Lau sạch đờm rãi ở quanh mũi, miệng, họng.\n- Đặt Canul Mayo để khỏi tụt lưỡi.\n- Hút đờm rãi, chất tiết bằng bơm tiêm. Dùng máy hút phải rất thận trọng vì bệnh nhân đang giảm thông khí.\n** Ô xy liệu pháp:*\n- Thở ô xy là chỉ định bắt buộc. Có thể dùng mặt nạ một chiều hoặc dùng một catheter luồn vào hốc mũi với độ dài đo từ rìa tai tới rìa cánh mũi (khoảng 12cm).\nNồng độ ô xy 35 - 40%, liều lường 4 - 6 lít/phút. Thở ô xy nguyên chất (100%) chỉ áp dụng trong rất ít trường hợp như ngừng tim, chảy máy nặng.\n- Có thể dùng hỗn hợp ô xy - helium có nhiều ưu điểm: hỗn hợp này có nồng độ kém không khí 3 lần do đó làm lưu thông khí qua đường thở dễ dàng, helium khuếch tán kém không khí 3,7 lần nên có tác dụng chống xẹp phổi, helium làm tiết heparin.\n- Tỷ lệ hỗn hợp He/O\n2 qua máy là 79/21 hoặc 50/50. Thở ô xy với nồng độ 50 - 60% là vừa và duy trì kéo dài an toàn.\n- Nồng độ ô xy cao đến 100% thở lâu dài (24h) có thể gây ngộ độc, O\n2 tăng sẽ gây ức chế trung khu hô hấp. Lượng O 2 tăng làm giảm quá trình phân ly HbO 2 thành O 2 + Hb ảnh hưởng tới hô hấp tế bào, ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển CO 2, làm ô xy hóa các chất của hệ thống Surfactant gây nên xẹp phổi. Ngộ độc ô xy với quá trình ô xy hóa còn làm mất khả năng hoạt hóa của một số men như dehydrogenase, cytochromocydase. Bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn, run tay, co giật. Lúc này thay vì thở ô xy lại phải cho bệnh nhân thở khí trời. ** Đặt nội khí quản*: để làm thông đường thở và hút đờm rãi, tiến hành thở máy khi cần thiết. Chỉ định khi bệnh nhân không khạc nhổ được, đờm rãi nhiều trong khí phế quản cần phải hút, có trở ngại đường hô hấp trên, hôn mê gây tụt lưỡi, hoặc cần phải thở máy. ** Mở khí quản*: Tác dụng làm giảm khoảng chết giải phẫu, tăng thông khí phế nang, làm giảm áp lực trong phổi, làm cho động tác thở dễ dàng hơn. Khi có hôn mê thì mở khí quản là cần thiết. ** Hô hấp hỗ trợ:*\n- Bóp bóng bằng tay.\n- Thở máy.\n* Bồi phụ nước điện giải, thăng bằng kiềm toan. Truyền Nabicarbonat 1,45% nếu có toan máu.\n* Chống nhiễm khuẩn:\nDùng kháng sinh tiêm nhóm cephalosporin, hoặc nhóm Quinolon, nhóm Aminozit.\n* Điều trị nguyên nhân kịp thời: Nếu tràn khí màng phổi phải hút khí ngay. Nếu hen ác tính phải điều trị hen ác tính với corticoid liệu pháp…\n**III. Suy hô hấp mãn** *a. Định nghĩa*: Suy hô hấp mãn tính xuất hiện trên 1 tháng tới vài năm, là tình trạng thiếu ô xy máu thường xuyên cả khi nghỉ ngơi, biểu hiện bằng hội chứng khó thở tăng dần lên. Đo khí động mạch:\nPaO\n2 = 60 - 70mmHg\nSaO\n2 = 80 - 90%\nPaCO\n2 = 45 - 60mmHg *b. Nguyên nhân*\n* Các bệnh đường thở: u thanh quản, u khí quản, hen phế quản, bệnh COPD, giãn phế quản.\n* Các bệnh nhu mô phổi: khí phế thũng, lao phổi (nhất là lao xơ hang), bệnh lý tổ chức kẽ.\n* Các bệnh màng phổi: tràn dịch màng phổi mãn tính, dầy dính màng phổi.\n* Bệnh lồng ngực: chấn thương lồng ngực, gù vẹo cột sống do bẩm sinh hoặc mắc phải.\n* Bệnh tim mạch, tuần hoàn: Bệnh tim bẩm sinh, bệnh van tim, suy tim, cao huyết áp, viêm màng ngoài tim mãn tính, thiếu máu mãn tính.\n* Các bệnh khác: bại liệt, thoái hóa thần kinh cơ, ngộ độc, suy thận, nhiễm axit máu do đái đường.\n*c. Triệu chứng*\n- Về lâm sàng là triệu chứng của bệnh chính nổi lên, đã nhiều năm.\n- Khó thở trường diễn, cả khi nghỉ, khi ngủ. Môi tím tái, co rút các cơ hô hấp phụ, khám phổi có thể thấy ran bệnh lý.\n- Có dấu hiệu của tâm phế mãn: gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phù chi dưới.\n- Xét nghiệm máu: đa hồng cầu.\n- Thăm dò chức nang hô hấp: rối loạn thông khí tắc ngẽn, hạn chế hay hỗn hợp.\n- Đo khí máu: PaO2 giảm, SaO\n2 giảm, PaCO 2 tăng.\n- X-quang: phát hiện các bệnh phổi và lồng ngực. Chụp CT.\n- Điện tim: tâm phế mãn, rối loạn nhịp tim.\n- Siêu âm tim.\n*d. Điều trị*\n- Điều trị bệnh chính, là điều trị nguyên nhân gây ra suy hô hấp mãn.\n- Luôn luôn làm thông thoáng đường thở.\n- Ô xy liệu pháp.\n- Hô hấp hỗ trợ.\n- Điều trị suy tim.\n- Cân bằng kiềm toan.\n- Phục hồi chức năng hô hấp bằng tập thở.\n*f. Một số biện pháp cụ thể*\n* Ô xy liệu pháp tại nhà\nTrang bị bình ô xy ở nhà để bệnh nhân sử dụng hàng ngày. Nó giúp cải thiện tình trạng mệt mỏi, cải thiện trạng thái tinh thần vì làm cho bệnh nhân yên tâm. Nó sử dụng cũng dễ dàng cho bệnh nhân vẫn còn đi lại được.\nLuôn nhớ rằng phải thở ô xy ngắt quãng, tức là cho ngửi ô xy 15 phút hoặc 30 phút lại cho nghỉ 15 đến 30 phút. Lưu lượng chỉ 1 - 2lít/ phút. Vì bệnh nhân suy hô hấp mãn đã “quen” với tình trạng thiếu ô xy máu. Nếu cho thở ô xy liên tục, ô xy máu cao sẽ ức chế trung khu hô hấp gây ngừng thở.\n* Thông khí nhân tạo tại nhà\nHô hấp hỗ trợ qua mask, mặt nạ, hoặc ống sond qua mũi, qua mở khí quản.\nTrường hợp này áp dụng cho bệnh nhân đã nặng và có điều kiện theo dõi ở nhà.\n* Luyện tập để phục hồi chức năng hô hấp\n- Tập thở bụng, thở cơ hoành để tăng thông khí phổi.\n- Tập thư giãn để giảm tiêu thụ ô xy, giảm tần số hô hấp mà vẫn đảm bảo ô xy cho cơ thể.", "file": "books_text_final/ebooks.epub_38156.txt"} {"text": "Xác suất - Những cạm bẫy bất ngờ - Cạm bẫy của các Đấng Tối Cao\nXác suất - Những cạm bẫy bất ngờ - Cạm bẫy cho những người tính toán\nXác suất - Những cạm bẫy bất ngờ - Cạm Bẫy cho những ai Đam Mê Cờ Bạc\n♠. Chữ tình chữ hiếu, chữ nào trọng hơn?\nCó một báo treo giải cho câu đố xã hội như thế này: “Vua, cha và thầy đi cùng thuyền với ta. Đến giữa sông, thuyền bị chìm. Người duy nhất biết bơi là ta. Ta phải cứu ai trước?”. Quả là khó khăn. Giải thưởng được trao cho cậu bé 12 tuổi. Cậu trả lời: “Cứu người gần mình nhất.”. Nghĩ lại, thấy thật là có lý. Cứu người gần mình nhất thì xác suất thành công cao hơn (với điều kiện khoảng cách giữa mọi người rất nhỏ so với khoảng cách từ họ đến bờ). Và xác suất cứu xong, quay trở lại để cứu người thứ hai cũng cao. Thế nhưng, nếu cậu bé vào tuổi 21 và có vợ, còn đề ra như thế này: “Nữ hoàng, mẹ và vợ đi cùng thuyền với ta. Đến giữa sông, thuyền bị chìm. Người duy nhất biết bơi là ta. Ta phải cứu ai trước?”, chắc cậu chả dại dột gì trả lời câu như vậy đâu. Còn mấy ông giám khảo mà chấm câu đấy giải nhất cũng liệu cái thần hồn.\nThượng đế đã sinh ra Adam. Thấy chàng buồn, bèn lấy xương sườn của chàng làm ra nàng Eva xinh đẹp. Để rồi một hôm, nàng nghe lời xui dại của con rắn (hình như trong Kinh Thánh không nói con rắn này là đực hay cái) ăn quả cấm. Nàng quyến rũ anh khờ Adam sa ngã theo. Họ chơi trò chơi Ái Tình. Họ mãi mê đến nỗi Thượng Đế bực dọc và đuổi họ ra khỏi Thiên Đàng. Có phải chăng Ái Tình là thứ tình cảm đầu tiên của giống Người chúng ta?!. Đầu Tiên và Trường Tồn nhất. Và đến một ngày xa tít của thế kỷ 21, một anh chàng đứng trước chữ Tình và chữ Hiếu không biết chọn cái gì, đành phải phó thác cho Thượng Đế:\nMỗi lần đi chơi, anh chàng muốn hoặc đi về nhà mẹ hoặc đi tới nhà người yêu. Mẹ và người yêu anh ta ở hai hướng khác nhau của con đường (anh ta ở giữa). Anh ta thường phân vân không biết về đâu. Cuối cùng, anh ta chọn được giải pháp thích hợp: hễ có xe buýt hướng nào trước, thì đi về hướng ấy. Xe buýt của cả hai hướng cứ 15’ có một chuyến. Sau một năm, anh ta tổng kết lại thì phát hiện số lần đi về nhà người yêu lớn gấp hai lần số lần về với mẹ. Anh chàng sung sướng: “Ái tình, Ái tình…Quả không sai người ta gọi ngươi là đề tài muôn thuở của con người. Thượng đế thật là tâm lý. Chính Ngài đã xui khiến cho ta chọn chữ Tình nhiều hơn.”.\nKhi nghe câu chuyện trên, một cô bạn của tôi đã reo lên: “Thế mà em chả biết cách chọn này. Vừa đúng em có hai ý trung nhân ở giữa hai đầu đường. Em chả biết đi lại thế nào cho phải đạo nữa.”. Tôi nói: “Từ từ nào…Nhưng thôi, cứ theo cách đấy. Sau ít lâu về thông báo cho tôi biết kết quả ra sao.”. Bẵng đi một dạo, cô tiu nghỉu bảo với tôi: “Anh ạ, cái anh chàng em không ưa lắm thì em phải đi đến gấp năm lần anh kia. Thượng Đế quả là bên trọng bên khinh.”.\nThực ra, từ khi Thượng Đế đuổi Adam và Eva xuống thế gian này thì Ngài đã phó thác Ái Tình cho Trái Tim của Con Người rồi. Còn… giải thích hai hiện tượng trên phải dùng xác suất mới xong. Các bạn hãy theo dõi hình sau:\nXe buýt đi về hướng mẹ bắt đầu từ lúc 6:00 sáng và cứ cách 15’ có một chuyến theo lịch: 6:00, 6:15, 6:30, 6:45, 7:00…Còn xe buýt đi về hướng nhà người yêu lại có đầu tiên lúc 6:10 và cách 15’ có một chuyến theo lịch: 6:10, 6:25, 6:40, 6:55, 7:10…Theo dõi trên hình, chúng ta thấy, nếu chàng trai đi vào những thời điểm ngẫu nhiên thì thời gian anh ta đợi được xe buýt về hướng người yêu gấp đôi thời gian về hướng mẹ. Từ 6:00 đến 6:10 anh ta đợi chuyến đến người yêu (10’). Từ 6:10 đến 6:15 anh ta đợi chuyến đến nhà mẹ (5’). Suy ra, xác suất anh chàng về hướng người yêu phải gấp hai lần hướng mẹ. Và điều đó đã xảy ra trên thực tế.\nCòn trường hợp đối với cô gái, thời gian (ví dụ) các chuyến xe buýt cách nhau 30’. Và chuyến về anh chàng không thích lắm là 6:25, 6:55, 7:25…, chuyến về anh chàng thích là 6:00, 6:30, 7:00…Chuyện cô gái phải ăn quả đắng đi về hướng anh chàng không thích lắm nhiều hơn gấp 5 lần không dính dáng gì đến Thượng Đế cả. Trừ phi, cô nàng thuyết phục hai anh chàng đổi chỗ cho nhau mà kết quả vẫn như trên…Thì… chứng tỏ Thượng Đế đã xui khiến cho công ty xe buýt thành phố đổi lại lịch xe đúng khi hai anh chàng chuyển chỗ cho nhau!!![1]\n♣. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ?\nMột nhà thông thái nghĩ mình đã biết hết mọi việc trên đời. Có lần, ông gặp một bác nông dân trông thật là…nông dân. Quá tự phụ vào kiến thức của mình, ông ta bảo bác nông dân: “Bây giờ, ông hỏi tôi một câu, nếu tôi không trả lời được thì tôi trả ông 10 đồng. Sau đó, tôi hỏi ông một câu, ông không trả lời được, ông trả tôi 1 đồng.”. Bác nông dân “Được, tôi chấp nhận cá cược.”. “Vậy, nhường ông hỏi trước.”, nhà thông thái trả lời. Bác nông dân nói “Tôi xin hỏi ông, con gì chạy xuống núi bằng bốn chân, mà chạy lên núi chỉ bằng ba chân.”. Suy nghĩ mãi, nhà thông thái đành trả lời: “Tôi không biết.”, và rút 10 đồng ra trả. Ông ta bèn hỏi: “Con gì ngộ vậy?”. Bác nông dân rút 1 đồng trả nhà thông thái và nói: “Tôi cũng không biết.”.\nTrong cuộc sống thường ngày và ngay cả trong khoa học, chúng ta chứng kiến không biết bao nhiêu trường hợp:\n“Ai đời châu chấu đá xe\nTưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng”\nnhư thế…\nTrong cuốn Mathematical Puzzles and Diversions, Martin Gardner đã dẫn một ví dụ tuyệt diệu về khả năng chiến thắng kẻ mạnh hơn như sau:\nSmit, Brown và John quyết định đấu súng tay ba theo luật sau: đầu tiên họ sẽ bốc thăm xem ai bắn trước, bắn nhì và bắn cuối. Mỗi người đến lượt mình chỉ bắn được một phát và có thể nhắm vào bất kỳ người nào. Cuộc đấu súng tiếp diễn đến khi chỉ còn sống sót một người. Thoả thuận về luật và bốc thăm xong, ba người đứng vào vị trí của mình (là đỉnh của tam giác đều). Cả ba đều biết khả năng hai đối thủ của mình: Smit không bao giờ trượt, Brown bắn trúng đến 80% số lần bắn, còn John thì bắn trượt cũng như bắn trúng(50/50).\nAi sẽ là người có cơ hội sống sót lớn nhất? Biết rằng cả ba đều thực hiện chiến thuật tối ưu nhất. Và kết quả bốc thăm được sử dụng cho cả trận đấu.\nKhi tôi giới thiệu bài toán này với những người bạn, tôi đã nhận rất nhiều ý kiến giải đáp khác nhau. Có người cho Smit có khả năng sống sót nhiều hơn, có người cho Brown thoát khỏi hiểm nguy cao nhất. Một trong số ý kiến đó có lý luận sau đáng chú ý: việc bốc thăm sẽ cho cơ hội đồng đều cho cả ba bắn trước. Vậy xác suất của mỗi người được bắn trước là 1/3. Ta xét xem xác suất sống sót của mỗi người:\nTrường hợp 1: xác suất 1/3, Smit bắn trước. Chiến thuật tối ưu của anh ta: bắn vào Brown. Anh ta hạ Brown, lúc đó John sẽ bắn vào chàng ta với xác suất trúng đích là 50%. Nếu trật (cũng với xác suất 50%) thì Smit sẽ kết liễu John. Vậy với trường hợp này xác suất của anh chàng thiện xạ được sống sót là 1/3 x 1/2 = 1/6. Xác suất sống sót của John là 1/6 và của Brown bằng 0.\nTrường hợp 2: xác suất 1/3, Brown bắn trước. Chiến thuật tối ưu của anh ta: bắn vào Smit (xem hình 2). Nếu hạ thủ được Smit với xác suất 4/5, thì xác suất đấu trực tiếp của anh ta với John khi John bắn trước là 4/9 đọ 5/9 (nếu Brown bắn trước sẽ là 8/9 đọ 1/9). Như thế, theo hướng này xác suất John sống sót là 1/3 x 4/5 x 5/9= 4/27, Brown sống sót là 1/3 x 4/5 x 4/9 = 16/135. Nếu không hạ được Smit với xác suất 1/5 thì mỗi người Smit và John có xác suất ½ để bắn tiếp theo. Và theo biểu đồ, chúng ta có thể tính toán cho trường hợp này xác suất sống sót của từng người là:\nSmit: 1/60 + 1/120 =1/40\nJohn: 1/540 +1/60 + 1/120 + 4/27=7/40\nBrown: 8/540 + 16/135=2/15\n(Cộng tất cả các số này lại với nhau sẽ được 1/3)\nTrường hợp 3: John bắn trước với xác suất 1/3. Theo hình 3 ta có thể tính được như sau:\nSmit: 1/24 + 1/120 =1/20\nJohn: 1/24 +1/120 + 1/54 + 1/27=19/180\nBrown: 4/27 + 4/135=8/45\n(Cộng tất cả các số này lại với nhau sẽ được 1/3)\nNhư thế xác suất sống sót của mỗi người là:\nSmit: 1/6 +1/40 + 1/20=29/120 =0.242\nJohn: 1/6 + 7/40 + 19/180 =161/360 =0.447\nBrown: 2/15 + 8/45 = 14/45=0.311\nRõ ràng, cách tính trên đã chọn cách tối ưu cho cả ba người là: Khi còn hai đối thủ, người bắn nhằm vào kẻ bắn giỏi hơn. Lúc đó, nếu cơ may đối thủ bị bắn chết thì người bắn vào mình sẽ là tay amatơ hơn. Và cơ hội sống nhiều hơn. Lý luận này đã đúng chưa? Hoá ra, anh chàng thiện xạ có xác suất sống còn thấp nhất. Nhưng các bạn hãy chú ý một điểm rất nhỏ thôi, nhưng cũng đánh gẫy toàn bộ lý luận trên đây. Nếu xét việc bắn trước là một cơ hội tốt của người bắn để thoát hiểm, chúng ta thấy điều này chỉ đúng với Smit. Ngược lại, không đúng cho John và Brown (cái xác suất sống sót của Brown tăng lên vì do John chọn sai chiến thuật tối ưu). Khi John bắn trước, nếu sử dụng cách này xác suất sống còn của anh ta là 19/180 đối với 1/6 và 7/40 khi Smit và Brown bắn trước tương ứng. Vậy việc gì John phải bắn vào ai đó, bởi vì bất kỳ người nào bắn tiếp theo (vẫn còn ba người) thì xác suất sống còn của John vẫn cao hơn khi anh ta nhắm vào người khác mà bắn? Chiến thuật tối ưu của John là bắn lên trời. [2] Ngoài những con số ở trên, chúng ta thấy John sử dụng phương thức này để tận dụng cho hai đối thủ mạnh loại trừ nhau. Quan trọng nhất, theo đúng luật khi một đối thủ của John bị loại thì người bắn trước lại là John. Và trong bất kỳ trường hợp nào, anh ta cũng có xác suất hơn ½ sống sót. Chiến thuật tối ưu của Smit đã rõ, anh ta phải bắn vào Brown. Còn Brown cũng vậy, biết rằng John sẽ ngư ông đắc lợi mà bắn vào John không được. Chỉ còn cách bắn vào Smit để tăng cao xác suất sống còn mình lên. Từ những lý luận trên, chúng ta có thể thiết lập biểu đồ xác suất cho cả ba xạ thủ như hình 4:\nXác suất cho mỗi người Brown và Smit bắn trước là ½ (Khi còn ba người John là outsider, không tính đến vì anh ta không bắn vào ai cả). Và diễn biến tiếp theo có thể dễ nhận thấy theo hình vẽ. Xác suất của ba người được tính như sau:\nSmit: 1/2 x 1/2 + 1/2 x 1/5 x 1/2 = 3/10\nBrown: 1/2 x 4/5 x 4/9 = 8/45\nJohn: 1/2 x 1/2 + 1/2 x 1/5 x 1/2 + 1/2 x 4/5 x 5/9 = 47/90\nNhư vậy chúng ta thấy một “nghịch lý” như sau: John-người bắn kém nhất lại có cơ may sống sót hơn cả cơ may của hai anh chàng bắn giỏi cộng lại. Có phải chăng thánh nhân đãi kẻ khù khờ hay là điều kỳ diệu của xác suất.[3]\n♥. Lời an ủi của Diêm Vương?\nNgọc Hoàng Thượng Đế thức giấc, Ngài phóng mắt khắp cõi dương gian và địa ngục xem thần dân của mình ra sao. Đến cửa địa ngục, Ngài thấy ba linh hồn Ghost, Ma và Quái đang xếp hàng chờ đến lượt nhập hộ khẩu. Có lẽ đêm hôm qua, Ngài không gặp ác mộng, nên trong lòng khoan khoái muốn mở lượng từ bi. Ngài quyết định hồi dương một trong ba linh hồn tội lỗi kia. Ngài bèn sai Nam Tào, Bắc Đẩu viết tên ba linh hồn lên ba tờ giấy và đảo kỹ. Sau đó, Ngài bốc một tờ đưa cho Nam Tào:\n-Đây là tên linh hồn được quay về dương gian. Các ngươi mau gõ dây thép xuống cho Diêm Vương được biết!\n-Dạ, tuân lệnh.\nĐang yên giấc nồng, nhận được điện khẩn từ Thiên Đình, Diêm Vương vội tỉnh ngủ, sửa sang lại cân đai áo mão cho vời ba linh hồn Ghost, Ma, Quái đến và phán rằng:\n-Trong số các ngươi, có một người sẽ được quay về dương gian. Mau chuẩn bị tinh thần sẵn sàng mà hồi dương.\n-Chà…\nBa linh hồn quay ra, Diêm Vương thấy Ma còn lần chần không dứt bèn hỏi:\n-Nhà ngươi còn chuyện gì không?\n-Dạ, thưa Diêm Vương anh minh! Chắc Ngài không muốn chỉ ra ai trong chúng con được quay về. Con chỉ xin Ngài ân huệ nhỏ.\n-Được! Ngươi cứ nói.\n-Nếu như một trong hai linh hồn kia được tha về thì Ngài nêu ra tên người ngược lại. Nếu con được tha về thì Ngài có thể nêu bất kỳ tên một trong hai linh hồn kia.\nDiêm Vương suy nghĩ một lúc, và nói:\n-Thôi được, có một điều an ủi cho ngươi, đó là Quái.\nLinh hồn Ma quay về, thấy khoan khoái trong lòng vì nghĩ mình đã lỡm được Diêm Vương. Bởi vì, bây giờ chỉ còn một trong hai người Ghost và Ma được hồi dương. Vậy xác suất hồi dương của mình là ½. Bỗng dưng khi chưa hỏi, thì xác suất hồi dương là 1/3, bây giờ lên được ½ sướng quá còn gì. Còn Diêm Vương thì lẩm bẩm: “Đúng là ngốc tử! Hắn cứ tưởng ta cho hắn một niềm an ủi…”.\nThế thì xác suất được hồi dương của Ma là bao nhiêu?\nThực ra, xác suất của Ma vẫn bằng 1/3. Lúc ban đầu khi Ngọc Hoàng Thượng Đế chọn tên để hồi dương một cách ngẫu nhiên như thế, nên xác suất được hồi dương ban đầu của cả ba là 1/3. Đến lượt Diêm Vương thì nhóm ba người này được chia thành hai nhóm nhỏ. Nhóm thứ nhất là Ma, nhóm thứ nhì gồm cả Ghost và Quái với xác suất tương ứng là 1/3 và 2/3. Theo điều kiện của Ma, Diêm Vương chọn giữa một trong hai người Ghost và Quái một người không được hồi dương. Xác suất Diêm Vương chọn được bằng 1 và không ảnh hưởng gì đến xác suất từng nhóm. Và khi Diêm Vương lộ tẩy bất kỳ một người nào trong nhóm hai thì xác suất nhóm hai và nhóm một không thay đổi. Có nghĩa xác suất của Ma vẫn bằng 1/3 còn xác suất của Ghost được tăng lên thành 2/3 bởi vì xác suất của Quái đã bằng 0.\nĐể dễ hiểu ta(người chia bài) chọn ba con bài Át Cơ, Át Rô và Át Bích chia cho ba người A, B, C. Xác suất của mỗi người nhận được Át Bích khi chia xong (hay khi chưa lật con nào cả nhưng mỗi con bài đã an vị cho mỗi người) là 1/3. Bây giờ, ta chia ra hai nhóm: nhóm có mỗi A và nhóm có con bài của hai người B, C. Rõ ràng nhóm của hai người B, C có xác suất có con Át Bích bằng 2/3. Nhìn hai lá bài của B, C và chọn ra lá khác Át Bích lật ra (xác suất bằng 1). Điều này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến xác suất của hai nhóm. Duy chỉ có điều, nhóm hai bây giờ chỉ còn một người và xác suất của anh ta tăng gấp đôi bằng 2/3. Trong khi đó nhóm 1 xác suất của A không đổi bằng 1/3.[4]\nTa lại tự đặt cho mình hai tình huống nữa:\n-Sau khi chia bài ta rút một con bài nào đó và lật ra. Nếu con bài đó không phải Át Bích thì xác suất của hai người còn lại bằng bao nhiêu? Trường hợp này, ta hoàn toàn không chọn gì cả và xác suất con bài bị lật là Át Bích vẫn bằng 1/3. Lúc này, ba con bài vẫn nằm trong một nhóm tính xác suất đồng nhất và bằng 1. Khi lật lá bài kia ra và phát hiện không phải Át Bích, xác suất của nhóm vẫn bằng 1, nhưng vì hai phần bài còn lại hoàn toàn tương đương nhau trong nhóm nên xác suất của chúng trở thành ½.\n-Sau khi chia bài, ta lại cầm lấy cả ba và lật một con bài không phải Át Bích ra. Lý luận tương tự trên ta cũng sẽ thấy xác suất của mỗi tay bài còn lại là Át bích bằng ½.\nHai trường hợp này có xác suất giống nhau và lý luận cũng giống nhau, vậy tại sao phải chia thành hai trường hợp??? Trường hợp nhất, ta cùng ba người chơi phó mặc cho số phận khi lật con bài kia ra. Cái reo vui của hai anh chàng còn lại vì được tăng xác suất đổi bằng cái sầu thảm của anh thứ ba. Và anh thứ ba không trách ta không kéo dài thời gian vui thêm một lúc. Việc ban phát buồn vui là của Thượng Đế. Trường hợp hai, chính ta chọn và ta lại ban cho hai anh này một niềm vui ngắn ngủi còn anh thứ ba một nỗi buồn. (nếu như có con Át Bích sẽ được 1000$ chẳng hạn). Việc ban phát buồn vui là việc của ta.[5]\n[1]. Cũng không cần thiết hai đầu đường. Nếu như một bến xe buýt có các số 01 chạy về nhà mẹ, 02 chạy về nhà cô giáo, 03 chạy về Nữ Hoàng và 04 chạy đến với người yêu, ta vẫn thiết lập được lịch trình và tính xác suất cụ thể cho từng trường hợp.\n[2]. Có người nói, nếu lý luận trên thì ai cũng chờ cho hai đối thủ của mình sát hại lẫn nhau, rồi đến lượt mình bắn chết người còn lại. Điều này đúng nhưng không dành cho Smit vì anh ta là người bắn trăm phát trăm trúng và đây là cuộc đấu súng nên anh ta không thể nhắm vào cột điện mà bắn được. Anh ta phải hạ sát người nào đó khi đến lượt. Và dẫn tới Brown cũng phải bắn vào Smit nếu có lượt trước Smit.\n[3]. Những lý luận trên có thể sẽ không đúng với trường hợp 4 hay nhiều hơn người. Chẳng hạn có cuộc đấu súng tay tứ và thêm anh chàng Holmes nào đấy với xác suất bắn trúng là 40%...thì xác suất sống sót mỗi người hoàn toàn khó tính. Vấn đề rất quan trọng là khi đấy, ta gặp một vòng lẩn quẩn. Tìm chiến thuật tối ưu xong tính xác suất. Nhưng khi tính toán xong ta mới nhận ra chiến thuật tối ưu như thế nào. Vì lẽ này, người giải cần tính toán tất cả các khả năng xảy ra và vạch ra chiến thuật tối ưu cho từng người. Một việc làm không dễ dàng. Mời quý vị độc giả thử xem.\n[4]. Ta có thể làm cho rõ hơn nữa qua ví dụ sau: Giả sử bốc được lá bài Át Bích sẽ được thưởng 1000$. Có một bộ bài Tây 52 lá, người A rút một lá vậy xác suất anh ta nhận được Át Bích bằng 1/52. A chưa lật bài ra, ta chọn trong 51 lá còn lại 50 lá không phải Át Bích lật ra. Vậy, xác suất của A có lá bài Át Bích là ½ chăng?! Hiển nhiên không đúng. 51 lá còn lại có xác suất là 51/52. Và vì lúc nào ta có thể tìm 50 lá trong 51 khác Át Bích nên chuyện lật hay không lật ra không ảnh hưởng đến xác suất hai nhóm. Ví thế A vẫn có xác suất 1/52 còn lá bài còn lại có xác suất là 51/52.\n[5]. Tất cả những trường hợp trên đều là những bài toán Đại số của xác suất mà thôi. Có lần, một anh bạn trẻ hỏi tôi: Có một bộ bài 52 lá, anh bốc một lá và chưa xem. Xong tôi bốc một lá, hỏi xác suất lá của tôi là Át Bích bằng bao nhiêu? Anh bạn lý luận: Nếu lá bài của anh là Át Bích thì xác suất của tôi có Át Bích bằng 0. Nếu lá bài của anh không phải là Át Bích thì xác suất lá bài của tôi là Át Bích bằng 1/51. Vậy tại sao xác suất lá bài của tôi là Át Bích bằng 1/52? Thực ra, khi nói đến việc bốc lá bài ra người ta nghĩ đến việc trừ những lá bốc rồi (kể cả khi chưa nhìn). Nếu ta xét một bàn quay có 52 ô, tôi đánh dấu một ô cho tôi còn anh bạn kia đánh dấu một ô cho anh ta và quay. Vậy xác suất kim vào đúng ô của tôi hay của anh bạn đều bằng 1/52. Ngoài ra, bản chất xác suất là bình quân các khả năng, ví dụ như trường hợp đấu súng tay ba người ta thấy John bắn trúng cũng như bắn trật. Khi thấy John bắn trúng 3 phát liền, như vậy mấy phát tiếp theo John phải bắn trật. Lý luận này không đúng theo tinh thần xác suất. Xác suất được tính trong một quá trình các trường hợp xảy ra khá nhiều và nó mang ý nghĩa bình quân. Chính vì thế, trở lại câu hỏi anh bạn trẻ, tôi đã trả lời anh ta: có mấy trường hợp tôi bốc con Át Bích-có một với xác suất bạn bốc Át Bích bằng 0. Vậy có mấy trường hợp tôi không bốc được con Át Bích- 51 với xác suất bạn bốc được Át Bích là 1/51. Khi ta chưa biết lá bài của tôi, muốn tính xác suất của bạn, ta phải tính bình quân tất cả các khả năng: (51 x 1/51 + 1 x 0)/52= 1/52.\nTrong phần một, chúng ta đã thấy nhiều khi, thay vì giải thích bằng phép thuật của các Đấng Tối Cao, nếu chịu khó một chút, ta có thể giải thích bằng Xác Suất. Nhưng liệu cái Xác Suất đó có phải Đấng Tối Cao không thì lại là chuyện khác. Có những thứ cứ ngẫm nghĩ thấy chỉ có Thượng Đế mới làm được thôi, nhưng cuối cùng cũng có thể giải thích bằng Xác Suất. Ví dụ, quỹ đạo của điện tử (electron) trong nguyên tử- các bạn thử tưởng tượng một anh chàng láo nháo, động đậy liên tục thế mà cũng chuyển động theo quỹ đạo. Khó tin quá!!! Các bạn đừng vội cho đó là quỹ đạo. Những hình vẽ được biểu diễn cho quỹ đạo của electron chẳng qua vùng biểu thị xác suất tìm thấy electron lớn nhất.\nỞ Việt Nam ta, những đức tính cao quý như Công, Dung, Ngôn, Hạnh vẫn được phụ nữ chúng ta gìn giữ một cách trân trọng. Thời buổi kinh tế thị trường, nhịp sống dường như nhanh hơn, hối hả hơn. Hậu quả của nó là người ta cảm thấy có nhu cầu sống gấp hơn, thực dụng hơn kể cả những liễu yếu đào tơ. Theo thống kê, số lượng các cặp vợ chồng ly hôn ở Mỹ là 54%, ở Nga 56%(cao nhất) mà nguyên nhân phần lớn là do bạo hành gia đình và ngoại tình. Thế nhưng, có những thống kê nhiều khi lại dẫn dắt chúng ta đến kết luận sai lầm trầm trọng:\nTheo thống kê cho thấy phần châu Âu của nước Nga (chỉ là ví dụ thôi), xác suất tìm người đàn ông ngoại tình lớn hơn người đàn bà ngoại tình với tỷ lệ 75 và 65% tương ứng, còn ở phần châu Á cũng vậy nhưng vì ảnh hưởng văn hoá Á Đông nên cũng ít đi chút đỉnh 30 và 20% tương ứng. Thế ở nước Nga, đàn ông nói chung ngoại tình hơn đàn bà chăng?\nTôi cam chắc với các bạn, không 100% thì 99,99% số người được hỏi sẽ bảo “hiển nhiên là vậy.”. Các bậc mày râu thì thở dài ngao ngán: “Mấy vị làm thống kê này chắc toàn phụ nữ hay sao ấy.”. Còn các bà thì chì chiết “Đấy nhé, còn chối không?. Con số thống kê rành rành nhé.”.\nẤy, đừng vội hoảng quí ông, và cũng đừng vội đe nghiến quí bà. Kể cả những con số chênh lệch khủng khiếp thế cũng không chứng tỏ ở nước Nga nói chung, người đàn ông ngoại tình hơn phụ nữ. Chỉ có điều, tất cả người được hỏi đã để cho những con số đánh lừa cảm giác của mình. Và chúng ta đã suy đoán vấn đề không như nó thế mà như nó có vẻ thế. Hay là, chúng ta đánh giá vấn đề theo cảm giác và phỏng đoán. Chúng ta thử tính toán một tý xem sao:\nĐặt a\n1 là số đấng mày râu phần châu Á nước Nga, a 2 là số quí ông ở phần châu Á ngoại tình. Và b 1, b 2 là số phái đẹp châu Á tương ứng.\nTương tự cho phần châu Âu nước Nga là c\n1, c 2 (quí ông) và d 1, d 2 (quí bà) tương ứng.\na\n2/a 1 = x%\nb\n2/b 1 = y%\nx>y\nc\n2/c 1 = z%\nd\n2/d 1 = t%\nz>t\nLiệu chúng ta có thể khẳng định:\n(a\n2 + c 2)/(a 1 + c 1) > (b 2 + d 2)/(b 1 + d 1)\nĐây là bài đại số sơ đẳng và các bạn có thể tìm ra vô số thí dụ để khẳng định điều ngược lại. Ngay cả đối với những thông số x=0.75, y=0.65, z=0.3, t=0.2 như đề bài. Ta lấy những con số sau:\na\n1 = 24.000.000, a 2 = 7.200.000\nb\n1 = 9.800.000, b 2 = 1.960.000\nc\n1 = 8.000.000, c 2 = 6.000.000\nd\n1 = 14.000.000 d 2 = 9.100.000\nNhư vậy, tổng số quí ông và quí bà là 32.000.000, 23.800.000 tương ứng. Và số các gentlemen và ladies phạm lời thề hôn nhân sẽ là 13.200.000, 11.060.000. Xác suất tìm thấy người đàn ông ngoại tình ở nước Nga là 41,25% và người phụ nữ ngoại tình lại là 46,47%!!!\nHay chúng ta muốn tạo nên khung cảnh đầy kịch tính hơn:\nXác suất tìm người đàn ông ngoại tình ở hai phần Á, Âu của nước Nga đều lớn hơn xác suất tìm thấy người phụ nữ ngoại tình là 10%. Liệu xác suất tìm thấy người đàn ông ngoại tình của toàn nước Nga có lớn hơn tìm thấy người phụ nữ ngoại tình. Hoàn toàn không chắc!!! Thậm chí, ngược lại có những thông số cho thấy những người phụ nữ vẫn ngoại tình hơn đàn ông như thường. Mà cũng lại hơn đến 10%!\nTa vẫn lấy x, y, z, t như trên và các thông số sau:\na\n1 = 28.000.000, a 2 = 8.400.000\nb\n1 = 9.000.000, b 2 = 1.800.000\nc\n1 = 8.000.000, c 2 = 6.000.000\nd\n1 = 18.000.000 d 2 = 11.700.000\nXác suất tìm thấy người đàn ông ngoại tình ở nước Nga là 40% và người phụ nữ ngoại tình lại là 50%!!!\nTrên đây, chúng tôi lấy ví dụ cho quí độc giả thấy có những thông số đánh lừa cảm giác chúng ta dẫn đến những kết luận sai lầm tai hại. Khi nói đến danh từ xác suất làm cho người ta dễ đơn giản hoá các thông số thành thông số duy nhất P(A) và P(B). Và lầm tưởng mình có thể cộng, trừ, so sánh chúng với nhau. Cũng không ít người trong các bạn cho rằng, những con số trên làm sao đánh lừa được người tính toán chuyên nghiệp. Đúng là như vậy, nhưng có những bài toán xác suất khi đọc điều kiện bài toán cứ ngỡ như tìm ra cách giải đúng nhất. Nhưng sau đấy sẽ có người khác chỉ cho chúng ta cách lý luận khác, cũng hợp lý không kém, đưa đến một đáp số khác Xin các bạn đọc đoạn trích dưới đây trong cuốn Mathematical puzzles and diversions của Martin Gardner:\n“Charles Sanders Pears có nói, chưa có một lãnh vực toán học nào mà người chuyên gia sai lầm dễ dãi như lý thuyết xác suất. Lịch sử đã khẳng định điều này. Ngay cả G. W. Leibniz cũng từng cho rằng khi tung hai con xúc xắc lên thì số lần nhận được 12(tổng số hai con xúc xắc cộng lại) cũng bằng số lần xuất hiện 11.\n…….\nThời này, lý thuyết xác suất cho những câu trả lời chính xác và rõ ràng với một yêu cầu: trong điều kiện bài toán phải xác định rõ ràng bằng phương pháp nào ta thử sự kiện ngẫu nhiên.”\nVà một thí dụ cổ điển nhất minh chứng cho tính không nhất quán của bài toán xác suất là bài toán sau:\nTại sao không dễ nhỉ?!. Chấm ba chấm trên tờ giấy trắng. Nối ba điểm lại theo từng cặp ta được một tam giác (xác suất bạn chọn ba điểm trên một đường thẳng hầu như bằng không). Chúng tôi không nói đến cách này, bạn thử làm thí nghiệm như dưới đây:\nBẻ một que (bằng gỗ) thành ba phần một cách ngẫu nhiên. Ba phần nhận được bạn thử tạo thành tam giác. Và tìm xác suất ba phần đó tạo thành hình tam giác.\nChúng ta cho rằng hai điểm cắt thanh gỗ được chọn rất ngẫu nhiên và nằm bất kỳ ở đâu trên thanh gỗ và độ dài thanh gỗ là 1 đơn vị. Vậy, các thanh OA, OB, OC có độ dài ngẫu nhiên trong khoảng [0,1]. Ta dựng hình tam giác đều có đường cao bằng 1. Chắc ai trong chúng ta đều chứng minh được “Cho điểm O trong tam giác đều. Tổng ba đoạn vuông góc từ O xuống ba cạnh tam giác bằng đường cao của tam giác.”. Vậy, bất kỳ ta bẻ như thế nào ta cũng dựng được điểm O trong tam giác lớn. Và bất kỳ điểm O ở đâu trong tam giác lớn ta cũng tìm được một cách bẻ (hay là hay chỗ bẻ) trên que gỗ. Điều này có nghĩa các điểm O ứng với các càch bẻ khác nhau lấp đầy tam giác lớn. Nhưng chỉ có phần trong tam giác nhỏ màu xanh là cho phép chúng ta dựng được hình tam giác (một cạnh không lớn hơn hai cạnh còn lại). Suy ra, xác suất bằng ¼.\nThế nhưng, trên thực tế khi nói đến động từ bẻ hai lần, ta có thể nghĩ như sau:\nĐầu tiên, ta bẻ ngẫu nhiên que gỗ thành hai phần. Sau đó, chọn một đoạn trong hai phần đó bẻ ra thành hai phần nữa. Tìm xác suất để ba phần này tạo thành hình tam giác.\nCó một ý kiến thế này: Lấy đoạn OA là đoạn nhỏ khi chia lần đầu tiên. Vậy O phải nằm trong ba phần dưới của tam giác to. Còn đoạn lớn bẻ ra hai phần (xác suất chọn được phần lớn để bẻ tiếp là ½). Như vậy, xác suất điểm O vào phần màu xanh là 1/3. Như vậy xác suất đề ra là 1/3 x ½ =1/6.\nTrên thực tế, cách tính trên hoàn toàn sai (theo sách đã dẫn, cách chứng minh này của một chuyên gia tên là Witvort đưa ra). Với hình vẽ trên, ta thấy các tam giác bằng nhau. Nhưng khi tính xác suất thì các tam giác trên hoàn toàn không bằng nhau tý nào cả!!! Khác với trường hợp một, các điểm đều được biểu thị cho một trạng thái bẻ của que và tất cả các điểm này có giá trị như nhau khi tính xác suất. Và “tổng tất cả trường hợp” để xét xác suất cho tất cả điểm O là tam giác lớn không thay đổi. Còn trường hợp hai, “tổng tất cả trường hợp” là đoạn MN thay đổi theo độ dài x của đoạn OA. X càng lớn thì MN càng nhỏ và trọng lượng từng trường hợp xảy ra trên MN càng lớn. Nói cách khác, các điểm O hoàn toàn không bình đẳng với nhau. Chúng đi kèm với xác suất xảy ra trên MN. [1] Vậy O càng lên trên thì giá trị để tính xác suất của nó càng lớn. Mà theo hình vẽ, càng lên trên đoạn màu xanh càng lớn, ngược lại đoạn màu đỏ càng nhỏ đi. Có nghĩa, trong tam giác màu xanh, trọng lượng xét xác suất tăng dần từ đỉnh đến đáy, còn tam giác màu đỏ lại giảm dần. Hai tam giác vì thế không thể nào bằng nhau về giá trị tính xác suất. Muốn tính xác suất của trường hợp hai, ta phải nhờ đến tích phân.\nVới một x nào đó, xác suất điểm O nằm trong phần màu xanh là x/(1-x). Ta lấy trung bình của tất cả xác suất này theo x biến thiên từ 0 đến ½. Giá trị đó bằng:\nVà phải tính thêm xác suất chọn được đoạn lớn để bẻ bằng ½ nữa, ta được kết quả 0,193 lớn hơn 1/6.\nXác suất ¼ như cách tính 1 có được (lớn hơn 0,193) vì ta tính xác suất bẻ lần thứ hai đúng vào phần lớn hơn không phải là ½ mà lớn hơn. Nó tỷ lệ thuận với độ dài của đoạn lớn. Và nếu ta đặt bài toán như sau:\nĐặt que gỗ vào máy chặt, chỉnh máy chặt sao cho khoảng di động của dao chạy theo đúng chiều dài của thanh gỗ. Mỗi lần chặt, máy chặt tự chọn ngẫu nhiên điểm chặt trong khoảng đó. Chặt hai lần được ba phần. Tìm xác suất sao cho ba phần đó lập được tam giác.\nVâng, thưa các bạn nếu bài toán như vậy thì xác suất chính xác bằng ¼.\nBài toán này đã gây khá nhiều tranh luận trong bạn bè chúng tôi. Khi chúngtôi giải thích tất cả những khúc mắc của nó, mọi người đều đồng ý như tôi đã viết trên. Thế nhưng, chúng tôi nhận được một lời giải thích khá hay của một anh bạn trẻ-và chúng tôi nghĩ đó là lời giải thích chu đáo, cặn kẽ:\n“Anh Vỹ thân mến!\nKhi dùng động từ bẻ thì chắc chúng ta tuyệt đối không thể dùng phương pháp một để giải, vì nó không toát lên ý nghĩa của từ bẻ. Cách một phù hợp hoàn toàn với bài toán máy chặt như anh đã giải thích. Thế nhưng, ngay cả cách hai tuy đúng nhưng không logic trên thực tế. Khi ta nói bẻ có nghĩa là chia cái gì đấy bằng tay ra hai phần. Nếu chia que gỗ ra chỉ hai phần thôi thì mọi việc đơn giản quá. Nhưng ở đây là chia ra ba phần, như vậy ta phải bẻ hai lần. Mà đã bẻ làm hai hay lớn hơn lần thì phải có trạng từ bổ ngữ thêm nữa: đó là bẻ các lần cách quãng hay bẻ liên tiếp. Cách giải hai phù hợp với bẻ hai lần cách quãng. Đúng hơn là: yêu cầu một người bẻ que gỗ. Sau đấy, ta cầm cả hai phần và chìa hai đầu (đã chỉnh cho bằng đầu để người kia không biết đâu là que dài) cho anh ta chọn. Chọn xong, anh ta bẻ đoạn đã chọn ra thành hai phần. Tìm xác suất sao cho ba đoạn nhận được có thể tạo thành tam giác. Như vậy, cách này có toát lên ý nghĩa của từ “bẻ” không?\nHay, người bẻ (trung thực trong cách bẻ ngẫu nhiên) chọn lựa cách bẻ hợp lý trên thực tế hơn. Anh ta bẻ ngẫu nhiên lần một trên que gỗ. Sau đó, tuỳ sở thích của từng người, anh ta thả rơi đoạn bên trái xuống (tay trái thả ra) trong khi tay phải vẫn nắm giữ đầu bên phải của que gỗ. Và tiếp tục bẻ tiếp phần còn lại trong tay phải ra hai phần một cách ngẫu nhiên. Tìm xác suất sao cho ba đoạn tạo thành tam giác.\nRõ ràng, cách bẻ này liên tiếp không dứt quãng và tiết kiệm thời gian cho người bẻ. Đồng thời, cách bẻ này toát lên ý nghĩa từ “bẻ” chân thật nhất. Xác suất tính được cũng bằng 0,193. Nhưng cách giải thích xác suất chọn thanh dài để bẻ bằng ½ hoàn toàn khác. Vì anh ta bẻ liên tiếp như thế, nên chỉ khi điểm bẻ của lần đầu anh ta chọn nằm trên nửa trái của que, thì phần bẻ tiếp theo mới là đoạn dài hơn được. Suy ra xác suất bằng ½.[2]\nThật là sai lầm khi nói đến tính không nhất quán của bài toán xác suất mà không đề cập đến bài toán Bertran (nhà toán học người Pháp Josep Bertran ), còn gọi là nghịch lý Bertran.\nDựng một cách ngẫu nhiên một đoạn thẳng (có hai điểm trên một vòng tròn cho trước). Tìm xác suất sao cho dây cung này lớn hơn độ dài của cạnh tam giác đều nội tiếp trong vòng tròn đó.\nĐể trả lời cho câu hỏi này, có rất nhiều lời giải. Dưới đây là ba lời giải cổ điển của nó:\nLời giải 1: Dây cung phải được bắt đầu từ một điểm nào đó trên vòng tròn. Ví dụ, điểm đó là điểm A như trên hình 7:\nTất cả các đường thẳng từ A quét hết một góc Pi, nhưng chỉ có những đường thẳng màu xanh tạo nên những dây cung lớn hơn cạnh của tam giác đều nội tiếp. Suy ra xác suất bằng 1/3. Ở bất kỳ điểm A nào đó trên vòng tròn đều có kết quả như vậy.\nLời giải 2: Bất kỳ điểm nào trong đường tròn có thể là trung điểm của một dây cung nào đó. Và ngược lại điểm đó chỉ là trung điểm của một dây cung duy nhất (trừ tâm vòng tròn).\nTừ hình 8, ta thấy chỉ có những đường thẳng có điểm giữa nằm trong vòng tròn nội tiếp tam giác đều mới có độ dài lớn hơn cạnh tam giác. Suy ra, xác suất bằng Diện tích vòng tròn nội tiếp/ Diện tích vòng tròn ngoại tiếp = ¼.\nLời giải 3: Không mất tính tổng quát, ta chỉ xét những dây cung song song với đường kính vòng tròn nào đấy (Các đường khác có thể nhận được nhờ quay). Chúng ta hoàn toàn thấy được tổng tất cả các đường bằng tổng tất cả các bộ đường song song như thế với các góc quay khác nhau. Nên ta chỉ cần xét một bộ đường song song là đủ.\nTất cả những đoạn thẳng nằm trong vùng màu xanh đều thoả mãn điều kiện. Suy ra xác xuất bằng ½.\nHầu hết tất cả các chuyên gia, qua các lời giải trên, đều cho rằng đề ra không chính xác. Tất cả xoay quanh cụm “dựng một cách ngẫu nhiên đoạn thẳng”. Dựng thế nào? Bằng cách gì? Ngẫu nhiên ra sao? Ngẫu nhiên nào ngẫu nhiên hơn?...\nDù ngôn ngữ có những lệch lạc với logic toán học, nhưng chúng tôi cho rằng ngay cả những lệch lạc đó cũng có giới hạn của nó. Chứ không thể dựng ngẫu nhiên một đoạn thẳng là ta có thể lấy một điểm trên vòng tròn rồi vẽ đường thẳng ngẫu nhiên. Có cái gì đó bất ổn!!!\nTa thử xem đoạn thẳng phải được dựng như thế nào? Theo đề toán việc chúng ta nhận được đoạn thẳng (dây cung) là hiển nhiên. Nói cách khác, cứ một lần thử nghiệm một cách ngẫu nhiên ta phải có một dây cung hay xác suất nhận được dây cung phải bằng 1. Rõ ràng, nếu thế phải có ít nhất một điểm trên mặt đường tròn nằm trên đường thẳng (đt mà từ đó ta có thể kéo dài cho nó cắt đường tròn tạo ra dây cung). Như vậy, việc tạo ra dây cung hiển nhiên một cách ngẫu nhiên có phải tương đương với một trong hai việc sau:\n1. Điểm bên ngoài và thước kẻ: Lấy ngẫu nhiên một điểm ngoài vòng tròn. Từ điểm này dựng hai tiếp tuyến với đường tròn. Đặt thước kẻ qua điểm đó và di động ngẫu nhiên trong góc tạo bởi hai tiếp tuyến. Chọn bất kỳ vị trí ngẫu nhiên của thước kẻ, dựng một đường thẳng cắt đường tròn, ta nhận dây cung.\n2. Điểm bên ngoài và điểm bên trong: Lấy một điểm ngẫu nhiên bên ngoài đường tròn, sau đó lấy một điểm ngẫu nhiên khác trong vòng tròn. Nối chúng lại, dựng được một dây cung.\n3. Điểm bên trong và thước vẽ: Lấy ngẫu nhiên một điểm trên mặt đường tròn, đặt cây thước vào điểm đó vẽ ngẫu nhiên một đường thẳng cắt vòng tròn tạo thành một dây cung. Kể cả phương pháp đặt ngẫu nhiên thước kẻ vào vòng tròn và kẻ cũng là một dạng của phép lấy dây cung này.\n4. Hai điểm và nối: Lấy một điểm trên mặt đường tròn và một điểm bất kỳ. Nối chúng lại tạo một đường thẳng cắt đường tròn ta nhận đươc một dây cung. Nếu điểm ngẫu nhiên sau nằm ngoài vòng tròn thì phép thử này lại giống phép 1 (giải thích dưới). Nên phép thử này chỉ như sau: lấy ngẫu nhiên hai điểm trên mặt vòng tròn. Nối hai điểm lại thành đường thẳng cắt đường tròn, ta nhận được dây cung.\nNhư vậy, có hai kiểu dựng chính: một điểm + thước kẻ, hai điểm và nối. Biểu diễn trên trục toạ độ, ta thấy cách một phụ thuộc vào toạ đoạ x, y và góc α, còn cách hai- toạ độ x, y và x\n1, y 1.\nChúng ta lưu ý, tuy từ toạ độ của hai điểm, ta cũng tìm được góc α, nhưng cách hai cho ta thêm một đại lượng nữa- đó là trọng lượng hay xác suất vẽ được đường thẳng qua (x,y) có góc α. Theo hình 10, cách dùng thước kẻ để vẽ chỉ cho ta thêm đại lượng ngẫu nhiên α, còn cách hai, để nhận được đường thẳng (x,y,α) ta có nhiều trường hợp các cặp [(x,y),(x\n1,y 1)] khác nhau. Nhưng xác suất nhận được chúng khác nhau. Khoảng chọn được các cặp điểm lớn thì xác suất lớn, khoảng chọn được nhỏ thì xác suất nhỏ.\nVí dụ, lời giải 1 chỉ dựa trên thông số α, bởi vì tuy có điểm trên đường tròn nhưng tất cả những điểm này tương đương nhau nên yếu tố x,y không đóng vai trò gì. Lại chọn điểm mà xác suất thấp nhất. Nhưng nếu thay vì chọn cách một, ta lại theo cách hai- tức ta điểm đầu tiên vẫn trên đường tròn nhưng điểm thứ hai lấy ngẫu nhiên trên mặt đường tròn. Lúc này, xác suất không phải 1/3 nữa mà bằng diện tích của phần màu xanh chia cho diện tích đường tròn (lớn hơn ½, trường hợp 2 phía dưới). Hoặc, lời giải 3 chỉ dựa vào thông số ngẫu nhiên duy nhất là y. Nhưng nếu ta đặt bài toán như sau:\nCho một điểm x, y trên mặt đường tròn, vẽ một đường song song với trục hoành tao trên đường tròn một dây cung. Tìm xác suất sao dây cung đó lớn hơn cạnh tam giác đều nội tiếp.\nBài này cũng có xác suất bằng diện tích phần màu xanh chia cho diện tích đường tròn (trường hợp 2 phía dưới). Chỉ có lời giải hai khá lập dị, nó dựa trên hai thông số ngẫu nhiên (x,y) và thông số α (rất quan trọng cho việc dựng đoạn thẳng ngẫu nhiên) được suy ra từ (x,y). Và cách dựng đường thẳng lại làm cho dây cung nhận được nhỏ nhất, nên trách sao xác suất chả nhỏ hơn nhiều!!!. Các bạn thử xem, vì sao về nguyên tắc lời giải 3 và lời giải 2 giống nhau, thế nhưng hai xác suất nhận được lại khác nhau?\nSo sánh các lời giải trên với các yếu tố ngẫu nhiên như đã vẽ trên hình 10, chúng ta thấy các lời giải chỉ dùng “tính ngẫu nhiên” một phần rất nhỏ. Hiển nhiên, khi tính ngẫu nhiên nhỏ thì người ta càng dễ đưa ra các lời giải khác nhau ứng với từng phần nhỏ ngẫu nhiên nhất định. Dẫn đến kết quả khác nhau xa nhau rất lớn. Và ba lời giải trên chẳng qua chỉ là những ví dụ khá độc đáo gây ấn tượng lớn cho độc giả (xác suất ½, 1/3, ¼), không hơn không kém. Chúng không thể được xem là những lời giải của bài toán Bertran. Bởi vì, chúng chưa làm toát lên tính ngẫu nhiên của đoạn thẳng. Dù, như chúng tôi viết ở trên, ngôn ngữ có những lệch lạc không đáp ứng với tính chính xác của toán học, nhưng những lệch lạc đó cũng phải có giới hạn của nó.\nVà khi các yếu tố ngẫu nhiên được đề cập đến nhiều, đề cập một cách tổng thể, thì kết quả nhận được không lệch nhau nhiều. Ta thử tính xem xác suất của các cách lấy ngẫu nhiên như tôi đã đề cập trên:\n1. Điểm bên ngoài và thước kẻ: Lấy ngẫu nhiên một điểm ngoài vòng tròn. Từ điểm này dựng hai tiếp tuyến với đường tròn. Đặt thước kẻ qua điểm đó và di động ngẫu nhiên trong góc tạo bởi hai tiếp tuyến. Chọn bất kỳ vị trí ngẫu nhiên của thước kẻ, dựng một đường thẳng cắt đường tròn, ta nhận dây cung.\nGọi l là độ dài từ tâm đến điểm ở ngoài đó. Từ hình vẽ 11, dễ thấy xác suất sao cho dây cung nhận được lớn hơn cạnh tam giác đều nội tiếp bằng góc màu xanh chia cho góc giữa hai tiếp tuyến. Hay bằng:\nVà lời giải 1, lời giải 3 dẫn ra trước đây chỉ là trường hợp con của bài toán này. Nếu l = ½, tức các điểm lấy bên ngoài nằm trên đường tròn (lời giải 1) thì thay vào công thức ta được 1/3. Nếu l = ∞ thì:\n,\nđây cũng chính là lời giải 3. Khi l tiến đến vô cùng, các đường thẳng vẽ được thành song song nhau. Hai góc trên đều bằng không, nhưng tỷ lệ của chúng lại bằng ½.\nVì điểm ngoài vòng tròn là ngẫu nhiên, vậy xác suất trong trường hợp này là trung bình của tất cả các trường hợp của l (từ 1/3 đến ½). Nhưng vì l tiến về vô cùng thì xác suất bằng ½ nên xác suất trung bình cũng bằng ½.\n2. Điểm bên ngoài và điểm bên trong: Lấy một điểm ngẫu nhiên bên ngoài đường tròn, sau đó lấy một điểm ngẫu nhiên khác trong vòng tròn. Nối chúng lại, dựng được một dây cung.\nTất cả những điểm trong vùng màu xanh thoả mãn điều kiện. Vậy xác suất dây cung lớn hơn cạnh tam giác sẽ không đổi dù điểm bên ngoài nằm ở đâu đi chăng nữa và bằng:\n3. Điểm bên trong và thước vẽ: Lấy ngẫu nhiên một điểm trên mặt đường tròn, đặt cây thước vào điểm đó vẽ ngẫu nhiên một đường thẳng cắt vòng tròn tạo thành một dây cung. Kể cả phương pháp đặt ngẫu nhiên thước kẻ vào vòng tròn và kẻ cũng là một dạng của phép lấy dây cung này.\nVà xác suất bằng:\n4. Hai điểm và nối: Lấy một điểm trên mặt đường tròn và một điểm bất kỳ. Nối chúng lại tạo một đường thẳng cắt đường tròn ta nhận đươc một dây cung. Nếu điểm ngẫu nhiên sau nằm ngoài vòng tròn thì phép thử này lại giống phép 1, bởi vì lúc đó tất cả các điểm quét hết các phần thoả mãn điều kiện và không thoả mãn đến vô cùng. Lúc đó tỷ lệ của vô cùng với vô cùng bằng tỷ lệ các góc. Và điều này hoàn toàn trùng với phép chọn ngẫu nhiên 3.\nNhư vậy phép thử này phần điểm bên trong với điểm bên ngoài ta không cần xét nữa (ở trường hợp 3). Ta chỉ xét trường hợp: lấy ngẫu nhiên hai điểm trên mặt vòng tròn. Nối hai điểm lại thành đường thẳng cắt đường tròn, ta nhận được dây cung.\nφ = 2arcsin(1/4l), α = π/2 – arcsin(1/4l), β = arcsin(1/4l) – π/6\nDiện tích cung OAB = 1/4(arcsin(1/4l)-π/6), tổng diện tích hai tam giác ORA, ORB = ½lsin(arcsin(1/4l)-π/6)=1/16[sqrt(3)-sqrt(16l\n2-1)]. Diện tích cung RAB =1/4(arcsin(1/4l)-π/6)- 1/16[sqrt(3)-sqrt(16l 2-1)]. Diện tích hai phần màu đỏ =π/4 – ½ arcsin(1/4l) – 1/8 sqrt(16l 2-1). Vậy, diện tích phần màu xanh = 1/2arcsin(1/4l)+1/8sqrt(16l 2-1). Xác suất để dây cung lớn hơn cạnh tam giác tại một l nào đó sẽ = [2arcsin(1/4l) +1/2sqrt(16l 2-1)]/π. Lấy trung bình của các xác suất này trong toàn mặt đường tròn (phần diện tích tam giác nội tiếp, xác suất bằng 1), ta được xác suất cho các điểm l ngẫu nhiên sẽ là:\nNhững bài toán xác suất hình học rất thú vị và hóc búa. Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn một bài toán khá hay sau:\nThuở sinh viên ở đất nước Nga xa xôi, lạnh giá, vào những dịp Tết, lũ lưu học sinh chúng tôi hay quay quần bên nhau trò chuyện về bánh chưng, bánh tét và hầu hết những hoài nhớ quê hương. Có một giao thừa như thế, tác giả bài viết này khi nhìn cô bạn cắt bánh gatô mà nhớ về những ngày thơ ấu. Hồi đó, mỗi khi đi chợ về, má thường cho ba đứa trẻ chúng tôi khi cái bánh, khi cây kẹo. Anh Hai chia ra làm ba phần (theo trí nhớ của tôi là khá đều), nhưng cô em Út bao giờ cũng giãy nãy lên: “Các anh khôn lắm, toàn cho em phần nhỏ nhất thôi.”. Anh Hai lại cấu của mình cho Út một tý nữa. (Cái bánh có nhiều nhặn gì cho cam!!!. Chắc vừa đủ để anh em chúng tôi phân biệt được nó là loại bánh gì trong “kho tàng bánh” rất ư phong phú của Việt Nam ta. Các bạn thử nhớ lại xem, ai mà không từng gặp trường hợp này).\nTrong giao thừa đó, chúng tôi có đưa ra bài toán:\nChia ngẫu nhiên một bánh hình vuông làm ba phần (các vết chia là đường thẳng). Tìm xác suất sao cho có ít nhất một phần nhỏ hơn ¼ cái bánh.\nBài toán vừa đưa ra đã gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi. Một cô bạn nói: “Cho dù bạn có cắt bằng cách nào đi chăng nữa thì ta cũng có thể ép ba phần đấy lại thành một dây bánh dài. Vậy bài toán gần như tương đương với việc ép bánh lại và cắt. Lúc này, để tìm xác suất thì không khó”. Vâng, nếu như vậy thì quả là dễ. Bài toán cũng khá gần với bài toán bẻ que gỗ như ở trên.\nThế nhưng, có người phản bác lại: “Cách cắt bánh bằng các đường song song với cạnh hoàn toàn không đồng nhất với cắt bằng các đường song song ngẫu nhiên.”\nSau đó, bạn ấy suy luận như sau: “Bất kỳ phần nào được ép của bạn thành dây khi chia thì nó chính xác có một cách như thế được diện tích như thế. Nhưng khi chia bánh có dạng vuông (hay hình nào đó) thì cũng một diện tích như thế có nhiều cách cắt khác nhau. Và quan trọng, diện tích khác nhau thì số cách cắt khác nhau. Nên không thể dùng phương pháp này tính xác suất được. Cách tính này tương đương việc dùng các đường song song với một cạnh nào đấy của bánh để chia. Nhưng có thể dùng phương pháp này để dự đoán xác suất gần đúng.”. Người khác lại bảo: “Bánh được cắt ra thì phải có điểm cắt tại các cạnh. Vậy, các điểm trên chu vi của bánh có vai trò ngẫu nhiên như nhau. Ví dụ, ta xét bài toán “Chia ngẫu nhiên bánh hình vuông thành hai phần, tìm xác suất sao cho có một phần nhỏ hơn 1/3.”. Cho điểm ban đầu để cắt là A (bao giờ cũng phải có điểm ban đầu. Do đó xác suất có điểm A bằng 1). Ngoài ra, không mất tính tổng quát, ta có thể cho A chỉ nằm trên một nửa của cạnh đó, bởi vì nếu nằm ở nửa ngược lại thì ta cũng có bộ cách cắt giống y như vậy nhưng nằm đối xứng gương với bộ cách cắt khi A ở phía bên kia. Tổng các số điểm B trên chu vi bánh để có thể từ A cắt thành đường AB bằng 3 (cho cạnh bánh bằng 1). Việc chúng ta là tìm hàm xác suất theo thông số x (đoạn từ góc bánh đến A).\nTừ hình 18, ta thấy nếu x<=1/3 thì xác suất sẽ là:\ncòn nếu x >1/3 thì xác suất bằng 7/9.\nTa lấy bình quân tất cả các xác suất này trong khoảng [0, ½], sẽ có được xác suất cần tìm. Còn bài toán hai nhát cắt cũng tương tự vậy, tuy có phức tạp hơn nhiều.”. Xác suất này bằng 0,773 trong khi nếu dùng cách ép và cắt thì xác suất sẽ là 0,667.\nẤy vậy mà, khi phân tích bài toán trên, chúng tôi nhận thấy rằng, cách cắt trên chỉ là một trong những cách suy diễn của động từ “chia” mà thôi. Tuy động từ “chia” nghe có vẻ êm ái vậy, nhưng trong trường hợp bài toán này, nó rất là thiếu sót. Cần phải thêm bổ từ trả lời cho câu hỏi “chia như thế nào?”. Cách giải trên, nghĩ kỹ chúng ta sẽ thấy nó giống như cách người ta cắt bánh chưng bằng lạt vậy. Một đầu dây lạt người ta tựa vào điểm ngẫu nhiên nào đấy trên một cạnh, còn đầu kia, người ta chọn bất kỳ điểm nào đó của ba cạnh còn lại để đặt vào. Sau đó luồn xuống dưới và rút. Sợi dây lạt sẽ cắt miếng bánh thành hai phần.\nCòn cắt bằng dao thì để tạo vết cắt, người ta thường tỳ dao vào một điểm nào đó trên chu vi bánh, sau đó xoay dao rồi ấn xuống. Cái ngẫu nhiên tạo ra được do cách chọn điểm đặt dao A, C và cách xoay dao hay góc xoay dao.\nPhương pháp chia bánh “bẻ” khác hơn: người ta đưa hai tay vào một điểm nào đấy trên mặt bánh, sau đó bẻ theo đường thẳng (cũng có góc xoay tay, ngay tại một chỗ ấn tay, cũng có nhiều cách nhận được đường thẳng “vết bẻ” khác nhau). Bẻ xong, chọn một trong hai (dĩ nhiên là ngẫu nhiên) và bẻ tiếp. Không giống như bằng lạt và dao, cách này cho phép vết hai bất kỳ ở đâu. Trong trường hợp lạt và dao, bánh để nguyên thì hai đường cắt không thể cắt nhau được vì như thế sẽ chia ra bốn phần chứ không phải là ba.\nMời các bạn tìm lời giải cho các cách cắt này. Mặc định rằng, các vết cắt vuông góc với mặt bánh.\nKhông, xin các bạn đừng nghĩ đó là “Long, Ly, Quy, Phượng”. Xác suất của cái Tứ Quý này bằng không. Hay nói đúng hơn nó bằng không trong thế giới thực của chúng ta. Ngoài Quy ra, thì các con vật khác đều do trí tưởng tượng của con người tạo nên. Biết đâu…chúng tồn tại trong thế giới khác?!. Tôi muốn nói đến Tứ Quý trong bài Tây 52 con bài kia. Khi đánh bài Tiến lên, Binh…, chúng ta ai ai cũng mừng khi trong bài của mình có bốn cây giống nhau về chất, ví dụ như bốn cây A, bốn cây K hay thậm chí bốn cây 3. Chắc nhiều người trong chúng ta đã không ít lần đặt câu hỏi: Vậy xác suất của Tứ Quý ta có thể nhận được là bao nhiêu? Và chính xác hơn ta đặt bài toán như sau:\nChia bộ bài Tây 52 cây thành bốn tay bài. Tìm xác suất sao cho có ít nhất một tay bài có Tứ Quý.\n“Có gì đâu!” có người nói, “ta cứ lấy một tay bài, vì xác suất có Tứ Quý trong các tay bài đều bằng nhau nên khi tính được xác suất một tay bài, ta nhân cho 4 thì được xác suất có ít nhất một tay bài có Tứ Quý.”. Sau đấy, bạn ấy trình bày cách như sau:\nXác suất một tay bài có Tứ Quý bằng xác suất tay bài đó có ít nhất một Tứ Quý trong 13 chất bài nhân cho 13. Bởi vì các xác suất có ít nhất Tứ Quý của một chất bài nào đó đều bằng nhau. Vậy có bao nhiêu cách để chia bài cho một tay bài:\nCó bao nhiêu cách có ví dụ như Tứ Quý A:\nVậy xác suất có ít nhất Tứ Quý A bằng 0,002641. Và xác suất có một Tứ Quý của bất kỳ một chất nào đó ở cả bốn tay bài bằng: 0,1373. Tức là cứ 7 lần chia sẽ có ít nhất một lần có Tứ Quý.\nCác bạn thân mến! Chúng ta dễ thấy trong lập luận trên có hai điểm không đúng:\nThứ nhất: Nếu tính xác suất của tay bài có ít nhất một Tứ Quý bằng 13 xác suất có ít nhất Tứ Quý A, ta thấy có điểm vô lý. Ví dụ khi ta tính có ít nhất Tứ Quý A thì ta đã quét hết các trường hợp có Tứ Quý A kể cả trường hợp vừa có Tứ Quý A vừa có Tứ Quý K. Đến khi cộng thêm các cách có Tứ Quý K vào ta lại một lần nữa tính các trường hợp vừa có Tứ Quý K vừa có Tứ Quý A.\nThứ hai: Tương tự như trên, ta không thể tính xác suất có Tứ Quý của bốn tay bài bằng bốn lần xác suất một tay bài. Bởi vì, khi tính tất cả các trường hợp có Tứ Quý A ở tay bài 1 đã tính trường hợp có xác suất Tứ Quý K ở tay bài 2. Nhưng đến khi tính tất cả trường hợp có Tứ Quý ở bài 2 đã tính luôn trường hợp có Tứ Quý A ở bài 1. Vậy ta tính thành ra hai lần.\nĐể giải bài này, ta vận dụng biểu đồ Venn. Ví dụ ta có ba tập hợp A, B, C. Tính tập AUBUC.\n\\\nTheo biểu đồ ta có thể tính được:\nAUBUC=A + B + C - A∩B - A∩C - B∩C + A∩B∩C\nCác bạn có thể tổng quát hoá lên cho n tập:\nA\n1UA 2U….UA n = ∑A i - ∑A i∩A j + ∑A i∩A j∩A k - ∑A i∩Aj∩A k∩A m + …..+(-1) n+1∑A 1∩A 2…∩A n\nVận dụng vào bài toán trên, ta gọi:\nA\ni: tập các trường hợp có ít nhất Tứ Quý i cho cả bốn tay bài.\nA\ni∩A j: tập các trường hợp có ít nhất Tứ Quý i và j cho cả bốn tay bài.\n….\nA\n( 12,i): tập các trường hợp có ít nhất 12 Tứ Quý trừ Tứ Quý i cho cả bốn tay bài.\nVới 11=J, 12=Q, 13=K.\nTa có thể chứng minh được, trong mỗi tầng kết hợp các tập bằng nhau: Ví dụ A\n1=A 2=…=A 13,\nA\n1∩A 2=A 2∩A 3=….\nLại thấy, mỗi lần chia ta nhận được bốn tay bài và chúng có thể hoán cho nhau thành 4! cách. Nên ta chỉ lấy một cách là đủ (bất kỳ trạng thái nào của bốn tay bài đều có 4! cách hoán vị như vậy.). Bởi vậy, số trường hợp thật sự khác nhau khi chia 52 cây bài thành 4 sẽ là:\nTa tính tất cả trường hợp có ít nhất một Tứ Quý X nào đó:\n∑(1 Tứ Quý):\nCách tính của bạn kia chính là lấy: ∑(1 Tứ Quý) chia cho tổng các trường hợp.\nTiếp tục, ta tính cho có ít nhất hai Tứ Quý X và Y nào đó:\nCách sắp xếp giữa X và Y sẽ là: X, Y cùng một tay bài, X, Y ở hai tay bài khác nhau:\nCó 12x13/2=78 cách cho hai Tứ Quý khác nhau. Suy ra,∑(2 Tứ Quí) bằng:\nChỉ số này chỉ làm giảm xác suất như đã tính xuống: 0,0096 thành 0,1277. Không đáng kể, và các thành phần sau còn nhỏ hơn rất nhiều. Nếu có nhã hứng, các bạn có thể tính cho trường hợp có 3 Tứ Quý và 4 Tứ Quí. Nhưng những thành phần này không đóng góp nhiều lắm để thay đổi xác suất nói trên. Chúng ta nhận thấy rằng, tuy cách ban đầu có sai sót, nhưng nó cũng rất gần với kết quả thật. Bởi vì, xác suất có hai tứ quí trong một lần chia bài rất nhỏ (1 trên 100). Và Tứ Quý hoàn toàn không khó như nhiều người lầm tưởng.[3], [4]\n1. Thực tế, ta không cần phải vẽ hình phức tạp làm gì. Ta thấy, khi bẻ nhát đầu tiên, có thể điểm bẻ nằm ở bất kỳ ở đâu trên que, nhưng không mất tính tổng quát ta cho nó nằm ở nửa bên trái. Vì nếu nằm bên phải cũng là th đối xứng gương mà thôi. Gọi x là độ dài đoạn nhỏ, x nằm trong khoảng[0,1/2], P(1-x)-xác suất bằng cách nào đó ta chọn được đoạn lớn để bẻ tiếp theo.\nVậy xác suất bẻ hai lần để tạo được tam giác tại một giá trị x bằng P(1-x)x/(1-x). Lấy trung bình đại lượng này trong khoảng [0,1/2] ta được xác suất cần tìm.\nTrong trường hợp máy chặt, ta có P(1-x)=1-x. Suy ra xác suất bằng:\nCòn trường hợp bẻ P(1-x)=1/2, và xác suất như đã tính.\n2. Nếu người bẻ lẫn lộn lung tung khi thả phần nào và cầm lại bẻ tiếp phần nào thì trên nguyên tắc xác suất bẻ được phần lớn hơn cũng chính là xác suất chọn một trong hai.\n3. Tôi sẽ viết một bài về các trò chơi bài Tây 52 lá. Trong đó, nói cụ thể các vấn đề này hơn.\n4. Sẽ có bạn hỏi “Thế, tác giả bài viết có chui vào bẫy không?”. Có, rất nhiều lần. Nhưng chúng tôi muốn nói các bạn rằng, những cạm bẫy là những hoa văn tuyệt mỹ tô điểm cho bức tranh xác suất tổng thể càng lung linh, càng huyền ảo hơn. Và chúng tôi bị mê hoặc bởi chúng. Cũng rất vui sướng vì điều đó.\nPhần 3: Cạm Bẫy cho những ai Đam Mê Cờ Bạc\nCờ bạc là bác thằng Bần\nNhà cửa bán hết, ra thân ăn mày.\nMượn hai câu đồng dao trên, tiền nhân chúng ta khuyên lớp hậu bối chúng ta đừng đam mê cờ bạc. Nó không có giúp ích gì cho chúng ta cả ngoại trừ tài sản chúng ta dần dần cuốn đi theo mây khói. Thế nhưng, ai hiểu được niềm đam mê…\nPhải nói dân châu Á chúng ta là những người đam mê bài bạc nhất. Những khách hàng hạng VIP của các sòng bạc ở Las-Vegas là những nhà tài phiệt Nhật Bản, những ông hoàng Ả rập, những tay tư sản mới nổi lên ở Trung Quốc. Và chúng ta cứ xem cái đà tham làm giàu của người Việt ta qua đánh đề, đánh cá cược bóng đá cũng rõ. Nỗi hy vọng vào ngày mai lên hương làm cho nhiều người mất lý trí đem tài sản đánh cược với ông Thần May mắn. Nếu cho anh gặp may đi, thì những người khác gặp cái xui. Anh được tiền thì người khác phải mất tiền chứ. Bởi vì, luật chơi bao giờ cũng đưa đến cho người cầm cái một phần xác suất thắng hiển nhiên. Ví dụ, chơi đề nếu anh đặt trúng hai số đuôi thì anh cũng chỉ ăn được gấp 70 lần thôi. Trong khi xác suất thắng của anh phải là 1/100. Người cầm cái chắc thắng được 30%. Nhiều người thua bạc lại bắt đầu đổ lỗi là bởi mình chưa làm cho Thần May hài lòng. Chắc mình chưa ăn ở với ổng tốt nên ổng không mỉm cười với mình. Và họ lao vào cúng bái, cầu khấn thiên về mê tín và trở thành con mồi cho bọn đồng cô bất lương. Giả sử rằng, anh A cúng thần của mình để xin được trúng số thì anh ta phải tin rằng thần của mình chắc chắn cao tay hơn các vị thần khác chứ. Chớ nếu không, anh B sẽ cúng thần khác nhiều tiền hơn để ông này vừa ra tay hoá giải phép thuật của các ông thần khác vừa làm cho kết quả xổ số ra đúng con số mà ổng đã mách trước với anh B. Và đánh đề qua cầu khấn chẳng qua là việc chọn trong số các ông thần ông nào cao tay hơn (cho rằng ổng không phân bì quà cáp ít hay nhiều. Chớ gặp ông phân bì nhiều hay ít thì chỉ có tiền mất tật mang). Và cái việc chọn này nó lại quay về lại với Xác Suất: “Tìm xác suất ta cầu được ông thần muốn giúp ta và với một món cúng vừa phải ổng chịu khó giải trừ được phép của các thần khác.”. Cái xác suất này còn rối hơn canh hẹ. Và rồi, … ngày ngày người ta lại chứng kiến kẻ cười người khóc và những người cầm cái vẫn thu nhập 30% đều đều. Không có vị thần nào làm điều như thế!!!\nCờ gian bạc lận.\nTrong một chuyến công tác ở Vladivostoc, chúng tôi bốn người đi dạo chợ phiên. Thấy một người đang bày ra trò chơi như vầy: Cho một viên bi vào một trong ba cái cốc đen. Úp ba cái cốc xuống để cho không ai nhìn thấy viên bi, nhưng lúc ban đầu vẫn thấy cái cốc có chứa viên bi. Di chuyển ba cốc không theo quy luật nào cả chỉ dựa vào nhanh tay. Sau đó, đề nghị mọi người đặt cược (trúng ăn 1/1) và chỉ ra cái cốc nào có viên bi. Xem ra, trò này là việc tỷ thí giữa cái nhanh tay của người chuyển ly và cái lẹ mắt của người đoán. Hầu hết những người tham dự đều quả quyết họ vẫn theo dõi được cái ly có chứa viên bi (vì người chuyển ly cũng cố tình làm điều đó). Thế nhưng, tất cả mọi người đều thua trong đó có anh bạn tôi. Lúc anh bạn tôi thua 100$, tôi đã khuyên anh ta thôi, nhưng không thành công. Vì anh ta muốn đánh tiếp và vì người ta doạ tôi hãy để anh ta yên mà … nộp tiền. Cuối cùng bạn tôi thua hết 800$. Anh cứ lẩm bẩm mãi, vì sao như thế, vì sao như thế.\nNgười ta hay nói: Đừng bảo một anh chàng đang uống rượu là anh say rồi, đừng chê anh chàng lái xe là tay nghề anh kém đi từ từ lại thôi và đừng khuyên anh chàng đánh bạc là anh đánh dở lắm nên thôi đi. Tất cả những lời này đều dẫn đến kết quả ngược lại. Tuy nhiên, tôi cũng ráng sức nói với anh ấy:\n-Nếu như bốn chúng ta đánh bài anh có hy vọng thắng chúng tôi không?\n-Không, xác suất thắng của bốn người bằng nhau. Vì tài chúng ta ngang ngửa nhau.\n-Nếu như, tôi, anh và hai người khác anh không biết hoàn toàn (có thể tôi biết) đánh bài anh tin tưởng mình thắng không?\n-Không, tôi đánh bài thì trung thực còn những người kia tôi không biết họ nên phải nghi ngờ về tính trung thực của họ. Nếu họ là những tay bài gian thì phần thua chắc chắn ở tôi.\n-Vậy khi anh chơi trò vừa rồi, người cầm cái vừa là người chuyên nghiệp-dùng phương thức này để kiếm ăn (trong trò chơi này tài hơn anh) vừa là người xa lạ với anh-mức độ trung tín làm sao kiểm chứng được thì có lẽ anh thấy phần thắng thua nằm ở đâu rồi. Tôi tin chắc có gian lận ở đây.\nAnh bạn tôi im lặng không trả lời.\nVề sau, tôi tìm hiểu và được biết viên bi đó làm bằng vật liệu xốp, mềm khi người cầm cái di chuyển ly có viên bi, anh ta lấy thành ly đè lên viên bi, ép nó xuống và viên bi dần dần được đưa ra ngoài. Ngón tay út vừa che vừa kẹp viên bi vào. Cũng như vậy, anh ta đưa viên bi vào ly khác. Bởi thế, anh ta cố tình di chuyển ba cái ly một cách từ từ cho mọi người tham dự thấy cái ly chứa viên bi, nhưng anh ta vẫn thắng. Vì viên bi đã nằm trong cái ly khác!!!\nMột dạng khác của trò chơi này như sau: Trong hai cái ly chứa con bài Át Cơ, còn cái ly còn lại chứa Át Bích. Các con bài đặt ngữa để khi giở cả ba ly ra, người ta thấy ngay chất bài. Người cầm cái di chuyển ba ly và yêu cầu người tham dự đoán con Át Bích sau khi di chuyển xong nằm trong ly nào. Người tham gia đoán vẫn thua!!! Bởi vì, theo anh bạn của tôi, cả ba con bài làm bằng chất liệu đàn hồi và nó có hai mặt Át Bích và Át Cơ. Khi di chuyển, người cầm cái dồn quân bài và dùng ngón út chận lại. Quân bài bị cong lên và bằng động tác hất thành thục, người cầm cái đảo lộn quân bài. Như thế, trong ly chứa Át Bích (mà trước khi chơi người cầm cái đã trình cho người chơi xem) sẽ được con Át Cơ. Và ngược lại một con Át Cơ ở ly nào đó sẽ được chuyển thành Át Bích. Như vậy, chả ai trong đám người tham dự đoán trúng ly nào có Át Bích, trừ những anh chàng cò mồi.[1]\nTrên đây, chỉ là một trong muôn vàn những ngón lừa đảo của các Thần Bài. Thế nhưng, có những trò chơi đỏ đen, người cầm cái lại lợi dụng cái cảm giác, cái phỏng đoán sai hay nói rõ hơn sự suy luận chưa thấu đáo của người chơi để trục lợi. Nhân câu chuyện, Át Bích, Át cơ, tôi xin giới thiệu với các bạn bài toán sau:\nVì sao không phải 1 ăn 1.\nCó ba con bài có hai mặt. Con bài thứ nhất cả hai mặt Át Cơ, con bài thứ hai cả hai mặt là Át Bích, con thứ ba một mặt là Át Cơ một mặt Át Bích. Người cái cho tất vào mũ và trộn đều. Bốc ngẫu nhiên một con bài và lật ngẫu nhiên một mặt cho cả hai cùng xem (ví dụ mặt thấy được là Át Cơ chẳng hạn). Lúc đó, người cái cá rằng con bài là con có hai mặt giống nhau.\nCái suy luận đầu tiên nhất và hiển hiện nhất của ta là: rõ ràng chỉ có hai con bài mang chất Át Cơ. Vậy xác suất con bài có hai mặt khác nhau là ½. Rõ ràng là 1 ăn 1. Thế thì ngại gì không chơi. Cuối cùng, ta sẽ thấy tiền của ta dần dần ra đi không hẹn ngày trở lại. Và nhiều người sẽ an ủi mình: “Hôm nay ra đường gặp mèo đen hay sao mà xui xẻo thế?” hay là “Chắc hôm nay đỏ tình thì bây giờ đen bạc là đúng rồi.”. Khoan vội đổ lỗi cho ông Thần May mắn. Ông ấy chỉ có lỗi với người cái khi đã ra luật vậy mà anh ta vẫn thua!!! Còn với ta, chúng ta thua là do ta đã phỏng đoán chứ không tính xác suất nghiêm túc. Bởi vì xác suất thắng của ta chỉ được 1/3 thôi. Khi ra con Át cơ thì có mấy trường hợp xảy ra:\n1. Át cơ của con bài hai mặt khác nhau.\n2. Át cơ của mặt trước con bài hai mặt giống nhau.\n3. Át cơ của mặt sau con bài hai mặt giống nhau.\nVà vì đảo và lật một cách ngẫu nhiên, nên ba cách hiện Át cơ này đều có xác suất bằng nhau. Suy ra xác suất con bài đấy là con Át Cơ-Át Bích là 1/3.\nNgười cái có thể dẫn dắt chúng ta vào mê cung hấp dẫn hơn, trong đó các điều kiện tưởng chừng rất ưu đãi cho người chơi. Có năm con xúc xắc. Hai con các mặt đầy đủ từ Nhất cho đến Lục. Ba con còn lại là mỗi con có 3 mặt một số (6 mặt chỉ có hai số thôi và các con này khác nhau như xúc xắc 1-2, xúc xắc 3-4 và xúc xắc 5-6). Người cái sẽ đảo năm con xúc xắc, bốc một con và lật ra một mặt của nó ra cho hai người cùng xem (ví dụ ta thấy đó là Nhất). Sau đó anh ta cá: “Con xúc xắc có 6 mặt chỉ hai số thôi”. Dĩ nhiên, để thêm phần thuyết phục anh ta mồi thêm tý dầu hâm nóng máu đam mê của ta: “Chỉ có ba con có thể cho ra mặt Nhất được. Mà hai con đã là những con có 6 mặt khác nhau. Vậy xác suất là 2/3. Xác suất thắng của bạn là 2:1 còn chờ đợi gì?”.\nNếu như ta lại tiếp tục phỏng đoán theo cảm giác thì cũng như trường hợp trên hầu bao chúng ta không chóng thì chầy cũng bốc hơi. Bởi vì, tương tự như trên, tỷ suất thắng của người cái đối với ta là 3:2.[2]\nPhép lạ chăng?\nTrong phần một chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn khả năng chiến thắng kẻ mạnh, nhưng chiến thắng ngược như thế này thật là không tưởng:\nTrong cuốn Time Travel and Other Mathematical Bewilderments, M. Gardner có giới thiệu paradox K.Blait như sau:\nCó ba bàn quay như hình vẽ dưới đây. Bàn quay thứ nhất (bàn A) số ba 100%, thứ hai (bàn B): số 2 56%, số 4 và 6 mỗi số chiếm 22%, thứ ba (bàn C): số 1-51% và số 5-49%. Luật chơi: Mỗi người quay ngẫu nhiên bàn của mình. Số nhận dược của ai lớn hơn thì người ấy thắng. Khi chơi hai người, ta sẽ nhận thấy người chọn bàn A thắng người chọn B 56/44 và thắng người chọn C 51/49. Người chọn bàn B sẽ thắng người chọn bàn C với xác suất (1x0,22) + (0,22x0,51) + (0,56x0,51)=0,6178 hay theo tỷ lệ 6,178/3,822. Vậy khi chơi hai người thì A là tốt nhất và C là xấu nhất. Nếu chơi ba người với luật chơi-người thắng phải có số lớn hơn số của hai người kia-thì bạn sẽ chọn bàn quay nào???\nCó lẽ khi được phân tích ngon ngọt như vậy thì không ít người trong chúng ta quả quyết : “Tôi chọn bàn quay A.”. Và bàn quay C để lại chơ vơ cho người thách đố. Kể cả khi ta tung xúc xắc để được quyền ưu tiên chọn trước thì chả ai dại gì chọn C. Vậy anh chàng vớ phải quả “bồ hòn” C chắc thê lương lắm chăng? Không phải vậy. Ngược lại, quý vị đã hoàn toàn trúng bẫy!!!\nNếu tính toán cẩn thận, ta lại thấy khi chơi ba người bàn A là bàn tồi tệ nhất và bàn C lại cho ta chiến thắng tốt nhất!!! Cũng không có gì bác học lắm, ta có thể tính ngay xác suất thắng của anh chọn A. A chiến thắng khi kim quay của B vào số 2 và kim quay của C vào số 1. Vậy xác suất thắng của A là 0,56x0,51 = 0,2856. Còn B chiến thắng khi kim quay của B vào 6 hoặc 4 đồng thời kim quay C vào 1 hoặc kim quay của B chỉ vào 6 còn kim quay của C vào 5. Ta có thể tính xác suất thắng của B (0,44x0,51) + (0,22x0,49)=0,3322. Còn C chiến thắng khi kim quay của C vào 5 đồng thời kim quay B vào 4 hoặc 2 và xác suất là 0,49x0,78=0,3822.\nVà 3/6 không bằng ½???\nChắc không ít người trong chúng ta cảm thấy bàng hoàng khi biết rằng có những thứ-đã có thời là một phần máu thịt mình- mất đi vĩnh viễn. Có lúc, ta lại thảng thốt, ngẩn ngơ ngơ ngẩn tự vấn đến buốt lòng như nhà thơ Vũ Đình Liên:\nÔng đồ\nMỗi năm hoa đào nở\nLại thấy ông đồ già\nBày mực tàu, giấy đỏ\nBên phố đông người qua\n……\nNăm nay đào lại nở\nKhông thấy ông đồ xưa\nNhững người muôn năm cũ\nHồn ở đâu bây giờ?\nĐáng kể nhất trong những hoài niệm của tôi về thời thơ ấu là những trò chơi cỏn con. Có một trò chơi dính dáng nhiều đến Xác suất là trò Bầu Cua Tôm Cá. Hồi nhỏ, cứ mỗi độ Tết về, chúng tôi được mang đồ mới đi du xuân. Cứ đến gốc đa là thấy có mấy cậu bé xếp dưới đất tấm giấy có vẽ Bầu, Cua, Tôm, Cá…để tổ chức chơi ăn tiền cho vui (ngay quan niệm chơi cho vui lúc bấy giờ cũng hoàn toàn khác hẳn bây giờ.). Sẵn có ít đồng được ba má lì xì, tôi thường đặt hú hoạ để gọi là có chơi. Tôi nhớ tôi thích nhất cái Bầu. Bây giờ, không còn thấy người ta bày trò đó nữa. Trò đấy cụ thể như thế này:\nCó ba quân xúc xắc 6 mặt. Mỗi mặt vẽ một vật nào đó, thí dụ như: Bầu, Cua, Tôm, Cá,… (một mặt còn lại là Gà, còn mặt kia tôi quên mất rồi…). Người chơi đặt tiền vào một hay nhiều ô (được vẽ hình vật trong xúc xắc lên trên tờ giấy) nào đó. Nếu khi xúc xắc được mở ra có 1 quân trùng với ô được đặt thì người cầm cái trả 1 lần số tiền đặt. Nếu ra hai quân trùng thì trả hai lần. Ra ba trả ba lần.\nCó thể nói, xác suất đã đồng hành với chúng ta từ thuở ấu thơ. Nó ăn sâu vào tiềm thức của chúng ta như thể cộng, trừ, nhân và chia vậy. Lúc đó, tôi còn nhớ tôi luận đơn giản như thế này: “Nếu lấy đồng tiền tung lên, ta đặt một trong hai mặt (Tiền và Lúa) thì rõ ràng 1 ăn một. Vậy ở đây ba quân sáu mặt. Thì chắc cơ hội thắng thua cũng đồng đều ½.”. Khi học trung học, lại lý luận như vầy: xác suất ra một vật gì đó là 1/6. Có ba quân xúc xắc. Vậy ta có ba cơ hội để thực nghiệm điều đó. Suy ra, xác suất ra vật đó bằng ½.\nHay chúng ta cùng xét sâu hơn một tý nữa: có 216 trường hợp xảy ra. Đặt ví dụ, ta chọn Bầu. Vậy có: 75 trường hợp ra một con Bầu,15 trường hợp ra hai con Bầu và 1 trường hợp ra ba con Bầu. Tổng cộng có thể có đến 91 trường hợp ra Bầu. Đúng là khi chỉ xét sự xuất hiện của con Bầu làm chuẩn thì chỉ có 91 trường hợp thôi. Nhưng nếu kết hợp cả thể lệ trả thưởng thì trong 91 trường hợp mang đến cho ta 108 đồng trong 216 đồng đặt cược. Điểm chết là chỗ này. Khi học xác suất xong, ai ai cũng dễ tính ra đến đây nhưng cảm giác lại dắt ta đến sai lầm. Ờ thì rõ ràng 108/216=1/2 vậy xác suất ta thắng ½ cũng như trường hợp chơi đồng tiền hai mặt thôi. Cơ may ngang ngửa cho cả người chơi và người cầm cái. Ấy vậy, chúng ta chú ý một chi tiết nhỏ: trong 216 trường hợp ta thua đến 125 trường hợp mất 125 đồng. Ta thắng trong 91 trường hợp thắng được 108 đồng. Vậy tỷ lệ thắng của ta với người cầm cái sẽ là 108/125 chớ không phải 1/1!!! Và vậy là, một trò chơi cứ ngỡ tỷ lệ thắng thua hoàn toàn bằng nhau, nhưng lại thành người cái bao giờ cũng hưởng lợi gần 20%.[3]\nĂn gian thế nào được?\nCó một lần, tác giả bài viết đi chơi với anh bạn. Ngồi chầu rìa xem anh ta đánh bài binh(sập xám chướng) với ba người nữa. Tôi hoàn toàn không tán thành những trò chơi ăn tiền sát phạt nhau. Nên khi xem, tôi hỏi cặn kẽ anh bạn, liệu có thể ăn gian được không? Anh bạn trả lời: “Không thể. Bởi vì, người chia bài chia ba ván. Khi chia bài xong, thì một trong ba người (theo thứ tự mỗi người một ván) tung hai con xúc xắc (Nhất:Lục). Và cộng lại theo luật Sinh(1), Lão(2), Bệnh(3), Tử(4) mà lấy tụ bài. (Tức là, nếu tổng hai con xúc xắc chia cho 4 thừa ra 1 thì bài người chia sẽ là tụ bài ngay trước mặt anh ta, còn thừa 2 thì anh ta bốc tụ người kế bên phải, thừa ra 3-tụ đối diện, không thừa-tụ bên trái. Ba người còn lại cứ theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ tính từ tụ bài của người cầm cái mà bốc.).”. Anh lại nhấn mạnh: “Theo luật này thì người cầm cái không dám chia bài đẹp vào một tụ nào được. Vì anh ta không biết kết quả của hai con xúc xắc ra sao.”.\nKhi nghiên cứu về cách thức chơi binh và thể lệ chia bài trên, tôi đã phát hiện ra bạn tôi đã sai lầm kinh khủng. Và vì ít gặp nhau nên tôi cũng không có cách nào giải thích cho anh được. Nhân đây, qua Vietsciences tôi xin trình bày những sai lầm trong lý luận của bạn tôi để cho nhiều người khác rút kinh nghiệm và rời xa những trò bài bạc tai hại.\nTrước tiên, tôi xin giải thích về cách chơi Binh (xập xám). Nguyên thuỷ từ xập xám tiếng Hán là thập tam, tức 13. Có nghĩa mỗi người sở hữu 13 cây bài trong 52 cây bài Tây. Tại sao gọi là Binh? Vì người chơi cần chia 13 cây của mình thành ba chi: chi đầu 3 cây, chi giữa 5 cây và chi cuối 5 cây. Sao cho ba chi đó được xếp theo “độ mạnh” lớn dần về cuối. Chi đầu giống như Lính-yếu, giữa Tướng-mạnh hơn và Vua-mạnh nhất.\nĐộ mạnh được xét theo thứ tự sau: Thùng phé sảnh (một sảnh đồng chất), Tứ quý (bốn quân bài giống số nhau), Cù lũ (ba cây cùng số và một đôi), Thùng (đồng chất), Sảnh (5 cây có số liền nhau. Trong đó con Át có thể tạo thành hai sảnh Át,2,3,4,5 và 10,J,Q,K, Át. Sảnh lớn nhất là 10,J,Q,K, Át, lớn nhì Át,2,3,4,5, xong đến 9,10,J,Q,K…Không có sảnh J,Q,K, Át,2 đến K, Át,2,3,4.), Xám (ba cây giống số), Thú (hai đôi), Dách (một đôi), Mậu (không xếp được gì cả). Trong các phạm trù chi kể trên thì các chi đồng phạm trù độ mạnh được so sánh bằng từng quân bài ưu tiên theo thứ tự ba cây, một đôi và quân riêng lẻ. Ví dụ chi có 3 cây 5 và đôi 3 lớn hơn chi có 3 cây 4 và đôi 9. Hoặc 10,J,Q,K,A cơ cả lớn hơn 9,10,J,Q,K bích cả. Hay Hai Đôi 99 và 55 mạnh hơn Hai Đôi 88 và 77. Hay Hai Đôi 99 + 55 +J lớn hơn Hai Đôi 99+55+8. Hay A,K,10,9,8 chất cơ lớn hơn A,Q,J,10,9 chất rô…\nMậu Binh (không phải binh, thắng luôn). Trong trường hợp chơi binh chi thì các loại sau đây được Mậu Binh: Tay bài 13 cây có 6 đôi (như vậy nếu có tay bài 5 đôi và ba cây vẫn được gọi là Mậu Binh). Tay bài khi chia các chi sẽ nhận được ba Sảnh hoặc ba Thùng cả. Tay bài có 5 đôi liền nhau. Đây là bốn loại Mậu Binh thường. Có những Mậu Binh đặc biệt như sau: Tay bài chỉ có một cái Xám không đôi nào nữa và cũng không thể tạo ra một Sảnh hoặc Thùng nào. Tay bài có mỗi hai đôi cũng không tạo ra được Sảnh hoặc Thùng nào. Tay bài có 12 quân một màu, 13 quân một màu. Tay bài có các quân từ Át đến K. Trong trường hợp binh tụ thì có thêm các trường hợp: tay bài có Tứ Quý hoặc có Thùng Phé Sảnh.\nCách chơi: Có hai cách chơi: binh tụ và binh chi. Binh tụ: một người làm cái, ba người chơi. Những người chơi được phép đặt một số tiền nào đó. Nếu người chơi thắng cái hai trong ba chi thì anh ta thắng, người cái phải trả cho người chơi số tiền mà anh ta đặt ban đầu. Hoặc ngược lại. Trừ trường hợp Mậu Binh. Người chơi có Mậu Binh thì tuyên bố, nếu cái không có Mậu Binh cái thua, nếu cái có thì Hoà. Binh chi: Có một người chia bài (mỗi người chia ba ván luân phiên nhau), người chia có lợi một chút là khi có chi nào của anh ta đọ với chi đối phương mà bằng nhau về độ mạnh thì chi đấy anh ta được thắng. Trong binh chi bốn người chơi đọ với nhau và một chi được quy định là một đơn vị tiền tệ nào đó. Ví dụ, mỗi chi 5$ chẳng hạn.\nTính thắng thua: Để hạn chế bớt, ở đây tôi chỉ nêu lên cách tính chi khi chơi Binh Chi thôi. Các chi của bốn người chơi được đọ lẫn nhau theo trình tự: chi đầu đọ với nhau, chi giữa đọ với nhau và chi cuối cũng thế. Không được phép đọ chi giữa với chi đầu hoặc đọ chi cuối với chi giữa. Nếu ai có Xám ở chi đầu thì được tính thắng những người không có là 3 chi, nếu có hai người có Xám đầu thì hai người còn lại cũng thua hai người kia mỗi người ba chi như thế, nhưng người có Xám nhỏ hơn lại thua người có Xám lớn hơn là 6 chi. Nếu ai có Tứ quý chi cuối thì được thắng 4 chi ở chi cuối, nếu hai Tứ Quý đụng nhau thì Tứ Quý nhỏ hơn thua 8 chi. Nếu ai có Tứ Quý chi giữa thì được thắng 8 chi ở chi giữa. Nếu ai có Thùng Phé Sảnh ở chi cuối thì thắng 5 chi, nếu đụng nhau thì Thùng Phé Sảnh nhỏ hơn thua 10 chi. Ai có Thùng Phé Sảnh giữa được tính thắng 10 chi. Nếu ai có Cù lũ giữa được tính thắng 2 chi nhưng nếu đụng nhau ở giữa thì Cù lũ nhỏ hơn bị thua 4 chi. Đó là những tay bài đặc biệt. Còn bình thường thì nếu độ mạnh lớn hơn thì thắng 1 chi. Bài Mậu Binh thường thì không tính chi nữa mà tính chung cuộc thắng mỗi người còn lại 3 chi. Nếu hai bài Mậu Binh thì Hoà. Vậy khi Binh chi nếu ai đó có Thùng Phé Sảnh anh ta phải binh và vẫn thua người có Mậu Binh 3 chi. Trường hợp có Mậu Binh đặc biệt thì Mậu Binh đặc biệt thắng Mậu Binh thường. Xám hoặc Hai đôi không thể có Sảnh hoặc Thùng thắng mỗi nhà 6 chi. 12 quân cùng màu thắng 12 chi, 13 quân cùng màu thắng 13 chi. Tay bài từ Át đến K thắng mỗi nhà 26 chi.\nSập hầm: Có nơi chơi Sập hầm trực tiếp. Nếu thắng ai đó 3 chi cả thì được nhân số chi thắng lên gấp đôi. Ví dụ một người có bài chi cuối Thùng Phé Sảnh, chi giữa Thùng và chi đầu đôi Át, còn người khác có cuối: Cù lũ, giữa Xám, Đầu đôi K thì tính như sau: Cuối thắng 5, giữa thắng 1, đầu thắng 1. Vị chi là 7 và được nhân đôi thành ra 14 chi. Sập hầm cả làng: Nếu người nào thắng cả ba nhà còn lại cả ba chi thì người đó ngoài số chi tính trên bài còn được thưởng thêm a chi (ví dụ 3 hoặc 5) mỗi người. Có số nơi chơi Gà thì anh ta sẽ ăn luôn gà.\nGà: Mỗi ván chơi, mỗi người chơi nộp vào số chi quy định nào đó (ví dụ 1) vào quỹ chung. Đến khi có ai thắng Sập hầm cả làng thì anh ta sẽ ăn Gà đó.\nBài Binh còn hay gọi là Xám Chướng vì nó đúng là …Chướng. Có những phép Toán học có tính bắc cầu như sau: A>B, B>C thì suy ra A>C. Thế nhưng, trong trò Binh thì có những tình huống mà A>B, B>C, C lại lớn hơn A[4]. Chúng ta xem thí dụ sau:\nRõ ràng, ta thấy 1 thắng 2, 2 lại thắng 3, nhưng 3 lại thắng 1!!! Chính điểm chướng này và cách chơi biến hoá của bài Binh tạo nên chiến thuật chơi tối ưu của các Thần Bài (khi anh ta đã biết mười mươi những quân bài của người khác). Như trường hợp trên, người thứ hai không binh kiểu đó mà theo kiểu:\nLúc này 2 sẽ thắng cả 1 lẫn 3, mỗi người một chi.\nTrở lại điểm sai của anh bạn tôi.\nThứ nhất, kể cả khi người chia bài cố tình chia một bài đẹp đi thì anh ta vẫn có xác suất thắng hơn các người còn lại. Ta thử tính xem có bao nhiêu kết quả khi tung hai con xúc xắc:\nMod 4=1: 1-4, 4-1, 2-3, 3-2, 3-6, 6-3, 4-5, 5-4: 8 trường hợp.\n=2: 1-1, 1-5, 5-1, 2-4, 4-2, 3-3, 4-6, 6-4, 5-5: 9 trường hợp.\n=3: 1-2, 2-1, 1-6, 6-1, 2-5, 5-2, 3-4, 4-3, 5-6, 6-5: 10 trường hợp.\n=0: 1-3, 3-1, 2-2, 2-6, 6-2, 3-5, 5-3, 4-4, 6-6: 9 trường hợp.\nVậy nếu anh ta chia bài đẹp vào tụ đối diện thì cơ hội tụ bài đấy của anh ta lớn hơn của các người khác hơn 10%. Đấy chưa kể bao nhiêu trường hợp anh ta có thể phân bố bài như thế nào đó cộng thêm biết bài người với tâm lý đánh của họ, anh ta sẽ có chiến thuật tối ưu. Và lúc nào cũng có thể thắng.\nThứ hai, người chia bài (ăn gian) không chia một bài đẹp mà chia bốn tụ bài có những yếu tố ràng buộc nhất định để anh ta thủ thắng. Hay chia bốn tay bài làm sao dù bốc đúng bài nào anh ta cũng có thể thắng. Nghe lạ tai quá chăng, bạn không tin ư? Vậy đây, mời các bạn thưởng lãm:\nTa thử tính cho trò chơi không Gà và không Sập hầm trực tiếp. Khi Sập hầm cả làng thì được cộng thêm 6 chi.\nVí dụ 1: Người chia bài (ăn gian) chia tụ thứ nhất vào đối diện với mình còn các tụ còn lại phân bố như thế nào cũng được. Theo những logic bình thường nhất thì các tụ bài được binh như hình vẽ. Tôi đã chọn những ví dụ sao cho khó có thể có cách binh khác.\n-Nếu tung hai xúc xắc ra kết quả mod 4 = 3 thì, người chia bài (ăn gian) sẽ binh theo cách trên. Và các bạn binh của anh ta vẫn binh bình thường (họ không ăn gian nên đánh theo khinh nghiệm binh bình thường nhất). Cuối cùng người ăn gian thắng Sập hầm cà làng. Mỗi người thua anh ta: chi đầu 3, chi giữa 1, chi cuối 1 và 6 chi thưởng. Vị chi cả thảy 11 chi mỗi người.\n-Nếu tung ra kết quả mod 4 # 3 thì anh ta chỉ đơn giản binh như sau: tụ 2: binh Thùng cơ ở dưới; tụ 3 bình Sảnh 10, J, Q, K, A ở chi cuối; tụ 4 binh Thùng Bích ở chi cuối. Cả ba trường hợp anh ta đều bỏ hai chi đầu và giữa. Thủ chắc chi dưới, chỉ nhằm mục đích thắng được Sảnh 2, 3, 4, 5, 6 của người bốc được tụ 1. Cần hiểu rằng, người bình thường chả ai đánh như thế này cả!!! Còn anh ta cứ tưởng binh dở hoá ra cứu làng một phen Sập hầm. Cuối cùng, cả ba trường hợp còn lại anh ta sẽ thua 5 chi. Chú ý, khi bốc được tụ 4, nếu binh bình thường thì anh ta thắng 2-1 chi, thắng 3-3chi nhưng bị Sập Hầm cả làng mất 11 chi. Vị chi vẫn thua 7 chi. Không lợi bằng khi binh kiểu “tưởng chừng ngờ nghệch” trên. Chỉ có những người biết bài người khác mới đánh như thế này.\nCuối cùng, ta thử bình quân xem anh ta vẫn thắng cho kiểu chia bài này bao nhiêu một lần: 33x10/36+(-5)26/36=5,5555 chi.\nNhưng bạn có thể phản đối: “vẫn có xác suất 26/36 anh ta thua”. Chờ đến lúc chia tiếp theo thì đã muộn. Bạn thích ví dụ anh ta thắng trong tất cả các trường hợp? Ta tiếp tục xem ví dụ dưới đây.\nVí dụ 2: Người chia bài chia tụ thứ nhất vào chỗ đối diện, còn các tụ khác tuỳ ý. Theo logic binh bình thường thì cách binh đúng đắn nhất ở hình vẽ. Riêng tụ bài 1 có thể binh theo cách 1 hoặc 1’. Cách 1’ về nguyên tắc chi cuối gần bằng cách 1, chi giữa nhỏ hơn cách 1 nhiều, nhưng đổi lại chi đầu lại lớn hơn cách 1. Vậy hai cách 1, 1’ mạnh gần tương đương nhau và tụ bài 1 thực chất chả là tụ bài đẹp.\n-Nếu tung hai xúc xắc ra kết quả mod 4 = 3 thì, người chia bài (ăn gian) sẽ binh theo cách 1. Và các bạn binh của anh ta vẫn binh bình thường. Cuối cùng người ăn gian thắng Sập hầm cà làng. Mỗi người thua anh ta: chi đầu 1, chi giữa 1, chi cuối 1 và 6 chi thưởng. Cả thảy 9 chi mỗi người.\n-Nếu tung xúc xắc mà người chia phải lấy tụ 2, 3, 4 thì anh ta binh theo cách 2’, 3’, 4’ tương ứng. Những cách không thể nào hợp với logic binh bình thường. Các người khác vẫn theo cách binh hợp logic (1(1’), 2, 3, 4). Nếu ai đó có tụ 1 binh theo kiểu 1, anh ta sẽ thắng mỗi nhà 1 chi, còn binh theo cách 1’, anh ta thắng chung cuộc 1 chi. Cho rằng xác suất người kia chọn 1 hay 1’ bằng nhau thì bình quân anh ta thắng 2 chi khi đã tính điểm với các nhà.\nCuối cùng, bình quân anh ta thắng trong trận này là 27x10/36 +2x26/36=8,944 chi.\nNhưng đã đến cực điểm của sự ăn gian chưa? Chưa đâu các bạn. Ta vẫn có thể chọn bài mà khi người chia bốc đúng tụ một, anh ta ăn Sập hầm cả làng, tụ hai-anh ta thua người có tụ một 1 chi nhưng thắng sập hầm hai người còn lại, còn nếu anh ta được tụ ba hay bốn anh ta thắng mỗi người một chi.\nVí dụ 3: Người chia bài chia tụ thứ nhất vào chỗ đối diện, tụ hai chia ở một trong hai chỗ cạnh mình, còn các tụ khác tuỳ ý vào các chỗ còn lại. Ta thấy các tụ bài không thể có một Sảnh hay một Thùng nào, vậy các chi chỉ có thể là Thú hay Dách. Theo logic binh bình thường thì cách binh đúng đắn nhất ở hình vẽ.\n-Nếu tung hai xúc xắc ra kết quả mod 4 = 3 thì, người chia bài (ăn gian) sẽ binh theo cách 1. Và các bạn binh của anh ta vẫn binh bình thường như hình vẽ. Cuối cùng người ăn gian thắng Sập hầm cà làng. Mỗi người thua anh ta: chi đầu 1, chi giữa 1, chi cuối 1 và 6 chi thưởng. Vị chi cả thảy 9 chi mỗi người.\n-Nếu tung xúc xắc mà người chia phải lấy tụ 2, 3, 4 thì anh ta binh theo cách 2’, 3’, 4’ tương ứng - những cách không thể nào hợp với logic binh bình thường. Các người khác vẫn theo cách binh hợp logic (1, 2, 3, 4). Nếu anh ta nhận được tụ hai thì anh ta thua tụ 1-1 chi, nhưng thắng hai nhà kia mỗi nhà 3 chi. Chung cuộc vẫn thắng 5 chi. Nếu nhận được tụ 3, 4 anh ta thắng mỗi nhà 1 chi. Chung cuộc thắng 3 chi.\nCuối cùng, bình quân anh ta thắng trong trận này là 27x10/36 + 5x9/36 + 3x17/36=10,167 chi.\nMột vòng chia 12 ván, người chia gian chia ba ván, nếu cho rằng khi các người còn lại chia thì xác suất Thắng Thua của cả bốn người bằng nhau, người chơi gian sẽ thắng bình quân 3x5,555=16,665 chi (ví dụ 1), 3x8,944=26,832 chi (ví dụ 2) và 3x10,167=30,5 chi (ví dụ 3).[5]\nTừ những ví dụ trên, ta thấy người chơi gian không cần chia bài đẹp cho tụ nào đó mà chia bài hạn chế chỉ có một cách binh hợp logic. Còn các cách binh hoàn toàn không hợp logic binh, anh ta dùng để thủ thắng. Dù là gì, khi biết tất cả bài đối phương cũng mang đến cho người chơi gian ưu thế rất lớn. Và động tác tung hai quân xúc xắc hoàn toàn vô dụng (nó chỉ đóng vai trò mang đến cho người chơi gian thắng ít hay thắng nhiều mà thôi). [6]\n[1] Những chàng cò mồi này là các loại người tuổi tác, nghề nghiệp khác nhau. Luôn tạo cảm giác họ là những người cùng chơi như ta. Và đôi khi họ được thắng rất lớn. Các thủ thuật lừa đảo tinh vi và càng ngày càng được hoàn thiện! Có nhiều khi những người cảnh giác nhất cũng không nhận ra.\n[2] Có bạn hỏi tôi: “Có cái gì đó như bài “Ghost, Ma và Quái”. Hẳn nhiên không phải. Hai lý giải đến kết quả khác nhau. Và dẫn chứng dưới đây cho thấy điểm đặc biệt của bài này. Xác suất tính được phụ thuộc vào Số đươc thấy của xúc xắc. Ví dụ, ta có ba xúc xắc có cả 6 mặt 1÷6, có ba xúc xắc khác như sau: viên 1: bốn mặt là 1, hai mặt kia là 4, viên 2: bốn mặt là 2, hai mặt kia là 5, viên ba: bốn mặt là 3, hai mặt kia là 6. Như vậy, nếu cuộc cá cược dựa trên viên đấy có đều mặt hay không sẽ phụ thuộc rất lớn đến mặt số được hiện ra.\n[3] Có một nhận định tưởng chừng đúng là : nếu có đồng tiền hai mặt khi ta chọn mặt nào đó thì xác suất ra mặt đó là ½, còn xúc xắc 6 mặt thì khi tung ba lần ta cũng có xác suất ra mặt nào đó là ½. Ví dụ cuộc chơi ra như sau: Bạn chọn số nào trong 6 mặt xúc xắc, bạn được phép tung ba lần. Ở bất kỳ lần tung nào nếu ra mặt bạn chọn thì người cái sẽ trả số tiền bạn đặt và kết thúc vòng chơi. Xác suất thắng của bạn là 1/6(1+5/6+25/36)=91/216 nhỏ hơn ½.\n[4] Có thời gian tôi sẽ viết một bài về các trò chơi Chướng và một bài về các trò chơi dân gian. Hy vọng bạn nào có hứng thú hãy viết thư cho tôi về các trò chơi này. E-mail: tran_the_vy@yahoo.com\n[5] Nếu tính cả việc ăn Gà thì tỷ lệ thắng của người ăn gian càng lớn hơn nữa. Đây cũng là bài toán hay, các bạn thử xem.\n[6] Các bạn có biết chơi bài Tá lả 9 cây? Có lần, tôi bảo với chúng bạn “Tôi có thể chia một ván bài mà khi bốc phải tụ nào tôi cũng Ù. Phải minh định lại cách chia: chia mỗi tụ 9 cây, khi tung hai xúc xắc lên cũng theo nguyên tắc chọn bài Binh ở trên, và người chia gian nhận được bài của mình và lấy thêm một quân bài từ nọc nữa trước khi đánh.”. Bạn bè tôi hoài nghi “làm sao như thế được?”. Liệu các bạn có thể tìm ví dụ như thế? Cho rằng người đánh bài tuân thủ logic đánh tối ưu.\nCòn như bài Tiến Lên, người chia gian có thể nghiên cứu các tụ bài sao cho anh ta thắng khi bốc được bất kỳ tụ nào. Hoặc ít nhất tăng xác suất Thắng giảm xác suất Thua. Vì anh ta được đánh quân đầu tiên, cộng thêm biết bài đối phương. Ví dụ, anh ta làm sao đó để khi bốc phải tụ mod 4=3 (có xác suất bốc phải là 10/36 sẽ thắng 100%), bốc phải tụ mod 4=2 (9/36) cũng thắng 100%, bốc phải tụ mod 4 =0(9/36) thắng 80%, về nhì 20%, bốc phải tụ mod 4=1(8/36) thắng 50%, về nhì 30%, về ba 20%. Lúc đó các bạn thấy tỷ suất thắng chung cuộc của anh ta rất lớn (Cho luật chơi thắng ăn cả, về nhì thua 1, về ba thua 2 về chót thua 3, tỷ suất sẽ là 6x18/36 + (-1)9/36 + (-2)8/36=2,3. Khi anh ta chia, bình quân anh ta thắng 2,3 đơn vị/một trận).", "file": "books_text_final/ebooks.epub_6714.txt"} {"text": "[1] Có nghĩa là quay lại, ý nói không tiếp. [2] Nghĩa là tránh sự ồn ào. [3] Công chúa Thụy Bà, chị vua Thái tông. [4] Ta-ta (Tatar) vốn là tên một bộ lạc Mông Cổ, người ta thường dùng để chỉ chung người Mông Cổ (còn gọi là Tartar). Dịch theo âm Hán-Việt là Thát-đát. Vì vậy Mông - Thát vẫn là đại từ chỉ người Mông Cổ. [5] Mông-kha gọi Oa-khoát-đài (Ögodaï) bằng bác ruột và là cháu nội của Thành-cát-tư-hãn (Činggis-gan). [6] Hốt-tất-liệt (Qubilai) là em ruột của Mông-kha. [7] Ngột-lương-hợp-thai (Uriyangqadai) là danh tướng của Hốt-tất-liệt. Có bản dịch là Ngột-lương-hợp-đài. [8] Đời Trần gọi “diện” là mẫu. Hiện chưa khảo được diện tích của sào, mẫu thời đó so với cách đo lường thời nay. [9] Tam giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. [10] Chín học phái của Trung Hoa cổ đại: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia. [11] Cơ quan này coi sóc về các nghề chế tác thủ công. [12] Long Hưng nay là tỉnh Thái Bình. [13] Thiên Trường nay là tỉnh Nam Định. [14] Là nơi yên tĩnh tránh tiếng ồn. Thật ra đây chỉ là chiếc lều nhỏ, bốn hoặc tám mái khoảng hơn chục mét vuông để uống nước, ngắm cảnh hoặc đọc sách nhằm thư giãn. [15] Chỉ đạo Phật. [16] Công chúa Thụy Bà. [17] Cửa Pha Lũy tức cửa Nam Quan sau này. [18] Cửa Phú Lịnh trên thượng lưu sông Lô, gần tỉnh lỵ Hà Giang bây giờ. [19] Liêu phòng là nơi ở của thiền sư. [20] *Gió đập cửa tùng trăng sáng sân,* *Lòng cùng phong cảnh hẹn nhàn thanh.* *Trong này thú vị đâu ai biết,* *Đến sáng mặc sư vui một mình.*\n(Thiền sư, tiến sĩ Lê Mạnh Thát dịch)\n[21] Việc chỉ có thế nhưng người đời hiếu sự lại bảo Thái tông đem Chiêu Thánh gả cho Lê Tần. [22] Nay vẫn là cửa Nhật Lệ thuộc Quảng Bình. [23] Cửa Kỳ La còn có tên Cửa Sót thuộc Hà Tĩnh. [24] Cửa Hội nay vẫn còn tên cũ thuộc Nghệ An. [25] Cửa Đại An sau này là cửa Đại thuộc huyện Giao Thủy, Nam Định. [26] Nay vẫn giữ tên Vân Đồn, cửa này vào vịnh Hạ Long rồi vào sông Bạch Đằng mà tiến sâu vào Lục Đầu giang. [27] Tô Mậu tương ứng với đất huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh ngày nay. [28] Môn tương ứng với đất huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn ngày nay. [29] Pha Lũy chính là cửa ải giáp với cửa Nam Quan. [30] Cửa khẩu đoạn sông Hồng giáp với Vân Nam Trung Quốc, nay thuộc tỉnh Lào Cai. [31] Ải Hà Dương nay thuộc tỉnh Hà Giang. [32] Thành Đô thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc, xưa là kinh đô của nước Thục. [33] Đại Lý tức tỉnh Vân Nam Trung Quốc ngày nay. [34] Bình Lâm tức là miền Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng. [35] Bạch Hạc nay là ngã ba Việt Trì tỉnh Phú Thọ. [36] Các địa bàn trên thuộc hai tỉnh Lào Cai, Yên Bái ngày nay. [37] Uriyangqadai âm Hán-Việt dịch là Ngột-lương-hợp-thai. Có bản dịch là Ngột-lương-hợp-đài. [38] Đại Lý nguyên là nước Nam Chiếu sau đổi là Đại Mông, lại đổi là Đại Lễ, đến đời Ngũ đại đổi là Đại Lý. Nam Chiếu đã từng xâm lược nước ta bị Ngô Quyền đánh tan trên sông Bạch Đằng năm Mậu tuất (938) (Ở đây có lẽ tác giả nhầm với quân Nam Hán. Năm 902 Nam Chiếu đã sụp đổ, năm 937 Đại Lý được thành lập – Caruri) [39] Thiện Xiển tức là Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam ngày nay. [40] Đoạn in nghiêng trong sách không có. Người tạo ebook thêm vào để hợp logic (Caruri). [41] *Thế truyền*: tựa như truyện dân gian truyền miệng. [42] Nay là huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. [43] Nay là huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. [44] Tế Giang nay là huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang. [45] Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào thuộc tỉnh Hưng Yên. [46] Thái học sinh đời Trần, Minh kinh bác sĩ đời Lý, tương đương với học vị tiến sĩ các đời Lê, Nguyễn sau này. [47] Khương Tăng Hội trước tác rồi dịch ra tiếng Hán vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên (theo thiền sư Lê Mạnh Thát). [48] Bốn loài là: noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. [49] Trích trong *Lục thời sám hối khóa nghi* của Trần Thái tông (Trần Cảnh). Bản dịch của thiền sư Lê Mạnh Thát. [50] Sông Thao ngày nay. [51] Phú Lương: tức sông Hồng. [52] Lâm An tức Hàng Châu, thuộc tỉnh Triết Giang thủ đô của nhà nam Tống. [53] Thuần Hựu (1251 - 1258) niên hiệu thứ ba của Tống Lý tông. [54] Hợp Châu tức Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, kinh đô nước Thục thời Tam quốc. [55] Ngạc Châu tức Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc ngày nay. [56] Hai thành này đều thuộc Quảng Tây. Ung Châu tức Nam Ninh và Quế Châu tức Quế Lâm ngày nay. [57] *Độ điệp*: Là một thứ giấy chứng nhận của chính quyền cấp cho người có đủ tư cách xuất gia (đi tu). [58] *Tận dân vi binh*: mỗi người dân là một người lính. [59] Quý Châu nay vẫn là Quý Châu, thủ phủ là Quý Dương. Quý Châu giáp Tứ Xuyên, Vân Nam (Đại Lý), Quảng Tây và Hồ Nam. [60] Tựa như ngày nay cho nhập quốc tịch của nước bảo hộ. Tên này còn có nghĩa là đại vương. [61] A Mân tức Khai Viễn thuộc Vân Nam. [62] Cơ quan trông coi việc thờ tự cúng tế tổ tiên nhà vua. [63] Tức là đất Thái Bình nơi phát tích của nhà Trần. [64] Con sông mà Ngột-lương-hợp-thai nói đây là sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc. [65] Ngã ba đây có nghĩa là sông Thao, sông Đà và sông Phú Lương gặp nhau, đó là ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì ngày nay. [66] Vua tôi nhà Nguyên gọi vua Đại Việt là Trần Nhật Cảnh. [67] Nghĩa là bến đò ở phía đông kinh thành. Theo xác định khoảng đầu dốc Hàng Than Hà Nội ngày nay. [68] Ý nói: nên chạy sang nhờ nhà Tống. [69] Quân của phủ binh thái úy. [70] Từ năm Canh Dần (1230) nhà Trần đã chia hai bên tả hữu của kinh thành Thăng Long làm sáu mươi mốt phường. [71] Ty Thái chúc là cơ quan chuyên lo về lễ nghi, tế cáo và tiệc yến của triều đình. [72] Thiên tử nghĩa nam nghĩa là con nuôi của vua. [73] Thời Chiến quốc ở Trung Hoa, nước Trịnh đem quân đánh nước Tống. Khi sắp đánh nhau, Hoa Nguyên nước Tống làm thịt dê cho binh sĩ ăn, người đánh xe là Dương Châm không được ăn. Đến khi đánh nhau Dương Châm nói: “Con dê hôm trước quyền ở anh, việc đánh xe ngày nay quyền ở ta”. Bèn đánh xe chạy về phía quân Trịnh khiến quân Tống thua to. [74] Công án của nhà thiền nhằm giúp người ta phá chấp, tức là phá bỏ nhận thức mang tính định kiến. Ví dụ có đệ tử hỏi thầy: Phật tính là gì? Thầy đáp: Là cục cứt chó khô. Ý nói Phật tính không phải là cái tính của một con người mà nó mang tính phổ quát như là một quy luật của tự nhiên. [75] Huệ Quang thiền sư là pháp danh Lý Huệ tôn đặt cho mình khi xuất gia. [76] Tang thất phụ là những người đàn bà có tội phải đày đi làm ở các trại dâu tằm của nhà nước. [77] Phường Thụy Chương xưa kéo từ đầu đường Thụy Khuê đến Bưởi. [78] Tô Lịch xưa là đường giao thông thủy chủ yếu trong nội đô rồi ra sông Hồng. [79] Trích Sài nghĩa là hái củi, tức là nơi cửa rừng. Thôn Trích Sài hiện nay nằm trên bờ Hồ Tây. [80] Dụ Tượng là con đường dụ voi. Xưa Lý Thái tôn đã từng săn voi bên hồ Dâm Đàm. [81] Đoạn văn trên có nghĩa là: “Núi cùng biển tận, hơi độc xông lên làm cho diều quạ đang bay bị rơi xuống, khí ẩm thấp theo gió tràn lan làm cho người sinh bệnh, cơ hồ không phải một cảnh giới có người…”. [82] Tựa như đội quân phản ứng nhanh ngày nay. [83] Anh em nhà Quốc Tuấn đều lấy tên hiệu có chữ đầu là “Hưng”, như Trần Quốc Trung có hiệu là Hưng Ninh vương, Trần Quốc Tuấn có hiệu là Hưng Đạo vương. [84] Nu-rút Đin người Tàu dịch là Nột-lạt Đinh. [85] Đa-ru-ga-tri (Đạt-lỗ-hoa-xích) chức tương đương như một viên toàn quyền. [86] Hồi Hột là người Tân Cương theo Hồi giáo. [87] Theo *Du già luận* chú rằng: Không lợi mình, lợi người là Hạ sĩ. Có lợi mình mà không lợi người là Trung sĩ. Được cả hai thứ là Thượng sĩ. [88] *Khóa hư lục* là tác phẩm của vua Trần Thái tôn. *Khóa hư lục* có nghĩa là nghi thức sám hối của sáu khóa lễ trong một ngày. [89] Tước của Trần Quốc Trung là Hưng Ninh vương. [90] Hưng Ninh vương Trần Quốc Trung với vua Trần Thánh tông là anh em con chú con bác ruột. Vợ Trần Thánh tông là em gái Quốc Trung, con Hoài vương Liễu, tên là Trần Thị Thiều tức Thiên Cảm hoàng hậu. [91] Nguyên bản chữ Hán, thiền sư Thích Thanh Từ dịch. [92] Quy Sơn (Trung Quốc) có hai vị thiền sư nổi tiếng là Quy Sơn Linh Hựu và Đại An. Chăn trâu nước là trỏ một công án thiền. [93] Tạ Tam tức Tạ Tam Lang pháp danh Sư Bị, quê huyện Mân thuộc Phúc Châu, Trung Quốc. [94] Lư Thị tức Lư Hành giả, chính là Lục tổ Huệ Năng. [95] Thạch Đầu là tên một ngọn núi, cư sĩ Bàng Long Uẩn tới Thạch Đầu hỏi đạo được Hy Thiên Thạch Đầu khai ngộ. [96] Sau khi nhà Tấn bị diệt vong năm 420 là đến thời Ngũ quý. Ngũ quý tức năm đời cuối gồm 197 năm. Đó là nhà Tống (420-479), nhà Tề (479-505), nhà Lương (505-570), nhà Trần (570-603), nhà Tùy (603-617). [97] Đại Huệ (1089-1163) tức phái thiền Đại Huệ tông cảo thuộc trường phái Lâm Tế của Trung Hoa. Trường phái này chủ trương khai phóng về mặt trí tuệ, nhẹ về thiền định, đòi hỏi người tu thiền phải suy niệm các công án để đi đến giác ngộ. Đại Huệ chủ trương phổ thuyết (tức giảng rộng) đến mọi tầng lớp cư sĩ. [98] “Đập ngói dùi rùa” là những công án nổi tiếng trong thiền giới thời trung đại. [99] Thiền sư Lê Mạnh Thát dịch. [100] Tướng quốc hàm ngang với tể tướng. Thái úy tương đương với bộ trưởng Bộ quốc phòng ngày nay. Quang Khải giữ chức Tướng quốc thái úy là người đứng đầu hai ban văn võ, quyền thế chỉ sau vua. [101] Phiêu kỵ, chức này chỉ trao cho các hoàng tử. Quốc Khang tuy là con cả của Thái tông, nhưng khi bà Thuận Thiên đã có mang với Trần Liễu ba tháng mới bị Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung ép nhà vua phải cưới lấy để có người nối dõi. Quốc Khang không được lập còn vì nhẽ ông không có thực tài. [102] Nguyên - Mông: Mông Cổ xâm lược Trung Hoa, lập nên nhà Nguyên nên còn gọi là Nguyên - Mông. [103] Chiếu dụ của nhà Nguyên: *“… Hiển dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi được biết: Phàm các việc như áo mũ, lễ nhạc, điển lệ phong tục cứ theo như chế độ cũ của nước ngươi, không cần phải thay đổi… Ngoài ra ta cũng răn cấm các biên tướng ở Vân Nam không được tự tiện đem binh lấn cướp nơi cương giới, quấy nhiễu biên dân… Các quan liêu sĩ thứ nước ngươi đều nên yên trị như cũ…” * . Đây là chiếu thư của nhà Nguyên ban khi nước họ còn chưa ổn về nội bộ và cũng chưa bình xong nước Tống. Nhà Trần lợi dụng vào văn bản này để khước từ các đòi hỏi khác của người Nguyên, kể cả khi Hốt-tất-liệt xưng đế lập nước Đại Nguyên và bình xong nước Tống. [104] Người Mông Cổ gọi những đội quân bắt người Trung Hoa ở phía nam làm lính là quân tân phụ. [105] Phiên Ngung nay là thành phố Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. [106] Thiện Xiển tức Côn Minh (Trung Quốc). [107] Nguyên văn chữ Hán phiên theo âm Hán-Việt, bản dịch Ngô Tất Tố. Trần Thái tông trong Khóa hư lục có kệ bốn núi. Bài này là núi thứ tư (Sinh-già-bệnh-chết). *Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh,* *Ngư ông túy lúy điếu chu hoành.* *Tứ thùy vân hợp âm mài sắc,* *Nhất phái ba thiên cổ động thanh.* *Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch,* *Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh.* *Tam thời, trần liễn thiên biến lĩnh,* *Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh.* [108] Đại Đô là Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay. [109] Trong tác phẩm nhầm là Tống Độ tông. Ở đoạn trước Tống Độ tông đã qua đời. Tống Cung đế Triệu Hiển là con của Tống Độ tông. Vì vậy ở đoạn sau đều sửa lại là Tống Cung đế (Caruri). [110] Phúc Châu là thủ phủ của tỉnh Phúc Kiến nằm kế với tỉnh Triết Giang với Lâm An (Hàng Châu) là kinh đô của nhà nam Tống ở về phía đông nam của nước Trung Hoa. [111] Từ xưa có ai sinh ra mà chẳng chết,\nDuy có tấm lòng son mới làm rạng rỡ sử xanh.\n\nNén giận, Thái tông dẫn công chúa Thụy Bà vào nội điện. Sai nội thị dâng trà rồi nhà vua hỏi:\n- Việc chị vừa nói là nghe người ta đồn vậy hay đích thị là như vậy?\n- Giời ơi bệ hạ, còn nghe gì nữa. Gia nô nhà tôi hầu hạ thằng Quốc Tuấn, nói đã mấy bữa nay nó bỏ cơm. Chiều tối hôm qua hỏi dò mấy đứa gia nô về lễ cưới hỏi của Thiên Thành. Thế rồi nó uống hết cả một hũ rượu, dắt đoản đao lên giường vờ ngủ. Thấy nghi nghi, lũ gia nô bảo nhau theo sát. Đến nửa đêm Quốc Tuấn lẻn đi, chúng nó theo sang tới cung nhà Nhân Đạo vương thì Quốc Tuấn vượt tường nhảy vào. Chó cắn như vãi thóc rồi quân canh hô hoán. Lũ gia nô thấy nguy cho tính mạng của Quốc Tuấn, nên chạy tháo thân về báo cho chị liền. Thôi thôi bệ hạ, không bàn bạc gì nữa, bệ hạ cho người đi giải cứu ngay đi, không tính mệnh thằng bé nguy mất.\nNói xong, Thụy Bà sùi sụt khóc, khiến Thái tông rối cả ruột. Nhà vua bèn cho triệu Chi hậu cục chánh chưởng Trần Bất Cập vào cung.\nTrần Bất Cập là người hai mươi sáu năm về trước cùng được tiến vào triều Lý Chiêu Hoàng, làm Cận thị thự lục cục chi hậu với nhà vua (lúc ấy là Trần Cảnh). Cập là người tính tình ôn thuận lại có lòng trung thành thờ chúa, nên việc hầu hạ Chiêu Hoàng hết lòng, sau này chuyển sang hầu cận Thái tông không mảy may sơ sót. Đối với nhà vua, Trần Bất Cập vừa là người trong nội tộc, lại vừa là nghĩa vua tôi quyến luyến. Nhiều lúc nhà vua cũng băn khoăn muốn cất nhắc vào chức này chức khác, ngặt vì Bất Cập vừa khiếm học lại khiếm tài, không thể cắt đặt vào làm người thân tín để sai bảo, nhưng bổng lộc thì ưu hậu, cho hưởng ngang với các hàng quan tam, tứ phẩm.\nTrần Bất Cập năm nay đã gần năm mươi tuổi, người gầy đét, khô xác như một con mèo già chết cóng, duy đôi mắt là có hồn. Khác với các vị trung quan thường mưu mô ác độc hoặc xu nịnh, bè cánh, Trần Bất Cập là một người sống có tình, thương người nghèo, giúp người khó, nâng đỡ người rủi ro bất hạnh. Ông vừa ló vào cửa nội điện đã cất giọng the thé:\n- Bệ hạ có việc gì mà triệu thần vào cung sớm thế?\nChợt nhìn thấy nét mặt nhà vua nghiêm trang, còn Thụy Bà thì nước mắt chảy dài trên hai gò má, Trần Bất Cập hốt hoảng quỳ tâu:\n- Thần hồ đồ quá! Xin bệ hạ tha tội chết.\nNhà vua bèn kể lại sự việc Quốc Tuấn bên nhà Nhân Đạo vương rồi ban ý:\n- Khanh sang bên đó xem sự thể ra sao, an ủy Nhân Đạo vương rồi đưa Quốc Tuấn với Thiên Thành về đây. Nói xong nhà vua liền mở hộp ngà lấy tín bài trao cho quan Chi hậu cục chánh chưởng. Lại dặn tiếp - Khanh thay ta thu xếp cho an ổn. Việc này lỗi ở Quốc Tuấn chứ nhà Nhân Đạo vương không can dự gì. Việc ta gả Thiên Thành cho Trung Thành vương cả triều đình đều biết.\nLại nói Quốc Tuấn đang đêm vượt tường vào trong cung nhà Nhân Đạo vương bị đàn chó ngao sủa inh ỏi, đám tì nữ theo hầu công chúa Thiên Thành vội soi đèn xem kẻ nào dám cả gan lẻn vào trộm đạo, thấy Quốc Tuấn đang đứng nép vào một góc tường, tay thủ đoản đao nhằm đối phó với lũ chó, đám tì nữ vừa xua chó vừa bưng miệng cười. Lại biết chủ mình vốn là bạn thân với Quốc Tuấn, và là người trong nội tộc của hoàng gia nên lũ a hoàn dẫn luôn Quốc Tuấn vào ra mắt Thiên Thành.\nVừa trông thấy Quốc Tuấn, Thiên Thành đã ôm chầm lấy cổ chàng và sóng lệ trào tuôn. Nàng nói qua tiếng nấc, giọng nũng nịu, trách móc - Thế mà chàng bảo sẽ cưới thiếp trước khi nhà Trung Thành vương có lời dạm hỏi với quan gia. Chàng lại còn nói, nếu không cưới được thiếp thì cùng nhau bỏ đi trốn. Vậy chớ chàng vào đây để dự lễ cưới của ta chăng?\nCông chúa chợt buông tay ẩy khuôn mặt Quốc Tuấn ra. Hai người nhìn nhau như chưa bao giờ họ nhìn nhau đắm đuối thế.\nDưới ánh đèn lồng, nom gương mặt công chúa như được rửa bằng một thứ nước trong veo như rực rỡ hẳn lên. Đôi tròng mắt lấp lánh ánh nước tựa như hai viên ngọc minh châu, khiến ta có cảm giác ánh sáng trong căn phòng này được tỏa ra từ đôi mắt thiên thần kia, chứ không phải từ nơi những chiếc đèn lồng. Và Quốc Tuấn vẫn đăm đắm ngắm nàng, gương mặt chàng bình thản như lúc hai người đang say ngắm mặt hồ Dâm Đàm sau những ngày chàng học hành căng thẳng nơi Giảng Võ đường. Quốc Tuấn chợt mỉm cười và đặt lên má Thiên Thành một nụ hôn. Hai người lại ôm cuộn lấy nhau như hai thân rắn cuốn vào nhau mùa giao phối.\nĐám tì nữ bấm nhau lui ra ngoài.\nQuốc Tuấn dìu công chúa vào giường, lá màn the buông xuống. Mấy ả thị tì tinh ý khẽ vào trong nhà nhón chân thổi tắt mấy ngọn bạch lạp. Và chúng ở cả ngoài hiên canh gác cho cô chủ, lỡ khi Trung Thành vương có đột ngột ghé thăm.\nQuốc Tuấn ôm gọn Thiên Thành vào lòng, ghé môi hôn và nói lời dịu ngọt:\n- Sao ta có thể bỏ nàng được. Người quân tử không nói hai lời. Nhưng ta hỏi, Trung Thành vương đã chung thân với nàng chưa? Vừa hỏi, Quốc Tuấn vừa rời nàng ra khỏi vòng tay.\n- Thì thiếp đã chẳng hứa với chàng, thà chết thiếp cũng không chung thân với Trung Thành vương sao.\n- Thế nàng bị đón vào đây mà hắn để yên à?\n- Đôi ba lần Trung Thành vương có ghé qua đây thăm thiếp, có buông lời bả lả. Nhưng em thiếp nếu chàng tỏ ra sàm sỡ trước khi làm lễ kết tóc, thì lập tức thiếp sẽ xin với quan gia để từ hôn. Vì vậy Trung Thành vương không dám làm gì thiếp nữa.\nNghe xong Quốc Tuấn bèn ôm chặt lấy Thiên Thành, xiêm y trút bỏ và họ thật sự hưởng trọn đêm tân hôn, mặc dù nhà Nhân Đạo vương đang tấp nập lo chu tất lễ cưới cho con trai mình với công chúa. Trớ trêu thay, trong khi đó, tại cung Minh Long, Trung Thành vương đang khắc khoải chờ hai ngày nữa trôi qua, lễ kết tóc xong là chàng sẽ cùng công chúa động phòng hoa chúc.\nTrần Bất Cập đi rồi, chỉ còn hai chị em nhà vua. Nhìn gương mặt Thái tông cau có, biết nhà vua lâm vào tình trạng khó xử, công chúa Thụy Bà động tâm liền nói:\n- Để xảy ra chuyện này lỗi tại chị. Chẳng là Quốc Tuấn ở với chị, Thiên Thành hay mượn cớ đến thăm chị, thăm cháu. Chị vẫn nghĩ máu mủ thường tình, cô cháu nó quyến luyến nhau, ai ngờ sự thể lại đến nông nỗi này. Hay là bệ hạ cứ khiển trách chị để làm yên lòng các quan, cũng là để giữ gìn gia đạo, cả để nghiêm phép nước nữa. Tội gì chị cũng xin chịu, đánh trượng, đày đi viễn châu, tịch thu gia sản, chị chịu hết.\n- Giời ơi chị nói cái gì thế, tôi đang rối ruột đây. Bây giờ có cách nào gỡ ra được không?\nLỡ to tiếng với chị, Thái tông có vẻ ân hận, nhà vua nhìn chị gái một cách thành kính tựa như một sự tạ lỗi - Chị không có lỗi gì trong việc này. Đầu têu là ở ông chú, ông Thái sư của họ nhà mình ấy. Lấy chị họ làm vợ, bức cháu phải cướp vợ anh, lại bắt người trong họ phải lấy lẫn nhau. Trách ai bây giờ, Thiên Thành, Quốc Tuấn là đám trẻ mới lớn, không cho lấy người ngoài thì nó lấy người trong họ, cô cháu lấy nhau kể gì thứ bậc. Loạn luân hết cả rồi. Chúng nó đang theo gương các bậc bề trên đấy. Chỉ tội cho anh cả Liễu, tay trắng về quê. Nay lại phải chấp thuận một việc trái đạo nữa, phải nhận em gái ruột làm vợ của con mình. Ôi cương thường! Ôi gia đạo! Nhà vua buông tiếng thở dài, gương mặt buồn hiu. Chợt một nỗi buồn tê tái dâng lên như chẹn cứng cổ họng nhà vua. Tự dưng cái việc năm Đinh Dậu (1237) lại hiện lên rõ mồn một trong óc não nhà vua. Thái tông tự nghĩ - Tiếc thay cái ngày bỏ lên Yên Tử ấy sao ta lại còn quay về nữa. Ngày ấy ta mười chín tuổi, đúng bằng tuổi Quốc Tuấn bây giờ. Ta và cha nó đều bị Thái sư bức bách. Còn nó, có phải vì nó kết nhau thật sự hay nó định lỡm Thái sư đây. Trời ơi, sự quả báo sao lại nhỡn tiền làm vậy.\nTrong khi nhà vua cứ tự giày vò thì ngoài điện Thiên An các quan đã đến chầu đông đủ. Chưa thấy vua ra thị triều, các quan bàn tán hết chuyện này sang chuyện khác. Bàn cả sang lễ kết tóc nay mai giữa công chúa Thiên Thành với Trung Thành vương. Việc Quốc Tuấn vào nhà Nhân Đạo vương đêm trước, vẫn chưa ai hay biết.\nCũng lúc này, quan Chánh chưởng phụng ngự Trần Bất Cập vừa xuống kiệu vào nhà Nhân Đạo vương.\nChủ nhà ra tận cổng cung nghinh. Trần Bất Cập vừa bước chân vào thềm nhà đã giở tín bài ra trước Nhân Đạo vương, khiến ông run cầm cập quỳ lạy. Phân ngôi chủ khách, Nhân Đạo vương còn chưa hết bàng hoàng, vẫn chắp tay cung kính chờ quan Chánh chưởng phụng ngự truyền chỉ.\nMãi một lúc sau Trần Bất Cập mới cất cái giọng the thé hỏi:\n- Vậy chớ vương nhốt Quốc Tuấn ở đâu? Ta vâng mệnh hoàng thượng đến thương thảo với ông về chuyện đó.\nNhân Đạo vương hết sức ngỡ ngàng, lúc này ông mới tạm hoàn hồn bèn lựa lời đáp:\n- Quả thực lão gia không biết các chuyện đó.\nTrần Bất Cập bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện như công chúa Thụy Bà đã tâu với nhà vua.\nNghe xong, Nhân Đạo vương giận tím mặt nhưng vẫn phải dẫn Trần Bất Cập cùng tới cung Ngọc Dao, nơi Thiên Thành công chúa đang ở tạm.\nVừa bước vào thềm đã thấy Thiên Thành, Quốc Tuấn và cả lũ a hoàn đang ríu rít chuyện trò trong khi chờ gia nhân soạn bữa điểm tâm. Trần Bất Cập chìa ngay tín bài trước Thiên Thành và Quốc Tuấn rồi nói:\n- Hoàng thượng có chỉ tuyên triệu công chúa và tiểu vương gia về ngay cung Quan Triều.\nHai người không kịp ăn uống, sai gia nhân dóng kiệu hồi cung ngay lập tức.\nNhân Đạo vương lại dẫn Trần Bất Cập quay về nhà tân khách. Im lặng hồi lâu, Cập lên tiếng:\n- Chuyện đã đến nước này chắc là phải từ hôn thôi chứ biết làm sao được. Hoàng thượng sai tôi đến để bàn bạc với vương gia.\nLặng thinh một lát, Nhân Đạo vương bèn đáp:\n- Cha con tôi còn mặt mũi nào mà trông thấy thiên hạ nữa. Vương thở dài, mà cũng phúc cho nhà Yên Sinh vương, nếu như đêm qua Trung Thành vương nhà tôi mà nó biết Quốc Tuấn lẻn vào cung Ngọc Dao, chắc là nó phải chặt chân tiểu vương gia chứ chẳng tha cho về nguyên vẹn đâu.\n- Vương gia biết đấy, Trần Bất Cập nhẹ nhàng nói - Chính hoàng thượng đứng ra tác hợp cho hai người chứ còn ai. Hoàng thượng lại cho mở hội từ mấy ngày nay trước khi quốc muội về làm dâu bên quý phủ. Sự việc xảy ra chính nhà vua cũng đau lòng. Mong vương gia nén tâm để ta cùng bàn bạc thu xếp cho đẹp ý cả vương thượng và vương gia.\nNhân Đạo vương chưa kịp đáp lời thì gia nô vào bẩm bữa điểm tâm đã xong, thỉnh hai vương qua cung Phúc Hòa dùng bữa.\nNhân Đạo vương lòng tức giận còn chưa nguôi, không muốn ăn uống gì, nhưng vì có trung sứ của nhà vua phái đến, nên ông buộc phải nén giận mời Trần Bất Cập. Ông dẫn khách đi qua dãy xuyên đường chạy vắt ngang chiếc sân rộng chẳng kém mấy sân chầu ngoài điện Thiên An, rồi vòng theo bờ hồ bán nguyệt có trồng giống liễu Hàng Châu, xen kẽ những khóm mẫu đơn đỏ, vàng, trắng lấp ló dưới những cành liễu rủ mảnh mai soi bóng xuống mặt hồ, nom như đáy hồ cũng có một bờ hoa, một dãy xuyên đường mái ngói đỏ au. Cuối dãy xuyên đường lại nối với các bậc tam cấp bước lên thềm dẫn vào cung Phúc Hòa. Đây là một ngôi nhà bát giác nằm trên một nền cao với tám mặt cửa, mặt nào cũng thông thoáng. Có tới bốn mặt nhìn ra hồ, còn bốn mặt kia nhìn ra một vườn hoa cong như một chiếc vành lược ôm lấy lâu đài, trồng đủ các thứ hoa ngào ngạt hương thơm với đủ các sắc màu.\nGọi là điểm tâm, nhưng các món ăn bày kín cả một mặt bàn rộng kể tới vài ba chục món. Bốn ả hầu gái tuổi chừng mười lăm mười sáu, da trắng, má hồng tươi như trái đào lên mã, môi đỏ thắm, tóc đen nhức buông xõa hai bờ vai, nom chúng đẹp xinh mà hồn nhiên như những con thỏ non, cứ hai đứa một, đứng hầu hai vương.\nChủ khách nhấm nháp qua loa. Trong khi Nhân Đạo vương còn chưa biết ý tứ của vị trung sứ ra sao thì Trần Bất Cập lại luôn nghĩ đến sự xa hoa giàu có của phủ Nhân Đạo mà quan Chánh chưởng phụng sự mới nghe người ta đồn đại thôi chứ chưa được mục kích. - Thảo nào, Trần Bất Cập tự nghĩ - Thảo nào mà đồ dẫn cưới lại chẳng sang quý và đắt giá đến dường ấy. Bất Cập vừa tư lự vừa đưa mắt nhìn quanh lâu đài và khuôn viên rộng mênh mông cùng lầu, các xen kẽ đó đây thật chẳng khác gì nơi động tiên.\nSốt ruột vì không thấy trung sứ khơi mào, Nhân Đạo vương bèn mời khéo:\n- Xin mời đại nhân quá bộ về nhà tân khách xơi nước rồi ta bàn bạc thêm. Nói xong ông bèn đứng dậy và dẫn khách đi qua nẻo vườn hoa, vượt một cây cầu bắc ngang lạch nước trong vắt như nước suối đang lờ đờ chảy về phía hồ. Con lạch rộng chừng một trượng. Bên kia cầu là một bãi phẳng lố nhố những tấm bia bằng cót quét vôi trắng lốp, với những vòng tròn đồng tâm màu đen sẫm. Một toán quân chừng ba đô: tốp thì vác dáo, tốp vác đao, tốp đeo cung tên chạy túa ra bãi tập.\nNom thấy cảnh này, quan trung sứ hơi rùng mình nghĩ lại lời Nhân Đạo vương khi nãy: “… Phúc cho nhà Yên Sinh vương…”. Quả vậy, nếu như Quốc Tuấn chạm trán Trung Thành vương, e sẽ mất mạng. Bởi chưng trong cái phủ mênh mông mà kín mít như một tòa thành này, người ta có giết tới cả trăm người cũng khó mà tìm ra tung tích.\nQua bãi tập, vòng về nhà tân khách, Nhân Đạo vương lên tiếng trước:\n- Đại quan với tôi và với vương thượng đều là chỗ thân tình trong nội tộc cả. Nay ngài lại lãnh nhiệm do vương thượng ủy thác, xin cho được nghe cao ý.\nQuan trung sứ tay nhón khẩu trầu cho vào miệng nhai bỏm bẻm, chợt giật nảy người lên lấy chiếc ống nhổ đồng sáng chóe, nhổ phì phì - Mặn vôi quá! Mặn vôi quá! - Giọng ngài vẫn the thé như giọng của một con mèo hen. Lại quơ chén nước súc miệng và nhổ toẹt vào ống nhổ.\nNhân Đạo vương quay mặt đi nhưng lòng thì dấy lên sự khinh ghét đối với viên hoạn quan này. Mặc dù vậy, ông cũng không dám tỏ lộ điều gì khiến y phải phật lòng. Vì Nhân Đạo vương thừa biết sự lợi hại của đám trung quan nơi nội điện như thế nào rồi, vương liền đứng dậy vờ lúng túng, và quay ra cửa quát gia nô:\n- Bay đâu! Têm khay trầu mới, nhạt vôi! Mau lên! Đoạn vương quay lại nói với viên trung sứ nửa như cáo lỗi, nửa như phân bua:\n- Xin đại nhân xá cho, đám gia nhân nhà tôi vụng về quê kệch quá. Răn dạy mãi đầu óc chúng vẫn cứ tối như hũ nút. Chẳng mấy khi được đại nhân ghé thăm lại… Nhân Đạo vương còn đang ngập ngừng, chưa biết nói tiếp thế nào để khách khỏi phật lòng, Trần Bất Cập đã vội gạt đi:\n- Chà, vẽ. Vương gia không cần phải nhiều lời về cái chuyện vặt. Tôi xin nói thẳng vào công việc mà hoàng thượng ủy cho. Chắc rằng cả vương gia và hoàng thượng đều không mong sự việc lại xảy ra như thế này. Có đúng không? Cập gạn hỏi và nhìn gương mặt Nhân Đạo vương, thấy vương gật gật có vẻ đồng tình, Cập lại nói tiếp - Để đại quan đỡ mang tiếng, nhà vua chấp nhận để bên phủ Nhân Đạo được từ hôn.\n- Không! Không thể như thế được! - Nhân Đạo vương giãy nảy lên như giẫm vào ổ kiến lửa.\n- Sao lại không được, vương thử nói ta nghe.\n- Nếu bây giờ tôi đứng ra xin từ hôn, tức là phạm tội đại nghịch vì dám trái mệnh vua. Nếu hoàng thượng thương tình bỏ qua thì tôi mất hết các đồ dẫn cưới. Đại nhân có biết tất cả đồ dẫn cưới của tôi đáng giá bao nhiêu không?\n- Một vạn quan là cùng chứ bao nhiêu, - Trần Bất Cập đáp.\nNhân Đạo vương khoát tay một cái, định nói gì như là một sự khinh bỉ, nhưng ông đã vội kìm nén được. Ông vội chắp hai bàn tay cung kính trước viên trung sứ:\n- Đại nhân hiểu cho. Lễ vật của nhà chúng tôi tiến lên hoàng thượng là vô giá. Nhưng nếu buộc phải tính ra tiền thì xin thưa với đại nhân, bỏ rẻ cũng phải hơn ba chục vạn quan. Không! Không thể tự tôi đứng ra từ hôn được, như thế vừa mắc tội vừa mất của, thiệt đơn thiệt kép, xin đại nhân nghĩ cho một kế khác.\nTrần Bất Cập vội thụt cổ lại, dường như không bao giờ ông hình dung ra một món tiền lớn đến như vậy. Nhân Đạo vương nói như thế không phải không có lý. Trần Bất Cập vội dàn hòa:\n- Thế này vậy, hoàng thượng sẽ ra một Chế mệnh cho hủy hôn ước, xem như cuộc hôn nhân bất thành mà không bắt buộc bên nào phải có biểu tạ tội và xin thoái hôn nữa. Còn của cải trong các món đồ dẫn cưới đó, chẳng lẽ vương đã tiến vào cung rồi lại tự ý đem về nhà mình nữa sao. Nếu có kẻ đàn hặc ngài phạm tội bất kính quốc vương không phải là không có lý. Để bù vào chỗ thiệt hại đó, nhà vua sẽ cắt hai ngàn khoảnh ruộng người cho công chúa Thiên Thành tại phủ Ứng Thiên để làm của hồi môn, nhập vào điền sản phủ Nhân Đạo. Như thế đã được chưa? Ra vẻ đắc ý, viên trung sứ gạn hỏi và cười hách hách. Y có điệu cười lúc hứng chí người cứ nhảy dựng lên như kẻ sắp lên đồng. Nhìn thẳng vào gương mặt lúc này đã tươi tỉnh của Nhân Đạo vương, y tiếp: - Thế là vương gia lời quá rồi còn gì. Nếu vương chấp nhận thì gọi lại viên vào đây thảo tờ bảo chứng.\nCông việc thương thảo coi như đã xong.\n\nThụy Bà sống độc thân, không chồng, không con, bà nhận Quốc Tuấn làm con nuôi. Bà quý Quốc Tuấn và hết lòng chiều chuộng, suốt mấy năm giời cô cháu ở với nhau, bà chưa có một lời nói nặng với cháu. Ngay sự việc trái ngang do Quốc Tuấn gây ra, làm phiền lòng không biết bao người, kể cả nhà vua, nhưng bà cũng chỉ phàn nàn gọi là, để mọi người đỡ trách móc bà cưng chiều Quốc Tuấn thái quá. Khi đón Quốc Tuấn với Thiên Thành về, bà đã gặng hỏi, hai người tỏ ra quyết chí lấy nhau. Vì vậy, bà lại một phen xin với Thái tông cho hai trẻ được chung đôi.\nChọn được ngày lành, Thụy Bà dâng một lễ mọn sang cung Quan Triều với 10 mâm vàng và một số đồ lễ khác. Thái tông nhận lễ cho phải phép rồi bắt hai người phải trở về sống trong thái ấp An Sinh.\nNếu công chúa Thiên Thành thành thân với Trung Thành vương, thì hưởng trọn các đồ dẫn cưới, trong đó quá nửa giá trị dồn vào các đồ trang sức như ngọc, bích, mã não, kim cương… Và làm chủ một gia tài vào hàng phú gia địch quốc. Thế nhưng vì tình yêu, Thiên Thành chấp thuận một đám cưới không có đồ lễ dẫn cưới, cũng như Quốc Tuấn chấp thuận cô dâu không có của hồi môn.\nBữa nọ hai người vào cung chào Thái tông, nhà vua sai treo biển “hồi tị”\n[1]. Hai người đành quay về bái biệt công chúa Thụy Bà. Cô cháu ôm nhau sầu sầu tủi tủi. Thụy Bà nước mắt ngắn nước mắt dài. Hai người bước xuống một lá thuyền, hơn chục đứa trạo nhi nhảy lên bờ đón chủ, khuân đồ đạc xuống thuyền. Đêm xuống, thuyền nhẹ, xuôi nước xuôi gió đi băng băng như ngựa chạy. Trưa hôm sau đã đến ấp An Sinh.\nThái tông đã sai trung sứ đến ấp An Sinh từ mấy bữa trước thông báo mọi việc xảy ra cho Hoài vương Liễu biết. Nhà vua cũng thân viết cho anh một bức thư, trong đó có đoạn: “\n*… Họ Trần ta từ khi được nước, mọi sự trở nên rối rắm, cương thường đảo lộn. Thật là đáng xấu hổ trước trăm họ. Anh em ta sẽ sám hối sao đây. Sự thể đã đến nước này, không thể để cho Quốc Tuấn có mặt ở kinh sư được. Biết huynh trưởng đau lòng, nhưng đành thất lễ. Mong huynh trưởng bảo trọng*”.\nĐọc xong thư nhà vua, vương Liễu thở dài nói với viên trung sứ:\n- Ta không còn bụng dạ nào để giữ lễ vua tôi được nữa.\nÝ ông muốn nói là ông đã không để thư của nhà vua lên hương án vái trước khi mở đọc. Đọc xong lại đặt lên hương án, vái.\nIm lặng một lát, vương lại nói:\n- Sứ cứ về tâu lại với nhà vua các việc như ta vừa làm. Ta đang mong nhà vua trị tội đây. Ta không biết nói thế nào cho phải, nhưng quả thật ta chán sống lắm rồi!\nQuốc Tuấn dẫn Thiên Thành về cung “Vạn Bảo” của mình, chàng hết đỗi ngạc nhiên. Hai chữ “Vạn Bảo” đã được gỡ bỏ và thay bằng hai chữ “Dưỡng Đức”. - À ra thế! Thiên hạ coi việc ta lấy vợ là thất đức chăng. Rửa mặt mũi xong, uống một ly trà cúc để tẩy trần, khoác tấm áo thụng gấm ra ngoài, Quốc Tuấn đi về phía cung “Tĩnh Tâm” để vấn an cha. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp, lão bộc đã bước ra thưa:\n- Đức ông hiện đang mệt, người dặn không được cho ai vào thăm, kể cả tiểu chủ.\nQuốc Tuấn trừng mắt, toan bước thẳng vào nội điện. Lão bộc vội chắn ngang trước mặt Quốc Tuấn, lão chắp tay vái và nói:\n- Nếu tiểu chủ không nghe kẻ nô bộc này thì hậu quả không biết thế nào mà lường.\nThấy gia nhân nói có vẻ nghiêm trọng, Quốc Tuấn không dám tự tiện vào diện kiến thân phụ nữa. Chàng bèn kéo lão bộc vào ngồi trong ngôi đình “Tị huyên”\n[2] gần đó, và hỏi:\n- Lão thuật lại ta nghe, vậy chớ có việc gì xảy ra khiến thân phụ ta yếu mệt tới mức không muốn nhận mặt cả con cái nữa?\nLão bộc băn khoăn, hết xoay người, lại ậm è mãi, vẫn chưa khai khẩu được.\nQuốc Tuấn ngầm đoán chắc có chuyện chẳng lành, chàng nhẹ nhàng hối thúc:\n- Lão cứ nói đi, hay dở gì thì ta là con cái trong nhà cũng phải được biết chứ. Nói đi, không phải cung kính giữ lễ mãi với ta nữa.\n- Dạ, bẩm tiểu chủ, cung kính sao bằng vâng lời, lão đâu dám không thưa lại để tiểu chủ tỏ tường. Dạ, bữa trước đức ông cho đòi Tuệ Trung vương từ An Bang về để ngài hỏi chuyện tiểu chủ học hành ở Thăng Long. Ngài lại nghe nói mong manh gì về một cuộc hôn nhân nào đó mà tiểu chủ có can dự. Sau khi nghe trưởng huynh của tiểu chủ giãi bày, đại vương không nói chi cả, chỉ vẫy tay cho lui. Rồi cũng từ bữa ấy ngài bỏ ăn luôn. Ép mãi, đại vương cũng chỉ uống vài hớp nước cháo loãng. Hầu hạ đức ông mấy chục năm giời, được đức ông tin yêu, mà kẻ nô bộc này gặng hỏi nhiều lần đức ông chỉ lắc đầu. Vâng, mãi gần đây ngài mới chịu nói, mà cũng kiệm lời lắm.\n- Phụ thân ta nói sao? - Quốc Tuấn sốt ruột giục.\n- Dạ bẩm tiểu chủ, đức ông chỉ nói: - Đời ta chỉ hy vọng vào nó. Cuộc đời ta coi như đã vứt bỏ từ lâu rồi. Nếu không có nó, ta chắc không sống được tới ngày nay. Vậy mà…\n- Vậy mà… sao? - Quốc Tuấn vội hỏi.\n- Dạ bẩm, ngài chỉ nói tới đó rồi bỏ lửng.\n- Sau đó, người còn nói gì nữa không?\n- Dạ có! Người nói khẽ lắm, dường như chỉ vừa đủ cho chính người nghe thôi.\n- Vậy chớ lão có nghe được không?\n- Dạ được! Nếu không có vài chục năm hầu hạ đức ông thì lão nô này sao có thể nghe nổi.\n- Vậy chứ thân phụ ta nói gì?\n- Dạ! Dạ, người chỉ nói - Cương thường đảo lộn hết cả rồi. Thần tối dạ không hiểu, bèn hỏi - “Bẩm đức ông, cương thường đảo lộn là cái gì ạ?”.\nĐức ông cau vừng trán, một lúc lâu sau ngài đuổi hết tả hữu ra, và chỉ để có một mình lão nô này ở lại trong phòng, ngài bèn nói với cung cách vừa đau khổ, vừa khó chịu vừa day dứt nữa.\n- Là cái gì à? Ngài nhắc lại hết sức bình thản: - Là cái loạn luân, là chị em con chú con bác lấy nhau; là chị lấy em; là em cướp vợ anh; là cháu lấy cô. Nói đến đây đức ông ngất đi. Lúc tỉnh dậy ngài hỏi ngay kẻ hầu hạ này, giọng thều thào như giọng nói ma trơi: “Có thật em ta phải gọi ta bằng bố không? Ôi đau lòng quá lão bộc ơi! Ta ngượng với ngươi”.\n- Vậy phụ thân ta còn nói gì nữa không?\n- Dạ, từ bữa đó, ngài thôi hẳn không nói năng gì nữa.\nLại nói Hoài vương từ khi biết chắc chắn cuộc hôn nhân giữa con trai mình với chính cô em gái của mình tự nhiên khí uất cứ bốc lên ngùn ngụt. Đầu nặng như đeo một hòn đá tảng. Ngực tức khó thở. Miệng đắng ngắt. Cổ họng khô khốc mà không muốn ăn muốn uống gì. Chân tay buồn bực, bải hoải. Ông giận Quốc Tuấn tới mức có thể từ con được. Bởi ông đã để hết tâm lực vào việc nuôi dạy Quốc Tuấn thành tài. Và chàng chính là niềm hy vọng của ông, có thể nối chí ông mà rửa hận với Thái sư. Theo ông, chính Trần Thủ Độ, người chú họ đã gieo không biết bao nhiêu ngang trái không chỉ cho dòng họ mà còn áp đặt ý muốn ngông ngạo của ông ta cho cả vương triều. Chính ông chú chứ không phải ai khác đã triệt bỏ mọi con đường thăng tiến của ta, hủy diệt cả sự nghiệp của ta, và buộc ta phải lui về điền viên sống với một bầy gia nô khiến cuộc đời ta không hơn một tên điền tốt. Cuộc đời ta coi như vô dụng, chính vì thế ta mới kỳ vọng vào Quốc Tuấn để nối chí ta, rửa mối hận cho ta và lấy lại ngôi nước. Ấy thế mà nó lại vướng vào cái nghiệp quả tai ác này. Thôi thì nó lấy người trong họ cũng được, nhưng nó lại lấy chính đứa em gái của ta thì quả là cương thường đã ruỗng mục rồi. Vậy ta còn biết ăn nói thế nào với người trong nước đây. Cái họa này khơi mào từ Trần Thủ Độ, từ Trần Thị Dung - những kẻ là cô, là chú ta. Đồi bại tới mức ấy mà dám nhận mình là quốc mẫu, quốc phụ thật họ không còn biết liêm sỉ là gì nữa. Ôi, những kẻ như thế mà được tôn vinh thì ở đời này cái đức đã bị vùi chôn vào nơi nhơ bẩn rồi.\nHoài vương cứ mắc vướng mãi vào cái vòng luẩn quẩn hận thù và quyền lực, nên bệnh ngài ngày một trầm trọng bởi khí uất kết tụ do cái tâm tạo ra, nên không thầy nào chữa được, thuốc nào trị được. Có lúc ngài đã muốn sống, muốn dìu dắt Quốc Tuấn đạt được những điều ngài dự nghĩ nhưng không còn đủ trí lực để làm. Do không tự hóa giải được mọi hiềm khích nên bệnh ngài ngày càng trầm trọng.\nHết trách con, trách vợ chồng Thái sư Trần Thủ Độ ngài lại trách Trưởng Công chúa\n[3] và nhà vua, tức là trách chị và trách em mình. Rằng nếu như từ khi Quốc Tuấn về kinh sư, công chúa Thụy Bà nhận nó làm con nuôi mà nghiêm huấn nó chứ không nuông chiều nó thì đâu đến nỗi. Vả khi Thiên Thành lui tới, trai gái đầu mày cuối mắt sao Thụy Bà không biết mà sớm cản ngăn đi. Lại nữa nhà vua, khi việc xảy ra như vậy, lẽ ra phải nghiêm trị Quốc Tuấn, trả Thiên Thành về cho nhà Nhân Đạo vương. Việc cần làm thì không làm, lại sai Trần Bất Cập đi thương thảo rồi cắt cả hai ngàn khoảnh ruộng quốc điền trả cho nhà Nhân Đạo vương và cho hai đứa mà đầu óc chúng đang u mê vì đắm say dục lạc để chúng được lấy nhau. Ôi gia đạo! Ôi vương đạo của vương triều này, chẳng biết nó sẽ dẫn dắt dân nước đi vào đường quanh ngõ cụt nào đây!\nSuy tư bấn loạn, sức lực suy kiệt, Hoài vương thực tình nghĩ đến cái chết chứ ông không muốn sống nữa. Bởi nếu như ông xả bỏ được hết thảy như người con trai lớn của ông, đó là Trần Quốc Trung quanh năm vui thú với đạo thiền, khai mở chân tâm, chắc là ông sẽ sống vui, sống khỏe bởi ông mới bốn mươi mốt tuổi, sức lực còn sung mãn. Vậy mà ông đã suy sụp, ông nằm dính xuống mặt sập, mặt tái mét, người gầy đét, tóc bạc trắng, hơi thở nặng nề thoi thóp. Nom thân xác ông tựa như một đống dọc mùng héo quắt và gương mặt bạc nhược vô hồn. Có ai ngờ mười bốn năm trước, chính con người này đã dấy một vạn binh họp ở sông Cái định đánh úp Thăng Long, lấy lại ngôi vua, bắt Trần Thủ Độ trị tội nhân việc vương bị cướp vợ và…, nhà vua bỏ lên Yên Tử, Thái sư cũng tìm lên đó ép vua phải quay về.\nViệc tưởng như thành tựu đến mười mươi, ai dè ông chú quỷ quyệt. Sự ra khỏi Thăng Long của ông chính là ông gài bẫy mà ta chưa lường tới. Chuyến ấy nếu Thái tông không đứng ra che chắn, chắc là ông chú đã chém bay đầu ta. Hoài vương cứ hồi tưởng triền miên về quá vãng và nhớ rất sâu sắc về những điều bực giận, những nỗi niềm cay đắng nên tâm trạng càng u uất tới mức không gì gỡ bỏ được, không gì hóa giải được.\nHoài vương lâm trọng bệnh, tin về tới Thăng Long, Thái sư Trần Thủ Độ sai thủ hạ về thăm, vương khiến gia nhân đuổi đi, không tiếp.\nNgười được sai bảo về tâu lại, Trần Thủ Độ mỉm cười. Và có vẻ như là một sự ân hận, ông nói:\n“Vậy là Hoài vương Liễu vẫn giận ta. Quả thật tình thế lúc ấy buộc ta phải xử sự như vậy, nhưng hơi quá tay”.\nThái sư vào hậu điện đem chuyện sai người về thăm vương Liễu bị ốm, Liễu đuổi đi không tiếp nói với nhà vua. Rồi ông khuyên vua:\n- Bệ hạ nên về thăm Hoài vương, ta nghe nói Liễu ốm nặng mà không chịu uống thuốc.\n- Liệu chú có thể về thăm Hoài vương được không? - Vua Thái tông hỏi.\nTrần Thủ Độ cười như mếu:\n- Bệ hạ thừa biết, Liễu còn giận thần lắm. Bây giờ thấy mặt thần, bệnh Liễu càng thêm nặng. Bệ hạ nên về thăm vương, đem tình cốt nhục ra mà hóa giải họa may bệnh Liễu có lui được chăng?\n- Được, cháu sẽ về ấp An Sinh, nhưng chưa thể đi ngay được. Cháu đang muốn bàn với chú chuyện nam thùy.\n- Lại chuyện quân Chiêm quấy phá ven biển châu Hoan, rục rịch đòi đất ba châu mà Chế Củ đã dâng cho Lý Thánh tông để chuộc mạng chứ gì.\n- Vâng, đúng là chuyện đó, chắc là cháu phải thân chinh phạt Chiêm để giữ yên mặt nam còn lo rảnh tay đối phó mặt bắc.\n- Bệ hạ nghĩ thế là đúng. Nhưng đánh Chiêm Thành chưa cần bệ hạ phải ra tay, việc đó cứ để chú lo. Chỉ xin bệ hạ cho hai vạn binh là chú có thể đánh dốc tới kinh đô Trà Bàn, bắt Bố-da-la là vua nước nó về để bệ hạ trị tội; biết đâu nước Chiêm Thành lại một lần nữa đem đất chuộc vua như thời Lý Thánh tông bắt Chế Củ.\nVua Thái tông vội xua tay:\n- Không được! Không được! Thưa chú, vì nghiệp lớn của họ Trần chú đã suốt đời vất vả, bao phen chinh chiến vào sinh ra tử mới có được ngày nay, bây giờ tuổi đã cao, chú cần phải được hưởng nhàn, cháu là thân trai tráng, bình Chiêm là việc nhỏ, chú cứ để cháu lo.\nSuy nghĩ giây lâu, vua Thái tông lại hỏi:\n- Thưa chú, cháu vẫn ngại nhất là phía bắc thùy. Dạ, đám vua tôi nhà nam Tống thì chẳng có gì phải lo.\n- Chắc bệ hạ lo về đám quân Mông - Thát\n[4] đang rình đánh nước Đại Lý?\nThát-đát đã diệt xong nhà Kim từ năm Giáp Ngọ (1234) nay dồn ép nhà Tống ở mặt bắc. Hiện, người của ta từ Lâm An và từ Đại Lý tin về rằng Mông-kha\n[5] (Möngkä) đang dự liệu cho Hốt-tất-liệt [6] và Ngột-lương-hợp-thai [7] thôn tính nước Đại Lý. Nếu lấy xong Đại Lý chắc quân kia sẽ tràn sang đánh ta, rồi lấy đất ta đánh Tống từ hai mặt nam, bắc. Việc đó bệ hạ và thần đã chẳng tính đến rồi sao.\n- Thưa chú đành rằng vậy, nhưng xem ra binh lực của ta còn mỏng lắm mà quân Mông - Thát như một thứ hung thần, đánh đâu thắng đó, dưới gầm trời này chưa một nước nào chống cự được với nó.\n- Biết kẻ cướp mạnh thì mình phải lo rào giậu biên thùy cho kín đáo, phên giậu phải bao bọc nhiều lớp, quân giữ nhà phải đông đúc, tinh khỏe, khí giới phải bén nhọn, tinh thần binh sĩ phải hăng hái, trên dưới một lòng.\nNgừng lời giây lát, Thái sư lại tiếp:\n- Tâu bệ hạ, nhưng điều quan yếu nhất là phải thắng được nỗi sợ hãi, phải xác quyết rằng dù kẻ kia có mạnh đến mấy cũng chỉ là lũ kẻ cướp, lý đương nhiên giặc cướp đến nhà là phải đánh đuổi nó để giữ nhà mình, giữ sự an ổn cho người thân của mình, cho dân mình, cho nước mình, nếu trên từ bệ hạ dưới là quần thần tới tận binh sĩ và từng người dân đều đồng lòng như vậy thì không một kẻ cướp nào, không một kẻ xâm lăng nào là không bị đánh bại, cho dù nó có là quân Mông - Thát đi nữa. Nói thật với bệ hạ, khi nhà Trần ta mới khởi nghiệp phải kình chống với mấy thế lực, họ hùng hậu hơn mình nhiều lắm, nếu không cơ mưu, không cương dũng thì mạng sống của mình cũng không giữ nổi nói chi đến sự nghiệp, đến đế nghiệp.\nNhững điều Thái sư vừa nói tựa như một làn gió thổi bùng ý chí quật cường của vị vua trẻ. Với vẻ khoái hoạt, vua hỏi:\n- Thưa, cứ như ý chú thì sức mạnh và lòng cương dũng chính là bảo bối thắng giặc.\n- Tâu bệ hạ, đúng như vậy.\n- Chú thử nói rõ làm thế nào để ta có được bảo bối ấy?\n- Dễ thôi mà, thần dâng bệ hạ chỉ có bốn chữ thôi. Đó là DƯỠNG DÂN, RÈN QUÂN, song thực hiện được bốn chữ đó lại không phải là chuyện dễ đâu.\n- Vậy ta phải làm gì đây thưa chú?\nTrần Thủ Độ cười thật là cởi mở, tay ông nhặt trên nắp cơi một khẩu trầu bỏ vào miệng nhai, lại cầm chiếc quạt lông chim phe phẩy - Mới đầu hạ mà trời đã nực, năm nay chắc mưa sớm, Thái sư nói và dường như ông không để ý đến lời nhà vua vừa hỏi.\nVua Thái tông cầm chiếc dùi chuông nhỏ xíu toan gõ chuông gọi đám nữ tì đến hầu quạt.\nThái sư vội ngăn lại:\n- Ấy đừng, bệ hạ không nên cho ai vào cung cả, trong khi thần và bệ hạ đang bàn việc nước. Giặc tuy còn ở xa, nhưng tay chân, tai mắt chúng rải khắp nơi, chi bằng ta cứ phòng bị cho thật nghiêm cẩn là hơn. Bây giờ thần xin nói điều bệ hạ vừa hỏi. - Phải làm gì à? Thì bệ hạ chẳng đã và đang làm bao việc trọng đại và cần kíp đấy ư. Từ khi bệ hạ phương trưởng, tự mình nắm quyền đại chính, vào năm Đinh Mùi (1247) bệ hạ đã cho thi tuyển người tài để đưa vào nắm giữ các cơ quan then máy của quốc gia. Chính bệ hạ xuống chiếu lấy tam khôi từ khoa Đinh Mùi. Khoa ấy ba vị tam khôi đều là các thần đồng từ mười ba đến mười bảy tuổi đã làm cả triều đình kinh ngạc. Xong việc học hành thi cử, tuyển bổ, bệ hạ lại cho sửa sang hình luật, từ đó việc hình án từ tố tụng đến xét xử đều theo một trình tự minh bạch, khiến người dân trong nước an lòng do việc xét xử đúng người đúng tội. Dù người mắc tội giàu có đến đâu, quyền thế đến đâu cũng không thoát được lưới của pháp luật. Chính vì sự thượng tôn pháp luật ấy mà dân càng tin vào triều đình, tin vào đấng chăn dân. Đấy là các việc lớn của một triều đại mà bệ hạ đã làm, sao còn phải hỏi làm gì nữa. Tuy nhiên còn một việc cực lớn nữa bệ hạ đã cho làm, nhưng thần chắc bệ hạ cũng không ngờ là việc vô tiền khoáng hậu. Ấy là năm Mậu Thân (1248) cách đây vừa đúng ba năm, bệ hạ sai các lộ đắp đê đỉnh nhĩ từ đầu nguồn đến tận biển để phòng chống lụt, bảo vệ mùa màng. Việc ấy chắc phải vài năm nữa mới hoàn tất được. Đê điều mà vững chắc vừa chống được lụt vừa ngăn được mặn. Việc này mà thành tựu thì biến ruộng đồng từ một vụ thành hai vụ, dân gian sẽ trở nên no ấm, tránh được nạn đói, nạn giáp hạt, nước cũng do đấy mà giàu thịnh. Dân sẽ biết ơn bệ hạ đến muôn đời. Thần có đi kiểm sát việc đắp đê thấy bệ hạ chu đáo quá, thương dân quá. Vì rằng nếu chân đê ăn vào ruộng dân, hoặc phải lấy đất từ ruộng dân vật lên đê khiến các ruộng ấy trở thành các thùng đấu không cày cấy được nữa thì thảy đều lấy ruộng quốc điền ra bồi hoàn không thiếu một tấc, hoặc ai muốn lấy tiền thì trả theo đúng giá ruộng đất trong vùng. Bởi vậy lòng dân hỉ hả lắm, vợ chồng, con cái thay nhau đi đắp đê, chỉ được một ngày hai bữa cơm ăn chứ không có một đồng công đồng thưởng nào mà vẫn cứ vui vẻ.\nThái sư ngừng lời. Một lát ông lại tiếp: - Các điều căn cốt của việc trị nước an dân bệ hạ đã làm được cả, sao bệ hạ còn hỏi phải làm gì nữa.\nNghe những điều thái sư nói về các việc mà triều đình đã làm, nhà vua cảm thấy đều đúng cả, đều có lý cả, nhưng trong sâu kín tâm tư vua Thái tông vẫn mơ hồ cảm nhận như có một điều gì bất an, tựa như linh giác thầm mách cho ngài biết rằng sắp có một tai họa gì đây sẽ giáng xuống đất nước. Nghĩ vậy, nhà vua liền bày tỏ:\n- Cháu mơ hồ cảm thấy như nước mình sắp có giặc giã từ ngoài vào xâm lấn, cho nên chú phải giúp cháu vực thế quân lên kẻo khi họa đến, ta trở tay không kịp, vả lại cũng đúng như ý chú vừa răn là phải “Dưỡng dân, rèn quân”.\nChiêu xong một ngụm nước, Thái sư Trần Thủ Độ chậm rãi:\n- Việc rèn quân, bệ hạ cũng đã làm được nhiều rồi đấy, ví như năm Tân Sửu (1241) bệ hạ đã tinh tuyển những người am hiểu võ nghệ, có sức khỏe, có lòng dũng cảm sung làm quân túc vệ Thượng đô. Và hiện nay bệ hạ đang mở rộng quy mô Giảng Võ đường, để đào tạo người tài cho nắm giữ các đô quân, các sắc quân. Việc làm ấy là căn bản. Mạn bắc thùy, nhà nam Tống đúng là nó đang rệu rã, yếu hèn, nhưng vẫn cứ ra vẻ ta đây, dung dưỡng cho đám tay chân thỉnh thoảng lại lấn qua biên ải làm một vài vụ cướp của và đốt một vài nóc nhà, để nạt dọa dân ta rồi lại cuốn chạy. Cho nên cũng năm Tân Sửu bệ hạ đã làm một cuộc tảo thanh đánh dốc sang các trại biên quân của nhà Tống bằng đường bộ, rồi lại dùng đường thủy qua các châu Khâm, Liêm rồi đem quân về. Quân Tống thẩy đều chạy trốn mà không hề có sự chống cự nào. Cuộc tảo thanh của bệ hạ sang đất Tống năm Tân Sửu cũng na ná như cuộc phạt Tống của Lý Thường Kiệt năm Ất Mão (1075). Thế rồi năm sau bệ hạ lại sai tướng Khuê Kình đem quân lưu trấn vùng bắc thùy, nhân quân Tống kéo nhau sang ăn cướp. Trần Khuê Kình không chỉ tiêu diệt sạch mà còn truy đánh dốc sang tận Bằng Tường. Từ ấy tới nay kể đã dư mười năm, bắc thùy yên ổn, quân Tống không dám nhúc nhích nhòm ngó núi sông ta.\nHiện nay bệ hạ linh cảm như đất nước sắp có tai họa, sắp có xâm lăng. Việc đó quả là có lý đấy. Nếu có họa xâm lăng, ắt chỉ có quân Thát-đát Mông Cổ thôi chứ không phải quân Tống. Quân Thát-đát đúng là thiện chiến và hiện dưới gầm trời này chúng chưa có địch thủ. Tuy vậy không phải chúng cứ muốn làm gì cũng được đâu. Ví như năm Giáp Ngọ (1234) Oa-khoát-đài nối ngôi cha là Thành-cát-tư-hãn đã diệt xong nhà Kim, thế mà suốt mười bảy năm đã nuốt trôi nhà nam Tống rệu rã yếu hèn đâu.\nThái tông vui hẳn lên, giọng nói nhà vua đầy phấn khích:\n- Quả đúng như chú nói, nếu quân Mông Cổ có sức mạnh trùm sông núi, sao mười bảy năm qua vẫn chưa khuất phục nổi Trung Nguyên. Thật ra đánh bọn quân Mông Cổ xâm lược chỉ thuần có nghĩa quân thôi, triều đình của Tống Lý tông chỉ làm mỗi một việc là cắt đất cầu hòa với quân Mông Cổ và ngăn cản nghĩa quân không được đánh giặc. Nhưng theo chú thì binh lực của ta hiện nay đã đủ sức cản giặc chưa? Cái lo của cháu là ở chỗ đó.\n- Chưa! Quân ta hiện chưa đủ sức cản giặc. Thái sư Trần Thủ Độ nói một lời dứt khoát khiến vua Thái tông lạnh cả sống lưng. Nhà vua tưởng như mình nghe nhầm, như không phải lời nói của một bậc trí dũng đã tạo dựng lên vương triều này.\nLấy lại sự bình tâm nhà vua hỏi tiếp:\n- Cháu không hiểu ý chú. Chú vừa nói thì quân Mông Cổ chẳng có gì đáng sợ, vật lộn với một nhà nam Tống bạc nhược suốt mười bảy năm qua vẫn cứ ì ạch, thế mà chú lại bảo quân ta chưa đủ sức cản giặc là thế nào? Nếu giặc Mông - Thát tới, ta phải đầu hàng chăng?\nTrần Thủ Độ cười xòa:\n- Bệ hạ hiểu sai ý thần rồi. Mông - Thát vẫn là đội quân đáng gờm, muốn cản được nó, muốn thắng nó, ta còn nhiều việc phải làm, mà việc gì cũng phải rất gấp. Phải lo như ngày mai giặc sẽ khởi sự thì mới kịp.\n- Thưa chú, cháu đang muốn nghe ý chú.\nTrần Thủ Độ chậm rãi:\n- Bệ hạ phải lo kiểm kê đinh tráng trong độ tuổi sung quân ngay. Phải lấy điền binh sung vào quân thường binh chính ngạch cho quân số tăng lên gấp đôi hiện nay. Sức mạnh của quân Mông - Thát là ở kỵ đội, nó nhanh mạnh và xuất quỷ nhập thần lắm. Ta phải hết sức tránh cái sở trường của giặc. Không, tượng binh của ta với dăm chục thớt voi cồng kềnh, di chuyển chậm chạp không địch lại được với kỵ đội của chúng đâu. Phải đánh bằng quân phục, phải chia mỏng chúng ra mà đánh, phải lôi chúng xuống sông nước mà đánh, bởi thủy chiến là thế mạnh, là sở trường của quân ta.\n- Nhưng nếu giặc đánh ta vào mùa đông, nước sông đều xuống thấp, đường sá khô ráo rất thuận tiện cho kỵ đội chúng xông xáo thì làm thế nào, - vua hỏi cắt ngang.\n- Thuật đánh giặc thì bệ hạ khỏi lo, mùa nào có cách đánh của mùa đó. Bệ hạ chẳng thấy nước ta rừng rú dày đặc, chỗ nào cũng là rừng cây cả. Ngay đồng bằng cũng xen kẽ rừng rậm chi chít chớ đâu phải thảo nguyên để giặc có thể dùng sở trường của nó. Có nhẽ thuật đánh giặc, ta sẽ bàn sau. Bây giờ phải tìm cách hưng thế quân, thế nước lên.\n- Làm cách nào để hưng thế nước, thế quân?\n- Bệ hạ cho đắp đê phòng lụt, ngăn mặn là việc làm căn cốt nhất. Nhưng để người dân thật sự biết ơn triều đình, vì triều đình mà chung lo việc nước thì bệ hạ phải cho dân có chút quyền lợi.\n- Vậy chớ việc đắp đê đó chú bảo không vì lợi quyền của người dân sao?\n- Đành rằng vậy, nhưng bệ hạ nên biết số đông nông phu hiện nay không có ruộng, nếu họ không cấy rẽ thì cũng phải đi ở mướn cho các điền chủ. Vì vậy nguồn lợi do bệ hạ trị thủy đem về trước hết cho đám điền chủ.\n- Theo chú, vậy triều đình phải làm gì?\n- Thần đã có dự nghĩ nhưng chưa có dịp tâu với bệ hạ. Hiện nay điền chủ chiếm quá nhiều ruộng đất. Triều đình phải hạn giới việc chiếm hữu chỉ được phép tới mức nào; quá giới hạn đó nhà nước sẽ mua lại. Số quốc điền trong hương ấp hiện nay cũng rất nhiều. Sao bệ hạ không chia cho nhân đinh ở mức tối thiểu nào đó, rồi cũng bán bớt quốc điền cho người nông phu, nhà nào nghèo quá thì bán chịu. Lại nữa, khuyến cáo ai có sức khai phá rừng kiệt, đất hoang, bãi bồi sẽ tha tô thuế nhiều năm tùy theo công sức bỏ ra và cho làm chủ luôn đất ấy.\n- Đúng! Chú nói đúng. Việc giản dị thế sao mà cháu không nghĩ ra. Đúng là phải hữu sản hóa cho dân thì nước có giặc họ sẽ không tiếc máu xương để giữ nước, bởi giữ nước chính là giữ nhà, giữ tài sản của họ. Các việc chú nói phải cấp kỳ khai triển. Phủ thái sư khai triển. Chú cho trung thư sảnh đi đốc thúc các lộ làm ngay, nhưng trước hết phải có điệp văn trình tâu lên, triều đình sẽ nhân đó mà xuống chiếu. Lại còn việc sửa soạn binh khí, quân lương, luyện quân, cả việc tăng quân cho vùng biên thùy nơi giáp giới nước Đại Lý, biết bao là việc mà việc nào cũng gấp cả.\n- Bệ hạ phải bình tâm, phải giữ thế nhân chủ, tuy coi giặc có thể phạm cõi bờ ta từ ngày mai, nhưng vẫn cứ phải bình thản như không có gì xảy ra cả. Nếu không sẽ rối. Việc biên ải thần đã cử Khuê Kình đem theo một ngàn quân lên đó rồi. Kình cũng làm chuyện vỗ về các tù trưởng trên đó làm phên giậu che chắn cho triều đình. Kể cả việc cấp thêm lương thảo và tiền bạc cho họ, thần cũng lo rồi. Duy có việc phạt Chiêm thì phải làm sớm đi để rảnh tay lo mặt bắc. Việc ấy bệ hạ cứ để thần đem vài vạn quân vào Chiêm là xong.\n- Không được, việc nội trị quan yếu lắm, chú phải ở nhà giúp cháu, kể cả các việc vừa bàn chú cũng phải làm ngay. Cháu sẽ tự thu xếp chuyện nam chinh.\n- Bệ hạ đã nói vậy, thần xin tuân chỉ.\nLại nói về chuyện Quốc Tuấn, Thiên Thành về ấp An Sinh thấy cha buồn phiền ốm đau về chuyện hôn nhân của mình khiến chàng cũng bứt rứt. Chàng không ân hận về chuyện hôn nhân, nhưng quả thật thương cha đến se thắt lòng dạ. Sao Quốc Tuấn không biết chàng là niềm kiêu hãnh của cha mình. Thế mà bây giờ đến nỗi cha giận không cho gặp mặt, không thèm nhìn mặt. Chàng hẹn với lão bộc khi nào cha thiếp ngủ sẽ báo cho chàng vào túc trực bên cha. Nhìn thân thể cha hao gầy, mặt võ vàng hốc hác, hai hốc mắt trũng sâu, tóc, râu bạc trắng tự nhiên nước mắt chàng cứ nhểu ra chảy ướt cả hai gò má. Chàng thầm nghĩ: mẹ đã bỏ ta từ tấm bé, thân côi cút phải nhận cô làm mẹ, nay lại đến lượt cha đi nữa thì ta biết nương tựa vào ai. Chưa làm được điều gì báo hiếu mẹ cha lại để cha phiền lòng, đó là điều Quốc Tuấn khổ đau nhất. Nghe hơi thở cha nặng nề, đôi lúc lại nấc lên như người nghẹn, lão bộc giơ tay báo hiệu cho Quốc Tuấn ra ngoài để ông săn sóc lão gia. Quốc Tuấn lặng lẽ đi giật lùi ra cửa, nước mắt vẫn giàn giụa tràn mi.\nThấy sức cha ngày một kiệt, Quốc Tuấn nhất định không chịu ra khỏi phòng cha nữa, chàng cứ đứng đó nhìn cha chòng chọc, khi cha cựa mình thì chàng ngồi thụp xuống chân giường hoặc chui vào gậm giường.\nNhững hành vi của Quốc Tuấn kỳ thực không che được mắt Hoài vương Liễu. Có lúc ông đã toan quát đuổi Quốc Tuấn nhưng không đủ sức bật ra được thành lời nói. Nhưng thấy Quốc Tuấn rầu rĩ, lén vụng để được hầu hạ suốt ngày đêm không tỏ ra mệt mỏi, ông lại dấy lên lòng thương con. Hoài vương biết chắc con mình có tài vương bá; trong mấy người con trai, ông chỉ kỳ vọng ở Quốc Tuấn; còn như Quốc Trung thì chữ nghĩa đầy mình, đầu óc khoáng đạt nhưng chí của nó lại đặt vào cái chỗ vô tranh, chuyên chú vào việc tu tâm, xả bỏ hết thảy để cầu tìm sự giải thoát. Có lúc ông đã nghĩ Quốc Trung chỉ làm những việc hão huyền, vô bổ; có lúc ông lại cho sự nghiệp mà Quốc Trung theo đuổi là cao thượng, là kỳ vĩ, người thường không thể theo được.\nHoài vương cứ đắm mình vào trạng thái hư hư thực thực, đầu óc ông không khai thông được tức là không thoát ra được cái ranh giới của sự sống. Ông mơ hồ cảm thấy cái thời khắc của mình đã sắp đến. Sức ông cứ kiệt dần, người cứ lịm chìm trong một thứ ánh sáng đục mờ, dường như ông cố giương mắt ra nhìn mà chẳng thấy một vật gì ngoài cái màu trắng ma quái cứ ám ảnh, giăng mắc bủa vây ông đến hãi hùng.\nTới một hôm Hoài vương thấy người tỉnh táo, đầu óc nhẹ nhõm, ông đòi lão bộc nấu nước hương nhu lá bưởi cho ông tắm. Lại sai lấy áo mũ tước vương mặc cho ông. Các việc mặc áo, đội mũ ông cho Quốc Tuấn được phép hầu hạ. Ấy là trong lòng ông đã có sự tha thứ. Tựa vào chồng gối xếp có lão bộc nâng đỡ ở phía sau, ông chỉ Quốc Tuấn quỳ xuống, ráng lấy sức nói thong thả để khỏi có sự nhầm lẫn, chắc vương nghĩ vậy. Giọng vương cất lên yếu ớt, nhưng lời giối giăng thật rõ ràng: “\n*Mày mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt*”.\nVừa nói xong điều gan ruột vương gục xuống, chiếc mũ phốc đầu văng ra; vương đi xem chừng chưa được thanh thản. Lão bộc vội vàng đỡ vương. Quốc Tuấn thét một tiếng kinh hoàng: - Cha!\n\nĐược tin Hoài vương Liễu thất lộc, vua Thái tông hết sức đau lòng, thương anh một đời lận đận. Nhà vua sai trung sứ về tế trước linh sàng huynh trưởng, gia phong làm đại vương, lại có dụ riêng cho Quốc Tuấn: “\n*Sau một năm cư tang phải trở lại Thăng Long nhận mệnh*”.\nVua Thái tông đem hai vạn quân vào Chiêm Thành lấy Lê Tần làm tướng tiên phong. Trước ngày xuất chinh nhà vua ghé cung Thủy Tĩnh chào Thái sư Trần Thủ Độ.\nTrần Thủ Độ đã biết rõ việc điều động binh nhung, tướng hiệu của vua nên không hỏi han về chuyện đó, chỉ căn dặn vài điều:\n- Bệ hạ đi chuyến này chắc Chiêm Thành sợ oai phải trở lại nước phiên thần và không dám quấy nhiễu mặt nam của ta nữa. Chỉ nhằm răn đe, chắc chủ ý của bệ hạ không muốn mạnh tay quá để khổ cho dân nước họ và cả di hận cho triều đình Bố-da-la nữa; muốn vậy bệ hạ phải nghiêm huấn cho các tướng chớ ham giết chóc một khi quân kia đã tháo chạy hoặc đầu hàng.\nThái tông gật đầu:\n- Chú dạy chí phải, vạn bất đắc dĩ mới phải đem quân ra khỏi cõi trong khi nước mình cũng đang bị kẻ khác rình rập.\n- Vậy thì bệ hạ ra oai với người Chiêm xong nên sớm rút quân về.\n- Cháu cũng nghĩ vậy. Việc kinh sư cháu đã trao cho Nhật Hiệu lưu thủ. Mọi việc trong nước vẫn do Phủ thái sư điều hành.\n- Thần tuân chỉ. Có điều hoàng thái tử tuổi còn nhỏ quá, nhẽ ra việc lưu thủ kinh sư phải do hoàng thái tử đảm nhiệm.\n- Cháu cũng biết thế, nhưng Hoảng mới mười ba tuổi nên cháu không dám tùy tiện.\n- Bệ hạ nghĩ thế là phải. Nhưng Nhật Hiệu chỉ làm được công việc của thời bình.\nVua Thái tông biết ông chú không ưa Nhật Hiệu và thường chê Hiệu bất tài. Nhật Hiệu là thân vương trong hàng huynh đệ nên nhà vua cũng có phần ưu ái.\nNhà vua xuất chinh rồi Thái sư Trần Thủ Độ liền cho các quan của triều đình về các trấn, lộ tuyên chiếu mệnh của vua về các việc: kiểm kê tiểu hoàng nam, đại hoàng nam biên chép đầy đủ để khi nhà nước động binh mọi việc đã sẵn sàng. Việc thứ hai là tất cả các đinh tráng tuổi từ mười tám đến bốn mươi lăm đều phải gia nhập điền binh và luyện tập mỗi năm hai tháng thay vì một tháng như trước đây; binh bộ sẽ cử các đô tướng về huấn dạy các môn võ nghệ và sử dụng các đồ khí giới; lương thực ăn trong thời gian tập luyện do nhà nước chu cấp, các điền binh không phải tự túc như trước nữa. Việc thứ ba là nhà nước sẽ đưa mẫu khí giới cho các lò rèn làm như giáo búp đa, đinh ba, câu liêm, đao, kiếm cũng như việc chế tác cung, nỏ, tên và chông sắt… nhà nước sẽ mua tất thảy để phân phát cho các đội dân binh phòng khi nước có giặc. Việc thứ tư là các đất hoang hóa, đầm hồ, bãi bồi hoặc rừng kiệt trong dân gian ai khai phá được, nhà nước sẽ tha tô thuế cho từ năm năm đến mười lăm năm tùy theo công sức bỏ ra, nhà nước cũng cấp luôn sổ địa bạ và cho làm chủ đất ấy.\nCùng với việc triều đình cho đắp đê từ nguồn đến biển phòng lũ lụt, ngăn nước mặn với các chính lệnh mới vua ban đã gây một luồng sinh khí chưa từng thấy trong dân gian làng xóm. Người nào việc ấy, dân chúng hồ hởi, cả nước đều nhộn nhịp như một đại công trường.\nBữa nọ Thái sư đi kinh dinh các lộ vừa về tới dinh phủ, chưa kịp tẩy trần, phu nhân đã sán hỏi:\n- Ông đi quá nửa tuần trăng nay mới về, vậy chớ có việc gì mà ông vui thế?\n- Việc nước cả thôi chứ tôi có việc tư riêng gì đâu bà, - Thái sư vừa nói vừa nhìn phu nhân cười lấy lòng.\nPhu nhân bĩu môi:\n- Hơn ba chục năm nay lúc nào ông cũng “việc nước”, “việc nước”, còn gái già này chỉ quẩn quanh bếp núc hầu hạ đức ông thôi chứ gì. Phu nhân dằn giọng vẻ như hờn dỗi - Lạ thật, không bao giờ ông hỏi được một câu về các việc nơi đầu hè, xó bếp của mụ già này là thế nào.\nTrần Thủ Độ thầm nghĩ: - Vẫn cái tính đáo để của cô Dung ngày nào. Với điệu cười làm lành, ông tường thuật lại các việc, cả khí thế lòng dân nữa cho phu nhân nghe.\nNghe xong, phu nhân cũng cười nói xuề xòa:\n- Việc vui như thế mà trước khi đi ông chả nói cho tôi biết.\n- Thì đã biết lòng dân đón nhận thế nào mà khoe trước với bà.\n- Tôi thấy Cảnh nó trị nước giỏi đấy ông ạ. Chính lệnh ngày càng khoan nới, dân được nhờ. Kể ra ông cũng là người tinh tường, đặt nó vào ngôi quân trưởng từ thuở còn chưa biết hỉ mũi, thế mà rèn cặp được thành người tài đức. Cả dòng họ vẻ vang, dân nước chịu ơn. Giỏi! Chú cháu ông đều tài giỏi cả.\nTrần Thủ Độ sùy một tiếng rồi nói:\n- Chú cháu tôi được như ngày nay là đều ở như bà cả. Giả dụ ngày bà có mang con Thuận Thiên, Đàm thái hậu truy ép rồi bỏ thuốc độc, cả bức tử nữa, nếu bà không có gan cóc tía, khí uất bốc lên, mọi việc buông xuôi bà khuất bóng thì làm sao anh em tôi giữ được Huệ tôn, ngôi nước chưa biết về tay họ nào. Bè này đảng nọ kình chống lẫn nhau, xâu xé giang sơn, máu xương đầy nội biết bao giờ mới quy được về một mối. Do thế, chỉ lịch sử mới ghi xuể công lao của bà chứ chú cháu tôi nói dăm câu ba điều nơi đầu lưỡi thì ăn nhằm gì. Còn việc bếp núc, việc hậu cung không ở tay bà còn ở tay ai. Hậu cung mà rối nát, chú cháu tôi dẫu có tài thánh cũng phải bó tay.\nPhu nhân có vẻ hài lòng, có vẻ mãn nguyện, bà dẩu môi nói:\n- Dào ôi, ông cứ nói mãi công lao làm tôi thêm ngượng. Này, thế việc ông và nhà vua trù liệu quân lương, binh khí như vậy có nghĩa rằng quân Mông Cổ sắp đánh mình thật ư?\n- Biết nói thế nào để bà hiểu. Đối với người một đời làm tướng như tôi thì việc giữ nước lúc nào cũng phải coi như ngày mai giặc sẽ tràn vào cướp nước mình, thậm chí ngay đêm nay, ngay lúc này. Nhưng cái đó cũng còn tùy thuộc ở ta. Nếu lực ta đủ mạnh, lúc nào ta cũng cảnh giới cao và sẵn sàng nghênh địch thì chưa chắc giặc đã dám xâm phạm bờ cõi ta. Bởi kẻ xâm lăng cũng dư sự khôn ngoan để biết rằng, nếu không thắng được đối thủ thời chớ có dại mà gây hấn.\nPhu nhân cười rất chi là thỏa mãn - Thảo nào chú cháu ông làm việc gì cứ là chắc nịch việc ấy. Tôi nhớ khoảng mười năm trước, khi ấy nhà vua mới hai mươi bốn hai mươi nhăm tuổi thế mà đem binh tuần thú qua đất Tống, đánh dốc mấy trại trên bộ rồi lại xuống thuyền lấy đường thủy qua châu Khâm, châu Liêm quân Tống cứ im re không dám kháng cự.\n- Thật ra bà mới chỉ biết nhà vua là người có đức, thương người, hiếu thuận, nhu hòa chứ bà chưa biết nhà vua còn là người mưu lược, cương dũng lắm đấy.\nPhu nhân làm ra vẻ nghiêm trọng hỏi:\n- Vậy chớ bằng linh giác của một đời làm tướng, ông thử nghĩ xem liệu quân Mông Cổ có xâm lược cõi bờ ta không?\nNgập ngừng giây lát, thái sư hỏi lại phu nhân:\n- Bà muốn dò biết để làm gì?\n- Để xem có lo liệu được cái gì thì lo sớm đi. Ấy tôi lo xa thế để biết đường tích trữ lương thực, thức ăn thức uống, kẻo khi giặc đến bất ngờ, bếp núc của tôi trống trơn sao.\nTrần Thủ Độ cười khì:\n- Bà đúng là kẻ có tài nội gián, thảo nào mà khi trước Lý Huệ tôn xa giá đi về nẻo nào Thuận Lưu Bá (Trần Tự Khánh) cũng biết mà nghênh đón, còn các đối thủ của ta cứ mù tịt.\n- Tôi mà không khéo dò la thì Thái úy Đàm Dĩ Mộng cùng các tướng của Huệ tôn họ vặt lông anh em nhà ông từ lâu rồi. Huệ tôn đúng là người bạc nhược, nhưng tả hữu của ông ấy không phải là một lũ vô dụng cả đâu.\n- Sao anh em tôi chẳng biết điều đó. Ngay bà Đàm thái hậu cũng không phải tay vừa. Nhưng vận hội của nhà Lý đã đến hồi chung cục. Bởi sự sụp đổ ấy không phải nó diễn ra một sớm một chiều mà nó tích chứa cả trăm năm rồi, kể từ thời Dương Hoán kia (Lý Thần tôn 1128 - 1138); cho nên Lý Huệ tôn dù có tài thánh cũng không gượng dậy được.\nPhu nhân thở dài, dường như bà muốn nén giấu một điều gì khổ đau, khó nói.\n- Ơ kìa! Sao đang nói chuyện vui bỗng nhiên bà lại trở buồn?\nBuông thõng hai cánh tay, giọng trầm buồn, phu nhân chậm rãi:\n- Chẳng giấu gì ông, cứ mỗi khi ông nói đến công lao của tôi đối với nhà Trần, tôi lại nhớ lời con Chiêu Thánh nó đay nghiến tôi. Ông có biết nó nói với Trần Cảnh về tôi như thế nào không?\n- Tôi đâu có biết các chuyện ấy. Nhưng thôi bà cứ gợi lại chuyện cũ làm gì?\n- Nếu ông chưa biết thì ông nên biết, tôi đã phải chịu đựng búa rìu như thế nào. Chính con Chiêu Thánh đã thét vào mặt Trần Cảnh rằng: “… Bà cô ông ấy. Tôi không ngờ, trời phú cho bà ta khuôn mặt đẹp để che giấu một tâm hồn ác độc. Bà ta chui vào triều Lý để đánh hồi chuông báo tử cho dòng họ Lý nhà tôi…”.\nThái sư ơi, phải nghe những lời xót xa cay đắng ấy từ miệng con gái mình nói ra, ông tưởng tôi sung sướng lắm sao.\n- Các việc đã qua thì cho qua hết đi bà ạ, tương lai còn nặng gánh lắm mà tôi với bà cũng đều luống tuổi cả rồi. Để tôi giả nhời câu bà hỏi về quân Mông Cổ, kẻo mai này nước có họa lớn bà lại trách tôi. Về quân Mông Cổ hiện thời nó có sức mạnh như quân nhà trời. Nó đánh đâu thắng đó, không một nước nào kháng cự nổi nó. Nó là một đội quân không có địch thủ. Sở dĩ các nước thua nó vì mới chỉ nghe danh nó thì từ vua quan đến tướng binh cả nước đã sợ xanh mắt rồi, sao còn đủ can đảm để đối mặt với nó.\nNhìn thẳng vào mắt Thái sư, phu nhân hỏi:\n- Ông cứ nói thật đi, ông và nhà vua có sợ quân Mông Cổ không?\nTrần Thủ Độ nhoẻn miệng cười:\n- Thân làm tướng mà sợ giặc sao còn dám đánh giặc. Thân làm tướng mà coi thường giặc thì cầm chắc sự bại trận rồi. Bà chẳng thấy nhà vua tự cầm quân đi bình Chiêm là để rảnh tay đối phó với quân Mông Cổ ở mặt bắc. Còn các việc tôi vừa đi khắp các lộ là để vực thế nước lên, làm tăng sức mạnh để kháng giặc trong khi giặc còn ở rất xa. Chú cháu tôi cùng cả nước làm như vậy là sợ giặc hay là sẵn sàng đánh giặc.\n- Thế thì tôi chịu ông rồi, trước sau ông vẫn là một người trí dũng. Trần Cảnh cũng học được ở ông cái đức ấy. Nhưng Cảnh có lòng hiếu Phật, chăm đọc kinh sách lại thường giao du với các bậc thiền sư nên cái đức của Cảnh thuần, tâm của Cảnh thiện.\nCuối năm nhà vua đi bình Chiêm thắng lớn trở về, có đem theo một số tù binh, một số thợ đá, thợ làm gạch, thợ đục tượng. Vào Chiêm, nhà vua không sợ binh uy của nước họ, nhưng vô cùng thán phục về tài năng nghệ thuật của dân họ qua xem xét các đền tháp, các tượng thờ, các cung điện, vua luôn miệng khen: “Người Chiêm khéo tay! Người Chiêm tài hoa!”. Vua cũng nhắc Lê Tần không được cho quân lính phá phách cung điện, đền, tháp của họ.\nThái tông sai làm lễ hiến phù ở nhà Thái miếu nhưng không cho chém tù binh. Trong số tù bắt từ Chiêm Thành về có cả vũ nữ và nhạc công, sau tra hỏi mới biết trong số đó có cả vợ vua Chiêm Bố-da-la. Chẳng là viên quản trại của ta cứ thấy các Chiêm nữ cung kính trước một người đàn bà phong thái tỏ ra đài các, ăn uống thì cảnh vẻ. Chuyện tâu lên, vua lấy làm ân hận.\nVua cho nhóm họp triều đình để bố cáo việc bình Chiêm thắng lớn, và nghe các quan tâu báo công việc sau mười tháng nhà vua rong ruổi chiến chinh.\nCác quan đứng đầu sáu bộ, sáu khoa và các đô, đài, sảnh, viện lần lượt tâu lên các việc đã làm và đang làm. Vua lấy làm đẹp ý và thầm biết ơn Thái sư điều hành việc nước hơn cả điều mà vua hằng trông đợi.\nVua hỏi quan Tư khấu về ruộng đất, đê điều. Quan Tư khấu tâu báo các việc đâu đấy đều rõ ràng, tỉ mỉ. Việc đê thì tới cuối mùa xuân sang năm là hoàn tất.\nNgay sau đó vua sai đại thần là Lưu Miễn lập một phái bộ chia làm nhiều đoàn đi kiểm xét toàn bộ con đê từ nguồn tới biển, chỗ nào còn khuyết hãm phải cho người bồi trúc ngay trước mùa mưa lũ. Phân cho các lộ phải quản đê trong địa phận của lộ mình. Mỗi lộ được đặt chức quan Hà đê chánh, phó sứ chuyên coi sóc việc đê điều. Nhân đó vua nhắc đô tổng quản coi việc quân ở các lộ, gặp lúc việc tập luyện đã vãn phải đốc thúc quân lính phối hợp với dân chúng trong vùng khi công việc đồng áng, mùa vụ đã xong cùng nhau đắp đập, đào mương, khơi lạch đề phòng lụt, hạn.\nVua lại hỏi quan Tư khấu về số lượng ruộng quốc điền ở các làng xã và số dân không có ruộng đất. Nghe xong, vua dụ rằng:\n- Hiện nay trong hương ấp nhiều gia đình nông phu không có ruộng đất, quanh năm phải đi làm mướn cho các điền chủ hoặc lĩnh canh nộp tô cho các chủ ruộng. Công sá rẻ mạt, giá tô ruộng chủ thu cao, nên người nông phu làm đến kiệt sức vẫn không đủ ăn. Ta được biết, nhiều điền binh đến kỳ trưng tập, không có gạo mang theo nên phải bỏ trốn vào rừng, hoặc có người chỉ đủ gạo nộp ăn ngày một bữa suốt cả tháng tập tành. Thái sư biết việc này nên đã có lệnh cho toàn cõi: - Điền binh trong thời gian tập luyện sẽ được kho gạo của nhà nước cấp cho ăn đủ, lại cấp cả tiền gạo ăn đường cho những người ở xa nơi trưng tập từ hai mươi dặm trở lên. Và sau lễ thượng nguyên vào đầu năm tới, các làng xã phải bán ruộng quốc điền cho dân cùng đinh. Các hộ nông phu từ năm người trở lên được mua một diện\n[8], từ bốn người trở xuống được năm sào. Giá không nên thu cao, bởi người nông phu còn nghèo lắm. Theo ta, mỗi diện chỉ thu năm quan tiền là vừa. Nhà nào nghèo quá, nhà nước sẽ bán chịu và cho trả dần. Để ruộng ấy khỏi lọt vào tay điền chủ thì các ruộng có nguồn gốc quốc điền trong ba đời không được mua bán, cầm cố hoặc gán nợ. Việc giao ruộng cho các điền tốt phải hoàn tất trước tháng ba, tháng tư để họ còn kịp làm vụ mùa vào tháng năm, tháng sáu. Ngừng giây lát, vua lại dụ: - Mỗi làng xã tùy theo số dân đinh phải dành lại cho họ từ ba đến năm mẫu học điền.\nSau các việc đê điều, vua lại hỏi sang việc học.\nQuan tri Quốc tử viện tâu việc dựng nhà quốc học viện đã xong. Quan Quốc tử giám Tế tửu tâu hiện có hơn một trăm người gồm con cái các bậc tôn thất, con cái các bậc đại thần đang theo học.\nNhân đó vua dụ rằng:\n- Người giỏi, người tài không chỉ gồm có con cái trong hoàng gia, hoàng tộc và các quan lớn đầu triều. Mà người tài nằm rải rác trong thiên hạ. Nay đã có nhà học, có người dạy, vậy Quốc tử viện nên cử người về các lộ kén lấy người tài cho về kinh sư học tập. Ai có thực tài mà lâm cảnh nghèo thì nhà nước nuôi cho ăn học thành tài. Như sực nhớ ra điều gì, vua vội hỏi:\n- Khoa thi năm Đinh Mùi (1247) tam khôi đệ nhất giáp thuộc về ba cậu bé. Vậy chớ những người ấy hiện nay ở đâu, họ làm gì và có đúng là họ giỏi thật không?\nQuốc tử giám Tế tửu bèn thưa:\n- Tâu bệ hạ, ngày đó vì các vị tam khôi còn nhỏ tuổi nên triều đình chưa bổ dụng mà đưa về Quốc học viện cho các vị tu chính thêm học thức, kiến văn, bởi bên đó có nhà tàng thư, các sách về Tam giáo\n[9], Cửu lưu [10] không thiếu một sách gì. Các vị vẫn chăm chỉ kê cứu nội ngoại điển tỏ lộ là bậc thiên tài, thần đã đưa các vị vào trợ giảng, các nho sinh đều tỏ lòng mến mộ và kính phục lắm ạ. Tâu bệ hạ, vị trạng nguyên Nguyễn Hiền nay đã hai mươi tuổi, bảng nhãn Lê Văn Hưu hai mươi tư tuổi, thám hoa lang Đặng Ma La hai mươi mốt tuổi. Xem ra các vị đều đã trưởng thành và tài năng thiên hướng đều đã hiển lộ.\n- Vậy chớ họ có thiên hướng gì, khanh nói rõ ra.\n- Tâu bệ hạ như bảng nhãn Lê Văn Hưu chuyên nghiền ngẫm kê cứu về các ngành sử. Lịch sử nước ta Lê bảng nhãn đã lược chép ra được dăm tập rồi ạ.\nThám hoa lang Đặng Ma La thì thiên về từ, phú. Văn chương của thám hoa hết đỗi tao nhã, mỗi chữ đều lựa chọn kỹ càng tựa như những viên ngọc đã được mài chuốt công phu.\nNhà vua tỏ ý hài lòng, ngài đế vào lời tâu của quan Quốc tử giám Tế tửu:\n- Đến bây giờ ta mới được biết Quốc tử giám Tế tửu có thêm biệt tài bình văn nữa.\nCác quan đều cười vui, không khí triều hội với cái tình vua tôi thật là gần gũi. Đoạn vua Thái tông lại hỏi:\n- Thế còn cái cậu bé đệ nhất giáp đệ nhất danh có thiên hướng gì mà ta không thấy ông nói, hay là cậu ta đã về quê thả diều rồi?\nTriều quan lại cười vỡ ra. Quốc tử giám Tế tửu có vẻ lúng túng đưa tay lên rờ rờ đai mũ, vuốt lại nếp áo chầu và khi các quan đã ngớt tiếng cười, ông liền vòng tay cung kính:\n- Tâu hoàng thượng, trạng nguyên Nguyễn Hiền quả thực là bậc anh tú vượt hơn hẳn so với các người cùng bảng. Thần đã theo dõi quan trạng đọc sách. Ông cứ mở từ trang đầu đến trang cuối tựa như người đếm. Nhưng khi hỏi thì ông thuộc từ đầu đến cuối sách không thiếu một chữ. Tâu, việc giảng kinh sách của trạng cũng có cái riêng độc đáo mà đám nho sinh thì thích thú vô cùng. Buổi giảng của trạng là buổi mọi người đều phải vắt óc ra làm việc chứ không phải chỉ có thầy giảng trò nghe mà chủ yếu là gợi mở cho các nho sinh phải nói ra các suy nghĩ của mình. Nhiều khi nổ ra những cuộc tranh biện thật là sôi nổi. Cuối buổi, trạng chốt lại các ý chính của kinh văn. Tâu, các nho sinh kháo nhau học như thế vừa vui, vừa hiểu sâu, nhớ lâu nên họ đua nhau đọc nhiều để mở rộng kiến văn mới có thể kiến giải được các điều thầy hỏi.\n- Ngoài các trí tuệ mẫn tiệp ấy, Nguyễn Hiền còn có khiếu năng quý giá nào khác không? - vua hỏi.\n- Tâu hoàng thượng, ban nãy hoàng thượng có nhắc đến chuyện thả diều, chẳng hay hoàng thượng hỏi vui hay đã có ai tâu báo về việc này không ạ?\n- Có chuyện đó thật à? - Vua hỏi với tất cả sự tò mò.\n- Tâu bệ hạ, trạng Hiền rất ham chơi diều. Nhưng diều của ông khác lắm so với diều của thiên hạ. Diều của ông hai cánh dài tới mười hai sải tay. Một bộ năm chiếc sáo do chính tay ông khoét, gọt. Dây diều được chế từ các thân tre bánh tẻ. Con diều to thế mà lên cao nom chỉ còn bằng hai chiếc quạt mo. Và bộ sáo ngũ âm réo rắt đủ các cung bậc, nghe như một thứ nhạc tiên thổi từ trời cao vọng xuống.\nTâu bệ hạ, đây là một cách tìm tòi của trạng Hiền vượt ra ngoài sự ham thích của tuổi thơ. Bởi thần còn thấy trạng Hiền hay lui tới Cục chử tác\n[11] xem xét cách làm, cách chế tác các đồ vật như đồ sứ, đồ đồng, đồ gỗ. Chính trạng Hiền đã dạy cho các nhà chế tác cách pha nấu các loại kim khí để có một thứ kim khí mới đẹp hơn, bền hơn, dễ chế tác hơn mà cũng rẻ hơn. Hoặc làm cho họ các mẫu mã, men màu của các đồ sành sứ mà bên Cục chử tác trước đó chưa có một ai nghĩ ra và làm được.\n- Chính mắt khanh đã chứng kiến các điều đó chứ? - Vua hỏi.\n- Tâu bệ hạ, thần chỉ dám tâu báo các điều thần đã tận mắt nhìn thấy.\nVẻ mãn nguyện, vua Thái tông nói trước triều quan:\n- Quả là trời ban cho Đại Việt ta nhiều người tài. Nhưng trời cũng thử ta đấy. Nếu như cái khoa thi năm Đinh Mùi ấy, khi ba vị tam khôi là ba cậu bé xuất hiện mà ta không nhận, thử hỏi trời có lấy đi không. Cho nên một nước muốn có nhiều người tài đức thì ngay cả người quân trưởng cũng không được phép kiêu ngạo, tùy tiện thậm chí phải nhún mình mời gọi họ, tôn quý họ. Người tài là vật quý hiếm nên thời nào cũng ít, vì vậy phải biết trân trọng. Ngay các khanh cũng là những người tài, mỗi người mỗi vẻ khiến bộ máy của ta có sức mạnh. Mỗi người có một chút tài riêng phải giữ lấy, phải bảo trọng nó để dùng cho nước. Tuy nhiên, các khanh phải khiêm cung, phải ráng bồi bổ thì nó mới dần bộc lộ ra thành chân tài. Ngược lại mà tự phụ, kiêu ngạo thì tài kia ắt bỏ ta mà đi khiến ta trở thành kẻ vô dụng.\nQuốc học viện từ nay không coi các vị tam khôi khoa Đinh Mùi là phụ giảng nữa mà phải đưa họ vào chính ngạch, để họ đào tạo cho nước những anh tài còn đang lấp ló trong đám nho sinh. Khoa thi tới, ta sẽ mời cả ba vị này vào ban chủ khảo.\nNhìn khắp lượt các triều quan, vua nói giọng đầy phấn khích:\n- Nguyễn Hiền nay mai sẽ về Bộ công để chế tác khí giới - Những thứ khí giới khiến giặc phải kinh hoàng. Lê Văn Hưu về Quốc sử viện để biên tu quốc sử. Đặng Ma La về Hàn lâm viện, nhưng tất cả đều không được rời bỏ Quốc học viện cho tới khi nào có người tài đức có thể thay thế. Nói đoạn, vua giơ cao cây kim hốt huơ một vòng và phán:\n- Bãi triều!\nCác quan lục tục ra về. Trong lòng mọi người đều nhen lên một cái gì đó tựa như một ánh lửa và mỗi người đều muốn làm một việc gì đấy thật có ích cho nhân quần.\n\nCác việc đê điều, ruộng đất cho người nghèo đều đã làm xong, vua Thái tông coi như đã trả được một phần cái ơn tri ngộ của triều đình đối với người dân. Việc mở mang dân trí, kén hiền tài đã có hệ thống trường lớp từ hương thôn tới trấn, lộ. Và kinh sư thì mở rộng cửa nhà Quốc học viện đón người tài giỏi bốn phương về học. Và sắp tới lại mở đại khoa. Việc quân thì đã định xong các sắc quân. Quân mạnh nhất, tinh nhất thì có các đội Tứ thiên, Tứ thánh, Tứ thần. Thân quân thì có các đội Thiên thuộc, Thiên cương, Chương thánh, Củng thần đều lấy người của các lộ Long Hưng\n[12], Thiên Trường [13]. Ngoài ra còn các đội Tả thánh dực, Hữu thánh dực, Thần sách và Cấm vệ quân. Ngoại binh còn có quân của các vương hầu, du quân cùng các sắc Dược đồng đô, Sơn lão đô và Đoàn đội trạo nhi…\nMới đây nhà vua lại cho mở rộng quy mô Giảng Võ đường, sai Quốc Tuấn về trông nom bài bố các bãi tập, các trường bắn tập cho các sắc quân như quân bộ, quân kỵ, quân thủy và cả tượng binh nữa.\nQuốc Tuấn tuy ít tuổi nhưng lầu thông binh pháp các nhà, mưu vương, tướng lược đã nhuần thấm vào óc não, vào tủy xương của viên tướng trẻ này rồi. Vì vậy không chỉ nhà vua mà cả thái sư Trần Thủ Độ cũng kỳ vọng nhiều nơi Quốc Tuấn.\nQuốc Tuấn từ sau khi mất cha lòng trống vắng đến cô đơn. Thương cha bị xô vào nghịch cảnh suốt đời ôm hận. Những lời giăng giối của cha, Quốc Tuấn coi như là sự bi phẫn tích tụ lại suốt mấy chục năm, và cha nói ra cốt để giải tỏa nỗi ẩn ức trong đời hơn là một nghiêm huấn thiêng liêng. Chàng tự nghĩ, phải chôn chặt lời di huấn này trong đáy dạ, nếu hở ra, mệnh ta chắc cũng khó toàn. Vả lại nếu như ta đã đủ lông đủ cánh thì cũng không nên làm và không thể làm, bởi nó tổn thương đến tình cốt nhục. May thay, lời cha di huấn chỉ có ta và lão bộc được biết. Lão bộc tai nghễnh ngãng chẳng hiểu có nghe được lời cha nói phều phào thuần hơi trước lúc lâm chung. Ngay dù lão có nghe thấu cũng chẳng sao, bởi chưng với cha con ta, lão gắn bó dường như là một phần máu thịt. Vả lại lời di huấn ấy mà lộ ra thì không chỉ nguy hại cho ta mà ngay cả thái ấp An Sinh này cũng khó toàn, sinh mệnh lão cũng khó toàn. Vì vậy chính lão cũng phải giữ mồm giữ miệng.\nPhòng điều bất trắc, nên trước khi về Thăng Long, Quốc Tuấn sai lão bộc đem cho mình mấy cuốn sách ra đình Tỵ huyên\n[14] để đọc. Nhân lúc vắng người Quốc Tuấn căn dặn mọi việc trong thái ấp vẫn giao cho lão quán xuyến cùng với mấy người quản gia. Sau đó chàng nói nhỏ vào tai lão những điều cần phải giữ kín. Thấy Quốc Tuấn căn dặn rất nghiêm cẩn, lão bộc ứa nước mắt, giọng run rẩy đáp: “Tiểu chủ cứ yên tâm về kinh sư phụng mệnh, mọi việc ở nhà kẻ nô bộc này xin chu tất như nhời dặn. Những điều cần giữ kín, nếu tiểu chủ không dạy, kẻ nô bộc này cũng phải biết mang theo nó xuống mồ chứ quyết không dám hở môi bép xép. Tiểu chủ, kẻ nô bộc này sẽ trung thành với tiểu chủ như đã trung thành với đức ông, trọn đời gắn bó với thái ấp An Sinh chứ quyết không đổi dạ”.\nQuốc Tuấn về tới Thăng Long liền vào cung Cảnh Linh phục mệnh. Nhân gặp cả thái sư Trần Thủ Độ và các tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình cũng đang bệ kiến.\nNhìn thấy Quốc Tuấn, nhà vua chợt nhớ đến Hoài vương Liễu. Và hình ảnh anh cả bơi chiếc thuyền nan giả làm người chăn vịt đến hàng. Ta tưởng như lừa được thái sư đi cứu anh mình. Ai dè Liễu vừa lao được lên thuyền ngự cũng là lúc thái sư vung kiếm lên toan chém đầu anh cả. Ta phải lấy thân mình ra chắn rồi đẩy anh vào trong khoang thuyền. Thất thế trở về thái ấp, ôm hận chờ thời. Ta rất tiếc huynh trưởng không kê cứu đạo nhất thừa\n[15] nên không hóa giải được, không xả bỏ được, tới nay thì anh thất lộc hưởng được bốn mươi tuổi trời. Thọ, yểu âu cũng là mệnh cả. Nhưng ta buồn vì anh cả phải ôm hận ra đi. Trong chuyện này trước sau ta không có lỗi. Ngay cả thái sư, cũng vậy thôi. Thời thế buộc chú ấy phải đi nước cờ đó để làm yên thế nước.\nTình cốt nhục khiến nhà vua không cầm được nước mắt, ngài ôm lấy hai bờ vai Quốc Tuấn bảo chàng ngồi xuống.\nQuốc Tuấn chắp tay vái thái sư và cúi chào hai tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình.\nMọi người đều chú mục nhìn Quốc Tuấn và đều có cảm nhận như Quốc Tuấn đã trở thành một người khác: điềm đạm, trầm tĩnh, sâu lắng chứ không sôi nổi như mấy năm trước.\nThái tông liền vỗ về an ủi:\n- Huynh trưởng của ta chẳng may thất lộc khiến cháu phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nỗi đau nào rồi cũng sẽ qua. Nhưng ta mất anh, cháu mất cha thì sự mất mát ấy không gì bù đắp được. Tuy vậy, cháu là đấng trượng phu, sinh ra trong trời đất phải có trách phận gánh vác sơn hà. Ta triệu cháu về để giao cháu một việc mà ta coi nó là chính yếu nhất của việc quân. Hiện ta đang cho mở rộng quy mô Giảng Võ đường, ta giao cho cháu giám sát việc này. Cháu quen thạo công việc của người làm tướng, lại thông hiểu các chủng quân. Vậy cháu phải xem các khu vực tập luyện của mỗi chủng quân như vậy đã hợp lý chưa. Lại các bãi tập bắn có được an toàn không. Khoảng cách giữa các kho lương, kho cỏ, kho khí giới với nơi đồn trú các chủng quân đang tập luyện đã đúng chuẩn mực chưa. Mọi việc tu chính, chỉnh sửa thế nào ta cho cháu toàn quyền. Phải hoàn thành sớm để đưa quân vào luyện cho có quy củ.\nNhà vua phủ lên toàn thân Quốc Tuấn một cái nhìn thân thương và tiếp: - Mọi sự đều phải gấp gáp lên, giặc không chờ ta đâu.\nThái sư Trần Thủ Độ cũng nói:\n- Mới đây ta và hoàng thượng đều nhắc về cháu và đều kỳ vọng cháu sẽ là cột trụ của nước nhà. Thời cơ cho cháu lập công chắc không còn xa nữa đâu.\nQuốc Tuấn vái đáp lễ nhà vua và Thái sư.\nVua Thái tông lại hỏi:\n- Cháu muốn về với Trưởng công chúa hay muốn ở riêng? Nếu ở riêng ta sẽ dành cho cháu một cung.\nQuốc Tuấn chắp tay vái nhà vua:\n- Cháu xin được về ở với dưỡng mẫu\n[16].\nQuốc Tuấn sụp lạy rồi ra khỏi cung Cảnh Linh về thẳng cung phủ của Thụy Bà.\nVua Thái tông cùng thái sư và hai tướng vừa bàn xong một số công việc, đoạn vua nói:\n- Vài bữa nữa trẫm cùng hai tướng Lê Tần, Khuê Kình đi kinh dinh vài trấn, lộ xem việc binh bị thế nào. Sau đó sẽ đi kiểm xét vùng biên ải. Chắc là sẽ đi từ cửa Pha Lũy\n[17] đến cửa Phú Lịnh [18], mọi việc ở nhà thái sư đảm trách. Tuy vậy, việc trẫm đi kinh dinh phải giấu nhẹm kẻo tai mắt người Tống, người Thát-đát Mông Cổ không biết đâu mà lường được.\nChờ cho Trần Khuê Kình và Lê Tần ra khỏi cung, nhân lúc nhà vua còn dõi nhìn theo họ, Trần Thủ Độ kéo vạt áo nhà vua. Thái tông bèn quay lại. Trần Thủ Độ liền nói:\n- Bữa trước bệ hạ có chiếu thăng Trần Nhật Hiệu làm Thái úy, thần không dám kháng mệnh.\nNhà vua lấy làm sửng sốt hỏi:\n- Thưa chú, Thái úy Phạm Kính Ân đã mất tới cả năm rồi, chức Thái úy vẫn khuyết, cháu thăng cho Nhật Hiệu giữ chức đó. Vậy theo ý chú thì nên thế nào?\n- Quyền uy tối thượng tất thảy đều trong tay bệ hạ, việc thăng bổ quan chức thế nào thần không dám can dự. Duy có chức Thái úy là lãnh nhiệm coi về việc quân mà Nhật Hiệu lại là kẻ nhút nhát bất tài. Thần chỉ băn khoăn khi xảy ra có giặc, Nhật Hiệu sẽ múa may thế nào. Thần mong rằng chức Thái úy của Nhật Hiệu cũng chỉ là một thứ hư hàm thôi chứ không có thực quyền, kiểu như trước đây ta đã trao cho Phạm Kính Ân từng là viên quan lớn của triều Lý. Nhật Hiệu hãy cứ lo lấy đội quân Tinh cương của y cũng là quá sức rồi.\n- Đúng như ý chú, việc quân từ khi chú trao lại, cháu vẫn nắm giữ, sao có thể trao cho Nhật Hiệu được.\n- Bệ hạ nói thế thì thần yên tâm, mong bệ hạ tha cho thần cái tội hước ngạo.\n- Sao chú lại nói thế. Việc chú giám sát như vậy là vì chú đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cháu biết chứ.\nTrần Thủ Độ chào nhà vua ra về, lòng vui khấp khởi.\nHôm sau vào lúc nửa đêm vua Thái tông cùng hai tướng Khuê Kình, Lê Tần và một đô quân hổ bôn xuống thuyền. Sẩm chiều hôm sau nữa thuyền ghé bến đò Phượng Nhãn để vua và hai tướng cùng mấy tên quân hầu lên bờ thăm thiền sư chùa Vĩnh Nghiêm. Cả mấy người đều vận theo lối nhà sư. Quân vẫn ngủ lại thuyền.\nTới chùa mới biết vị thiền sư trụ trì đã vân du hoằng pháp.\nVua Thái tông buồn vì không gặp bạn, nhưng lại mừng thầm vì sự đạo được mở mang. Vua bảo quay lại thuyền, cho lính ăn uống xong, ngài sai chở thuyền sang sông, tức sang đất huyện Chí Linh.\nThuyền vừa ghé bờ, vua bảo mấy người ban nãy theo vua còn thuyền cứ đi thẳng ra An Bang: - Ngày mai đoàn của ta sẽ đi ngựa trạm về An Bang, bởi đi ngựa ta mới ghé được nhiều nơi.\nThấy hành trình không có gì nguy hiểm và mấy người theo vua, kể cả đám quân hầu đều là những cao thủ trong giới võ lâm nên Lê Tần và Khuê Kình liền nghe theo mà không có cản trở gì.\nTrời tối, nhưng vào trung tuần may lại có ánh trăng nên việc nhận đường không khó khăn lắm. Đi được vài dặm, Khuê Kình lên tiếng:\n- Tâu, bệ hạ có còn nhớ cái đêm cũng như đêm nay vua tôi lạc đường, bỗng nghe thấy tiếng chuông chùa, men theo tiếng chuông, ta tìm tới được chùa Giác Hạnh, thiền sư Giác Hải cho bữa cơm nguội, vua tôi ấm bụng, hôm sau mới tìm được đường lên Yên Tử.\nTrời tối, không nhìn được gương mặt nhà vua có đổi sắc không. Một thoáng im lặng rồi vua nói:\n- Mới đấy mà đã ngót hai chục năm rồi. Nghe Khuê Kình nói Yên Tử, ta lại nhớ quốc sư Viên Thông. Đã lâu ngài không về triều. Ta đã có lời triệu thỉnh ngài vẫn không chịu xuống núi.\nLê Tần mạnh dạn hỏi:\n- Tâu, thần muốn biết bệ hạ dẫn lũ thần đi đâu trong đêm tối thế này. Giặc cướp thì chẳng sợ, nhưng đường rừng núi khó đi. Lũ thần không có gì đáng ngại, nhưng tấm thân muôn quý của bệ hạ cần phải được bảo trọng để dùng cho nước.\nTrần Khuê Kình đế thêm:\n- Tâu bệ hạ, Lê tướng quân nói đúng đấy ạ. Vì núi rừng âm u hổ lang nhan nhản chẳng biết đâu mà lường.\nThấy các người tòng sự có vẻ lo lắng, vua Thái tông liền trấn an:\n- Ngày trước ta bỏ kinh thành đi chưa đến hai chục tuổi còn chẳng sợ lạc đường, nay đã gần bốn chục tuổi thì đường đã vạch sẵn ở trong đầu rồi, đi về nẻo nào cũng không sợ lạc, các khanh chớ ngại. Vả lại sức ta với sức các vị cũng có chênh gì lắm đâu.\nNgừng bặt giây lâu, vua lại phán:\n- Để ta nói rõ nơi đến để các vị an tâm. Đêm nay ta muốn đến thăm thiền sư Đức Sơn ở am Thanh Phong để thỉnh giáo. Bởi ta thường nghe danh ngài là bậc cao tăng, nên từ lâu đã có sự ngưỡng mộ, nay qua đây tiện ghé thăm ngài để tham vấn. Từ đây tới am chắc chỉ hơn chục dặm đường thôi, nhưng càng vào sâu đường càng khó đi. Vả lại trời tối mà các vị lại chưa quen đường nên sẽ cảm thấy xa xôi lắm đấy.\nNghe nhà vua nói vậy mọi người đã bớt lo. Đi sát tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình lân la hỏi chuyện bình Chiêm:\n- Quân Chiêm kháng cự có ác không mà hoàng thượng và quân ta phải vất vả tới cả gần năm trời mới xong?\nLê Tần cười hô hố:\n- Cái ác nhất là quân Chiêm bỏ chạy trước khi giao chiến. Vì vậy quân ta phải săn đuổi, phải chặn nó lại mà đánh. Bởi nếu không đánh tan được sức mạnh quân nó thì khi ta rút về rồi nó lại đem quân sang quấy nhiễu. Mất nhiều thời gian là ở chỗ tìm địch chứ không phải là sức địch mạnh đã làm cản trở bước tiến của quân ta.\n- Kể cũng là một sự lạ - Trần Khuê Kình nói, tôi có cảm nhận như người Chiêm không tự lượng được sức mình, nên cứ hay gây hấn. Ngay từ thời nhà Lý cách đây tới mấy trăm năm đã thế chứ chẳng riêng bây giờ. Chỉ vì sự hồ đồ của vua Champa là Chế Củ (Rudravarman III) đã khiến ông ta thân bại danh liệt. Lý Thánh tông đem quân đánh dốc tới Trà Bàn, lính Chiêm chết ngổn ngang, vua Chiêm chạy mãi tận biên thùy Chân Lạp vào ẩn trong một hang núi tận rừng sâu, Lý Thường Kiệt truy đuổi bắt được giải về Thăng Long. Chế Củ phải cắt đất ba châu Địa Lý, Bố Chanh, Ma Linh dâng cho Đại Việt để chuộc mạng. Điều đáng buồn cho họ là không chịu rút ra từ lịch sử của chính dân tộc mình những bài học bổ ích.\nVua Thái tông nghe câu chuyện giữa hai tướng trao đi đổi lại, ngài lấy làm mừng vì họ đã có sức kiến giải của hàng trí tướng.\nThấy hai người yên lặng, nhà vua bèn lên tiếng:\n- Điều Khuê Kình hỏi đó là điểm yếu cố hữu của mọi người, mọi quốc gia, nhất là những kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ quyền cao chất ngất, chúa tể một phương. Điểm yếu ấy chính là lòng tham - sân - si cho nên chúng không biết điểm dừng mà dân gian gọi nó là lòng tham không đáy. Nếu mỗi người biết rút ra những bài học cay đắng của chính mình, mỗi dân tộc biết rút ra từ bài học lịch sử của chính mình để loại bỏ điều dở, làm tiếp điều hay, điều thiện thì những người đó, những dân tộc đó đã đạt tới cõi giác. Khi con người ta đã đạt tới cõi giác cũng tức là từ bỏ được tham - sân - si.\nNhà vua hơi cao giọng:\n- Nếu từ bỏ được tham - sân - si thời chẳng có triều đại nào phải sụp đổ, chẳng có dân tộc nào bị tiêu vong. Tiếc thay kẻ đã giàu lại muốn vơ vét để giàu hơn nữa, kẻ đã mạnh lại muốn mạnh hơn nữa hung hăng tự phụ cho mình là nhất thế gian có thể thay trời thống trị thiên hạ, và như vậy là nó đi thẳng một mạch tới chỗ diệt vong.\nTướng Lê Tần nghe những lời nhà vua chỉ dẫn thì lý hội ngay được tính minh triết của các mối quan hệ ứng xử trong nhân gian. Nghĩ vậy, Lê Tần bèn nói:\n- Tâu, đúng như bệ hạ dụ bảo. Ở đời kẻ hơi có sức mạnh một chút đã tưởng như mình là mạnh nhất. Ví như truyện thế gian thường kể: Xưa có con thỏ đang tung tăng nhai cọng cỏ, nó có đụng đến cuộc sống của loài nào đâu. Thế mà con cáo từ đâu nhảy xổ ra nạt nộ: “Mày dám xâm phạm vào lãnh địa của tao”. Cáo bèn vật thỏ ra ăn thịt khiến thỏ chết mà không biết vì sao mình chết. Đánh hơi thấy mùi máu tanh, một con chó sói vội chạy lại đớp luôn vào yết hầu con cáo vật xuống ăn thịt liền. Một con hổ nằm rình mồi gần đấy thấy con thỏ và con cáo chẳng đủ cho một cái chép miệng nên không thèm để ý. Nhưng khi thấy con chó rừng lù lù ở trước mặt, hổ tự nhủ: “Con này tạm được đấy”. Thế là hổ vươn vai nhảy ba bước đã quắp được con chó sói về chỗ cũ nằm nhai ngấu nghiến.\nNghe xong câu chuyện, vua bảo:\n- Trí tuệ dân gian thật là siêu việt. Đúng là ngoài trời lại có trời nữa, kẻ nào tự phụ kẻ ấy ắt bại vong. Đúng là ở đời tham thì thâm. Thế mà từ loài người đến loài vật chẳng loài nào rút ra được bài học từ chính mình.\nTrần Khuê Kình tiếp lời vua:\n- Tâu bệ hạ, loài vật chưa tiến hóa chẳng nói làm gì. Ta cứ xét việc nhà Tống đối với nước ta đây thì đủ biết. Ví như việc nhà Đinh mất, nhà Lê lên, Tống Thái tông tưởng thời cơ thôn tính Giao Chỉ đã đến, thế là năm Tân Tỵ (981) liền cử binh hùng tướng mạnh theo hai đường thủy bộ vào cướp nước ta. Hoàng đế Lê Hoàn đánh cho quân thù phơi xác trên ải lũy Chi Lăng, trên sông Bạch Đằng. Chém tướng giặc là Hầu Nhân Bảo trên ải Chi Lăng; các tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đều bị bắt đưa về Hoa Lư cầm tù.\nTưởng rằng Tống Thần tông sẽ rút được bài học của tổ phụ. Nhưng ông ta đã thông mưu với tể tướng Vương An Thạch quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Để giữ yên mặt bắc, Tống Thần tông cùng Vương An Thạch đã thỏa hiệp dâng cho nước Liêu bảy trăm dặm đất Hà Đông và ráo riết chuẩn bị xâm lăng Đại Việt, khiến năm Ất Mão (1075) Lý Thường Kiệt phải đem binh tảo thanh, phá hết các kho quân lương, khí giới và thành trì của các châu Ung, Khâm, Liêm rồi rút về an toàn. Vua tôi nhà Tống phải một phen kinh hoàng nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu chiếm lấy nước ta. Vì vậy năm Bính Thìn (1076) lại cử binh hùng tướng mạnh, tức là vét đến tận lực tràn sang xâm lược nước ta. Bị Lý Thường Kiệt chặn lại ở bờ bắc sông Như Nguyệt, thua liền mấy trận, quân chết, lương thực cạn dần đang lâm vào thế bị tiêu diệt. Nhà Lý vốn hiếu hòa nên mở cho chúng đường thoái lui trong danh dự. Sau này người Tống viết sách nói: “Cũng may mà họ bàn hòa chứ quân ta lúc ấy không biết tiến thoái thế nào. Tuy vậy, quân đi mười phần đã chết mất đến bảy, tám phần”.\nTâu bệ hạ, đúng là lòng tham đã khiến các vua nhà Tống sâu hận đến mê mờ. Vương An Thạch tiếng là người tài, nhưng lại đem cái tài ấy phục vụ kẻ tham sân khiến thân bại danh liệt.\n- Thế gian đều vậy cả, nước mất, nhà tan, vong thân diệt tộc đều dấy bởi tham - sân - si, nhà vua tặc lưỡi nói. - Cha con Thành-cát-tư-hãn đang làm nghiêng đổ cả gầm trời này cũng là do tham - sân cả đấy.\n- Tâu bệ hạ, thần mới đi tuần kiểm trên cửa Phú Lịnh về thấy bên kia nước Đại Lý nhớn nhác lắm. Dân thì hoảng hốt không biết chạy đi đâu. Vua quan thì chỉ chờ quân Mông Cổ đến để đầu hàng.\nVua Thái tông thở dài. Lát sau ngài nói:\n- Nước suy thì vua hèn. Vua quan hèn thì nước mất chứ người dân đâu có hèn. Nếu vua quan đều hùng tâm tráng khí thì dân lại là bức trường thành cản giặc.\nVua tôi vừa đi đường vừa nói chuyện nên quên cả trời tối mà đường rừng chỉ là những lối mòn, ánh trăng không thể xuyên lọt tán rừng. Chỉ nhận ra đường là nhờ ánh sáng lân tinh do cây, lá mục dọc đường đi.\nChợt nghe tiếng chuông, tiếng mõ nhịp theo lời tụng và rồi cả mùi trầm phảng phất, vua mừng lắm, ngài nói như reo:\n- Thiền chủ có nhà rồi!\nMọi người vui hẳn lên cười nói thung thăng:\n- Vậy mà lũ thần cứ nghĩ phải đi hết đêm.\n- Thần còn sợ lạc đường nữa chứ. Chui vào rừng cứ như là chui vào hang, may còn có lân tinh để nhận đường.\n- Bây giờ chắc khoảng giữa giờ hợi.\nDừng chân trước tam quan, vua nói với mọi người:\n- Nơi đây trước chỉ là một chiếc am nhỏ, từ khi thiền sư Đức Sơn về trụ, thí chúng khắp nơi mến đức nên phát tâm cúng dường, sư xây cất được ngôi chùa khang trang tận nơi rừng sâu u tịch này. Nói xong vua dẫn cả đoàn người đi thẳng vào trai đường.\nThấy một đoàn thuần khách lạ lại xộc thẳng vào nhà tân khách, một tiểu tăng ra chào hỏi lễ phép, một tiểu tăng khác vội chạy lên chùa nói hối hả:\n- Bạch thầy có nhiều khách lạ vừa tới chùa.\nVừa lúc thiền sư xong khóa lễ đêm, ngài nhẹ nhàng bảo chú tiểu:\n- Con tắt nến, khép cửa tam bảo rồi hỏi xem khách có cần dùng bữa. Khách quen của ta đấy chẳng phải khách lạ đâu.\nCác chú tiểu đã thắp ba cây đèn dầu, mỗi cây sáu ngọn bấc khiến ngôi khách đường sáng rực. Ngôi nhà khách không có tường vách, chỉ có các tấm dại ken nan tre nên từ ngoài thiền chủ đã nom thấp thoáng các vị khách. Nhưng lạ sao, tất cả đều vận đồ nhà sư mà cử chỉ lại lanh lợi như các võ tướng. Đang phân vân chưa biết các đạo hữu từ phương nào tới, thiền sư bỗng nhận ra vài gương mặt quen quen. Lúc này nhà vua cũng đã đưa mắt về phía thiền chủ.\nThiền sư vội bước lại gần vua và hai người cùng cúi đầu vái chào nhau. Các tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình cũng chắp tay vái thiền sư, trong khi quân túc vệ lại giãn ra quanh chùa.\nThiền sư lên tiếng trước:\n- Bệ hạ giá lâm mà không báo trước để bần tăng làm lễ cung nghinh. Nhưng sao bệ hạ lại đi vào giờ này. Núi rừng hiểm trở, đường sá quanh co, ban ngày ban mặt người trong vùng đi lại còn khó khăn thế mà bệ hạ tìm được bản tự trong đêm tối cũng là sự lạ.\nNhà vua cười nói xởi lởi:\n- Cái tâm muốn đến, cái chân khắc biết tìm đường. Đã lâu đại sư không về triều, triệu thỉnh cũng không chịu về, vừa nhớ đại sư, vừa có việc cầu kiến nên phải lặn lội.\nThiền sư liền vái nhà vua và nói:\n- Lão tăng vừa thất lễ vừa đắc tội với bệ hạ, mong được đại xá! Đại xá!\nSư vội mời nhà vua và hai tướng ngồi vào ghế tràng kỷ. Mấy tiểu tăng xăng xái rót nước nụ vối ủ trong ấm giỏ mời vua và mọi người.\nVua và thiền sư Đức Sơn ngồi đối diện qua chiếc bàn gỗ, hai tướng chắp tay đứng hầu. Thiền sư đã hai ba lần mời ngồi, các tướng vẫn cố cáo từ. Sư nói:\n- Bần tăng kính chúa tại tâm. Vả lại trước cửa tam bảo không có sự phân biệt đối đãi, xin bệ hạ ban ý cho nhị vị đây cùng ngồi uống nước. Và xin hỏi, bệ hạ cùng các vị nếu chưa dùng cơm, nhà chùa xin được biện bữa cơm chay.\n- Đa tạ đại sư, chúng tôi đã dùng cơm lúc sẩm chiều tại bến đò Phượng Nhãn. Vua nói.\n- Chắc bệ hạ cùng quý vị có ghé chùa Vĩnh Nghiêm.\n- Đúng vậy, trẫm cùng cả đoàn có vào chùa, nhưng đại sư đang vân du hoằng pháp.\nVua dụ bảo hai tướng:\n- Khuê Kình, Lê Tần, đại sư đã có lời mời sao các khanh không chịu an tọa.\nCác tướng vâng chỉ, lấy mỗi người một chiếc ghế đẩu ngồi về phía hai đầu tràng kỷ. Mỗi người dùng một bát nước vối rồi xin phép ra ngoài.\nTướng Lê Tần cắt đặt đám quân hộ giá canh gác nghiêm cẩn các lối ra vào chùa. Tướng Khuê Kình nhắc đám quân canh phòng và tuần tra:\n- Các người không được phép vì giữ an ninh mà đóng cổng chùa. Cửa từ bi lúc nào cũng rộng mở, đó là đức lớn của nhà Phật, các chùa luôn nghiêm giữ.\nQuân lính răm rắp nghe lời. Nhóm canh phòng, nhóm tuần tra, nhóm ngủ nghỉ thay phiên nhau.\nNước được vài tuần, thăm hỏi thân tình, chủ khách thật là tâm đắc. Trăng đã chếch về hướng tây dọi ánh sáng xanh nhạt vào khách đường, thiền sư vội giục:\n- Khuya quá rồi, xin bệ hạ đi nghỉ để bảo toàn long thể.\nVua Thái tông vội xua tay:\n- Trăng sáng, trời trong, cảnh thiền u nhã, trẫm cất công từ Thăng Long về để được diện kiến đại sư, được tham vấn bậc túc thiền chớ đâu phải đi tìm chỗ ngủ trọ qua đêm.\nThiền sư cảm động nói:\n- Vậy còn long thể thì sao. Bệ hạ nên nhớ, tấm thân của bệ hạ bây giờ không còn là của riêng bệ hạ mà nó đã thuộc về muôn dân. Vì vậy nó được bảo trọng để dùng vào việc lợi lạc quần sinh.\n- Những lời đại sư dạy, trẫm không dám bỏ đi lời nào. Nhưng trẫm tuổi còn trẻ, sức lực khang kiện, thức thâu đêm lắm việc, chỉ cần tọa thiền nửa canh giờ là tinh thần, sức lực lại hoàn nguyên như cũ. Vả lại việc nước bộn bề mà quân Mông - Thát đang dòm ngó núi sông ta. Trẫm phải thưa thật với đại sư rằng trẫm đi kinh dinh biên ải, kinh dinh các lộ xem việc quân, việc lương đã chu tất chưa, việc phòng bị biên cương đã ổn chưa, lòng dân đã yên chưa. Vì thế mới tiện đường ghé thăm đại sư, nhân thể cầu kiến.\n- Thôi được, bệ hạ đã nói thế, tăng này còn biết nói sao nữa. Bệ hạ nói cầu kiến làm tăng này thêm ngượng. Bần tăng ở nơi góc rừng xó núi, bạn cùng cỏ cây muông thú, ăn thì rau rừng, rêu đá; ngoài những giờ kinh kệ ra thì vui với trăng sao, lắng lòng để cho cõi tâm tự tại hầu mong tìm về bến giác, lìa bỏ bờ mê, biết chi sự đời mà dám cao đàm khoát luận, xin bệ hạ lượng thứ cho.\nNhìn đại sư, nhà vua mỉm cười nói:\n- Phàm các bậc minh sư, minh triết, các bậc thánh tăng thường ẩn mình nơi góc khuất để nhìn được xa, thấy được rộng, hiểu cái đã qua, thấu cái sắp tới, còn như ở chốn phồn hoa đô hội chen hích nhau chỉ thấy nhiều người, lắm lời thôi chứ thấy sao được sự đục trong nhân thế.\nBiết không thể thoái thác được, thiền sư Đức Sơn liền mời nhà vua về liêu phòng\n[19] đàm đạo. An tọa xong sư nói:\n- Tâu bệ hạ, khiêm cung không bằng thành thật, bây giờ chỉ có bốn chúng ta, bệ hạ cần sai bảo điều gì, tăng này xin phụng.\nNhà vua có vẻ ngơ ngác nhìn khắp thiền phòng chỉ thấy có hai người và một giá sách cao sát gót kèo, thế mà đại sư lại nói “bốn chúng ta” là cớ làm sao.\nBiết ý nhà vua, thiền lão liền nói:\n- Bệ hạ chẳng thấy ngoài sư này và bệ hạ ra còn có trời, có đất nữa sao?\nVua Thái tông cười lớn:\n- Đại sư thấy chăng, trẫm vốn thân phàm, tâm tục nên chậm hiểu thế đấy.\n- Vậy chớ bệ hạ muốn ban ý gì với lão tăng đây?\n- Đại sư, nay mai nước mình chắc phải đương đầu với giặc dữ Mông - Thát. Trước khi vào việc lớn, trẫm muốn biết lòng dân đối với triều đình. Liệu khi đất nước lâm nguy, dân có cố kết cùng với triều đình kháng giặc? Điều lo mấu chốt của trẫm là ở chỗ đó, mà ta có giữ được nước hay không cũng là ở chỗ đó.\nĐại sư vừa gần dân vừa có nhãn quan thấu thị nhìn xa thấy rộng, mong đại sư chỉ giáo, nếu triều đình có điều gì lầm lỡ, sớm tu chính may ra còn kịp.\nThấy nhà vua thực tâm cầu kiến, suy nghĩ giây lâu, đại sư nói:\n- Tâu bệ hạ, sao bệ hạ còn phải hỏi về lòng dân nữa. Hãy cứ xem các việc bệ hạ đang làm và đã làm có phải vì dân không. Giảm bớt tô thuế, khoan nới hình án, đắp đê phòng lụt, ngăn mặn từ nguồn tới biển, cho khai hoang vỡ hóa miễn tô thuế dài dài lại cấp sổ địa bạ cho làm chủ đất ấy; mới đây lại bán ruộng quốc điền cho các điền phu không có ruộng đất. Ai không có tiền, nhà nước còn bán chịu cho trả dần.\nCác việc ấy thử hỏi không vì dân còn vì ai nữa. Lòng bệ hạ thương dân nên lúc nào cũng đau đáu việc dân. Bệ hạ nên biết, người dân tuy ít học nhưng họ tinh lắm, thoáng một cái là họ biết ngay. Bởi các chính lệnh của bệ hạ ban ra có lợi hay có hại cho dân nước, chính là vị thuốc thử đó.\nThiền lão tôi có cảm nhận từ khi bệ hạ lên Yên Tử gặp Phù Vân quốc sư gần hai chục năm trước, và từ khi bệ hạ tự nắm quyền đại chính thì bệ hạ đã lấy cái tâm của thiên hạ làm tâm của mình, lấy ý muốn của muôn dân làm ý muốn của mình. Vậy khi đã vì muôn dân mà hành hóa thì nước ấy là nước của dân chứ. Cứ như lúc này, kẻ nào chống lại bệ hạ là chống lại muôn dân. Dân nước sẽ xé xác kẻ làm loạn chứ chẳng cần đến binh lính của bệ hạ phải đánh dẹp. Lại như giặc ngoài vào cướp nước ta, cũng có nghĩa là nó cướp nước của dân đấy. Thế thì muôn người dân sẽ là muôn người lính sát cánh cùng quân triều đình kháng giặc, bệ hạ còn lo nỗi gì nào.\nNgừng lại giây lát, đại lão thiền sư lại tiếp:\n- Nhưng nước sẽ mất, giặc đến là dân theo giặc nếu bệ hạ chỉ vun đắp lợi quyền cho hoàng gia và người trong tôn thất mà tô thuế nặng nề, phu phen tạp dịch liền tháng liền năm, nỗi thống khổ của người dân không biết kêu với ai, không biết trông cậy vào ai. Bởi bộ máy của bệ hạ từ hương ấp đến triều đình chỉ nhằm vào người dân mà vơ vét mà tróc nã. Nếu triều đình của bệ hạ đã tới mức ấy thì chẳng cứ gì người dân mà ngay cả binh lính cũng chạy theo giặc.\nVì sao vậy? Đại lão thiền sư nhìn thẳng vào gương mặt phúc hậu với đôi mắt đang hau háu lắng nghe của nhà vua, ngài nói tiếp:\n- Vì nước ấy không còn là của dân nữa, bởi dân có được dự phần gì đâu. Nếu triều đình đã biến toàn dân thành một bầy nô bộc thì dân ấy chính là giặc đó, và triều đình lại là kẻ thù của dân đó.\nPhúc thay, bệ hạ là đấng nhân quân, lấy cái lo của thiên hạ làm cái lo của mình, lấy ý muốn của muôn dân làm ý muốn của mình. Vậy bệ hạ còn băn khoăn nỗi gì. Bần tăng nói điều này không phải là khách khí hoặc để lấy lòng bệ hạ đâu - rằng nếu chẳng may giặc Mông - Thát có tràn vào xâm lấn cõi bờ ta, lão tăng tuổi già sức yếu chẳng thể làm gì được, nhưng tăng sẽ hóa độ cho đinh tráng trong vùng sung quân, ngay các đệ tử, các tiểu tăng của bản tự cũng sung quân giữ nước. Bởi còn nước mới còn dân mà còn dân mới còn Đạo. Đạo Phật là đạo của mọi người, đạo của mọi nhà chớ đâu chỉ là đạo của mấy ông thầy chùa.\nNhư chợt nhớ ra điều gì, thiền sư vội hỏi:\n- Bệ hạ, tăng này nghe nói hồi bệ hạ lên Yên Tử, thiền sư Phù Vân có khuyên bệ hạ nên để tâm thám cứu nội điển, chẳng hay việc đó thế nào?\nTrong lòng hoan hỷ nên gương mặt nhà vua rạng rỡ, nhìn đại sư với vẻ biết ơn, vua nói:\n- Bạch đại lão thiền sư, các việc trẫm làm đều phát xuất từ tấm lòng với người dân cả nước. Dự nghĩ xong lại đem ra bàn trước trăm quan, khi mọi điều đều êm thuận mới đem ra ban bố. Ấy thế mà đôi khi trẫm vẫn còn áy náy, không biết các quan bàn thật hay vì các quan chiều lòng trẫm. Ngay hỏi người dân trong những chuyến vi hành, trẫm vẫn chưa an tâm. Biết đâu đám nội nhân chẳng lừa mình bằng cách sắp xếp trước những nơi mình đi thăm, dù là đi bất chợt. Và chúng dẫn vào những vùng dân đã có bát ăn. Dù đi đến tận nơi thôn cùng xóm vắng, điều mắt thấy tai nghe đấy, vẫn chưa dám tin là thật. Bởi đám cận thần luôn đón ý và họ tìm mọi cách để làm hài lòng người trên. Do vậy, trẫm phải tìm đến các bậc đạo cao đức trọng, danh không màng, lợi không cầu, lòng ngay tâm thẳng để mong được chỉ giáo.\n- Đâu dám! Đâu dám! - Thiền sư vội xua tay: - Bệ hạ hơi quá lời. Lão tăng ở chốn xó rừng hoang dã, có điều gì thất thố thô lậu xin đừng chấp với người già.\n- Bạch, đại lão là bậc minh sư minh triết đã chỉ cho trẫm ngộ ra nhiều điều. Ban nãy đại sư có hỏi cách đây non hai chục năm trẫm lên Yên Tử. Hồi đó tuổi trẻ, nghĩ suy còn nông cạn lắm, chỉ muốn đi tu để trở thành Phật. Phù Vân quốc sư dạy rằng: “Trong núi không có Phật”. Rồi ngài chỉ vào người trẫm nói: “Phật ở đây này. Phật ở trong tâm ấy. Tâm giác ngộ chính là Phật đấy”.\nTrước khi trẫm xuống núi, ngài còn khuyên: “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nếu bệ hạ thực lòng hiếu Phật, thì không gì bằng lo cho hạnh phúc của bách tính, giảm nhẹ hình án, chăm lo công đức của mọi nhà mãi mãi sum xuê. Và nữa, sự tìm hiểu về nội điển, xin bệ hạ chớ nguôi quên”.\nChính những lời khai minh của quốc sư Phù Vân lại cũng là lời khai ngộ đối với trẫm. Kể từ khi quyền bính về tay, trẫm luôn dò tìm để biết ý muốn của dân, biết cái tâm của dân mà hành hóa, chớ đâu dám ỷ thế được ngồi trên đỉnh cao quyền lực mà làm theo ý muốn của riêng mình.\nCòn việc sư dạy phải “tìm hiểu về nội điển” trẫm chưa bao giờ dám xao nhãng. Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm, cho nên ban đêm vẫn phải thức đến khuya để đọc sách. Phải học Nho để mà vào Phật. Cứ đọc rồi cũng vỡ ra, sáng ra. Tới nay trẫm cũng đã mạnh dạn viết được đôi ba tập về Phật sự, chẳng biết hay dở thế nào, có dịp sẽ mời đại sư nhã giám rồi còn chỉ bảo cho những chỗ nông cạn.\nĐại sư lấy làm hoan hỷ, ngài tỏ ý vừa như khen vừa như kính phục:\n- Bệ hạ ở ngôi cửu ngũ mà lòng vẫn hướng về đám lê dân. Lo công việc cho cả nước mà vẫn nhiếp tâm theo đạo Bồ Đề, học hành nội điển không phút lơ là mà vẫn dành được thời gian trước tác. Bệ hạ đã tu theo chính pháp, con đường đã chọn, cứ thế mà đi, sao còn phải cầu kiến.\nCuộc tham vấn của nhà vua vừa vãn thì cũng là lúc bình minh đã tỏ rạng. Đệ tử của thiền sư cũng vừa xong khóa lễ sớm.\nChia tay với đại sư Đức Sơn, cả đoàn lên ngựa trạm đi thẳng ra An Bang.\nKhuất dạng nơi am thanh cảnh vắng lâu rồi mà hình ảnh thiền sư với ngôi am Thanh Phong vẫn cứ vấn vương trong đầu óc nhà vua. Trong đáy sâu tâm tư, không phải nhà vua không ao ước được thoát tục như thiền sư.\nVà ít lâu sau, tại am Thanh Phong, thiền sư Đức Sơn nhận được bài thơ gởi tặng của nhà vua:\n*Phong dã tùng san nguyệt chiếu đình,* *Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.* *Cá trung tư vị vô nhân thức,* *Phó dự sơn tăng lạc đáo minh.* [20]\n\nCuộc tuần du của nhà vua không phải là cuộc dạo chơi nhàn tản mà vô cùng vất vả, khi đi ngựa trạm, khi đi thuyền, ấy là tùy các địa thế mà nhà vua muốn kiểm xét. Nói cho đúng thì nhà vua đi thị sát cả đường thủy lẫn đường bộ, xem nẻo nào giặc có thể từ đó mà tràn vào cõi để còn có đối sách chống giặc.\nKhi tới An Bang, nhà vua và đoàn tùy tùng bỏ lại ngựa cho trạm giữ mà xuống thuyền. Vua sai giong buồm ra thẳng Vân Đồn.\nTrong chuyến đi, vua luôn giữ sát hai tướng ở bên mình để bàn bạc việc quân.\nNhân lúc thuận gió, thuyền đi nhàn nhã vua sai pha trà rồi vua tôi đàm đạo. Vua hỏi gia cảnh từng người.\nKhuê Kình liền thưa:\n- Tâu bệ hạ, về phần thần, song thân đều đã khuất núi. Ngoài nội tướng ra thần cũng có vài ba người thiếp, sống với nhau thuận hòa. Con cái cũng được dăm bảy đứa, tuổi mới choai choai. Xem ra chưa đứa nào tỏ rõ khiếu năng gì. Tâu, thần không có con nào đủ sức vào Quốc học viện, họa may có thằng thứ hai nếu rèn kỹ có thể theo học được ở Giảng Võ đường.\n- Vậy còn Lê Tần thì sao? - Vua hỏi. - Ta nghe nói khanh sống với Chiêu Thánh hợp lắm, đã sinh được mấy mặt con rồi. Nhà vua hỏi vì cũng muốn biết Chiêu Thánh sống ra sao. Nhưng thực trong lòng vua luôn cảm như mình có lỗi với Chiêu Thánh. Sở dĩ Chiêu Thánh về với Lê Tần là do sự mai mối của Thái úy Phạm Kính Ân, quan của triều Lý được lưu dụng. Nghe đâu việc này là do bà Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung có ngầm bàn với Phạm Kính Ân.\nSở dĩ bà Linh từ nhắm tới Lê Tần là bởi Thái sư luôn khen tướng Lê Tần tài kiêm văn võ lại có nhân cách cao thượng, nên bà nảy ra ý đó. Khi Phạm Kính Ân ngỏ lời với thái sư thì ngài hoan hỉ vun vào nhưng lại nói với Phạm Kính Ân: “Ông nên tâu việc này lên hoàng thượng”. Nghe Phạm Kính Ân tâu báo, vua hỏi:\n- Vậy chớ ý Chiêu Thánh thế nào?\n- Tâu bệ hạ, công chúa bảo: “Vì ông là cựu thần nhà Lý nên ta tin lời ông. Vả lại Lê Tần cũng là người có nhân cách”. Dạ, công chúa nói như thế có nghĩa là người đã ưng thuận. Xin bệ hạ rộng lượng.\nThái tông nhíu mày nói:\n- Ta còn mong gì hơn thế nữa. Vậy ta sẽ cắt cho Chiêu Thánh một trăm khoảnh ruộng làm của hồi môn\n[21].\nLê Tần có ý hơi ngượng vì Chiêu Thánh vốn là hoàng hậu của đương kim hoàng thượng. Chẳng lẽ vua hỏi mà không nói sẽ mang tội khi quân, phạm thượng. Tần bèn thưa:\n- Tâu bệ hạ, lũ thần sống với nhau tương thân tương kính, hiện đã có năm mặt con. Sắp tới hai đứa trai có nhẽ thi vào học tại Giảng Võ đường, còn một đứa rắp ranh thi vào Quốc học viện nhưng kiến văn còn nông cạn lắm, chắc thần chưa cho thi.\n- Ta mừng cho các ông phần gia thất đều tốt lành cả. Con cái như thế cũng là được đấy. Khuê Kình chớ có cầu toàn. Chẳng cần con cái phải làm đến chức này chức nọ gì đâu, cứ làm một người dân lương thiện, đời sống no đủ thế chẳng tốt sao.\n- Lê Tần người Ái châu, ta biết. Nhưng song thân còn tại đường cả chứ?\n- Tạ ân bệ hạ hỏi thăm, song thân của thần đã viên tịch cả rồi ạ.\nNhà vua ngậm ngùi chia sẻ, nhưng thực bụng nhà vua cũng nghĩ về mình như vậy:\n- Buồn thế đấy. Khi ta trưởng thành, muốn báo hiếu thì cha mẹ lại không còn nữa.\nKhi nhà vua nói tới điều đó thì cả vua tôi đều ngùi ngùi. Xem ra, chẳng ai còn cha mẹ để được phụng dưỡng.\nĐường xa, gió thuận, trời đẹp vua tôi cứ rủ rỉ hết chuyện này sang chuyện khác.\nChuyện tới chuyện lui bỗng Trần Khuê Kình hỏi:\n- Tâu bệ hạ, thần muốn hỏi một điều nếu bệ hạ không bắt tội thần mới dám nói.\n- Khuê Kình là người trực tính, lại kiêu dũng nữa; khanh có nhớ hơn chục năm trước, khanh bảo ta rằng Thái sư lộng quyền. Ta hỏi khanh có dám nói điều đó trước thái sư không. Khanh bảo đã nói là không sợ. Thế là ta đem khanh đến gặp thái sư. Trước thái sư oai phong lẫm liệt, đến ta còn phải nể, thế mà khanh dám bộc bạch nỗi lo của mọi người. Khanh nói với thái sư đúng như nói với ta, không sai một lời. Vì vậy, cả thái sư và ta đều trọng khanh lắm.\nLại chuyện Quốc mẫu cho kiệu qua ngọ môn, khanh sai quân ngăn lại. Khi đối chất khanh dám cãi luật với kiểm pháp quan trước cả thái sư. Các việc như thế khi còn là thân vệ tướng quân, Trần Khuê Kình còn chẳng sợ, thế mà nay vua tôi nói chuyện lại sợ ta trị tội. Khanh mới nhát hèn từ lúc nào, sao ta không được biết? Vua nháy mắt cho Lê Tần. Rồi cả vua tôi cùng cười vỡ ra.\n- Tâu, thần chỉ muốn hỏi bệ hạ và Lê tướng quân, ở nước ta hiện nay, trong tất cả các vị tướng thì tướng nào giỏi nhất?\nCâu hỏi bất ngờ của Khuê Kình làm cả nhà vua và Lê Tần đều khó nghĩ. Bởi từ trước tới nay chưa có ai đặt ra điều đó.\nNgẫm nghĩ một lát, vua quay hỏi Lê Tần:\n- Khuê Kình hỏi vậy, ý tướng quân thế nào?\nLê Tần chưa dám trả lời ngay, ông suy tư cân nhắc một lúc chừng nhai tàn miếng trầu rồi mới thận trọng nói:\n- Tâu bệ hạ, theo ý thần, tướng tài của nước ta hiện nay chưa ai vượt được Thái sư. Thần đã được Thái sư sai khiến nhiều việc. Việc nào Thái sư cũng tính đến cả chục nước, không một điều gì xảy ra nằm ngoài dự liệu của Thái sư. Người ta cứ bảo Thái sư ít chữ, nhưng thần đã đôi ba lần hầu chuyện thái sư, xem ra ngài nghiền ngẫm các binh gia cổ kim không sót một nhà nào, song khi vào việc lại không rập theo ai cả.\nThái tông gật gù có vẻ thừa nhận các điều Lê Tần vừa nói. Suy nghĩ giây lát, vua phán:\n- Nói Thái sư ít học là do thuở niên thiếu người không được học hành đầy đủ. Nhưng khi vào việc ngài phải gồng mình lên mà học đấy. Người không có học thức sao làm được các việc lớn như thế.\n- Thần nghe nói những năm đầu của nhà Trần ta, Thái sư có một bậc mưu sĩ trác việt lắm, ngài đã tôn người ấy làm thầy kia mà.\nNhà vua gật đầu:\n- Đúng như Lê Tần nói. Nhưng sau đó tiên sinh đi ở ẩn biệt tăm. Vả lại lúc ấy Thái sư cũng đã đủ kiến văn và sự từng trải để điều hành đất nước.\nKhuê Kình cũng lên tiếng:\n- Theo ngu ý của thần, quả Thái sư là bậc kỳ tướng của nước nhà như ý Lê tướng quân vừa nói. Nhưng thời của Thái sư đã qua rồi. Bậc huân tướng số một của nước nhà hiện nay chính là hoàng thượng đó.\n- Bậy nào! - Vua quở. - Ta sao dám vượt được Thái sư, đến Lê Tần đây ta cũng chẳng theo được còn nói gì Thái sư.\nThấy vua có ý đề cao mình, Lê Tần vẻ sợ hãi đứng dậy vái vua hai vái:\n- Bệ hạ khen quá lời, hạ thần tổn thọ mất.\nKhuê Kình cãi lại:\n- Tâu bệ hạ năm Canh Tuất (1250) bệ hạ có cho Lê tướng quân coi ba ty Phụng Nguyên, Thanh Túc, Hiển Chính từ phủ Đô Vệ tách ra là đánh giá đúng tài năng của tướng quân. Lại mới đây Lê tướng quân theo bệ hạ đi bình Chiêm cũng lập được công lớn, nên có thể liệt tướng quân vào hàng dũng tướng, trí tướng là đủ. Thái sư trước sau vẫn là bậc danh tướng, bậc huân tướng, còn như bệ hạ đích thị là bậc nhân tướng. Thần đã xem các cuộc đánh dẹp của bệ hạ ở trong nước, lại theo bệ hạ đi tuần miền biên địa, rồi tảo thanh qua đất Tống, mới đây bệ hạ lại thân chinh thảo phạt nước Chiêm đạt kỳ tích chưa từng thấy. Phải nói bệ hạ đã đem lưỡi gươm nhân ái đi bình dẹp người Chiêm, săn lùng cho bằng được quân Chiêm đánh cho nó tan tác mà tránh được sự tàn sát dân Chiêm. Cho nên danh tướng bậc nhất thời nay không phải bệ hạ còn ai vào đây nữa.\nVua nghiêm sắc mặt nói:\n- Khuê Kình, dù điều khanh nói có đúng sự thật là như vậy, ta cũng cấm khanh không được nói ở bất cứ nơi nào. Vì sao vậy? Vì như thế có nghĩa là ta tranh công với các tướng, thử hỏi còn ai muốn vì ta mà lập công nữa. Khuê Kình phải thấy rằng công của toàn thể tướng, sĩ cũng là công của ta đấy. Các tướng sĩ cứ ra sức lập công đi, ta sẽ thăng thưởng xứng đáng, công bằng.\nLê Tần và ngay cả Khuê Kình đều tâm phục nhà vua và đều tôn ngài là bậc thượng trí, đúng như đại lão thiền sư Đức Sơn nói ngài là bậc nhân quân.\nBuồm căng, gió thuận thuyền cứ rẽ nước đi băng băng như mũi tên lao. Trời xanh bao la in bóng xuống mặt bể xanh rờn. Trùng dương mênh mang bốn phương tám hướng đâu đâu cũng chỉ là nước, thỉnh thoảng lại có một đàn hải âu lướt bay qua nom như một vệt nắng lóa. Lúc này mọi người đều im lặng và đều nhìn theo hút bóng bầy hải âu. Và dường như ai nấy đều cảm nhận được con người sao mà nhỏ bé trước biển khơi.\nNội thị dâng trà. Vua ban cho mỗi người một chung.\nCầm chung trà nóng khói tỏa mờ mờ hương sen thơm ngát, vua tôi đều cảm như đang sống giữa kinh thành Thăng Long.\nTrà được vài tuần, vua Thái tông khoát tay ra ngoài song cửa lâu thuyền nói:\n- Nước ta trải dài từ châu Vĩnh An, bắt đầu từ bãi Sa Vĩ - Mũi Ngọc đến tận cửa Nhật Lệ đều được biển cả bao bọc trải tới mấy ngàn dặm vừa thuận cho ta lại vừa khó cho ta trong cái thế phòng thủ đất nước, các khanh có kế sách gì làm cho vùng biên hải của ta được an toàn.\nLê Tần thưa:\n- Tâu bệ ha, nỗi lo muôn đời của ta vẫn cứ là từ phương bắc. Nay lại có thêm vùng tây bắc giáp giới nước Đại Lý, quân Mông - Thát đang ngó dòm. Cũng may là nhà Tống từ khi Lý Thường Kiệt đánh cho đại bại tới nay vẫn đang lún sâu vào thế yếu suy, rối nát. Mà thực ra họ chỉ có lợi thế về thương thuyền thôi chứ lực lượng thủy quân với hải đoàn của họ không có gì đáng kể, còn như quân Mông - Thát lại chỉ quen vùng vẫy chốn thảo nguyên, thế mạnh của nó là kỵ binh với các kỵ đội vô cùng lợi hại. Cho nên lợi thế của chúng là các vùng đất bằng khô ráo, chứ nếu nó theo ta tới các miền sông nước hoặc biển khơi thế này sẽ bị quân ta dìm chết sạch.\nTheo thần, mặt biển của ta hiện nay tuy mênh mông, trống trải nhưng vẫn chưa đáng ngại, nhưng về lâu về dài phải nghĩ tới việc xây dựng một đội hải binh mạnh với các hạm thuyền có thể chở tới vài chục đô quân kèm theo lương thảo, khí giới, nước ngọt và có thể lênh đênh nhiều ngày trên biển.\n- Ta cũng đã nghĩ điều Lê Tần nói, nhưng xây dựng hải binh tốn kém lắm, lúc này chưa thể tính đến.\n- Tâu bệ hạ, - Trần Khuê Kình nói - Có một cách khác ít tốn kém hơn nhưng thành tựu thu về chắc là không nhỏ. Theo thần, trong khắp các vùng duyên hải, vùng nào có bãi cá lớn, có nhiều người quen thạo nghề biển nhưng vì họ vốn ít, lưới ngắn thuyền nhỏ thì nhà nước cho họ vay tiền dài hạn không lấy lãi để họ sắm lưới lớn, thuyền to ra khơi đánh cá. Nếu được như vậy ta thu về được ba cái lợi: Một là ta có nhiều cá để bồi dưỡng sức dân. Dân duyên hải do đấy mà giàu có thêm lên. Hai là lúc nào ta cũng có thuyền bè trên mặt biển tựa như nhà có chủ. Nếu có thuyền bè lạ xâm phạm, lập tức có người báo về đất liền ngay. Ba là có nhiều ngư phủ ra khơi đánh cá quen thạo với biển cả, dạn dày sóng gió, luồng lạch đi lại nông sâu, bãi cạn, đá ngầm không chỗ nào họ không biết. Kíp đến khi ta tổ chức hải đoàn thì chính những ngư phủ ấy sẽ là những người lính biển thiện chiến.\nCòn như hiện nay, tâu bệ hạ, ta có mấy cửa biển xung yếu. Về phía nam quân Chiêm Thành hay xâm phạm là cửa Nhật Lệ\n[22], cửa Kỳ La [23], cửa Hội [24]. Sâu vào trong này còn có cửa Đại An [25]. Nhưng cửa Đại An quá xa đất Chiêm nên quân Chiêm không dám xâm phạm, về các cửa phía nam thì sau cuộc thảo phạt của bệ hạ, chắc phải cả chục năm sau người Chiêm mới gượng dậy được, về mặt bắc duy có cửa Vân Đồn [26] qua nẻo Bạch Đằng rồi tiến lên Lục Đầu giang lấy cả đường bộ đường thủy vào Thăng Long mà giặc Bắc cho là thuận lợi nhất. Cũng còn một đường nữa là từ Vĩnh An lấy đường thủy vào nguồn Tam Trĩ thì đổ quân lên bộ mà vào. Nẻo này đường sông thì hẹp, đường bộ thì hiểm trở, cách Thăng Long cả ngàn dặm. Giặc Bắc chưa bao giờ dám đi nẻo này.\nTâu bệ hạ, lần này giặc Mông - Thát có xâm lấn cõi bờ ta thì mặt bể chúng chưa thể tràn vào được bởi còn nhà nam Tống án ngữ.\nNghe các tướng đàm đạo, vua Thái tông tỏ vẻ hài lòng, bởi họ đều là tướng trí dũng song toàn, thiên văn địa lý thông tỏ cả nên ngài rất yên tâm khi cắt cử công việc cho họ.\nVới vẻ điềm đạm, vua Thái tông nói:\n- Các khanh kiến giải đều hợp ý trẫm cả. Kế của Khuê Kình giúp ngư dân duyên hải đánh bắt cá ngoài khơi để giữ biển như nhà có chủ là ý hay, không tốn kém nhiều lắm mà có lợi về lâu dài. Việc này phải làm sớm.\nMặt biển phía tây bỗng lựng đỏ, mặt trời rơi xuống như một cục tiết khổng lồ, thoắt đã bị biển lôi tụt xuống, bầu trời mặt biển đều xám xịt rồi tối om. Thuyền vẫn băng băng rẽ sóng, hải đạo như đã in hằn trong óc não người cầm lái. Đèn trong lâu thuyền được thắp sáng. Chừng một canh giờ sau thuyền đi vào vùng sóng dữ. Những con sóng lừng cứ lừng lững dồi thuyền lên đỉnh ngọn cao gấp mấy lần nóc nhà rồi lại ném xuống tới chân nó để thuyền nằm lọt giữa khe của hai đỉnh sóng, tưởng như thuyền sẽ bị nhấn chìm thì bỗng dưng nó lại được sóng dâng lên. Cuộc rượt đuổi của sóng cứ như là thần biển chơi trò ú tim khiến người yếu bóng vía phải khiếp sợ. Thế nhưng con thuyền vẫn gối sóng nhẹ lướt đi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Tuy nhiên, trong các khoang của lâu thuyền đồ đạc đều lắc lư, có thứ đổ rơi lăn long lóc trên sạp thuyền.\nMột tiếng chuông báo hiệu từ đằng mũi thuyền. Người lái căng mắt nhìn ngọn nước xoáy rồi thả lỏng dây lèo cho buồm đổi hướng.\nMột tên lính trạo nhi ló mặt vào khoang thuyền nói như hét:\n- Bệ hạ bảo trọng, thuyền sắp vào cửa Đối nước xoáy nguy hiểm lắm.\nViên lính trạo nhi vừa đi khỏi, mọi người có cảm giác như thuyền đang được bốc cao lên ngang đỉnh núi rồi bỗng nhiên mũi thuyền chúc xuống, phía đuôi lái ngỏng lên, thuyền lao như một mũi tên vừa rời khỏi lẫy nỏ, tưởng như nó ngay lập tức bị cắm phập xuống đáy biển, nhưng rồi ngọn nước lại nâng nó lên và sau một quãng văng xa độ dăm chục trượng con thuyền lại trở về thế cân bằng.\nQua cửa Đối thuyền đi chậm vì trong vịnh có nhiều núi non che chắn, sức gió yếu, và thuyền phải len lách vào đúng các luồng lạch ngoắt ngoéo, nếu không sẽ đụng vào vách núi hoặc đá ngầm.\nVua hỏi các tướng:\n- Vừa rồi ta có cảm giác như thuyền của mình phải vượt qua một cái thác dựng đứng.\nLê Tần đáp:\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy. Hôm nay là ngày nước cường, nước từ biển tuôn vào qua một cửa hẹp mà nước trong vịnh lại thấp, độ chênh tới năm, sáu trượng nên thuyền ra vào rất nguy hiểm, non tay lái thuyền dễ bị lật hoặc mũi thuyền lao thẳng vào vách đá. Tâu, khi nước triều xuống cũng vậy, phía trong cao, phía ngoài biển thấp, thuyền ra đỡ nguy hiểm hơn thuyền vào. Vì luôn có độ nước chênh như vậy, nên dân vùng này đặt cho nó cái tên là Cửa Đối.\nNhà vua nở nụ cười rạng rỡ hỏi:\n- Vậy chớ quân Nam Hán vào nộp mạng cho Ngô tiên chúa (Ngô Quyền) trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938) ắt chúng cũng phải qua cửa này.\n- Tâu, đúng như vậy. Muốn vào cửa Bạch Đằng chúng không còn đường nào khác, Trần Khuê Kình nói.\nVua lại hỏi:\n- Cả năm Tân Tỵ (981) Tống Thái tông đưa quân vào Bạch Đằng để hoàng đế Lê Hoàn tiêu diệt cũng qua cửa này.\n- Tâu, vẫn còn cửa khác nữa - Lê Tần đáp - Đó là Cửa Vạn. Nhưng cửa này dễ cho quân ta mà khó cho quân giặc, nên chúng không dám vào cửa này.\nVua lấy làm thích thú nói:\n- Vậy cái cửa Đối này chính là Quỷ Môn quan trên biển của ta đó. Ở đây ta có cái thế nhất nhân địch vạn. Trong vài ngày tới ta và các khanh phải đi xem kỹ địa hình, rồi cũng phải lập mấy cái vọng hải đài ở đây để cảnh giới từ xa.\nKhuê Kình vội đáp:\n- Tâu bệ hạ, vọng hải đài ở đây đã lập từ đời Lý Thánh tông (1054 - 1072), hiện hải binh ta thường tu bổ và vẫn có quân canh phòng cảnh giới trên đó.\nVua Thái tông buột miệng khen:\n- Nhà Lý thật là một triều đại hiếm có. Các việc lớn như nông tang, đê điều, binh bị, hình luật, học hành… họ đều đặt nền móng cho ta cả. Nay nếu ta không tiếp nối xứng đáng thì quả là hổ thẹn với người xưa lắm đấy.\nQuá nửa đêm thuyền vào tới cảng Vân Đồn. Khu thương cảng, tàu thuyền buôn nước ngoài đậu san sát, đèn thắp sáng dày đặc như sao trời. Khu quân cảng tàu thuyền thưa thớt, đèn thắp loáng thoáng, nhiều chỗ tối đen.\nThuyền neo đậu ngang trước dinh quan Đông hải đô tổng quản. Gọi là dinh, thực ra chỉ là ngôi nhà gỗ năm gian, mái lợp cỏ tranh. Hai dãy nhà ngang ở phía sau làm bằng tre, tường đắp bằng đất nện dành cho lính ở. Sân là một bãi cát rộng. Xung quanh dinh cắm hàng giậu mắt cáo bằng tre hóp thay tường vây.\nVì không được báo trước, Đô tổng quản không biết hoàng thượng giá lâm nên ông ta vẫn nằm quay mặt vào tường đọc sách.\nQuân vào bẩm có các quan từ Thăng Long tới, Đô tổng quản vội bỏ sách, chân không kịp xỏ giày dép chạy ngay ra cổng nghênh đón.\nVừa trông thấy hai tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình Đông hải đô tổng quản liền vái dài và luôn miệng chào:\n- Kính bẩm các đại quan, hạ cấp không được biết các đại quan hạ cố nên không kịp làm lễ cung nghinh, xin các đại quan tha tội.\nTrần Khuê Kình nghiêm mặt nói:\n- Hoàng thượng giá lâm, sao không quỳ lạy. Vừa nói Khuê Kình vừa chỉ tay về chỗ nhà vua đứng.\nĐông hải đô tổng quản luống cuống quỳ mọp đầu xuống nền cát trắng vái lạy lia lịa, miệng nói líu cả lưỡi:\n- Hạ quan ở nơi góc biển chân trời chưa được thấy long nhan, xin hoàng thượng tha tội chết. Đầu ông ta cứ cụng mãi trên nền cát không dám ngửng mặt nhìn vua.\nThái tông ôn tồn nói:\n- Đông hải đô tổng quản đứng lên! Ta tới không báo trước, sao các ông biết được mà đón tiếp. Không có tội tình gì hết, đứng dậy dẫn khách vào nhà.\n- Đa tạ hoàng thượng tha tội. Nói xong ông ta liền đứng dậy, cát dính trắng cả vầng trán và áo quần. Mấy ngọn đèn trước cổng và trong sân tỏa một thứ ánh sáng vàng đục nom dinh quan hết sức sơ sài.\nĐô tổng quản dẫn vua và đoàn tùy tùng vào nhà tân khách, đèn thắp sáng nom rõ bộ tràng kỷ bằng tre đã lên màu đen bóng nhưng trên mặt phủ mỏng một lớp cát trắng. Mấy tên lính hầu vội lấy phất trần phủi bụi. Đô tổng quản nói như thanh minh:\n- Dạ ở đây thuần cát, đồ đạc không làm sao giữ cho sạch cát. Cứ vừa lau xong có một trận gió bất chợt thổi qua lại đem cát phủ lên tất cả. Dạ, được cái cát biển sạch lắm ạ.\nQuân hầu dâng trà. Trà cũng chỉ là một thứ nụ vối phơi khô uống quanh năm.\nĐô tổng quản sai quân đi lo bữa để dâng vua và quan khách. Lê Tần ngăn lại:\n- Hoàng thượng cùng mọi người đã dùng bữa trên thuyền rồi, đô tổng quản khỏi phải lo.\nĐô tổng quản đang băn khoăn định mời vua và các quan đi nghỉ, nhưng trong lòng ông rất lo vì mọi thứ tại dinh quan đều quá sơ sài, có khi còn nghịch mắt so với những gì nhà vua và các quan dùng ở Thăng Long. Giữa lúc đó chợt vẳng lên tiếng chuông chùa, nghe rõ cả tiếng mõ nhịp theo lời kinh tụng. Vậy là đã vào khóa lễ sớm, giữa giờ sửu rồi.\n- Có phải gần đây có ngôi chùa?\n- Tâu bệ hạ, chùa nằm trong khu dân cư bên phía thương cảng, cách ta chỉ mấy trăm bước chân.\nVua lại hỏi đô tổng quản:\n- Khanh có biết chùa này dựng từ bao giờ không?\n- Tâu bệ hạ, cứ như bài minh khắc trên quả chuông thì chùa được dựng từ đời vua thứ hai nhà Lý. Lý Thái tông (1028 - 1054) nhân chuyến nhà vua đi kinh dinh miền biển đảo có ghé qua Vân Đồn để lập thương cảng, lập quân cảng và dựng Vọng hải đài. Trong chuyến đi có cả thiền sư Đạo Quang. Sư thấy cả vùng này không có chùa tháp, sư tăng, thiền sư bèn xin nhà vua cấp cho trang Vân Đồn một ngôi chùa và một vị sư đã học qua đạo tràng. Thế là một năm sau trang Vân Đồn có chùa, có cả sư trụ trì.\nNghe viên Đông hải đô tổng quản tâu báo các việc rành rõ, vua Thái tông tự vấn: Ta được coi là một ông vua thương dân, gần dân lăn lóc việc nước việc dân không nề hà quản ngại, thế mà đi đến đâu cũng thấy dấu tích các vị khai cơ mở nghiệp của nhà Lý. Mà sao tận bây giờ ta mới tới vùng này, thật đáng trách lắm thay.\nVua lại hỏi:\n- Dân trong trang ấp Vân Đồn này có sùng đạo lắm không? Khách thương lái của các tàu thuyền nước ngoài họ có lui tới chiêm bái không?\n- Tâu bệ hạ, dân trong vùng này sùng Phật lắm ạ. Kể cả binh lính, cả thần cũng rất sùng Phật.\nTâu, dân sùng Phật còn vì một nhẽ, con em trong trang ấp từ bảy tám tuổi trở lên đều vào học chữ trong chùa cả. Tâu, thiền sư đích thân dạy trẻ. Rồi trong trang ấp có ai ốm đau bệnh tật lại cũng chạy đến chùa xin thuốc, thành thử người dân không chỉ cầu Phật, cần Phật mà còn cần cả sư nữa.\nTâu, còn đối với thương khách ngoại quốc, những nước cùng theo đạo Phật như người Tàu, người Chân Lạp, người Tiêm La… họ cũng lễ Phật như người mình thôi. Với các dân khác như người Tây Dương họ chỉ tới xem ngắm cảnh chùa, xem người hành lễ với vẻ tôn trọng chứ không ai dám có hành vi thô lậu hoặc bỉ báng.\nNgẫm nghĩ giây lát, vua phán hỏi:\n- Bây giờ trời cũng sắp sáng, nếu các khanh buồn ngủ thì cứ đi ngủ để lấy sức. Còn ta lần đầu tiên tới Vân Đồn có nhiều điều làm ta rạo rực không thể ngủ được. Vả lại ta cũng muốn biết các việc trên đảo như việc quân, việc dân, việc giao thương… đô tổng quản làm việc với ta được chứ?\n- Tâu, được hoàng thượng đoái hỏi là phúc cho thần, phúc cho binh sĩ và dân trong trang ấp Vân Đồn.\nLê Tần và Trần Khuê Kình cũng đều nói:\n- Nếu bệ hạ không đuổi thì xin cho lũ thần được dự nghe.\nVua cười nói:\n- Ta chỉ sợ các khanh đi đường xa lại mất ngủ thì mệt thôi.\n- Nhẽ ra bệ hạ phải giữ gìn ngọc thể hơn là lũ thần. - Trần Khuê Kình nói.\n- Thôi được, vậy thì ta cùng nghe, cùng bàn. Đây là việc nước chớ chẳng phải việc riêng của ta.\nNhìn thẳng vào gương mặt chất phác của Đông hải đô tổng quản, vua hỏi:\n- Khanh giữ chức Đông hải đô tổng quản đã bao lâu rồi?\n- Tâu bệ hạ, thần được bổ giữ chức này mới gần bảy năm.\n- Trước đó khanh làm gì?\n- Tâu, thần là phó Đô tổng quản ạ.\n- Khanh ở vùng này lâu chưa?\n- Tâu, mới được mười lăm năm.\n- Danh tính ngươi là gì, quê quán ở đâu?\n- Tâu bệ hạ, cha mẹ thần đặt cho tên là Trần Quý Quảng, quê quán tận Long Hưng. Thần vốn chỉ là điền binh, là ngư phủ, nhân có chuyến thái sư đi kiểm xét các địa phương để lấy người sung vào quân thủy, thái sư sai thần phải theo ngài rồi cho ra đây làm lính thú hải binh. Và rồi thượng cấp cứ cất nhắc dần lên, nếu không thần cũng chỉ làm một ngư phủ, một điền tốt nơi thôn dã.\n- Ngươi có biết chữ không?\n- Tâu bệ hạ, thuở nhỏ thần được cha mẹ cho theo học vị thiền sư ở chùa làng sáu năm, tạm đủ chữ đọc sách của các bậc tiên thánh.\n- Vùng biển mà ngươi quản nhiệm từ đâu đến đâu?\n- Tâu bệ hạ quân của thần đóng suốt từ Vân Đồn đến Vĩnh An.\n- Tức là từ Sa Vĩ - Mũi Ngọc điểm tiếp biển đầu tiên của nước ta đến Vân Đồn.\n- Tâu, đúng như vậy.\n- Thế còn vùng cửa Lục cửa Bạch Đằng thuộc quyền ai quản nhiệm?\n- Tâu bệ hạ, từ trước vùng sâu trong đó thì quân thủy quân bộ phối hợp đều đặt dưới quyền quản lãnh của một đô tổng quản thuộc lộ An Bang.\nDạ muôn tâu, trước kia thái sư phân định như vậy, và tới nay thì bệ hạ vẫn giữ nguyên chế độ cũ chưa có gì thay đổi.\nVua lại hỏi:\n- Sĩ tốt có được ăn no không?\n- Tâu bệ hạ, trong quân của thần thuần người trẻ, họ đang sức ăn sức lớn, ăn thiếu họ còn không chịu nổi, còn như phải ăn đói chắc là họ bỏ trốn hết.\nTâu bệ hạ, thần không chỉ cho quân ăn no mà còn cho họ ăn ngon nữa.\n- Thế nào gọi là bữa ăn ngon, các ngươi lấy tiền đâu ra cho quân ăn ngon?\n- Tâu bệ hạ, lũ thần từ quan tới lính chỉ được gạo ăn no, còn thức ăn quân phải tự kiếm lấy. Ở rừng ăn lộc rừng, ở biển ăn lộc biển, nếu biết khai thác khiếu năng của mọi người thì không việc gì là không làm được, kiếm thức ăn chỉ là chuyện nhỏ. Thức ăn của lũ thần như tôm he, mực ống, cá song, cá chim, cá thu, bào ngư, hải sâm, sò, ốc, cua, rùa, vích, sam… mùa nào vật ấy không thiếu một thứ gì.\n- Vậy trong quân của ngươi có được uống rượu không?\n- Tâu bệ hạ, trong quân mà rượu chè thì sao còn giữ được kỷ cương nữa. Dạ tâu nhưng cũng có châm chước tí chút ạ.\nVua Thái tông nghiêm giọng:\n- Ngươi vừa nói trong quân mà rượu chè thì không giữ được kỷ cương, rồi ngươi lại nói châm chước tí chút là thế nào? Vậy trong quân của ngươi hằng ngày vẫn được phép uống rượu.\n- Tâu bệ hạ, hằng ngày thần nghiêm cấm không một ai được phép uống rượu, kể cả thần. Nhưng vào cuối của các ngày sóc, ngày vọng mỗi người từ quan đến quân đều được phép uống một bát rượu và chỉ một bát thôi. Tâu hoàng thượng anh minh, thần nghe nói lệ này có là do quan Đông hải đô tổng quản Lý Vân Trung từ đời vua Thái tông (1028 - 1054) nhà Lý. Nghe đâu cái năm đầu mới lập quân thủy ấy, mùa đông rét quá mà lính tráng lại thiếu quần áo ấm ở nơi đầu sóng ngọn gió. Thế là quan đô tổng quản thương tình, sai hâm rượu nóng múc cho mỗi người một bát. Hôm đó xét ra lại đúng ngày rằm tháng chạp, thế là quan lớn làm tờ trình lên thượng cấp xin lĩnh hình phạt vì đã dám trái quân lệnh, cho quân uống rượu. Thượng cấp xét tình người lính xa nhà nên không những không phạt quan đô tổng quản mà còn khen ngài biết làm việc hợp lòng quân, và cho phép không chỉ ngày vọng mà ngày sóc quân hải biên thùy còn được uống thêm một bát nữa, nhưng phải vào cuối ngày, sau khi việc quân và việc lễ Phật trong ngày đã mãn. Tâu hoàng thượng, tiếp khi thái sư thống quốc kiêm cả việc binh, ngài vẫn cho phép duy trì tập tục đó cho tới ngày nay.\nTâu thánh thượng anh minh, nếu thánh thượng có dụ cải lệnh thì từ nay thần xin nghiêm giữ.\nNhà vua vội xua tay:\n- Việc xuất phát từ Lý Vân Trung được dấy lên bởi lòng thương quân, qua mấy trăm năm đã trở thành tập tục, tuy không phải là mỹ tục, nhưng xét ra không có hại, cớ chi phải cải đổi. Có điều ngươi phải răn quân không bao giờ được phép vượt quá hạn giới khiến quân kỷ rối nát.\nTrần Quý Quảng vội vàng phủ phục nói:\n- Tạ ơn bệ hạ có lòng thương quân, thần xin tuân chỉ.\nVua tôi mải mê trò chuyện, trời sáng bạch từ lúc nào cũng không ai để ý, mãi khi quân hầu vào dâng nước rửa mặt và dâng trà vua tôi mới tạm dừng.\nĂn điểm tâm xong vua đòi đi xem phố xá, xem quân cảng, thương cảng rồi ghé chùa thăm viếng thiền sư.\nVua và các tùy tùng đều đóng giả thương lái la cà chợ búa, phố xá xem đủ các mặt hàng của ta, của ngoại quốc. Vua có vào xem vài cửa hàng của người Tống. Đó là các hàng buôn bán vải sợi, gấm vóc, bán các đồ sứ, các mặt hàng thuốc bắc, một tửu quán, một ca lầu. Nghe đâu còn có cả thanh lâu nhưng vua không ghé.\nVua cũng đến xem một cửa hàng của người Chà Và, một cửa hàng của người Tây Trúc và dăm cửa hàng của người Đại Việt.\nVua có hỏi kỹ một chủ cửa hàng bán đồ sành sứ như thố, thạp, độc bình, các loại bình, ấm chén, bát, đĩa… Có nhiều loại đĩa cảnh lòng rộng tới ba, bốn gang tay. Có cả tượng đất nung các đầu rồng, đầu phượng, tượng các con vật linh như nghê, hạc…\nVua hỏi người chủ cửa hàng đã đứng tuổi:\n- Các mặt hàng này ông bán cho người mình là chính hay người ngoại quốc là chính?\nÔng chủ cười vui vẻ và từ tốn đáp lời.\n- Cám ơn quý khách có lời thăm hỏi. Hàng của chúng tôi bày đây tuy nhiều, nhưng đều là hàng mẫu để các thương lái nước ngoài đến xem, nếu họ ưng mua loại nào thì họ đặt. Nếu lấy nhiều thì chúng tôi phải cho người về Thăng Long gom hàng. Nếu họ lấy nhiều chủng loại với số lượng cho cả một hai chuyến tàu thì phải đặt xa thời hạn để chúng tôi còn báo cho các chủ lò nung.\nVua lại hỏi:\n- Bên kia có cửa hàng đồ sứ của người Tàu, vậy khách mua chủ yếu là loại nào, các tàu buôn ngoại quốc có lấy hàng sứ Tàu ở đây không?\n- Thưa quý khách, đồ sứ Tàu người mình rất chuộng vì trông nó mỏng mày hay hạt, nước men lại sáng sủa. Thế nhưng người ngoại quốc họ lại thích đồ sành sứ của ta hơn. Họ thích nhất những loại men độc sắc như men ngọc, men ngà, men nâu. Họ bảo men của ta có độ sâu bắt mắt, sờ vào món đồ mát lạnh cả tay, dáng khỏe khoắn và nhiều kiểu đẹp nhưng không phô trương mà vẫn gần gũi với nét đẹp đời thường, chứ nó không tròn trĩnh đến đơn điệu như đồ sứ của người Tàu. Nhưng họ cũng thừa nhận đồ của người Tàu có nhiều món đẹp như men túy hồng độc sắc, men rạn cũng là loại độc đáo.\n- Ông chủ có biết tại thương cảng này những mặt hàng nào của ta được thương lái ngoại quốc thích mua và mua thật nhiều?\n- Vậy chớ quý khách có hàng gì bán cứ nói toẹt ra, việc gì mà cứ dò hỏi mãi.\n- Không! Không có gì bán buôn cả, ông chủ hiểu nhầm tôi rồi. Tôi chỉ muốn biết để xem nước mình có giàu không, có nhiều của quý mà nước ngoài không có.\n- Quý khách đã nặng lòng với đất nước thì tôi cũng xin nói rằng: Tất cả các tàu buôn nước ngoài, không một tàu nào lại không tranh mua hột tiêu, trầm hương, ngà voi, da hổ, sừng tê giác, đồi mồi, mã não, ngọc trai. Ngọc trai họ ưa loại hồng ngọc và huyền ngọc. Huyền ngọc thì hiếm lắm nhưng cực đắt, đắt gấp cả trăm lần ngọc thường.\n- Vậy chứ những thứ hàng quý hiếm ấy do người mình thu gom rồi bán thẳng cho thương lái ngoại quốc hay do người Tàu làm trung gian môi giới?\n- Quý khách tò mò quá, ông chủ hàng có vẻ hơi bực mình.\nLê Tần bèn đỡ lời:\n- Cảm phiền ông, chủ tôi đây là một đại gia ở Thăng Long, nay ông ra Vân Đồn xem xét để có thể chuyển một phần kinh doanh ra ngoài này.\n- Vậy à? Ông chủ cửa hàng đồ gốm sứ nhìn thẳng vào nhà vua, với vẻ thiện cảm, ông hỏi luôn:\n- Ở trong đó ông kinh doanh những hàng gì?\nLê Tần vội đáp:\n- Dạ, chủ tôi kinh doanh tơ lụa, gấm vóc và cả các đồ trân quý.\n- Tôi có quen một đại gia như thế ở Thăng Long, có phải nhà “Quảng Phát”?\n- Vâng đúng. Đó là cửa hàng của ông chủ tôi ở phố Cầu Đông.\nChỉ vào nhà vua, ông chủ hàng đồ gốm hỏi:\n- Có phải ông là con cụ Quảng Phát?\nVua Thái tông gật đầu.\n- Thế thì tôi có quen biết cụ nhà. Nhưng đã lâu tôi không về Thăng Long, chẳng hay sức khỏe cụ nhà có còn khang kiện? - Thảo nào tôi nom ông có nét hao hao giống cụ Quảng Phát.\n- Đa tạ ông có nhời hỏi thăm, cha tôi đã thất lộc từ hơn chục năm rồi ạ. Nay anh em tôi nối nghiệp nhưng còn bỡ ngỡ lắm.\n- Tiếc quá, cụ đi hơi sớm, bao giờ về Thăng Long tôi sẽ đến viếng cụ. Nói rồi ông chủ đi vào nhà trong, lúc ra ông đem theo một hộp gỗ nhỏ bằng vốc tay nâng lên đưa cho nhà vua - Đây là hộp hương vòng làm bằng một thứ huyền trầm cực quý, tôi gửi ông về thắp hương cụ và khấn giùm tôi vài lời để cụ phù hộ.\nLâm vào tình thế bất ngờ, vua Thái tông đành nhận và hết lời cảm tạ.\nÔng chủ hiệu gốm sứ lại thao thao:\n- Về điều ông vừa hỏi các đồ trân quý của nước ta bán buôn thế nào. Tôi phải nói lai lịch hơi dài. Tức là cách đây hơn trăm năm đều do người Tàu nắm hết. Họ đến tận cửa rừng, vào từng nhà mua gom. Người mình chỉ biết nó là hàng quý hiếm và nhà nước có đánh thuế khai thác. Nhưng thuế cũng vừa phải thôi. Song quả thực dân mình đâu biết nó lại đắt như vàng. Còn hơn vàng nữa, nếu là bạch trầm hương. Thế là họ mua của dân mình một, về họ bán lãi gấp trăm, thậm chí gấp cả ngàn lần.\nLý Thái tông đi kinh dinh ra vùng này xét hỏi sự việc. Vua sai đặt trạm mua các loại sản phẩm quý hiếm cho dân sơn tràng, giá cao gấp mấy chục lần giá do người Tàu mua. Và cấm hẳn người Tàu thâu gom đưa về thương cảng này bán thẳng cho khách thương ngoại quốc. Người Tống mất mối lợi này họ tức lắm, nhưng không chống lại được chính quyền nhà Lý. Nhưng đến đời Lý Cao tông (1176 - 1210) nhà vua tiêu xài, xây cất hoang hủy quá đáng nên thiếu tiền. Vua vơ vét đủ thứ ở đồng bằng, rồi cho quân lên tận các cửa rừng vơ vét cả của dân sơn tràng.\nThế là người Tàu lại len lỏi móc nối ngầm mua ngầm bán, mối lợi lại về tay họ. Kíp khi nhà Trần lấy được nước, chỉ ít lâu sau thái sư Trần Thủ Độ cho phục lại chế độ mua bán như nhà Lý. Và bây giờ thì vẫn do nhà nước nắm cả, phải nói đây cũng là một nguồn lợi lớn đấy.\nCảm tạ người chủ nhà hàng gốm sứ tốt bụng, vua tôi lại xuống thuyền đi về phía quân cảng.\nNom quân lính canh phòng nghiêm cẩn, thuyền bè ngăn nắp, đoàn nào đội ấy cờ xí phân minh mà người lính thẩy đều béo tốt, mạnh khỏe, da dẻ săn chắc vua lấy làm hài lòng. Nhưng khi xuống xem mấy cái gọi là chiến hạm Long, Hổ, Ngư, Xà thì vua giật mình bởi nó cũ nát quá. Đô tổng quản sai quân tu bổ, sơn phết bên ngoài nom có vẻ đẹp mã nhưng bên trong thì quả là không dùng vào việc gì được nữa. Loại thuyền này ra biển lớn, gió đổi hướng bất chợt buồm lật nhiều là có thể vặn thuyền quăn như chiếc vỏ đỗ.\nVua hỏi viên Đông hải đô tổng quản:\n- Có phải ngươi cố giữ mấy chiến hạm này để hù dọa quân Tống, hù dọa mấy anh tàu buôn ngoại quốc bên thương cảng kia phải không?\nĐô tổng quản phủ phục thưa:\n- Tâu bệ hạ, quả có như bệ hạ nói. Thần đã đôi ba lần tâu báo khẩn cấp về binh bộ, nhưng thượng cấp dạy - hiện thời ngân khố phải chi cho nhiều việc khác để an sinh như đắp đê ngăn lụt, hạn, mở mang trường học, nuôi dưỡng người quan quả cô đơn… Vì vậy thần đành phải chờ đợi.\nTrong mấy ngày ở lại Vân Đồn, vua Thái tông đi xem xét khắp cả từ đường đi lối lại trên mặt vịnh, sự lợi hại về mặt công thủ của quân cảng, các vọng hải đài, các nơi hiểm yếu có thể phục quân đánh thuyền giặc từ ngoài vào. Vua cũng vào tận trang ấp dân làm ruộng, dân đánh cá, dân buôn bán rồi vào thăm sư trụ trì ngôi chùa trong đảo, không nơi nào là vua không xem xét, hỏi han.\nSau ba ngày đêm thăm Vân Đồn, vua căn dặn đô tổng quản Trần Quý Quảng tất cả mọi việc cần làm từ việc binh đến việc dân, từ việc nông tang đến việc giao thương… Riêng về thu thuế, châu mục đã giao việc này cho Đông hải đô tổng quản kiêm nhiệm. Sổ sách chi thu phải minh bạch, vì số thuế thu ở thương cảng này lớn lắm. Cấm ngặt việc tự tiện lấy tiền thu thuế chi cho việc quân. Tăng cường quân thủy, đóng mới tàu thuyền, ta đã có chủ kiến rồi. Việc này phải trù liệu, bởi chi cho quân thủy là tốn kém nhất trong tất cả các sắc quân… Đêm vua và các tùy tùng lại lên thuyền ra châu Vĩnh An. Đông hải đô tổng quản Trần Quý Quảng xin phép được đem vài chiến thuyền đi theo với ngầm ý hộ giá. Vua y cho.\nChiều hôm sau thuyền đến bãi Sa Vĩ châu Vĩnh An. Sa Vĩ là dải đất tiếp biển đầu tiên của nước Đại Việt.\nTrần Quý Quảng mời vua ghé thăm đồn biên hải Mũi Ngọc Sơn. Vua dặn:\n- Ngươi chỉ cho binh sĩ biết các quan chức ở Thăng Long đi kinh dinh ghé thăm. Không để lộ danh tính của trẫm và các tướng tùy tùng.\n- Thần tuân chỉ. Trần Quý Quảng liền ra lệnh cho viên đô tướng cho thuyền vượt lên dẫn đầu đoàn thuyền.\nVua Thái tông đứng dưới chân cột cờ là mô đất cao nhất của Mũi Ngọc Sơn nhìn bao quát một dải Sa Vĩ thuần cát trắng mênh mông kéo một vệt dài quanh mép nước, và cách đó không xa là rừng xanh bạt ngàn. Và loáng thoáng đây đó sau các khoảng rừng màu khói lam đùn lên. Vua quay hỏi Trần Quý Quảng:\n- Có phải nơi các chòm khói kia là cư dân làng bản?\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy, dân chúng đang nấu cơm chiều đấy ạ.\n- Ta xem dân ở đây có vẻ thưa thớt lắm phải không?\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy. Nếu bệ hạ có kế sách di thêm dân ra vùng này thì biên cương đỡ trống trải.\n- Khanh nói phải, phên dậu mà trống trải thì trộm dễ vào nhà.\nVua nhìn bao quát một dải đất liền xanh đuối tầm mắt, lại quay nhìn ra biển, vua chỉ tay về phía các hòn đảo mờ xa hỏi:\n- Các hòn đảo ấy thuộc về nước mình chứ?\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy, Đông hải đô tổng quản trả lời.\n- Đã có người ở chưa?\n- Tâu bệ hạ chưa ạ.\n- Đảo có to không, có thung lũng có thể khai thác thành ruộng cày cấy được không?\n- Tâu bệ hạ được ạ. Nhưng cấy trồng cái gì cũng không giữ được vì thú rừng ăn củ quả và rễ cây trên các đảo nhiều lắm. Ví như lợn rừng, nhím, khỉ, nai, cầy, chuột.\n- Vậy chớ ta đã làm dấu mốc gì ở đấy để chứng tỏ đất ấy là của ta?\n- Tâu bệ hạ lũ thần có đi vòng quanh các đảo ấy thì đảo nào cũng có một tấm bia đá to xây gắn vào trụ gạch trên khắc hàng chữ:\n*Đại Việt - Ất mùi (1055) Long Thụy Thái Bình nhị niên*.\nVua Thái tông vui vẻ gật đầu nói:\n- Vậy là vua Lý Thánh tông lên ngôi năm trước thì năm sau ngài đã tuần du khắp nước và cho dựng bia chủ quyền ở nhiều nơi.\nVua cúi xuống vốc một vốc cát trắng phau dưới chân cột cờ chìa cho mọi người xem rồi nói:\n- Mỗi hạt cát này đều thấm đẫm máu xương của tổ tiên biết bao đời mới có được. Cũng có thể mỗi hạt cát này ta phải đổi một mạng người đấy. Vậy ta và các khanh cùng dân nước phải giữ lấy, đời đời con cháu phải giữ lấy. Một thước, một tấc núi sông, biển đảo đều không được để lọt vào tay quân thù. Kẻ nào để hao tổn dù chỉ một tấc núi sông ta, thì chính nó là kẻ thù của cả dân tộc, và lịch sử sẽ đời đời nguyền rủa nó.\nĐêm ấy vua và đoàn tùy tùng nghỉ lại Mũi Ngọc Sơn. Ở một điểm địa đầu của đất nước, trong tâm thức nhà vua cứ rạo rực không sao ngủ được. Vua Thái tông nhẩm tính các mốc dựng nước gian nan của tổ tiên từ mấy ngàn năm nay, mà kẻ cản trở ta, kẻ thôn tính ta, kẻ mưu toan đồng hóa dân tộc ta luôn luôn xuất phát từ phương bắc. Vua tự nghĩ, phương bắc là một trong bốn phương của trời đất mà sao nó lại trở thành một phương nguy hiểm, một phương hung sát tựa như một thứ khắc tinh đối với nòi giống Đại Việt ta. Trăn trở mãi không ngủ được, nhà vua lại ra nhìn trời sao, nhìn biển đảo, nhìn vào đất liền và lắng nghe nhịp thở của biển khơi như nhịp thở phập phồng trong lồng ngực của những người lính miền biên ải.\nBuổi sớm vua và đoàn tùy tùng ăn với những người lính bữa cơm mà tất cả thức ăn tự tay họ bắt từ biển và cũng tự tay họ chế biến.\nNhìn những người lính trẻ chất phác hồn hậu mỗi người một quê từ các vùng miền xa tít tắp, và cũng là lần đầu trong cuộc đời họ phải đi xa như vậy, để ra vùng địa đầu này đem tấm ngực trần và sức trai ra bảo vệ núi sông, biển đảo cho cả nước được yên bình. Vua vừa thương họ như thương con mình vừa cảm phục lòng trung dũng của họ đối với non sông đất nước.\nNói đôi lời yên ủi họ rồi vua và cả đoàn tùy tùng bỏ thuyền lại, lấy ngựa trạm đi xuyên vào rừng qua các châu Tô Mậu\n[27], Môn [28] rồi vòng về cửa ải Pha Lũy [29]. Dừng lại quan sát xem phía bên kia nhà Tống có hoạt động gì đáng nghi ngại. Nhưng các biên quan, biên tướng đều tâu báo dân Tống đang đói vì mất mùa, còn binh Tống cứ lùi dần vào sâu trong nội địa của họ. Biên thùy nhà Tống với Đại Việt lúc này gần như bỏ ngỏ.\nTừ ải Pha Lũy đoàn chia làm đôi, một nửa lên ải Hà Khẩu\n[30], một nửa lên ải Hà Dương [31].\nKhi trở về hai đoàn bỏ ngựa lại trạm lấy thuyền đi theo đường thủy để thám sát địa hình mà vua và các tướng đều dự liệu có thể quân Mông Cổ vào ta sẽ đi bằng đường sông. Bởi hiện nay quân Mông Cổ đang lăm le tiến đánh Thành Đô\n[32] và tiến chiếm nước Đại Lý [33]. Và từ Đại Lý sang nước ta chỉ có đường sông là thuận lợi hơn cả. Vả lại quân Mông Cổ có tràn qua nước Đại Lý cũng tựa như chúng đi vào chỗ không có người vậy.\nTới ải Hà Dương quan sát địa thế xong, Lê Tần cho quân quay về qua châu Bình Lâm\n[34] rồi theo sông Lô mà vào Bạch Hạc [35].\nThân vệ tướng quân Trần Khuê Kình dẫn vua lên cửa Hà Khẩu rồi lấy đường Thủy Vĩ qua các châu Văn Bàn, Trấn Yên\n[36]… xuôi về Bạch Hạc.\nLê Tần về tới Bạch Hạc trước nên đợi thuyền vua để cùng xuôi Thăng Long.\nKhi vua tôi đã hội quân ở Bạch Hạc, vua Thái tông sai gọi hai tướng Lê Tần, Trần Khuê Kình cùng sang thuyền ngự để bàn bạc. Vua hỏi:\n- Liệu quân Mông Cổ tràn sang ta có đi theo đường thủy như hai đoàn của ta vừa đi không?\n- Tâu bệ hạ, Lê Tần nói - Quân Mông Cổ có sở trường về kỵ binh, nếu chúng đi đường thủy cũng tức là chúng bỏ sở trường chọn lấy sở đoản. Nếu chúng rời khỏi lưng ngựa thì quân điền binh của ta cũng dư sức đánh lại chúng.\n- Vậy chúng đi đường nào? - Vua lại hỏi.\nThân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đáp:\n- Tâu hoàng thượng, giặc tất lấy đường bờ sông mà đi, chỗ nào gặp núi non hiểm trở giặc sẽ tìm đường đi tránh. Chỉ có đi dọc triền sông mới là đường gần nhất, đỡ hiểm trở mà giặc vẫn dùng được ưu thế kỵ đội mà tiến.\nLê Tần cũng nói thêm vào:\n- Tâu bệ hạ, đúng như tướng thân vệ dự liệu, giặc sẽ chọn cách tiến binh đó.\n- Tính toán lại, ta cũng cho đó là thượng sách của giặc. Vậy ta có nên bố trí quân phục để đánh chặn nó ở những quãng nào, có nhẽ về Thăng Long ta phải đem bản đồ ra mà bàn xét.\n- Chúng thần xin tuân chỉ. - Cả hai tướng cùng nói.\n\nVề tới Thăng Long, tẩy trần xong vua Thái tông sang ngay cung Thúy Hoa vấn an hoàng hậu và hỏi các việc trong hậu cung, nhất là việc học hành của các hoàng tử.\nHiển Từ có vẻ như không được khỏe, hoàng hậu nói giọng hơi đùng đục:\n- Bệ hạ đi vắng, các việc trong cung sẵn có nền nếp, ai việc nấy nên cũng không có gì quan ngại. Còn việc học của các con thiếp chỉ nhắc nhủ các ông sư phó phải nghiêm huấn chớ không được nuông chiều theo ý thích riêng của trẻ.\nCác ông sư phó nói các hoàng tử đều thông minh, hiếu học, riêng có Chiêu Văn nghe đâu nó mê thích âm nhạc. Lúc nào cũng ôm kè kè cây đàn và bi bô hát. Trông nó ôm cây đàn thì nực cười lắm, cần đàn còn cao hơn cả đầu nó. Thằng bé thấp quá vì nó chưa được hai tuổi.\nViệc học hành của các con có thực như các ông sư phó tâu, bệ hạ phải tự mình kiểm xét các con thì mới rõ, thiếp sao đủ chữ nghĩa làm các việc đó.\n- Thôi được, việc đó hậu để ta lo.\n- Bệ hạ đi kinh dinh miền biên thùy thế nào, liệu giặc Mông - Thát có xâm chiếm cõi bờ ta không?\n- Biên thùy tạm yên ắng, nhưng trước sau thì quân Mông - Thát cũng tràn vào.\n- Liệu sức quân mình có cản được giặc không, thiếp thấy ở kinh sư nhiều người lo sợ cứ như là giặc sắp vào cõi rồi. Lại nữa, khắp nơi đang rèn đúc khí giới. Bệ hạ, liệu hoàng gia có phải tạm lánh giặc không?\nVua Thái tông ôm lấy hậu mà cười. Mãi sau ghìm được tiếng cười, vua nói:\n- Sao hậu lại nghĩ ra được cái điều nực cười đó. Đã làm gì có giặc giã nào đụng đến biên thùy của ta mà hậu phải lo nào. Còn như việc cả nước rèn đúc khí giới là do ta ban chiếu đó. Phải tăng cường tinh binh, phải có nhiều khí giới cho các điền binh tập luyện. Đấy là cách phòng bị của nước, để nếu có giặc thì cả nước cùng đánh giặc giữ nước. Nếu ta lo việc này thật tốt, ắt giặc phải dè chừng. Cả nước cùng đồng tâm nhất trí kháng giặc, ta chắc chắn giặc không dám mạo phạm. Ngược lại, ta mà lơ là, quân ít, khí giới sơ sài, lòng dân khảng tảng thì trước sau nước cũng rơi vào tay giặc. Và như thế cũng chẳng khác gì đem nước dâng cho giặc.\n- Bệ hạ dạy thế thiếp thấy an lòng. Nhưng quả thật trong đầu óc thiếp vẫn mơ hồ cảm như trước sau gì rồi giặc Thát cũng xâm lấn cõi bờ ta. Thiếp nghe như có tiếng vọng của quân Mông - Thát đang reo hò, quát tháo.\nVới cử chỉ âu yếm, nhà vua vuốt má Hiển Từ nói lời an ủi:\n- Cũng có thể nàng có linh giác bén nhạy nên cảm được các việc khi nó còn đang manh nha. Lại cũng có thể thấy thiên hạ đồn thổi, âu lo nên nàng lây nỗi lo của thiên hạ.\nNhìn vào đôi mắt vẫn chưa hết lo lắng của hoàng hậu, nhà vua nói lời quả quyết:\n- Nàng nên tin vào ta. Vả lại còn Thái sư, còn các tướng tài ba cùng đội quân hùng mạnh đã được rèn luyện kỹ càng cùng với hàng triệu điền binh còn nằm trong hương ấp, như thế chẳng phải là sức mạnh cản giặc sao.\n- Bệ hạ nói, sao thiếp dám không tin. Bệ hạ bảo đã có thái sư, nhưng sao thiếp thấy đám nội thị tâu rằng: “Quốc mẫu cho người đi mua gom đồ binh khí ở các lò rèn với mua gạo tích trữ nhiều lắm”. Việc ấy liệu có can hệ gì đến an nguy của nước không. Các chuyện này thiếp chỉ mới nghe thế nên tâu lại. Quả thật thiếp cũng chưa hỏi quốc mẫu và cũng chưa được nhìn thấy điều đám nội thị tâu báo.\n- Được! Được! Ta sẽ cho kiểm xét việc này. Nhưng ta nhắc lại, nàng chớ có âu lo. Vả ta nghe giọng nói của nàng dường như trong người đang ủ bệnh đấy. Sai nội thị triệu ngự y đến chẩn mạch sớm đi.\n- Dào ôi, thiếp có làm sao mà phải mời các thái y đến làm gì. Bệ hạ cứ lo việc nước đi.\nSớm hôm sau vua vào cung Thủy Tĩnh thăm Thái sư Trần Thủ Độ.\nThái sư tâu báo các việc đã làm ở nhà. Lòng dân hoan hỉ, thế nước đang lên.\nNhà vua cũng thuật lại các việc ngài vừa đi kinh dinh mấy lộ và dọc tuyến biên thùy.\nNghe xong Thái sư liền nói:\n- Cứ như ý thần thì biên thùy giáp Tống hiện thời chưa có gì đáng lo. Nhà Tống suy yếu lắm rồi, chẳng mấy chốc nữa mà sụp đổ, vó ngựa Mông - Thát sẽ quần nát Trung Nguyên. Nếu Mông - Thát bình xong Trung Hoa, chúng sẽ quay vó ngựa xuống phương Nam, nước ta lúc đó sẽ trở thành bãi sa trường. Cho nên các chính sách bệ hạ cho làm để tăng sức dân, sức quân xem ra rất đắc dụng.\n- Thưa, ý chú nói rất phải. Nhưng cháu e rằng chưa bình xong Trung Nguyên, quân Mông Cổ đã đánh ta rồi. Chúng đánh ta để có đường tập hậu nhà nam Tống, kẹp vua tôi Tống Lý tông (1225 -1272) từ hai mặt nam, bắc.\n- Bệ hạ xem tình hình biên thùy nước Đại Lý thế nào. Theo thần, nếu giặc Mông - Thát có đánh ta ắt chúng phải qua nẻo đó, vì rằng Mông-kha đang rục rịch tiến binh vào Thành Đô. Trước đó năm Quý Sửu (1253) Hốt-tất-liệt là em của Mông-kha và tướng Ngột-lương-hợp-thai (Uriyangqadai)\n[37] vượt sông Kim Sa đánh chiếm kinh thành nước Đại Lý [38]. Vua nước ấy là Đoàn Hưng Trí chạy trốn. Đầu năm Giáp Dần (1254) Hốt-tất-liệt trở về bắc, công việc bình định giao lại cho Ngột-lương-hợp-thai, chẳng biết tới lúc này quân Mông Cổ đã lấy xong nước Đại Lý chưa. Bệ hạ vừa đi về chắc biết rõ việc này.\n- Thưa chú, mới đây Đoàn Hưng Trí bị bắt ở Thiện Xiển\n[39], y bị dồn đuổi tới đó rồi đầu hàng quân Mông Cổ chứ không có chống cự nào cả. Các tộc di ở đó gồm người Thoán, người Bặc lác đác còn kháng cự, chắc rồi quân Mông Cổ cũng bắt Đoàn Hưng Trí đi dụ hàng hết thôi.\nTrần Thủ Độ thở dài:\n- Vậy là không tránh khỏi cuộc chiến với quân Mông Cổ rồi. Phải gấp rút phòng bị thôi thưa bệ hạ.\n- Cháu đang định bàn với chú về việc đó.\n- Bây giờ bệ hạ ra thiết triều kẻo các quan đang chờ, thần sẽ tới bệ kiến sau.\n- Sao lâu nay chú vẫn cứ khách khí với cháu vậy?\n- Trong vẫn là tình chú cháu, ngoài là lễ vua tôi, thần phải nghiêm giữ kẻo thiên hạ trông vào mà đàm tiếu.\nTại điện Thiên An các quan đang ngóng chờ hoàng thượng. Trong khi nhà vua chưa tới, các quan xúm vào hỏi chuyện hai tướng Lê Tần và Trần Khuê Kình hộ giá hoàng thượng đi kinh dinh miền biên viễn.\nLát sau kiệu của nhà vua và kiệu của thái sư cùng đến. Các quan ùa cả ra sân Long Trì chào đón vua.\nNhững lời chúc vang dội:\n- Thánh thượng vạn tuế!\n- Thánh thượng vạn an!\nQuần thần theo vua vào nội điện.\nVua hỏi thăm sức khỏe các quan, hỏi công việc các cơ quan then máy như Trung thư sảnh, Khu mật viện, Đài ngự sử, Đăng văn viện, Quốc học viện…\nTất cả đều tâu báo công việc khiến vua rất hài lòng. Sau đó nhà vua nói về tình hình biên ải và nguy cơ giặc Mông - Thát có thể xâm lấn nước ta nên mọi việc chuẩn bị cho công cuộc kình chống giặc ngoài phải bắt đầu ngay từ bây giờ, kẻo khi việc bất ngờ xảy ra lại trở tay không kịp.\nSau khi chỉ dụ mọi việc phải cấp kỳ làm ngay, vua nhắc lại chuyến đi từ Thăng Long qua huyện Phượng Nhãn sang huyện Chí Linh rồi theo đường ngựa trạm ra An Bang. Từ An Bang lại đi thuyền ra Vân Đồn. Từ Vân Đồn ra Vạn Ninh tới bãi Sa Vĩ - Mũi Ngọc Sơn giáp với nước Tống, đây là điểm khởi đầu của cả một dải biển dài kéo tới tận cửa Nhật Lệ giáp với nước Chiêm Thành. Nhà vua hết lời khen ngợi nước ta giàu và đẹp. Các nguồn lợi từ rừng và biển thật là vô tận, nhưng ta chưa lấy ở biển được gì đáng kể. Dân nằm sát biển vẫn sống về nghề làm ruộng và nghề rừng. Cá ở trong biển, muối ở trong biển vẫn chưa trở thành nguồn lợi chính của người dân ven biển, thời đó là chỗ bất cập của nước nhà. Việc ấy nhà nước phải ra tay chớ không thể chê trách người dân được.\nNhìn khắp lượt các triều quan, với vẻ tin yêu đối với mọi người, giọng tha thiết, vua nói:\n- Chư khanh! Các khanh phải đi khắp mọi miền đất nước, từ núi rừng, sông suối đến biển đảo, phải tận mắt, tận tay nhìn ngắm, sờ mó được mới thấy giang sơn ta thật là kỳ thú. Người xưa nói giang sơn gấm vóc quả không sai.\nNghe nhà vua nói về đất nước, núi sông, biển đảo, các quan cứ hau háu lắng nghe, nhiều người ao ước sẽ có dịp đi đó đi đây để được xem ngắm hình hài đất nước.\nNói xong, nhà vua huơ cao cây kim hốt, phán:\n- Bãi triều!\nCác quan đồng thanh hô:\n- Hoàng thượng thiên tuế!\n- Hoàng thượng vạn an!\nSớm hôm sau vua cho triệu các ông sư phó và các hoàng tử đến điện Thiên Khánh vì ở đây có lầu bát giác, có chiếc cầu cong như vành lược bắc qua mặt hồ và có nhiều cây cỏ, hoa lá, có nhiều chỗ đẹp cho các hoàng tử chơi.\nVua cho mời các ông sư phó dẫn học trò của mình lên lầu bát giác. Lần lượt có đông cung hoàng thái tử Trần Hoảng đã được lập từ năm Canh Tý (1240), tức là từ khi hoàng tử mới được sinh ra. Thứ đến là em kế Trần Quang Khải sinh năm Tân Sửu (1241). Hai vị cùng với Trần Quốc Khang đều do bà Thuận Thiên sinh. Quốc Khang mặc dù là con trưởng sinh từ năm Mậu Tuất (1238), nhưng thực Khang là con của Hoài vương Trần Liễu. Vì Thuận Thiên đã có mang ba tháng mới về ở cùng vua Thái tông do sự sắp đặt mang tính cưỡng bức của thái sư Trần Thủ Độ và bà Trần Thị Dung. Tuy nhiên, Quốc Khang cũng không tỏ ra có tài cán gì nên không được trọng dụng. Nay Khang đã vào tuổi trưởng thành, được lập phủ riêng nên không được triệu.\nTiếp đó là các hoàng tử Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc. Hai vị hoàng tử này được sinh cùng một mẹ. Và được sinh vào các năm từ Đinh Mùi (1247) đến Canh Tuất (1250).\n*Nhỏ nhất là Trần Nhật Duật,* tới nay mới sang tuổi thứ hai [40].\nTrong năm vị hoàng tử này chỉ có Trần Hoảng và Trần Quang Khải tỏ ra chín chắn và học thức được các sư phó đánh giá khá cao. Bởi hai người đều vào độ tuổi mười sáu, mười bảy lại vừa có đầu óc sáng láng, thông tuệ vừa chăm chỉ học hành và đọc rộng khắp các nhà.\nNgoài hai hoàng tử lớn, còn lại ba người thì mới từ hai tuổi đến tám chín tuổi.\nTheo lời các ông sư phó thì hoàng tử Trần Ích Tắc là người có đầu óc mẫn nhuệ, học một biết mười. Mới tám, chín tuổi mà đã học thông tam giáo, thi thư, nhạc họa, không môn nào là không ham thích và đều thông thạo. Hoàng tử Chiêu Văn (Trần Nhật Duật) tuy chưa đến tuổi học hành, vì mới lẫm chẫm biết đi nhưng mỗi khi nghe đến tiếng đàn tiếng nhạc là tìm đến và khó có thể dứt ra được.\nNghe các ông sư phó tâu báo về khiếu năng của các con mình, nhà vua tỏ vẻ hài lòng. Nhà vua khen ngợi các thầy và có lời ủy thác:\n- Ta sinh ra các con, nhưng dạy chúng thành người có đức, nếu may ra lại có tài nữa thì công các ông lớn lắm. Ta không bao giờ nuông chiều các con. Vậy ta mong các ông cứ giữ nghiêm cái đạo của người thầy. Và hãy coi các con ta cũng như các học trò khác.\nNhìn các ông sư phó với lòng biết ơn, nhà vua sai ban cho các vị mỗi người một chung trà quý. Giây lâu ngài hỏi:\n- Năm Tân Hợi (1251) ta có viết một bài minh để răn các con về các đức:\n*Trung hiếu - hòa tốn - ôn lương - cung kiệm*. Ta đã đưa các ông để giảng dạy cho các con ta, chẳng hay việc đó đến đâu rồi, chúng có chịu tiếp nhận lời giảng của thầy và có được thể hiện trong cung cách sống và cư xử hằng ngày, hay là chúng chỉ thuộc lời văn như một cái vẹt học nói tiếng người mà chẳng biết nghĩa lý của tiếng nói ấy.\nThay vì các ông sư phó phải tâu báo, hoàng thái tử Trần Hoảng vòng tay xin phép vua cha được nói:\n- Tâu phụ hoàng, bài minh văn của phụ hoàng ban cho anh em chúng con, lúc nhỏ con chưa hiểu hết được ý nghĩa sâu xa mà phụ hoàng răn dạy. Nhưng suốt năm năm qua, phần thì các bậc sư phó giảng giải, phần chúng con tự ngộ ra, nên hiểu phụ hoàng dạy chúng con đạo làm người, và đó cũng là đạo làm vua, làm quan. Phàm người đứng trên thiên hạ mà thiếu một trong các đức đó cũng đủ làm rối loạn thiên hạ. Bởi vậy, không chỉ chúng con thuộc văn mà còn phải biết theo đó hành xử hằng ngày. Các em con, tuổi còn nhỏ chưa lĩnh hội được ý của phụ hoàng, nhưng dần dần cùng năm tháng rồi sẽ ngộ ra, xin phụ hoàng cứ yên tâm.\nNghe hoàng thái tử nói, nhà vua có vẻ hài lòng. Ngài nói:\n- Ta thật sự hoan hỷ vì các con đã không phụ lòng ta. Con ráng tu đức, rèn trí và đi sâu vào kê cứu đạo thiền, để mai này quyền thế vào tay, con biết đường hành xử sao cho dân được thịnh, nước được cường, ấy là lòng ta mong mỏi.\nNói vài lời ủy thác với các ông sư phó rồi nhà vua lên kiệu đến thẳng quốc học viện.\nBiết nhà vua thế nào cũng đến kiểm xét việc học hành của sĩ tử, việc chuẩn bị cho kỳ thi vào đầu năm tới, vì vậy quan Quốc tử giám Tế tửu cùng quan Quốc tử giám Tư nghiệp đã chờ đón để cung nghinh.\nVào việc, vua hỏi ngay:\n- Nay đã gần cuối năm, đến tháng trọng xuân năm tới triều đình mở khoa thi, vậy quốc học viện đã bố cáo cho sĩ tử ở các lộ biết, ai muốn về dự bình văn ở quốc học viện vào bất cứ lúc nào cũng được chưa?\n- Tâu hoàng thượng, chúng thần đã bố cáo từ đầu năm, sĩ tử các lộ đã lác đác về từ đầu mùa thu, nay vẫn đang tiếp tục. Việc ăn ở của các sĩ tử về dự học, quốc học viện đều lo chu tất cho họ cả.\nNghe Quốc tử giám Tế tửu tâu báo, vua gật đầu khen:\n- Khanh xử với kẻ sĩ thế là tốt, là chứng tỏ nhà nước trọng người có học, quý người có tài.\nQuay sang phía quan Tư nghiệp, vua hỏi:\n- Khanh đo sức học của sĩ tử khoa này với các khoa trước thế nào?\n- Tâu bệ hạ, số người thật xuất chúng không nhiều, nhưng các sĩ tử đã về đây kiến văn họ đều chắc cả. Mới đây có một số sĩ tử từ Thanh, Nghệ ra, học lực so với sĩ tử ngoài này cũng không thua kém nhiều.\nThái tông vui lắm, ngài hỏi tiếp:\n- Cứ như ý khanh, khoa này có lấy được tam khôi không?\nCả hai quan Tế tửu và Tư nghiệp đều băn khoăn. Đoạn quan Tư nghiệp bèn thưa:\n- Tâu bệ hạ, người theo sát các sĩ tử là ba vị tam khôi khoa Đinh Mùi (1247), bệ hạ cho phép thần triệu các vị đó lên tâu báo.\n- Được! Được lắm, ta cũng muốn gặp các vị đó.\nMột lát sau ba vị tam khôi đi từ nhà bình văn lên. Dù năm trước đã nghe Quốc tử giám Tế tửu tâu báo rõ ràng về ba người này, nhưng vừa chợt trông thấy họ đi qua rẻo sân rộng nhà vua không khỏi sửng sốt. Trong đầu óc nhà vua tám, chín năm trước còn in hằn hình ảnh hai cậu bé mười ba, mười bốn tuổi với một chàng thiếu niên mười bảy tuổi. Thế mà bây giờ họ đã là những bậc vào hàng đại trí, hàng quốc sĩ và ai cũng khôi ngô tuấn tú.\nVừa bước lên bậc thềm nhà tân khách, nom thấy nhà vua đang ngồi, cả ba người đều sụp lạy:\n- Hoàng thượng vạn an!\nNhà vua đỡ cả ba vị đứng dậy và cho ngồi vào ghế. Vua ân cần hỏi han công việc của từng người. Cả ba vị đều tâu báo rõ ràng về các công việc giảng dạy trong Quốc học viện.\nVua lại hỏi:\n- Trong Quốc học viện, ngoài các quốc tử sinh thì nho sinh các nơi về tập văn gộp lại được bao nhiêu người?\nTrạng nguyên Nguyễn Hiền bèn đứng dậy vòng tay đáp:\n- Tâu bệ hạ, số quốc tử sinh có một trăm tám mươi bảy vị, số nho sinh các lộ về tới nay là một trăm hai mươi sáu người, cộng lại là ba trăm mười ba người.\nVua lại hỏi:\n- Số thí sinh sẽ ghi danh hợp cách trong kỳ thi này là bao nhiêu? Thời hạn ghi danh đã hết chưa?\nQuan Quốc tử giám Tư nghiệp bèn thưa:\n- Tâu bệ hạ, thời hạn ghi danh đã mãn cách đây mười ngày. Số người đăng danh trong cả nước là hơn một ngàn, nhưng số người hợp thức được ghi danh là bảy trăm hai chục người, Quốc học viện đã gửi thiếp báo thi đến từng người theo đường ngựa trạm.\nHướng về ba vị tam khôi khoa Đinh Mùi (1247), vua hỏi:\n- Ba vị giảng dạy và theo sát các nho sinh trong Quốc học viện, vậy chớ sức học của họ ra sao, liệu khoa thi này số người đỗ thái học sinh có được nhiều không?\nBảng nhãn Lê Văn Hưu xin nói:\n- Tâu bệ hạ, sức học của các nho sinh nói chung và trình độ của các quốc tử sinh so với các nho sinh từ các lộ về tập văn cũng không chênh nhau nhiều lắm. Tâu, các nho sinh từ các lộ về ắt phải là các người xuất sắc mới dám về ngồi học chung với các quốc tử sinh.\n- Ta muốn biết số có thể lấy đỗ Thái học sinh liệu có được vài trăm? Vua hỏi.\nTrạng nguyên Nguyễn Hiền thưa:\n- Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ cần người có học để tuyển vào bộ máy công quyền cả nước với số lượng lớn mà cần phải có bằng cấp, bệ hạ gia ân châm chước chuẩn mực thì có thể lấy gạn được con số trăm. Còn như bệ hạ cho thi để kén người thực tài, chắc là con số đậu không được nhiều đến số trăm đâu ạ.\nVua Thái tông cười độ lượng:\n- Quan trạng vui tính thật đấy. Ta nghe nói Nguyễn Hiền có tài thả diều và khoét sáo không ai bì được, có đúng vậy không?\nNguyễn Hiền ngượng đỏ mặt, ấp úng đáp:\n- Hoàng thượng quở thần ham chơi. Tâu đó là thần chỉ muốn khám phá vì sao con diều có thể bay cao được như loài chim, và vì sao không có người thổi mà sáo lại có được những hòa âm du dương đến như vậy. Còn như bệ hạ khen thần giỏi thả diều và khoét sáo không ai bì được thời thần không dám nhận, bởi chưa qua thi tuyển.\nNhà vua cười lớn và ngài dụ bảo:\n- Đấy nhé, cứ như nhời Nguyễn Hiền, muốn biết có thực tài thời phải qua thi tuyển. Vậy thời khoa thi này triều đình cần người thực tài chứ không cần người có bằng cấp mà không thực tài. Cho nên việc chấm chọn phải chặt chẽ chớ không thể châm chước.\nTa lưu ý các khanh trong khi chấm văn là phải chấm cả đức. Văn tức là người. Khí tiết cao thượng hoặc chỉ là sự giảo hoạt đầu lưỡi, sự luồn lách nịnh hót có bài bản đều thể hiện một cách khéo léo đến trơ trẽn trên văn bài hết. Cho nên chọn người tài phải bằng vào người có đức hạnh. Người tài mà có đức hạnh ấy là bậc hiền tài. Họ mới chính là những công bộc cho nhân quần. Đó mới là những người ta cần đặt vào nơi then máy quốc gia. Còn như kẻ có tài mà thất đức, chúng sẽ dùng tài đó để nịnh trên đè dưới. Chúng gây bè kết đảng loại bỏ người chân tài, hãm hại người hiền tài. Chính lũ người này sẽ làm cho dân suy nước loạn. Vậy phải loại bỏ chúng từ trong trứng nước. Các khanh phải nhớ điều ta dụ bảo.\n- Chúng thần xin tuân chỉ. Cả các quan Quốc tử giám và ba vị tam khôi đều đồng thanh nói.\nVua lại hỏi Nguyễn Hiền:\n- Ta hỏi thật vị thiên khôi nhé, cứ như ý khanh đã qua khảo sát thì khoa này có lấy được tam khôi không?\n- Tâu bệ hạ, chúng thần đã xem xét kỹ, sức học của các quốc tử sinh và các nho sinh đều chắc cả. Trong đó có một số người xuất chúng, nên chúng thần dự liệu có thể có tam khôi xứng đáng.\n- Vậy thì hay lắm. Ta chỉ mong có nhiều người thật giỏi để làm rường cột cho sự mở mang nền quốc học.\nVua lại hỏi vị Quốc tử giám Tế tửu:\n- Vậy chớ đã chọn xong người vào các chức việc cho khoa thi này chưa?\nQuan Quốc tử giám Tế tửu bèn thưa:\n- Kính bẩm hoàng thượng, các chức di phong dán, soạn tự hiệu, đằng lục, thí viện đều đã cắt cử xong xuôi. Riêng phần đưa các vị nào vào khảo viện, chúng thần mới tự nghĩ, nay mai sẽ có bản tấu trình lên xin hoàng thượng ngự duyệt.\n- Theo ta khảo viện gồm cả hai ông Tế tửu và Tư nghiệp cùng với ba vị tam khôi ngồi đây là đủ. Tuy nhiên, các ông vẫn phải làm tờ tấu để ta phê cho nó hợp cách của một kỳ thi đại khoa. Riêng phần lấy tam khôi, các ông sau khi đã khớp ý nhau rồi đều phải đệ trình cả các quyển thi đó lên để ta khảo lại. Về thứ bậc, các ông cứ giữ kín, để sau khi ta đã khảo và xếp thứ bậc rồi lúc đó mới khớp ý ta với ý các ông xem có giống nhau không. Nếu ý ta và các ông lệch nhau thì được phép tranh biện cho ra nhẽ, chứ không vì ta ở ngôi chủ tể mà các ông phải ngậm miệng.\nCác quan đều tâm phục và bật ra lời tâu:\n- Hoàng thượng anh minh!\n- Để tỏ rằng triều đình tôn trọng người tài, bắt đầu từ khoa thi này các việc từ lều, chõng và sự ăn uống trong thời gian mấy ngày làm bài ở trong trường thi, sẽ lấy tiền quốc khố ra chi. Những người nhà đi theo phục dịch thí sinh, nếu ai có người quen, người nhà hoặc tự thuê được chỗ ở thì mặc lòng. Còn ai muốn về ở nhà công quán thì được ăn, ở không mất tiền. Như vậy đỡ được mối lo cho những thí sinh nhà nghèo. Tất nhiên, những người giàu có, khá giả họ chẳng cần sự giúp đỡ đó.\nNhư chợt nhớ ra, nhà vua hỏi luôn:\n- Khoa thi năm Đinh Mùi (1247) ta bỏ môn sử không cho thi, bởi vì không thi sử nước nhà lại đi lấy kinh Xuân Thu thay cho quốc sử. Năm ấy ta có quở quan tri quốc sử viện Phạm Ứng Thần và sai bên Quốc học viện phải phối cùng bên Quốc sử viện soạn lấy sách cho các trường học, chẳng hay việc đó đến đâu và năm nay đề thi lịch sử có thi quốc sử không?\nQuan Quốc tử giám Tư nghiệp thưa:\n- Tâu bệ hạ, quan tri Quốc tử viện Phạm Ứng Thần trước khi bệ hạ cho hồi hưu, ông có trao chức trách đó lại. Lũ thần đã phối cùng bên Quốc sử viện mới soạn được một quyển gọi là “Sơ thảo lược sử”. Dạ cũng mới là bước đầu còn sơ lược lắm. Nhưng đã đưa vào giảng dạy. Còn nếu như biên tu cho được một bộ quốc sử đàng hoàng, chắc Quốc sử viện phải làm trong vài chục năm, và phải tuyển được những người thông kim bác cổ vừa sưu tập vừa khảo chứng vừa biện giải thì mới đủ độ tin cậy.\nBảng nhãn Lê Văn Hưu xin được nói:\n- Tâu, thánh thượng anh minh cho biên tu quốc sử là việc làm không thể thiếu được với một nước văn hiến như nước ta. Nhưng cái khó là trong vài ngàn năm lại đây sử liệu của ta chỉ được ghi chép rải rác ở một số người có học vấn cao hoặc do một số thiền sư, đạo sĩ ghi chép lại thiên về sự đạo hơn là sự đời. Sự ghi chép của người mình đã không có hệ thống lại còn bị người Bắc xuyên tạc đi. Lại như thời đại nhà nước Văn Lang truyền nối tới mấy ngàn năm, những vật chứng còn lại trên các đồ đồng như trống đồng cùng các đồ binh khí bằng đồng như qua đồng, rìu đồng, giáo đồng, mũi tên đồng với biết bao các lò nấu\nđồng dấu tích còn đầy rẫy, chứng tỏ nước ta đã tiến hóa tới một trình độ cao; vậy mà lại biệt tăm trong sử sách. Nay chỉ còn lại các truyện thế truyền\n[41] về các đời vua Hùng.\nNgẫm nghĩ giây lâu vua Thái tông lắc đầu:\n- Một nước văn hiến mà không có bộ quốc sử thì thật là bất túc. Việc đó những người có học vấn tinh thuần như các khanh phải lo. Thời huyền sử, nhiều tộc người ghi lịch sử dân tộc họ bằng cách tạc vào vách hang đá những hình thù về người, về các con vật, cả về các tập tục nữa.\nNước ta thời các vua Hùng là thời của nhà nước Văn Lang có thể chế hẳn hoi. Cứ xem các hình ảnh được ghi lại trên mặt trống đồng cùng với nghề đúc đồng xem ra rất thiện xảo, như vậy thì sự tiến hóa của người mình vào thời đó đã ở tầng mức cao.\nBảng nhãn Lê Văn Hưu, khanh nói về thời đó còn đầy rẫy các truyện thế truyền. Vậy thế truyền là gì? Là các điều mắt thấy tai nghe được truyền lại từ đời này sang đời khác, thế chẳng phải là một căn cứ để từ đó truy tìm nguồn gốc cho người viết sử sao? Ta thấy khanh là người có khiếu năng về lịch sử. Vậy sau khoa thi này ta sẽ đưa khanh về Quốc sử viện để biên tu quốc sử.\nLê Văn Hưu bèn đứng dậy vái nhà vua:\n- Tạ ân hoàng thượng.\nMới trung tuần tháng giêng, nghĩa là mới sau Tết Nguyên đán được mươi ngày, không khí tết nhất hội hè trong khắp kinh thành còn đang nhộn nhịp. Người thì đi chúc tết họ hàng xóm phố, người thì đi lễ cầu an nơi chùa tháp, người thì nhập vào các đám rước, các hội phường phố, hội làng.\nTrời bắt đầu hoe hoe nắng, cái nắng chưa xua tan được giá lạnh mùa đông nhưng nó đánh thức cây cối đâm chồi nảy lộc. Đúng là cây cối như bừng thức sau giấc ngủ đông. Những cây bưởi trong các vườn nhà vừa nảy lộc vừa bật ra từng chùm nụ nửa trắng nửa xanh. Hoa đào lác đác rụng để nhường chỗ các lộc non đâm lên tua tủa. Các bờ dậu hoa tầm xuân nở nhuốm hồng các đường làng ngõ xóm, hương thơm ngan ngát, bướm ong kéo về từng đàn tô đậm sắc xuân.\nDân kinh thành còn đang vui xuân lại có thêm một niềm vui nữa là sĩ tử bốn phương nườm nượp kéo về, thuần những anh tài tụ hội. Nhiều người trai trẻ, khôi ngô tuấn tú, có cả người đã đứng tuổi, lại có cả các thiếu niên. Mỗi nho sinh đều đeo bên mình một tay nải quần áo và bên cạnh có một người gánh theo một bên là hòm sách, còn bên kia là gạo nước và các đồ tùy thân. Người đi theo đó có thể là anh em chú bác, cũng có thể là nô bộc, cũng có khi là người được thuê mướn. Những nho sinh này thuộc loại gia đình trung lưu trở xuống, còn như con cái các nhà quan gia, phú gia thì họ đi xe ngựa hoặc đi kiệu, đi cáng.\nCác nho sinh đi tìm nhà trọ hoặc vào nhà công quán, hoặc đi lại mua sắm làm cho phố phường kinh sư vừa tấp nập vừa sang trọng hẳn lên.\nTại một quán nước, các nho sinh ngồi nghỉ vừa uống nước vừa trò chuyện hỏi thăm quê quán của nhau, ai ai cũng tỏ ra lịch lãm, một điều tôn huynh, hai điều tôn huynh. Bỗng một người nói:\n- Thưa các tôn huynh, tôi lỡ thi khoa Đinh Mùi (1247) phải chờ suốt chín năm. Người này hơi đứng tuổi so với các nho sinh kia.\n- Thưa tôn huynh, người nhỏ tuổi ngồi bên cạnh tiếp lời - Dạ, từ Đinh mùi tới Bính Thìn (1056) đúng chín năm. Chẳng hay khoa Đinh Mùi tôn huynh lỡ thi vì chuyện gì? Và trong chín năm qua tôn huynh làm gì?\nNgười kia đáp:\n- Cám ơn quý tôn huynh hỏi thăm, chẳng là sắp đến ngày lai kinh thì phụ thân tôi bị ốm nặng. Phụ thân tôi khuyên: “Con cứ về kinh đi, ta chỉ vài ngày nữa là khỏi”. Thế nhưng tôi không dám ra đi trong lúc người sinh thành ra mình đau nặng. Quả nhiên vài tháng sau, phụ thân tôi qua đời. Cư tang ba năm ở nhà làm ruộng nuôi mẹ. Đoạn tang thì mẫu thân tôi bắt phải lập gia đình. Thế rồi tôi vừa gõ đầu trẻ vừa ôn luyện kinh sách. Nay tấp tểnh lai kinh cùng các tôn huynh, nhưng thẹn vì tuổi cao mà tài mọn.\nMọi người vừa cảm thông chia sẻ, vừa kính phục vì người này đã có hiếu lại có chí.\nCác thí sinh suốt năm ngày mài miệt căng thẳng trong trường thi, ăn uống ngủ nghỉ đều ở trong lều, tất cả đều ở trong khu vực trường thi, bốn bề tường vây kín, quân canh nghiêm cẩn. Bốn góc trường thi có bốn chòi canh. Giữa trường thi dựng một chòi cao nhất quan sát khắp trong ngoài.\nThi đã căng thẳng nhưng chờ chấm suốt hai mươi ngày sau mới kéo bảng đề danh còn căng thẳng hơn nữa. Bởi ai cũng hy vọng, cũng phấp phỏng. Từng nhóm, từng nhóm tụ hội bàn bạc với nhau về văn sách năm nay. Nghe đâu đích thân hoàng thượng ra đề.\nĐộ mười lăm ngày sau khi chấm bài, Khảo viện dâng lên hoàng thượng bốn ống quyển trong danh sách tam khôi. Thông thường chỉ có ba. Vua Thái tông lấy làm lạ. Ngài tự hỏi: “Chẳng nhẽ các quan khảo viện dám lỡm cả trẫm sao?”. Nghĩ vậy nhưng nhà vua bình tâm đọc lần lượt từng ống quyển một. Đọc xong ngài thở phào - Đúng là không thể loại được người nào trong bốn bậc anh tài này. Khá khen các quan Khảo viện làm việc công tâm.\nNhà vua đọc đi đọc lại cân nhắc từng li từng tí một để xếp thứ bậc. Cuối cùng vua cho lấy hai trạng nguyên, một bảng nhãn, một thám hoa lang. Việc lấy hai trạng nguyên trong một khoa thi là điều cực kỳ hãn hữu.\nVua sai triệu các quan trong hội đồng khảo viện vào cung Cảnh Linh và truyền áp phách. Kết quả là cả nhà vua và các quan khảo viện đều chấm trùng cho đỗ\nhai trạng nguyên, một bảng nhãn và một thám hoa lang. Truy xét quê quán mới biết vị trạng nguyên thứ nhất là Trần Quốc Lặc người huyện Thanh Lâm\n[42], châu Hồng; trạng nguyên thứ hai là Trương Xán người Hoành sơn, châu Bố Chính [43]; bảng nhãn là Chu Hinh người huyện Tế Giang [44], lộ Bắc Giang; thám hoa lang là Trần Uyên người huyện Đường Hào [45], châu Hồng.\nKhi thấy Trương Xán là người châu Bố Chính nhà vua hơi phân vân một chút. Ngài suy nghĩ rồi phán: Từ nay phân chia địa giới để gọi: từ Trường Yên trở ra bắc gọi là Kinh, từ Thanh Hóa trở vào gọi là Trại. Vậy Trần Quốc Lặc là Kinh trạng nguyên, Trương Xán là Trại trạng nguyên.\nVà trong số bốn mươi ba người đỗ thái học sinh\n[46] có bốn mươi hai người Kinh và một người Trại. Tất cả mọi người vừa thi đỗ, đều được bổ dụng ngay theo thứ bậc khác nhau.\nNgày kéo bảng đề danh, sĩ tử vui buồn thật khó tả. Cái người ngồi ở hàng nước đã đứng tuổi, than vãn với mọi người rằng lỡ khoa thi năm Đinh Mùi phải chờ mất đúng chín năm, người ấy lại chính là trạng nguyên Trần Quốc Lặc. Những ai ngồi quán nước cùng ông, khi nhận ra đều không khỏi kinh ngạc.\nNgay sau cuộc thi ít lâu, vua có dụ cho Nguyễn Hiền về bộ Công, chuyên xem xét việc chế tác các đồ như trục xe, bánh xe, đóng các loại tàu thuyền đi biển và khí giới dùng trong quân, kể cả máy bắn đá.\nVua cũng dụ cho Lê Văn Hưu về Quốc sử viện để lo việc biên tu quốc sử.\n\nĐêm khuya tịch mịch trong hậu tẩm, vua Thái tông sau giờ tọa thiền liền thắp bạch lạp. Hai ngọn nến trắng đặt trên hương án soi sáng cả căn phòng nơi hậu điện. Kể từ ngày hoàng hậu Thuận Thiên băng tới nay đã tám năm, nhà vua thường xao nhãng chuyện buồng the, mặc dù lũ trung quan (thái giám) cứ luôn luôn săn đón, dâng mời. Xao nhãng chuyện buồng the nhưng nhà vua lại say mê việc trước tác. Như đã thành thói quen khi gác lại các công việc, vua ngồi tọa thiền. Tọa thiền là để lắng chân tâm trở về với cõi vô thức, tức là xả bỏ hết thẩy, mọi sự từ sống chết, vinh nhục, ngôi báu, của cải, gái đẹp… tất thảy đều bằng không, đều là hư không ráo trọi.\nLạ thay, cứ sau mỗi buổi tọa thiền, vua Thái tông lại thấy đầu óc nhẹ nhõm, trí tuệ như vừa được khai minh, mọi ham muốn kể cả lòng dục cứ vơi vợi dần và đức thiện cứ ngày một tinh tấn, một tỏ sáng.\nNhà vua lững thững đi ra phía kệ sách. Suốt mấy mặt tường trong nội tẩm, sách chất như rừng. Bất chợt vua rút ra một tập sách mỏng kẹp giữa hai cuốn sách dày.\nNhìn bốn chữ tựa sách\n*Lục độ tập kinh* [47] như có một ma lực hút hết tâm trí nhà vua. Ngài mở ra đọc và càng đọc càng bị hấp dẫn. Đọc liền một mạch hết tập kinh, ngài tự vấn: - Người viết tập kinh này cách ta đã gần một ngàn năm, mà sao ta cảm nhận những điều trong kinh sách lại hao hao giống những điều bấy lâu nay ta hằng suy ngẫm. *Lục độ tập kinh* chỉ ra sáu hạnh vượt bờ của Bồ tát. Tức là:\n- Bố thí.\n- Trì giới.\n- Nhẫn nhục.\n- Tinh tấn.\n- Thiền định.\n- Trí tuệ.\nSáu hạnh Bồ tát này chính là con đường lý tưởng mà ta theo đuổi. Vua nhớ lại những ngày bỏ Thăng Long lên Yên Tử gặp Phù Vân quốc sư. Ngài khuyên ta cái đạo làm vua là phải “lấy ý muốn của muôn dân làm ý muốn của mình”, phải “lấy cái tâm của muôn dân làm tâm của mình”. “Làm được như vậy chính là Bồ tát đấy, là Phật đấy, sao bệ hạ còn phải cầu tìm ở đâu?”. Suốt mấy chục năm nay, quyền bính về tay, ta đều hành hóa theo lời răn đó.\nQuốc sư còn dặn ta lúc chia tay: “Nếu bệ hạ thực lòng hiếu Phật, ngoài việc chăm lo cho bách tính thì chớ nguôi quên việc kê cứu nội điển”.\nGà gáy dồn, trời rạng sáng vua vội tắt nến, ghé mình xuống long sàng chợp mắt.\nSáng dậy vua lấy tập trước tác đang viết dở dang, liền viết tiếp:\n*“Luôn làm bạo ngược, không nghĩ nhân từ. Giết hại bốn loài [48]; biết đâu một thể. Lỡ tay hay cố sát, mình làm hoặc sai người. Hoặc tìm thầy bùa đem về yểm đảo; hoặc làm thuốc độc, để hại sinh linh. Chỉ cốt hại nhân; không hề thương vật. Hoặc thiêu núi rừng; hoặc tát khe suối. Buông chài bủa lưới; đuổi chó thả chim…”*\nNội thị dâng trà buổi sớm, chưa kịp dâng bữa điểm tâm nhà vua đã lấy ngựa phi thẳng đến Giảng Võ đường, thấy Quốc Tuấn đang thị sát đám quân kỵ tập xạ kích. Nghĩa là cho ngựa phi nước đại rồi bắn tên thẳng vào bia cố định, hoặc ngoái người lại phía sau bắn vào bia di động.\nThấy quân lính luyện tập hết mình, vua lấy làm đẹp ý.\nQuốc Tuấn không biết vua đang đứng gần đó quan sát. Bỗng có người đến thưa với Quốc Tuấn:\n- Bẩm tướng quân, hạ cấp thấy một người cưỡi ngựa đứng xem ở đằng kia, nom hao hao như là hoàng thượng, nhưng không thấy có nghi trượng hoặc tùy tùng theo hầu.\nQuốc Tuấn vội nói:\n- Thế thì đúng là hoàng thượng rồi còn nghi gì nữa. Hoàng thượng vốn không thích nghi lễ rườm rà. Ngươi vào ngay trong quân doanh soạn sửa trà nước để ta ra rước mời hoàng thượng.\nTheo phía tay chỉ của viên tướng thuộc hạ, Quốc Tuấn chạy bộ đến bên ngựa vái nhà vua hai vái và nói:\n- Hoàng thượng ngự duyệt mà thần không được biết để làm lễ cung nghinh, thật là đắc tội.\nVua Thái tông xuống ngựa, Quốc Tuấn đỡ lấy dây cương liền trao cho một tên lính rồi mời vua vào trong quân doanh; thật ra đây chỉ là một chiếc lều cất tạm nơi bãi tập.\nVào trong trướng, vua hỏi:\n- Có phải các sắc quân mà cháu đang muốn huấn hỗ ở đây đều là các đô tướng từ các nơi về?\n- Tâu hoàng thượng, đúng như vậy. Họ học ở đây rồi về dạy lại cho quân mình.\nVua nhìn Quốc Tuấn tỏ sự hài lòng và với vẻ thân tình vua phán:\n- Chỉ có ta với Quốc Tuấn, sao cháu cứ khách khí, cứ gọi ta là chú đi. Còn như tâu báo, hoàng thượng, bệ hạ là ở nơi triều chính kia.\n- Đa tạ hoàng thượng gia ân.\n- Lại hoàng thượng rồi, - vua cười vỗ vai Quốc Tuấn. Ngài hỏi:\n- Nếu lúc này ta sai cháu đi trấn biên thùy, có ai thay được cháu vào việc huấn dạy này không?\n- Dạ thưa chú, viên phó đô tổng quản của cháu có thể thay được, vả lại cũng sắp mãn khóa rồi.\nVua nhìn Quốc Tuấn để đo lường tính trượng phu, tài cân quắc và sự mưu trí, can trường. Suy đi tính lại như đã đủ độ tin cậy, Thái tông liền nói:\n- Cháu có nghĩ rằng quân Mông Cổ sẽ tràn vào cõi ta không?\n- Thưa chú, cháu nghĩ rằng chúng sẽ xâm lấn nước ta sớm hơn điều ta dự liệu.\n- Ta cũng linh giác thấy điều đó. Ta đang nóng lòng chờ tin tức người của ta phái sang bên đó dò thăm. Nhưng để tránh khi việc xảy ra không kịp trở tay, ta muốn cử cháu đem thêm ba ngàn quân lên trên đó ngăn giặc từ xa. Năm trước đã cho Khuê Kình đem lên đó một ngàn quân để tăng viện cho biên thùy rồi. Cháu chỉ làm chậm bước tiến của nó chứ không thể đánh quỵ nó ngay được đâu.\n- Thưa chú, cháu nghĩ là phải tản giặc ra, phải đưa nó về vùng rừng rậm, vùng sông nước mà đánh vào cái sở đoản của nó.\n- Hay lắm! Vua Thái tông khen. Cháu ta mưu lược lắm. Khen thay thái sư có con mắt tinh đời. Trước đây chính thái sư bảo ta đưa cháu về Thăng Long học hành. Gần đây thái sư lại bảo: “Phải sớm trao quyền làm tướng cho Quốc Tuấn. Sớm muộn nó cũng là cây trụ vững chắc của nước, nó sẽ là bậc kỳ tướng đấy”.\nQuốc Tuấn đỏ mặt vì ngượng rồi chắp tay vái nhà vua:\n- Chú và quốc phụ quá khen, cháu đã có công lao, tài cán gì đâu.\n- Ấy là chú và thái sư hy vọng mai này cháu sẽ được như vậy.\nQuốc Tuấn lại hỏi:\n- Thưa chú thế bao giờ thì cháu lên đường ạ?\nSuy nghĩ giây lát rồi nhà vua dụ:\n- Ta cho cháu năm ngày để lo việc nhà rồi lên đường có kịp không?\n- Thưa chú, cháu chỉ muốn biết cháu được đem theo sắc quân nào đi. Còn như việc nhà, cháu không cần đến năm ngày đâu. Đây về ấp An Sinh đi ngựa chỉ già nửa ngày đường. Cháu xin ba ngày là đủ. Tăng sức phòng thủ cho vùng biên địa sớm được ngày nào hay ngày đó.\nVua Thái tông hết sức hài lòng vì Quốc Tuấn biết đặt việc nước trên việc nhà, biết lo xa cho thế nước. Vua nói:\n- Nay mai cháu phải mở phủ ngay tại Thăng Long rồi đưa cả vợ con về, còn trang ấp cứ giao cho quản gia là được. Đem sắc quân nào đi cho tiện việc phân nhỏ ra đánh phục kích, đánh tập hậu quân giặc là tùy cháu lựa. Chú sẽ ban cho lệnh bài để cháu điều quân.\n- Thưa chú, cháu chỉ xin đem quân cung nỏ đi theo, chứ tượng binh thì cồng kềnh, di chuyển chậm mà dễ bị lộ, lại như kỵ binh của ta thời không thể địch lại được với kỵ binh Mông Cổ, bởi chúng vừa đông đúc vừa thiện xảo.\n- Chú cũng nghĩ vậy.\n- Thưa chú, quân Mông Cổ từ bên Đại Lý vào nước ta ắt chúng đi đường bộ men theo triền sông. Nhưng có hai đường chúng có thể tiến quân: Một đường theo cửa Phú Lịnh, một đường theo cửa Thủy Vĩ rồi cùng gặp nhau ở ngã ba Bạch Hạc.\n- Đúng vậy, giặc chỉ có thể đi hai đường ấy, nhưng ta ngờ rằng chúng vào cửa Thủy Vĩ là chính, nhưng chớ coi nhẹ phía cửa Phú Lịnh. Giặc có thể từ Phú Lịnh rồi qua ải Hà Dương mà vào. Nhưng nẻo nào thì chúng cũng đi đường bộ men theo tả hữu ngạn Thao Giang\n[50] rồi cùng hội quân ở Bạch Hạc lại men theo sông Phú Lương [51] rồi kéo về Thăng Long.\n- Thưa chú, vậy thì chú cho phép cháu lên trên đó, xem xét lại địa thế, rồi tùy cơ cháu có thể chia quân nơi nhiều nơi ít. Ngay cả việc giấu quân trong rừng sâu để đánh tập hậu giặc, hoặc phối với binh Man phục kích đánh giặc trên từng chặng đường, khiến chúng phải hoảng sợ vì đi về nẻo nào chúng cũng bị quân ta cự chiến.\nVua Thái tông gật đầu tỏ ra bằng lòng với sự kiến giải của Quốc Tuấn. Tiếp đó vua dụ rằng:\n- Phàm tướng đã ở ngoài biên thùy phải tùy nghi ứng xử, ngay cả lệnh vua cũng có thể không theo. Mọi quyền biến đều ở trong tay cháu. Có điều phải sẻn kiệm máu xương sĩ tốt. Phải coi sinh mệnh của sĩ tốt như sinh mệnh người ruột thịt của mình, như sinh mệnh của chính mình thì mới bảo toàn được lực lượng.\n- Cháu xin tuân mệnh.\nSắp sửa ra về, nhà vua có vẻ phân vân liền hỏi:\n- Ta nhớ không rõ lắm không biết có phải cháu sinh năm Tân Mão (1231) hay là năm Nhâm Thìn (1232) nhỉ?\n- Dạ thưa chú, cháu tuổi Tân Mão ạ.\n- Thế thì được, năm nay cháu xuất sư được lắm. Nói xong nhà vua đứng dậy ra về.\nQuốc Tuấn tự dắt ngựa, trao dây cương vào tay nhà vua.\nThái tông lên ngựa đi rồi, Quốc Tuấn còn vái theo.\nNhà vua về cung làm việc, chừng nửa chiều, nội thị vào bẩm:\n- Tâu bệ hạ, có viên quan biên trấn nhà Tống đưa cả gia đình vợ con sang xin được gặp bệ hạ, hiện đang chờ ngoài cửa khuyết.\nThấy sự lạ, hẳn là có duyên cớ gì đây. Vua liền phán:\n- Mời họ vào đại sảnh, tiếp nước. Nhưng hỏi xem họ có đói thì cho họ ăn cơm xong ta sẽ diện kiến.\n- Tâu bệ hạ, chúng thần hỏi, họ nói đã ăn uống no đủ rồi, chỉ xin được bệ kiến.\n- Thôi được, ta sẽ ra ngay đây.\nThấy nhà vua, cả hai vợ chồng và năm đứa con người Tống đều sụp lạy.\nVua sai nâng họ dậy cho ngồi ghế, lại ban trầu, nước, rồi hỏi:\n- Các người từ nước Tống sang, có việc gì mà phải vào tận cửa khuyết. - Vậy chứ ngươi làm nghề gì bên nước Tống?\n- Tâu bệ hạ, thần tên Hoàng Bỉnh là tri phủ sự phủ Tư Minh thuộc Ung Châu lộ Quảng Tây nước Tống, đem cả gia thuộc sang Đại Việt xin được làm thần dân của bệ hạ.\nNhư sực nhớ ra, vua hỏi:\n- Có phải năm ngoái Vũ thành vương Doãn đem cả nhà sang đầu nhà Tống, chính ngươi khuyên bảo Vũ thành trở về và sai người áp dẫn sang tận cửa Pha Lũy trao trả bên Đại Việt ta không?\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy.\n- Ta rất cảm kích vì tinh thần hữu hảo đó của ngươi. Ta cứ áy náy vì chưa có dịp đền đáp, may quá ngươi lại sang.\nHoàng Bỉnh mừng quýnh vội sụp lạy:\n- Thần vô cùng cảm kích vì bệ hạ đã khai ân. Kính chúc bệ hạ muôn năm trường trị.\nLúc này vua mới để ý tới gương mặt Hoàng Bỉnh. Mặt vuông chữ điền, trán cao, lông mày rậm, mắt một mí hơi nhỏ so với cặp lông mày lưỡi mác rậm rì. Y có chiếc mũi đắc cách, nhưng hai gò lưỡng quyền hơi nhọn tựa như phá cách. Môi, miệng tươi, răng trắng mọc đều đặn. Nhà vua ngầm định giá: Người này không phải là kẻ tiểu nhân, nhưng cũng chưa đạt tới bậc quân tử. Vua hỏi:\n- Việc ngươi đưa trả Doãn về cho Đại Việt, ta đã biết và đã có sự răn đe đối với Doãn. Nhưng ta muốn biết Vũ thành vương Doãn gặp ngươi, y nói gì?\nGương mặt Hoàng Bỉnh tươi tỉnh hẳn lên, y nói:\n- Tâu bệ hạ, khoảng giờ tuất vào một ngày trung tuần tháng bảy năm ngoái, quân vào bẩm có bắt được gia đình của một người Đại Việt lẻn vào đất Tống. Ông ta bảo thuộc dòng dõi thế gia từ Đại Việt sang muốn gặp vị thổ quan phủ Tư Minh.\nThế là thần sai đưa vào công đường tiếp đãi tử tế. Hỏi ra mới biết vương gọi bệ hạ là thúc phụ. Vì có việc bất như ý. Cha mẹ chết cả không còn chỗ dựa,\nkhông biết nương tựa vào đâu để tiến thân. Và tương lai cũng mờ mịt lắm. Ông muốn sang nương nhờ đất Tống rồi tìm đường tới Lâm An\n[52] để làm ăn buôn bán.\nThần có nói với vương rằng đất Tống bây giờ hẹp lắm, quân Mông Cổ chiếm gần hết rồi, Lâm An đang bất an, vua Thuần Hựu\n[53] (Tống Lý tông) của chúng tôi cũng đang bối rối không biết chạy về đâu. Quý quốc hiện đang là một nước giàu thịnh, bốn phương an lạc, biên dân của chúng tôi nhìn sang Đại Việt không khỏi mơ ước, thèm thuồng. Vương hãy nghe tôi trở lại cố hương, chớ có dại đang đi đường sáng lại chui vào bụi rậm, hang sâu.\nVương gạt nước mắt mà rằng:\n“Ta tưởng nước Trung Hoa của Nghiêu - Thuấn, của Văn Vương, Võ Vương, của Khổng Tử, Lão Tử thường khoe vẫn ôm chứa cả thiên hạ, hóa ra lại không dung nổi một kẻ cùng đường. Ta lầm rồi! Ta bỏ nước ra đi không phải ta chán ghét nước ta, không phải ta phản bội nước ta mà chỉ cảm thấy ở đó ta cô đơn quá”.\nTâu bệ hạ, thần phân giải mãi, thậm chí thần đã phải mượn lời của Khổng Tử để khích vương rằng: “Người quân tử không đến nước loạn”. Mãi mấy ngày sau xem xét mọi sự, hỏi han nhiều người, ai cũng nói: “Nước tôi đang loạn to”. Thế rồi vương mới chịu quay về Đại Việt. Thần có cho quân dẫn đường và trao vương cho viên biên tướng giữ ải Pha Lũy.\nNghe Hoàng Bỉnh tâu báo, vua nghĩ: “Khi nghe quân tâu việc Vũ thành vương Doãn đem cả nhà sang đầu nhà Tống, bị người Tống bắt đem trả lại, ta giận quá. Nay nghe viên tri phủ sự phủ Tư Minh thuật rõ đầu đuôi, ta lại thấy thương Doãn quá”.\nVua y cho Hoàng Bỉnh được phép trú ngụ tại Thăng Long, cấp cho nhà ở, tiền bạc, lại cho bổng để cả nhà y có thể sống sung túc.\nVài ngày sau vua cho triệu Hoàng Bỉnh vào cung hỏi:\n- Ta muốn ngươi cho biết đôi điều về nước Tống và cả sự kháng cự của quân Tống đối với quân Mông Cổ. Những điều gì ngươi nhìn thấy và nghe thấy thì nói rõ. Những gì chỉ nghe đồn thì nói rõ. Những điều ngươi tự phỏng đoán cũng nói rõ. Chớ có lẫn lộn, chớ vì muốn làm đẹp lòng ta mà ngươi vẽ rắn thêm chân. Bây giờ ngươi đã là dân của Đại Việt thì phải nói theo cách của người Đại Việt. Tức là không nói quá sự thật, không nói điều mình không biết. Ấy là các đức tính vốn có của người Việt ta. Ta không thích cái lối nói khoa trương của các ông, nói khoác mà cứ như kiểu đinh đóng cột. Ví như trận Đương Dương Tràng Bản, quân Tào đuổi quân Lưu Bị. Trương Dực Đức một mình đứng chắn giữa cầu Tràng Bản, quân Tào ngờ có quân phục nên không đuổi theo nữa, thế là từ đấy Trương Dực Đức cứ luôn miệng khoác lác: “Trận Đương Dương, Tràng Bản tám mươi ba vạn quân Tào ta coi như cỏ rác”. Thử hỏi lấy đâu ra tám mươi ba vạn quân trong một trận đánh của nước Tàu thời Tam quốc. Ngay triều bắc Tống khi còn đang thịnh thời, dân đông, quân nhiều thử hỏi có được con số một trăm vạn quân không?\nLại như các tộc Việt ở phía nam sông Trường Giang có được bao nhiêu nào?\nTheo ta tộc Việt ở Triết Giang, tộc Mân Việt ở Phúc Kiến, tộc Dương Việt ở Giang Tây, tộc Nam Việt ở Quảng Đông, chỉ có bằng ấy chi tộc Việt thôi mà sử sách các ông gọi là Bách Việt và Triệu Đà là vua của Bách Việt hiện có đền thờ ở Phiên Ngung (Quảng Châu), hẳn ngươi đã biết.\nĐó, lối nói thậm xưng, nói khoa đại ta không muốn nghe, Hoàng Bỉnh nhớ chưa?\nHoàng Bỉnh đang cân nhắc cách xưng hô. Bữa trước đã trót xưng “thần” với nhà vua. Nay nghĩ lại, mình là kẻ tị nạn, tư cách gì mà dám xưng “thần”. Vì vậy Hoàng Bỉnh liền đổi cách xưng hô:\n- Muôn tâu hoàng đế bệ hạ chí kính, tiểu nhân hiểu ý của hoàng đế bệ hạ rồi ạ.\n- Ngươi cứ ngồi ngay ngắn đàng hoàng mà nói. – Vua Thái tông dụ bảo.\n- Tạ ân bệ hạ. - Hoàng Bỉnh vừa nói vừa sửa lại mũ áo. - Trước hết tiểu nhân xin nói vùng biên thùy nước Tống trong địa giới lộ Quảng Tây, dân đang đói. Mấy năm nay mất mùa, dân phải vào rừng kiếm ăn. Các đồn biên ải giáp với Đại Việt, quân thú sơ sài lắm. Mỗi đồn tiếng rằng có một đô quân đồn trú, nhưng phần lớn chúng bỏ trốn vì nhớ nhà, vì đói. Dạ, lính cũng bị đói chứ ạ. Còn như quân ở các thành Ung Châu, Quảng Châu đều dồn ra mặt trận chống quân Mông Cổ hết rồi. Hiện nay thành trì trống rỗng, quân không mà lương thảo, khí giới cũng không có.\nHoàng Bỉnh ngước nhìn vua Thái tông, lại nói. – Tâu hoàng đế bệ hạ chí kính đó là những điều mà tiểu nhân mắt thấy tai nghe.\nNhững điều Hoàng Bỉnh nói xem ra khớp với những gì mà ngoại gián của ta tâu báo về, vua Thái tông nghĩ vậy. Và trong lòng nhà vua đã ngầm tin Hoàng Bỉnh nói thật. Vua lại hỏi:\n- Thế còn những điều ngươi nghe đồn thì sao?\n- Muôn tâu hoàng đế bệ hạ chí kính, năm ngoái tức năm Bính Thìn (1256) tiểu nhân có người bạn là khách thương từ nước Đại Lý về, nói rằng quân Mông Cổ đã chiếm hết nước Đại Lý rồi. Vua nước ấy là Đoàn Hưng Trí chạy trốn, sau quân Mông Cổ tìm bắt được ở Thiện Xiển. Đoàn Hưng Trí xin đầu hàng và được người Mông Cổ dùng làm tay sai.\nVua Thái tông gật đầu. Quả nhiên những tin tức do Hoàng Bỉnh nghe được đều là sự thật mà trước đó nhà vua đã biết. Ngài liền hỏi:\n- Vậy chớ còn gì nữa mà ngươi nghe đồn?\nHoàng Bỉnh cúi mặt vẻ đăm đăm suy nghĩ, dường như y đang tự cân nhắc có nên nói ra điều mình chỉ biết mong manh. Vả lại nhà vua đã nói: - Người Trung Hoa có tính khoa đại. Ngài chỉ thích nghe những gì là sự thật.\nNhư đoán được tâm tư của Hoàng Bỉnh, vua Thái tông nhẹ bảo: - Ta biết, những tin đồn nhiều khi là thất thiệt, nhưng đôi khi cũng là sự thật. Như chuyện ngươi vừa kể về nước Đại Lý là thật đó. Hoặc chuyện các thành Ung Châu, Quảng Châu đều trống rỗng là thật đó.\nNghe nhà vua khích lệ, Hoàng Bỉnh nở mặt nở mày liền hăm hở thưa:\n- Tâu hoàng đế bệ hạ chí kính, còn một tin lớn lắm tiểu nhân chỉ được một người bạn có chân tiến sĩ, ông ta bỏ Lâm An, đưa vợ con về Ung Châu rồi lại đưa về quê quán sinh sống. Ông ta bảo đi lánh nạn. Và có kể rằng quân Mông Cổ đang đánh lớn vào toàn cõi đất đai nhà nam Tống. Lâm An sớm muộn gì rồi cũng mất.\n- Ngươi có thể nói rõ hơn về tin này, nếu ngươi được nghe kể kỹ hơn. Vua Thái tông cho đây là một nguồn tin quý.\n- Muôn tâu hoàng đế bệ hạ, ông ta kể rằng, hiện nay Mông-kha tự mình cầm quân đánh thẳng vào Hợp Châu\n[54], em ruột của Mông-kha là Hốt-tất-liệt lĩnh đại binh sẽ đánh vào Ngạc Châu [55], đại tướng Ngột-lương-hợp-thai cầm cường binh sẽ đánh qua Đại Việt lấy đường đánh chiếm các thành Ung Châu, Quế Châu [56] rồi tiến thẳng về Ngạc Châu hội binh với Hốt-tất-liệt. Từ đó, quân Mông Cổ hình thành thế bao vây Lâm An và chỉ một trận là chúng có thể vùi chôn cả triều đình Tống Lý tông xuống biển Nam Hải.\nChưa biết tin này thực hư thế nào, nhưng nghe thấy việc quân Mông Cổ sẽ đánh sang Đại Việt để lấy đường đánh tập hậu nhà Tống, vua Thái tông bỗng giật mình. Mặc dù trước đó nhà vua và triều đình đã dự liệu quân Mông Cổ trước sau cũng đánh ta. Vì vậy mới đây nhà vua đã cử vị tướng trẻ Trần Quốc Tuấn làm tiền quân đô thống quan phòng, đem thêm ba ngàn quân tăng viện cho miền biên địa giáp giới nước Đại Lý. Ấy vậy mà khi nghe tin quân Mông Cổ có kế đánh vào nước ta thì nhà vua cũng không khỏi bàng hoàng.\nNgầm thở sâu vài hơi để lấy lại sự bình tâm, nhà vua nói với Hoàng Bỉnh đôi lời an ủi:\n- Ngươi đến với nước ta là quý. Từ nay ngươi phải tự coi mình là con dân Đại Việt. Ta ghi nhận những điều ngươi vừa nói với ta đều thành thật, ở đời không gì quý hơn là tính chân thực. Bây giờ ngươi về nhà thu xếp chỗ ăn chỗ ở cho yên ổn, còn khó khăn thiếu thốn gì cứ xin với quan đại an phủ sứ của kinh sư. Ta sẽ dụ cho đại an phủ sứ biết việc của ngươi.\nHoàng Bỉnh cụng đầu xuống đất lễ ba lễ:\n- Tạ ân hoàng đế bệ hạ chí kính. Trọng ân này tiểu nhân xin ghi lòng tạc dạ để đền đáp trong muôn một.\nCho Hoàng Bỉnh ra về xong, nhà vua vẫn nóng lòng chờ ngoại gián của ta đóng giả làm các thương lái, các thầy bói, thầy cúng sang nước Đại Lý và sang cả Lâm An để thăm dò tin tức.\nĐêm xuống, vua Thái tông cứ trằn trọc, nghĩ kế phá giặc. Ngài hình dung quân giặc sẽ đi đường nào, ước chừng số quân của chúng, rồi quân ta sẽ cản giặc ra sao, ở những nơi nào, chỗ nào. Tướng nào giữ ở chỗ nào. Ngài tính tổng số quân rồi lại chia ra cho các tướng như thế nào. Càng nghĩ càng thấy rối. Vua gạt các thứ ra ngoài và ngài đi tọa thiền. Chừng một canh giờ sau khi giải thiền, nhà vua thấy như vừa được khai minh. Vua cho rằng, một mình mình nghĩ sao bằng nhiều người cùng nghĩ. Thế là trời vừa rạng sáng, vua sai viên đô vệ úy coi quân long tiệp đi triệu thỉnh các quan văn võ tới chầu tại điện Thiên An. Lại sai triệu cả hoàng thái tử Trần Hoảng và hoàng tử Chiêu minh vương Trần Quang Khải. Bởi các hoàng tử đều đã vào tuổi mười bảy, mười tám, sức vóc cao lớn, văn võ kiêm thông. Cả hai người này đều có tài làm tướng. Vua cũng cho triệu luôn cả Trần Quốc Khang. Quốc Khang tuy không thông tuệ được như hai người em, nhưng cũng là một tướng tài có thể sai khiến được. Vua còn cho triệu thêm cả Nguyễn Hiền.\nLâm triều, vua kiểm diện thấy có đông đủ cả: Thái sư Trần Thủ Độ, thái úy Trần Nhật Hiệu, đô tướng Lê Tần, thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình.\nCông bộ thị lang trạng nguyên Nguyễn Hiền khoa thi Đinh Mùi (1247) mới mười ba tuổi, nay đã vào tuổi hai mươi bốn, hai mươi lăm.\nVua quan sát khắp lượt thấy triều đình tràn trề sức trẻ. Ngoại trừ thái sư Trần Thủ Độ vừa vào tuổi sáu mươi lăm, nhưng tinh thần, sức lực vẫn còn minh mẫn, dồi dào. Khâm thiên đại vương hoàng đệ của ta cũng chỉ ba mươi ba tuổi. Còn ta cũng mới xấp xỉ bốn mươi tuổi. Quốc Tuấn như thái sư nhận định sẽ trở thành bậc kỳ tướng hiện ta vừa cử đi trấn ải, cũng chỉ hơn Nguyễn Hiền có một tuổi.\nMột triều đình từ vua quan đến tướng lĩnh đều trẻ trung đầy nhiệt huyết, thử hỏi việc bảo vệ giang san còn có gì cản ngại.\nKhi các quan đã tề tựu đông đủ, vua Thái tông liền nói lại việc quân Mông Cổ đã chiếm xong nước Đại Lý. Đoàn Hưng Trí vua nước Đại Lý sau khi bị bắt đã đầu hàng. Người Mông Cổ giao cho Hưng Trí phải chiêu dụ các dân Thoán, Bặc quy phục sau đó bắt dân Thoán, Bặc phải đăng quân để phục vụ cho người Mông Cổ.\nVua cũng nói lại các tin Hoàng Bỉnh đã tâu báo, rằng quân Mông Cổ chia làm ba mũi tiến đánh nhà Tống, trong đó có mũi đánh vào Đại Việt để lấy đường tiến đánh phía sau quân Tống.\nVua nhìn khắp lượt không thấy ai tỏ ra nao núng khiến lòng thêm vững. Vua nói tiếp:\n- Tuy tin này chưa được xác tín bằng đường ngoại gián của ta, song ta chắc nó không xa sự thật. Bởi vậy triều đình phải có ngay kế sách kháng giặc. Muốn đánh giặc phải có quân binh. Nhưng quân cần bao nhiêu là vừa? Nếu ít quá, sẽ rất khó cản giặc, nhưng nếu huy động nhiều quá dân chúng sẽ hoảng loạn, việc làm ăn sẽ dễ bị xáo trộn. Vậy các quan thử bàn xem để rồi ta còn tính.\nVua Thái tông vừa dứt lời, Thái sư Trần Thủ Độ liền xuất ban xin nói:\n- Tâu bệ hạ, mấy năm trước bệ hạ đã sai thần đi kiểm kê dân số. Lập sổ ghi danh các tiểu hoàng nam, đại hoàng nam phân làm một loại. Nếu có bất kỳ sự thay đổi nào về số đinh nam này như được cấp độ điệp\n[57] xuất gia, được gọi đăng quân, thay đổi nơi cư ngụ hoặc ốm đau bệnh tật qua đời, hoặc trở thành phế nhân đều phải tâu báo rõ ràng danh tính từ hương ấp lên phủ, lộ. Từ đó các lộ hàng năm làm tờ trình gửi về Trung thư sảnh. Lại nữa, ta vẫn dùng chính sách ngụ binh ư nông đã có từ đời nhà Lý, nên thường niên các nông phu trong độ tuổi vẫn phải theo quân tập tành từ một đến hai tháng. Như vậy các nông phu ấy thực chất là các điền binh. Và các vương hầu đều được phép lập phủ binh trong điền trang của mình.\nTrần Thủ Độ ngừng lời, ông ngước nhìn nhà vua, lại ngoái nhìn các quan rồi tiếp: - Như thế có nghĩa là ta đã nuôi dưỡng lâu dài một chính sách tận dân vi binh\n[58]. Vậy thời khi nước có giặc, bệ hạ muốn huy động bao nhiêu quân mà chẳng được; từ mười vạn đến năm bảy chục vạn quân đều nằm trong tầm tay của bệ hạ. Có điều ta phải lượng định sức giặc sẽ vào cõi mà trù liệu số quân cũng như sắc quân để đối phó.\nNói xong thái sư lùi hai bước, vái nhà vua một vái rồi ghé ngồi xuống chiếc thái sư ỷ.\nNhà vua nhìn khắp triều quan rồi dừng lại nơi Thái úy Trần Nhật Hiệu.\nThái úy liền xuất ban, vái nhà vua và với vẻ ngập ngừng:\n- Tâu bệ hạ, thần nghe nói quân Mông Cổ như quân nhà trời, nó đến bất chợt như từ trời cao tụt xuống vây chặt lấy đối phương, cho ngựa chạy vòng tròn tựa như một vụng nước xoáy hút quân đối phương xuống âm ty. Thần chưa nghe nói dưới gầm trời này có nước nào kháng cự lại được với quân Mông Cổ.\nBởi vậy, quân nhiều hay quân ít đều không thể kháng cự lại được với đám quân kỵ Mông Cổ hung bạo này.\nVốn biết Trần Nhật Hiệu là người bất tài, nhát sợ, nay nước sắp có giặc lại bàn lùi, thái sư Trần Thủ Độ nhíu lông mày toan mắng, chợt thấy Lê Tần xuất ban, thái sư vội ghìm lại và dõi theo xem Tần nói gì.\nLê Tần vái nhà vua rồi nói:\n- Tâu bệ hạ, theo thần cả nước chỉ cần mười vạn binh với đủ các sắc quân, đánh theo địa hình nào, mùa nào thì dùng quân đó cho hợp. Ví như mùa mưa lụt thì dùng quân thủy, mùa hanh khô thì dùng quân bộ tức quân cung nỏ phối với kỵ binh và tượng binh. Tuy nhiên khi giặc mới tràn vào cõi, thế chúng còn đang mạnh như nước vỡ bờ, cho nên ta phải vừa cản giặc vừa thăm dò. Và nữa nên phục quân ở những nơi hiểm yếu, đánh vào chỗ giặc không ngờ nhất, vừa gây cho chúng hoang mang mà ta lại đỡ tốn sức. Khi đã biết rõ thế giặc mạnh yếu, lúc ấy bệ hạ sẽ tùy cơ mà đánh. Nước ta chỗ nào cũng là rừng rậm, chỗ nào cũng là đầm ngòi sông nước, đó là chỗ mạnh nhất của quân ta, phải dựa vào địa thế đó mà nhân sức quân lên, nhưng đó lại là chỗ yếu nhất của quân kỵ Mông - Thát. Ta nên tránh chỗ quân giặc tập trung đông đúc mà đánh vào những toán quân nhỏ lẻ, đánh phục kích, đánh tập hậu giặc, lại lấy cái sở trường của ta đánh vào cái sở đoản của giặc thì giặc nào cũng phải thua, dù nó là quân Mông - Thát.\nLê Tần nói xong vái nhà vua hai vái rồi lui về chỗ.\nVua lấy làm hài lòng về kế của Lê Tần, ngài gật đầu và ban lời:\n- Cao ý của khanh rất hợp với điều ta suy nghĩ. Vậy chớ còn các khanh! Vua cầm cây kim hốt huơ một vòng như muốn hỏi ý các quan.\nTướng Khuê Kình xuất ban:\n- Tâu bệ hạ, đánh giặc cần phải có quân. Việc này thái sư đã nói, ta có thể huy động mười hoặc mấy chục vạn quân đều không khó. Vậy phần quân thì khỏi lo. Đánh giặc cần mưu trí. Mưu như tướng Lê Tần vừa dâng bệ hạ, đó không chỉ là mưu cho một trận đánh mà chính là mưu lược để ta kháng giặc lâu dài. Đánh giặc cần phải có khí thế. Làm sao thổi được khí thế cho ba quân, thổi được khí thế cho muôn dân. Khí thế đây là khí thế bảo vệ giang san nòi giống, bảo vệ lấy tính mệnh và tài sản của chính mình. Nếu binh lính có gan lăn xả vào quân thù mà đánh, muôn dân dốc lòng giữ nước thì chẳng có một quân giặc nào có thể cướp được núi sông ta. Xin bệ hạ xuống hịch kêu gọi muôn dân hãy vì nước mà xả thân giữ lấy nước.\nLời nói của tướng quân Trần Khuê Kình như thổi vào lòng các quan một luồng sinh khí.\nHoàng thái tử Trần Hoảng dắt tay em là hoàng tử Trần Quang Khải cùng xuất ban. Hai anh em cúi đầu chào vua cha rồi hoàng thái tử Trần Hoảng nói:\n- Muôn tâu, chúng con tuy còn nhỏ, nhưng đánh giặc thì không có hạn giới tuổi tác. Vậy xin phụ hoàng cho phép chúng con được tòng chinh giết giặc.\nHoàng thái tử Hoảng năm nay vừa tròn mười tám tuổi, hoàng tử Quang Khải vào tuổi mười bảy. Nom hai hoàng tử khôi ngô tuấn tú, mặt sáng như gương. Hoàng thái tử Hoảng có nét trầm tĩnh dịu dàng. Hoàng tử Quang Khải cao dỏng, dáng vẻ thư sinh nhưng có đôi mắt sáng như có thần nhãn. Cả hai hoàng tử đều thể hiện một phong thái đĩnh đạc cùng với nguyện vọng cao thượng vừa được nói ra khiến cả triều đình kính nể.\nKhông khí triều hội bỗng bừng lên mạnh mẽ. Nhà vua nhìn đăm đắm vào hai người con và không khỏi ngỡ ngàng tự hỏi: “Vậy là các con ta đã trưởng thành. Thế mà ta cứ tưởng chúng vẫn còn là lũ thư nhi”. Vua gật đầu vẻ hài lòng rồi lấy cây hốt vẫy một cái cho hai hoàng tử an tọa.\nCác quan tranh nhau nói, mỗi người một ý, tựu trung là quyết đồng lòng giữ nước, khí thế hừng hực.\nBỗng Thái sư Trần Thủ Độ lại xuất ban nói:\n- Ý các quan, các tướng ở đây là ý của muôn dân đấy, xin bệ hạ xuống chiếu khích lệ sĩ khí ba quân, khích lệ lòng dân. Nhân đây, ta muốn nói thêm điều này với các tướng. Khi giặc vào đất ta, mỗi bước đi là mỗi bước hãi sợ vì thế chúng phải dò dẫm, còn ta thì bốn phương tám hướng từ núi rừng đến suối sông, đồng ruộng ao hồ còn chỗ nào mà quân ta không thông thạo.\nGiặc vào cõi ta khác nào kẻ cướp, kẻ trộm lẻn vào nhà người khác nên mắt trước mắt sau, luôn luôn sợ chủ nhà thức dậy. Nay ta biết trước thế nào nhà cũng có cướp có trộm, ta tỉnh thức luôn, ta rào giậu cho kín, mài giũa khí giới cho bén nhọn, ta phục chờ đánh nó từ ngoài cổng ngõ hoặc giăng bẫy lừa nó vào mà tóm gọn. Có gì phải sợ, người ngay sao phải sợ kẻ gian, dù kẻ gian ấy là người Tống hay người Mông Cổ thì chúng cũng đều là quân gian cả. Cứ xem Lê Hoàn đánh tan quân xâm lược nhà Tống; Lý Thường Kiệt đánh bại quân xâm lược nhà Tống, ấy là chưa kể trước đó ông còn đem quân đến tận sào huyệt nó mà phá mưu kẻ cướp của nó. Bài học của tổ tiên còn đó. Nếu ta biết học từ lịch sử cha ông, ta sẽ có sức mạnh gấp đôi.\nTrần Thủ Độ đảo mắt nhìn về phía các quan, ông dừng lại nơi Thái úy Trần Nhật Hiệu nói tiếp: - Bài học ấy là giặc xâm lăng vào cõi thì quyết đánh. Đã quyết đánh ắt quyết thắng. Hãy xem con hổ kia dữ tợn như thế, khỏe như thế, sao người thợ săn bắt được nó. Vì họ can đảm nên thắng được nỗi sợ hãi, lại vì lúc nào họ cũng canh chừng nó, nên không đi vào các lõng nó đón mồi, và rồi họ mưu trí nên hổ lớn hổ bé, hổ đực hổ cái, con thì sa bẫy mà chết, con thì bị tên độc giết chết. Vậy đó, ở đời chỉ có kẻ nhát hèn ngu tối là chết thảm, còn như người can đảm mưu trí dẫu có chết thì chết như một bậc anh hùng, tiếng thơm còn lưu dấu mãi trong sử xanh.\nThái sư bỗng ngừng lời, ve vuốt chòm râu dài, sợi đen chen sợi trắng, lại nói: - Tiện đây xin hỏi bên Công bộ, liệu kỳ này các ông đã tạo tác được loại khí giới nào tân tiến mà lợi hại cho quân đánh giặc không? - Vái nhà vua một vái, thái sư nhẹ ngồi xuống ghế.\nVua Thái tông huơ cao cây hốt nói:\n- Có một việc có quan hệ đến quân Mông Cổ. Việc này Thái sư cùng một vài vị tướng đều đã biết, song triều quan chưa được biết, nay trẫm nói lại để mọi người cùng biết, rằng cách đây mấy hôm, tức là vào thượng tuần tháng tám này, trại chủ Quy Hóa là Hà Khuất cho người chạy ngựa lưu tinh về báo tin: “Sắp có sứ Mông Cổ tới Thăng Long”. Hiện trẫm đã sai Quốc Tuấn đem quân thủy bộ lên ngăn giữ biên thùy và giúp sức cho các tù trưởng người Man.\nCòn việc Thái sư hỏi về tạo tác khí giới, Nguyễn Hiền tâu báo đi. - Vua vừa nói vừa đưa cây hốt chỉ về phía Nguyễn Hiền.\nNguyễn Hiền vừa xuất ban, cả triều quan đều dõi nhìn vị thần đồng mới mười ba tuổi đã đậu trạng nguyên cách đây đúng mười năm. Nguyễn Hiền hướng về phía nhà vua vái hai vái và quay lại vái các đồng liêu một vái để tỏ lòng quý kính. Sau đó Hiền nói:\n- Tâu bệ hạ, thần mới về bộ Công được bốn tháng. Thần vừa cùng các cộng sự chế tác được một loại nỏ liên châu có thể cùng một lúc bắn được sáu mũi tên vào một mục tiêu. Hiện nay đang gửi mẫu qua trường bắn Giảng Võ để thể nghiệm, có khiếm khuyết gì cần tu chỉnh, lũ thần sẽ sớm tu chỉnh để rồi còn chế tác hàng loạt cung cấp cho các chủng quân. Thần cũng đang vẽ kiểu chế thử loại song sảo pháo (pháo hai nòng). Dạ, loại đơn pháo ta đã chế tác được từ lâu rồi. Tâu, loại song sảo pháo này chắc không thể hoàn thành sớm được bởi nó phải kết hợp nhiều thứ phức tạp lắm ạ. Tâu, lũ thần sẽ gắng hết sức mình để phụng sự công cuộc giữ nước chống xâm lăng.\nMọi người đang hết sức vui mừng về những điều Nguyễn Hiền vừa tâu báo, bởi với các loại khí giới tân tiến ấy, sức quân ta sẽ nhân lên gấp đôi.\nNhà vua cũng hết sức hài lòng, ngài chưa kịp ban lời khen thì viên đô trưởng túc vệ thượng đô chạy vào sụp lạy:\n- Muôn tâu thánh thượng, có sứ giả Mông Cổ xin vào yết kiến bệ hạ.\nVua hơi nhíu mày vẻ khó chịu, ngài phán:\n- Sao ngươi không đưa y về nghỉ tại nhà công quán rồi ta cử người ra tiếp.\n- Tâu, thần đã làm như vậy nhưng y không nghe, cứ đòi diện kiến bệ hạ.\nVua phẩy tay:\n- Cho y vào. Rồi vua nói với cả triều quan: - Các khanh cứ ở lại đây mà xem sứ Mông Cổ.\nMột lát sau viên đô trưởng quân túc vệ thượng đô dẫn vào một người nom có vẻ kỳ dị. Dáng hình cục mịch, mặt to, hai lưỡng quyền u lên như hai cục bướu, mắt một mí nom hùm hụp như mí sắp sụp xuống, lông mày đen, thưa, tròng mắt đen ngả nâu, tròng trắng vằn lên những tia máu, trán thấp, ngắn, mũi tẹt, môi dày, tóc đen xoăn, nước da nâu. Vừa bước lên bậc thềm điện Thiên An nhìn vào thấy triều hội uy nghi, cung điện vàng son lóa mắt y hết sức kinh ngạc, bởi xứ thảo nguyên của y, bậc thiên tử cũng chỉ có chiếc lều lớn làm cung điện, sao đám người man lại được ngự nơi sang quý này. Ngước nhìn sâu vào trong thấy một người dáng vẻ uy nghi mặc áo long cổn, ngồi trên chiếc ngai vàng oai vệ, y tự nghĩ: “Chắc người này là vua xứ An Nam đây. Vậy phải bắt y ra đây nhận chiếu”. Nghĩ vậy, y liền đứng phắt lại nói bằng tiếng Mông Cổ. Tưởng đây cũng như quê hương hắn, thảo nguyên mênh mang thuần gió và cát, nên y nói mà cả triều đình tưởng y đang gào thét. Đúng là y gào thét bằng thứ tiếng mẹ đẻ của y. Viên sứ giả chỉ muốn nói: “Ta là sứ giả đem chiếu của Đại Hãn đến đây. Người kia có phải là vua nước Nam hãy ra đây lạy chiếu”. Nói xong y lấy tay móc vào chiếc túi đan bằng một thứ da săn tựa như sợi mây của ta, nom nó vừa giống cái ống quyển của các nho sinh lại vừa giống cái túi đựng tên. Y móc từ trong đó một tờ giấy, hai tay nâng lên chờ nhà vua ra tiếp chiếu. Tuy nhiên không ai hiểu điều y nói. Vì vậy y cứ đứng trơ trơ như một thứ cây chết đứng.\nMột lát sau, y giậm chân quát thét, toan xông thẳng vào triều nội. Lập tức hai hàng quân giáo gươm sáng loáng dựng chéo thành hàng rào ngăn y lại.\nVua Thái tông liền dụ triều quan:\n- Mông Cổ là một xứ thảo nguyên, dân sống theo lối du mục, cậy có sức mạnh tay chân, hành binh thần tốc nhờ vào vó ngựa, bởi vậy mà đường lễ giáo giao tiếp không có chút gì gọi là văn chất. Nếu các nước không ngăn được quân Mông Cổ vào cõi, ắt phải chịu sự cai trị bằng một thể chế vó ngựa.\nNhân sự lỗ mãng của sứ giả, vua lấy đó làm điều cảnh tỉnh cho các triều quan. Đoạn vua dụ:\n- Quang Khải, con thử ra hỏi tên sứ giả kia xem y có biết nói tiếng Hán không?\nVâng mệnh vua cha, Quang Khải liền đi ra hành lang đại điện có mấy người lính túc vệ thượng đô theo sau.\nTới trước mặt viên sứ Mông Cổ, hoàng tử vòng tay thi lễ và hỏi:\n- Xin hỏi, sứ giả là người nước nào? Và nữa ngài có nói được tiếng Đại Việt ta hoặc tiếng Hán không?\nViên sứ giả trố mắt nhìn hoàng tử Trần Quang Khải. Thấy dung mạo hoàng tử khôi ngô tuấn tú nhưng vẫn còn trong tuổi thiếu niên. Kẻ kia cất tiếng cười thô bạo và nói một hơi dài tiếng Hán:\n- Ta nghe nói Đại Việt các người nước nhỏ nhưng kiên cường, dám đánh lại cả nước Tống. Nhưng sao quan lại phải dùng đến cả trẻ con. Người lớn nước ngươi chắc chết trận gần hết rồi sao?\nTrước khi dịch lại điều đó, Trần Quang Khải đã nghiêm nhìn viên sứ giả nói lời đanh thép:\n- Đã biết nước ta kiên cường, sao sứ giả còn dám buông lời vô lễ?\nDo biết trước lễ giáo của dân du mục, nên khi nghe lời thông dịch vua Thái tông bình thản phán.\n- Con hỏi họ là sứ thần nước nào phải xưng danh, nếu có quốc thư phải đệ trình, và có việc gì cần thương nghị phải tâu báo ngay.\nSau khi nghe Quang Khải dịch lại điều đó, viên sứ giả chỉ tay về phía vua Thái tông hỏi:\n- Có phải người ngồi kia là vua nước ngươi không? Sao không bảo y ra đây lạy chiếu thư?\nQuang Khải chỉ dịch lại:\n- Tâu phụ hoàng, y mời phụ hoàng ra lạy chiếu thư.\nThái tông liền đập tay xuống long án quát:\n- Viên sứ giả kia phải quỳ xuống trước khi muốn dâng lời nói với ta.\nNghe Quang Khải thông dịch lại, viên sứ giả cười hô hố và với cử chỉ ngạo mạn huơ chân múa tay, y nói:\n- Ta là sứ giả của quan thái sư kinh lược Ngột-lương-hợp-thai đến dụ vua nước Nam sớm đầu hàng, chớ để thái sư phải cất quân đánh dẹp, khiến tôn miếu xã tắc các người trở thành tro bụi. Vua tôi các người khó tránh khỏi nạn rơi đầu. Hãy xem gương nước Nga-la-tư đại bại từ năm Bính Thân (1236) và trở thành thuộc quốc của Đại Hãn chưa? Lại nước Tống hiện nay cũng sắp bị hoàng đế Đại Hãn tiêu diệt rồi. Nước ngươi so với hai nước kia chỉ bằng cái mắt muỗi thôi, sao dám ương gàn?\nVua Thái tông bình thản phán:\n- Đô tướng túc vệ thượng đô, cho quân trói tên sứ giả ngạo mạn kia lại, giam nó trong nhà công quán và chỉ cho ăn đói thôi.\nLập tức quân xông vào trói gô tên sứ giặc rồi dẫn đi, mặc cho y giãy giụa la thét.\nSau đó vua dụ:\n- Quân Mông Cổ mưu chiếm nước ta để lấy đường đánh vào sau lưng nhà nam Tống. Nhưng trước khi đánh, chúng cho sứ đến lung lạc, dọa dẫm, nếu ta vì nhát sợ mà dâng nước cho giặc như Đoàn Hưng Trí vua nước Đại Lý, thời giặc không mất một mũi tên, không rơi một giọt máu mà được cái nó mong muốn. Dụ dỗ ta không được, sớm muộn ắt giặc phải đánh ta để lấy đường qua đánh nhà nam Tống. Tình thế giặc vào cướp nước ta chắc khó tránh khỏi. Vậy muốn giữ được nước, ta phải lo việc binh, việc lương cho tốt. Đô thống thượng tướng quân ngày mai đến chầu tại cung Thủy Tĩnh để cùng ta và thái sư bàn việc chia quân đi trấn giữ các nơi hiểm yếu. Sau đây phái ngay đô tướng Trần Khánh Dư đem một ngàn quân lên ngã ba Bạch Hạc án ngữ tại đó chờ giặc. Nhìn các vương, vua lại dụ:\n- Các vương hầu từ lâu đã được phép lập phủ binh, nay phải chấn chỉnh ngay quân sĩ để cùng cả nước đánh giặc. Nên nhớ, quân của các vương hầu khi cần, đô thống thượng tướng quân có quyền điều động, và các vương phải tuân phục chứ không được kháng mệnh.\nNhìn vào cuốn sổ ghi công việc trước long án, vua Thái tông lật mở một vài trang, nhà vua nhìn thái sư, lại nhìn về phía thái úy rồi phán tiếp: - Trung thư sảnh phối cùng phủ thái úy cử người đi kiểm xét trong toàn cõi xem các hương ấp đã lập xong đội điền binh chưa. Nơi nào thiếu khí giới thì mở kho phát cho họ. Bởi số khí giới rèn từ mấy năm nay đã đủ, cung nỏ cũng đã đủ. Các đội điền binh phải tập trung lại để rèn tập kỹ xảo đánh giặc sao cho thiện xảo như các sắc quân thường binh tại các lộ. Trong thời gian tập luyện, nhà nước phát gạo, phát tiền ăn, điền tốt không phải mang tiền gạo của nhà đi nữa.\nNhìn khắp lượt triều quan, vua hỏi:\n- Các khanh có còn điều gì tâu báo nữa không?\nCác quan ngồi im phắc. Biết công việc nghị bàn đã vãn, vua huơ cây hốt nói:\n- Bãi triều!\nCác quan lục tục đứng dậy hô:\n- Hoàng thượng thiên tuế!\n\nQuốc Tuấn từ khi nhận mệnh đem quân đi trấn biên thùy, đến Quy Hóa tìm gặp các chủ trại Hà Bổng, Hà Khuất, làm lễ trao cho họ sắc vua ban. Các chủ trại hết sức cảm kích, hứa trung thành, nếu quân Mông Cổ sang, họ sẽ không đầu hàng mà tìm cách đánh.\nQua mấy ngày dừng chân, Quốc Tuấn hỏi han họ về địa hình sông núi, nơi nào hiểm trở, nơi nào giặc dễ vào. Và nên phục quân ở những chỗ nào để cản giặc. Nghe họ nói xong, Quốc Tuấn nhờ họ dẫn đi xem không bỏ sót một nơi nào.\nQuốc Tuấn thết họ ở trong dinh quân tuy sơ sài nhưng chân thành quý mến họ, nên vài ba ngày chủ, khách dần quen nhau, lại cả quý kính nhau nữa.\nHà Bổng mời Quốc Tuấn đi săn nai, săn hoẵng. Không biết họ quý hay họ thử tài thiện xạ của ông tướng triều đình mà cứ hễ gặp thú, họ đều mời Quốc Tuấn bắn trước. Và mỗi khi vị tướng của triều đình giương cung lên thì không một con thú nào chạy thoát, vì Quốc Tuấn thuần bắn vào chỗ hiểm.\nVào một bữa vừa uống rượu vừa xẻo thịt nai nướng bên đống lửa cạnh bờ suối, rượu vào lời ra thật là thoải mái, chân tình. Chủ trại Hà Bổng nhìn Quốc Tuấn rồi hỏi:\n- Ông tướng à?\n- Gì vậy trại chủ? - Quốc Tuấn hỏi lại.\nLại nhìn Quốc Tuấn như để đo lường, Hà Bổng hỏi thẳng:\n- Ông tướng có sợ quân Mông Cổ không?\nLóng ngóng tìm chỗ đất bằng để đặt bát rượu nhưng không có chỗ nào bằng phẳng, Quốc Tuấn bèn ngửa cổ tu một hơi cạn hết rồi nói:\n- Ta nghe nói quân Mông Cổ tàn ác, thiện xảo, ngựa Mông Cổ chạy nhanh như gió. Ta có thể ví một tên kỵ binh Mông Cổ với một con ngựa Mông Cổ bằng với một con hổ dữ, đúng không? - Quốc Tuấn gạn hỏi.\n- Úi a, ông tướng nói đúng đấy! Nó nhanh, nó khỏe, nó ác đúng bằng một con hổ đấy. - Chủ trại Hà Khuất nói.\n- Úi a, nó không bằng con hổ được đâu. Con hổ chỉ lao một bước là chặn đầu ngựa lại ngay. Nó tát một cái là đứt cổ ngựa, rồi nhoằng một cái là nó lôi được cả tim gan thằng Mông Cổ ra thôi ông tướng ạ.\n- Được rồi, cứ cho là nó gần bằng con hổ nhé, Quốc Tuấn gặng hỏi.\n- Đúng rồi! Ông tướng nói đúng, thằng Mông Cổ với cả con ngựa của nó chỉ khỏe và ác gần bằng con hổ thôi! - Cả hai vị chủ trại đều thừa nhận.\nQuốc Tuấn mỉm cười, ông lấy hai tay nâng chiếc dây đeo cổ của chủ trại Hà Bổng đếm được bảy cái vuốt hổ; lại nâng chiếc dây đeo cổ của chủ trại Hà Khuất đếm được sáu cái vuốt hổ. Và với giọng nghiêm trang ông nói: - Một thằng Mông Cổ với con ngựa của nó chỉ gần bằng một con hổ, thế mà hai ông đã giết được những mười ba con hổ. Vậy thời các ông có sợ thằng Mông Cổ nữa không? Quốc Tuấn nhìn thẳng vào mắt hai viên chủ trại hỏi. Và gặng thêm: - Vậy thời có giết được thằng Mông Cổ khi nó vào cướp nước mình không?\n- Không sợ thằng Mông Cổ! - Hà Khuất nói.\n- Giết được thằng Mông Cổ! - Hà Bổng nói.\nQuốc Tuấn biết ông đã làm cho hai viên chủ trại không còn sợ quân Mông Cổ nữa. Và bây giờ là việc bày cho họ cách đánh quân Mông Cổ như thế nào khi nó tràn vào bờ cõi.\nQuốc Tuấn muốn nói chuyện đánh giặc vào lúc khác, còn bây giờ hãy để cho họ vui.\nSớm hôm sau sương còn giăng trắng rừng, Quốc Tuấn còn đang luyện đao ở phía sau trại thì viên đô tướng chạy lại thưa:\n- Bẩm chủ tướng, có hai ông chủ trại xin được gặp chủ tướng.\n- Có phải hai người hôm qua không? - Quốc Tuấn hỏi lại.\n- Bẩm đúng ạ.\nQuốc Tuấn mừng thầm: - Vậy là họ đã tin ta rồi đây.\nÔng ghé tai dặn viên đô tướng một số việc, trao cho y cất cây đao, sửa lại nếp áo rồi ra mời hai viên chủ trại vào trong trướng, tự tay rót nước mời họ.\nĐặt chén nước xuống mặt kỷ, Hà Bổng nói:\n- Ông tướng à, chúng tôi không sợ quân Mông Cổ đâu. Hễ nó vào là chúng tôi đánh nó như đánh con hổ đấy. Ông tướng bày cho chúng tôi cách đánh nó đi.\nHà Khuất cũng nói chen vào:\n- Ông tướng cứ bày cách đánh quân Mông Cổ cho chúng tôi, để chúng tôi còn dạy đám trai bản biết cách đánh quân Mông Cổ nữa chứ.\nQuốc Tuấn chưa bày cho họ cách đánh vội mà hỏi xem cách họ đào hố bẫy hổ thế nào, hóa trang thế nào, đặt con mồi thế nào để hổ không ngờ. Lại hỏi cách rình hổ, theo hướng gió nghe mùi hổ, tìm vết chân hổ và nấp ở đâu để mình thấy được nó mà nó không thấy được mình, và khi đã bắn là chính xác, là bắn vào hổ chứ không bắn vào người mình.\nSau khi nghe họ nói về cách đánh hổ xong Quốc Tuấn nói:\n- Đánh quân Mông Cổ chẳng khác gì đánh hổ đâu. Trước hết là không sợ nó, mọi người cùng một lòng đánh nó. Tiếp đến là phải lừa được nó để nó yên tâm rằng không có ai rình rập nó. Rồi nữa là bất ngờ đánh nó, tất ta sẽ giết được nó.\n- Đúng! Ông tướng nói đúng. Đánh quân Mông Cổ phải như đánh hổ thì mới thắng.\nQuốc Tuấn nhìn hai gương mặt quắc thước, hai thân hình chắc nịch như hai thân gỗ lim thuần lõi của hai viên trại chủ, ông đặt niềm tin vào nơi họ và nói:\n- Bây giờ ta lại nói để các ông biết, hổ chỉ sống riêng lẻ từng con một nên ta dễ tránh nó, lại dễ rình để săn, bẫy nó, nhưng quân Mông Cổ thì không ít như hổ đâu. Nó đã đi là đi cả một lũ đông như kiến, cả nghìn thằng lính Mông Cổ với cả nghìn con ngựa chiến cao to gấp đôi giống ngựa của ta. Có khi nó còn đông hơn nữa, tới cả vạn tên quân, vạn con ngựa chiến. Khi một đoàn kỵ binh lớn như vậy đi qua, nó có thể xéo nát tất cả những gì dưới chân nó. Vậy nếu có một đoàn quân Mông Cổ như thế tràn vào bờ cõi ta, các ông có sợ không? - Quốc Tuấn liếc nhìn xem gương mặt hai vị trại chủ có đổi sắc.\nQuả nhiên gương mặt hai vị hơi ửng đỏ. Ấy là vì sự tức giận chứ không phải nỗi sợ hãi dấy lên.\n- Không sợ! - Hà Bổng nói.\n- Nhưng nó đông thế, đánh bằng cách nào? Hà Khuất hỏi. Ông tướng chỉ cho chúng tôi cách đánh quân Mông Cổ khi nó vào đông như kiến. Mình dám đánh mà, không sợ nó đâu.\n- Từng con hổ một ta đã có cách đánh rồi đúng không? - Quốc Tuấn hỏi.\n- Đúng! - Cả hai vị đầu mục cùng đáp.\n- Vậy bây giờ ta bàn cách đánh cả bầy hổ, Quốc Tuấn lại nói. Ta không có cách gì bắt được cả một bầy hổ, vì khi nó cụm lại với nhau, nó có một sức mạnh phi thường. Vậy muốn đánh nó, ta phải tách nó ra thành từng con hổ, từng cụm vài ba con hổ, tức là phải “điệu hổ ly sơn” mà đánh. Các ông hiểu ý ta chứ?\n- Hiểu! Nhưng làm thế nào để tách nó ra khỏi bầy đàn? - Chủ trại Hà Bổng băn khoăn hỏi.\n- Có nhiều cách đánh lắm, ta chỉ nói một vài cách, chắc rồi các ông sẽ tìm ra nhiều cách đánh hơn là ta nói.\nQuốc Tuấn giơ hai cánh tay vòng thành một vòng tròn - Ta ví trại quân Mông Cổ đóng như thế này, ắt chúng phải cắt từng toán quân nhỏ đi tuần quanh trại quân suốt ngày đêm. Quân Mông Cổ có thói quen cưỡi ngựa và biết điều khiển ngựa từ khi nó mới bốn, năm tuổi. Vì vậy hễ thấy ngựa Mông Cổ ắt thấy quân Mông Cổ. Nếu muốn đánh bọn tuần canh này, các ông phải cho người nấp rình xem cách chúng đi như thế nào. Mỗi toán có mấy đứa. Toán nọ đi cách toán kia bao lâu. Một vòng của nó có mấy toán đi. Và bao lâu thì chúng lại đổi phiên.\nKhi đã nắm chắc rồi thì sẽ đánh vào toán cuối cùng khi nó sắp đổi phiên. Lúc đó quân mới chưa ra khỏi trại, mà quân tuần tiễu đã vào trại gần hết chỉ còn một toán cuối cùng. Bị đánh bất ngờ như vậy ắt giặc sẽ hoảng loạn. Các ông nên nhớ, người lính Mông Cổ ngồi trên lưng ngựa, nó là một mục tiêu di động. Ngựa đi chậm nhất là nước kiệu. Nhưng chớm thấy động, kỵ sĩ nó sẽ nằm rạp trên mình ngựa mà phóng đi, hoặc nó ngả người về phía sau, hoặc nó rơi người về phía sườn ngựa bên tả hoặc bên hữu để dùng thân ngựa hứng đỡ tên đạn. Cho nên nếu đã bắn vào nó là phải tập trung cả chục cây cung, nỏ thật cứng bắn cho nó chết ngay trên lưng ngựa từ loạt tên đầu. Nếu như mỗi toán của nó có ba hoặc năm tên giặc, ta cũng phải ém số quân cách quãng ra, nhưng chỉ rõ chỗ nào bắn đứa đi đầu, chỗ nào bắn đứa thứ hai cho đến hết. Nhưng ngay loạt tên đầu tiên của quân phục bay ra là diệt gọn cả toán quân giặc, khiến chúng chết mà không hiểu vì sao chết, không biết quân từ đâu đến đánh chúng.\nQuốc Tuấn nhìn hai đầu mục mỉm cười - Các ông mà đánh như vậy thì quân Mông Cổ chứ quân nhà trời cũng không trốn chạy được.\nHà Khuất hỏi:\n- Ông tướng cho kế hay lắm. Như vậy tức là ta chỉ bắn thằng giặc thôi chứ không bắn vào ngựa của nó.\n- Ấy là ta nói với các ông khi đánh quân tuần tiễu. Còn như quân giặc hành quân hàng dọc trên đường trường, ngựa nó sải vó phi nước đại, các ông cho quân phục bắn vào một con đi giữa hàng, nó chết lăn quay ra đường, những con đi sau đang đà chạy cứ thế xô vào nhau, giẫm đạp lên nhau, cả ngựa và người đều chết không biết đâu mà kể xiết.\n- Úi a, ông tướng giỏi quá! - Chủ trại Hà Bổng kêu lên.\n- Tướng của triều đình giỏi thật. Chúng tôi sẽ học mưu của ông, - chủ trại Hà Khuất nói.\nChủ, khách đang say sưa bàn kế đánh giặc thì viên đô tướng vào bẩm:\n-Tiệc đã bày xong, xin chủ tướng mời khách.\nQuốc Tuấn liền đứng dậy, vòng tay nói:\n- Hoàng thượng sai ta lên trấn biên thùy, nhưng phải qua Quy Hóa để bàn bạc với các ông kế sách đánh giặc khi nó vào xâm phạm cõi bờ ta. Và hoàng thượng cũng sai ta phải thay người mời rượu các ông để kết tình giữa triều đình với các trại chủ và dân chúng vùng biên trấn.\nHai viên chủ trại xúc động không nói được thành lời cứ líu ríu hai chữ: “Cảm tạ! Cảm tạ!”.\nQuốc Tuấn dẫn hai người vào tiệc rượu.\nVừa trông thấy mâm cỗ bày đẹp đến hoa cả mắt, mùi thơm bốc lên với đủ các hương vị mà các đầu mục ở đây dù giàu có nhưng quả là lần đầu tiên được nhìn thấy một thứ cỗ bàn sang quý đến lạ thường.\nQuốc Tuấn lấy ra một nậm rượu hình bẹt như một củ hành, men nậm màu ngọc bích, nút đậy kín có dán giấy niêm phong với hai chữ “ngự tửu” là loại rượu chuyên dành cho vua uống.\nTướng quân đặt nậm rượu trước hai vị trại chủ nói:\n- Đây là rượu ngự ban. Hoàng thượng sai ta đem lên thết các ông.\nHai viên trại chủ nhìn rõ dấu niêm phong có hai chữ “ngự tửu” lại nghe nói hoàng thượng sai đem lên thết hai vị. Hai người rưng rưng cảm động cùng đứng lên vái chiếc nậm ba vái.\nHai tay Quốc Tuấn bưng nậm rượu trao cho Hà Bổng và nói:\n- Trại chủ là người lớn tuổi nhất ở đây, xin ông mở nút.\nHà Bổng liền đáp:\n- Tướng quân là mệnh quan của triều đình, xin tướng quân cứ tự tiện.\nQuốc Tuấn nói hết sức nghiêm trang:\n- Hoàng thượng ban đặc ân cho hai ông, ta sao dám tự tiện.\nNghe vậy Hà Bổng mới đón lấy nậm rượu. Ông sung sướng đến nghẹn lời. Quay lại phía Hà Khuất, ông bảo:\n- Hoàng thượng ban ngự tửu cho ta và ông, vậy thì cả hai cùng mở. Ông cầm nậm, ta mở nút, hay ông mở nút, ta bê nậm?\nHà Khuất đưa hai tay ra đỡ lấy nậm rượu và nói:\n- Bác hơn tuổi để bác mở, tướng quân đã nói thế rồi mà.\nHà Bổng nhẹ gỡ giấy niêm phong rồi xoay nút. Nút vừa bật, mùi thơm xộc vào mũi mọi người. Ai nấy cánh mũi đều phập phồng.\nRượu được rót ra ba chiếc bát nhỏ cao thành, ngoài tráng men nâu trong tráng men ngà, nước rượu trong như nước mưa.\nQuốc Tuấn hai tay nâng bát rượu lên ngang mày. Hai vị trại chủ cùng làm theo. Quốc Tuấn nói:\n- Chúng thần tạ ân hoàng thượng!\nHai trại chủ nhắc lại y hệt.\nQuốc Tuấn lại hô:\n- Kính chúc thánh thượng vạn an!\nHai trại chủ đồng thanh nhắc lại.\nBa người ăn uống nói cười thật là vui vẻ. Quốc Tuấn mời các trại chủ ăn từng món như hải sâm, bóng cá, chim tần… món nào với hai vị trại chủ cũng là lần đầu được ăn cả, nên họ hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.\nBiết chắc hai trại chủ đã cột tâm với triều đình, Quốc Tuấn muốn nhờ họ một việc mà theo ông nếu làm được thời đó là cơ may lớn cho công cuộc chống quân Mông Cổ sắp tràn vào xâm lấn cõi bờ ta. Vì vậy, ông đã bằng mọi cách để họ thật sự tin, qua đó ràng buộc họ với triều đình và chính họ cùng với dân Man sẽ là phên giậu vững chắc nơi biên cương. Thật ra chỉ có người dân tự ý thức được trong việc giữ gìn cương thổ, thời đó mới là bức tường thành bất khả xâm phạm, chứ triều đình lấy quân đâu rải khắp biên thùy dài tới cả ngàn dặm này. Nghĩ vậy, ông tự tay rót thêm rượu vào bát cho hai vị đầu mục và hỏi:\n- Các ông có biết đây là rượu gì không?\n- Ngự tửu vua ban cho mà, - Hà Khuất đáp.\nQuốc Tuấn cười:\n- Đúng là rượu vua ban, nhưng nó là loại kim cúc thượng hạng đấy. Rượu này hạ thổ tới cả chục năm rồi.\nHai trại chủ xuýt xoa cảm động. Thực ra đây là rượu vua ban riêng cho Quốc Tuấn, nhưng tính ông nghiêm cẩn, trong quân doanh không bao giờ ông uống rượu. Lại nhân việc nhà vua dặn phải: “Vỗ về các trại chủ người Man”, thế là ông nghĩ ra bữa tiệc này. Và còn vì có nậm rượu làm cái cớ để họ thấy họ được vua yêu trọng. Khi biết họ đã thực lòng, Quốc Tuấn liền hỏi:\n- Các ông có làm cách nào cử được người sang nước Đại Lý thăm dò rồi lại trở về an toàn không?\nCả hai viên trại chủ cùng cười và đáp:\n- Việc ấy dễ thôi mà, dân tôi ngày nào chẳng sang bên đó mua bán. Bên nó có hỏi han gì đâu. Ông tướng cần gì cứ sai bảo.\n- Nhưng ta muốn vào tận Thiện Xiển để dò thăm, liệu có được không?\n- Được chớ, mình muốn tới đâu mà chẳng được. Dân tôi nom cũng hao hao dân nó. Dân tôi cũng biết nói cả tiếng của nó nữa đấy. Triều đình cần gì, ông tướng cứ sai bảo. Nếu lo người khác không làm được thì chúng tôi đi cũng được. Sợ gì mấy cái dân Thoán dân Bặc ấy.\n- Vậy thời mai ta sẽ nói điều ta cần, để các ông tìm người tới đây ta trao việc.\n- Được thôi mà, ông tướng muốn sai việc gì cũng có người làm ngay.\n- Nhưng có phải ông tướng nhờ làm việc này cho hoàng thượng ở Thăng Long không? - Hà Bổng hỏi.\n- Đúng rồi, hoàng thượng sai ta nhờ các ông đó.\n- Nếu hoàng thượng đã sai thì dẫu có chết chúng tôi cũng không ngại.\nCả hai vị đầu mục đều tỏ lộ lòng trung.\nLại nói tại Thăng Long và các lộ, những đội dân binh, điền binh mới lập nhiều vô kể, nơi nào cũng hào hứng tập luyện, khí thế cả nước hừng hực như sắp xông vào trận đánh.\nBữa nọ vua Thái tông ghé cung Thủy Tĩnh thăm quốc mẫu và quốc phụ.\nThấy nhà vua đến bất chợt, Thái sư Trần Thủ Độ và phu nhân Trần Thị Dung vội ra nhà tân khách cung nghinh.\nTrần Thủ Độ giơ tay vái:\n- Chẳng hay có điều chi sai khiến mà thiên tử phải ngự giá đến nhà thần đây?\nVua Thái tông cười nhưng không giấu nổi vẻ suy tư, nắm tay Thái sư, vua nói:\n- Cháu đến thăm cô chú thôi không có vua chúa nào ở đây cả. Sao ít lâu nay chú cứ hay giữ lễ một cách thái quá. Đã bảo lễ là ở chốn triều trung, còn ở nhà phải theo gia đạo chứ.\nTrần Thủ Độ vuốt râu cười khà:\n- Chẳng là người già hay thất thố nên phải dùng lễ để che đậy sự vụng về đó thôi. Rồi ông hỏi: - Ta chắc bệ hạ đang có điều gì khó nói, khó xử đây, việc nước hay việc nhà, chú cháu ta cứ thẳng thắn bàn bạc, tuy vậy đầu óc, sức lực chú cũng còn tạm dùng được, chưa phải là đồ bỏ đâu.\n- Chú đã nói thế thì cháu cứ xin nói thẳng. Mới đây Khu mật viện có mật tâu với cháu rằng: “Quốc mẫu tích chứa đồ khí giới và lương thực nhiều lắm. Chẳng hay việc đó chú có biết không?”.\nNghe nhà vua hỏi bất ngờ về những tội đáng tru di, Trần Thủ Độ hết đỗi kinh ngạc bèn cho triệu phu nhân ra và nói lại điều nhà vua vừa hỏi.\nPhu nhân vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa nói:\n- Tôi đang sửa soạn đồ nhắm rượu cho chú cháu ông đây. Dào ôi, cái chuyện vặt ấy tôi tự làm đấy, có gì mà ông với nhà vua phải săm soi vào chút việc riêng của mụ này.\nThái sư giậm chân vẻ nhăn nhó:\n- Tích trữ lương thực, khí giới là việc mưu phản đấy, tội đáng tru di bà không biết sao. Tại sao bà làm việc này? Làm để làm gì mà bà giấu tôi?\nPhu nhân dõng dạc đáp lời:\n- Thế ông định chạy tội sao?\nNghe phu nhân nói, cả nhà vua và Thái sư đều tái mặt đi.\nNhà vua thầm lo: “Ông chú mưu phản sao? Vô lý!”. Còn Thái sư thì vô cùng kinh ngạc. Lấy lại sự bình tâm, Trần Thủ Độ hỏi:\n- Vậy chớ đầu đuôi thế nào, vì sao bà làm như vậy? Có nhà vua đây, bà cứ nói thực đi.\nNhả miếng bã trầu vứt thẳng xuống thềm với vẻ bực tức, phu nhân nói:\n- Ông có nhớ năm ngoái, sau phiên chầu về ông nói nhà vua hạ chiếu cho cả nước rèn đúc khí giới, tích trữ lương thảo, lo kháng giặc. Tôi hỏi ông giặc nào? Ông bảo quân Mông Cổ. Lại nói quân Mông Cổ hung bạo, để nó vào cõi thì nó tàn sát sinh linh không biết đâu mà lường. Thấy chú cháu ông lo, tôi phải xuất vốn riêng ra, mua cất giấu đi để rồi tiếp tế cho quân chứ tôi mua giáo mua gươm để giết ai.\nNghe phu nhân nói, cả nhà vua và Thái sư đều thở phào.\n- Giỏi! Bà giỏi quá. Bà mới thật là một người ái quốc thầm lặng. Nhưng sao bà không nói với tôi một lời, biết đâu tôi chẳng giúp được bà.\nPhu nhân bĩu môi.\n- Dào ôi, lúc nào ông cũng chỉ biết đến công việc. Có bao giờ ông chịu ngồi nhà trò chuyện với mụ này đâu. Vả lại, việc ai người ấy lo.\n- Thế bà đã tích chứa được nhiều chưa?\n- Vốn riêng của tôi chứ có phải quốc khố đâu mà có nhiều. Khí giới tôi chắc cũng đủ cho mươi mười lăm đô quân, còn lương thực không quá hai nghìn phương thóc. Thôi cũng gọi là một chút phận sự chung lo với nước; tôi cứ ngỡ nước là của mọi người, của mọi nhà nên làm vậy, ai dè như thế lại mắc tội tru di. Hóa ra nước lại chỉ của nhà vua, của triều đình, của chú cháu ông. Ai muốn yêu nước đều phải trình báo, bây giờ tôi mới ngộ ra điều đó.\nCứ xem việc bà làm, lời bà nói, nhà vua thầm nghĩ: “Bà cô, ông chú quả là những người bén nhạy và có bản lĩnh. Nếu nói vương triều này được tạo ra từ hai con người này cũng chẳng có gì là quá đáng”.\nVới cử chỉ làm lành, Thái sư vừa vuốt râu vừa cười hề hề, ông nói như phân bua:\n- Nhà vua thì hỏi việc tích chứa khí giới, lương thực, còn bà thì lại bảo tôi “định chạy tội”, nghe thế ai mà chẳng khiếp. Vậy đó, tâu hoàng thượng, việc đã rõ rành rành, xin bệ hạ tha tội.\nVua Thái tông vui vẻ dàn hòa:\n- Thưa quốc phụ, quốc mẫu, các cơ quan then máy quốc gia, thấy việc gì hơi lạ là người ta phải canh chừng rồi tâu báo lên. Nay sự việc đã rõ như ban ngày, nhân danh triều đình xin ban tặng quốc mẫu mỹ danh: “Ái quốc khả phúng”.\n- Kìa, bà không tạ ân hoàng thượng đi. Thái sư giục phu nhân.\nPhu nhân không nhận, cũng không cảm tạ mà còn nói chọc.\n- Chú cháu ông trị nước giỏi thật đấy. Hình pháp gì mà cứ thay đổi xoành xoạch, vừa tuyên án tru di đã tôn vinh ái quốc.\n- Bà thật là đáo để, thái sư nói. - Vậy chớ bà bảo làm đồ nhắm cho chú cháu tôi sao mãi không thấy đem ra?\nPhu nhân nguýt dài:\n- Trị nước đã dở lại còn hạch sách đòi ăn.\nNói rồi phu nhân đi vào nhà trong. Mùi xào nấu bay ra thơm phức.\nHai chú cháu nhà vua nhìn nhau mỉm cười.\nVua Thái tông nói:\n- Thưa chú, Quốc Tuấn mới có thư về.\n- Thế à, biên thùy có bị uy hiếp nghiêm trọng không?\n- Dạ, Quốc Tuấn chỉ nói quân Mông Cổ ở nước Đại Lý do tướng Ngột-lương-hợp-thai cầm đầu đã chiếm xong nước ấy, chiêu hàng Đoàn Hưng Trí vua của Đại Lý. Hưng Trí đã tập hợp được một đội quân năm vạn gồm người Thoán, người Bặc đặt dưới quyền sai khiến của Ngột-lương-hợp-thai.\nVị tướng Mông Cổ này đã đưa sứ sang Đại Việt để thuyết hàng mà chưa thấy sứ đem hồi âm về. Nay mai chắc y sẽ cử tiếp sứ vào Thăng Long. Bởi bằng mọi cách Ngột-lương-hợp-thai phải đánh được Đại Việt mới có đường tập hậu nhà nam Tống. Hiện Mông-kha đang tự cầm quân tiến đánh Hợp Châu, Hốt-tất-liệt tiến đánh Ngạc Châu, Ngột-lương-hợp-thai sẽ phải đánh vào Đàm Châu rồi tất cả đều hội quân ở Ngạc Châu và từ đấy sẽ chia binh đi đánh Lâm An, chỉ một trận là diệt gọn triều nam Tống, thu phục toàn cõi Trung Hoa.\nThưa chú, Quốc Tuấn còn cho biết thêm rằng Ngột-lương-hợp-thai quyết đánh Đại Việt để lấy đường thông sang Ung Châu mà vào Đàm Châu, nếu không y sẽ phải đi đường Quý Châu\n[59] rất hiểm trở và vô cùng khó khăn.\nNhà vua ngừng lời. Gương mặt ngài đang biểu hiện một sự lo lắng.\nThái sư lên tiếng:\n- Từ khi Quốc Tuấn chưa lên trấn biên thùy, thần và bệ hạ đều nhận định quân Mông Cổ trước sau cũng xâm lấn nước ta. Nay cứ theo như ý trong thư Quốc Tuấn thì quân Mông Cổ sắp vào cõi ta đấy. Vậy bệ hạ định khu xử việc này ra sao?\n- Thưa chú, giặc đến thì đánh thôi. Vẻ ngập ngừng, nhà vua lại tiếp: - Cháu chỉ sợ đánh không thắng nó thì nó tàn sát sinh linh không sao xiết kể. Cháu chỉ thương đám lê dân thôi.\nThái sư “hừm” một tiếng:\n- Thương dân sao bằng thương nước. Nước mất lấy ai đứng ra che chắn cho dân. Thần biết bệ hạ hiếu Phật nên giàu lòng từ ái. Nhưng nên nhớ, Phật không chỉ dạy: Đại từ, đại bi mà Phật còn dạy: Đại hùng, đại lực, đại trí nữa.\nVậy thời tâu bệ hạ, với kẻ đại ác, đại gian thời phải đem đại hùng, đại lực ra mà trị nó chứ. Có như thế mới bảo vệ được đám lê dân của bệ hạ, mới bảo vệ được Phật pháp chứ. Làm được điều đó chính là đại trí đấy.\nThái sư vừa dừng lời, nhà vua bèn đứng dậy vái hai vái:\n- Thưa chú, điều chú vừa dạy đã làm cháu ngộ ra. Từ ái với kẻ gian ác chính là si đó. Cháu sẽ quyết cùng muôn dân xả thân vì nước. Và tới lúc này, chú vẫn là cây cột cái của nước chưa ai có thể thay thế được đâu.\n- Bệ hạ đừng nói thế mà chú tủi. Thân già rồi, lực bất tòng tâm. Bệ hạ giữ ngôi chủ tể, mấy chục năm qua, người làm cho dân giàu nước thịnh chẳng phải bệ hạ còn ai vào đấy nữa. Bệ hạ chẳng thấy người điều hành đất nước tựa như người điều khiển một con thuyền sao, lúc sóng yên biển lặng chẳng nói làm gì, nhưng khi gặp sóng to gió lớn thì phải cứng tay lái, vững tay chèo thời thuyền mới không bị lật.\n- Cháu hiểu ý chú. Cháu quyết không phụ lòng chú, không phụ muôn dân.\nVừa lúc đó có viên đô tướng coi quân cấm vệ chạy vào cung Thủy Tĩnh, rập đầu trước thềm nói lớn:\n- Tâu bệ hạ có sứ Mông Cổ từ nước Đại Lý vào.\n- Hiện sứ đang ở đâu? - Vua hỏi - Sao không đưa họ vào nhà công quán? - Vua lại hỏi.\n- Tâu bệ hạ, người sứ ấy đang đứng trước cửa điện Thiên An, nằng nặc đòi gặp bệ hạ để đưa chiếu dụ của vua nước họ.\n- Sao ngươi biết điều đó?\n- Tâu bệ hạ quan trạng Nguyễn Hiền ạ.\n- Vậy chớ Nguyễn Hiền đang đứng cùng viên sứ thần đó trước điện Thiên An à?\n- Tâu bệ hạ đúng như vậy.\nNhà vua như cân nhắc rồi quay về phía Trần Thủ Độ hỏi:\n- Thái sư có cho phép viên sứ giả Mông Cổ tới đây để hỏi chuyện nó không?\n- Bệ hạ muốn tiếp nó ở đâu mà chẳng được. Ở đâu mà chẳng phải đất của nhà vua, có điều thằng Mông Cổ này cũng chẳng khác thằng bị bệ hạ sai tống giam hồi tháng trước đâu.\nVua liền phán:\n- Ngươi ra nói Nguyễn Hiền dẫn sứ về nhà công quán. Và bảo Nguyễn Hiền nói cho sứ biết, ta sẽ cử người tiếp và phải trình điệp văn của vua nước họ. Ngươi cho quân đi kèm, nếu sứ tỏ ra vô lễ thì cưỡng trói nó lại đưa về giam tại nhà công quán, cho ăn nhưng không cho rượu, thịt. Và nhớ không được hành hung, nhục mạ người ta.\nViên đô tướng nói lại Nguyễn Hiền các điều vua vừa dụ bảo. Nguyễn Hiền liền nói với viên sứ Mông Cổ:\n- Quốc vương sai tôi tiếp ông. Vậy xin mời ông về nhà công quán, nơi nước tôi thường tiếp các sứ thần ngoại quốc.\nViên sứ Mông Cổ trừng mắt quát:\n- Ta đã bảo, ta chỉ gặp vua của các ông thôi. Vua của các ông phải mở cửa đại điện tiếp chiếu của thiên tử và phải quỳ lạy chiếu thư.\nNguyễn Hiền nhếch mép cười mỉa, nhưng ông vẫn điềm đạm nói với sứ:\n- Ông là người được phái đi sứ, chức tước chắc chỉ vào hàng thị lang, còn ta là sĩ đại phu, cả chức tước và chữ nghĩa đều ở trên ông, nhưng nhà vua vẫn cử ta tiếp ông. Vậy là vua nước ta đã gia ân cho ông rồi đấy. Tốt nhất ông hãy theo ta về nhà công quán.\nViên sứ giả bèn nổi nóng quát:\n- Ta đã nói thế nào là đúng như thế, nếu vua nước ngươi không mở cửa đại điện, không đích thân ra tiếp ta thì Đại Hãn sẽ cho binh tới làm cỏ kinh thành này, đào xới gò mả tổ tông các ngươi, dân các người sẽ không còn một mống nào sống sót.\n- Câm miệng ngay! - Nguyễn Hiền quát. Nước ta là nước văn hiến, có kỷ cương lễ luật, ngươi không thể đem cái thứ văn hóa súc vật đến đây mà dọa nạt. Ngươi có biết mới tháng trước cũng có một đứa như ngươi tới đây, cũng hống hách như ngươi đã được quốc vương ta tiếp thế nào không?\nSứ giả Mông Cổ há hốc mồm ra, vẻ kinh ngạc:\n- Vậy chớ các người dám vô lễ với thiên sứ của Đại Hãn. Ta không ngờ dưới gầm trời này lại có kẻ dám cưỡng mệnh của đại hoàng đế Mông-kha.\nNguyễn Hiền không tiếp lời viên sứ Mông Cổ nữa, ông quay sang nói với đô tướng:\n- Ông cho quân dẫn nó về nhà công quán, các việc ăn uống như hoàng thượng đã dụ. Ba ngày sau, ông cho hai đứa nó trông thấy nhau rồi bắt nó quay về chỗ cũ, không cho chúng giao tiếp với nhau.\nNguyễn Hiền quay lại nói với viên sứ thần:\n- Vui lòng theo những người này về nhà công quán.\nViên sứ Mông Cổ gạt những người lính cấm vệ ra, nhảy bổ về phía Nguyễn Hiền toan hành hung.\nNguyễn Hiền quay ngoắt lại, ném ra cái nhìn nghiêm khắc. Viên sứ giả đứng sững lại. Quân tới ngoắc tay trói gô nó lại bằng chiếc lạt cật rồi dẫn về nhà công quán.\nĐúng là dưới gầm trời này không có một sứ thần nước nào vào cõi người ta để lập mối giao hảo hoặc dụ dỗ thuyết hàng mà lại ngông nghênh, ngạo mạn cứng nhắc đến cuồng si như sứ Mông Cổ, và cũng dưới gầm trời này, chưa một quốc gia nào dám tiếp sứ Mông Cổ như vua tôi nước Đại Việt.\nVua Thái tông bản tính nhu hòa, hiếu thiện nhưng lại là người rất cương dũng trong việc bảo toàn quốc thể cũng như bảo vệ chủ quyền quốc gia.\nLuôn trong hai tháng tám và chín của năm Đinh Tỵ (1257) này người Mông Cổ đã cho sứ đến ép Đại Việt phải quy hàng đều không được hồi âm.\nKhông được hồi âm còn vì lẽ sứ quá hống hách vô lễ tới mức hai bên không thể thương nghị với nhau được điều gì. Và cách ứng xử của nhà vua như thế cũng là cung cách tiếp nhận một cuộc chiến hơn là thương nghị để cầu hòa.\n\nQua hai lần cho sứ đi dụ hàng Đại Việt, chờ mãi không thấy hồi âm, chủ soái Ngột-lương-hợp-thai bèn triệu các tướng vào trong lều trướng thương nghị.\nNgoài các tướng của Mông Cổ, Ngột-lương-hợp-thai còn triệu cả Đoàn Hưng Trí cho được dự bàn.\nĐoàn Hưng Trí nguyên là vua nước Đại Lý, sau khi bị người Mông Cổ đánh bại, đã nghe lời dụ ra hàng và quy thuận. Tới nay Đoàn Hưng Trí đã chiêu mộ được năm vạn quân gồm các dân man Thoán, Bặc đặt dưới quyền sai khiến của Ngột-lương-hợp-thai. Vì vậy, Trí được người Mông Cổ tin dùng.\nNgồi cạnh những tướng soái Mông Cổ lừng danh, Đoàn Hưng Trí cảm thấy mình chỉ là một kẻ bé mọn, lạc lõng. Nhưng nếu không núp bóng người Mông Cổ thì chẳng còn gì, kể cả tấm thân nhơ nhuốc.\nBắt đầu vào cuộc, Ngột-lương-hợp-thai nói:\n- Đầu năm chúa thượng làm lễ tế cờ ở sông Khiếp Lỗ Liên, chia quân bốn mặt cùng tiến đánh nhà nam Tống. Đích thân chúa thượng đánh vào Hợp Châu và sai ta từ đây đánh vào Đại Việt để tập hậu quân Tống ở phía nam, rồi cùng hội quân với chủ tướng và chúa thượng ở Ngạc Châu. Ta muốn nhàn sức quân nên đã hai lần cho sứ đi dụ hàng Đại Việt. Tháng tám một sứ, tháng chín ta lại cử tiếp, nay đã sang tháng mười mà vẫn bặt tin tức là cớ làm sao. Vừa rồi chúa thượng sai sứ sang hỏi ta đã tiến binh đến đâu, ta cứ tình thực tâu về. Lại dò biết qua viên trung sứ thì quân Tống ở Ngạc Châu dám hỗn hào chống cự, nên đại binh còn vướng chân tại đó.\n- Tại sao sứ đi không trở về? Ta muốn biết trước khi ta khởi binh. Ngột-lương-hợp-thai nhìn về phía Đoàn Hưng Trí gặng hỏi: - Hay là mấy kẻ dẫn đường lại không biết đường vào kinh đô Đại Việt đã đi lạc sang nẻo nào rồi?\nĐoàn Hưng Trí tỏ ra bối rối, sau đó y nói:\n- Tâu đại vương, những đứa thần sai đi đều là dân thương lái, chúng rành đường đi lối lại lắm. Đây chỉ có thể là người Đại Việt lập mưu giết sứ trên đường về.\n- Thật vậy sao? Quân sâu bọ nào dám giết sứ của ta? Ngột-lương-hợp-thai nổi nóng bất thường khiến Đoàn Hưng Trí càng thêm rối trí.\nPhò mã Hoài-đô (Qaidu) bèn lên tiếng:\n- Đường từ đây tới Thăng Long kể hơn nghìn dặm, đường sá bất trắc, thời tiết bất thường, chưa lường được hết, thái sư hãy nán chờ xem sao, ta không tin Đại Việt dám cả gan giết sứ.\nTriệt-triệt-đô (Cacakdu) cũng nói:\n- Đại Việt nước nhỏ như cái bàn tay lại chỉ có một dúm người sao dám cưỡng mệnh.\n- Nhưng ta không thể nán được nữa, chúa thượng vừa sai sứ đến giục tiến binh. Nhìn về phía vị tướng trẻ, Ngột-lương-hợp-thai hất hàm hỏi:\n- A-truật (Aju) ý con thế nào?\nĐược cha hỏi, A-truật liền đáp:\n- Thưa cha, nhà ta ba đời làm tướng, ơn trên sâu nặng, nay chúa thượng đang kỳ vọng nơi cha. Theo ý con, cha không nên chờ tin sứ nữa, cứ đem quân thẳng tới Thăng Long bắt lấy vua nó, chiếm lấy nước nó, việc dễ như trở bàn tay, sao cha còn phải nấn ná.\nThấy con trai nói “ba đời nhà ta làm tướng”, Ngột-lương-hợp-thai lấy làm hãnh diện. Bởi không chỉ là tướng thường mà còn là danh tướng bất hủ như tướng Tốc-bất-thai (Subutai) ông nội của A-truật đã từng theo Đại Hãn Thành-cát-tư-hãn (Jenjis Kan) đánh vào nước Nga-la-tư (nước Nga) từ năm Tân Tỵ (1221) đến năm Quý Mùi (1223). Sau đó lại được cùng đương kim chúa thượng tiến đánh Nga-la-tư một lần nữa vào các năm Ất Mùi (1235) và Bính Thân (1236) chinh phục hoàn toàn nước Nga-la-tư mênh mông và biến nó thành chư hầu của Mông Cổ, là thuộc quốc của Mông Cổ. Nay ta lại sắp nuốt chửng cả nước Trung Hoa mênh mông, thế mà nước Đại Việt chỉ bằng cái mắt muỗi kia lại dám kháng mệnh của chúa thượng ta sao. Nhà ta ba đời làm tướng, đại danh tướng, ơn chúa sâu dày, còn chờ gì nữa mà không làm cỏ Đại Việt. Nghĩ vậy, Ngột-lương-hợp-thai bèn nói:\n- Các tướng hãy nghe lệnh đây: - Chuẩn bị năm ngàn quân kỵ, lương thực và cỏ ngựa đủ dùng trong sáu mươi ngày.\nQuay về phía Đoàn Hưng Trí, Ngột-lương-hợp-thai nói:\n- Ngài Ma-ha-la-sa\n[60] (Maharaja), ta đã tặng cho ngài tên đó. Vậy từ nay ngài phải coi mình là người Mông Cổ. Ngài có phận sự phải tận trung với nước mẹ Mông Cổ. Trong lần ra quân đánh Đại Việt này, trong số năm vạn quân Thoán-Bặc, ta cho ông tuyển lấy hai vạn cùng ta đi chinh phục. Ông phải tự lo lương thảo cho quân trong chín mươi ngày. Ông cần bao lâu để hoàn tất?\nĐoàn Hưng Trí bối rối, bởi quân mới chiêu mộ, sao có thể đi trận ngay được. Hơn nữa lương thảo cho hai vạn quân với vài ngàn ngựa nữa đâu có thể kiếm ra trong mươi ngày được. Nhưng lại không được phép không tuân lệnh. Vì rằng ngài thái sư đây không nói hai lời, không cho phép người dưới quyền ngập ngừng khi nhận mệnh chứ đừng nói đến khước từ. Nghĩ vậy, Hưng Trí mạnh dạn nói:\n- Về các điều thái sư nói, hạ cấp xin tuân mệnh. Quân có thể tập hợp trong mười ngày, lương thảo xin thái sư cho hai mươi ngày.\n- Hai mươi ngày thì chậm mất của ta. Ngột-lương-hợp-thai hơi chau mày.\nPhò mã Hoài-đô liền nói:\n- Thái sư nên cho quân kỵ của ta dời xuống đóng tại A Mân\n[61] gần giáp biên thùy Đại Việt, vừa là nghe ngóng tình hình, vừa chờ Ma-ha-la-sa đưa quân tới sau. Vả lại từ đó ta có thể cho du binh vào thăm dò đất nó.\n- Được! Ý của phò mã được đó. Ngột-lương-hợp-thai gật đầu. Lại nói: - Hôm nay là ngày cuối tháng mười, Triệt-triệt-đô lấy trước năm trăm quân kỵ tới A Mân lo chỗ đóng quân, mười ngày nữa ta cho đại quân qua, Ma-ha-la-sa phải đúng hẹn, nghe chưa.\nLại nói ở Thăng Long khi hai viên sứ thần Mông Cổ vừa được nhìn thấy nhau, chúng vội thét gọi nhau. Cũng là lúc người ta dẫn mỗi đứa đi về một phía. Từ đó, tinh thần chúng suy sụp hẳn. Thêm vào đó là hằng ngày vẫn phải ăn đói, bó gối ngồi trong gian phòng hẹp, có lính canh nghiêm cẩn. Và cái khổ của chúng là chỉ được ngửi các mùi xào nấu thơm đến thắt lòng, nhất là mùi rượu hâm nóng thơm đến cháy cổ họng, và cái bọn chết tiệt trong nhà công quán này nó ăn uống, nó cười, nó chạm chén chạm bát cứ lanh canh lách cách mà nó không đoái gì đến sứ của Đại Hãn. Lại hằng ngày chúng đem sữa ngựa đến uống ngay trước mặt ta. Ngửi thấy mùi sữa ngựa khiến ta chạnh nhớ thảo nguyên; nhớ đất mẹ bao la, đồng cỏ trải mênh mông tới tận chân trời và những đàn cừu xa trông như những đám mây trắng. Ôi, cái bọn quái quỷ này nó có phải là người không mà nó không biết sợ oai phong của Đại Hãn. Và nữa, nó sẽ cắt cổ mổ bụng ta lúc nào đây… Đại Hãn với binh uy rầm rập khắp gầm trời. Đánh Nga-la-tư sập đổ phải quy hàng. Đánh cả một triều đại nhà Kim và chôn vùi nó mất tiêu như ném một viên đá xuống bể bùn. Quân vừa kéo tới Đại Lý chưa kịp đánh, Đại Lý đã tan, vua nó phải quy hàng. Thế mà cái nước Đại Việt chỉ bằng chiếc bàn tay này, hai lần sứ đến đều bị nó tống giam. Sớm muộn nó cũng giết thôi. Hóa ra dưới gầm trời này vẫn có kẻ không sợ Đại Hãn và binh uy Mông Cổ.\nGiữa lúc tinh thần sứ giả suy sụp, trạng nguyên Nguyễn Hiền tiếp riêng từng viên sứ. Thoạt đầu là cho chúng tắm nước lá thơm, cho mặc áo quần Đại Việt, và mời cơm thịnh soạn có rượu Thạch xương bồ hâm nóng, có thịt cừu và sữa ngựa cùng các đồ biển như tôm, cua, sò, ốc, hải sâm, bóng cá…\nNguyễn Hiền mời sứ ăn, hỏi chuyện gia đình vợ con, gợi lại tuổi thơ của sứ nhưng tuyệt nhiên không hỏi gì về cuộc đời chinh chiến của y cũng không hỏi sứ mệnh y vào Đại Việt làm gì. Cũng không đả động đến thái độ hống hách, vô lễ của sứ.\nCơm nước xong, Nguyễn Hiền dẫn sứ đi chơi ngoạn cảnh Thăng Long. Xem vườn hoa, cây cảnh, phố thị rồi dẫn y vào thăm chùa Nhất Trụ, chùa Sùng Khánh và tháp Báo Thiên, lại quành về thăm trường Quốc học viện, thăm Văn miếu thờ Khổng Tử. Đến đâu y cũng khen, nước ông đẹp quá, giàu quá, dân sống trong thanh bình yên ấm. Mặc cho y nói, Nguyễn Hiền cứ lặng thinh. Sau rốt ông lại đưa sứ vào nhà công quán, trao cho viên giám quản và bảo: “Lại nhốt nó vào chỗ cũ”.\nVừa trông thấy viên giám quản, sứ vội thét lên và chạy ra ôm lấy chân Nguyễn Hiền kêu cứu:\n- Sao ông không hỏi chuyện ta đến đây làm gì. Ông tiếp ta như một thượng khách rồi lại giam ta như một tên tù sao. Ta sẵn sàng nói tất cả những gì các ông cần biết.\n- Không cần ông nói, ta cũng biết cả rồi. Ông đến đây để lung lạc vua ta và chiêu hàng nước ta.\n- Nhưng các ông đã được đọc điệp văn chiêu dụ của thái sư Ngột-lương-hợp-thai đâu?\n- Không đọc nhưng ta biết rõ trong đó nói gì rồi.\n- Vậy sao ông lại đối tốt với ta như vậy?\n- Thông thường khách đến nước ta đều được đối xử rất trân trọng vì tục nước ta hiếu khách. Ta cho ông nếm thử phong tục nước ta để biết.\n- Bây giờ ông lại định giam ta nữa sao, định giam sứ của Đại Hãn sao?\n- Ông nhầm đấy, nước ta chỉ cầm bắt những kẻ ngạo mạn, coi thường dân ta, xúc phạm đến vua ta và phong tục nước ta, chứ chưa hề có chuyện giam sứ thần ngoại quốc.\nViên sứ giả trở nên biết điều, y nói:\n- Quả thật ta không được biết nước ông lại ở vào tầng mức cao như thế này. Ta chỉ được chủ tướng sai đi và dặn bảo: “Phải tỏ rõ thiên uy cho các man quốc phải thần phục. Phải nạt nộ để vua nó sợ thì cả nước nó phải khiếp phục, khiến ta không đánh nó cũng phải quy thuận. Kẻ nào đi sứ mà làm nhụt nhuệ khí của Đại Hãn sẽ bị tội chém đầu”. Bởi vậy, ta chỉ làm những gì mà thái sư dạy bảo. Ai ngờ… Thôi được, ta cứ đưa tờ điệp văn này để ông về trình với quốc vương rồi thả cho ta về lại nước Đại Lý.\nNói xong y móc từ trong lằn áo nịt sát ngực, lôi ra một bao da trong đó có tờ điệp văn, đặt vào tay Nguyễn Hiền.\nNguyễn Hiền rụt tay lại và nói:\n- Đúng ra ông phải quỳ xuống rồi hai tay nâng tờ điệp văn này trao cho quốc vương của ta. Đó là lễ luật của bang giao. Đằng này ông lại đòi quốc vương ta phải quỳ xuống để nhận điệp văn của một viên tướng của Mông-kha. Ông chỉ là một kẻ cưỡi ngựa bắn cung, còn ta là trạng nguyên, người giỏi chữ nhất của một nước tiếp ông, ông lại quay mặt đi. Các ông định đem nền văn hóa du mục áp đặt cho chúng ta, thật khó coi quá.\nViên sứ giả vừa xấu hổ vừa ân hận, y cố đặt tờ điệp văn vào tay Nguyễn Hiền và nói:\n- Ta biết đã xúc phạm đến các ông, nhưng ta không thể làm khác được. Bởi làm khác đi, trở về, ta sẽ mất đầu.\nNguyễn Hiền miễn cưỡng nhận tờ điệp văn. Thực ra thì viên sứ kia đã nộp từ mấy bữa trước rồi, cho nên Nguyễn Hiền làm ra vẻ thờ ơ, bởi hai tờ điệp văn đều chung một nội dung ép hàng. Và cả hai viên sứ này đều là những con hổ có lá gan chuột nhắt y hệt nhau.\nTrung tuần tháng mười một, lại một viên sứ Mông Cổ nữa tới Thăng Long và thái độ của tên này còn ngạo mạn hơn cả hai tên trước. Vua Thái tông không hỏi han gì nữa và sai nhốt chung cả ba tên lại với nhau, nhưng ban đêm thì phải trói chúng lại.\nVua xuống chiếu mở kho khí giới phát cho các đội điền binh. Nhà vua, Thái sư Trần Thủ Độ và Thái úy Trần Nhật Hiệu chia đi duyệt lại các sắc quân. Vua sai tướng Lê Tần đi kiểm xét các nơi hiểm yếu từ Thủy Vĩ đến Quy Hóa giang xuôi về ngã ba Bạch Hạc. Tướng Khuê Kình đi về phía ải Hà Dương rồi xuôi theo đường men sông rồi cũng về ngã ba Bạch Hạc. Hoàng thái tử Hoảng cùng với Công bộ thị lang Nguyễn Hiền đi dọc biên thùy với nhà nam Tống từ cửa Pha Lũy đến châu Vĩnh An.\nCả nước đang sôi sục khí thế kháng giặc giữ nước.\nBữa nọ phu nhân nói với thái sư:\n- Cả nước tất bật lo đánh giặc, nhưng liệu quân ta có cản được nó từ biên ải không ông?\n- Cái đó còn tùy sức giặc. Nếu giặc mạnh quá, ta chỉ đánh cầm chừng rồi dụ nó vào sâu đất mình mà đánh, tản mỏng nó ra thì điền binh, dân binh cũng có thể đánh được.\n- Nếu giặc cứ vào sâu mãi, vào tới Thăng Long thì sao?\n- Thăng Long thì phải quyết giữ chứ bà.\n- Nhưng nếu sức giặc mạnh quá thì sao hả ông? – Phu nhân hỏi và có ý hơi nghi ngờ về sức mạnh của quân ta.\nThái sư Trần Thù Độ với vẻ điềm tĩnh vốn có lại đáp:\n- Nếu sức giặc vẫn cường thì ta tạm nhường nó, luồn về sau nó mà đánh, chia cắt đường về của nó, quân nó đầu đuôi không ứng cứu nhau được ắt phải hoảng loạn mà bỏ chạy.\nNhìn phu nhân, Thái sư vuốt râu rồi nhón một khẩu trầu nhai bỏm bẻm. Lát sau ông lại nói:\n- Bà phải bình tâm, phải tin vào triều đình, tin vào muôn dân. Nếu vạn nhất phải bỏ kinh thành lập trận tuyến để cản giặc, thời đó cũng là chuyện thường trong binh pháp. Bà nên biết, mất kinh thành không có nghĩa là mất nước. Nước chỉ mất khi vua tối, tôi hèn, lòng dân ly tán. Còn như từ vua, tôi cho chí muôn dân khắng khít một lòng giữ nước, dẫu thế giặc có mạnh, nước cũng không vì thế mà mất được. Tuy vậy, cuộc chiến sẽ rất cam go.\n- Ông ạ, tôi mặc giả trang với mấy đứa hầu gái đi chợ. Nghe họ kháo nhau nước sắp có giặc, nhưng không thấy ai tỏ ra sợ hãi. Qua mấy phố, phố nào cũng thấy dân binh chăm chỉ tập tành lắm. Lại hôm vừa rồi ở quê có người lên thăm, khoe làng nào cũng có một đội điền binh, tập riết lắm. Mà bây giờ đi tập được nhà nước cho ăn, không phải đem gạo nhà đi nữa. Lòng dân phấn khích lắm.\nThái sư vui vẻ nói xen vào:\n- Lòng dân như thế, triều đình như thế bà biết cả rồi đấy. Có gì mà phải lo, giặc đến thì đánh, nếu giặc không đến cũng là may, cũng là dịp đo lòng dân đối với nước.\n- Ai chẳng biết vậy, có điều này tôi muốn nói, được thì ông để, không được cũng đừng chê tôi nhát.\n- Việc gì bà nói thử xem.\n- Cứ nghe ông nói thì chưa chắc quân ta đã đủ sức cản giặc từ biên thùy. Lại vạn nhất có khi cũng không thể cản được nó chiếm kinh thành. Vậy nên tôi muốn\nông xin với nhà vua sai Phủ tông chinh\n[62] di bớt đồ thờ tự, ngọc phả đưa về Long Hưng [63], tránh khi giặc đến, cùng đường nó có thể đốt phá trả thù. Lại nữa con cái các vương gia, vương phủ trong tôn thất hoàng tộc cũng cho hết về Long Hưng. Thì đấy, mẹ nào con ấy, kể cả con trai cứ dưới tuổi hoàng nam là đi di tán hết, để trong kinh thành chỉ còn binh lính và dân binh. Ngay cả dân thường cũng cho họ di tán đi kẻo giặc tới nó tàn sát.\nĐấy, tôi đàn bà cạn nghĩ, nếu sai ông đừng chấp.\nTrần Thủ Độ sửng sốt về những điều phu nhân vừa nói. Ông khen:\n- Đầu óc của bà thật là thông sáng. Đó là việc không chỉ nên làm, mà phải làm sớm. Giời ơi sao tôi không nghĩ ra nhỉ. Đúng rồi, đàn bà trẻ nhỏ di tản hết đi, để cho dân binh ở lại cùng binh lính rảnh tay đánh giặc. Hay! Kế của bà hay đấy.\n- Gớm, ông cứ khen quá làm tôi ngượng. Chẳng qua tôi quẩn quanh bếp núc nên chỉ nghĩ được các việc nhỏ, còn đầu óc các ông thuần chứa những điều to lớn nên chẳng để tâm tới thôi. Nhưng ông bảo làm sớm là làm thế nào, tôi sao tự ý mà làm được.\n- Để tôi tâu lên hoàng thượng. Khi hoàng thượng có dụ rồi bà phải đứng ra quán xuyến việc này chứ.\n- Chẳng nhẽ tôi chỉ nói mà không làm sao, - phu nhân đáp.\nThái sư có vẻ băn khoăn hỏi lại:\n- Thế bà đã dự tính số gia đình và số người phải di tán là bao nhiêu chưa? Tôi thấy đông đấy, có tới cả trăm nhà, cả nghìn người chứ không ít đâu. Chỗ ăn chỗ ở khó đấy.\nPhu nhân cười xuê xoa:\n- Ông khỏi lo, tôi đã trù liệu tất cả rồi. Chỗ ăn chỗ ở cho từng nhà tôi lo hết rồi. Thì đấy, cùng với việc mua sắm khí giới, tích trữ lương thực và nơi chốn di tán tôi làm cùng một lúc. Có chỗ thu xếp được thì mượn nhà, có chỗ phải dựng nhà mới. Tôi cũng chỉ làm loàng xoàng thôi, lúc về triều thì để lại đấy cho nhà chùa làm lớp học, hoặc chia cho các nhà nghèo. Chẳng hiểu tại sao khu mật viện chỉ biết có hai việc, còn việc này lại bỏ sót chưa tâu báo lên hoàng thượng.\n- Đúng là trời cho bà xuống để dựng đế nghiệp cho nhà Trần, lo toan cho con cháu nhà Trần. Nhà vua biết việc này chắc khen bà cô lắm đây.\nPhu nhân nguýt dài thái sư rồi nói giễu:\n- Chú cháu ông suýt nữa thì ghép tôi vào tội tru di còn khen, khen cái nỗi gì.\n- Bà chỉ được cái thù dai.\nVua Thái tông sau khi đi duyệt một vài chủng quân về, ngài thật sự hài lòng, liền vào cung Thủy Tĩnh thăm Thái sư.\n- Bệ hạ vừa về chắc có tin vui? - Thái sư hỏi.\n- Thưa chú vui lắm. Thế quân lên, thế nước cũng lên. Quốc dân đồng lòng kháng giặc.\n- Thần cũng đi duyệt vài sắc quân. Ta thật hài lòng về các viên đô tướng dạy quân có kỷ cương lắm, kỹ xảo dùng các loại binh khí cũng thành thạo, mà cũng khéo nuôi quân, béo tốt, khỏe mạnh.\n- Thưa chú Lê Tần về chưa ạ?\n- Tần về rồi. Tần nói Quốc Tuấn lên trên đó cố kết được các đầu mục người man, lại đang cho tướng huấn dạy dân binh man. Nay mai nếu giặc vào cõi, chắc là người man sẽ phối với quân của Quốc Tuấn.\n- Thế thì hay lắm. Cháu không ngờ Quốc Tuấn lại thu phục được người man nhanh thế.\n- Từ lâu ta đã nói với bệ hạ: Quốc Tuấn sẽ là bậc kỳ tướng, bậc huân tướng, một cây cột trụ vững chắc của cả quốc gia này.\nBệ hạ còn được biết nhiều cái không ngờ nữa đấy. Thái sư nhìn vào hậu điện gọi phu nhân. Khi bà ra, ông mỉm cười nhìn nhà vua và thuật lại các dự định của bà.\nNhà vua cảm động ứa nước mắt, nói:\n- Quốc mẫu tuổi cao, nhẽ ra phải được dưỡng nhàn, thế mà vẫn gắn mình với nước, lo cho nước, lo cho con cháu. Công của quốc mẫu lớn lắm. Cháu vui mừng thấy thế nước được hưng lên từ mỗi nhà, từ mỗi người. Quốc mẫu thật xứng là bậc mẫu nghi thiên hạ.\nPhu nhân nghe nhà vua nói như nở ra từng khúc ruột. Bà vội cáo từ:\n- Hai chú cháu ngồi đây mà bàn việc nước.\nBóng bà khuất sau hậu điện.\nGiây lâu Thái tông lên tiếng:\n- Chú à, cháu định đại duyệt toàn quân để dấy sức quân lên nữa.\n- Bệ hạ chớ ham. Phải cấp tốc đưa quân lên trấn các nơi hiểm yếu ngay kẻo không kịp đâu. Giặc đã ba lần đưa sứ đi thuyết hàng mà không một đứa nào trở lại. Nhất định chúng sẽ khởi binh.\nĐoàn Hưng Trí mà người Mông Cổ biệt đãi cho mang tên mới là Ma-ha-la-sa sau khi nhận mệnh của Ngột-lương-hợp-thai, y hết sức lo lắng. Đoàn Hưng Trí bèn triệu em ruột của mình là Tín-thư Nhật và người chú là Tín-thư Phúc. Ba chú cháu bàn đến nát nước về việc làm thế nào vơ vét được đủ số lương thực dùng trong sáu mươi ngày cho một đoàn quân hai vạn người mà trong hai mươi ngày nữa phải có mặt ở A Mân.\nViên phụ trách quân lương tính ra số lương thực cho mỗi người ăn trong sáu mươi ngày nặng gần gấp rưỡi trọng lượng của chính người đó. Vậy làm thế nào có thể chuyển vận được số lương thực kia theo đoàn quân viễn chinh. Ấy là chưa nói đến việc vận chuyển binh khí dự phòng. Và nếu có kỵ binh đi theo thì số lượng cỏ khô đem theo không phải là ít.\nTính ra bảo đảm được số lương thực cho đoàn quân hai vạn người đủ dùng trong sáu mươi ngày thì số lượng phu tải lương phải cần đến sẽ lên tới ba vạn người. Ấy là vận chuyển bằng xe. Mỗi xe có ba người, một người kéo hai người đẩy chở được số lương thực đủ dùng cho năm người.\nĐoàn Hưng Trí giãy nảy người lên như đỉa phải vôi:\n- Không thể được. Như thế có khác gì kéo cả một đội quân năm vạn người đi, và số lương thực sẽ tăng gần gấp ba lần số cần thiết cho hai vạn quân. Mãi nửa chiều, viên quan quân lương mới đệ trình một phương cách:\n- Một là bắt buộc mỗi người lính phải luôn đem theo mình mười ngày lương thực. Hàng ngày người lính trích ra một phần mười số đó nộp cho nhà bếp, tối lại được kho cấp bù. Hai là ra khỏi biên cương ngày thứ nhất đã có thể cho một nghìn người quay trở lại. Và cứ thế ngày nào cũng có người quay trở lại và tới ngày thứ hai mươi chỉ cần giữ lại năm nghìn binh phu để làm các việc cần thiết. Ba là số kỵ binh, chủ tướng chỉ có thể đem theo bao nhiêu tùy ý, nhưng số ngựa cho kỵ binh thì không thể quá một nghìn con. Nhưng sẽ có hai nghìn con ngựa khác tham gia tải lương, tải cỏ. Khi vào trận, chủ tướng có thể dùng tạm số ngựa tải này làm ngựa chiến. Bởi lũ ngựa tải này cũng từ ngựa chiến thải ra theo cách chọn lựa của các tướng Mông Cổ, chứ thực ra chúng còn khỏe lắm.\nChú cháu, anh em nhà Đoàn Hưng Trí đã bàn xong công việc. Đoàn Hưng Trí sẽ đích thân cầm hai vạn quân viễn chinh Thoán, Bặc để phối với đại quân của thái sư Ngột-lương-hợp-thai. Người chú là Tín-thư Phúc sẽ là tướng tiên phong. Còn em trai của Trí là Tín-thư Nhật được tạm quyền coi giữ nước. Thực ra lúc này người Mông Cổ đã chia nước Đại Lý thành quận huyện của họ rồi. Đại Lý được phép cử các chức quan bên cạnh các quan Mông Cổ để tiện việc cho họ sai phái.\nChú cháu Đoàn Hưng Trí đưa đủ cả quân, lương tới A Mân đúng kỳ hạn, Ngột-lương-hợp-thai mừng lắm. Y ban lời khen ngợi vỗ về.\nSau ba lần cử sứ vào Đại Việt không thấy một người nào trở lại, Ngột-lương-hợp-thai không còn đủ kiên nhẫn nữa. Ông cho triệu các tướng đến hội.\nCác tướng vừa an tọa xong, chủ tướng liền hỏi:\n- Tríệt-triệt-đô, du binh của ngươi vào sâu đất Đại Việt được bao nhiêu dặm, có gặp cản ngại gì không, có thấy dấu hiệu khả nghi nào không?\n- Tâu chủ tướng, ngày thứ nhất tiểu tướng cho quân đi vào sâu đất giặc năm dặm, đi tản về hai phía, mỗi phía chừng mười dặm nữa. Tuyệt nhiên không gặp sức chống cự nào, không gặp một người dân nào. Ngày thứ hai quân thám vào sâu hai chục dặm. Ngày thứ ba vào sâu ba chục dặm. Càng vào sâu rừng càng rậm rạp, đường đi càng khó khăn, vẫn không gặp quân nó, không gặp dân nó. Thấy nói dân nó ít lắm và nhát lắm. Có khi nghe danh đại vương, chúng nó chạy vào hang núi ẩn nấp hết rồi.\nBẩm, có lần tiểu tướng đã dẫn du binh vào sâu đất giặc tới năm chục dặm, nhưng quay lại ngay vì sợ giặc có mưu nhử quân ta. Tuy vậy, vẫn không thấy một dấu hiệu gì ở miền biên địa này có quân Đại Việt đồn trú. Còn dân chúng chỉ thấy loáng thoáng vài mái nhà nhỏ xíu nằm nép dưới rừng cây, tuyệt nhiên không thấy có bóng người đi lại.\nNgột-lương-hợp-thai nhìn tận đáy mắt viên tướng Tríệt-triệt-đô hỏi:\n- Ngươi đã vào sâu đất giặc tới năm chục dặm, vậy chớ cảm nghĩ của ngươi về cái nước Đại Việt này thế nào?\n- Thưa chủ tướng, cứ như sự suy đoán của tiểu tướng thì dân nước này còn man mọi lắm, vua nó cũng ngu lắm, không thể so với nước Đại Lý được.\n- Vì sao ngươi nói vậy?\n- Dạ là bởi nếu dân nó khôn thì nghe tiếng vó ngựa của quân ta tới, chúng phải kéo nhau ra đón chứ. Vua nó nghe danh thái sư, phải đem theo quần thần tới trướng xin quy hàng như ngài Ma-ha-la-sa đây mới là người trí chứ. Để làm gì à? Để dân nó không bị quân ta làm cỏ, kinh thành nước nó, mồ mả tổ tiên nó không bị quân ta biến thành gò hoang chứ sao.\n- Phải! Ngươi nói phải. Thiên hạ còn lắm kẻ ngu, Đại Hãn mới phải cho quân đi chinh phục, đi khai sáng. Thôi được, ta sẽ bắt vua nó là Trần Nhật Cảnh về nướng trên lửa như nướng cừu. Ta sẽ đạp đổ thành Thăng Long và biến nó thành vùng đất chết. Các tướng nghe lệnh ta đây. Tất cả hãy nhìn vào chiếc bản đồ này. - Vừa nói Ngột-lương-hợp-thai vừa chỉ lên tấm bản đồ hình thể núi sông của Đại Việt to bằng chiếc chiếu đôi treo trên vách tường: - Đây là A Mân, là nơi ta đang đóng quân, sẽ thẳng theo đường này qua Mông Tự mà vào đất giặc. Đây là con sông\n[64], cứ men theo hai bờ tả hữu ngạn của sông tới đoạn này thì gặp nơi ba con sông [65] giao nhau rồi cứ men theo con sông này theo hướng đông nam mà vào Thăng Long. Chỉ tay về phía Đoàn Hưng Trí, Ngột-lương-hợp-thai nói:\n- Ma-ha-la-sa, cứ theo Triệt-triệt-đô nói thì giặc sợ oai ta bỏ chạy hết rồi. Vậy ta cho ông đem quân đi tiên phong mà lập công. Vả lại quân ông chạy bộ đi chậm phải đi trước. Đi trước gặp giặc thì đánh, gặp suối sâu thì bắc cầu, gặp bất cứ vật gì cản trở thì hất nó đi, tức là quân tiên phong có trách phận mở đường cho đại quân ta khi xuất phát là không có gì cản trở trên đường đi. Ngày mai ông xuất binh; phải kiểm xét mọi thứ cho chu đáo trước khi xuất chinh.\nNhìn Đoàn Hưng Trí với vẻ cảm thông, Ngột-lương-hợp-thai lại nói: - Ta chỉ tiếc mùa này nước cạn, vì đã sắp sang tháng chạp, nếu không quân ông đi thuyền thì nhàn sức lắm. Thế nhưng mùa này khô ráo lại hợp với quân ta, cả người và ngựa đều hợp.\nQuay về phía các tướng, Ngột-lương-hợp-thai nói:\n- Ta sẽ đem theo ba vạn quân kỵ tinh nhuệ nhất cùng với hai vạn quân của Ma-ha-la-sa đánh vào Đại Việt.\nKhi xuất chinh, Triệt-triệt-đô lĩnh ba nghìn quân làm đội tiên phong. Hậu quân do phò mã Hoài-đô và tướng A-truật, mỗi người lĩnh năm nghìn quân. Trung quân do ta thống suất với mười bảy nghìn quân còn lại.\nDò biết thế giặc mạnh, Quốc Tuấn bàn với các đầu mục Hà Khuất, Hà Bổng sẽ không cản trở quân của Đoàn Hưng Trí để nuôi vỗ lòng kiêu mạn của đám quân Mông Cổ. Chỉ dùng bẫy đá lưa thưa trên đường hành quân của kỵ binh Mông Cổ, và quân phục kích đánh tập hậu cũng chỉ dăm bảy người lách trong rừng rậm bắn hạ sát chúng xong liền rút sâu vào trong, giặc có tản ra hai bên sục tìm cũng không có đường cho người ngựa đi vào. Như vậy giặc chỉ nhận được cái chết bất ngờ mà không biết kẻ thù của chúng là ai. Và nữa dọc đường tiến quân của giặc, dân chúng sẽ di tản hết thóc lúa, trâu bò để vườn không nhà trống khiến giặc không kiếm được miếng gì gọi là lương thực, thực phẩm. Tất cả phải bảo toàn được lực lượng để nếu cần sẽ quay về xuôi đánh vào sau lưng nó, hoặc nếu giặc thua thì tiêu diệt nó trên đường tháo chạy.\nSau khi bàn bạc với Thái sư, nhà vua không đại duyệt toàn quân nữa mà đích thân Thái tông đưa quân đi lập phòng tuyến cản giặc. Thái sư ở lại cùng với quân Thiên thuộc và Củng thần cùng với cả mấy chục đô dân binh được trang bị khí giới đầy đủ để bảo vệ kinh thành. Hoàng thái tử Trần Hoảng và em là Trần Quang Khải cũng ở lại Thăng Long được Thái sư sai coi quân Thiên thuộc và Củng thần cùng các đô tướng.\nQuốc mẫu đã đưa hết con cháu cùng gia quyến các nhà trong hoàng cung và hoàng tộc về Long Hưng từ sau khi có dụ của nhà vua. Phu nhân xếp cho đám nội nhân, nội thị và các cung tần ở ngay dinh cũ của đức Thái tổ (Trần Thừa) nơi làng Phù Ngự.\nThăng Long bỗng chốc trở nên vắng vẻ, hoang rỗng bởi dân chúng và cả các nhà buôn cũng đóng cửa để đi di tản. Các sắc quân nườm nượp di chuyển lên các phòng tuyến, nơi nhà vua bày trận cản giặc.\nBình Lệ Nguyên nơi xưa nay vẫn là một vùng quê yên ả, có đồng ruộng, có bãi bồi phù sa màu mỡ, đồng lúa và bãi ngô mướt một màu xanh nói lên sự trù phú, sự no đủ của dân quê quanh vùng. Xung quanh ruộng đồng và bờ bãi, xen kẽ những ngôi làng chìm sau những lũy tre xanh ngút ngàn tựa như những cánh rừng cô lẻ. Tuy vậy các làng quê, các cánh đồng và các bờ bãi kể cả dòng sông kia chỉ là những đốm loang lổ trong trùng điệp những cánh rừng nối rừng. Có nơi rừng cây còn lan tận mép sông. Thuở ấy rừng cây nhiều hơn đồng ruộng và muông thú tràn ngập bầu trời và rừng núi. Vua Thái tông đã kéo quân lên đây bày trận, nào voi chiến, ngựa chiến, máy bắn đá, quân thủy, quân bộ. Nhà vua đích thân làm tướng chỉ huy chiến trận. Tả hữu dực gồm hai viên thượng tướng dạn dày trận mạc như Lê Tần, Trần Khuê Kình và các đô tướng của các vệ tả, hữu thánh dực, tả hữu vũ vệ và các quân thiết kỵ luôn túc trực hộ giá.\nVua Thái tông mặc giáp trụ đen có giáp hộ tâm, đội mũ đâu mâu, bên sườn trái đeo thanh bảo kiếm, cưỡi ngựa sắc tía đi kiểm tra trận địa có tướng Lê Tần luôn theo sát.\nTrận địa bày xong, khí thế ba quân hừng hực. Ngày mồng mười tháng chạp, quân ta đã sẵn sàng xung trận thì nhà vua nhận được thư cáo cấp của Quốc Tuấn.\n*“… Giặc đã vào cõi. Quân Thoán, Bặc đi đông như nước chảy. Quân kỵ Mông Cổ do đích thân thượng tướng thái sư Ngột-lương-hợp-thai cầm đầu và phò mã Hoài-đô lam phó tướng. Quân Mông Cô đã bị quân ta phục kích lẻ tẻ, thiệt hại không nhiều nhưng chúng rất hung hãn…”.*\nNgày mười một du binh của Mông Cổ đã tới bến sông đối ngạn với Bình Lệ Nguyên bắn tên xuống sông thăm dò nông sâu rồi vội vã quay về thượng lưu.\nCũng từ ngày mười tháng chạp, hậu quân của ta ở hạ lưu do thái úy Trần Nhật Hiệu cầm đầu có các tướng Phạm Cụ Chích, Phú Lương hầu phụ tá đã bày xong trận.\nBa vạn quân Mông Cổ đã bỏ lại phía sau mấy vạn quân của Đoàn Hưng Trí và chiều ngày mười một tháng chạp năm Đinh Tỵ (1257) đã hội đủ bên tả ngạn, cách trận địa Bình Lệ Nguyên bên hữu ngạn của quân Trần năm mươi dặm hạ trại. Ngay tối hôm đó, Ngột-lương-hợp-thai hội chư tướng lại sai bảo:\n- Quân Trần đã bày trận lớn ở Bình Lệ Nguyên phía hữu ngạn sông này, cách ta đóng năm chục dặm đường, tức là bằng ba khắc canh giờ ngựa chạy, đích thân Trần Nhật Cảnh\n[66] vua Đại Việt làm chủ trận. Vì vậy trận này ta không chỉ đánh tan tác quân Trần, mà còn phải bắt sống Trần Nhật Cảnh, khiến nước nó phải quy hàng như ta đã bắt sống Đoàn Hưng Trí. Sau đó cả Đại Việt và Đại Lý đều là hậu phương của ta để ta lấy sức người, sức của của chúng mà đánh vào sau lưng nhà nam Tống. Sứ mệnh các tướng trong trận này lớn lắm. Các tướng nhất nhất phải theo kế của ta, kẻ nào trái mệnh để cho quân giặc chạy thoát chớ trách ta vô tình.\nNgột-lương-hợp-thai ngừng lời nhìn xoáy vào các tướng. Phút im lặng nặng nề khiến không khí như đặc quánh lại. Lát sau Ngột-lương-hợp-thai nói dõng dạc mạch lạc từng tiếng một như người đếm:\n- Triệt-triệt-đô nghe đây. Ngươi lĩnh năm nghìn quân đi xuôi về phía hạ lưu cách trận địa quân Trần mười lăm dặm, tìm cách cho quân vượt sông. Quân ngươi khi đã qua được sông chớ đánh vội. Hãy cứ ém quân chờ đó. Đối trận, ta sẽ vượt sông sang đánh vỗ mặt nó. Trong khi đó, phò mã Hoài-đô và tiểu tướng A-truật mỗi người lĩnh năm nghìn quân từ thượng lưu vượt sông đánh vòng sau lưng nó. Khi chúng phải ra sức chống đỡ mặt trước, mặt sau ngươi phải rình cướp lấy thuyền của quân nó. Ta đánh mạnh, quân Trần tan vỡ ắt phải chạy ra sông tìm đường trốn, khi ấy chúng không có thuyền trốn chạy nữa tất bị ta bắt sống.\nNói xong, Ngột-lương-hợp-thai lại nhìn các tướng một lần nữa và gặng hỏi:\n- Các tướng đã nghe rõ mệnh ta chưa? Nếu rõ rồi thì về cho quân và cho ngựa ăn uống xong đi ngủ ngay. Giờ tý xuất binh.\nĐêm yên tĩnh, gió bấc buốt lạnh, trăng sáng vằng vặc. Trận địa quân ta im phăng phắc chỉ nghe thấy tiếng voi đập tai đuổi muỗi, tiếng cú rúc và tiếng mang tác xa xa phía bìa rừng. Thỉnh thoảng còn nghe được cả tiếng chân ngựa đập móng nhè nhẹ xuống mặt đất, ấy là chúng đổi chân vì đứng mỏi.\nTừ chiều, quân thám của ta đã về báo giặc tụ quân phía thượng lưu tả ngạn cách Bình Lệ Nguyên năm chục dặm. Vua Thái tông và các tướng đều nhận định: “Có thể đêm nay vào lúc trăng lu tức là cuối giờ sửu, lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng giặc sẽ vượt sông”.\nKhoảng cuối giờ tý, quân thám của ta từ thượng lưu tế ngựa chạy về Bình Lệ Nguyên hối hả tâu vua:\n- Tâu bệ hạ, kỵ binh giặc đang rầm rập tiến xuống hạ lưu.\n- Ngươi có nhìn thấy giặc vượt sông sang hữu ngạn không?\n- Tâu bệ hạ, giặc đi theo đường mòn dọc bờ tả ngạn chứ chưa thấy có dấu hiệu chúng sang sông.\nVua nói nhỏ với Lê Tần và Khuê Kình:\n- Các khanh truyền cho quân nghỉ tại chỗ, cho phép họ uống nước hoặc đi ỉa đi đái, hút thuốc lào, cũng có thể ôm khí giới ngủ ngồi trong một khắc canh giờ cho đỡ căng thẳng, sau đó đánh thức họ dậy để sẵn sàng vào trận. Ta ngờ giặc sẽ sang sông vào đầu giờ dần. Bởi lúc đó trời đang mù. Vì vậy quân thám phải canh chừng hai đầu thượng hạ lưu, canh chừng sát mép nước. Phải vùi giặc xuống lòng sông. Phải đánh phủ đầu cho nó choáng váng.\nHai tướng nhận mệnh đi ngay lập tức.\nĐúng như nhà vua nhận định, gần về sáng sương mù dày đặc, cách mươi bước chân đã không nhìn rõ mặt nhau. Đúng lúc ấy quân Mông Cổ ào ạt cho ngựa lội tràn qua sông.\nQuân ta nổi kèn thúc trống bắn pháo thăng thiên và nhất loạt vãi tên độc từ các nỏ liên châu trên bành voi, trên mình ngựa và từ quân bộ khiến người ngựa quân giặc chết vô số kể. Giặc không hề nao núng vẫn nườm nượp sang sông. Những tên lính Mông Cổ thiện xạ vừa sang sông vừa nhằm bắn vào các nài voi, bắn thẳng vào những người lính trên bành voi. Khi sương vừa tan cũng là lúc giặc đã bám được vào mép sông. Chúng cho cả ngàn con ngựa xông thẳng vào đàn voi đang chắn phía trước như bức tường thành. Những con voi trận to lừng lững văng vòi ra quấn lấy cổ, lấy chân ngựa mà quật. Quân bộ của ta cung, tên giáo mác đứng phía sau voi bắn, đâm, xỉa, chém không để sót một tên giặc nào ngã ngựa. Giặc đánh từ giờ dần qua giờ tỵ vẫn không làm cho trận địa quân ta nao núng. Nhà vua sát cánh với các tướng căng sức ra đánh giặc. Tướng Lê Tần thúc ngựa ra vào trận địa giúp vua động viên quân sĩ.\nLúc này tướng giặc Triệt-triệt-đô đã đưa hết quân kỵ sang sông, chờ lâu sốt ruột, vả lại thấy sườn phải quân Trần có vẻ sơ sài, y bèn thúc ngựa vẫy quân xông lên áp sát quân ta. Hai bên kịch chiến rất căng, quân ta quân giặc đều chết nhưng giặc vẫn không chia cắt được trận địa quân ta.\nĐúng lúc này phò mã Hoài-đô và viên tướng trẻ A-truật con trai của Ngột-lương-hợp-thai đã từ thượng lưu vượt sông sang đánh vào sườn trái quân ta.\nA-truật công phá sườn trái, Hoài-đô vòng quân lại phía sau. Vậy là ba mặt quân ta đều thụ địch. Tuy nhiên giặc vẫn chưa phá được thế trận quân ta. Chỉ đến khi A-truật cho tập trung các cung thủ thiện xạ bắn tên độc vào mắt voi khiến voi hốt hoảng lùi lại. Khi đã có một vài con trúng thương quay đầu bỏ chạy thì cả đàn voi đều quay đầu. Thế trận của ta lúc này vỡ từng mảng.\nTriệt-triệt-đô thừa thế cho quân xông vào trận địa. Thấy thế trận nao núng, viên đô tướng túc vệ Thượng đô khuyên vua: “Xin bệ hạ hãy lùi lại phía sau, lên cao quan sát, thu quân rồi lại đánh tiếp”. Giữa lúc ấy, Lê Tần dẫn kỵ đội đánh giãn vòng vây giặc đi tìm vua và xin nhà vua lên ngựa rút ra bến thuyền. Vua\nnói lại ý của viên đô tướng túc vệ. Lê Tần vừa giục vua lên ngựa vừa nói:\n*“Bệ hạ phải coi xã tắc làm trọng. Đây là đánh giặc chứ không phải đánh bạc. Xin bệ hạ chớ nghe lời xui”*.\nVua nghe quất ngựa đi liền, cả kỵ đội của Lê Tần theo sát hộ giá. Quân ta áp sát che chắn cho vua xuống thuyền. Lê Tần sai quân chèo gấp. Giặc đuổi theo bắn tên xuống như mưa. Lê Tần lấy sạp thuyền làm mộc che tên cho vua. Giặc không cướp được thuyền của quân ta và chúng cũng không có thuyền để đuổi. Cùng lúc đó, Trần Khánh Dư xuất kích đánh vào phía sau lưng địch. Vả lại quân bộ của ta vẫn còn kháng cự và vừa lúc các tướng Phạm Cụ Chích, Phú Lương hầu dẫn một đoàn thuyền lên tiếp ứng. Phạm Cụ Chích cản được quân giặc để thuyền vua xuôi mãi về bến Lãnh My. Hai quân kịch chiến, tướng Phạm Cụ Chích trúng tên độc nên thọ tử. Trời sập tối. Giặc không dám ham đuổi. Hai bên đều lui quân.\nVua rút về đến Phù Lỗ thu quân và lập phòng tuyến cản giặc. Vua sai phá cầu Phù Lỗ, trao việc cản giặc cho tướng Phú Lương hầu. Các tướng hộ giá vua xuống thuyền xuôi về Thăng Long.\nThái sư Trần Thủ Độ ra tận bến Đông Bộ Đầu\n[67] đón vua.\nVừa trông thấy thái sư vua vội nói:\n- Giặc phá tan thế trận của ta rồi. Liệu có giữ được Thăng Long không chú? Vậy chớ phải làm thế nào đây? - Vua hỏi.\nTrần Thủ Độ bình thản lấy tay sờ lên vành cổ đáp:\n- Tâu bệ hạ, tạm thời không giữ được Thăng Long nhưng vẫn giữ được nước, nếu đầu thần còn chưa rơi thì bệ hạ khỏi lo. Hãy tạm thời lui về Thiên Mạc, thần đã sai thái úy đưa quân về đó chiều nay. Cả hai hoàng tử đều trở về Long Hưng, Thiên Trường để lấy thêm quân tiếp ứng. Về Thiên Mạc để lo kế đuổi giặc, xin bệ hạ kíp xuống thuyền kẻo quân giặc đuổi sắp tới nơi rồi. Vì rằng lực quân ta ở Phù Lỗ mỏng lắm, Phú Lương hầu sao cự nổi sức giặc đang cường.\nQuan chưởng ấn từ trong điện Đại Minh chạy bộ ra bến may kịp lên theo thuyền vua. Vua hỏi:\n- Ấn đâu, có mang theo không?\nChưởng ấn vội tâu:\n- Ấn báu thần đã cất trên nóc đại điện, chỉ mang theo ấn nội mật để bệ hạ tiện dùng trên đường đánh giặc.\nQuá nửa đêm thuyền ngự về đậu tại sông Thiên Mạc. Sớm ra, vua thấy quân đóng rải rác khắp bãi Mạn Trù. Phía xa thấy chiếc thuyền treo hiệu cờ Thái úy. Vua sai chèo thuyền ra gặp. Nom sắc diện Thái úy nhợt nhạt. Vua động lòng thương: “Chắc em ta vất vả đêm hôm đốc thúc quân sĩ nên kém ăn ít ngủ”. Vua bèn thuật chuyện quân ta đánh giặc hăng hái. “Giặc chết cũng nhiều. Nhưng sức giặc đang cường. Quân kỵ của chúng rất thiện xảo. Cuối cùng chúng liều đánh phá được thế trận của ta…”. Nói xong, vua hỏi:\n- Thái úy có kế gì phá giặc giúp ta chăng?\nNhật Hiệu không đáp chỉ cúi xuống lấy ngón tay nhấp nước viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”\n[68].\nVua lại hỏi:\n- Quân Tinh cương\n[69] đâu?\n- Gọi không đến. - Thái úy nói giọng lí nhí.\nVua sai chèo thuyền về trại thái sư và triệu các tướng đến bàn kế đuổi giặc.\nLại nói trên vùng Quy Hóa có ba ngàn quân triều đình do Quốc Tuấn thống suất. Hai đầu lĩnh Hà Bổng, Hà Khuất mỗi người có một ngàn quân.\nCả hai vị đầu mục đều sẵn sàng chịu sự điều hành của Quốc Tuấn.\nTuy vậy Quốc Tuấn chỉ bàn phối hợp sao cho ăn ý, đánh được giặc mà quân ta ít bị thiệt hại. Và từ sau khi đánh bẫy đá, đánh phục vào những tên giặc đi sau cùng, cộng tất cả giết được hơn ba chục tên Mông Cổ và hơn hai chục con ngựa, bên ta không mất người nào khiến cả hai đầu lĩnh và quân của họ hết đỗi vui mừng vừa tin vào tài thao lược của tướng triều đình vừa không sợ quân kỵ Mông Cổ nữa.\nĐội quân kỵ do tướng Ngột-lương-hợp-thai dẫn đầu bỏ lại đám quân ô hợp của Đoàn Hưng Trí gồm hai vạn binh và ba vạn phu cứ ì ạch ngày đi đêm nghỉ trong cái thế giới của rừng rậm âm u.\nKhông bỏ lỡ cơ hội, Quốc Tuấn bàn với hai vị đầu lĩnh chặn quân tiếp lương lại đánh. Tiếp lương là những điền tốt bị cưỡng bức đi tải lương cho quân, vừa mang vác nặng vừa không có khí giới nên bị đánh là chúng xin hàng ngay. Quân ta gom hết lương của giặc lại đốt rồi trói tay chúng thành một dây dài cứ mỗi dây ba chục đứa đuổi quay lại đất Đại Lý và đe: “Nếu lần sau bắt được sẽ chém đầu”. Lũ giặc van lạy rối rít hứa không dám theo quân đi nữa.\nVề tới nước, bọn này rủ nhau đi trốn không ở lại quê hương.\nĐoàn Hưng Trí từ khi bị quân ta diệt quân tải lương, đốt hết lương thực, nguồn tiếp tế bị chặn, lòng quân sinh rối. Trí muốn tiến quân theo kịp với tiền quân của Ngột-lương-hợp-thai phần lo bị đánh chặn, mà thực tế quân của Trí đã nhiều lần bị chặn đánh. Quân Thoán, Bặc ít được tập tành, chưa quen chiến trận, cứ hễ gặp đối phương phục kích hoặc chặn đánh là bỏ chạy tan tác. Phần khác Trí còn lo hơn, giả như cố liều chết cướp đường mà đi thì lấy lương thực đâu cho quân ăn hằng ngày. Cái kế của viên quan quân lương tưởng hay mà hóa dở, thế mới có tin đồn gặp giặc là chúng đã trút lương để cho nhẹ thân tháo chạy. Bởi vậy số lương thực bị vứt bỏ dọc đường cũng không phải là ít.\nĐoàn Hưng Trí rối lòng bèn triệu tướng tiên phong Tín-thư Phúc là chú họ vào trướng nội để bàn việc quân. Vừa an tọa, Trí hỏi:\n- Tình thế rối bời, tiến thoái lưỡng nan, ý chú thế nào?\nTín-thư Phúc hỏi lại:\n- Đại vương có biết quân của thái sư hiện giờ ở đâu không? Đã vào lọt trong đất Đại Việt chưa hay cũng như quân ta đang giẫm chân tại chỗ?\n- Không có tin tức gì hết. Chỉ biết lúc vượt qua quân ta, thái sư có dụ rằng: “Phải tiến nhanh để theo kịp quân kỵ, tương hỗ mặt hậu để thái sư rảnh tay tiến vào Thăng Long bắt sống vua Trần”.\nTín-thư Phúc lắc đầu nói:\n- Chính là quân mình phải dựa vào quân kỵ của thái sư để lấy cái oai hùm sói. Nay thái sư độc dẫn quân kỵ đi xa, quân ta như rắn không đầu khiến quân Việt coi thường đánh ta bất kể lúc nào. Quân ta tuy đông nhưng không có sức giao đấu.\n- Vì sao vậy? - Đoàn Hưng Trí hỏi.\n- Bởi thiếu mất mấy thứ cần yếu mà một đội quân phải có. Một là lòng cương dũng. Hai là kỹ xảo sử dụng các loại binh khí hiện có trong tay. Ba là vì ai, vì mục đích và quyền lợi gì mà người lính phải dấn thân vào nơi nguy họa. Ba điều đó chúng ta đều khiếm khuyết cả, nên mỗi bước đi như có cả ngàn cân đá đeo nặng dưới chân. Ngay đại vương cũng thế thôi, thử hỏi cuộc viễn chinh này đại vương có thấy thích thú hay bị cưỡng bức ra đi?\n- Nhưng ta muốn hỏi, ông vừa là tướng tiên phong vừa là thúc phụ của ta, làm thế nào để quân ta thoát ra được tình thế bi thiết này?\n- Khó lắm! Tín-thư Phúc lắc đầu. Tiến lên thì vừa chết đói, vừa bị quân Việt đón đánh. Chết nhưng biết có còn ai sống sót mà theo được đám kỵ binh đi nhanh như gió kia. Lui, tức quay lại nước Đại Lý may còn cứu sống được một ít sinh linh, nhưng đầu của đại vương và của ta chắc thái sư và người Mông Cổ không để cho nó nằm yên trên cổ đâu.\nLại nói quân Mông Cổ tuy có phá vỡ được mặt trận Bình Lệ Nguyên, nhưng không bắt sống được vua nhà Trần khiến Ngột-lương-hợp-thai cả giận thét: Kẻ làm tướng mà không nghiêm lệnh trên để hại cho binh uy ắt không thể tha thứ.\nBiết Ngột-lương-hợp-thai không tha thứ, tướng Triệt-triệt-đô bèn uống thuốc độc tự tử.\nSớm hôm sau kỵ binh Mông Cổ thẳng đường tiến về Phù Lỗ thấy cầu đã bị phá sập. Giặc tìm cách vượt sông và mau chóng đánh tan phòng tuyến của quân ta, tôn thất Phú Lương hầu tử trận. Quân ta mau chóng rút theo sông Cà Lồ ra sông Cái rồi xuôi về bến Đông Bộ Đầu. Tới lúc này thì không sức gì cản được kỵ binh Mông Cổ tiến về Thăng Long theo đường thiên lý.\nNgột-lương-hợp-thai dẫn quân vào Thăng Long thấy một tòa thành với những cung điện lâu đài nguy nga tráng lệ nhưng trống rỗng, cả phố xá cũng vắng tanh vắng ngắt không một bóng người, kiếm tìm ra được thứ gì ăn uống ở đây không phải là dễ.\nQuân Mông Cổ sục sạo khắp các nơi, sau tới nhà công quán, chúng tìm thấy ba tên sứ giả được cử vào thuyết hàng Đại Việt từ tháng tám, tháng chín và đầu tháng mười một, thấy cả ba tên đều bị trói ép vào cột bằng lạt tre cật, nút buộc chặt đến nỗi khi mở ra thì một tên đã chết cứng, còn hai tên kia cũng ngắc ngoải vì đói và rét, chúng cứng hàm chưa nói được điều gì.\nNgột-lương-hợp-thai tức giận sai quân đi phóng hỏa đốt cháy trụi hết cả sáu mươi mốt\n[70] phường. Và y đang dò tìm tung tích để truy đuổi vua Trần.\nTrước khi rút về Thiên Mạc, thái sư Trần Thủ Độ sai các lộ điều quân về hội tại bãi Mạn Trù. Tới ngày mười sáu tháng chạp, quân các lộ đã về hợp tại bãi Mạn Trù đông đủ. Thái úy Trần Nhật Hiệu cũng đã gọi được quân Tinh cương của ông về hội. Các hoàng tử Trần Hoảng, Trần Quang Khải cũng đưa quân từ Long Hưng và Sơn Nam Hạ đang trên đường về Thiên Mạc.\nLinh từ quốc mẫu cũng chỉ cho các hoàng tử và một vài đô tướng chỗ cất giấu số khí giới chưa phân phát hết cùng lương thực đã tích chứa để đem phân phát cho quân. Trên đường ngược sông về Thiên Mạc, thuyền quân đi san sát như lá tre. Khí thế ba quân hừng hực. Bỗng nhiên hoàng thái tử Hoảng nhìn thấy một lá thuyền trong đó có vài người đang đi ngược về phía hạ lưu. Tới gần nhìn rõ mới biết người ngồi phía trước vốn là tiểu hiệu Hoàng Cự Đà.\nVừa lúc đó Cự Đà cũng chợt nhìn thấy thái tử liền vát thuyền né tránh đi. Lúc này hai thuyền xuôi ngược đã cách nhau tới mươi trượng, hoàng thái tử sai đồng thanh hỏi: “Quân Mông ở đâu?”.\nHoàng Cự Đà quay lại gân cổ gào to: “Đi mà hỏi những người ăn muỗm ấy”.\nQuân về hội ngày một đông, khí thế đánh giặc ngày càng phấn khích. Nhà vua cho triệu Thái sư, Thái úy, các tướng Lê Tần, Khuê Kình cùng các đô tướng tại các lộ, các trấn mới đưa quân về hội để bàn kế đuổi giặc ra khỏi Thăng Long, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi.\nNgột-lương-hợp-thai chốt đóng trong kinh thành mọi thứ đều làm y ưng ý, duy có một điều không kiếm ra đó là lương thực cho người và cỏ ngon cho ngựa. Bởi mùa đông cỏ ngoài đồng vàng úa và nhiều loại cỏ hôi mọc xen kẽ nên ngựa Mông Cổ không ăn được. Trong khi đó thì cỏ khô và lương thực ngày một vơi cạn. Ngột-lương-hợp-thai nóng lòng chờ hậu quân do Đoàn Hưng Trí thống suất mãi vẫn chưa thấy tăm hơi. Mặt khác y muốn tung quân đi truy nã vua Trần nhưng với số quân ít ỏi mang theo chỉ có ba mươi ngàn tên thì đã chết mất non năm ngàn, với hơn hai ngàn hai trăm đứa bị thương nằm đó chưa đứa nào có thể nhúc nhích được còn nói gì ra trận.\nHai tên sứ giả sau mấy ngày phục cơm, phục thuốc nay đã khá, chúng thuật lại đủ mọi điều từ việc vua Trần không chịu lạy chiếu, không tiếp chiếu. Và để tăng sự thù hận y còn thêm: “Chúng nó lăng mạ thái sư, thách thức Đại Hãn và giam sứ lại chứ không thả sứ, không phúc đáp”. Ngột-lương-hợp-thai nghe hai tên sứ tranh nhau kể tội vua quan nhà Trần, máu nóng trong người y bốc sôi lên muốn quất ngựa truy tìm Nhật Cảnh ngay tức thì. Ngặt vì quân quá ít, nếu kéo tất cả ra đi lại phải bỏ trống kinh thành này, lúc quay lại hẳn đã bị quân Đại Việt chiếm mất. Vì vậy, Ngột-lương-hợp-thai cố nán chờ quân của Đoàn Hưng Trí.\nNgột-lương-hợp-thai chiếm được Thăng Long từ chiều ngày mười sáu tháng chạp, nay đã gần hết ngày hai mươi hai rồi mà vẫn bặt tin Đoàn Hưng Trí, trong khi y nóng lòng tìm bắt vua Trần, buộc Nhật Cảnh quy hàng để còn lấy đất cho đại quân qua đây mà đánh sang Ung Châu lấy đường tiến vào Đàm Châu, hội quân với Đại Hãn Mông-kha tại Ngạc Châu như kế đã hoạch định.\nRạng sáng ngày hai mươi ba tháng chạp Ngột-lương-hợp-thai nhận được mật thư của Đoàn Hưng Trí do một viên đô tướng rất thông thạo đường đi lối lại vào Đại Việt, lại biết cả tiếng nói của người Đại Việt, đem theo nhiều tiền và đồ quý vừa giả làm lái buôn, vừa để khi cần có thể dùng tiền của đó mà thoát thân. Vừa trao xong bức thư, y nằm vật ra ngất xỉu.\nNgột-lương-hợp-thai vội mở thư đọc.\n*“… Quân Đại Việt quỷ quyệt chờ cho kỵ đội của Thái sư đi qua lâu rồi chúng mới quây quân tiếp lương của ta lại đánh, thu hết lương thảo dắt đi và giết chết quân tiếp lương. Sau đó chúng ngày đêm tập kích đánh cho quân ta bải hoải. Vì quân là người Thoán, người Bặc ô hợp lại chưa được huấn dạy nên cứ hễ thấy quân giặc đến là chạy hoặc đầu hàng. Kẻ bạc đức này không biết có chống chọi được với quân giặc để rút về Đại Lý không.* *Tình thế thật là khốn quẫn, lương hết, quân vừa đói vừa rét vừa nhát sợ, mong Thái sư sớm quay binh về cứu mạng. Sợ rằng Thái sư cứ nấn ná, khi quân kia dồn xuống Thăng Long, quân ta sẽ bị cắt mất đường về…* *Thư nói chẳng hết lời. Rỏ máu mắt xin tha tội chết”.*\nĐọc xong thư, Ngột-lương-hợp-thai toát mồ hôi ướt đẫm cả lưng áo, mặc dù Thăng Long đang tiết đại hàn. Ngột-lương-hợp-thai không thèm nghĩ đến việc cứu\nĐoàn Hưng Trí và đám quân Thoán, Bặc mà y thật sự lo với lời cảnh tỉnh của Đoàn Hưng Trí:\n*“… khi quân kia dồn xuống Thăng Long, quân ta sẽ bị cắt mất đường về”*. Đó chính là nỗi lo bất chợt vừa ập đến. Viên tướng dạn dày chiến chinh này đã đạp đổ không biết bao thành trì, sát hại không biết bao nhiêu vua chúa, quả không ngờ cái nước Đại Việt chỉ bằng bàn tay với một nhúm người này mà dám chống lại đại binh Mông Cổ. Biết thế, ta đem hẳn mười lăm vạn quân kỵ thì mọi việc chắc xong rồi. Làm lỡ kế hoạch của ta, tội do hai đứa. Một là Triệt-triệt-đô ham đánh vì nó nghĩ là chắc ăn, ai ngờ quân Đại Việt chống trả kiên cường khiến ta sổng mất Nhật Cảnh. Hai là Đoàn Hưng Trí và lũ quân Thoán, Bặc nhát hèn không theo kịp quân ta làm hậu thuẫn.\nSuốt cả ngày hai mươi ba tháng chạp Ngột-lương-hợp-thai suy nghĩ rất lung. Truy bắt Nhật Cảnh hay quay về. Nếu bắt được Nhật Cảnh thì mọi chuyện êm ru. Lỡ không bắt được thì sao, và biết vua tôi nó ở đâu mà truy lùng. Ngại nhất là trên đường về gặp quân nó tràn xuống và Nhật Cảnh thấy ta lui binh lại cho quân truy đuổi. Trong khi quân ta đi lâu ngày mỏi mệt mà trước sau đều có quân địch quấn chân là điều thất lợi. Nghĩ vậy, Ngột-lương-hợp-thai ra lệnh cho các tướng phải chuẩn bị sẵn sàng, có lệnh là lên đường.\nChiều hai mươi ba tháng chạp trời rét căm căm, bầu trời xám xịt, bãi Mạn Trù mênh mông cói lác cao lút đầu người, dưới sông thuyền đậu san sát. Mùa đông nước sông cạn để phơi mép cát trắng phau viền lấy bãi cói xanh rờn, nom bờ cát như chiếc lưỡi hến khổng lồ liếm vào mặt nước sông.\nQuân các lộ, quân của các vương hầu xếp hàng tề chỉnh giáo gươm sáng lóa, cung nỏ đeo vai đứng theo hiệu cờ của các đô tướng.\nQuân các vệ như Tả hữu thánh dực, Củng thần, Thiên thuộc, Thần sách… là các sắc quân tinh nhuệ luôn theo sát bên vua để hộ giá xếp thành từng khối đứng về phía gần với nhà vua.\nTrước khi ban lệnh vua dụ:\n- Hỡi binh sĩ, để giữ kín nhẹm cho tới lúc xuất binh, các người không được tung hô chúc tụng mỗi khi ta nói. Cốt nhất nghe cho rõ hiệu lệnh để làm cho đúng.\nHỡi binh sĩ,\nHôm nay là hai mươi ba tháng chạp, nếu giặc Mông - Thát không xâm chiếm cõi bờ ta thời hôm nay các người đã được sum họp cùng gia đình làm lễ tiễn Táo quân về Trời rồi lo liệu bánh trái cho ngày tết.\nGiặc phá sự yên bình của mọi nhà kể cả ta. Vậy ta cùng các ngươi quyết kề vai sát cánh đuổi giặc ra khỏi Thăng Long, đuổi giặc ra khỏi cõi bờ ta để tết này mọi người đều được sum họp với gia đình họ mạc và xóm làng.\nHỡi binh sĩ,\nNếu các người đồng tâm nhất trí vua tôi một lòng sống chết cùng nhau quyết giữ lấy giang san bờ cõi thì hãy cùng ta giơ tay lên thề cùng với thiêng liêng sông núi.\nLập tức hàng rừng cánh tay giơ lên thẳng đứng, tỏ rõ ý chí sắt đanh của mọi người.\nVua lại dụ:\n- Các tướng cho quân nghỉ ăn cơm sớm rồi đi ngủ. Nhưng mọi sự đều phải sẵn sàng. Giờ khởi binh phá giặc ta sẽ báo sau.\nQuân nhanh chóng tản ra ai về thuyền ấy.\nCơm nước xong xuôi, quân phải đi ngủ nhưng binh khí vẫn mang trên người.\nCác đô tướng đã được lệnh, đầu giờ tí có tiếng pháo nổ làm hiệu, các thuyền nhất loạt xuất quân. Thuyền đổ ra chật sông, tiếng khua nước rào rạt.\nHoàng thái tử Trần Hoảng lĩnh ấn tiên phong đi trên chiếc lâu thuyền Kim Ngư có Khuê Kình làm phó tướng. Vua Thái tông đi với đạo trung quân trên chiếc lâu thuyền Kim Phượng có tướng Lê Tần dưới trướng.\nCác vệ quân hùm sói đều chia ra đi hộ vệ trên các thuyền áp sát thuyền ngự và thuyền của hoàng thái tử.\nĐại quân theo vua tiến ra sông Cái rồi ngược về bến Đông Bộ Đầu và tỏa ra vây hãm quân giặc trong thành.\nĐạo quân đi đường bộ gồm đủ tượng binh, kỵ binh hội quân ở Sơn Nam Thượng tiến về Thăng Long từ lúc sẩm tối.\nThái sư Trần Thủ Độ tiễn vua lên thuyền còn dặn:\n- Bệ hạ cứ yên tâm đuổi giặc, còn hai vạn quân, thần sẵn sàng lên đường tiếp ứng sát cánh cùng bệ hạ phá giặc.\nVua Thái tông nói vui:\n- Quốc phụ cứ kê gối ngủ cho ngon giấc, ngày mai trẫm sẽ cho quân về rước quốc phụ vào điện Thiên An.\nThuyền quân đi được chừng nửa canh giờ bỗng có gió đông nam thổi nhẹ. Lát sau gió thổi mạnh hơn. Các thuyền đều giương cả hai buồm. Chèo gác mái. Thuyền lướt nhẹ trên mặt nước mà nhanh như ngựa chạy. Đầu giờ dần các thuyền đã đổ hết quân lên bờ. Các đô tướng nhanh chóng đem quân của mình đến phục tại các nơi hiểm yếu đã định. Sương giăng trắng cả kinh thành. Bỗng từ đâu đó pháo hiệu nổ ran. Kèn thổi inh ỏi, trống thúc liên hồi.\nQuân ta từ các nẻo ào ạt xông vào trại giặc.\nNgột-lương-hợp-thai là một viên tướng lão luyện. Từ khi nhận được thư cấp báo của Đoàn Hưng Trí, y đã định rút quân nhưng còn phân vân. Tuy nhiên, y bắt các tướng phải cho quân nai nịt sẵn sàng, bất cứ lúc nào có lệnh là lên đường ngay. Y mơ hồ cảm thấy quân Đại Việt sẽ tiến đánh chỉ trong khoảnh khắc. Vì vậy khi nghe thấy hiệu kèn của quân ta, Ngột-lương-hợp-thai ra lệnh cho quân không được lấy bất cứ một thứ của cải nào mang theo. Kẻ nào trái lệnh các đô tướng cứ chém không cần tâu báo. Dọc đường gặp quân chặn phải cố đánh cướp lấy đường mà chạy. Những kẻ chết bỏ lại, kẻ bị thương không tự chạy được cũng bỏ lại. Nếu chậm trễ các người sẽ không có đường về.\nVừa nói xong, y ra lệnh:\n- Tất cả lên đường trở về Đại Lý. A-truật đoạn hậu.\nThế là quân Mông Cổ ào ạt chạy, nhanh hơn nhiều khi nó đến.\nQuân ta bốn mặt bổ vây nhưng tiền quân của giặc đã chạy khỏi Thăng Long. Kỵ đội của ta xông lên đánh, giặc vừa đỡ vừa chạy. Quân cung nỏ của ta bắn như vãi tên về phía giặc. Người, ngựa của giặc chết lăn quay khá nhiều. Những con ngựa Mông Cổ to cao đổ kềnh, bốn vó giơ lên trời giãy đạp trong thinh không một lát rồi gục hẳn. Những tên lính Mông Cổ bị trúng thương gục trên mình ngựa, theo đà ngựa cứ phi nhanh về phía trước văng cả tên kỵ sỹ khỏi mình ngựa nhưng đôi chân còn mắc dính vào yên cương còn đầu thì kéo lê trên mặt đất. Có những đứa ngả người tránh tên núp mình vào bụng ngựa, y tránh được phía tả liền bị quân phía hữu bắn trúng, buông xuôi hai tay, mặt úp vào bụng ngựa. Ngay cả những con ngựa không còn chủ ấy cũng lần lượt bị bắn gục. Quân Mông Cổ tuy chết, nhưng chúng không hề cứu nhau. Chúng giẫm đạp lên xác của nhau lấy đường trốn chạy.\nTuy vậy, quân Mông Cổ cả người và ngựa đều khỏe, chúng lại chạy thục mạng để tìm đường sống nên khoảng cách giữa quân ta và giặc cứ xa dần. Và ra khỏi Thăng Long chừng hơn trăm dặm, quân ta không đuổi theo nữa, nhưng giặc vẫn chạy căng hết sức ngựa. Đoàn quân Mông Cổ bại trận do hai cha con Ngột-lương-hợp-thai, cha dẫn đầu, con đoạn hậu lần đầu tiên nếm mùi Đại Việt, đã táng đởm kinh hồn tháo chạy không còn phân biệt được trời đâu đất đâu.\nKhi cảm thấy không còn bị quân Đại Việt săn đuổi, Ngột-lương-hợp-thai hãm ngựa cho quân đi nước kiệu để chúng vừa nghỉ vừa ăn uống.\nĐuổi được giặc ra khỏi Thăng Long, vua tôi hoan hỷ. Vừa về lại trong cấm thành, việc đầu tiên của quan Chưởng ấn là sục ngay vào điện Đại Minh lấy thang bắc lên mái nhà sờ tay vào chỗ sát đấu kèo với rường nhà tìm lại được ấn báu.\nGiặc chỉ đốt phá ngoài phường phố chứ trong cấm thành không hề có dấu hiệu phá phách, chứng tỏ chúng có ý định chiếm đóng lâu dài.\nVì cận ngày Tết, vả còn chờ các tướng ngoài biên trở về báo tiệp, vua cho các cơ quan trong lục bộ và các đài, sảnh, viện lo cứu trợ cho các nhà ngoài phố bị giặc tàn phá. Cái chính là cùng với các quan sở tại lo cho những người có nhà bị cháy, hoặc có người chết do tử trận hoặc do giặc giết, nhất thiết trong ba ngày tết phải có chỗ ở tạm, có nơi cúng gia tiên, và vậy mọi việc phải cấp kỳ làm gấp.\nVua Thái tông cũng răn phủ Tông chinh tết này chỉ sửa hương hoa bánh trái dâng cúng tổ tiên chứ không được mổ lợn mổ bò, cỗ bàn yến tiệc. Vua cũng dụ bảo ty Thái chúc\n[71] tết này bỏ lệ vua thết yến các quan vào đầu năm mới. Tất cả đều phải kiệm ước, phải chia sẻ với nỗi bất hạnh của người dân.\nLại nói Quốc Tuấn phối với dân binh người man của Hà Khuất, Hà Bổng ở Quy Hóa giang đánh tan đội quân đông tới gần năm vạn người vừa lính vừa phu của Đoàn Hưng Trí, khiến chúng chết tới quá nửa và tan tác chạy tháo về đất mẹ mà mặt mày vẫn còn tái mét, tim đập chân run. Tạm thoát được thân, nhưng Đoàn Hưng Trí còn lo Ngột-Lương-hợp-thai không tha tội chết vì đã để thua trận. Đoàn Hưng Trí có biết đâu rằng chủ của y cũng đang lâm vào cảnh ngộ chẳng khác gì y.\nQuốc Tuấn chưa vui trọn niềm vui đánh tan đội quân Thoán, Bặc thì đã nghe Thăng Long thất thủ. Ông đang bàn với hai vị đầu mục gom góp thân quân rồi cùng kéo về xuôi góp sức với triều đình đánh giặc. Việc đang tiến hành lại nhận được mệnh vua.\nViên tín sứ cưỡi ngựa lưu tinh vừa móc được tờ chiếu ở trong lồng ngực ra trao cho Quốc Tuấn thì y ngất xỉu, và con ngựa bọt sùi trắng mép cũng từ từ quỵ xuống.\nKhông kịp lạy chiếu, Quốc Tuấn mở đọc ngay. Ông không tin vào mắt mình nữa. Vội gọi các viên đầu mục lại cùng xem.\n*“… Quân Mông Cổ đã bị đánh bật ra khỏi Thăng Long. Chúng đang trên đường chạy trốn. Tướng quân kíp phối với các vị đầu mục đánh cho giặc không có đường về…”.*\nNgay lập tức quân chia đi phục tại các nơi đã dự liệu. Quả nhiên đêm đó giặc chạy tới trại Quy Hóa. Ngựa chúng phi như gió bỗng sập hố con nọ đè lên con kia, đè lên cả những tên kỵ mã.\nTiếng ngựa rống, tiếng những đứa bị ngựa đè đang ngắc ngoải kêu cứu. Mặc tất cả, những kẻ đi sau cứ vượt lên. Trong khi đó quân của Hà Bổng với hàng trăm cây nỏ cứng bắn tên độc chặn đầu quân giặc. Ngựa của Ngột-lương-hợp-thai vừa dừng lại, chưa kịp khuỵu xuống thì hai tướng tả hữu hộ vệ lướt ngựa qua, y nhẹ co mình để thoát khỏi lưng con ngựa chết, thoắt đã ngồi sau các viên tả hữu hộ vệ.\nNgột-lương-hợp-thai nắm lấy dây cương và khẽ đẩy vào lưng viên hữu hộ vệ. Tên này vừa uốn mình đã bật khỏi lưng ngựa và bắn sang ngồi phía sau viên tả hộ vệ. Tất cả các việc trên đều diễn ra trong đêm tối và chỉ thoáng như một chớp mắt.\nMặc dù bị chặn đánh nhiều nơi, quân Mông Cổ bị băm ra từng khúc nhưng chúng không hề đánh trả chỉ cắm đầu cắm cổ thúc ngựa chạy.\nKhi về tới A Mân cả người, ngựa của chúng đều rã rời xơ tướp ra như tàu lá chuối bị bão xé cho rách bươm. Quân, tướng, người, ngựa đều thất thần.\nNgột-lương-hợp-thai cho kiểm lại trong số ba vạn quân ra đi chỉ còn lại non mười ngàn đứa. Hắn lẩm nhẩm: “Không chỉ có thế, ta còn mất thêm viên dũng tướng Triệt-tríệt-đô khiến ta đau lòng. Nếu kể cả số quân Thoán, Bặc nữa thì ta mất tới gần năm vạn quân, đây đúng là mối hận của ta. Bởi mấy chục năm theo Đại Hãn đi chinh chiến, ta chưa hề thua một trận nào thế mà cái bọn man di An Nam Giao Chỉ này dám trêu tức ta, hãm hại sứ giả của ta, rắp tâm kháng mệnh thiên tử, chống lại đại binh của ta. Hẹn bình xong nhà nam Tống, ta sẽ tâu với thiên tử đem binh làm cỏ nước Nam, Thăng Long sẽ thành bình địa”.\nĐứng trước đoàn quân thất trận, viên dũng tướng lừng danh Ngột-lương-hợp-thai rút thanh trường kiếm cao giọng đe:\n*“Kẻ nào dám tiết lậu các việc vừa qua ở Đại Việt làm nhụt nhuệ khí và binh uy của ta ắt bị chém bêu đầu”*. Nói xong y huơ thanh trường kiếm một vòng. Lưỡi kiếm sáng xanh vút đi như một lóe chớp khiến binh sĩ sợ sệt, tự nhiên chúng đều so vai rụt cổ, tựa như né tránh một lưỡi gươm vô hình vừa lướt qua.\nQuốc Tuấn được quân thám về báo, giặc đã chạy ra khỏi biên thùy, ông liền giao cho viên đô tướng một ngàn quân ở lại cùng với dân chúng và các đầu mục canh giữ biên cương. Chia tay các vị trại chủ và dân chúng, ai nấy đều tỏ lòng luyến nhớ vị tướng trẻ tài ba dũng lược cùng đội quân gan góc của triều đình.\nQuốc Tuấn dẫn quân xuống thuyền xuôi về Thăng Long báo tiệp.\n\nMông Cổ là đội quân tàn ác khét tiếng dưới gầm trời. Giết người, cướp của vơ vét không thiếu một thứ gì. Thế mà vào Thăng Long bao nhiêu của cải và đồ sang, quý nó không lấy đi một thứ gì. Ngay cả trên đường tháo chạy cũng không đốt nhà, giết người, cướp của. Dân cứ ngoa đồn nó là “Giặc Phật”. Nhưng mọi người đâu có biết rằng nó bị quân ta đánh giập đầu, đứt đuôi phải hốt hoảng tháo chạy cốt để thoát chết, sao còn dám nghĩ đến việc cướp của mang theo.\nQuốc Tuấn về triều tâu báo lại diễn biến mọi mặt trên chiến trận biên thùy, và việc cố kết các đầu mục người man làm phên giậu, được vua khen.\nQuốc Tuấn xin vua khen tặng công lao cho các đầu mục, nhất là Hà Bổng vừa dũng cảm, mưu trí vừa xuất của nhà nuôi quân. Trong các trận phục đánh quân Mông Cổ trên đường tháo chạy, Hà Bổng lập công đầu, giết được nhiều giặc nhất kể cả quân Thoán, Bặc và quân Mông Cổ.\nVua sai triệu các quan trong ngoài về triều hội vào ngày sóc tháng mạnh xuân.\nThái sư Trần Thủ Độ có vài dự nghĩ muốn bày tỏ với nhà vua trước khi diễn ra triều hội. Vì vậy thái sư vào thẳng tiện điện gặp vua.\nVừa trông thấy thái sư, nhà vua mời vào nội điện và nói:\n- Có việc gì mà chú không gọi cháu đến? Chú tuổi cao nên bảo trọng.\nTrần Thủ Độ cười khà khà:\n- Bệ hạ thương thần ban trọng ân thế đã là quý. Vả lại, tuy tuổi cao nhưng sức vẫn chưa đến nỗi nào. Vừa rồi giặc Mông - Thát vào, thần vẫn muốn cầm quân ra trận, nhưng bệ hạ lại sai giữ các việc ở hậu quân hóa ra trở thành một thứ lão giả an chi.\nNhà vua nói lời an ủi:\n- Chú đừng nghĩ thế. Cứ gì phải cầm quân ra trận mới là tướng giỏi. Chú ở trong màn trướng mà quyết việc ngoài ngàn dặm không sai một ly. Cho tới nay trong nước ta chưa ai thay được chú.\n- Ấy chết, bệ hạ nói sai rồi. Quyết cả việc trong lẫn việc ngoài của đất nước hiện nay đều ở bệ hạ, việc nào cũng được người trong nước tin theo. Cứ xem trận đánh quân Mông - Thát vừa qua thì đủ rõ. Dân nước cứ ùn ùn kéo nhau xin ra trận, chẳng có người dân nào sợ giặc. Chăn dân được dân yêu trọng, dám xông vào chỗ muôn chết mà không so đo tính toán gì. Đấy là cái được lớn nhất của bệ hạ, không phải người làm vua nào cũng có được cái đức ấy đâu.\nVì sao vậy? Vì rằng bệ hạ đã lấy ý muốn của muôn dân làm ý muốn của mình. Lấy cái tâm của thiên hạ làm cái tâm của mình. Đúng như lời răn của Phù Vân quốc sư nói với bệ hạ khi lên Yên Tử.\nCòn về đường nhân tài của nước cũng chưa bao giờ nở rộ thế này đâu. Xem ra Lê Tần mưu trí, phương lược đã vào hàng thượng thừa. Trần Khuê Kình cũng là tướng lão luyện đáng tin. Trần Khánh Dư vừa mưu vừa dũng, xuất hiện đúng lúc nên chia được sức giặc khiến Lê Tần đưa được bệ hạ xuống thuyền lui quân đúng lúc, đẩy giặc vào thế hẫng hụt. Chưa đánh được quân ta mà giặc đã mất tướng giỏi. Khánh Dư sau này đáng mặt là một trí tướng.\nHai hoàng tử Trần Hoảng, Trần Quang Khải đang hé lộ là những bậc chân tài. Cái đức của Hoảng nối được chí của bệ hạ. Các tay tam khôi hai khóa gần đây và các thái học sinh lấy vào làm việc ở các cơ quan, đều là những người có thực tài, có phẩm chất đáng khen. Nhất là Nguyễn Hiền với những binh khí chế tác vừa qua đem dùng trong quân vừa tiện vừa có hiệu quả.\nNghe Thái sư nói hàng loạt các nhân tài, nhà vua thấy đúng cả. Đáng khâm phục hơn là Thái sư nhìn nhận họ rất trân trọng, đánh giá họ rất công bằng. Nhưng tại sao không thấy Thái sư nói gì về Quốc Tuấn. Cũng không đả động gì đến Nhật Hiệu.\nNhà vua nhẹ hỏi:\n- Thưa chú, cháu muốn mời chú uống một ly rượu cho ấm bụng, chú vui lòng.\nTrần Thủ Độ vuốt râu cười xởi lởi:\n- Trời lạnh, được hoàng thượng ban ngự tửu thì còn gì bằng. Nhưng bệ hạ sai hâm nóng lên, uống cho nó thơm.\nTrong khi chờ đám quan nội hầu hâm rượu, thái sư lại nói tiếp:\n- Còn một việc trọng yếu thần hết sức lưu tâm bệ hạ. Tức là quân Mông Cổ thua ta trận vừa rồi không phải nó đã chịu bỏ cuộc đâu. Hiện thời nó tạm gác lại đấy. Nó ngoạm xong nhà nam Tống, lập nền thống trị nước Trung Hoa xong rồi, nó dùng cái kho người kho của vô tận ấy để lần lượt nuốt các nước khác, mà ta là miếng mồi đầu tiên, vì nó vừa ngon, thơm lại vừa rửa được hận nữa. Cho nên cái lo của ta là lo về họa Mông - Thát đấy. Bệ hạ tính sao? Thái sư gặng hỏi.\n- Thưa chú, lại phải dựa vào dân để dựng lấy một đội quân mạnh mà giữ nước thôi chứ còn làm cách nào nữa.\n- Quân mạnh, bệ hạ nói đúng. Không có quân mạnh không giữ được nước. Nhưng quân mạnh trao cho tướng hèn thì mất nước là cái chắc.\n- Chú chẳng vừa khen mấy vị tướng giỏi kia sao?\n- Đành rằng vậy. Lê Tần, Khuê Kình vừa đáng trọng vừa đáng khen, nhưng tuổi cũng đã cứng rồi. Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư còn phải nuôi vỗ nữa. Duy có Quốc Tuấn là tướng tuy còn trẻ, song mưu lược ở con người này xem ra đã chín. Ta xem cách thu phục người man, cách sát cánh cùng họ lấy một chọi mười mà thắng mỹ mãn, đánh tan mấy vạn quân của Đoàn Hưng Trí dễ như trở bàn tay, đủ biết Quốc Tuấn có tài làm tướng thiên bẩm. Ta nói thật với bệ hạ, nếu không có Quốc Tuấn phối với mấy đầu mục chặt đứt được cái đuôi ấy, sao Ngột-lương-hợp-thai chịu nhả Thăng Long cho ta. Phải nói là nó chạy. Nó chạy một cách hốt hoảng vì sợ không có đường về. Cho nên ta chỉ xin bệ hạ sớm muộn cũng nên trao quyền thống suất việc quân cho Quốc Tuấn. Nếu bệ hạ nhận lời thì dù ta có ra đi cũng yên tâm. Vì ta tin chỉ có Quốc Tuấn mới trị được đám quân Mông Cổ. Phải đánh bọn ấy bằng mưu lược chứ phô sức mạnh thì ta không phải là đối thủ của chúng đâu.\n- Dạ, những điều chú dạy đều đúng cả. Cháu sẽ cho thực thi. Riêng việc Quốc Tuấn phải từ từ, bỗng chốc đặt Quốc Tuấn trên Lê Tần trong lúc này có thể sái.\nQuan nội hầu đem rượu ra. Nhà vua mời rượu Thái sư. Mùi rượu nóng tỏa hương thơm phức. Thái sư đón lấy bát rượu từ tay nhà vua nói:\n- Tạ ơn hoàng thượng ban rượu quý. Và ông lại nói tiếp:\n- Ấy là chú cứ nói vậy, còn hoàng thượng lựa lúc nào thuận thì cắt đặt. Cái chính là ta không bỏ sót người tài, dù là con cháu ta hay người ngoài cũng vậy thôi.\n- Vâng đúng như thế. Chú còn điều gì dạy bảo cháu xin nghe.\n- Còn mấy việc nữa chú sẽ nói theo như chú nghĩ, bệ hạ cứ cân nhắc việc nào có lợi cho nước thì làm, việc nào không có lợi thì thôi. Vì rằng người già hay lú lẫn nói trước quên sau, nói rồi lại ngỡ mình chưa nói nên nói lại trở nên lắm lời, bệ hạ bỏ qua, đừng chấp. Ấy là việc chú định nói mà chỉ sợ bệ hạ cho là càn rỡ… Thái sư ấp úng vẻ khó nói.\nĐoán được ý ông chú có điều gì tâm huyết nhưng đụng chạm đây, nên chú còn băn khoăn chứ thực ra trong đời, người này có biết sợ ai đâu. Nghĩ vậy nhà vua nhìn Thái sư có ý giục:\n- Chú đã bảo chú chỉ nói những việc có quan hệ đến dân đến nước, thế thì có gì chú phải đắn đo nữa.\n- Thì đây, cái việc này là việc thần muốn nói nhưng lại đang cân nhắc, thôi thì thần cứ nói, nghe hay không tùy bệ hạ. Ấy là hoàng thái tử Hoảng đã lớn, uy nghi cốt cách, đức độ, tài năng đang nở, thế thì trao ngôi báu cho Hoảng đi, bệ hạ lên ngôi thượng hoàng mà giám sát. Cứ để cho Hoảng tập dượt cho quen thạo việc nước dần đi. Năm mười năm sau Hoảng đủ tài đủ sức của một bậc minh vương rồi, lúc ấy bệ hạ lui hẳn về mà tham cứu đạo Thiền như bệ hạ hằng mong có hơn không.\nThái sư ngừng lời, nhìn nhà vua để dò thăm ý tứ.\nNhà vua thật sự xúc động liền đứng dậy vái Thái sư một vái và nói:\n- Ôi thưa chú, việc đơn giản thế sao cháu lại không nghĩ ra nhỉ. Nếu Hoảng sớm đảm đương được việc nước để cháu lui về tham cứu đạo Thiền thời đó mới là sở nguyện của cháu. Nói thật với chú, cháu đang cần thì giờ, lúc nào cũng tất bật như nhà khó phải đi ăn đong vậy. Cháu đang trước tác lại xảy ra việc quân Mông Cổ lăm le vào cõi, thế là mấy năm nay lao vào lo việc quân việc nước, chẳng viết thêm được chữ nào. Phải, cháu phải trao ngôi nước cho Hoảng rồi giám sát nó một thời gian cho đến khi có thể giao hẳn mọi việc. Tựa như chú đã kèm cặp cháu đấy.\n- Thì chính là rút từ việc chú đã làm với bệ hạ, nên chú mới bảo bệ hạ thử làm, chứ chú có tài ba thánh tướng gì đâu. Vậy là chỉ còn một việc nữa, việc này là việc riêng của thần, xin bệ hạ gia ân.\nNhà vua lấy làm ngạc nhiên với ông chú, vì con người này chưa bao giờ thèm xin xỏ cái gì cho bản thân mình, cho con cháu nhà mình. Thế mà nay lại nói đến gia ân cho một việc riêng. Với vẻ tò mò muốn biết, vua hỏi:\n- Chú cứ nói đi, một việc chứ mười việc cháu cũng không làm trái ý chú.\n- Vậy thì bệ hạ cho thần thôi giữ chức Thái sư. Thôi hẳn mọi việc. Nên trao chức này cho người trẻ tuổi xứng đáng để họ giúp rập bệ hạ, phò hoàng thái tử mưu việc lớn cho nước. Nói xong, Trần Thủ Độ lấy từ trong ống tay áo thụng ra một chiếc hộp ngà, trong đựng con dấu. Một tay bê một tay mở nắp, tay Thái sư hơi run, con dấu đổ nghiêng thấy rõ hàng chữ triện: “Thái sư thủ ấn”.\nĐây là thủ ấn, thần nộp trước bệ hạ, còn biểu xin thoái chức hồi hưu thần sẽ dâng vào phiên chầu tới. Đại ấn vẫn để lại bên trung thư sảnh. Sở vọng của thần chỉ cầu xin có vậy, xin bệ hạ gia ân.\nViệc thái sư xin thoái chức không phải đây là lần đầu mà là lần thứ ba. Nhưng lần này có vẻ quyết liệt hơn. Vì thế Thái tông thấy buồn rượi, trong lòng dấy lên sự trống vắng cô đơn. Nhà vua nói giọng ngùi ngùi:\n- Những lúc cam go, chú đã không bỏ cháu. Nay nước thịnh, dân no đủ đã đến lúc chú cháu cùng hưởng thái bình sao chú nỡ bỏ cháu. Trước sau chú vẫn là cột trụ của nước, nếu vắng chú khi cần lấy ai dạy bảo. Cháu tuy tuổi đã lớn nhưng trí lại chưa đủ khôn. Tay nắm quyền đại chính, nhưng gặp việc lớn hay bị rối. Tỉ như trong lần kháng quân Mông Cổ vừa rồi, nếu không có chú thì cơ sự có khi đã khác đi đấy. Giặc dồn đuổi, hỏi thái úy kế phá giặc, thái úy sợ líu cả lưỡi lại không nói được, phải lấy tay viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Tức là chạy sang nương nhờ nhà Tống. Trong khi Tống Lý tông cũng đang bị quân Mông Cổ dồn tới cùng đường. Khi hỏi chú, chú bảo:\n*“Đầu thần còn chưa rơi thì bệ hạ khỏi lo”*. Chỉ có mười chữ đã làm cháu vững dạ. Thế là lại hưng được sức quân, chỉ trong có mấy ngày đuổi được giặc ra khỏi cõi bờ. Đúng là “nhất ngôn hưng bang”. Cái nghĩa triều đình cần chú là ở chỗ đó chứ không phải cần chú cầm quân ra tay đánh dẹp. Vậy xin chú cứ yên tâm giữ chức.\n- Không dám tuân lời bệ hạ, ý thần đã quyết. Cả đời vì nước non vì họ tộc, thần chỉ xin bệ hạ gia ân có một lần, và chỉ có mỗi một việc này thôi.\nNhà vua rơm rớm nước mắt:\n- Ý chú đã quyết, cháu xin tuân. Các việc chú vừa nói không có việc nào phải bỏ. Nhưng có việc làm trước, có việc làm sau cháu xin chú hiểu cho.\nTrần Thủ Độ xua tay:\n- Không sao! Không sao! Thế là chú toại nguyện rồi. Giã ơn bệ hạ, chú về! Nói xong Trần Thủ Độ đứng dậy ra về.\nVua Thái tông thân tiễn thái sư ra tận cổng điện. Nhìn theo hút tấm lưng thái sư, nhà vua thấy ông đi vẻ hơi còng còng, ngài tự thốt lên: “Chú ta già thật rồi”.\nĐúng ngày mồng một tháng hai năm Mậu Ngọ (1258) các quan đã tề tựu trước điện Thiên An. Trong khi chờ nhà vua tới, các quan bàn tán xôn xao về công cuộc kháng Mông vừa qua. Mọi người đều hỉ hả. Có vị còn nói vui: “Tôi đã từng đánh nhau nhiều với quân Man, quân Chiêm, quân Tống. Quân Man thì chẳng nói làm gì, còn quân Chiêm hễ thua là lủi ngay vào rừng trốn biệt; quân Tống mà không kháng cự được là hàng ngay; nhưng chưa thấy quân nước nào tháo chạy nhanh như quân Mông Cổ khi nó bị đánh thua”.\nKiệu nhà vua vừa tới. Các quan đồng thanh hô:\n- Hoàng thượng thiên tuế!\n- Hoàng thượng vạn tuế!\n- Hoàng thượng vạn an!\nVua xuống kiệu, vẫy các quan vào đại điện.\nVua Thái tông tuyên cáo thắng trận. Lại hạ chiếu ngợi khen quân dân cả nước. Sai Nguyễn Hiền đọc, vì Hiền có giọng tốt.\nVua lại dụ:\n- Trung thư sảnh sao lục chiếu này gửi về cho các lộ, các trấn để các nơi gửi về tận hương ấp bố cáo cho toàn dân trong cả nước đều biết.\nNhắc lại chiến thắng vừa qua vua nói:\n- Các khanh chớ coi thường việc ta đánh bại quân Mông Cổ hồi cuối năm ngoái. Các khanh có biết Ngột-lương-hợp-thai là ai không? Y là một đại danh tướng đánh đông dẹp bắc, từng đạp đổ nhiều thành trì, bắt vua chúa nhiều nước phải quy hàng. Trong mưu đồ thôn tính nhà nam Tống, hiện Mông-kha đang đánh Hợp Châu, Hốt-tất-liệt em của Mông-kha đang đánh vào Ngạc Châu, còn Ngột-lương-hợp-thai phải từ Đại Lý đánh qua Đàm Châu rồi về hội ở Ngạc Châu. Như thế có nghĩa là Mông-kha đánh giá tài năng của Ngột-lương-hợp-thai sánh ngang với anh em ông ta.\nNgột-lương-hợp-thai ngạo mạn tưởng lấy nước ta cũng dễ như lấy nước Đại Lý. Vì vậy y dẫn quân bản bộ vào bắt Đoàn Hưng Trí, vua nước Đại Lý đã quy hàng, mộ quân theo y đánh vào nước ta rồi lấy đường đánh sang Ung, Quế bên đất Tống đổ vào Đàm Châu rồi sang Ngạc Châu. Thế nhưng viên đại tướng lừng danh này vào Đại Việt đã chuốc lấy đại bại. Chẳng biết bây giờ y xoay xở thế nào, nhưng chắc chắn quân Mông Cổ chưa nhả miếng mồi Đại Việt đâu. Vì vậy, ta lưu ý các khanh phải lo chỉnh bị các sắc quân cho thật thiện xảo. Vừa qua, ta tuy thắng giặc nhưng cũng lộ ra nhiều khuyết nhược. Nhẽ ra tượng binh phải là sắc quân ưu việt nhất khiến cho địch từ người đến ngựa của chúng vừa trông thấy đã khiếp sợ. Thế mà cái ưu ở đấy, cái nhược cũng nằm ngay đấy. Việc này phải được chỉnh bị ngay, không được phép để cho tái diễn nữa. Liệu có thể vẽ lên đầu voi, mình voi những sắc màu ma quái dị kỳ khiến ngựa trông thấy là sợ. Còn như mắt voi thì vẽ lệch ra chỗ khác để lừa cung thủ giặc, bảo vệ voi nhà.\nNhìn khắp lượt triều quan, vua Thái tông nói như cởi mở hết lòng:\n- Ta xem các khanh ở đây, tuy nhiều ít khác nhau nhưng người nào cũng có công với nước cả. Việc thắng giặc là công của cả nước chứ không phải công của một người. Nhưng dù sao cũng phải luận công để tìm ra được người đích đáng mà ban khen, để ai nấy đều gắng sức. Nào, bây giờ các khanh cứ luận bàn cho kỹ đi. Phải bỏ hết cái nhỏ nhen, cái tị hiềm đố kỵ thì việc luận bình mới đạt tới sự công bằng được.\nTrong vô số những người lập công, Lê Tần đứng đầu, vua phong Lê Tần chức ngự sử đại phu tước Bảo Văn hầu và nói: “Trẫm không có khanh sao còn có ngày nay”. Lại xét Trần Khánh Dư thừa cơ tập kích giặc, vua khen và ban cho làm thiên tử nghĩa nam\n[72]. Quốc Tuấn có công cố kết người man làm phên dậu lại lập được kỳ công, ta cho Quốc Tuấn được mở phủ tại Thăng Long. Các người khác theo thứ bậc đều được khen tặng cả.\nNhìn khắp lượt các quan, vua nói tiếp: - Quốc mẫu tự bỏ tiền riêng ra mua sắm khí giới, lương thực để tiếp cho quân, lại lo việc di tán hậu cung, hoàng gia hoàng tộc. Tấm lòng ái quốc cao thượng ấy biết lấy gì mà khen tặng đây. Lại như thái sư trong lúc thế giặc đang cường, thực lòng ta cũng thấy rối, liền hỏi kế. Thái sư đáp:\n*“Đầu thần còn chưa rơi xuống đất thì bệ hạ khỏi lo”*. Quả nhiên ta thấy bình tâm lại, cùng thái sư và chư tướng lo đuổi giặc. Lời nói ấy đã xoay chuyển được tình thế. Thử hỏi lấy gì mà ban khen cho xứng đáng đây. Lê Văn Hưu, những việc hy hữu này khanh phải chép ngay vào quốc sử.\nHà Khuất, Hà Bổng trên trại Quy Hóa cũng được khen tặng. Riêng Hà Bổng lập được công cao nên ban tước hầu.\nCác tướng Phạm Cụ Chích, Phú Lương hầu đã anh dũng đánh giặc mà thọ tử được vua ban hai chữ “Trung dũng”, cho con cháu được hưởng lộc.\nViệc luận bình công lao và khen tặng tưởng đến đây đã mãn, bỗng hoàng tử Quang Khải liền đứng lên tâu:\n- Hoàng thượng anh minh thưởng người có công xin trị kẻ có tội.\n- Kẻ nào có tội, Quang Khải mau nói ta nghe. - Vua hỏi.\nQuang Khải bèn tâu việc Cự Đà và xin trị tội y để làm gương cho kẻ làm tôi bất trung.\nThái tông hơi nhíu mày rồi đáp:\n- Cự Đà tội đáng giết cả nhà, cả họ. Nhưng tội của Cự Đà là lỗi ở ta. Nhân đây ta nói để các quan khu xử công việc hằng ngày, kể cả việc nhỏ nhất. Chẳng là năm trước trong vườn ngự có cây muỗm bói lứa đầu. Mấy người nội thị hái những quả chín sớm đem vào dâng ta. Ta sai cắt ra rồi chia cho mọi người. Cự Đà đứng xa, ta không để ý, lúc ngẩng nhìn thấy còn tiểu hiệu Cự Đà chưa được ăn, nhưng muỗm ta đã chia hết cho những người đứng gần đó. Không ngờ Cự Đà lại\nhận ta vì không được ăn muỗm mà quên cả lòng trung với nước. Cũng may mà Cự Đà chỉ bỏ trốn chứ không đi hàng giặc hại nước như Dương Châm\n[73] thời Chiến quốc, chỉ vì không được ăn thịt dê mà làm cho quân nước Tống bị thua. Vì có phần lỗi ở ta, nên tha cho Cự Đà tội chết.\nCác quan cảm kích vì lòng độ lượng của nhà vua bao nhiêu lại càng ghét Cự Đà bấy nhiêu.\nCuối tháng hai, vua nhường ngôi cho hoàng thái tử Trần Hoảng, lui về ở Bắc cung, sau gọi là cung Thánh Từ, còn cung vua ở gọi là cung Quan Triều.\nVua mới lên ngôi đổi niên hiệu là Thiệu Long, đại xá cho thiên hạ và soát tù. Nhưng những kẻ theo giặc năm trước thì không được khoan giảm. Vua lấy con gái thứ năm của Yên Sinh vương, sách phong làm Thiên Cảm hoàng hậu. Phong cho em là Quang Khải làm Chiêu Minh vương. Lấy Nguyễn Giới Huân làm hành khiển thượng thư tả phụ; Lê Phụ Trần (tức Lê Tần) làm thủy quân đại tướng; Phạm Cự Địa làm điện tiền chỉ huy sứ. Đổi ty Bình bạc ở kinh sư làm Đại an phủ sứ. Nhưng vẫn theo lệ cũ, ai được triệu về làm Đại an phủ sứ của kinh sư phải giữ chức An phủ sứ ở một lộ nào đấy, được xem là người tài đức thì cho về làm An phủ sứ lộ Thiên Trường. Nếu đã qua chức An phủ sứ Thiên Trường mà tỏ lộ được tài đức rõ ràng mới được bổ về làm Đại an phủ sứ ở kinh sư.\nSau khi trao ngôi nước lại cho con, thượng hoàng lui về ở cung Thánh Từ vừa lo việc trước tác mà trước đây vua đang làm phải đình lại và lo việc chống quân xâm lược Mông Cổ.\nThượng hoàng Thái tông tự coi mình là đệ tử Phật, là người tu tại gia tựa như một cư sĩ. Cho nên viết cái gì cũng đều hướng về Phật, hướng về cái chân - thiện - mỹ. Nhưng viết cho ai mới được chứ. Chẳng lẽ ta lại viết sách dạy các bậc thiền sư về phép tu tập sao. Không được, các kinh điển nhà Phật đã dạy khá đầy đủ rồi. Các phép tắc nhập môn của người tu hành đã trở thành định chế bất biến như: ngũ giới, tứ diệu đế, bát chính đạo. Còn kinh tạng đã có hàng trăm bộ, luận tạng hàng nghìn bộ, luật tạng tới cả chục bộ. Vậy là trong sự trước tác, ta không có chỗ đứng trong kinh tạng, luật tạng, ráng mà hiểu được kinh, luật đã là quý. Còn như muốn luận, phải có sự am hiểu siêu việt tựa như một thứ trí vô sư. Cái đó là việc của các bậc thượng trí, thượng thừa, ta sao với tới được.\nVậy cái đích cần nhắm tới của trước tác là viết cho ai? Các nho sĩ, đạo sĩ, thiền sư họ đã có kinh điển của chư Phật, chư Thánh rồi, duy có chúng dân là những người ít học, mọi thứ đều ngu ngơ dễ bị các tạp giáo, tà giáo dẫn vào các mê lộ khó có thể cưỡng lại, khó có thể tìm được đường ra. Đó, cái đích nhắm tới của ta là hướng về những lớp cùng dân, lao khổ để khai ngộ.\nVà khi con người được khai ngộ rồi họ sẽ biết cách sống, biết cách xử thế, biết trách phận của mình đối với nhà với nước, đối với đồng loại và với cả muôn loài. Biết ứng xử có trí năng theo hướng chân - thiện - mỹ tức là người có tâm linh tiến hóa - tâm linh Phật, cái mà ta mong muốn giáo hóa cho muôn dân. Và khi con người đã đạt tới tâm linh tiến hóa thì tự thân nó đã là một sức mạnh lớn lao; cả cộng đồng dân tộc có trình độ tâm linh tiến hóa thì đó là một sức mạnh siêu thần nhập hóa. Đây là sức mạnh vừa để an dân vừa để giữ nước, cái mà Đại Việt ta đang cần.\nVua Thái tông sung sướng như người vừa mở được một đại công án\n[74].\nNgài tự nhủ, ta viết cái gì cũng đều nhằm mục đích giáo hóa trăm họ, là những thường nhân. Thế thì phải viết thế nào cho người dân ít học, hễ nghe được là hiểu liền. Vậy không có hình thức nào hơn là phổ thuyết.\nKhi đã định được đường hướng từ nội dung đến hình thức, thượng hoàng Trần Thái tông đắm mình vào trước tác. Ngài viết trước hết là:\n*Phổ thuyết về bốn núi*. Tiếp đến là *Phổ thuyết sắc thân*, *Phổ thuyết phát bồ đề tâm* và *Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ*.\nNhà vua đọc đi đọc lại thấy dễ hiểu. Bởi đó là tất cả những gì thuộc về cuộc sống thường nhật, nghĩ suy thường nhật của mỗi con người.\nSau đó nhà vua còn viết nhiều nữa, nhưng vẫn còn áy náy, chưa hiểu nó có đạt tới một sự diệu dụng nào đó, hay chỉ là những ý tưởng tầm phào, vô bổ.\nNhân dịp quốc sư Phù Vân từ Yên Tử về kinh, vua hay tin tới thăm và mời về ở chùa Thắng Nghiêm, lại đem các trước tác ra nhờ sư đọc.\nTrong số các trước tác đó phần lớn được viết dưới dạng ca thuyết cho mọi người dễ nhớ và lấy tên là\n*Thiền tông chỉ nam*. Vua nhờ thiền sư đọc.\nQuốc sư vừa đọc vừa tâm đắc tán thưởng. Sư nói: “Tấm lòng của chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học”.\nThế là vua lưu quốc sư lại nhờ trông coi việc khắc ván và in ấn.\nVua Thái tông là người không hề chia tách việc đạo với việc đời. Trong khi chăm lo chúng dân về con đường tâm linh tiến hóa, nhà vua vẫn để tâm đến việc Thánh tông điều hành đất nước. Từ việc lớn đến việc nhỏ không việc gì là không để mắt tới.\nThánh tông bản tính hiếu thiện lại là người con trung hiếu, nên dễ dàng tiếp nhận khuôn mẫu giáo huấn của vua cha.\nThánh tông thấy vua cha rất quý kính thái sư, đã cho làm sinh từ lại tự tay viết bài minh cho khắc vào bia đá, nhằm tán thán công lao của thái sư đối với nước. Có lần Thánh tông vào cung Thủy Tĩnh thăm Trần Thủ Độ. Lúc này ông đã nghỉ hẳn không tham dự công việc triều chính nữa. Nhưng vì lòng tôn kính Trần Thủ Độ, thượng hoàng Trần Thái tông và đương kim hoàng thượng không trao chức Thái sư cho ai cả. Điều hành công việc Phủ Thái sư trao cho một vị thái phó.\nThấy quân vào bẩm có hoàng thượng tới thăm, Trần Thủ Độ xỏ chân vào đôi dép cỏ đi mau ra cổng đón. Vua vội vàng xuống kiệu vái thái sư và nói:\n- Sao thượng phụ không để cháu vào lại phải ra tận cổng làm gì?\n- Chẳng mấy khi hoàng thượng ghé thăm mà lại không được báo trước, nên không kịp làm lễ tiếp rước.\nNhà vua có vẻ hơi ngượng vì mình còn ít tuổi để ông phải băn khoăn. Vua nói:\n- Thượng phụ hãy cứ coi cháu là đứa cháu trong nhà đi, sao cứ bày vẽ lễ nghĩa, đến như phụ hoàng cháu cũng còn là bậc dưới của thượng phụ nữa là cháu. Bữa nay cháu chỉ ghe vấn an thượng phụ chứ không có việc gì đâu.\nTrần Thủ Độ vuốt râu cười khà khà, ông ngắm nhìn người cháu hai mươi tuổi giữ ngôi nước. Tuy được học hành, được kèm cặp, nhưng việc điều hành triều chính tránh sao khỏi bỡ ngỡ.\nThái sư sai nội nhân pha trà. Từ ngày phu nhân qua đời, thái sư thấy nhà cửa trống vắng và đụng đến bất cứ vật dụng gì hình ảnh phu nhân cũng hiện ra. Càng thương nhớ càng thấy cô quạnh, người thái sư sọp hẳn đi.\nMời nước nhà vua xong, thái sư hỏi:\n- Bệ hạ đã quen dần với công việc chưa?\n- Sao ông lại gọi cháu là bệ hạ. Bây giờ cháu đang ở trong nhà ông kia mà.\n- Đành rằng tình thì vẫn là ông cháu nhưng nghĩa lại là vua tôi, nên phải giữ lễ cháu ạ. Thôi được, bệ hạ đã muốn thế ông cũng chiều. Ông muốn biết công việc của cháu. Ở ngôi chủ tể, khó lắm đấy. Muốn làm tốt công việc cứ noi gương phụ hoàng cháu là đủ. Cần kiệm, nhân ái, ham học hỏi, quý trọng người tài đức.\n- Thưa ông, cháu tuổi nhỏ lại ở ngôi cao, trên cả các bậc tôn trưởng nên lúc nào cũng lo sợ. Dạ, đúng như ông nói, nhờ có phụ hoàng cháu dạy bảo, giám sát nên công việc triều chính vẫn như hồi phụ hoàng cháu tại triều thôi. Hôm nay cháu đến thăm ông và cũng xin ông chỉ bảo cho những điều cần biết, những việc cần làm.\n- Ông già rồi, lú lẫn rồi không theo kịp các cháu được đâu. Có nói cũng không hợp nữa. Thời ông khác. Thời các cháu khác. Phụ hoàng cháu còn minh mẫn. Đôi ba năm đầu, phụ hoàng cháu dìu dắt rồi cháu sẽ quen thạo. Nhưng cái khó nhất vẫn là phải tìm cho được những người tài đức để trao cho họ các trọng trách. Nếu có nhiều người tài đức giúp rập, và họ được tin dùng thì lo gì dân không giàu, nước không thịnh. Các việc như thế phụ hoàng cháu đã làm, đang làm, ông có nói chỉ rườm thêm mà thôi.\n- Sao phụ hoàng cháu bảo từ cái buổi còn mờ mịt không có ông thì nghiệp nhà Trần ta cũng khó mà trụ được?\n- Thôi thôi, đừng nói nữa ông ngượng. Không có sự nghiệp nào mà một người có thể làm nổi. Chẳng qua cũng là thời thế thôi cháu ạ. Ta đang muốn quên đi tất cả. Nếu thương ông thì đừng gợi lại các chuyện xưa cũ làm gì. Trần Thủ Độ vừa xua tay vừa lắc đầu, có nhẽ trong ký ức ông đang hiện về những kỷ niệm buồn và chính điều đó làm ông day dứt, khổ đau.\nNhà vua gặng hỏi:\n- Lúc khác cháu sẽ hỏi ông nhiều việc, bây giờ ông không muốn nói chắc ông đang có gì phiền muộn. Nhưng chẳng lẽ ông lại không muốn nói chuyện với cháu sao.\n- Không phải con người ta lúc nào cũng sáng suốt. Cháu là bậc chủ tể của nước, ông không thể nói với cháu điều gì vào lúc mà ông nghĩ rằng ông không còn đủ sáng suốt nữa. Như sực nhớ ra một điều gì đó, Trần Thủ Độ à lên một tiếng, lại nói: - Có việc này ông muốn nói với cháu kẻo bất chợt ra đi mà chưa kịp nói, lại ân hận. Thôi thì tuổi già như ngọn đèn trước gió chả biết đâu mà nói mạnh được.\nViệc gì à, ông sẽ nói ngay đây. Nhưng bây giờ là thần tâu với hoàng thượng chứ không phải là ông nói với cháu. - Tâu bệ hạ, thần xin nói điều gan ruột. Tuy rất khó khăn nhưng vì nghĩa cả nên không thể không nói. Đó là việc thần có mấy người con đã trưởng thành. Chúng tuy có lớn mà không có khôn, chẳng một đứa nào có tài cán gì cả. Nếu bệ hạ có thương thần thì sau khi thần mất đi chớ có giao cho chúng trọng trách mà để di họa cho nước. Chỉ nên cho chúng cái tước nhàn tản mà hưởng lộc triều đình ban do thần để lại. Thế là đủ lắm rồi. Trần Thủ Độ ngừng lời, vẻ thanh thản nhẹ nhàng tựa như ông vừa trút đi được một gánh nặng. Tay vuốt chùm râu sợi đen chen sợi bạc, mắt nhìn nhà vua, ông nói tiếp: - Tâu bệ hạ, suốt cuộc đời phụng sự quốc gia, suốt cuộc đời vì đế nghiệp nhà Trần ta, thần chỉ xin có một đặc ân này. Đây là lần đầu tiên nhưng cũng là lần cuối cùng, thần xin ân mệnh cho riêng mình.\nNghe Trần Thủ Độ nói, vua Thánh tôn hết sức bàng hoàng. Nhà vua không thể ngờ ở đời lại có người lòng dạ thẳng ngay đến vậy, tận trung với nước đến vậy. Nhà vua bèn đứng dậy vái Thái sư hai vái và với giọng run run vì cảm động, vua nói:\n- Đọc bài minh do phụ hoàng cháu viết để tụng ca công đức ông trong nhà sinh từ, quả thực đã có lúc cháu thầm nghĩ. “Con cháu viết về ông bà cha chú thường nhân cái đẹp lên để làm gương cho đời sau”. Nhưng qua cuộc kháng Mông vừa rồi với việc ông vừa nói đây, thời cháu lại nghĩ rằng phụ hoàng cháu mới chỉ nói được một phần về công lao của ông đối với dân nước, đối với dòng tộc, còn như về phần nhân cách cao thượng của ông thì phụ hoàng cháu lại chưa nhắc đến. Có nhẽ mai đây cháu phải dựng thêm một bi ký nữa trong nhà sinh từ của ông.\nTrần Thủ Độ vội xua tay:\n- Chớ! Chớ có làm thế! Cứ như lời minh của phụ hoàng cháu là đúng sự thật đấy. Ngay cả việc đúng sự thật ông đã thấy ngượng. Bởi suốt cuộc đời ông có làm được nhiều việc tốt, nhiều việc có lợi cho nhân quần, nhưng cũng không ít việc dở, đôi khi còn có hại cho nhân quần đấy. Nếu cháu vì tình cảm nhất thời mà nói quá về ông, chắc đời sau người ta không còn tin nữa đâu. Nếu cứ nói quá sự thật đi một tí thì ngay cái mình nói đúng người ta cũng ngờ. Ông thật lòng can cháu đừng nói ông “là người nhân cách cao thượng”. Cái đó hơi quá, ông làm gì được liệt vào hàng những người như thế.\nNhà vua tỏ vẻ ngạc nhiên:\n- Cháu thật sự không hiểu điều ông vừa nói. Bởi những việc ông đã làm và đang làm chẳng nói lên nhân cách con người ông sao?\n- Đúng như cháu nói. Tuy vậy, cuộc đời ông còn nhiều góc khuất mà cháu chưa thấy, nhưng tai mắt người dân đều nghe và nhìn thấy hết. Sau này cháu sẽ hiểu điều ông nói cũng như lời minh do phụ hoàng cháu soạn. Vả lại cháu ạ, mình vừa cầm quyền vừa chép sử thì còn ai tin mình nữa. Ông ngẫm chỉ có sử ngôn được truyền tụng trong dân gian là ít điều đáng ngờ nhất.\nTrong lúc hai ông cháu vua Thánh tôn đang trò chuyện thì kiệu của thượng hoàng Trần Thái tông cũng ghé vào Thủy Tĩnh.\nQuân hầu chưa kịp vào bẩm thì thượng hoàng đã bước tới bậc thềm. Vừa trông thấy vua Thái tông, Trần Thủ Độ vội đứng dậy, vua Thánh tôn quỳ lạy.\nThái tông nâng hai ông cháu dậy và nói:\n- Chú thật đa lễ. Cháu đến vấn an chú thôi chứ không có công việc gì đâu. Thượng hoàng quay lại hỏi vua Thánh tôn: - Con đến thăm ông hay có việc gì đây. Cũng đến vấn an ông à. Thế thì ngồi đây cùng thăm ông.\nThái sư sai nội nhân dâng trà, rồi ông cười nói:\n- Thật là đại hạnh, được hai vua cùng lúc đến thăm nhà. Các đồng liêu mà biết lại ghen tị với ta đây. Thượng hoàng và bệ hạ trăm công nghìn việc, còn ta thì rảnh rỗi nhàn hạ. Biết thượng hoàng và bệ hạ thương ta vì Linh từ thất lộc, sợ ta buồn. Không buồn sao được, gắn bó với nhau cả cuộc đời. Nhưng sớm muộn ai cũng đến lượt phải ra đi thôi. Cái mà ta không tránh được cũng là cái mà ta không trốn được, không chống lại được thì buồn bã, phiền muộn cũng là vô ích cả. Hơn nữa ta tuy già, nhưng vẫn đủ sức chịu đựng, mong thượng hoàng cùng bệ hạ hãy lưu tâm đến công việc quốc gia trọng đại. Ta giận mình tuổi cao, sức yếu không cùng gánh vác việc nước được nữa, chứ thực lòng ta vẫn áy náy về người Mông Cổ không để cho nước ta yên đâu. Nuốt xong nước Tống, Mông Cổ sẽ quay vó ngựa sang ta, vừa rửa hận vừa thôn tính. Việc này thượng hoàng và bệ hạ phải tính kỹ lắm. Ta sợ nhà Tống khó trụ nổi vài năm nữa. Vì vậy, nước mình phải lo như ngày mai giặc sẽ tràn vào cõi.\nThượng hoàng vui vẻ nói:\n- Chú nghĩ về sự sinh sự tử như vậy là đáo lý. Chính Phật cũng dạy: Không có cái gì được sinh ra lại không bị hoại diệt. Cũng tức là ai được sinh ra thời sẽ chết và ai chết lại sẽ được sinh ra. Ai hiểu điều đó, mọi sự đều trở nên nhẹ nhàng.\nNhân chú hỏi về quân Mông Cổ và chuyện nhà Tống. Nhà nam Tống bị diệt vong là điều khỏi phải bàn. Bởi triều đình đua nhau hưởng lạc, và nó chỉ làm mỗi một việc là ngăn cản những ai có lòng yêu nước, từ quan lại trong triều đến nghĩa quân nơi thôn dã, để làm vừa lòng trước kia là quân Kim còn bây giờ là quân Mông Cổ. Nó sẵn sàng cắt đất và cống nạp để cầu hòa. Đôi khi chấp nhận cả những áp đặt nhục nhã. Như trước đây dưới triều Tống Khâm tông (1110 - 1127) phải tôn xưng hoàng đế nhà Kim là bá phụ, phải cử các thân vương và tể tướng sang Kim làm con tin. Nhưng nếu so triều Tống Lý tông (1225 - 1272) hiện nay với Tống Khâm tông hơn một trăm năm trước thì thời của Khâm tông, nước Tống còn mạnh hơn nhiều.\nThái sư xua xua tay:\n- Thượng hoàng cho nghe về quân Mông Cổ, vì mối lo của ta là ở bọn này, còn như nhà nam Tống nó như một thứ cơm nguội đã thiu rớt, đến ruồi nhặng chẳng them bâu đậu nữa, nói đến nó làm gì. Trước đây ta có đặt một số ngoại gián bên đất Tống, lại cả bên Đại Lý nữa, ta đã giao lại cho bên Binh bộ, chẳng hay số đó còn trụ được hay đã bại lộ.\n- Thưa chú, người của ta bây giờ cắm rễ chắc lắm rồi. Nơi mở hiệu thuốc vừa bào chế vừa chẩn trị; nơi mở hiệu sách; nơi coi tướng số; nơi làm thầy phù thủy bắt ma, trừ tà, yểm đảo. Vì vậy vừa gần gũi được các nhà quyền quý khi họ mời trị bệnh, vừa gần gũi giới sĩ phu khi họ đến tìm mua tìm đọc sách quý. Gần gũi được hai giới này, một khi đã thân quen, thì các nguồn tin lấy từ họ đều đáng tin cậy. Lại như bói toán, cúng cầu cho gia đình của mệnh phụ, phu nhân thì không có điều gì muốn biết mà không được biết.\n- Vậy thì thượng hoàng nói cho nghe đi, ta đang nóng lòng muốn biết.\n- Thưa chú, tin mới nhận hay lắm, chính cháu tới đây là để thưa lại chuyện đó cho chú được vui. Tức là mấy năm trước Ngột-lương-hợp-thai đánh vào ta để lấy đường đánh vào Đàm Châu rồi sang Ngạc Châu hội với Hốt-tất-liệt và Mông-kha để rồi chia nhau đi đánh Lâm An, cất vó triều nam Tống (Tin này trước đây ta đã biết khi nó còn là dự mưu). Thế nhưng Ngột-lương-hợp-thai sang ta bị thua phải ôm đầu máu mà chạy. Còn Mông-kha đánh Hợp Châu, vây thành Điếu Ngư ở phía đông Hợp Châu tới năm tháng mà chưa hạ được. Tướng giữ thành là Vương Công Kiên dùng máy bắn đá bắn ra. Mông-kha trúng đạn chạy về đến lầu trướng thì chết.\nHốt-tất-liệt vượt Trường Giang tiến xuống vây chặt Ngạc Châu. Giữa lúc quân Tống đang khốn đốn thì Hốt-tất-liệt được tin Mông-kha tử trận. Ở trong nước giới quý tộc đang chuẩn bị cử A-lý Bất-kha (Aric Buke) là em ruột Hốt-tất-liệt lên ngôi Đại Hãn.\nGiữa lúc Hốt-tất-liệt đang nóng lòng muốn đem quân về nước tranh ngôi Đại Hãn thì Giả Tự Đào tể tướng nhà Tống xin thương nghị, nếu Hốt-tất-liệt lui quân thì nhà Tống sẽ nộp phần Giang Bắc (phía bắc sông Trường Giang) cho người Mông Cổ và hằng năm tiến cống hai mươi vạn lạng bạc, hai mươi vạn tấm lụa. Hốt-tất-liệt chấp nhận ký xong hòa ước liền kéo đại binh về nước. Giới quý tộc lại tôn Hốt-tất-liệt lên ngôi Đại Hãn tức là Nguyên Thế tổ và đổi tên nước là Nguyên từ năm Canh Thân (1260). Tuy nhiên, hiện nay hai anh em Hốt-tất-liệt vẫn còn đang tranh nhau ngôi Đại Hãn.\n- Hay! Hay lắm! Trần Thủ Độ nói như reo. Như thế có nghĩa là nước Tống chưa có thể mất ngay được. Mà anh em hai đứa này đều tham ngôi Đại Hãn, đều tàn bạo cả, tức là chúng còn giết nhau lâu đấy.\nHa! Ha! Ha! Thái sư cười đến chảy cả hai hàng nước mắt vì vui sướng. Người ta cứ ngoa đồn dưới gầm trời này quân Mông Cổ không có địch thủ. Hãy xem năm Đinh Tỵ (1257) đệ nhất danh tướng Ngột-lương-hợp-thai vào Đại Việt chẳng bị thượng hoàng đánh cho đại bại ư. Lại cái thành Điếu Ngư so với nước Ba Thục thì chỉ bằng chiếc đấu thôi chứ to tát gì mà đích thân Đại Hãn cầm quân vây đánh tới năm tháng không hạ nổi, lại bị Vương Công Kiên giết chết. Theo ta, quân Mông Cổ chỉ hung hãn, tàn bạo chứ không phải là đội quân bất khả chiến bại. Thượng hoàng cùng hoàng thượng nhớ kỹ điều đó để dạy bảo quân sĩ. Cứ rèn quân cho tốt, mưu kế cho giỏi, lại dám đánh giặc thì không có quân giặc nào là không đánh được, dù nó là quân Mông Cổ.\nVua Thánh tôn nghe như uống lấy từng lời của thái sư. Đúng là không sợ giặc thì mới thắng được giặc. Thái sư đúng là bậc cân quắc mưu lược. Cuộc thắng giặc năm Đinh Tỵ vừa qua đã nói lên điều ấy.\nVua Thái tông rất là tâm đắc điều thái sư vừa nói. Nhà vua nhìn về phía Thánh tôn nói:\n- Một đời làm tướng, một đời ở ngôi vị thống quốc, biến được nước loạn thành nước trị, những điều ông nói về việc đã qua, về bản thân mình rất bổ ích cho tự quân, con hãy nhớ nằm lòng.\nQuay về phía Thái sư, vua Thái tông gặng hỏi:\n- Có điều gì cần dạy bảo tự quân, xin chú mở lòng.\n- Còn có điều gì nữa. Đã bảo ta thì vừa già, vừa dốt nát lại hết thời rồi. Tuy vậy có mấy điều ta hằng suy tư về việc giữ nước, nên cứ nói, thượng hoàng và hoàng thượng nghe nếu trái tai xin đừng bắt lỗi.\nTa nghĩ quân Mông Cổ trước sau sẽ quay lại. Bệ hạ phải lo đối phó trước đi. Ta xem như vậy thì quân Mông Cổ có ưu thế nhất về sự nhanh hoạt biến ảo. Quân Mông Cổ có thuật đánh vu hồi rất lợi hại, khiến lấy quân ít địch quân nhiều có hiệu quả. Lính Mông Cổ có sức khỏe dẻo dai, khí giới của nó thật là lợi hại. Cứ xem những thứ ta bắt được của nó như cung, kiếm và áo giáp thì đủ biết. Quân Mông Cổ còn tìm ra chỗ yếu của đối phương rất nhanh. Ví như tượng binh của ta, thông thường như quân nước khác trông thấy tượng binh là hoảng sợ. Các giống ngựa khác trông thấy voi là chạy. Thế mà ngựa Mông Cổ không sợ voi của ta. Quân Mông Cổ tìm ngay ra chỗ yếu của voi là đôi mắt, chúng nhằm thẳng mắt voi của ta mà bắn. Một hai con bỗng nhiên bị mù mắt, bị đau choáng thế là quay đầu lại. Một hai con quay lại các con khác quay theo, thế là trận địa của ta rối loạn. Cho nên phải xem xét lại cách đánh, quy mô đánh và khí giới phải chế tác cho tinh nhạy. Ta xem như cung của quân Mông Cổ thì sức quân ta không dùng được, cánh cung dài và cứng. Vì vậy sức bật mạnh, tầm bắn xa. Vậy thời phải chế tác loại khí giới nào vừa sức quân ta nhưng lợi hại hơn khí giới của giặc.\nCòn như đường lối bang giao phải dẻo mềm hơn. Ta chắc mai này sứ Mông Cổ vào ta còn hống hách hơn, láo xược hơn, vì thế nước của nó mạnh hơn. Phải làm sao tránh được chiến tranh. Vạn nhất không tránh được thì hãm cho nó nổ ra chậm hơn, chậm một ngày cũng quý. Bởi mọi thứ bây giờ ta mới bắt đầu, còn giặc đã có sẵn từ lâu. Vì vậy ta cần phải có nhiều thời gian để lo liệu. Chính vì thế phải dẻo mềm với sứ giặc, phải thuyết phục nó, kể cả mua chuộc nó, chứ không thể dùng lại cái chước cứ sứ giả đến ăn nói hỗn láo là bắt trói nó giam lại. Khi nước địch đã quá mạnh, chỉ cần một cớ rất vu vơ là nó có thể xua quân qua biên thùy ngay. Cho nên đôi khi phải lui một tí, nhẫn một tí.\nThái sư nhìn lên trần nhà rồi lại nhìn ra ngoài trời và nói với vẻ bồn chồn, lo lắng: - Anh em Hốt-tất-liệt có thể thu xếp được với nhau hoặc giết nhau, nhưng sức mạnh của quân Mông Cổ không hề giảm. Nó tóm thâu được cả nước Trung Hoa nữa thì nó có sức mạnh ngang trời đất. Phải khôn khéo lắm mới giữ được nước. Phải có sức mạnh mới giữ được nước. Phải quy tụ được lòng dân muôn người như một mới giữ được nước.\nThái sư đột ngột ngừng lời. Lại đột nhiên hỏi vua Thánh tông:\n- Này, ta xem con của cháu, hoàng tử Khẩm ấy, thằng bé vừa có tướng quý vừa có tướng lạ. Chính thằng bé này sẽ làm rạng danh tổ nghiệp đấy.\nHai cha con nhà vua bàng hoàng về sự bén nhạy của Thái sư. Tài thao lược của một đời làm tướng, một đời giám quốc, thái sư chỉ thâu tóm có vài lời để truyền lại cho con cháu. Đây là di ngôn của một bậc đại trí, thế mà Thái sư cứ nhún mình nói là ít học.\nTrời chạng vạng tối, thượng hoàng và nhà vua đều cảm động bái biệt bậc tiền bối.\nTrần Thủ Độ ngồi nhìn hai cha con nhà vua lên kiệu. Vẻ mệt mỏi, ông đi vào hậu điện. Giá như mọi khi phu nhân còn sống đã nhẹ nhàng đỡ ông vào giường nghỉ.\n\nTừ ngày Chiêu Thánh hợp duyên với Lê Tần tới nay đã trên dưới hai chục năm, cũng là một sự nhắm mắt đưa chân. Chiêu Thánh tặc lưỡi nghĩ vậy. Thôi thì ngôi vua đã trải, dân thường cũng đã qua, cái đỉnh cái đáy, cái vinh cái nhục cũng chẳng khác nhau là mấy. Thế thì cái việc làm vợ một viên tướng có sá kể chi.\nThực tình sau khi mất ngôi, mất nước lại mất cả vua cha, Chiêu Thánh đã toan xuất gia. Nhưng Trịnh Huyền một người hầu hạ tâm huyết, sau Chiêu Thánh kết nghĩa chị em đã ra sức khuyên can. Huyền chỉ lấy cớ nếu Chiêu Thánh xuất gia ai sẽ trông nom, hương khói tháp mộ vua cha. Ngôi chùa này không nhận sư ni. Vì thương kính vua cha, quả nhiên Chiêu Thánh không nỡ dứt khỏi trại dâu tằm. Lại sau này khi tướng Lê Tần nhờ người ướm hỏi, Trịnh Huyền phân giải đến chân tơ kẽ tóc, ngày đêm thúc giục Chiêu Thánh nhận lời. Việc Chiêu Thánh chấp thuận về với Lê Tần còn vì một lẽ nữa, ấy là do thái úy Phạm Kính Ân, một cựu thần của nhà Lý đứng ra mai mối.\nTừ khi về sống với Lê Tần, tuy là tướng võ nhưng thực tướng quân là một người có văn chất cao, vì vậy Lê Tần biết cách làm cho Chiêu Thánh vơi vợi nỗi sầu riêng.\nLê Tần còn chăm sóc cả Trịnh Huyền và luôn cùng Chiêu Thánh đi thăm viếng tháp mộ Huệ tôn.\nVà rồi khi sinh con đẻ cái với thiên chức làm mẹ, Chiêu Thánh tìm được niềm vui nơi con cái. Tổ ấm cứ ngày một dày thêm. Chiêu Thánh cũng sống như tất cả những người khác từng sống.\nLại nói khi về ở với Lê Tần, trại dâu tằm bên hồ Dâm Đàm, Chiêu Thánh trao lại cho Trịnh Huyền.\nTrịnh Huyền vừa coi sóc trại, vừa hương khói bên tháp mộ Huệ Quang\n[75]. Trại lúc này đã có thêm dăm người tang thất phụ [76] mãn hạn xin vào làm thuê.\nTừ ngày lập trại, Chiêu Thánh khước từ mọi thứ bổng lộc của triều đình mà chỉ sống nhờ vào việc trồng dâu, nuôi tằm ươm tơ, dệt lụa, để làm kế sinh nhai.\nMọi việc từ trồng dâu đến bán tơ, bán lụa và mua sắm quần áo đồ ăn thức dựng đều do một tay Trịnh Huyền lo toan, quán xuyến. Cuộc đời cũng không quá khắc nghiệt với hai người con gái. Tơ ươm, lụa dệt chưa xong, thương lái đã nườm nượp đến hỏi mua. Sau có một người cột lại ở giá cao không ngờ, lại đặt tiền trước làm tin, xin mua lâu dài cả tơ cả lụa. Vì thế mới mở mang thâu nhận thêm mấy người nữa.\nMãi sau này Trịnh Huyền mới vỡ lẽ rằng đó là mưu của thái sư phu nhân ngầm giúp hai người, chứ thực tơ ấy, lụa ấy sao bán được giá ấy. Tuy nhiên, Trịnh Huyền phải giấu biệt không cho Chiêu Thánh biết, bởi lẽ Chiêu Thánh vẫn rất hận mẹ và không chịu tha thứ cho bà. Sở dĩ Trịnh Huyền đoán biết là vì từ khi hai người có gia thất thì các khách mua tơ lụa kia biệt vô tăm tích. Thế rồi có lần Huyền trông thấy cái người ấy khoác tay nải theo phu nhân thái sư vào lễ chùa rồi ra viếng tháp mộ Huệ Quang.\nKhi Chiêu Thánh về với Lê Tần chừng một năm đã sinh được một mặt con, lúc này bà cũng ái ngại cho thân phận người chị em kết nghĩa cứ buộc thân mãi với trại dâu tằm. Bà ngỏ ý nhờ phu quân xem dưới trướng ông có ai là người tử tế thì mai mối giùm cho Trịnh Huyền.\nÍt lâu sau Lê Tần tìm được Đỗ Quang Thuật, đô tướng đô quân Thánh dực, người lộ Trường Yên thuộc dòng họ của thiền sư Đỗ Pháp Thuận, sống từ đời Đinh, Lê.\nQuang Thuật là một người đàng hoàng, con nhà dòng dõi muộn vợ chỉ vì đến tuổi trưởng thành gặp phải tang cha, vừa dứt tang cha chưa được một năm thì tiếp tang mẹ.\nQuang Thuật nghĩ mệnh mình có khi phải sống cô quả, đã toan xin ra khỏi quân thánh dực để xuất gia. Thượng cấp khuyên nhủ mãi Quang Thuật mới tạm thôi. Nay tướng Lê Tần đứng ra mai mối, giảng giải mãi đường tới đường lui Thuật mới nghe theo.\nTrịnh Huyền cũng được Chiêu Thánh khuyên nhủ. Khi gặp mặt, Trịnh Huyền chỉ xin đô tướng Đỗ Quang Thuật có mỗi một điều rằng xin chàng nhận trại dâu tằm làm nhà, và vì song thân chàng đã viên tịch, thì nàng xin được phép mời mẹ già lên cùng ở để phụng dưỡng.\nĐỗ Quang Thuật là người tinh ý, biết Trịnh Huyền đã kết nghĩa chị em với Chiêu Thánh, nay nàng muốn thay chị ở gần tháp mộ vua cha sớm hôm hương khói. Thuật bèn nói:\n- Nàng là phận gái còn biết báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục. Ta vì bạc phúc nên cha mẹ sớm lìa, nay sẽ cùng nàng phụng dưỡng mẹ già, điều đó nàng khỏi lo. Còn như được lấy trại dâu tằm làm nhà thì quả đó là điều phúc hạnh. Bởi gần nơi cửa Phật, con cái hấp thụ được tính từ ái, hiếu thiện ắt sẽ nên người tử tế.\nBữa nay Chiêu Thánh thấy chạnh nhớ vua cha, nàng muốn qua viếng thăm tháp mộ và nhân thể ghé thăm vợ chồng Trịnh Huyền. Nàng liền bày tỏ với phu quân:\n- Thiếp muốn đến thăm tháp mộ phụ hoàng, bởi bỗng nhiên thấy nóng ruột quá.\nKhông chút ngần ngại, Lê Tần đáp:\n- Để ta gọi các con cùng đi viếng mộ tổ ngoại, rồi sau đó cả nhà sang thăm vợ chồng Đỗ Quang Thuật.\nNgay lập tức ông sai gia nhân đứa đi mua sắm đồ lễ, đứa sửa soạn xe ngựa. Lát sau cả nhà đã lên xe. Đi chừng nửa canh giờ, xe ngựa rẽ sang con đường bên tả để vào phường Thụy Chương\n[77] rồi men bờ sông Tô Lịch [78] qua đền Đồng Cổ rồi tạt qua bìa rừng nơi xóm Trích Sài [79] qua đường Dụ Tượng [80] và từ đó đi thẳng lên phía chùa Bảo Quang. Mặt trời đã lên tới đỉnh đầu nhưng không nhìn rõ mặt hồ, chỉ thấy một lớp mù dày đặc tới nhức mắt. Bên phải đường đi là mặt hồ loáng thoáng thấy những màu sẫm thi thoảng có làn gió lướt qua đẩy mù dãn ra cho ta nom thấy một vạt màu xanh đó là những hòn đảo trong hồ mà trên đảo là rừng cây rậm rạp. Sa mù trùm lên cả đường đi, quấn lấy chân ngựa, mù xộc vào trong xe khiến ai nấy đều có cảm giác mình đang đi trong mây. Vì không nom rõ đường, người xà ích chỉ dám cho ngựa đi bước một. Ngựa đi chậm còn nghe được cả tiếng những người dân chài gõ mảng đánh cá. Và họ hát, họ hò để thuyền bạn biết mà tránh.\nMột luồng gió bốc khói sương ném vào trong xe khiến Chiêu Thánh giật mình vì ớn lạnh. Tự nhiên cái cảm giác từ mấy chục năm trước lại hiện về. Đó là khi Trần Thủ Độ ép Thái tông lấy Thuận Thiên khiến bà căm giận, liền rời bỏ cung điện kéo theo Trịnh Huyền chạy trốn về tá túc tại chùa Bảo Quang nơi có tháp mộ vua cha. Chẳng hiểu tai mắt của Trần Thủ Độ giăng mắc thế nào mà rồi ông ta cũng tìm tới được. Cho đến nay Chiêu Thánh vẫn chưa biết đó là quân thám của Lê Tần tung đi khắp nẻo dò tìm. Và nếu như không có chuyện vào lúc sáng sớm hoặc sau buổi chiều tà Chiêu Thánh ra ngồi bên tháp mộ Huệ tôn thắp hương khấn vái và sụt sùi kể lể thì sao quân thám của Lê Tần biết được. Chiêu Thánh vội khép chéo áo và kêu lạnh. Lê Tần ngồi xích lại bên Chiêu Thánh. Nhìn gương mặt phu nhân hơi tai tái, tướng quân bèn cởi tấm áo choàng khoác lên vai Chiêu Thánh và hỏi vợ:\n- Phu nhân có thấy ta đi như các vị tiên đi trong mây.\nChiêu Thánh được khoác thêm tấm áo thấy người ấm hẳn lên, mặt hồng hào, bà nhẹ nhàng đáp lời:\n- Thiếp đã sống cả chục năm bên hồ mà vẫn chưa thỏa. Thiếp đã đi nhiều nơi, qua nhiều cảnh đẹp của đất nước, nhưng hợp với cái tạng của thiếp có nhẽ không đâu bằng Dâm Đàm. Chỉ nội trong cái màu sương khói cũng đã phong phú lắm. Nó dày đặc, đặc quánh lại như sữa ấy là lúc sáng sớm. Nó có màu trắng tinh khiết và trong như pha lê ấy là lúc mặt trời lên tới đỉnh đầu, nó bảng lảng khi mặt trời gác núi, nó lại ùn ùn phủ kín mặt hồ khi đêm xuống… Đôi lúc thiếp có cảm giác như mình đang sống trong cõi thiên tiên vậy. Chiêu Thánh im lặng đưa mắt nhìn về phía hồ nhưng kỳ thực bà đang nhìn sâu vào ký ức.\nLê Tần thấy vợ mô tả về sương khói Dâm Đàm ông thấy ấm lòng và khen:\n- Nàng cứ viết lại những điều vừa nói cũng đủ làm nên một thi phẩm tuyệt tác. Ấy thế mà giám sát ngự sử nhà Tống thời Tống Thần tông là Thái Phụng Hỷ dám\nnói về xứ sở của ta là:\n*“Phù chướng hải cùng sơn, độc vụ chi uyên tẩu, phi diên trụy, độc khí thượng, ôn phong tác lệ, kỳ gian đãi phi nhân cảnh…”* [81]\nChiêu Thánh mỉm cười đáp:\n- Người phương Bắc thèm nước mình đến nhỏ rãi, khi không cướp nổi thì chê bai hết lời. Dân ta họ gọi là dân di, dân mọi. Cảnh của ta đẹp như cõi tiên thế này mà họ bảo “phi nhân cảnh” (cảnh không có người ở được). Nó là giọng lưỡi kẻ cướp, phu quân nhớ đến làm gì cho bận tâm.\n- Nàng có biết đấy là sớ can không nên đánh Đại Việt của Thái Phụng Hỷ dâng lên Tống Thần tông?\n- Thiếp biết, chẳng là sau khi Lý Thường Kiệt đem quân hạ các thành và cảng Ung, Khâm, Liêm mà nhà Tống tích chứa lương thảo, khí giới sắp đánh nước ta. Phá xong Lý Thường Kiệt rút quân về. Kế của Vương An Thạch, mưu của Tống Thần tông bị Lý Thường Kiệt tảo thanh đánh sập, nên họ định cử đại binh sang trả thù, khi đưa ra bàn trong triều, các quan đều sợ đánh Đại Việt không thắng nổi càng nguy. Đoạn phu quân vừa đọc nằm trong sớ can gián của Thái Phụng Hỷ dài ba trăm tám mươi sáu chữ. Đây là một vị hủ nho lời lẽ vừa trống rỗng vừa khoa trương, nhưng thực ra là nhát hèn.\nLê Tần khen:\n- Ta không ngờ, nàng lại là người rành sử đến vậy.\n- Phu quân có biết những năm sống bên tháp mộ vua cha nơi trại dâu tằm bên bờ hồ này, nhiều phen thiếp đã định xuất gia hoặc tìm đến cái chết. Thú thực nếu không có Trịnh Huyền và sách, chắc thiếp không còn được sống tới ngày gặp phu quân. Vả lại những trang sử hào hung của tổ phụ mình, của đất nước mình, càng đọc như càng được tiếp thêm sức sống. Thiếp cam đoan với phu quân nước ta có nhiều phen chống lại sự xâm lăng của phương Bắc, thắng họ rất vẻ vang, nhưng đem quân tới tận sào huyệt nó để phá mưu nó thì chỉ có thời Lý và danh tướng Lý Thường Kiệt là độc nhất vô nhị.\nSuy nghĩ giây lâu, Lê Tần đáp:\n- Có lẽ nàng nói đúng. Bởi nước ta nhỏ, thế và lực đều có hạn, nên chỉ chống đỡ là chính. Duy có Lý Thường Kiệt là bậc thần mưu, là tướng dũng lược nắm đúng thời cơ, ra tay đúng lúc nên dù tiến sang đất Tống hoặc rút về lập phòng tuyến bên bờ nam sông Như Nguyệt, ông đều ở thế thượng phong.\nVới vẻ cảm phục chồng, Chiêu Thánh liền nói:\n- Phu quân cũng là một danh tướng đương thời, phu quân nói về Lý Thường Kiệt với tấm lòng của kẻ liên tài, thật đáng trọng.\nLê Tần vội đáp:\n- Nàng chớ nói vậy làm ta ngượng, ta vừa là kẻ hậu sinh vừa không có cái gì để sánh được với tướng quân họ Lý.\nLê Tần vừa nhìn thấy thấp thoáng ngôi tháp chùa Bảo Quang, bỗng có gì hoài nhớ. Chàng vội nối lời: - Thật ra thì thời nào cũng có người tài, nhưng anh tài kiệt xuất thì không phải thời nào cũng có.\nXe vừa dừng trước tam quan, bỗng vợ chồng con cái Trịnh Huyền từ trong sân chùa chạy ra.\nChiêu Thánh vô cùng ngạc nhiên:\n- Chị và tướng quân định qua chùa lễ Phật rồi ra lễ tháp phụ hoàng sau đó sang thăm vợ chồng em. Tại sao em biết chị tới mà qua đây?\n- Lạ lắm chị Chiêu Thánh ơi, đêm qua em mơ thấy tiên đế. Người vận áo cà sa, đội mũ hoa sen, tay chống thiền trượng. Vừa trông thấy người em sụp lạy. Người mỉm cười rồi giơ chiếc gậy như có ý bảo em đứng lên. Khi em ngửng nhìn thì không thấy ngài nữa. Sáng dậy em cứ thấy nóng ruột, ngồi đứng chẳng yên. Chợt nghĩ phải sang mộ tháp thì thấy lòng yên tĩnh, bèn rủ phu quân và cho các cháu cùng đi.\nMay quá chị Chiêu Thánh, thế là chị em mình lại được gặp nhau.\nĐô tướng Đỗ Quang Thuật từ ngày có gia thất nom người tươi nhuận hẳn ra, tính tình cởi mở khiến quân sĩ dưới quyền thêm quý mến.\nLê Tần với chức ngự sử đại phu là quan lớn trong triều được vua tin cẩn, còn Đỗ Quang Thuật chỉ là một viên đô tướng trông coi tám mươi quân thánh dực, một chức quan cuối hàng phẩm trật nhưng Lê Tần vẫn coi như một người em út, săn sóc, bảo ban và cả dạy dỗ nữa.\nNhờ Chiêu Thánh là mối dây ràng buộc, nên hai gia đình thêm quý nhau như tình nội tộc. Đến bây giờ thì con cái hai nhà cũng đã vào tuổi trưởng thành, Chiêu Thánh, Trịnh Huyền cũng đã trên dưới bốn mươi tuổi, tình thân ngày một khăng khít.\nMọi người vào chùa lễ Phật rồi ra tháp mộ Huệ tôn. Cạnh ngôi tháp Huệ tôn là tháp mộ của vị thiền sư trụ trì tại ngôi chùa này mà hơn hai mươi năm trước Chiêu Thánh, Trịnh Huyền đã vào đây tá túc. Chiêu Thánh làm lễ cả hai ngôi tháp rồi vào chùa đưa mười nén bạc biếu vị thiền sư để nhà chùa thêm vào tiền hương nến thờ Phật.\nKhi biết Chiêu Thánh là con của Huệ tôn, vị thiền sư bèn đứng lên vái bà và nói:\n- Bạch chư tôn công đức, ngài Huệ Quang và thầy tôi (tức là vị tiền bối trụ trì tại chùa Bảo Quang) đều là các bậc Bồ tát và chắc các ngài đã nhập Niết Bàn. Nhưng chúng tôi vẫn coi như các bậc đang thị hiện để hóa độ chúng sinh.\nTrà nước xong, tướng Lê Tần dẫn Chiêu Thánh và các con sang nhà vợ chồng Trịnh Huyền.\nCơm nước xong Trịnh Huyền tự tay thắp hương lên ban thờ rồi lầm rầm khấn vái, không ai nghe được rõ lời. Đoạn Huyền sai hai đứa gia nhân đi tìm hai chiếc cuốc đem ra gốc dâu cỗi phía đầu vườn.\nTrịnh Huyền quay lại vái Chiêu Thánh hai vái:\n- Em có lỗi, bấy lâu giấu chị một việc, hôm nay em xin vái chị để tạ lỗi rồi em sẽ giãi bày sau.\nĐoạn Huyền nói:\n- Chị có nhớ cái đêm quốc mẫu đến thăm chị rồi ngủ lại đây với chị em mình không?\n- Ta quên sao được. Vậy có chuyện gì mà em làm nghiêm trọng khiến ta lo quá.\n- Có chuyện nghiêm trọng đấy. Nghiêm trọng là ở chỗ em giấu chị từ bấy tới nay. Chị cứ để em kể. Qua đêm ngủ lại, tinh mơ quốc mẫu đã lay gọi em rồi người giúi vào tay em một gói nằng nặng. Người bảo: “Ta có mười nén vàng, con giữ lấy để độ thân cho hai thầy trò. Ta cấm con không được hở cho Chiêu Thánh biết chuyện này. Có thể con chôn giấu vào một gốc cây nào đó trong vườn. Rồi làm như vô tình đào được. Nếu có điều gì cần kíp, con cứ về cung tìm ta. Nhớ nhé”. Em chưa kịp nói điều gì thì bà đã ra đi. Cầm nắm vàng trong tay, người em cứ run bắn lên. Em đã định vào lay gọi chị. Lại nhớ quốc mẫu dặn: “Ta cấm con không được hở cho Chiêu Thánh biết chuyện này”.\nLúc ấy trời cũng bắt đầu sáng. Em chỉ nhìn lờ mờ những nén vàng bọc trong vuông khăn đỏ nhưng em không dám mở ra. Vội tìm được chiếc lọ sành có nắp, em đem chôn xuống gốc cây dâu đầu vườn. Vừa vùi xong chiếc lọ đang lấp đất thì chị dậy hỏi em làm gì sớm thế. Em bảo xới bón cho mấy gốc dâu. Suốt một thời gian dài, có lúc chị em mình lâm cảnh thiếu thốn, em đã toan nói với chị lại sợ chị mắng và bắt đem vào cung trả phu nhân. Cũng có lúc em đã nghĩ, hay là đào lên lấy một nén đem đi bán. Nhưng em lại sợ vì từ nhỏ chưa biết vàng là gì. Đem bán lại sợ người ta nghĩ mình là đứa lấy trộm của chủ bắt trình quan. Thế là em cứ để đấy coi như quên. Nay có chị và cả quan ngự sử và phu quân em. Em xin đào lên để gửi chị.\nNói xong Trịnh Huyền xăm xăm đi ra phía đầu vườn và sai gia nhân đào dưới gốc dâu. Cây dâu ngày trước chỉ bé bằng thân cây mía, nay to bằng bắp đùi. Vì vậy công việc đào bới rất là vất vả. Sau phải dùng đến mai và cả dao dựa để chặt rễ cây.\nTừ khi nghe Trịnh Huyền nói, Chiêu Thánh hết đỗi bàng hoàng, nàng phải tựa lưng vào vách tường cho khỏi ngã. Có một cái gì đó dường như là sự hối hận dâng lên nghẹn ứ cả cổ họng. Đúng là bà đã giận mẹ tới mức không thể tha thứ. Ngay cái chết của mẹ gần đây bà cũng chỉ đến viếng như một người bà con xa, và chỉ đeo hờ một dải khăn tang chứ không nhỏ được một giọt nước mắt xót thương cho người đã sinh hạ ra mình. Chiêu Thánh biết đó là một sự tàn nhẫn cố chấp. Nhưng quả thật việc cướp mất một vương triều và làm tuyệt diệt cả một dòng họ, càng lớn lên Chiêu Thánh càng nung nấu lòng căm giận.\nMột vài năm sau cái chết của phụ hoàng, Chiêu Thánh mới biết kẻ nào là thủ phạm giết cha mình. Và những năm dài đau ốm của vua cha được người ta nhốt vào một nơi để nuôi dưỡng như nhốt một tên tội phạm sát nhân. Không phải mẹ ta không biết điều đó. Thế nhưng vẫn nhắm mắt làm ngơ và nhởn nhơ sống với người tình. Chiêu Thánh giận mẹ là giận ở sự phản bội vua cha tới mức nhẫn tâm. Còn như sự còn mất của một vương triều cũng chẳng có gì là ghê gớm. Chục nén vàng bà để lại cho ta trong lúc khó khăn, ấy là cái tình của người. Cũng may là tới bây giờ Trịnh Huyền mới cho ta biết. Giá như ngày ấy Huyền nói ra ngay thì hoặc là ta đã ném nó đi, hoặc ta bắt Trịnh Huyền phải đem ngay tới cung Thủy Tĩnh trả lại bà.\nTrịnh Huyền vẫn đứng chỉ trỏ mấy người đào bới. Mãi sau khi chặt hết những chùm rễ quấn chằng chịt quanh chiếc lọ sành, sau đó mới lấy được cái lọ ra. May lọ chưa bị vỡ, nắp vẫn còn đậy nguyên như cũ. Gia nhân bê vào trong nhà. Trịnh Huyền mời chồng và quan ngự sử Lê Tần cùng xem chiếc lọ. Sau đó Huyền đưa cho Chiêu Thánh và nói:\n- Chị mở nắp giùm em.\nChiêu Thánh giơ tay lên mở nắp lọ như người vô hồn.\nTrịnh Huyền cho tay vào khoắng ra được một nắm vàng. Vải bọc đã mục nát. Vàng vẫn vàng chóe. Huyền đếm được đúng mười nén. Nàng lau sạch sẽ, đặt vào chiếc đĩa rồi nâng hai tay đưa cho Chiêu Thánh:\n- Em muôn vàn có lỗi với chị. Đây là tấm tình của quốc mẫu, chị giữ để lưu chút tình mẫu tử.\nChiêu Thánh nén nỗi đau chìa tay ra đỡ, nước mắt tuôn rơi lã chã. Bỗng nhiên tay bà run bần bật. Chiếc đĩa tuột khỏi tay vỡ vụn. Mười nén vàng rơi chồng đống lên nhau.\nChiêu Thánh hoảng hốt hét lên như người mất hồn:\n- Phụ hoàng! Phụ hoàng! Rồi bà ngã lăn ra. Lê Tần và các con xúm vào nâng bà dậy.\nMọi người đều sởn cả tóc gáy và mơ hồ nhận ra một điều gì đó rất thiêng liêng vừa xảy ra.\nLâu lâu chừng nhai tàn miếng trầu Chiêu Thánh mới mở được mắt ra. Bà nói, giọng thều thào thuần hơi:\n- Phụ hoàng về đón ta đi đấy. Ta nom rõ phụ hoàng trong bộ áo thiền sư, y hệt bữa ta và chị Thuận Thiên đến điện Chí Kính gặp cha trước khi cha xuất gia. Ta còn nhớ như in lời cha nói nhỏ nhưng vừa đủ nghe: “Từ nay pháp danh của cha là Huệ Quang”.\nNhìn lại mấy nén vàng Chiêu Thánh xua tay: - Ta không thể nhận. Không thể nhận được. Vừa nãy Trịnh Huyền bảo ta nên nhận “để lưu giữ một chút tình”. Nhưng không thể được, chính phụ hoàng gạt tay ta đấy. Nỗi đau này chưa thể gỡ bỏ khi nhà Trần chưa trả nghiệp. Thôi ta đành…\nTrịnh Huyền sợ cuống lên:\n- Vậy thì làm thế nào đây chị Chiêu Thánh, thưa quan ngự sử - Huyền quay về phía Lê Tần hỏi - Xin quan ngự sử quyết cho việc này.\nLê Tần bị hỏi bất ngờ nên hơi lúng túng. Một lát sau, ông nói:\n- Theo ta, vợ chồng Trịnh Huyền, Quang Thuật nên giữ số vàng này để chăm sóc tháp mộ và hương khói cho tiên đế.\nChiêu Thánh cũng nói theo:\n- Phải đấy! Phu quân ta nói đúng đấy. Em làm ơn nhận giùm chị đi.\nĐỗ Quang Thuật vội nói:\n- Thưa đại quan cùng phu nhân, việc mười đĩnh vàng cho tới lúc này tiểu tướng mới được biết. Vì nó là việc thiêng liêng nên hiền thê của hạ cấp vẫn giữ kín. Cho nên việc này hạ cấp xin được phép không dám can dự.\nTiếp lời chồng, Trịnh Huyền cũng nói:\n- Chị Chiêu Thánh ơi, hầu hạ chị bấy nhiêu năm, chị biết tính em rồi đấy. Ngay những ngày túng thiếu, mẹ em ở quê bị đói, chị cho vòng vàng để bán đi nuôi mẹ, em còn chẳng dám lấy nữa là bây giờ. Hơn nữa đây là của quốc mẫu gửi chị, em đâu dám nhận.\nViệc chăm sóc tháp mộ tiên đế, là ta cứ nói thế thôi chứ tiên đế bây giờ là Bồ Tát, là Phật hoàng rồi, tiên đế đâu có ngự trong tòa tháp đó. Vả lại việc chăm sóc các tháp mộ trong vườn chùa là công việc của các sa môn trong chùa chớ đâu cần tới chị em mình. Thỉnh thoảng chị em mình qua lại hương khói là tỏ tấm tình kính ngưỡng đối với tiên đế, và nhổ mấy cọng cỏ quanh chân tháp, việc ấy đâu cần tới cả đống vàng kia. Mấy lại chị thương em, cứ trông thấy vàng là em sợ lắm.\nChiêu Thánh ngẫm nghĩ: “Trịnh Huyền là người trọng nghĩa. Ngay từ khi còn nhỏ hầu hạ mẹ ta trong cung thái sư, mà Trịnh Huyền dám lọt vào nơi người ta giam giữ cha ta để lấy chiếu cần vương. Bị bắt, Huyền khẳng khái nhận chứ không khai vấy cho ai. Rồi sẵn sàng theo ta đi sống cuộc sống khắc khổ bao năm trong trại dâu tằm này. Huyền nói cứ hễ trông thấy vàng là sợ, chính là Huyền khinh các thứ của cải mà vì nó biết bao người phải oan khuất. Vậy làm thế nào với mấy nén vàng này đây. Ta không thể nhận nó, dù trong đó là cái tình của mẹ. Nhưng còn nỗi đau của cha vừa vong quốc lại bức phải vong thân, cha giận không cho phép ta nhận, cũng tức là cha biết mẹ đã đoạn tình, đã phản bội cha đến mức không thể tha thứ, dù rằng cha đã là đấng giải thoát. Thôi cũng đành vậy. Mẹ đã gieo nhân nào thì mẹ hái quả ấy”. Đoạn Chiêu Thánh quay ra nói trước mọi người:\n- Huyền không nhận số vàng này có cái lý của Huyền. Ta không nhận số vàng này có cái lý của ta. Nhưng không thể để như một chướng vật trong nhà Huyền mãi. Vậy theo ta, hai chị em mình cùng mang sang chùa cúng dàng Tam Bảo.\nAi cũng cho điều đó là phải. Trước khi sang chùa, Chiêu Thánh nói với Trịnh Huyền.\n- Trong khắp nước Đại Việt, em là người cao thượng bậc nhất mà chị từng thấy. Cuộc đời chị may có em làm bầu bạn. Nếu không có em, chắc chi chị có ngày nay. Em không màng bất cứ một thứ gì không phải tự em làm ra. Cho nên không biết lấy gì đền ơn đáp nghĩa em. Vậy em hãy nhận tấm lòng nơi chị. Nói xong Chiêu Thánh quỳ lạy Trịnh Huyền hai lạy.\nTrịnh Huyền vừa nâng Chiêu Thánh dậy vừa khóc nức nở:\n- Chiêu Thánh ơi, chị xử thế khiến em tổn thọ và ngượng với đại quan và phu quân em lắm. Chị em ta sở dĩ gắn kết với nhau trong cuộc đời này chắc là có cơ duyên tiền định, chị khỏi băn khoăn.\nSau khi hai người đem mười nén vàng sang chùa cúng dàng Tam Bảo, họ chia tay nhau trong bịn rịn, nhưng trong lòng hai người đều vơi nhẹ. Nhất là với Trịnh Huyền, khi chưa trao lại được số vàng kia cho Chiêu Thánh, trong tâm can óc não nàng lúc nào cũng nặng trịch như phải đeo một cục đá.\nLại nói công việc triều chính, Thánh tông nhận biết sự hiểm nguy của sức mạnh Mông Cổ (nay là nhà Nguyên) ngày càng uy hiếp nặng nề nền tự chủ của Đại Việt. Vì vậy nhà vua ban chiếu cho các vương hầu phải tăng số điền binh trong trang ấp, phải cho họ thay nhau luyện tập để khi nước có họa xâm lăng thì mỗi người dân sẽ là một người lính. Lại sai tuyển dân đinh các lộ những người trẻ, khỏe sung làm thường binh để luyện thành các sắc quân tinh nhuệ. Các lộ cho lập các đội phong binh\n[82].\nNghe nói Hốt-tất-liệt chiếm các tỉnh miền nam Trung Hoa, đã cho đóng thuyền lớn, lập thủy binh. Chắc người Nguyên có ý định xâm chiếm Đại Việt hoặc các nước trong vùng, xa hơn nữa là Nhật Bản. Vì vậy vua Thánh tông sai đóng các thuyền lớn cho quân thủy, sai các lộ làm đồ binh khí, lại sai Lê Tần làm thủy quân đại tướng chuyên coi sóc việc luyện quân thủy trở thành một sắc quân mạnh của Đại Việt, đủ dìm chết đám thủy binh phương bắc nếu chúng xâm phạm cõi bờ ta.\nNhà vua còn hạ chiếu cho các vương hầu, công chúa phò mã được phép chiêu mộ những người dân xiêu tán vì không có ruộng đất, sản nghiệp làm điền nô để khai khẩn đất hoang cùng với số đất đã được phong, lập làm điền trang. Bởi số điền trang càng nhiều, càng rộng lớn thì càng nhiều của cải, nhiều điền binh. Đó cũng chính là sức mạnh của nước.\nVua phong cho em là Chiêu minh vương Trần Quang Khải làm thái úy, sai vào coi châu Nghệ An. Phong cho Quốc Tuấn tước vương.\nQuốc Tuấn từ sau cuộc chiến năm Đinh Tỵ lập công to, được Thái tông cho mở phủ tại Thăng Long, lấy tên hiệu của mình đặt cho phủ riêng là Hưng Đạo\n[83].\nTuy nhiên, Quốc Tuấn lui về Vạn Kiếp mở rộng điền trang, lập gia binh, kén tả hữu giúp rập. Quốc Tuấn nghiền ngẫm binh thư các đời, lại xem xét vì sao quân Mông Cổ trở thành một đội quân bách thắng. Biết trước sau cũng phải đối đầu với đám quân dũng mãnh mà kiêu ngạo, tàn bạo này, nên ông không bỏ qua một điểm mạnh nào của nó mà không xem xét. Và từ đó tìm ra cái yếu, cái khuyết nhược của nó để viết thành sách dạy cho trước hết là các gia tướng, gia binh.\nTrang ấp của ông cận kề với nơi hội tụ của sáu dòng sông. Từ đây có thể lên phía bắc mà vào Trung Hoa hoặc lên phía tây bắc sang nước Đại Lý, nơi quân Mông Cổ đang chiếm giữ. Lại cũng từ đây mà về Thăng Long hoặc xuôi xuống cửa sông Bạch Đằng ra biển. Từ cửa biển này có thể sang Trung Hoa hoặc vào Thanh Hóa, Nghệ An rồi từ đó qua Chiêm Thành.\nQuốc Tuấn nhận ngay ra tính quan yếu vào bậc nhất của vùng sông nước mà ông đang chiếm giữ. Nơi đây sông vừa sâu vừa rộng lại chia nhiều ngả đủ sức lập đại thủy trận. Dụ được giặc vào đây khác nào dụ được chúng vào trận đồ bát quái.\nSau trận thua năm Đinh Tỵ sang năm Mậu Ngọ, Ngột-lương-hợp-thai lại sai hai viên sứ vào Thăng Long dụ Đại Việt quy hàng. Vua Thái tông nổi giận sai trói hai viên sứ thần lại rồi đuổi về nước.\nAnh em Hốt-tất-liệt đang đánh nhau để tranh ngôi Đại Hãn nên cũng bỏ qua việc ấy. Nay Hốt-tất-liệt đã lên ngôi, lại sai sứ sang dụ vua ta. Trong đó có phần châm chước, nương nhẹ.\nTrong chiếu thư của Hốt-tất-liệt gửi cho vua ta có đoạn viết:\n*“… Ta sai Lễ bộ lang trung Mạnh Giáp sung chức An Nam tuyên dụ sứ và Lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sung chức phó sứ sang hiểu dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi được biết: Phàm các việc như áo mũ, lễ nhạc, điển lệ, phong tục cứ theo như chế độ cũ của nước ngươi không cần phải thay đổi. Như nước Cao Ly mới đây sai sứ sang hỏi, đã xuống chiếu cho đều theo lệ ấy. Ngoài ra ta cũng răn cấm các biên tướng ở Vân Nam không được tự tiện đem binh lấn cướp nơi cương giới, quấy nhiễu biên dân nước ngươi. Các quan liêu sĩ thứ nước ngươi đều nên yên trị như cũ…”*.\nHốt-tất-liệt còn phong vua ta làm An Nam quốc vương, lại ban gấm vóc để yên lòng.\nVua thết yến và quà cáp tiễn sứ rất trọng hậu.\nMột mặt sai sứ sang đáp lễ, mặt khác sai hai quân thủy bộ tập đại thủy trận ở ngã ba sông Bạch Hạc vì quân thủy đã tinh luyện từ mấy năm nay và các chiến thuyền lớn cũng vừa hạ thủy.\nHốt-tất-liệt đã chấp thuận cho Đại Việt ba năm cống phương vật một lần. Nay lại gửi chiếu thư sang hạch sách:\n*“… Khanh đã gửi đồ lễ sang làm bầy tôi, vậy bắt đầu từ năm Trung thống thứ tư, cứ ba năm cống một lần, hãy chọn nha sĩ, thầy thuốc, người giỏi âm dương bói toán, các loại thợ, mỗi thứ ba người, cùng dầu tô hợp hương, quang hương, vàng bạc, châu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, vải trắng, chén sứ đem cả đến một lúc. Ta vẫn cử Nu-rút Đin [84] (Nurud-Din) làm Đa-ru-ga-tri[85] đeo hổ phù đi lại khắp nước An Nam…”*.\nThấy phía nhà Nguyên ngày càng lấn tới, hai vua bèn triệu các thân vương, các tướng tâm phúc về trang ấp của Hưng Đạo ở Vạn Kiếp để hội họp, vừa tránh sự nhòm ngó của đám thương nhân người Hồi Hột\n[86] mà triều đình nghi lũ người này do Hốt-tất-liệt phái sang ta do thám, vừa xem lại cái thế thủ hiểm của Lục Đầu giang và các sắc quân của Hưng Đạo ở Vạn Kiếp.\nĐược vua chọn trang ấp Vạn Kiếp làm nơi hội họp, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn sai gia nhân lo sắp xếp chu đáo nơi ăn ở, nơi hội họp, sai các gia tướng, hai đạo thủy bộ chuẩn bị sẵn sàng, nếu hoàng thượng cho phép sẽ diễn tập ngay trên khu vực Lục Đầu giang.\nTới ngày hẹn, thuyền vua và thuyền các quan cùng các tướng tâm phúc cập bến Bình Than từ lúc bình minh còn chưa ló rạng.\nHưng Đạo đem theo gia tướng, gia binh ra tận bến thuyền nghênh đón hai vua và Thái sư.\nVua Thái tông năm nay vào tuổi bốn mươi lăm, đi lại nhanh nhẹn, sức lực sung mãn, giọng nói ấm áp chưa có dấu hiệu của tuổi già. Thái sư Trần Thủ Độ phong độ kém hẳn mấy năm trước. Dăm năm trước đây thôi, khi đại quân rút về đóng tại bãi Mạn Trù bên sông Thiên Mạc, râu tóc thái sư mới hoa râm chứ chưa trắng xóa như bây giờ. Lúc đó nom ngài còn cân quắc, ý chí sắt đá, lời nói thép đanh. Khi vua hỏi: “Thế giặc mạnh, liệu tính sao đây?”. Thái sư trả lời giọng sang sảng: “Đầu thần còn chưa rơi thì bệ hạ khỏi lo”. Thế mà bây giờ, mới sau có năm năm, Thái sư đã trở thành một ông lão già nua. Lưng đã hơi gù gù, má hóp, thần sắc không còn linh lợi nữa. Có nhẽ từ sau sự ra đi đột ngột của phu nhân, Thái sư như bị hụt hẫng, mọi sự đều trở nên xáo trộn, trong lòng thì trống vắng, cô đơn, khiến ông chạnh lòng. Chiêu Thánh giận mẹ, có nghĩa rằng nó vẫn còn căm ghét ta. Nhiều nỗi dằn vặt xâu xé. Quá khứ hiện về như một nỗi ám ảnh khôn nguôi.\nQuốc Tuấn ra tận mạn thuyền đỡ Thái sư bước qua tấm ván để vào bờ. Miệng chào, tay đỡ cho ông đi từng bước.\nThái sư nhẹ hỏi:\n- Quốc Tuấn đấy ư? Ta muốn về thăm trang ấp của cháu, lại cũng muốn đọc trước tác về binh pháp của cháu.\nQuốc Tuấn đỏ mặt vì ngượng, nói lảng:\n- Ông ơi, núi sông ở vùng này đẹp lắm, ông ở lại đây ít ngày, cháu dẫn ông đi.\n- Ờ, ông cũng muốn nhìn tận mắt cảnh sắc nước non. Cứ bảo nước mình nhỏ. Vậy mà ông đã đi được hết đâu.\nHai ông cháu lẫn vào trong đoàn người đông đúc, vừa đi vừa nói chuyện. Loáng đã vào tới đại sảnh.\nQuốc Tuấn mời hai vua cùng các quan vào nhà đại bái. Ngôi nhà chín gian cửa bức bàn, cột gỗ lim đen bóng. Đá tảng kê chân cột hình trụ, chân đế vuông trang trí hình lá đề chạy quanh hai đầu trụ. Các đấu sen, chân quỳ chạy đến nóc để gác đòn tay thay kèo.\nGian giữa kê một chiếc hương án chạm lộng, sơn son thếp vàng. Trên treo bức đại tự có bốn chữ: “Giang sơn cẩm tú”. Góc dưới nơi dòng lạc khoản đề ngày tháng còn có bốn chữ “Hoài vương thủ bút”. Có nghĩa rằng đây là chữ của Hoài vương Liễu viết để lại cho con. Thâm ý vương muốn dặn con đất nước ta đẹp lắm, con phải gìn giữ lấy.\nMọi người đều ngước đọc và khen vương có nét chữ bay bướm, khoáng đạt.\nQuốc Tuấn mời hai vua và thái sư cùng mọi người an tọa, ông sai gia nô dâng trà. Lại xin phép được dâng bữa ăn sáng.\nThái tông gạt đi:\n- Để nửa buổi hãy ăn sáng. Vì đêm ăn ở dưới thuyền còn no. Có mấy việc cần phải bàn gấp, ở kinh sư không tiện.\nTrần Quốc Tuấn nhìn khắp lượt, ông thấy ngoài hai vua và Thái sư Trần Thủ Độ còn có Tướng quốc thái úy Trần Nhật Hiệu, Vọng giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân Trần Quốc Khang, Thái úy Trần Quang Khải, Ngự sử đại phu, Thủy quân đại tướng Lê Phụ Trần (Lê Tần), Phiêu kỵ tướng quân thiên tử nghĩa nam Trần Khánh Dư, Đô thượng tướng quân Trần Khuê Kình, Công bộ thị lang, trạng nguyên Nguyễn Hiền, sử quan bảng nhãn Lê Văn Hưu… Ưu biệt nhất trong chuyến đi này nhà vua còn mời cả Phù Vân quốc sư. Sư tuy tuổi cao nhưng đầu óc còn minh mẫn thông tuệ, người gầy nhỏ nhưng săn chắc đi lại thoăn thoắt. Năm nay sư đã tám mươi tuổi, hơn Trần Thủ Độ đúng mười tuổi nhưng ai cũng nghĩ quốc sư còn ít tuổi hơn Thái sư.\nVua Thái tông mời quốc sư ngồi bên tả, Thái sư Trần Thủ Độ ngồi bên hữu. Tiếp phía sau là vua Thánh tôn và tướng quốc thái úy Trần Nhật Hiệu. Còn lại theo thứ bậc ngồi.\nVào việc, Trần Thái tông nói:\n- Bữa nay trẫm thỉnh Quốc sư và Thái sư cùng quan gia và chư vị tâm phúc để bàn việc quốc sự. Ấy là nhà Nguyên vừa có chiếu thư gửi sang hạch sách ta một số việc. Vua sai đọc lại nguyên văn chiếu thư của Hốt-tất-liệt.\nVua xem sắc diện mọi người khi nghe chiếu thư, dường như lòng giận uất càng lúc càng dâng cao.\nThái tông biết phải chuyển lòng tức giận này thành ý chí và phải nuôi dưỡng nó thành sức mạnh quật cường của muôn dân chứ không chỉ là sự bộc phát nhất thời. Yên lặng giây lâu, ngài nói:\n- Chiếu thư của Nguyên thế tổ Hốt-tất-liệt đòi ta có ba việc:\nMột là phải cống các đồ trân quý mà y đã đòi.\nHai là phải cống thầy và thợ.\nBa là phải chấp nhận viên Đạt-lỗ-hoa-xích đeo hổ phù đi lại khắp nước ta.\nĐạt-lỗ-hoa-xích là viên khâm sai của Nguyên chúa phái sang giám sát mọi mặt của nước ta.\nVua Thái tông nhìn về phía Quốc sư và Thái sư nói:\n- Xin hai đại lão chỉ cho trẫm gỡ rối việc này với nhà Nguyên.\nTrần Thủ Độ quay về phía Quốc sư vái một vái rồi nói:\n- Xin trưởng lão mở lời bố thí!\nQuốc sư vái đáp lễ rồi nói:\n- Lão tăng ẩn tu nơi núi rừng Yên Tử, vài năm lại đây hoàng thượng vời về kinh sư, lại chuyên chú vào việc chỉ dẫn cho thợ khắc ván in trước tác của ngài, nên việc đời với lão tăng khác chi ếch ngồi đáy giếng, thực không dám lạm bàn. Nhưng lão tăng chỉ xin nói một điều, nếu người Mông Cổ đã chiếm xong Trung Hoa thì mọi việc sẽ rất khó khăn cho ta. Nếu họ chưa chiếm được Trung Hoa ắt họ sẽ còn nới tay. Vì vậy đối sách có thể dây dưa, xin bớt điều này bỏ điều kia. Cư xử với những người tâm địa hổ lang này là muôn khó. Bệ hạ nên cân nhắc, cố giữ lấy cái thế nhân chủ. Mất thế nhân chủ là mất nước. Ta là nước nhỏ, thế yếu. Tức là phải lấy yếu chống mạnh. Thế thì phương lược ắt bệ hạ phải dùng phép lấy nhu chế cương. Tăng này chỉ mong sao cái tâm thế gian được yên định cho cái trí nó sáng ra thì mới bớt sân si rồi từ đó mà chế ngự lòng tham dục. Kẻ nào tham sân thái quá ắt sẽ trắng tay. Không chỉ trắng tay mà còn vong thân, vong quốc. Đại Việt ta từ xưa vẫn lấy nhân nghĩa, hòa ái làm đối sách. Những kẻ cậy mạnh không thời nào chịu nghe. Và xem ra lần nào họ cũng chuốc họa. Nay bệ hạ lo giữ nước, bảo vệ sinh linh, ấy là việc thiện nên sẽ được Trời Phật độ. Bệ hạ cứ vững tâm mà hành hóa, muôn dân sẽ cùng bệ hạ giữ nước.\nNgừng lời thiền sư quay về phía nhà vua, lại quay sang phía thái sư cúi chào rồi tiếp:\n- Bần tăng có vài lời thô lậu trước việc lớn quốc gia, đúng sai không biết nhưng đó là lời nói trực tâm, xin bệ hạ và chư vị thứ lỗi.\nVua Thái tông vội tiếp lời:\n- Đa tạ đại lão thiền sư đã chỉ cho trẫm phương lược ứng xử. Có thể nói Quốc sư đã chỉ cho ta phương lược chung, vậy ta phải tìm ra đối sách cho từng việc một. Ví như mỗi việc nhà Nguyên đòi đây nên cư xử như thế nào. Hoặc giả, ngoài phương lược như đại lão thiền sư vừa chỉ dẫn, ai có phương lược nào khác cứ tâu lên để cùng nghị bàn.\nThái sư Trần Thủ Độ nói:\n- Phương lược nước nhỏ đối với nước lớn như đại lão thiền sư vừa dạy, quả là siêu việt và không gì có thể thay thế. Lấy yếu chống mạnh, lấy nhu chế cương có nhẽ đó là phương lược lâu dài của nước ta đối với phương bắc. Hoàng thượng vừa hỏi trong ba việc nhà Nguyên đòi, từng việc nên có đối sách thế nào. Chắc các thân vương và các vị tâm phúc ở đây sẽ bàn cho vỡ lẽ. Riêng Thủ Độ tôi thấy các đồ trân quý có thể cho. Nhưng không phải cho tất cả, không cho đủ số như họ đòi hỏi. Có thứ họ đòi nhiều ta cho ít, có thứ họ đòi ít ta cho nhiều. Có thứ không cho. Nếu có vặn hỏi thì bảo có thứ còn ít quá tìm kiếm khó khăn. Có thứ bảo hết rồi. Trước kia thì có, bây giờ không còn nữa vì nhà Tống đã đào cùng tát cạn. Các thứ đó bây giờ chỉ có thể tìm thấy trong các kho trân bảo của Tống triều.\nLại như họ đòi cống các thầy và thợ giỏi, cái này thì không thể được. Những người đó vừa là tài năng vừa là tài sản quý của nước. Nó là một thứ mỏ càng khai thác càng sinh sôi, bằng mọi cách phải bảo vệ chứ không thể đem nộp cống tinh hoa của đất nước cho kẻ thù. Mà nếu đã được một ắt chúng sẽ đòi tới mười nữa kia.\nVừa nói tới đó thì một cơn ho chợt đến. Trần Thủ Độ ôm ngực thở, bỏ dở câu nói.\nGia nhân đem dâng thái sư chén trà gừng nóng. Ngài đỡ lấy và nhấm từng hụm nhỏ, gương mặt đã hồng hồng trở lại.\nVua Thánh tôn hỏi Tướng quốc thái úy Trần Nhật Hiệu ngồi kế bên:\n- Chú có điều gì cần nói?\nTrần Nhật Hiệu vừa lắc đầu vừa xua tay. Điều đó có nghĩa tướng quốc thái úy không muốn nói hoặc không dám nói qua các vụ ông lấy ngón tay nhấp nước sông Thiên Mạc làm mực viết lên phía ngoài mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Khi vua Thái tông hỏi ông kế phá giặc, chắc ông còn ngượng lắm.\nVua Thánh tôn lại quay sang phía Lê Phụ Trần giục:\n- Quan ngự sử cho biết cao ý.\nLê Tần bèn đứng lên vái chào hai vua cùng mọi người, đoạn ông nói thong thả:\n- Vừa rồi quốc sư có nói phương lược ứng xử với nhà Nguyên. Rồi quốc sư lại dạy: “Phải giữ lấy cái thế nhân chủ. Mất thế nhân chủ là mất nước”. Đúng như vậy. Thế thì cái chức Đạt-lỗ-hoa-xích kia mà Hốt-tất-liệt đã nói rõ: “Đeo hổ phù đi khắp nước”. Tức y có quyền giám sát, thậm chí kiểm soát mọi công việc của nước ta. Vì vậy nếu ta chấp nhận cho người Nguyên đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích cũng tức là ta chấp nhận một nửa sự cai trị của họ. Lý đương nhiên ta mất thế nhân chủ về tay họ. Nhưng nếu ta không chấp nhận, liệu họ có để ta yên không?\nLê Tần buông ra một câu hỏi mà chính ông đang rất băn khoăn. Nói xong, ông vái nhà vua rồi ngồi xuống.\nVua Thái tông với vẻ ngập ngừng nói:\n- Đây là điều khó xử nhất của chúng ta. Lại nữa cũng là điều then chốt nhất trong chiếu thư của Hốt-tất-liệt. Nhà Nguyên cho rằng ta có quy thuận họ hay không cũng ở điều này. Mà ta có giữ được cái thế nhân chủ hay không cũng ở điều này. Tức là việc chấp nhận hay không chấp nhận chức Đạt-lỗ-hoa-xích do nhà Nguyên đưa sang.\nNgẫm nghĩ một lát, vua Thái tông lại nói:\n- Trước vì sứ Mông Cổ mạn xược ta đã sai trói, có đứa đã chết. Sau chiến tranh họ lại cho hai sứ sang dụ, vẫn như bọn trước, rất là trịch thượng, vô lễ, ta cũng sai trói lại đuổi về nước. Nhưng đấy là chuyện của những năm trước. Nay thì không thể xử như vậy được, phải “lấy nhu chế cương” như quốc sư vừa chỉ ra. Vậy chư vị thử nghĩ xem có chước nào khả dĩ để đem ra làm đối sách với người Nguyên.\nTrạng nguyên Nguyễn Hiền xin nói:\n- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, bạch đại lão thiền sư cùng chư vị bề trên và đồng liêu. Việc Hốt-tất-liệt đòi đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích ở Đại Việt là ông ta muốn ra oai thôi, chứ Đại Việt ta mênh mông thế này mà chỉ có một tên Mông Cổ với vài đứa tùy tùng, thử hỏi chúng đi được đến đâu và làm được gì ở nước ta. Ấy là chưa nói chúng còn gặp một trở ngại lớn là ngôn ngữ bất đồng.\nTâu thượng hoàng, việc này có thể nhận được, nhưng ta phải biến nó trở thành những kẻ mắt đui tai điếc. Nói cho dân chúng biết không một ai được tiếp xúc với chúng. Nếu chúng nói gì, hỏi gì đều lắc đầu không biết. Bọn này chỉ nói được tiếng Vân Nam hoặc Quảng Tây. Vì vậy, nếu gặp khi nó hỏi, người dân cứ lắc đầu không biết hoặc dẫn nó vào cửa quan. Quan nọ lại dẫn đến quan kia cứ quần cho nó phát chán. Tức là nó đi đến đâu cũng là đi vào cửa quan cả, thử hỏi nó còn thâu nhận được gì. Tâu thượng hoàng, liền chỗ nó ở, ta cho mở hàng quán lầu ca, viện hát để cung phụng nó mà không thu tiền. Lại biếu xén nó, các đồ sang quý kể cả vàng bạc. Ta cứ nuôi vỗ cho nó béo, chiều nó hết lòng chắc nó cũng chẳng muốn đi dò xét ta làm gì nữa. Mà dò xét cũng không tìm biết được cái gì. Còn hạch sách ư? Chưa cần hạch sách ta đã cung phụng tới mức ở nước nó có nằm mơ cũng chẳng được.\nTâu thượng hoàng, làm như vậy cũng tức là ta biến ngài Đạt-lỗ-hoa-xích thành một con lợn được nuôi vỗ đầy đủ trong một khung chuồng. Và thỉnh thoảng ngài lại kiếm cớ về nước, tức là khuân của được biếu tặng về. Và đây là dịp y sẽ tâu lên thiên tử thuần những lời tốt đẹp về Đại Việt.\nTâu thượng hoàng thần nghĩ làm cách này đỡ tốn kém hơn, bang giao êm thuận hơn. Trong khi đó ta phải mau chóng chuẩn bị quân, lương, phòng khi nó đã diệt xong nhà nam Tống nó sẽ ép ta mạnh hơn, hoặc đưa quân sang chinh phục.\nMọi người vừa chú mục vừa lắng nghe Nguyễn Hiền nói. Ai cũng thầm khen đó là một cao ý.\nThái tông tỏ vẻ hài lòng, vua khen:\n- Quả khanh là người thông tuệ, mười ba tuổi đỗ trạng nguyên có khác. Mưu này dùng được. Vậy là theo chiếu thư của Hốt-tất-liệt đòi ta ba việc, nhưng quy về chỉ có hai. Cống người và cống đồ trân quý. Đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích. Ta nhận cả hai. Nhưng việc cống thì chỉ cống vật chứ không cống người. Các đồ trân quý cũng tùy thứ cho thứ không, thứ nhiều thứ ít. Còn Đạt-lỗ-hoa-xích sẽ theo kế của Nguyễn Hiền.\nSử quan Lê Văn Hưu xin nói:\n- Tâu, kế của quan binh bộ thị lang Nguyễn Hiền rất hay, nhưng nếu gặp viên Đạt-lỗ-hoa-xích là một kẻ tinh ranh lại trung thành với vua nó khiến ta không mua chuộc được thì sao?\nThông thị đại phu Trần Phụng Công nói:\n- Nếu gặp một kẻ như sử quan nói thì ta lại có đối sách khác. Nó muốn đi đâu, ta lo cho nó đi đấy. Tức là tỏ ra thừa nhận quyền uy của nó, nhưng bên trong vẫn là làm cho nó trở thành kẻ khiếm thính, khiếm thị. Tức là nghe mà không hiểu, nhìn mà không thấy.\nTâu, muốn làm được điều này thì phải dạy cho dân chúng biết bọn người ấy là kẻ thù của mình, nó sẽ đem họa đến cho mọi người. Cả nước muôn người như một thì dù chúng ở Thăng Long hay vào nơi chợ búa, chùa quán, làng quê cũng vậy cả thôi. Còn như chốn quân cư, kho tàng, nơi chế tác khí giới đều phải tuyệt mật, một bước cũng không cho nó đặt chân tới. Tuy nhiên, tôi vẫn tin vào kế của quan binh bộ thị lang. Cũng như tôi tin vào lòng tham sân của kẻ xâm lược.\nNghe các quan phản bác, rồi lại có người phản bác lại, vua Thái tông lấy làm hài lòng. Bởi việc luận bàn như vậy mới thật là rốt ráo. Cuối cùng vua phán:\n- Đáp lại chiếu thư của Hốt-tất-liệt lần này ta chỉ cống các đồ trân bảo cùng với tờ biểu mà không cống một người nào cả. Trong biểu dâng cống ta cũng không đả động tới. Nếu nhà Nguyên có bắt bẻ, sứ liệu lời mà biện bác. Ngay việc y đòi đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích ta không phản bác cũng không đả động gì tới. Nếu Hốt-tất-liệt có hỏi, sứ cứ trả lời quốc chủ tôi đang đón đợi.\nTuy nhiên, đây mới là việc nhỏ mở đầu cho một thời kỳ cam go sắp tới. Việc lớn của chúng ta là làm thế nào cho dân no ấm, binh mạnh, mong mọi người hiến kế.\nPhiêu kỵ thượng tướng thiên tử nghĩa nam Trần Khánh Dư xin nói:\n- Tâu thượng hoàng, còn một việc nữa nên làm, như ở Thăng Long và Vân Đồn hiện nay là hai nơi trọng yếu của nước nhà, thế mà cứ để cho bọn thương nhân Hồi Hột đi lại buôn bán tự nhiên. Liệu họ có buôn bán thật không hay ngoài là buôn bán nhưng lại ngầm dò la ta để tâu báo với người Nguyên, vì hiện nay cả hai nước Thổ Phồn và Hồi Hột đều là thuộc quốc của nước Nguyên, cho nên phải đề phòng kế dụng gián của họ.\nTâu, đuổi họ đi sợ lại đụng tới nhà Nguyên, chi bằng ngầm bảo người mình không ai mua bán giao dịch gì với họ nữa. Hàng họ nhập vào thì đánh thuế nặng. Còn hàng của ta thì thả cửa cho họ mua, nhưng nếu họ đem ra khỏi nước ta cũng đánh thuế thật cao. Như thế có nghĩa là hàng chất đống vào đầy kho không bán được, chắc chỉ một năm là cạn vốn, mấy người này phải bỏ của mà chạy chứ chẳng cần ta phải đuổi.\nNgoài cảng Vân Đồn hiện nay tàu thuyền nước ngoài ra vào buôn bán nhiều, mà người nước ngoài mở cửa hàng tại cảng cũng nhiều, nhiều nhất là người Tống. Xin bệ hạ cho dồn những người này vào buôn bán tại đất liền nếu họ còn muốn ở lại nước ta, khu cảng không cho người nước ngoài sinh sống ở đó nữa. Bởi nay mai quân thủy của ta chắc phải trú đóng và tập tành ở vùng này nhiều, cần phải giữ cho kín nhẹm.\nThái tông gật đầu khen:\n- Điều khanh nói chí phải. Quan gia nhớ sai khu mật viện phái người đi làm ngay việc đó. Nhớ là không giao thương, không giao tiếp.\nThái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải là người trẻ tuổi nhất trong số những người có mặt ở đây, năm nay vương mới hai mươi ba tuổi. Người cao, dáng hơi gầy, gương mặt thanh tú, đôi mắt sáng lạ lùng. Vương được vua sai vào trị nhậm Châu Nghệ An cũng là một sự tập dượt. Bữa nay vương chưa nói năng gì mà chỉ lắng nghe mọi người. Vương vừa nghe vừa nhìn về phía bức đại tự có bốn chữ “Giang sơn cẩm tú” là lưu bút của bá phụ Yên Sinh đại vương, và vương tự suy ngẫm.\nVua Thái tông lại gặng:\n- Nào, ta muốn nghe kế để hưng thế quân, hưng thế nước không kể việc lớn việc nhỏ, mưu kỳ chước lạ chỉ cần có suy nghĩ chân thực, lời nói ắt chân thành còn việc dùng được hay chưa dùng được hoặc không dùng được đều phải bàn thảo, vì vậy chớ ngại đúng sai.\nĐô thượng tướng quân Trần Khuê Kình xin nói:\n- Tâu thượng hoàng, thế quân nằm trong thế nước. Thế nước đã hưng, thế quân ắt có đà. Từ cả chục năm nay bệ hạ sai đắp đê ngăn lũ, ngăn mặn từ nguồn tới biển, nhiều nơi lúc trước lúa chỉ cấy được một vụ, nay đã một năm hai vụ gặt. Thóc ninh ních đầy bồ, dân no ấm. Bệ hạ lại sai bán ruộng quốc điền cho những nông phu không có ruộng cày, ai không có tiền thì bán chịu, chỉ có năm quan tiền một mẫu ruộng. Gần đây bệ hạ còn cho các vương hầu được khai hoang, vỡ hóa mở các điền trang. Việc này phải chờ dăm ba năm mới thấy được kết quả. Sức dân sẽ lên từ từ, vận nước vì thế mà hưng hơn nữa.\nTuy vậy cái cấp kỳ hiện nay là phải hưng thế quân. Đây là việc muôn khó. Trước hết là phương cách đánh trận. Vì rằng cách kình chống với quân Tống và kình chống với quân Nguyên hoàn toàn khác. Ví như năm Đinh Tỵ giặc lâm vào thế yếu phải bỏ chạy, vậy mà quân ta không có cách gì truy đuổi kịp nó. Giá như lũ giặc ấy là quân Tống, chắc đã bị quân ta tiêu diệt hết. Hơn nữa là binh khí. Binh khí của ta chỉ ngang hoặc hơn quân Tống chứ không so được với quân Nguyên. Nội trong một cây cung ta đã không so được với giặc. Cung của giặc, sức ta ít người giương nổi. Vì vậy nó bắn được xa và sức xuyên thì áo giáp thường không cản nổi. Nhưng cái sở trường về binh khí của quân ta là gì? Xin chư liệt vị chỉ ra. Nếu đã có thì ta phát tác nó lên, nếu chưa có thì tìm, phải tìm ra cái hình hài của nó.\nKhi Trần Khuê Kình nói phải hưng thế quân và các điều cần yếu làm cho quân ta có sức mạnh, ai cũng cho là phải và đó là khâu then chốt. Nhưng làm thế nào thực hiện được điều mong ước đó lại không dễ.\nBỗng Thái sư Trần Thủ Độ lên tiếng:\n- Việc Khuê Kình đòi hỏi, ta chắc Quốc Tuấn có thể giải đáp được. Vì sao ta nói vậy? Là vì ta biết Quốc Tuấn đã khảo cứu binh pháp của các binh gia từ thuở mười lăm, mười sáu tuổi, nay Tuấn đã ngoài ba mươi tuổi, là cái tuổi đang chín. Vả lại, cuộc chiến năm Đinh Tỵ, Quốc Tuấn đã phối với Hà Bổng, Hà Khuất vừa tiêu diệt vừa đuổi về nước ba vạn quân Mông Cổ và hơn hai vạn binh lính và phu phen của Đoàn Hưng Trí, cắt cái đuôi tiếp ứng của quân Mông Cổ, khiến chúng chiếm Thăng Long ở chưa được ấm chỗ, khi bị thượng hoàng tiến đánh là chúng tháo chạy. Khi ấy Quốc Tuấn lại cùng với Hà Bổng phối đánh tiêu diệt khá nhiều quân Mông Cổ. Nay lại nghe nói Quốc Tuấn đang trước tác binh pháp. Do đó mà ta tin là Quốc Tuấn đã có đối sách. Khá mau tường trình lên hai vua cùng chư liệt vị đây để cùng cứu xét.\nNghe Thái sư Trần Thủ Độ nói mọi người đều sửng sốt, kể cả vua Thái tông đều không khỏi bất ngờ. Mặc dù nhà vua đã biết Quốc Tuấn có tài làm tướng và đôi lần thái sư có nhắc phải trao cho Quốc Tuấn nắm việc quân. Nhưng nhà vua vẫn còn phân vân, phần vì tuổi Quốc Tuấn còn trẻ, binh nghiệp chưa có gì vượt trội hơn mọi người. Và còn một điều nữa tuy chưa có gì đáng nghi nhưng có phần hơi ngại vì cha Quốc Tuấn có hận với triều đình. Nếu mang quân quyền giao hết cho Quốc Tuấn, lỡ có điều gì thì chẳng nguy lắm sao. Tuy vậy, cái phần ngài ngại ấy nhà vua vẫn bao kín ở trong lòng, ngay với các con ngài cũng không nói, sợ gieo trong anh em nó nỗi nghi kỵ rồi xảy đến bất hòa là điều đại họa không chỉ cho nhà mà còn cho nước nữa. Nhất là trong lúc này, kẻ thù đang dòm ngó núi sông ta.\nNghe Thái sư nói, Quốc Tuấn vẫn ngồi yên. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía vị tướng trẻ. Chỉ khi vua Thái tông nói:\n- Quốc Tuấn khá tường trình kế sách hưng thế quân của ngươi đi.\nThái tông vừa dứt lời, Quốc Tuấn bèn đứng lên thưa gửi hai vua cùng các bậc bề trên, các đồng liêu rồi nói:\n- Tâu thượng hoàng thần có xem xét cách đánh trận từ cổ đại tới nay. Cổ đại dùng đội hình hàng dọc xông vào giáp chiến, sự thắng thua phụ thuộc trước hết vào các vị tướng của cả hai bên. Vì vậy, tướng phải là người cực khỏe, võ nghệ siêu quần.\nSau này trận bày thiên về đội hình hàng ngang. Các tướng vẫn giữ địa vị ưu tuyệt của các đội quân, nhưng chủ tướng không xông lên phía trước mà ở phía sau, lên cao quan sát thế trận của đối phương xem nên công phá ở phía nào hoặc giả phán đoán sự thua chạy của đối phương là thật hay chỉ giả thua để dụ quân mình vào ổ phục. Do đó mới quyết định cho truy đuổi hay dừng lại.\nTiến lên một bước nữa vừa bày trận dàn quân đánh nhau, vừa có thành trì phòng thủ.\nNhư nhà Tống hiện nay phối hợp nhiều chủng quân: quân bộ, quân thủy, quân kỵ, vừa bày trận dàn quân vừa có thành cao hào sâu cố thủ.\nNhưng so giữa hai cách hành binh và đối trận có thể nói kiểu của quân Tống là ở thế tĩnh. Còn kiểu của người Mông Cổ là ở thế động.\nVì họ ở thế động, nên họ áp đảo đối phương rất nhanh khiến không kịp trở tay đối phó. Do vậy khi lâm trận họ thường chủ động và gây cho đối phương nỗi kinh hoàng không thể chống đỡ. Thường là họ lấy quân ít đánh quân nhiều và họ luôn là kẻ chiến thắng.\nVí như đối phương có một nghìn quân bộ lập thành một thế trận hình vuông, quân sĩ chĩa khí giới về cả bốn hướng để cự địch. Trong khi họ chỉ có hai ba trăm quân kỵ chia làm hai toán. Các kỵ sĩ phóng nước đại quây đối phương thành một vòng kín, một nửa chạy xuôi, nửa kia chạy ngược, vòng vây ngày một khép chặt. Họ vừa phi ngựa vừa bắn vào quân của đối phương. Thỉnh thoảng lại quăng thòng lọng vào giữa đám quân đông đúc của đối phương mà bắt tướng. Vòng vây cứ ngày một siết nhỏ lại khiến quân đối phương dồn vón như một đàn kiến bị dìm trong nước không thể chống cự. Nếu quân kia hạ khí giới đầu hàng may còn được sống, nếu có hành vi kháng cự hoặc trù trừ thì hàng trăm con ngựa lớn cứ thế xông thẳng vào đám đông và lính Mông Cổ từ trên mình ngựa vung gươm chém lia lịa, kỵ sĩ cứ cho ngựa quần và chém giết đến người cuối cùng. Với cách đánh lạ lùng ấy cho tới nay, chưa có một đội quân nào, một quốc gia nào không bị quân Mông Cổ đánh bại.\nQuốc Tuấn tạm ngừng lời để dò xét ý tứ các bậc bề trên và các đồng liêu.\nBỗng Phiêu kỵ thượng tướng quân Trần Khánh Dư lên tiếng:\n- Huynh nói vậy và quả thực là như vậy về phương lược tác chiến cũng như khí cụ tham chiến, quân Mông Cổ đã phát triển theo một hướng mới, khác hẳn với lối tác chiến cổ xưa và đem lại hiệu quả chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh. Xin huynh cho nghe phương lược mới mà huynh trứ tác.\nCứ nghe cách hỏi của Trần Khánh Dư, Quốc Tuấn biết kiến thức người này không thể xem thường. Và quả thực vương cũng không ngờ Khánh Dư còn trẻ mà đã có kiến văn đáng quý.\nĐúng lúc Thái úy Trần Quang Khải cũng giục:\n- Quốc Tuấn, huynh nói cái kế của huynh về tổ chức một đội quân để chống lại quân của người Nguyên. Huynh cho quân Thát-đát ở thế động, quân của các nước khác kể cả nước ta đều ở thế tĩnh. Và như vậy quân địch ở thế dương, quân ta ở thế âm. Thế thì làm thế nào để lấy tĩnh chế động, lấy âm chế dương.\nLại nghe lời hỏi của Quang Khải, Quốc Tuấn thầm đoán: Quang Khải là người bén nhạy, thông tuệ, vừa nghe đã muốn biết đến cái rốt ráo của sự việc và tóm thâu thế quân, thế trận của đôi bên để quy về có hai chữ âm, dương. Khải chắc sẽ trở thành bậc thượng tướng siêu việt.\nChưa thấy Quốc Tuấn lên tiếng, Thái sư Trần Thủ Độ bèn giục:\n- Hưng Đạo vương cho mọi người nghe cao ý của cháu đi.\nQuốc Tuấn bèn thưa:\n- Tâu, quân Thát-đát Mông Cổ quả có lối đánh mới rất lợi hại. Nhưng ta không thể lập một đội quân theo kiểu của họ được. Vì rằng nếu quân lính và ngựa của ta có căng sức tập luyện tới ba năm cũng không thể quen thạo như một người du mục Mông Cổ cưỡi ngựa và ngựa của ta cũng vậy. Bởi vì thảo nguyên bao la, ngựa vừa ăn cỏ vừa nô giỡn đuổi nhau trên đồng cỏ vài ba chục dặm là thường. Một ngày đàn ngựa có cả chục lần giỡn đùa như vậy. Vì thế ngựa Mông Cổ vừa to khỏe vừa có sức chạy dẻo dai mà không giống ngựa nào có được. Cái ưu thế về thảo nguyên bao la, trời đã ban tặng riêng cho người và các giống vật Mông Cổ, trong đó có loài ngựa. Nay họ lấy cái thiện xảo trời phú cho làm kế sinh tồn để biến nó thành những đạo quân khổng lồ đi chinh phục các nước. Nếu ta lập các đạo quân theo hướng của họ ắt trở thành cái bóng ngả dài của họ và bị họ bóp chết trong thoáng lát.\nTa ví ta ở cái thế âm. Nhưng trong âm lại có dương. Còn người Mông Cổ lại ở cái thế thuần dương, cực dương. Cho nên trong giao đấu chiến trường, cái cực mạnh của họ nếu ta biết khắc chế, nó sẽ biến thành cái cực yếu.\nQuốc Tuấn chợt ngừng lời như để nhớ lại các điều đã trước tác và chắt lọc nó ra để trình lên những ý chính, vì các bậc bề trên sẽ cho là thất lễ, nếu như ta cứ lạm dụng rườm rà.\nThật ra không phải như Quốc Tuấn khiêm nhường nghĩ vậy, mà mọi người đang căng tai lắng nghe.\nLê Tần, một viên dũng tướng văn võ song toàn, liền trong mấy chục năm cả nhà vua và thái sư đều không chê ông điều gì, thế mà nghe Quốc Tuấn nói ông cũng phải thầm khen: “Quốc Tuấn mới là bậc kỳ tài, mưu vương tướng lược. Có nhẽ trời ban cho Đại Việt con người này để kình chống với sức mạnh của nhà Nguyên đây”. Chính ông đang muốn nghe Quốc Tuấn nói tiếp.\nNhà vua và cả thái sư đều gật đầu vẻ hài lòng. Quốc sư Phù Vân tay lần tràng hạt, mắt thả vào hư vô, nhìn mà như không thấy.\nMột thoáng ngưng nghỉ, Quốc Tuấn lại tiếp: - Sức mạnh của quân Mông Cổ là đánh vu hồi. Nó đòi hỏi một chiến trường rộng lớn, khô ráo, bằng phẳng với một đối phương đông đúc bày thành thế trận. Nếu có một đối phương như thế, ắt sẽ trở thành miếng mồi ngon cho quân Mông Cổ.\nVới vẻ tự tin khác thường Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nói hết sức dõng dạc:\n- Nếu quân Nguyên, tức quân Mông Cổ xâm lấn, ta buộc nó phải chấp nhận cách đánh của ta. Tức là ta phân nhỏ địch ra mà đánh, ta kéo nó vào đầm lầy, rừng rậm, sông hồ mà đánh. Với một chiến trường như thế, ngựa Mông Cổ trở nên vô dụng. Mà quân Mông Cổ một khi đã rời khỏi lưng ngựa coi như một thứ đồ bỏ. Và ta chỉ đánh nhau với chúng vào mùa mưa, mùa ngập úng, lũ lụt. Mùa đó, ngựa Mông Cổ không có cỏ sạch mà ăn, không có nước sạch mà uống, cỏ tươi ngập nước, mùa lũ nước sông đục ngầu, ngựa uống vào chỉ đi ỉa chảy mà chết. Còn thời tiết mùa mưa vừa nóng vừa ẩm, người phương bắc sẽ không chịu nổi bởi nó làm cho thân thể họ đau nhừ, mỏi mệt rồi mắc các bệnh thời khí khiến quân không còn sức chiến đấu nữa. Khi ấy, giặc co cụm lại giữa bốn bề mênh mông nước thì chính chúng lại là mồi ngon của quân ta.\nTâu, nhưng dụ được địch vào kế của ta không dễ. Vì dưới trướng Hốt-tất-liệt đều là những tướng bách chiến bách thắng, lại mai đây khi người Nguyên đã bình xong Trung Hoa thì tiềm lực của nó lớn lắm, sức mạnh của quân nó cũng lớn lắm. Khi ấy nó không chỉ là quân Mông Cổ thuần dương, cực dương mà nó sẽ có những đội quân nô lệ thuần người Hán với cách đánh rất giống ta. Nó cũng có quân thủy và các mưu sĩ Trung Hoa làm tay sai cho nó vừa thâm hiểm vừa hiểu ta. Cho nên con đường đối phó với giặc sau này là muôn khó. Những đạo quân với khí giới và sức tinh nhanh thiện chiến như của ta hiện nay, chưa thể là lực lượng bảo vệ vững chắc giang sơn được, xin bệ hạ sớm trù liệu.\nNghe Quốc Tuấn nói ai cũng thấy sự lý giải và cả sự lo lắng của Quốc Tuấn là có lý. Các tướng trẻ dường như hiểu được Quốc Tuấn, còn các tướng già, các bậc trưởng lão lại kỳ vọng nhiều hơn ở Quốc Tuấn.\nThái sư Trần Thủ Độ với vẻ hài lòng, ông nói:\n- Ta nghĩ đây mới chỉ là đoạn giáo đầu trong trước tác về binh pháp của cháu. Cháu phải sớm hoàn thành trước tác đi, hẳn là nhờ vào binh pháp này mà quân ta đủ sức kháng giặc chăng. Cháu đúng là một trí tướng, sự biến thông của cháu đã hé lộ. Riêng một việc cháu lấy thời tiết, khí hậu và cả thời gian như là một đội quân tham chiến, thực ta chưa nghĩ tới. Phần ta coi như một thứ đồ bỏ. Nhưng ta hy vọng nhất định các cháu sẽ giữ được mảnh giang sơn gấm vóc này, mà mỗi cọng cỏ, mỗi viên sỏi đều thấm đẫm máu xương của tổ tiên bao đời nay. Để mất nó dù chỉ một tấc núi một thước sông đều là trọng tội.\nKhi mọi người đã có vẻ hài lòng về những gì mà Quốc Tuấn nói, vua Thái tông liền dụ bảo:\n- Nước ta nhỏ, nhưng cứ phải gồng mình chống đỡ những kẻ thù khổng lồ. Có nhẽ đúng như Quốc Tuấn nói, mai đây quân Nguyên bình định xong nước Trung Hoa thì mối hiểm nguy đối với nước ta lại càng lớn. Ta không thể lập một đội quân đông và đủ mạnh để chặn giặc từ biên thùy. Tốt nhất vẫn là không nên có chiến tranh. Nhưng vạn nhất không tránh được thì ta phải có kế sách thế nào để có thể ngăn giặc, để có thể giữ được nước. Vì vậy ngoài sức mạnh của các chủng quân còn phải có sức mạnh của trí tuệ nữa. Nếu ta thua giặc một trận, ta có thể đánh trận khác. Nhưng nếu ta thua giặc về trí tuệ tức là thua về mưu lược dù chỉ một lần sẽ là mãi mãi thua. Cho nên thái sư kỳ vọng Quốc Tuấn sẽ trở thành một binh gia là điều có lý. Vậy Quốc Tuấn sớm hoàn thiện trước tác để có thể đem ra huấn hỗ cho tướng lĩnh và dạy bảo cho binh sĩ.\nNhìn về phía Quốc Tuấn vua Thái tông gạn hỏi:\n- Ta nghe các thân vương nói, Quốc Tuấn có đội gia binh vào loại lớn nhất và được huấn hỗ kỹ càng hơn các phủ binh khác. Vậy có thể làm một cuộc diễn tập ngay trên Lục Đầu giang này cho mọi người xem được không. Nếu phối được nhiều chủng quân, lại chia thành bên ta, bên giặc mà đánh nhau như thật là tốt nhất.\nVua hỏi, cũng có nghĩa là vua dụ bảo, không thể không tuân. May mà đã có dự liệu từ trước, Quốc Tuấn liền đứng dậy vái hai vua, vái các bậc bề trên rồi nói:\n- Tâu, thần xin tuân chỉ. Sớm mai vào đầu giờ dần, nhằm lúc sương chưa tan, xin mời thượng hoàng, quan gia, thái sư cùng chư vị lên đỉnh hai ngọn núi ở hai bên tả hữu này xem quân của phủ binh Hưng Đạo vào trận.\nThái tông gật đầu vẻ hài lòng. Ai nấy đều lấy làm thỏa mãn và nóng lòng chờ xem Quốc Tuấn cho quân vào trận, mặc dù đây mới chỉ là trận giả.\n\nĐiện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa cùng viên ngoại lang Trần Kiều đi sứ nước Nguyên về tâu vua:\n- Nhà Nguyên vỗ về thăm hỏi sứ thần từ xa đến, cho người hầu hạ chu đáo và họ nói họ gia ân cho Đại Việt vì ở xa, nên từ nay ba năm mới phải cống một lần, gọi là giữ lấy cái tình của nước bề tôi nhớ ơn thiên tử chứ nước họ không thiếu gì mà cần đồ cống.\nVua Thánh tôn liền hỏi:\n- Hai khanh có dò biết được người Nguyên bình nước Tống đến đâu rồi không?\n- Tâu bệ hạ việc ấy không phải dò cũng biết. Tạm thời nước Tống được bình yên. Ngoài các phần đất về phía bắc đã mất do nước Mông Cổ diệt nước Kim thì nam Tống lại cắt thêm đất Giang Bắc (phía bắc sông Trường Giang) và hàng năm cống nạp. Hốt-tất-liệt và các tướng tài đều trở về Mông Cổ để chinh phục em trai hắn là A-lý Bất-kha để tranh ngôi Đại Hãn. Nếu Hốt-tất-liệt lên ngôi Đại Hãn toàn Mông Cổ và các vùng đất đã chinh phục, chắc nhà nam Tống sẽ không trụ được. Ngay nước ta chúng cũng chẳng để yên cho thế này đâu.\n- Phải, trẫm cũng nghĩ thế. Năm trước trẫm sai thông thị đại phu Trần Phụng Công, chủ vệ kỳ ban Nguyễn Thâm, viên ngoại lang Nguyễn Diễn mang thư và quà biếu sang thông hiếu. Nhà Nguyên hào phóng phong cho ta làm “An Nam quốc vương”, lại ban cho ta ba tấm tây cẩm, sáu tấm kim thạc cẩm. Ta biết đây chỉ là sự vỗ về để nước ta yên tâm phụ thuộc cho họ rảnh tay làm việc khác. Sự thể chắc rồi sẽ như khanh nói. Lũ chó sói này đang hung hãn lắm.\nVua an ủi hai người rồi dụ:\n- Hai khanh chịu khó về Thiên Trường, chính là hương Tức Mạc cũ đấy. Năm ngoái mới đổi thành phủ Thiên Trường. Cũng vừa khánh thành cung Trùng Quang, cung Trùng Hoa, lại xây được ngôi chùa gọi là Phổ Minh, tất cả đều mỹ lệ lắm.\nNay thượng hoàng về ở cung Trùng Quang còn cung Trùng Hoa để khi trẫm về chầu cần ở lại. Thượng hoàng định giao hẳn việc nước cho trẫm, người về Thiên Trường trước tác và tu tập. Bây giờ hai khanh về ngay Thiên Trường tâu báo lại việc như các khanh vừa nói để thượng hoàng yên tâm.\nSau lễ thượng nguyên (rằm tháng giêng) cư sĩ Trần Tung, tức Trần Quốc Trung pháp hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ\n[87] về Thăng Long có ghé chơi chùa Thắng Nghiêm, may lại gặp quốc sư Phù Vân mới ở Thiên Trường về. Sư khoe:\n- Vừa in xong bộ kinh\n*Khóa hư lục* [88] của thượng hoàng, bần tăng thân đem sách về cho nhà vua ngự lãm.\nTuệ Trung nói như reo:\n- Vậy à. Thưa thiền sư liệu kẻ hậu học này có được phép ngó xem bậc tiền bối trước tác thế nào để mà lĩnh hội.\nQuốc sư Phù Vân đáp:\n- Sách mới in được vài chục bản, còn chờ ý chỉ của thượng hoàng ban tặng, thiền lão tôi không dám tự tiện, nhưng nếu vương\n[89] nghỉ lại đây để coi cho tiện thì việc đó không có gì cản ngại. Vừa nói thiền sư vừa đưa vào tay thượng sĩ bộ sách.\nMới coi qua lời tựa, thượng sĩ đã hỏi:\n- Thì ra nhờ có lời khuyến dụ của đại lão mà bộ kinh này được ra đời. Phước huệ! Phước huệ!\nDứt lời Tuệ Trung liền đứng dậy vái sư hai vái:\n- Bạch trưởng lão họ Trần nhà tôi dốc lòng hiếu Phật chắc từ bổn kinh này đây. Dân nước hiếu Phật chắc cũng từ bổn kinh này đây. Tôi không thể ngờ thượng hoàng làm biết bao công việc, ngay cả việc không tự làm cũng để tâm nhắc nhở. Tự mình cầm quân viễn chinh, bình Chiêm, lại tự mình làm tướng kháng Mông, thuần những việc lớn quốc gia, vậy ông chú tôi trước tác vào lúc nào.\nQuốc sư mỉm cười đáp:\n- Khi đã nhiếp tâm Bồ đề chánh niệm chánh giác sao còn phải hỏi đến thì giờ.\n- Bạch trưởng lão, Thái tông dùng thể phổ thuyết để người nghe dễ tiếp nhận và những luận đề trong kinh văn cũng là những điều thiết thực thường gặp trong đời sống thế tục. Rõ ràng đây là một chủ thuyết hòa quang đồng trần, đạo trong đời, đời trong đạo. Đúng như trưởng lão dạy: “Tâm Phật ở trọn nơi đây”.\nHai người đang nói chuyện bỗng có một vị tiểu tăng chạy vào, vội nói:\n- Bạch trưởng lão có hoàng thượng tới thăm, kiệu đã vào tới tam quan.\nQuốc sư quờ tay với cây thiền trượng định ra đón vua, Tuệ Trung ngăn lại:\n- Trưởng lão tuổi cao cứ ở trong nhà để đệ tử ra bái kiến hoàng thượng. Nói rồi ông bước rảo ra phía cổng chùa.\nVừa trông thấy nhà vua, chưa kịp chào thì vua đã reo lên:\n- Sư huynh về triều từ bao giờ mà kín tiếng thế. Nếu không gặp huynh ở đây liệu huynh có ghé cung Quan Triều không đấy.\nThay vì trả lời, Tuệ Trung cúi đầu vái vua Thánh tông hai vái.\nNhà vua vội đáp lễ và trách:\n- Sao sư huynh đa lễ thế. Đây là chốn thiền môn chứ không phải triều môn.\n- Tình anh em thì phải giữ, nhưng lễ vua tôi cũng không thể sơ khoáng được, bởi đó là phép nước, bệ hạ có thương mà miễn lễ, thần chỉ dám nhận khi ở trong nhà thôi.\n- Vậy chớ huynh về đây được mấy bữa rồi?\nTuệ Trung chỉ vào chiếc tay nải để dưới chân cột nói:\n- Thần vừa về tới đây chừng nửa canh giờ. Thấy nói trưởng lão ở Yên Tử về coi sóc việc in trước tác cho thượng hoàng nên ghé thăm. Ai ngờ lại được trưởng lão cho xem bản kinh vừa mới in xong.\nTuệ Trung bèn dâng quyển sách lên. Nhà vua liền đỡ lấy và mở xem.\nGương mặt nhà vua bừng sáng theo mỗi lời kinh mà ngài nhẩm đọc. Đoạn nhà vua quay ra vái đại lão thiền sư:\n- Bạch trưởng lão nếu không có lời trưởng lão nhuận sắc và tự coi sóc cho việc in ấn này thì chưa biết tới khi nào\n*Khóa hư lục* của phụ hoàng trẫm mới ra đời được.\nPhù Vân quốc sư vái đáp lễ:\n- Bệ hạ quá khen, tự thân trước tác định giá việc tồn tại hay không tồn tại. Lão tăng quả không nói gì hơn về những điều đã hàm chứa trong kinh văn của thượng hoàng.\nNhà chùa dâng trà. Ba người vừa uống nước vừa nói chuyện về kinh bổn và tu tập.\nTrời tháng giêng, cái rét ngọt đầu xuân quyện bên chén trà nóng bốc khói tỏa hương thơm. Cây mộc cạnh mái hiên chùa thỉnh thoảng lại ngầm tỏa hương vào thiền đường đãi khách, khiến người ta có cảm giác như hương thơm từ chính những mỹ ngữ do các bậc túc thiền đàm đạo toát ra.\nVua Thánh tông cáo từ để về triều. Nhà vua mời Tuệ Trung:\n- Mời huynh chiều tối nay ghé cung Cảnh Linh, đệ có điều muốn cầu kiến. Nhà vua nhìn quanh quất không thấy xe kiệu của Tuệ Trung liền hỏi. - Huynh đến đây bằng gì?\nTuệ Trung mỉm cười chỉ xuống đôi chân.\nVua lại hỏi:\n- Để đệ nói phu kiệu đến đây chờ sẵn, khi nào huynh cần đi đâu thì sai bảo.\nTuệ Trung vừa xua tay vừa lắc đầu:\n- Đa tạ bệ hạ gia ân, thần chỉ muốn đi bằng đôi chân của mình thôi, không muốn mắc vướng vào xe kiệu làm gì.\n- Đi đường xa thì huynh làm thế nào?\n- Tâu, thủy thì đi thuyền, bộ thì đi ngựa, đường cheo leo hiểm trở thì đi bằng cả bốn tay, chân. Vì thế không chỗ nào thần muốn đến mà không đến được. Duy có một con đường, muốn đến mà cứ mãi loay hoay tìm lối.\n- Chẳng hay đó là đường nào vậy? - Vua hỏi.\nĐại lão thiền sư nghe hai người hỏi han nhau liền mỉm cười.\nVua thấy quốc sư cười liền hỏi:\n- Trưởng lão chắc có điều gì dạy chúng đệ tử?\n- Đâu dám! Đâu dám! Lão tăng chỉ muốn nói con đường mà Hưng Ninh vương muốn tới, nó thênh thang thoáng mát lắm, mọi người đều có thể đi. Và sự thật thì trong đời ít ra cũng có một lần ta đặt chân tới, có người đi một đoạn thì quay lại, có người cặm cụi đi gần tới đích rồi quay lại, thành thử nhiều người đi mà ít người đến được đích.\n- A-Di-Đà Phật! Vua Thánh tông vừa ngộ ra, chợt kêu hồng danh đức Phật - Đệ tử biết rồi, vua nói - Đó là con đường giải thoát, anh Tuệ Trung hóm thật. Nói xong nhà vua cúi chào trưởng lão và Tuệ Trung rồi lên kiệu.\nTuệ Trung ngồi mở từng trang cuốn kinh\n*Khóa hư lục *đọc mải miết.\nQuốc sư Phù Vân ngồi theo thế bán kiết, mắt lim dim, tay lần tràng hạt, dường như ngài đang thả hồn vào cõi hư tịch.\nTuệ Trung đọc một mạch tới đầu giờ ngọ thì xong. Lúc này thiền sư đang hí hoáy viết cái gì đó mà ngài vừa thu nhận được qua sự lắng chân tâm.\nTuệ Trung không quan tâm đến điều đó, ông nói giọng vang như trong lòng đang có điều gì vui lắm:\n- Kính bạch trưởng lão, bổn kinh này với cuộc đời hành hóa trong những năm ở ngôi, chẳng phải thượng hoàng đã lĩnh hội từ lời răn của trưởng lão trên Yên Tử sơn từ mấy chục năm trước sao? Đây chẳng phải là bằng chứng “lấy cái tâm của thiên hạ làm tâm của mình, lấy ý muốn của muôn dân làm ý muốn của mình” sao? Lại đây chẳng phải là kết quả của việc “nghiền ngẫm nội điển” sao?\nPhải nói, trưởng lão là người khai minh cho thúc phụ của đệ tử thật đúng lúc. Và trong những năm ở ngôi nhà vua đã tri hành hợp nhất, ngôn hành hợp nhất, dân nước vì thế mà ấm no, thế nước hưng vượng. Vậy là công của trưởng lão lớn lắm. Trưởng lão quả là đấng Bồ tát tại thế.\nQuốc sư nắm lấy cây thiền trượng chống xuống đất để lấy đà đứng lên, ngài đi lại loanh quanh trong gian phòng rộng rãi. Dừng trước Tuệ Trung, ngài nói:\n- Thượng sĩ đừng quy công thái quá khiến lão tăng thêm ngượng. Cái chính là ở nơi nhà vua và bộ máy cai trị của ngài. Khi bậc quân trưởng có tuệ tâm, tuệ nhãn sẽ luôn sửa mình theo điều thiện mà hành hóa. Còn khuyên nhủ ư, người tu hành nào gặp cảnh ngộ ấy cũng nói như lão tăng. Nhưng người nghe tâm không thiện, trí không sáng thì không những không sửa mình, mà sửa ngay người khuyên nhủ, sửa cả chúng dân trăm họ. Ta chẳng thấy đã có một vua Lê Long Đĩnh như thế sao. Thiền sư Quách Ngang đã chẳng khuyên vua sao. Không những không nghe, còn mượn cớ ăn mía nhờ đầu sư làm đòn kê, rồi giả vờ trượt tay dao phạt một bên tai của thiền sư. Đức Vạn Hạnh chẳng khuyên sao. Sở dĩ nhà vua không dám đụng đến thiền sư Vạn Hạnh bởi vì đức của ngài lớn, tài trùm thiên hạ, thế vững như núi Thái Sơn.\nNhà chùa cho người thỉnh trưởng lão và Hưng Ninh vương sang trai đường dùng bữa.\nCơm nước xong, Tuệ Trung bái biệt trưởng lão khoác tay nải ra đi. Ông có dáng người cao dỏng, hai chân dài. Cứ xem cách ăn mặc không ai đoán được ông là cư sĩ, đạo sĩ hay nho sĩ. Tóc búi, khăn vành dây màu vàng quấn trùm búi tóc phía sau gáy. Cứ như cái màu khăn ấy người ta ngờ ông là đạo sĩ của đạo Hoàng Lão. Thế nhưng ông lại vận áo dài may bằng vải thanh cát, cổ thìa khép vạt, thắt đai. Áo thì đúng là nho sĩ nhưng vải và màu lại thuộc lớp người nghèo ưa dùng, chân đi hài cỏ. Ông bước đi thẳng, nhưng không bước vội, đầu ngẩng cao, mắt nhìn lơ đãng, tựa như ông vừa đi vừa nghĩ về một cái gì đó.\nÔng có trang ấp lớn, giàu có, ông muốn đi xe, đi kiệu hoặc thích đi bộ thì có người hầu mang đồ, khoác nải, thế nhưng những thứ đó với ông là vướng bận, nên đi đâu ông tự mình lo liệu. Ngay bây giờ thuyền của ông đậu ngoài bến, mấy người hầu, mấy trạo nhi ông cho nghỉ lại trên thuyền chứ không cho một đứa nào theo chân.\nChiều muộn ông tới cung Cảnh Linh. Đô tướng đô cấm vệ quân từng biết ông nên mời ngay vào nhà tân khách. Nơi ấy vua Thánh tông đang chờ ông.\nVừa trông thấy ông, vua vội chạy ra bậc thềm đón và niềm nở chào:\n- Sư huynh đi đâu mà mãi giờ này mới tới.\nTuệ Trung cười khanh khách:\n- Bệ hạ chẳng thấy tên thần là Tung nên cứ đi lung tung, thích đâu ghé đấy.\nThiên Cảm hoàng hậu từ phía hậu điện bước ra trông thấy Tuệ Trung liền cười ngặt cười nghẽo.\n- Giời ơi, anh Quốc Trung, anh vận cái thứ gì ở trên người thế kia. Anh vận thế mà ra mắt nhà vua sao?\nTuệ Trung tươi cười đáp:\n- Thế cô chẳng thấy anh đến thăm em gái sao\n[90]. Bệ kiến nhà vua thì phải tới điện Thiên An chứ sao lại đến đây.\nCả ba người cùng cười nói vui vẻ chứ không giữ lễ vua tôi gò bó nữa.\nCơm nước xong, nhà vua mời Tuệ Trung vào trà thất. Nội thị pha trà xong vua vẫy tay cho lui.\nSau ba tuần trà, Tuệ Trung vẫn ngồi yên không nói mà cũng chẳng hỏi nhà vua điều gì.\nVào chuyện, vua hỏi:\n- Nghe nói sư huynh trứ tác nhiều lắm. Huynh có đem gì về cho đệ đọc đấy không?\nTuệ Trung chưa kịp trả lời thì hoàng hậu Thiên Cảm dẫn thái tử Trần Khẩm vào chào.\n- Em phải cho Khẩm vào chào anh còn cho cháu đi ngủ sớm, kẻo anh với nhà vua nói chuyện thì có mà hết đêm.\nNói xong, hoàng hậu bảo hoàng tử:\n- Con lạy bá phụ đi rồi về kẻo nhũ mẫu chờ.\nHoàng tử Khẩm ngắm nhìn Tuệ Trung rồi cúi lạy:\n- Con chào bá phụ.\n- Bá phụ chào con, Tuệ Trung đáp rồi ông kéo hoàng tử vào lòng hỏi han việc học hành. Lại hỏi:\n- Con cầm tinh con gì nào?\n- Thưa bá phụ, con tuổi ngọ, Mậu Ngọ ạ.\n- Giỏi, con ngoan lắm.\n- Con học sách gì rồi?\n- Thưa bá phụ con học sách Ngũ tự kinh ạ.\n- Con học để làm gì?\n- Con học để biết chữ. Biết chữ để đọc sách ạ.\n- Đọc sách để làm gì?\n- Thưa bá phụ, đọc sách để khỏi ngu ạ.\n- Ai dạy con thế?\n- Dạ thưa nhũ mẫu bảo thế. Bà nói bà không biết chữ, không đọc được sách, nên bà ngu lắm.\n- Không phải thế đâu con ạ. Nhiều người không biết chữ, nhưng họ làm ăn giỏi, cư xử phải đạo, không làm điều ác, như thế không thể nói người không biết chữ là người ngu được. Tuy nhiên phải học để có chữ đọc sách. Vì sách phần nhiều do các bậc thánh hiền, các bậc thông tuệ viết ra. Đọc nó, ta học được nhiều điều hay, tránh được nhiều điều dở, con nhớ nhé.\n- Thưa vâng ạ.\nHoàng hậu lại nói:\n- Con lạy phụ hoàng, lạy bá phụ rồi ra cho bá phụ và phụ hoàng con đàm đạo.\nHoàng tử có vẻ chần chừ một lát rồi nói:\n- Con muốn nghe phụ hoàng cùng bá phụ đàm đạo.\nNghe hoàng tử nói, mọi người ngơ ngác. Nhà vua dỗ con:\n- Phụ hoàng với bá phụ nói các chuyện về đạo thôi, cao siêu lắm con không hiểu được đâu. Khi nào con mười tuổi đọc được sách, phụ hoàng sẽ cho con nghe các buổi phụ hoàng đàm đạo với bá phụ, hoặc đàm đạo với các bậc thiền sư. Bây giờ con về nghỉ.\nHoàng tử ngoan ngoãn cúi lạy vua cha và bá phụ.\nTrước khi bước ra còn nói:\n- Phụ hoàng nhớ nhé, khi con mười tuổi. Cậu bé lút cút chạy theo mẹ ra phía ngoài đại sảnh.\nTuệ Trung nhìn theo hút hai mẹ con hoàng tử Trần Khẩm đi khuất sau hành lang và ông như bừng tỉnh nói với nhà vua:\n- Cứ xem tướng mạo hoàng tử, nếu mai đây được kế vị, ắt là một bậc vua sáng, dân nước được nhờ, nhưng tâm đạo ở nơi hoàng tử cũng lớn lắm. Sự đạo mai này chắc cũng từ người này mà trụ được lâu dài, bệ hạ nên lưu tâm nơi các ông sư phó, các bậc túc thiền mà nhà vua học hành, để các vị ấy khai tâm cho hoàng tử được đúng hướng.\nNghe Tuệ Trung nói, nhà vua lấy làm hài lòng vì có được người con mai này có khả năng phụng sự cả dân nước lẫn đạo pháp. Đoạn vua nói:\n- Nếu anh đã nhìn thấy tương lai của Khẩm thì anh nhận làm thầy của Khẩm để dẫn dắt cháu vào con đường đạo.\n- Thần không chối từ vinh hạnh đó, nhưng hãy cứ để cho hoàng tử phát triển tự nhiên. Nói xong, Tuệ Trung lần tay nải lấy ra một ống quyển đưa cho nhà vua.\n- Thần vừa trứ tác được mấy vần, bệ hạ coi thử có phải đây là lời lẽ của kẻ cuồng không?\nNhà vua mở quyển, nhẩm đọc:\nBÀI NGÂM PHÓNG CUỒNG\n[91] *Trời đất liếc trông chừ sao mênh mang,* *Chống gậy rong chơi chừ ngoài thế gian.* *Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi,* *Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.* *Đói thì ăn chừ cơm tùy ý,* *Mệt thì ngủ chừ nào có quê hương.* *Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ, * *Chỗ lặng chừ đốt hương giải thoát.* *Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỷ,* *Khát uống no chừ thang tiêu dao.* *Láng giềng với Quy Sơn chừ chăn con trâu nước,* *Tạ Tam đồng thuyền chừ hát khúc Thương Lang.* *Thăm Tào Khê chừ chào Lư Thị,* *Viếng Thạch Đầu chừ sánh Lão Bàng.* *Vui ta vui chừ Bố Đại vui,* *Cuồng ta cuồng chừ Phổ Hóa cuồng.* *Chà chà! Giàu sang chừ mây nổi,* *Năm tháng chừ cửa sổ ngựa qua.* *Đường làm quan chừ sao hiểm trở,* *Tạm quên chừ tình đời ấm lạnh.* *Sâu thì dấn chừ nông thì vén,* *Dũng thì hành chừ bỏ thì tàng.* *Buông bốn đại chừ không nắm bắt,* *Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng.* *Thỏa nguyện ta chừ được sở thích,* *Sống chết dồn ép chừ ta coi thường.*\nMới đọc cái tựa\n*Phóng cuồng ngâm* vua Thánh tông tự nghĩ: Anh Tuệ Trung nói đây là bài ca của một người vừa phóng túng vừa cuồng nhiệt, chắc là tự ngạo mình và nhạo đời đây. “Nhưng đọc vào bài mới thấy anh là con người bình thường mà vĩ đại. Con người đã giải thoát đến từng chân tơ kẽ tóc. Anh đúng là một con người thảnh thơi tự tại, không có gì giới hạn và buộc ràng được. Từ ăn, ở, đi lại, ngủ nghỉ đều ung dung, khoáng đạt. Trời đất thênh thang với anh đâu cũng là quê hương. Đói thì ăn “cơm tùy ý”. Chắc là cơm của ngàn nhà đây. Vui hứng thì “thổi sáo không lỗ”. Láng giềng thuần những bậc túc thiền đạo cao đức trọng như Quy Sơn [92], Tạ Tam [93]. Chơi thì chơi với các bậc tổ sư, Bồ tát như Lư Thị [94], Thạch Đầu [95].\nNghĩa là từ vinh hoa đến phú quý anh Tuệ Trung đều buông hết, tất cả đều coi như một thứ phù vân, ngay cuộc đời cũng chỉ là chớp thoáng như vó câu qua cửa sổ. Vì vậy anh chỉ vui niềm vui của Bố Đại.\nNghĩ đến hình ảnh Bố Đại đời nhà Lương thời Ngũ đại\n[96], quê Triết Giang, ông có dáng người mập ú, lông mày rộng, bụng to, nói năng khoáng đạt, ngủ nghỉ tùy ý. Vai quẩy mếch chiếc tay nải trên một đầu gậy, trong đó chứa đủ các đồ tùy thân, nhà vua bật cười hỏi:\n- Anh Tuệ Trung người cao ngỏng thế kia mà ví mình như Bố Đại sư. Có phải các tượng Phật Di Lặc là tạc theo hình ảnh Bố Đại sư chăng?\n- Bệ hạ hãy nghe bài kệ của Bố Đại sư nói trước khi thị tịch tại chùa Nhạc Long để nhận biết:\n*Di Lặc thật Di Lặc,* *Phân thân ngàn trăm ức.* *Luôn luôn chỉ người đời,* *Người đời tự chẳng biết.*\nVậy Bố Đại là Di Lặc hay Di Lặc là Bố Đại? Nói xong Tuệ Trung cười xòa.\nNhà vua cũng cười phụ họa rồi nói:\n- Cứ như bài kệ này thì Bố Đại là hậu thân của Di Lặc. Nhưng Bố Đại mới là con người lịch sử còn Di Lặc chỉ là hình ảnh mang tính biểu tượng mà thôi.\n- Bệ hạ nói chí phải.\nNgẫm nghĩ giây lâu, nhà vua lại bày tỏ:\n- Anh Tuệ Trung tu từ bao giờ mà thành tựu ghê gớm vậy? Chỉ là một cư sĩ mà xem ra anh đã giải thoát như một vị Bồ tát.\nTuệ Trung mỉm cười đáp:\n- Thần tu từ khi chưa được sinh ra, tu từ các kiếp trước, nên mọi việc xem ra nó tự nhiên nhi nhiên chứ không có gì gò bó, bức ép. Vả chăng việc tu đạo là ở tu tâm, một khi tâm đã nhiếp ắt duyên khởi. Duyên khởi thì đạo nhập. Đạo nhập thì trí sáng. Trí sáng thì tuệ khai. Tuệ khai thì giải thoát. Chẳng riêng gì thần mà thượng hoàng đã đạt tới cõi giới giải thoát từ lâu rồi, bệ hạ cũng đang trên đường giải thoát, cứ thế mà tiến tu chứ còn phải cầu tìm ở đâu nữa.\nNghe Tuệ Trung thượng sĩ nói, vua Trần Thánh tông rất tâm đắc. Bởi cũng như vua cha, Trần Thánh tông hết lòng mộ đạo, ham kê cứu đạo nhất thừa và cũng có trước tác. Nhân vừa đọc xong\n*Đại Huệ ngữ lục*, nhà vua có làm bài cảm tác, bèn lấy đưa cho Tuệ Trung và nói:\n- Thượng sĩ coi giùm đệ.\nKHÁN ĐẠI HUỆ\n[97] NGỮ LỤC HỮU CẢM *Đập ngói dùi rùa [98] ba chục niên* *Mồ hôi bao đó bởi tham thiền* *Một mai biết rõ dung nhan mẹ* *Lỗ mũi xưa nay thiếu nửa bên* *** *Sắc đâu trước mắt tai đâu thanh* *Lòng kia một tấm tự gò thành * *Sắc thanh chẳng dính ngoài môi lưỡi* *Mặc người báo đáp với đô đinh [99].*\nVới vẻ hoan hỷ Tuệ Trung thượng sĩ nói:\n- Cứ như bài cảm đề này thì bệ hạ đồng chủ trương với Đại Huệ. Hơn nữa\n*Khóa hư lục* của Thượng hoàng cũng chủ trương phổ thuyết như Đại Huệ. Và nữa, chính thần cũng theo về dòng thiền này. Vì sao vậy? Ấy là bởi nó chủ trương khai minh để khai thị. Còn như chỉ ngồi thiền để đạt tới sự chứng ngộ tuy có nhưng ít lắm, hiếm lắm, tựa như lông rùa, sừng thỏ vậy. Trước đây về đời Lý Thánh tông (1054-1072) đã lập dòng thiền Thảo Đường cũng chủ trương khai minh nhằm vào giới có học, tiếc rằng dòng đó đã lịm tắt ít lâu sau khi Lý Thánh tông viên tịch.\nCứ mỗi lần Tuệ Trung thượng sĩ về Thăng Long là mỗi lần cùng nhà vua hội ngộ và đàm đạo về kinh bổn, về tu trì, về trước tác tới mấy ngày chưa dứt.\nBỗng nhiên nhà vua hỏi một câu chẳng ăn nhập gì với mùi thiền.\n- Sư huynh, việc tu trì của huynh xem ra đã thành tựu, nhưng liệu người Nguyên có chịu để cho huynh yên bình mà tu tập, có để cho dân ta an lạc mà làm ăn?\nTuệ Trung cười vỡ ra, một lúc lâu sau ông nói:\n- Nếu có kẻ xâm lăng sẽ có người chống xâm lăng, lo gì. Nó đến rồi nó lại tháo chạy như năm Đinh Tỵ (1257) bệ hạ chắc còn nhớ. Tuy nhiên, ta phải lo đối phó sớm đi. Không chỉ triều đình lo, mà phải dạy cho muôn dân cùng lo giữ nước. Thần tuy vậy cũng có đội gia binh khá mạnh đấy. Ấp Tịnh Bang của thần, giặc có thể vào, nhưng ra thì chắc là không có đường đâu.\n- Trời! Sao mà anh bén nhạy thế, đi trước cả triều đình, nhà vua mừng rỡ kêu lên.\n- Việc tu trì, việc cày ruộng, cả việc đánh giặc nữa với người mình nó quyện với nhau như một thứ định mệnh, nếu không thế thì dân ta sao sống được đến ngày nay, giang sơn này sao còn tồn tại được đến ngày nay. Nhân đây thần cũng nói thật, bên phủ Hưng Đạo, Quốc Tuấn lo việc này sớm hơn nhiều. Tuấn bảo đã từng đụng độ với quân Mông Cổ nên biết rõ về nó. Chớ coi thường nó mà mất nước với nó như chơi.\nChợt có đô tướng đô cấm vệ quân vào bẩm:\n- Tâu bệ hạ, bên phủ thái sư có người sang báo, quốc phụ đang lâm trọng bệnh.\nNhà vua tỏ vẻ kinh ngạc:\n- Sao đến bây giờ mới báo? Ngươi ra gọi nó vào đây ta hỏi.\n- Tâu, họ đi ngay rồi ạ.\n- Vậy, ta sang bên đó ngay đi, - Tuệ Trung giục.\nNói xong ông ra ngoài xách tay nải đi liền.\nKhi vua Thánh tông hạ kiệu vào cung Thủy Tĩnh đã thấy Tuệ Trung thượng sĩ ngồi cạnh giường thái sư đang niệm kinh.\n*… Ra tay tế độ* *Mở cửa từ bi* *Cứu giúp chúng sinh* *Cùng lên bến giác* *Vượt khỏi sông mê* *Sáng lòng tỏ tính* *Tinh tiến tu trì* *Quét sạch tham dục* *Trừ diệt sân si…*\nThấy thượng sĩ đọc sám hối kinh văn, nhà vua tỏ vẻ hài lòng, ngài quay ra hỏi gia nhân:\n- Đã cho người về Thiên Trường rước thượng hoàng chưa?\nĐáp:\n- Tâu bệ hạ, quân đi từ tối hôm qua. Thái sư thấy trong người khó ở, ngài nói muốn gặp thượng hoàng. Quân bèn lên ngựa đi ngay. Có lẽ thượng hoàng cũng sắp về tới đây.\nVua quỳ xuống mép giường, đặt mấy sợi bông trước hai lỗ mũi không thấy động đậy, lại khẽ đặt tay lên lồng ngực, chỉ cảm thấy trong lồng ngực Thái sư có tiếng đập mơ hồ.\nThượng hoàng Thái tông vừa vào đến cửa vội cởi áo khoác quỳ phục xuống đầu giường ghé sát tai Thái sư Trần Thủ Độ gọi:\n- Chú ơi! Chú ơi! Cháu đã về với chú đây! Cảnh đây, cháu Cảnh về với chú đây! Chú đừng bỏ cháu, chú ơi!\nLạ thay thân thể Trần Thủ Độ như vừa được tiếp thêm sinh khí. Gương mặt ông như hồng trở lại, cặp mắt nhăn nheo từ từ hé mở, dường như ông thu hết sinh lực dồn vào đôi mắt trùm lên Trần Cảnh một cái nhìn thao thiết nhất trong đời và từ cặp mắt kia như lóa lên một ánh chớp, cùng lúc môi thái sư mấp máy nói hai tiếng thuần hơi: “Chú đi!”. Da mặt thái sư bỗng tái sạm, người xẹp hẳn xuống. Vậy là hồn ông vừa thoát xác. Thượng hoàng Thái tông bật khóc. Không khí tang tóc bao trùm.\nĐã biết sinh tử là lẽ thường hằng, Thái sư hưởng thọ ở tuổi bảy mươi mốt, thế nhưng bỗng nhiên bị mất người thân, Thái tông thấy một sự cô đơn trống vắng. Vì từ khi hai thân sớm lìa thì chú ấp ủ trông nom chẳng khác tình cha. Có thể nói từ khi tám tuổi, chú kèm cặp răn dạy để trở thành người cầm cương chính quốc gia tới nay ngót bốn chục năm ròng ở ngôi thống quốc, quyền nghiêng thiên hạ, nhưng suốt cuộc đời chú không làm một điều gì mưu lợi riêng tư. Tận tâm với nước cho đến hơi thở cuối cùng. Tháng bảy năm ngoái còn đi duyệt quân tập trận tận Bạch Hạc, lại cuối tháng mười vừa rồi còn đi kiểm xét biên cương khắp một vùng Châu Lạng. Không bệnh mà đi, minh mẫn tỉnh táo cho đến phút chót. Đúng là chú có cốt cách của một bậc tiên thánh.\nThượng hoàng Thái tông cho làm ma thật to để tỏ lòng biết ơn Thái sư, lại sai các quan trong triều đến tận nhà tế đúng bảy ngày. Thượng hoàng thân mặc áo trở và chịu tang như một người con.\nNgày cất quan Thái sư, con cháu trong hoàng gia, hoàng tộc và các quan trong triều đến đông chật ních. Tiếng kèn, trống xen tiếng than, tiếng khóc thật là ảo não, bi thương. Mặc dù khi sống ông ở ngôi cực phẩm, lúc chết hai vua túc trực bên linh cữu, các đại thần tới lễ viếng không thiếu một ai. Trong đời ít người so được với ông, thế nhưng không có cái chết nào lại không nhuốm màu bi ai.\nTrong đám tang có hai người đàn bà mặc áo sô gai khóc lăn khóc lộn, ấy là công chúa Chiêu Thánh và Trịnh Huyền vốn là người hầu của bà Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung, sau lại về hầu và kết nghĩa chị em với Chiêu Thánh.\nTrịnh Huyền hờ khóc đến khản cả giọng:\n*Ơ hờ… Thái sư ơi…* *Cây cao lá mỏng mòng mong* *Ăn ở hai lòng đức mỏng tèo teo…* *Ơ hờ…*\nNghe tiếng khóc như vừa có ý giễu ngạo, lại như vừa có ý trách chê khiến nhiều người ngạc nhiên nhưng không ai dám cản ngăn. Bỗng có một ông già râu tóc trắng như cước, da mặt sạm đồi mồi, tay chống gậy trúc, đầu chít khăn tang len đám đông đi tới phía người đang hờ khóc. Ông lấy tay khẽ đập vào vai người đàn bà đang khóc; người ấy quay lại, lau nước mắt nhìn cụ già.\nÔng cụ hỏi, giọng dõng dạc:\n- Trịnh Huyền, con không nhớ ta sao! Thôi con đừng khóc nữa. Dù sao ván đã đóng thuyền. Vả lại một đời ông ấy đã tận tâm vì nước đủ chuộc lại mọi lỗi lầm, ta nghĩ con không nên cố chấp.\nNghe giọng nói thật là quen mà nhìn nhân dạng thì không biết là ai. Trịnh Huyền phục lạy:\n- Cụ tha tội, quả con không nhận ra cụ là ai.\nCụ già cúi đỡ Trịnh Huyền và nói nhỏ vào tai: “Con có nhớ ta sai con tới lấy chữ ký của nhà vua vào chiếu cần vương, lúc ra thì con bị bắt…”. Trịnh Huyền giật bắn mình sụp lạy:\n- Quan thừa chỉ, con lạy quan thừa chỉ, con có mắt như đui.\nLập tức hình ảnh gần bốn mươi năm trước hiện về. Sớm ấy Trịnh Huyền nhận lời với quan Thừa chỉ đem tờ mật chiếu cần vương vào nơi Trần Thủ Độ giam lỏng Lý Huệ tôn để lấy chữ ký của nhà vua. Sở dĩ lọt được vào nơi nghiêm cẩn ấy là bởi Trịnh Huyền đã lấy cắp lệnh bài của Thái sư thống quốc Trần Thủ Độ. Việc tưởng đã xong xuôi, thế mà lúc vừa ra khỏi dinh bị lính kín bắt áp giải đến Phủ Thái sư. Trần Thủ Độ không những không trị tội Trịnh Huyền mà còn an ủi cho Trịnh Huyền đỡ sợ rồi sai về hầu lại lệnh bà. Đối với quan Thừa chỉ, Trần Thủ Độ không những không tiết lộ hành vi phản kháng của ông, không trả thù ông, mà còn tôn trọng, thậm chí kính trọng ông. Vì vậy, quan Thừa chỉ đã hợp lực cùng Trần Thủ Độ ổn cố xã hội vào những năm đầu của triều đại mới. Chỉ đến khi Trần Thủ Độ gây ra vụ ép Trần Cảnh lấy Thuận Thiên - vợ của anh trai mình là Trần Liễu, ông mới giận vì sự loạn luân vô đạo ấy mà bỏ đi ở ẩn. Tuy vậy, ông vẫn theo dõi hành tung của Trần Thủ Độ, thấy các việc làm đều xuất phát từ lợi ích quốc gia dân tộc. Vì thế khi nghe tin Trần Thủ Độ qua đời ông mới từ chốn rừng sâu về viếng, gọi là đáp lại cử chỉ cao thượng của Trần Thủ Độ đối với ông và Trịnh Huyền thuở trước.\nThấy Trịnh Huyền xúc động thái quá, cụ lại ghé vào tai Huyền nói nhỏ: “Ta sẽ ghé thăm vợ chồng con. Ta biết chỗ con ở bên hồ Dâm Đàm rồi”. Nói xong, cụ lại rẽ gậy rời khỏi đám tang.\nMọi người nhìn theo cụ và đều có chung cảm nhận đó là một tiên ông vừa xuống trần để viếng tang Thái sư Trần Thủ Độ, và chỉ làm có mỗi việc đó rồi cụ lại về trời.\nTrần Thủ Độ trong nhiều năm được coi như một cột trụ vững chắc nhất của triều đình, thế nhưng ông mất đi triều đình không vì thế mà xô lệch. Ấy cũng bởi ông để lại phía sau mình những người tài đảm, cân quắc đủ sức lèo lái con thuyền quốc gia.\nSau đám tang người ta bình phẩm về ông khá nhiều. Đại khái khen có, chê cũng có. Công có, tội cũng có. Rốt lại với Thái sư thống quốc Trần Thủ Độ thì công nhiều hơn tội, ông để lại nhiều gương tốt không chỉ cho thời nay mà các đời con cháu mai này vẫn nên học, nên theo. Đó là tấm lòng tận trung với nước, công bằng, liêm khiết, thượng tôn pháp luật, không vị tình riêng. Tuy nhiên, việc ông khơi mào cho chuyện loạn luân thì đó là một lỗi lầm không thể tha thứ, và không gì có thể biện minh được, dù công lao ông trùm thiên hạ, dù ông là cha đẻ của một vương triều oanh liệt vào bậc nhất trong lịch sử nước nhà.\nDù vua Thánh tông có truy tặng Trần Thủ Độ tước vị Thượng phụ thái sư Trung vũ đại vương và trước đó khi ông còn sống, vua Thái tông có làm sinh từ, dựng bia và tự tay nhà vua viết bài minh tán thán công đức ông, song không vì thế mà người đời bỏ qua tất cả lỗi lầm của ông. Lịch sử không cố chấp nhưng nó đòi hỏi sự trung thực.\nCũng sau đám tang thái sư ít ngày, vợ chồng Trịnh Huyền lên thăm dinh quan ngự sử đại phu, thượng tướng quân Lê Tần và công chúa Chiêu Thánh.\nTrò chuyện ít lâu, Lê tướng quân mới ướm hỏi Chiêu Thánh:\n- Ta biết trong sâu thẳm ký ức, phu nhân không tha thứ cho Thái sư, vậy mà sao hôm đám tang, nàng lại khóc lóc thảm thiết đến vậy?\nChiêu Thánh ngậm ngùi đáp:\n- Chẳng là thiếp sực nhớ đến cái chết của phụ vương. Người ta bức tử phụ vương của thiếp rồi lén đem đi chôn cất, thiếp không được khóc cha một lời. Nay chợt nghĩ đến, tủi thân mà khóc. Ấy là cái nhẽ thiếp khóc cho mình đấy. Còn một cái nhẽ khác nữa là khóc cho thái sư. Khóc cho Thái sư tức là khóc để tiễn đưa cái ác, cái tráo trở về nơi huyệt mộ.\nGiây lâu Chiêu Thánh quay lại hỏi Trịnh Huyền:\n- Bữa đó sao mà em khóc thâm thúy đến vậy. Chị chỉ sợ có người làm khó cho em. Rồi từ lúc có ông cụ nom như một ông tiên, ông nói gì với em mà em lại thôi không khóc nữa.\nTrịnh Huyền thuật lại tất cả vụ việc “Chiếu cần vương” và quan Thừa chỉ bỏ đi ở ẩn mấy chục năm nay cùng việc ngài xuống núi. Lại kể hôm trước cụ có ghé thăm gia đình Trịnh Huyền bên hồ Dâm Đàm.\nChiêu Thánh vừa nghe chuyện vừa khóc nức nở và cảm phục tấm lòng dũng cảm và cao thượng của quan Thừa chỉ và Trịnh Huyền.\nChuyện cũng khiến quan ngự sử đại phu Lê Tần thêm kính trọng Trịnh Huyền. Ông vội hỏi:\n- Vậy tại sao hai chị em ở với nhau tới mấy chục năm nay mà nàng vẫn giữ kín chuyện đó ở trong lòng.\n- Thưa quan Đại phu, em nghĩ mưu việc lớn đã chẳng thành khiến bao người ôm hận, có hay hớm gì mà phải kể lể.\nNghe Trịnh Huyền trả lời, ai cũng thầm phục nàng là người khảng khái, cao thượng.\n\nChiêu Minh vương Trần Quang Khải từ khi ra coi châu Nghệ An, biên thùy phía nam yên ổn, các làng xã ven biển cũng được giữ yên, quân Chiêm Thành không dám đến cướp phá nữa. Nước Chiêm Thành thường năm vẫn đưa sứ và các đồ cống tới Thăng Long. Dân chúng trong châu đều được an cư lạc nghiệp, vì thế mà họ biết ơn triều đình, biết ơn quan an phủ sứ Trần Quang Khải.\nLại năm trước, người của châu này là Bạch Liêu vào Thăng Long thi đỗ Trại trạng nguyên, triều đình bổ dụng nhưng Bạch Liêu cáo từ. Về Nghệ An, quan an phủ sứ Trần Quang Khải đã mấy lần thân đến mời tại nhà, Bạch Liêu chỉ nhận làm môn khách chứ không nhận một chức quan nào. Vì thế Bạch Liêu ra vào, đi ở đều ung dung tự tại không hề bị buộc mình vào bất cứ điều gì.\nBạch Liêu vốn là người thông tuệ khác thường, học một biết mười, đọc đâu nhớ đó, đọc sách thì đưa mắt liếc mười dòng một lúc, nên ông đọc được rất nhiều, hiểu biết rộng, tuổi của ông với Quang Khải đều suýt soát nhau, nghĩa là khoảng hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi. Vì vậy hai người trò chuyện rất hợp ý nhau. Họ thường bàn đến chuyện thời thế, chuyện trị loạn, chuyện xuất xử, hành tàng. Nhiều khi bàn thông tam giáo.\nChiêu Minh vương là người ưa bàn đến việc bình trị, việc dân giàu nước mạnh. Tuy thế, hai người cũng mới chỉ giỏi về từ chương, đạo lý chứ chưa kinh qua việc đời nhiều lắm. Chiêu Minh vương vẫn muốn lưu Bạch Liêu làm thượng khách để khi nào thuận tiện sẽ tiến cử Bạch Liêu về Thăng Long. Ông nghĩ người tài như Bạch Liêu đâu phải có nhiều, dùng được họ sẽ làm mạnh thế nước, không dung họ là có tội với nước. Người tài đức là động lực thúc đẩy sự tiến hóa xã hội chứ không phải là vật trang sức. Vì vậy Quang Khải một lòng thuyết phục Bạch Liêu ra giúp đời.\nLại nói công việc ở Thăng Long, trước đây nhà Nguyên đòi cống nho sĩ, thầy thuốc, người giỏi âm dương, bói toán, các loại thợ mỗi thứ ba người cùng nhiều đồ trân quý. Vua Thái tông sai đưa các đồ trân quý sang cống, nhưng không nộp đủ như họ đòi. Còn người thì không đưa sang một người nào, cũng không xin bãi bỏ mà cứ lờ đi coi như không có chuyện đó.\nHốt-tất-liệt lại có chiếu thư đòi ta phải cống voi. Vua Thái tông gửi biểu sang trần tình: “… Theo ý bệ hạ muốn vật cống lần này là mấy con voi lớn. Loài thú ấy thân hình to lắm, chỉ hai con cùng đi là chật đường của hai xe tứ mã, chúng bước đi rất chậm chạp chứ không như ngựa bên thượng quốc.\nXin tuân sắc chỉ, đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng…”.\nHốt-tất-liệt sai Nậu-lạt-đình (Nu-rut-đin) tới Thăng Long giữ chức Đạt-lỗ-hoa-xích. Y ra sức thăm dò biết được nhà Trần cấm người trong nước không được giao thương và cả giao đàm với những thương nhân Hồi Hột liền tâu về nước.\nHốt-tất-liệt gửi chiếu thư trách vua ta và áp đặt sáu điều:\n- Quân trưởng (nhà vua) phải vào chầu.\n- Con em phải sang làm con tin.\n- Kê biên dân số.\n- Phải chịu quân dịch.\n- Phải nộp tô thuế.\n- Vẫn đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích.\nNhà vua biết chỉ nhận một trong sáu điều này coi như nước đã mất chủ quyền. Nếu nhận cả sáu điều cũng có nghĩa ta là thuộc quốc của nước Nguyên. Trước đây tạm thời nhận cho nhà Nguyên đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xích với mong muốn là hạn chế sự đi lại của nó, hạn chế sự ngó dòm của nó vào nội tình nước ta.\nTuy vậy, Nậu-lạt-đình ngày càng soi mói, hống hách, ta bèn mua chuộc nó bằng bạc vàng, châu ngọc để y tâu báo trung thực các điều mà vua ta nhũn nhặn thoái thác.\nHơn nữa lúc này Hốt-tất-liệt vẫn chưa chinh phục hết phần đất mà em trai y đang chiếm giữ và ra mặt tranh ngôi Đại Hãn với y, nên với nước ta y vẫn còn nương tay, tuy sức ép ngày một gia tăng.\nĐể lo đối phó với người Nguyên, Trần Thánh tông đã cho biên chế lại quân đội. Cứ tám mươi người cho làm một đô, ba mươi đô làm một quân. Tổ chức các sắc quân như bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh ngày đêm luyện tập. Vua phong cho các em như Trần Ích Tắc làm Chiêu Quốc vương, Trần Nhật Duật làm Chiêu Văn vương. Triệu Chiêu Minh vương Trần Quang Khải ra Thăng Long thăng làm Tướng quốc thái úy\n[100], tóm giữ việc nước.\nPhong cho anh trai là Trần Quốc Khang làm Vọng giang phiêu kỵ\n[101] đô thượng tướng quân, sai ra coi châu Nghệ An thay Trần Quang Khải mới về triều.\nVua cũng xuống chiếu đốc thúc các vương hầu phải nhanh chóng lập các đội phủ binh và phải được huấn hỗ cho thiện xảo.\nTrong số các phủ binh thì Trần Hưng Đạo có số quân đông nhất, quân của ông bằng non nửa số quân của triều đình. Hưng Đạo ngày đêm cho quân tập ráo riết. Ông cũng ra sức kèm các gia tướng, gia thần mưu dùng vào việc hưng thế nước.\nBữa nọ có việc Trần Thánh tôn phải về Thiên Trường vào cung Trùng Quang ra mắt thượng hoàng.\nThấy con về bất chợt, lại nom sắc diện như có điều gì đang nghĩ ngợi, thượng hoàng bèn hỏi:\n- Hoàng nhi, con về thăm cha hay có việc quốc gia trọng đại cần tâu báo?\n- Bẩm phụ hoàng, trước hết con về vấn an phụ hoàng, sau đó tâu báo điều cơ mật mà hiện lòng con hết sức băn khoăn.\n- Vậy chớ có điều gì khó xử con nói ta nghe? Thượng hoàng Thái tông giục.\nThánh tôn đưa mắt nhìn vào mọi góc khuất của cung thất lại nhìn ra ngoài hành lang xem đám nội nhân còn kẻ nào lẩn khuất thì đuổi ra hết. Yên tâm khi chỉ còn có hai cha con, nhà vua mới tâu:\n- Bẩm phụ hoàng, có kẻ mật báo Quốc Tuấn ra sức gom quân rèn quân thâu cả ngày đêm, tích chứa lương thảo nhiều không biết đâu mà kể, lại mộ những kẻ có tài văn võ dùng làm gia thần, gia tướng. Con sợ Quốc Tuấn sinh lòng mà manh động thì nguy cho xã tắc.\nSuy ngẫm giây lát thượng hoàng lắc đầu nói:\n- Quốc Tuấn là người tận trung với nước. Thấy thế nước lâm nguy, Quốc Tuấn xả thân vì nước. Con chẳng thấy mấy lần con ban chiếu dụ hối thúc các vương hầu phải lập các đội gia binh, phủ binh hùng mạnh đó sao. Quốc Tuấn làm như vậy chẳng phải là nghiêm cẩn thụ chiếu đó sao. Con bất tất phải lo ngại. Kẻ nào tâu với con điều đó, ta ngờ cái tâm nó không được trong sáng. Bỗng đôi tròng mắt thượng hoàng vụt sáng lên. Với vẻ dường như là bí ẩn, nhà vua nói nhỏ vào tai Trần Thánh tông: “Vương nhi! Ta e điều này phao từ miệng người Nguyên. Bởi họ cài cắm nội gián vào hàng ngũ của ta khó mà lường được”. Nhà vua lại vỗ vỗ tay lên vừng trán: “Có thể đây là mưu chia rẽ tình cốt nhục, giặc định phá ta từ bên trong không chừng”. Chợt thượng hoàng hỏi:\n- Việc này Quang Khải biết chưa?\n- Tâu phụ hoàng, con đã cho Khải biết rồi.\n- Con nhớ việc này phải giữ thật kín nhẹm chớ hở ra ngoài mà nguy khốn. Nếu anh em chia lòng, giặc chưa cần đánh ta đã tự tan. Quốc Tuấn có tài dạy quân, có tài cầm quân trăm vạn, sinh thời Thái sư quốc phụ thường răn ta trước sau cũng phải trao cho Quốc Tuấn quyền thống lĩnh toàn quân thì mới có thể kình chống được với giặc dữ Nguyên - Mông\n[102]. Ta chắc quốc phụ cũng từng răn con như vậy.\nNhìn thẳng vào mắt con, thượng hoàng hỏi tiếp: - Hoàng nhi, trong lòng con có gợn điều nghi ngại gì về Quốc Tuấn không?\nVua Thánh tông cứ thực lòng tâu:\n- Bẩm phụ hoàng, Quốc Tuấn đúng là người hiền tài, thượng phụ thường khuyên con phải trao trọng trách cho anh ấy. Từ trước, con chưa bao giờ bận tâm đến việc Quốc Tuấn có thể chia lòng. Nhưng từ khi có tin nói Quốc Tuấn trong tay nắm một đội quân quá lớn lại huấn dạy rất thiện xảo, với tài làm tướng như vậy chỉ cần Quốc Tuấn lật bàn tay là triều đình nghiêng đảo. Bởi thế dù con không muốn nghĩ sự việc nó vẫn cứ hiện ra. Phụ hoàng dạy con phải làm gì?\n- Con không phải làm gì cả. Con và Quang Khải phải quên nhanh việc này đi. Cái việc cần làm nhất trong lúc này là tăng cường sức quân, nuôi vỗ sức dân, tất cả đều quy về việc phải bằng mọi cách: Giữ lấy nước. Muốn giữ được nước thì phải lấy nước làm trọng, mọi mối hiềm nghi, mọi nỗi bất hòa đều phải dẹp bỏ. Mọi người phải tin vào nhau, phải đồng tâm nhất trí coi việc giữ nước là việc thiêng liêng tối thượng. Giặc đến, mỗi người dân là một người lính, muôn người như một, quyết giữ lấy giang sơn thì không một kẻ thù nào xâu xé nổi.\nTrần Thánh tông ngước nhìn vua cha:\n- Tâu phụ hoàng con xin tuân mệnh.\nThượng hoàng lại căn dặn:\n- Con đã đủ khôn ngoan để điều hành việc nước, lại có cả tả hữu phụ bật cùng hai ban văn võ giúp rập, nên từ nay ta sẽ chuyên tâm vào việc trước tác và tu tập. Ta chỉ về triều hoặc tham gia bàn bạc khi có việc quốc sự quan yếu. Còn đối sách với nhà Nguyên thì cương, nhu tùy việc. Thế của ta hiện nay không thể cương được, nhưng nhu là để nhu hòa chứ không phải nhu nhược. Nhu nhược kẻ kia sẽ lấn, thể diện quốc gia vì thế cũng khó bảo toàn. Hơn nữa, bậc quân trưởng một khi đã để mất quốc sỉ, thì người dân sẽ không còn tin vào triều đình nữa, từ đó dân sẽ sống nhút nhát, hãi sợ ngoại bang. Tới lúc đó muốn vực thế nước lên là muôn khó, bởi cái khí tiết của một nước đã bị triều đình làm mất đi rồi.\nThái tông nhìn con với vẻ cảm thông và cả phần tin tưởng, ngài lại nói: - Thôi con về triều đi. Có việc gì cần cứ sai sứ tìm cha, Thăng Long lúc này không thể vắng con được, dù chỉ một ngày.\nVua Thánh tông bịn rịn chia tay:\n- Vì đất nước mà con không làm tròn được đạo hiếu, thực tình con không muốn xa phụ hoàng.\nThái tông nắm tay con dặn thêm:\n- Con nên nhớ, lúc này con phải dùng đại trí để chuyển hóa thành đại hùng, đại lực thì mới giữ được nước.\nNhà vua dẫn con ra tới bậc thềm rồi đẩy vào vai:\n- Thôi con về đi. Thăng Long đang cần con. Nói xong ngài ngoắt quay vào nội điện. Vua Thánh tông nhìn hút bóng cha vái ba vái.\nVua Thánh tông vừa về đến Thăng Long đã nghe tâu báo có sứ nhà Nguyên đến nhắc lại việc đòi voi và lễ cống vào năm tới. Nhà vua xem chiếu dụ của Hốt-tất-liệt xong liền phán bảo các quan:\n- Các ngươi lo thu xếp quà cáp cho sứ đoàn, riêng chánh sứ có phần ưu hậu hơn, ta sẽ viết biểu phúc đáp mau chóng tống khứ chúng ra khỏi nước, để chúng không có thời cơ móc nối với bọn ngoại gián của chúng, và cũng không cho chúng dòm ngó sâu vào nội tình nước ta. Còn như chuyện giao tiếp với sứ cứ nên thoải mái, chúng hỏi gì nói ấy, nói cho chúng biết những điều chúng muốn biết nhưng lại chẳng ích gì cho chúng, còn sự thật phải giữ cho kín nhẹm.\nTrong thư phúc đáp nhà Nguyên, vua Thánh tông viết:\n*“… Sứ đến nói việc đòi voi. Trước vì sợ trái chỉ nên không dám nói thẳng là theo hay không theo chứ thật ra tượng nô không chịu rời nhà nên khó sai họ đi. Hơn nữa, voi cũng không chịu đi khi không có các nài voi là người huấn dạy nó đi theo. Lại như việc đòi nho sĩ, thầy thuốc và thợ thì khi bồi thần nước tôi là bọn Lê Trọng Đà, Đinh Củng Viên vào bệ kiến gần uy quang trong gang tấc cũng không nghe chiếu dụ gì đến việc ấy. Huống chi từ năm Trung thống thứ tư (1263) [103] đã được đội ơn tha cho, nay lại nghe nhắc đến, xiết nỗi kinh ngạc…” *\nNhà Nguyên lo sợ các viên Đạt-lỗ-hoa-xích bị nhà nước Đại Việt mua chuộc nên luôn luôn thay đổi. Ví như trước đây cử Nậu-lạt-đình (Nu-rút-đin) thì nay cử Khu-rung Kha-y-a (Qurung-Qaya) làm Đạt-lỗ-hoa-xích, Trương Đình Trân làm phó. Chắc là Nu-rút-đin lúc đầu hay soi mói tâu báo các việc nước ta chậm hoặc không đáp ứng các yêu sách của người Nguyên, nhưng sau lại có vẻ cảm thông hoặc đứng ra biện hộ, khiến bị ngờ vực có sự mua chuộc của Đại Việt nên có mệnh này.\nTrương Đình Trân vào Đại Việt cũng vừa lúc thượng hoàng Trần Thái tông mới ở Thiên Trường về Thăng Long, vua Thánh tôn liền mời vua cha cùng tiếp sứ.\nSau vài lời thăm viếng xã giao, Trương Đình Trân bèn nói:\n- Ta vâng mệnh thiên tử trao chiếu thư cho nhà vua. Thượng hoàng Trần Thái tông liền sửa mũ, áo cho nghiêm chỉnh rồi nói:\n- Trẫm sẵn sàng thụ chiếu.\nTrương Đình Trân liền đặt chiếu thư vào hai tay nhà vua. Vua nhận chiếu xong liền đặt lên án thư rồi lui về chỗ ngồi.\nTrương Đình Trân trố mắt nhìn với vẻ kinh ngạc. Y nói giọng hách dịch với lời lẽ mạn thượng:\n- Nhà vua sao dám vô lễ, nhận chiếu thiên tử mà không quỳ lạy.\n- Ông phó sứ hãy ăn nói thận trọng. Ta làm theo phong tục của nước ta.\n- Phong tục của An Nam không có giá trị với thiên tử.\n- Ông chỉ ăn nói hồ đồ, ta mà tâu việc này lên thiên tử, chẳng hiểu ông có còn giữ nổi cái đầu ở trên cổ nữa không. Ông há không biết năm Trung thống thứ tư, Thiên tử đã có chiếu dụ nước ta rằng:\n*“… Phàm các việc lễ nhạc, phong tục đều vẫn theo lệ cũ của bản quốc không cần thay đổi…”*.\nTrương Đình Trân phản bác:\n- Đây là lễ của vua chư hầu đối với thiên tử, sao lại đem phong tục ra đây mà bàn.\nVua Thái tông ôn tồn giảng giải:\n- Thì cứ cho là lễ như ông hiểu, thế ông không hay lời chiếu viết:\n*“Phàm các việc lễ nhạc… vẫn theo lệ cũ của bản quốc…”* sao? Nhân đây ta cũng cảnh báo cho ông chớ có hàm hồ lộng ngôn, nước ta chỉ là nước phên dậu chứ không phải nước chư hầu. Vậy là cả lễ nghi lẫn phong tục của nước ta từ xưa đều không có việc phải lạy chiếu thư.\nĐuối lý, nhưng Trương Đình Trân vẫn đe:\n- Được, ta sẽ tâu việc này lên thiên tử.\nVua Thái tông đáp lại:\n- Thiên tử đã có chiếu dụ ta từ mấy năm trước như ta vừa nói đó. Nếu ông dám tâu lên, ta e rằng ông sẽ bị ghép vào tội khi quân. Đi sứ mà không làm tròn sứ mệnh, chắc ông biết mình mắc tội gì rồi.\nTrương Đình Trân vặn lại:\n- Ta biết nhà vua dám kháng mệnh thiên tử vì còn kết thân với nhà Tống, mong cầu sự trợ giúp của cây gỗ mục đó chứ gì.\nVua Thái tông nhìn thẳng vào mặt Trương Đình Trân với hàm ý khinh bỉ. Đoạn vua nói:\n- Ông phó sứ nên biết, quan hệ với nước nào dưới gầm trời này là quyền của chúng ta, không kẻ nào có quyền áp đặt hoặc dạy khôn cho ta. Ta vẫn tưởng ông là người Hán, mang danh hảo hán, hóa ra ông mang dòng máu Mông Cổ mà ta không được biết.\nTrương Đình Trân vẫn ngông ngạo giọng kẻ cả:\n- Nhà vua nên giữ mồm giữ miệng. Ta biết An Nam vẫn hòa hiếu với người Tống, tưởng có thể cứu nhau lúc nguy cấp. Nhưng có biết đâu hiện nay cả trăm vạn quân của thiên tử đang vây kín Tương Dương, một cánh chim cũng khó bay lọt, chỉ sớm tối là hạ thành, dồn quân qua sông, lật đổ kinh đô nước ấy dễ như bẻ cành củi khô, thế mà nhà vua còn dựa vào nơi bờ bể, cậy là môi với răng, tự tôn tự đại. Nếu tâu lên hoàng đế, oai trời khẽ động, thì chẳng cần gọi quân ở xa, mà với mười vạn quân Vân Nam, chỉ hơn một tháng là đến sẽ biến vương miếu thành gò hoang, vương dinh thành bãi cỏ chẳng khó khăn gì.\nTrước thái độ láo xược của Trương Đình Trân thượng hoàng Trần Thái tông cố giữ bình tĩnh nói:\n- Sứ thần nên biết, kẻ nào dám xúc phạm đến miếu đình, xã tắc của ta, thì chính nó là kẻ thù của ta đó. Đừng tưởng mình là sứ nước lớn muốn mạn xược thế nào cũng được đâu. Nước lớn gì mà tham lam đòi cả từ cái sừng tê.\n- Đúng! Ta là sứ nước lớn nhẽ ra phải tiếp ta với lễ của bậc vương nhân, thế mà nhà vua chỉ tiếp ta như tiếp một sĩ đại phu. Còn như tê, tượng là các ông cống thiên tử chứ. Đã cống sao còn kể nữa.\n- Ta tưởng nước mà ông thờ cũng có lễ luật như nước Trung Hoa chứ. Nếu đã có lễ tại sao ông chỉ giữ chức quan triều liệt, còn ta là vua của một nước mà cũng đòi ngang lễ với ta, từ cổ xưa chưa từng có chuyện này.\nTrương Đình Trân nổi khùng nói bậy:\n- Ta thật không hiểu nổi lũ nam man các ông.\nTrước cung cách hỗn hào của sứ giả, vua Thánh tông liền tâu với vua cha:\n- Xin phụ hoàng về cung để con nói chuyện với tên Hán gian này.\nThượng hoàng vừa đi khỏi, vua Thánh tông liền trỏ mặt Trương Đình Trân mắng:\n- Ngươi là một kẻ không có chút chi gọi là liêm sỉ. Đang tâm bán nước làm tay sai cho người Mông Cổ lại còn vênh vang lên mặt. Nước ta tuy nhỏ nhưng dám chống lại sự xâm lăng của người Mông Cổ năm Đinh Tỵ mới đây, chắc ngươi biết.\n- Ta biết, Trương Đình Trân cứ trân trân cái mặt nói tiếp: - Nhưng sau đó các ông phải triều cống người Mông Cổ chứ đâu dám chống lại họ.\n- Đó là ta giữ tình hòa hiếu chứ không muốn can qua.\n- Các ông đừng có khoe mẽ, một khi đại quân của thiên triều kéo sang cha con nhà vua dù có muốn xin hàng cũng không được nữa, và dân Giao Chỉ của nhà vua, ta chắc không còn một mống nào sống sót.\n- Quả đúng như ông nói, nếu quan lại của ta là những loại bán nước cầu vinh, cam tâm làm chó săn cho giặc như Tần Cối trước đây hoặc giả những loại như thừa tướng Giả Tự Đạo và Trương Đình Trân bây giờ, tất nhiên phải có cả những bậc vua ngu tối như Tống Khâm tông đã tự hạ mình chấp nhận sự đòi hỏi của hoàng đế nhà Kim, tôn vinh y là bá phụ và thường niên triều cống tới mấy chục vạn lạng bạc vàng và mấy trăm ngàn tấm lụa, và cả Tống Độ tông ngày nay cũng vậy. Việc duy nhất Độ tông và Giả Tự Đạo có thể làm được là hãm hại những người yêu nước dám xả thân cứu nước, và liên tiếp ký các hàng ước cắt đất cầu hòa. Trong lịch sử cổ kim, ta chưa từng thấy một nước nào vua tôi lại bạc nhược hèn yếu như triều đại cha truyền con nối của nhà Tống các ngươi. Ta không tin đó lại là truyền thống Trung Hoa. Nước Trung Hoa văn hiến, dân Trung Hoa quật cường, ta chắc họ không cam tâm chịu nhục như lũ các người đâu.\nVua Thánh tông nhìn thẳng vào mặt tên sứ giả nói với vẻ khinh bỉ. - “Quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”. Lời dạy của thánh hiền, các người cứ ra rả hót, thế mà khi hành xử lại không bằng kẻ thất phu. Thiết nghĩ, nếu ngươi còn chút liêm sỉ cuối cùng của loài cửu khiếu thì tự cắn lưỡi mà chết hơn là nhơn nhơn lên giọng dạy đời.\nTrương Đình Trân lồng lên như một con thú bị săn đuổi đến bước đường cùng. Y thò tay nắm đốc kiếm toan hành hung.\nVua Thánh tông bình thản lườm y và quát:\n- Quân đâu!\nLập tức quân cấm vệ bốn phía ùa vào lột hết các khí cụ trong người hắn. Và khám xét, tước hết khí giới tùy thân của đám tùy tùng trong sứ đoàn.\nVua dụ đô tướng đô cấm vệ:\n- Các ngươi đưa nó về giam lỏng trong nhà công quán. Không cho nó ra ngoài, không cho tiếp xúc với viên chánh sứ và mấy kẻ tùy tùng. Hãy cho nó biết thế nào là khí tiết Đại Việt.\nHai vệ sĩ bàn tay cứng như kìm thép nắm hai cánh tay Trương Đình Trân kéo đi. Y la hét chửi bới không tiếc lời. Nhưng y càng chửi bới tục tằn, hai gọng kìm càng siết chặt hai cánh tay y, tới mức há hốc mồm mà không la được thành tiếng y mới chịu câm họng.\nVề nhà công quán, y được sắp xếp ở trong một căn nhà ba gian hết sức sang trọng, thức ăn thừa mứa không thiếu một thứ gì ngoài rượu và các thứ nước sạch có thể uống được. Bữa thứ nhất y ăn ngon lành. Sang bữa thứ hai y đòi ăn thêm canh và nước uống. Nhà bếp tăng thêm các món ăn xào nấu thơm ngon nhưng vẫn không có canh, còn nước uống được lấy từ bến tắm trâu ngầu bùn và mùi tanh hôi đến lợm giọng.\nTrương Đình Trân khát đến khô cháy cả cổ họng, y vẫn không dám đụng đến thứ nước bẩn thỉu kia và y cũng bỏ luôn cả cơm không dám ăn vì sợ khát. Y nói với mấy người ra vào phục dịch:\n- Đồ man di, cho ta uống nước giếng! Trên thế gian chưa có nước nào dám tiếp sứ giả thiên triều như vua tôi nhà các ngươi.\n- Kẻ kia hãy giữ mồm giữ miệng, nếu không ta sẽ sai người nhổ hết không còn một cái răng ở miệng ngươi đâu. Ngươi đòi quốc vương ta phải tiếp ngươi với lễ vương nhân, đó chẳng phải là lễ vương nhân dành cho bọn chó săn sao?\nSau ba ngày không được uống nước, Trương Đình Trân gần như đã kiệt sức, y không la hét, không dám nói bậy nữa mà chỉ nài nỉ:\n- Ta không cần ăn, chỉ cần cho ta uống nước giếng là đủ.\nĐáp:\n- Ở nước tôi một khi đã ghét nhau thì người ta bỏ thuốc độc xuống giếng, uống vào chết liền.\n- Cứ cho ta uống, chết ta chịu.\n- Không thể dễ dàng như vậy được. Nếu sứ muốn uống nước giếng có thuốc độc phải tự mình viết tờ cam kết với nhà công quán. Sau đó chúng tôi phải làm tờ trình lên thượng cấp, chờ vài ba ngày… sau đó có phúc đáp cho hay không cho thì mới biết. Nhưng trước hết phải có biểu tạ lỗi với quốc vương ta và rút lại các lời hỗn hào xúc phạm.\nTrương Đình Trân không còn đủ sức đối đáp nữa. Y lịm đi. Trong cơn khát bỏng họng, chập chờn nửa mơ nửa tỉnh, y có phần ân hận vì dựa thế Hốt-tất-liệt đã đi quá xa cương vị của một sứ thần. Vả lại ta là người Hán làm việc quá mẫn cán cho người Mông Cổ, kẻ kia không chịu được ta mạt sát, nên đã xúc phạm lại ta. Bây giờ mệnh ta nằm trong tay họ. Đúng là bọn này ghê gớm. Năm Đinh Tỵ (1257) Vân Nam vương đã ba lần cử sứ đến dụ. Chắc sứ cũng hống hách xúc phạm, nên cả ba lần sứ đến đều bị giam giữ, tới khi đại quân đánh vào Thăng Long thì một người đã bị trói chết gục, còn hai người kia cũng đã kiệt sức. Chết như thế thật uổng. Nói cho cùng thì người Mông Cổ cũng có tốt gì với người Hán đâu, hiện nay hơn ba chục vạn quân đang vây chặt Tương Dương. Diệt xong Tương Dương họ sẽ kéo về đánh phá Lâm An, bắt Tống Độ tông nữa thì nước Trung Hoa của ta phải quỳ gối. Muốn nói gì thì nói ta cũng phải thừa nhận người Giao Chỉ họ kiên cường. Vừa nghĩ tới đây thì Trương Đình Trân lịm ngất đi.\nViên quản nhiệm nhà công quán sai người đổ cho y ba chén nước giếng, Trương Đình Trân mở bừng mắt đòi uống nữa. Viên quản nhiệm xua tay lắc đầu, mọi người lui ra. Ông ta nhắc:\n- Ta cấm các ngươi không được lén cho y uống nước nữa. Bây giờ mà y uống nhiều vào là chết đấy.\nSau khi nhận được thư tạ lỗi của Trương Đình Trân, vua Thánh tôn cử tướng quốc thái úy Trần Quang Khải tiếp sứ. Mọi việc tướng quốc được quyền quyết. Nhà vua chỉ xuất hiện khi tiếp chiếu của vua nhà Nguyên, còn sứ thần chỉ được gặp vua ta khi việc có quan hệ tới hai nước mà tướng quốc thấy không đủ thẩm quyền. Làm như vậy để sứ giặc biết dù chúng là sứ của nước lớn nhưng không phải chúng muốn gì cũng được, muốn gặp ai cũng được.\nTướng quốc thái úy là người thông thạo không chỉ tiếng Trung Hoa, mà còn am hiểu lịch sử các nước, kiến văn quảng bác, phong thái điềm đạm mà cương dũng có thừa. Sau một thời gian tiếp hai viên chánh phó sứ, chúng đã có phần nể trọng. Chánh sứ Khu-rung Kha-y-a đòi gặp mấy nhà buôn Hồi Hột mà y chỉ đích danh.\nTướng quốc đáp:\n- Một người vì buôn bán thua lỗ nên đã rời khỏi nước tôi cách đây vài ba năm. Trong sổ bộ của chúng tôi còn ghi rõ. Nhà cửa của họ đã sang tay cho người khác. Còn một người nữa đã chết cách đây từ hơn một năm, gia đình vợ con họ cũng bán đồ đạc đi khỏi nước tôi sau đó.\n- Ông tể tướng có thể cho tôi đi xem các căn nhà xưa của mấy nhà buôn Hồi Hột được chứ? - Viên chánh sứ hỏi.\nTướng quốc Trần Quang Khải đáp:\n- Ông chánh sứ có thể đi bất cứ lúc nào tôi sẽ cho người dẫn. Tuy nhiên, ông không tìm thấy dấu vết của người Hồi tại đó. Vì rằng tôn giáo của họ không phù hợp với tôn giáo nước tôi, nên chủ mới của căn nhà bài trí theo tôn giáo và phong tục của nước mình.\n- Vậy ông tể tướng cho tôi đi xem ngôi mộ của người Hồi chết được chứ.\n- Điều đó dễ như tôi với ông chánh sứ đang uống nước đây. Mộ phần của ông ta được đắp điếm chu đáo, lại được con cái họ xây cất và đặt bia mộ trước khi rời Đại Việt.\n- Tôi muốn khai quật ngôi mộ đó. - Viên chánh sứ đòi hỏi.\n- Ồ, cái đó thì không thể được. Phong tục nước tôi không cho phép, dù người nằm trong huyệt mộ là người nước nào cũng vậy, một khi họ đã chôn cất ở nước tôi, họ sẽ được bảo vệ theo luật pháp và phong tục của nước tôi mà không có bất kỳ một ngoại lệ nào.\nViên chánh sứ cảm thấy thỏa mãn và y đòi đi bất kỳ đâu, hỏi han bất cứ điều gì đều được đáp ứng, có khi đáp ứng ngay tức thì. Nhưng y cũng tỏ ra thất vọng, vì y không thu thập được bất cứ điều gì mà y muốn. Còn viên phó sứ Trương Đình Trân cũng đã biết điều, hắn không dám hạch sách, hống hách nhưng lại hay gợi ý nay xin cái này mai muốn cái khác, về các đồ Trương Đình Trân tìm kiếm, mua rẻ hoặc xin được biếu, triều đình tỏ ra rộng rãi, y hết sức hài lòng. Ngay cả với tên chánh sứ, tuy y không đòi hỏi nhưng triều đình cũng tặng biếu đáng kể các đồ trân quý.\nPhần của cải hai viên chánh phó sứ được tặng biếu khá nhiều nên chúng cũng muốn về nước sớm.\nBiết ý đồ của sứ giặc, tướng quốc thái úy Trần Quang Khải dụ chúng vào các cuộc vui chơi và tiệc tùng thâu đêm suốt sáng.\nVừa mệt mỏi vừa muốn đem một đống của về nước, hai viên sứ giặc hẹn ngày lên đường.\nTrước khi cho chúng về nước, tướng quốc mời riêng mỗi tên để tặng thêm vật quý nhưng đòi chúng phải ký vào một tờ giấy đã liệt kê các món đồ mà chúng được biếu tặng.\nTựa như kẻ cắp đã thành tinh, đứa nào cũng chối không chịu ký. Trần Quang Khải làm yên lòng chúng:\n- Những đồ này nằm trong kho khố vật của triều đình, nếu ông không ký nhận tức là viên thủ kho sẽ bị chém bêu đầu vì các đồ trân quý bị mất không có sở cứ. Giấy này viên thủ kho giữ để làm bằng chứng, về sự trong sạch của y chứ không có ý gì phiền phức cho quý ngài đâu.\nTướng quốc nói như vậy cũng có nghĩa là nếu khách không ký nhận thì các món đồ kia không thể đem ra khỏi Thăng Long, không thể đem ra khỏi Đại Việt.\nChỉ một chữ ký để đổi lấy đồ vật trị giá ngang với cả ngàn nén vàng, nên chánh phó sứ chẳng tên nào dám cứng lòng thờ chúa nữa.\nTrong tiệc yến tiễn hai sứ giả trước khi rời Thăng Long, vua Trần Thánh tông đến dự và có làm thơ tiễn biệt. Hai viên chánh phó sứ mỗi người cũng lưu bút một bài thơ.\nChánh sứ Khu-rung Kha-y-a không thạo âm luật Trung Hoa nên thơ của ông không thể gọi là thơ được. Còn Trương Đình Trân thì bẽ bàng vì cách ứng xử của y nên đã có sự căng thẳng đáng tiếc, vì vậy thơ của y bạc nhược vô hồn.\nKhi tướng quốc thái úy tiễn sứ đoàn sang tới trại Bồ Đề, Trần Quang Khải kéo tay Trương Đình Trân đi chậm lại và nói nhỏ chỉ vừa đủ hai người nghe: “Quả là ông có để lại cho phụ hoàng và hoàng thượng ta nhiều điều bất như ý, nhưng vì ông đã có lời tạ lỗi nên lại được đối xử tốt như ông đã thấy. Ngay cả quà cáp biếu tặng ông cũng là một tài sản đáng kể so với cuộc đời làm quan. Mong rằng ông sẽ nói những điều phải chăng về Đại Việt ta với Nguyên thế tổ. Nhược bằng ông bày vẽ đặt điều thì bút tích của ông tạ lỗi và ký nhận quà biếu buộc ta phải dâng lên thiên tử”.\nTrương Đình Trân mặt tái mét. Y không ngờ các việc y làm lại là một bằng chứng chết người, trong lòng y lửa giận bừng bừng nhưng buộc y phải kìm nén lại và nói lời hứa hẹn: “Ta là bậc quân tử không nói hai lời, tướng quốc cứ yên tâm”.\nTrần Quang Khải cười khẩy: “Ta cũng chỉ mong như thế”.\nĐuổi khéo được sứ nhà Nguyên ra khỏi cõi, nhà vua họp triều quan và vương hầu bàn phải gấp rút lo việc vũ bị.\nVua nói:\n- Vừa rồi sứ giặc vào nước giở thói càn bậy ta đã trừng phạt nên chúng hơi biết điều. Nhưng nguy cơ người Nguyên xâm lăng nước ta là không tránh khỏi. Nếu mai đây họ chinh phục xong nhà nam Tống thì sức mạnh của họ lớn tới mức khó lường. Vậy muốn tồn tại với tư cách là một quốc gia, ta không thể chỉ dựa vào phương sách dẻo mềm mà còn phải có sức mạnh. Nhưng sức mạnh ấy lấy ở đâu ra, ta mong các ông cứu xét. Ta cũng lưu ý các ông rằng đất nước ta đang bị giặc ngoài đe dọa từng ngày. Nếu muốn giữ tư cách là một con người có liêm sỉ thì ta hãy bàn kế chống lại nó. Còn như muốn sống yên thân phì gia cam tâm làm tôi tớ cho nó như loài khuyển mã thì ta lại bàn cái kế của loài khuyển mã.\nNhà vua nói xong những điều vừa nặng nề vừa đau xót khiến các quan ai nấy như được khơi dậy từ đáy sâu tiềm thức, cái mà ta gọi là lòng tự trọng và tính liêm sỉ của mỗi con người. Đó chính là huyệt đạo của lòng yêu nước.\nNhìn về phía tướng quốc thái úy, vua hỏi:\n- Tướng quốc thái úy thâu tóm cả việc dân, việc binh khá cho các quan hay về thế nước, liệu có thể đứng được trước nguy cơ xâm lăng của kẻ thù khổng lồ này không. Nhưng trước hết, tướng quốc nên cho mọi người biết về sức mạnh Mông Cổ cùng sự thoi thóp của nhà nam Tống.\nTướng quốc Thái úy Trần Quang Khải bước ra khỏi ban vái nhà vua rồi nói:\n- Tâu hoàng thượng, thưa các quan, các vương gia, hầu gia. Dưới gầm trời này hiện không có binh uy nước nào mạnh hơn nước Mông Cổ mà bây giờ họ đổi là nước Nguyên. Và năm ngoái Hốt-tất-liệt đã đánh bại em ruột của mình là A-lý Bất-kha thống suất đại binh lập ra nước Đại Nguyên và xưng đế. Đó là Nguyên Thế tổ. Đế chế Nguyên bao la, nay nó lại chinh phục tới ba phần tư cõi Trung Hoa. Nhà nam Tống sống thoi thóp với các kháng cự cầm chừng. Vua tôi Tống Độ tông ngu hèn, ngoài thì sợ quân Mông Cổ, trong thì loại bỏ các đại thần, các tướng lĩnh có lòng yêu nước dám gan góc chống lại quân xâm lăng. Những người yêu nước ấy sau khi bị biếm, bãi còn bị tống giam nơi ngục thất hoặc bị xử giảo. Quân triều đình thì hung hăng đàn áp nghĩa quân đang kiên cường kháng giặc để làm vừa lòng giặc, hòng mua lấy sự yên ổn giặc ban cho, dù thời gian chỉ là vài ba tháng rồi chúng lại giở giọng đòi hỏi đất đai hoặc vật tiến cống. Nhà nam Tống đã ký nhiều hàng ước cắt đất, lui quân, nay họ sắp bị quân Mông Cổ hất xuống biển đông rồi. Một khi nước Trung Hoa bị nhà Nguyên thống trị thì biên thùy phía bắc của ta không còn gì che chắn nữa. Cũng tức là ta phải đối mặt với nhà Đại Nguyên.\nNước Nguyên sẽ có thêm kho người, kho của mênh mông. Lũ Hán gian làm chim mồi, chó săn cho người Mông Cổ cỡ như Trương Đình Trân trở lên kể có hàng vạn.\nBọn tay sai này là mối nguy không nhỏ cho ta, và chúng hiểu ta hơn người Mông Cổ. Thêm vào đó lũ thống trị có thể bắt cả triệu quân tân phụ\n[104] đi theo quân Mông Cổ tràn vào cõi bờ ta.\nNghe tướng quốc thái úy nói về sức mạnh của người Nguyên, cả triều đình im phăng phắc. Không hiểu trong suy tư, các quan nung nấu lòng căm giận ngoại bang hay đang ngấm ngầm sợ hãi nó. Ngưng trong giây lát, Trần Quang Khải lại tiếp:\n- Tâu bệ hạ, thưa các quan, ta phải biết đầy đủ sức mạnh của giặc để có kế sách chống lại chúng chứ không phải để sợ chúng. Nói xong ông vái nhà vua và lui về chỗ.\nVua Thánh tông bèn dụ:\n- Chư khanh, tình thế diễn biến sẽ đúng như tướng quốc thái úy vừa tâu báo. Vậy chư khanh thử bàn kế sách cự giặc, nếu như quân Nguyên xâm lăng cõi bờ ta. Thực tình, nếu chỉ so sánh lực của ta với lực của nhà Nguyên mà ta bàn kế chống lại họ thời chẳng khác đem trứng chọi với đá, tựa như châu chấu đá xe. Nào ta cứ bàn cho cạn nhẽ.\nNgự sử đại phu, thủy quân đại tướng Lê Phụ Trần xuất ban nói:\n- Tâu bệ hạ, thưa các đồng liêu, hiện nay nước Nguyên quả là một nước mạnh nhất dưới gầm trời, nhưng chúng không thể cùng một lúc đem cả nước nó vào trận được. Vả lại những vùng đất mới chinh phục, quân chiếm đóng như ngồi trên đống lửa, bởi phải lo đối phó với đông đảo người dân không cam tâm làm nô lệ. Hơn nữa cuộc giao đấu giữa hai anh em nhà Hốt-tất-liệt diễn ra khốc liệt trong bấy nhiêu năm cũng có nghĩa người Mông Cổ tự làm yếu sinh lực của họ đi nhiều lắm.\nLại nữa lính Mông Cổ không phải là thiên binh, ngựa Mông Cổ không phải là thiên mã, chứng cớ rành rành khi chúng vào xâm lấn cõi bờ ta năm Đinh Tỵ thời cả lính chiến, ngựa chiến Mông Cổ đều bị quân ta giết chết khá nhiều, cuối cùng chúng phải bỏ lại tất cả của cải cướp được mà tháo chạy. Và cũng chính năm đó, Hưng Đạo vương với số quân ít hơn nhiều đã phục đánh khiến quân Mông Cổ phải táng đởm kinh hồn. Còn như đối trận với đệ nhất danh tướng Mông Cổ là Ngột-lương-hợp-thai trong trận Bình Lệ Nguyên thượng hoàng cầm quân xông pha cản giặc gần một ngày trời chúng mới qua được sông. Và khi chúng kéo đại binh về chiếm đóng Thăng Long vừa được đúng bảy ngày thì thượng hoàng đem sáu quân tiến đánh, giặc thua phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Như vậy rõ ràng là quân Mông Cổ không phải là một thứ quân không thể đánh bại. Tướng Mông Cổ không phải là loại tướng không bại trận. Chung quy là người ta có dám đương đầu với nó hay mới chỉ nghe danh nó đã sợ cuống lên rồi tìm cách tháo chạy hoặc cắt đất cầu hòa và chịu cống nạp của cải cho nó như vua tôi nhà nam Tống. Và như hoàng thượng nói, ta đánh với Mông Cổ khác nào châu chấu đá xe. Nhìn bề ngoài thì quả thật là như vậy. Là tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng. Tướng quân hạ giọng rồi lui về chỗ.\nQuan đại hành khiển thượng thư tả phụ Nguyễn Giới Huân xuất ban xin nói:\n- Tâu bệ hạ, thưa các đồng liêu, nghe quan tướng quốc thái úy và quan ngự sử đại phu nói thì ta có thể đánh, và cũng có thể thắng quân Mông Cổ, miễn là ta gan góc, dám đánh.\nĐúng vậy, nếu không đánh giặc ắt mất nước. Nước mất nhà tan. Đó không chỉ là nỗi đau mà còn là nỗi nhục nữa. Tuy nhiên, thần thấy sức mạnh của nhà Đại Nguyên thì không thể coi thường được, bởi nó còn cộng thêm cả sức mạnh của Trung Hoa vào đó nữa. Vì nghĩa lớn mà xả thân cứu nước, tấm thân này dẫu có mất đi cũng chẳng sá gì, thế nhưng còn sinh mệnh của muôn dân, còn tông miếu xã tắc thì sao? Xin bệ hạ cứ bình tâm, ta còn đủ thì giờ cứu xét.\nNghe Nguyễn Giới Huân nói vua Thánh tông không khỏi giật mình. Đúng là bỏ một tấm thân ta thì có chi đáng kể, nhưng còn tông miếu, xã tắc và sinh linh trăm họ. Nếu đánh mà không thắng ắt nó sẽ hủy hoại tông miếu, đó là điều ta lo ngại nhất. Lại nữa sinh linh trăm họ bị giặc tàn sát đó cũng là điều làm ta lo lắng nhất. Nghĩ vậy vua bèn hỏi thông thị đại phu Trần Phụng Công:\n- Mấy năm trước, khanh sang sứ nhà Nguyên khanh thấy tận mắt thực lực của họ, liệu có đáng ngại lắm không?\nTrần Phụng Công liền xuất ban:\n- Tâu bệ hạ, hồi đó thần sang nước Nguyên nhưng thực ra nó là nước Đại Lý, chính là tỉnh Vân Nam của người Tàu do quân Mông Cổ chiếm được, Hốt-tất-liệt cho em trai mình làm Vân Nam vương ở đó. Cái nước Vân Nam ấy chưa có gì để nói lên thực lực của nhà Nguyên. Nhà Nguyên bây giờ nó mạnh đúng như tướng quốc thái úy vừa tâu báo với bệ hạ.\nTâu bệ hạ, về nhà Đại Nguyên và cả quân Nguyên, thần rất tâm đắc với lời tâu của ngự sử đại phu lão tướng Lê Tần, rằng nó chỉ quá mạnh khi đối thủ của nó chưa giao đấu đã sợ nó. Thần cho rằng có mấy việc nước ta phải cấp kỳ làm ngay:\n- Một là chuyển dần các đầu mối ngoại gián từ khu vực người Tống sang khu vực người Nguyên. Bởi sự tồn tại của nhà Tống chỉ là ngày một ngày hai.\n- Hai là như bệ hạ đã dụ, phải cấp kỳ lo việc vũ bị.\n- Ba là phải làm cho mỗi người dân thấu hiểu nhẽ mất còn của nước, để họ có trách phận giữ nước. Khi mà cả nước đã muôn người như một, đồng tâm nhất trí thời đó là sức mạnh giữ nước không một thứ vũ khí nào có thể đánh bại được.\nNhập nội phán đại, đại tông chính Nhân Túc vương Trần Toản xuất ban xin nói:\n- Tâu bệ hạ, thần được bệ hạ sai coi phủ tông chinh, thần chỉ xin nói gọn một điều. Một khi nước đã vào tay giặc, không khi nào chúng để cho tông miếu của nhà vua được yên ổn. Một khi nước đã vào tay giặc thì sinh linh trăm họ cũng nằm trong tay giặc, bệ hạ làm sao mà cứu được.\nVậy nên chỉ có giữ được nước thì mới giữ được tông miếu, mới có thể bảo vệ được sinh linh trăm họ.\nCông bộ thị lang, trạng nguyên Nguyễn Hiền xuất ban xin nói:\n- Tâu bệ hạ, việc vũ bị như bệ hạ dụ bảo, gồm có quân lính và vũ khí. Thần vâng mệnh đã cải biến xong nỏ liên châu, lại cũng vừa chế tác xong loại song sảo pháo, đang cho quân dùng thử. Thần cũng đang lo xong bản vẽ để đưa vào chế tác thử loại ngũ sảo pháo. Tâu bệ hạ, đây là những loại khí giới lợi hại để chống giặc, giữ nước, lũ thần sẽ đem hết sức lực và trí tuệ ra để phụng sự việc giữ gìn bờ cõi.\nNói xong, ông lui về chỗ. Nguyễn Hiền vốn ít nói. Ông chỉ nói những điều mình đã làm, còn những gì đang ấp ủ có biết chắc sẽ đạt thành tựu ông mới nói.\nTướng Lê Tần lại xin nói:\n- Tâu bệ hạ, để hưng thế quân, thế nước, nhằm kình chống giặc dữ triều đình cần nhiều tài năng lớn. Chỉ có tài năng và sức trẻ cùng với lòng yêu nước cháy bỏng mới đảm đương được việc lớn. Nay thần tuổi đã cao, tài và sức đều cạn, xin bệ hạ hãy lấy chức thủy quân đại tướng của thần trao cho người khác. Nhân đây thần xin nói giặc đánh ta, thế nào chúng cũng dùng quân thủy phối với quân kỵ. Chắc chắn người Mông Cổ sẽ lấy quân thủy từ đám quân phương nam của người Tống đã quy hàng. Vì vậy ta phải lập ngay một đạo quân thủy hùng mạnh ngay từ bây giờ kẻo trễ.\nCác tướng như: Hưng Đạo vương (Trần Quốc Tuấn), Chiêu Quốc vương (Trần Ích Tắc), Tĩnh Quốc vương (Trần Quốc Khang), Nhân Huệ vương (Trần Khánh Dư) cùng nhiều tướng trẻ khác cần được trao cho trọng trách điều hành việc nước, việc quân, xin bệ hạ lưu tâm.\nVua rất cảm kích về lòng trung và cả sự cao thượng của bậc lão thần mà vua cha đã gọi là Lê Phụ Trần. Tức người họ Lê phù giúp họ Trần. Ngay như công cuộc kình chống giặc Mông - Thát năm Đinh Tỵ, Lê Tần cũng rất mưu trí và cương dũng, vừa cản giặc vừa che chắn tên đạn cho thượng hoàng. Nghĩ vậy, vua liền dụ rằng:\n- Ngự sử đại phu là người tài lại có nhân cách cao thượng, nếu vì tuổi già sức yếu không đảm đương trận mạc được thì khanh làm việc khác. Gừng già càng cay, người già nhiều mưu, khanh có thể dự nghĩ cho nước được nhiều việc lớn, khanh khuyên ta nên tìm kiếm người tài, trong khi chính khanh cũng là người tài đức mà đất nước đang cần, sao ta có thể để khanh hồi hưu được. Vả lại khanh đâu phải người ưa hưởng nhàn.\nNhìn khắp lượt các triều quan, vua Thánh tông lại nói:\n- Nhân đây ta bố cáo một việc trọng đại mà triều ta mới làm được. Ấy là cách đây hơn mười năm, thượng hoàng có giao cho Quốc sử viện soạn bộ quốc sử. Hàn lâm viện học sĩ, giám tu quốc sử Lê Văn Hưu vâng soạn, nay đã xong. Lê Văn Hưu vừa có biểu dâng sách. Đây là bộ quốc sử đầu tiên của nước ta. Để thượng hoàng nhã giám xong, ta sẽ cho nhân bản phát về cho các bộ, các khoa, các đô, đài, sảnh, viện đọc, ngõ hầu có điều gì cần bổ cứu vẫn còn kịp. Và từ nay trong các kỳ thi đại khoa, môn lịch sử sẽ lấy căn cứ từ bộ sử này mà ra đề.\nLại nhìn các quan, vua nói tiếp:\n- Từ nay ta mới thật sự yên tâm, bởi một nước văn hiến mà quốc sử không được ghi chép rõ ràng là điều không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, có điều này các khanh thử suy ngẫm xem. Bộ sử ký này Lê Văn Hưu soạn khởi từ Triệu Vũ đế kết ở Lý Chiêu Hoàng. Kết ở đây thì đúng rồi. Nhưng mở từ nhà Triệu, ta nghĩ hơi sái. Vì rằng cuối nhà Tần các hảo hán nổi lên tranh thiên hạ. Triệu Đà người Phúc Kiến nên tranh mấy tỉnh phía nam sông Trường Giang, ông ta sai quân kiêm tính nhà nước Âu Lạc, đô đóng tại Phiên Ngung\n[105], nay đền thờ ông ta vẫn ở Phiên Ngung. Xưa người Trung Hoa gọi các dân tộc phía nam sông Trường Giang là Bách Việt. Ví như tộc Việt ở Triết Giang, tộc Mân Việt ở Phúc Kiến, tộc Dương Việt ở Giang Tây, tộc Nam Việt ở Quảng Đông. Còn như Âu Việt với Lạc Việt chính là nước ta hiện nay. Nhưng trong lịch sử chưa bao giờ Âu Việt, Lạc Việt thuộc về Trung Hoa mà chỉ do họ cậy sức chiếm lấy rồi nhận xằng làm đất của họ. Vậy việc này theo ta phải xem lại, nếu không xét cho thấu đáo sẽ để di họa và cả di hận cho con cháu mai này.\nNhà vua tỏ vẻ hài lòng, nhìn các quan giục:\n- Các khanh bàn tiếp cho ra nhẽ để triều đình có quốc sách lâu dài cho thế nước. Nếu không muốn sống quỳ, không chịu khuất phục ngoại bang, thì phải có sức mạnh mới chống lại được nó, mới giữ được giang sơn nòi giống.\nVua Thánh tông vừa dứt lời, tướng quân Trần Hưng Đạo liền xuất ban. Hưng Đạo năm nay trạc ngoài bốn mươi tuổi. Ông có gương mặt chữ điền, cặp mắt sáng, lông mi dài, rậm tam đình ngũ nhạc cân đối, phong thái điềm đạm, uy nghi. Dáng người to, cao, tay dài. Ông bước đi khoan thai tựa như ông vừa đi vừa nghĩ một điều gì đó. Vương dừng bước trước bục án thư vái nhà vua hai vái, quay lại vái các đồng liêu một vái rồi nói:\n- Tâu bệ hạ, các quan nói đã cạn nhẽ, xin bệ hạ thâu lấy những điều ích lợi nhất ban thành chính lệnh, thần chỉ xin tâu báo đôi điều mà thần đã suy nghiệm. Tâu, nhà Đại Nguyên một khi nó đã tóm thâu xong toàn xứ Trung Hoa, chỉ cần nó chấn chỉnh sự cai trị một vài năm thời nó có sức mạnh ngang trời đất, đúng như tướng quốc thái úy dự liệu. Tâu, nó có sức mạnh là một việc, nhưng nó có nuốt trôi được thiên hạ hay không lại là một việc khác. Nếu thiên hạ sợ nó, chỉ chờ nó đến để dâng thành nộp đất thì dẫu cả nghìn thiên hạ nó cũng nuốt chửng hết. Nhưng nếu thiên hạ gan góc chống lại nó thì hồ dễ nó đã làm gì nổi. Ví như năm Kỷ Mùi (1259) Đại Hãn Mông-kha đem tới mấy vạn quân đánh Hợp Châu (Tứ Xuyên) vây chặt thành Điếu Ngư. Một tòa thành nhỏ do tướng Vương Công Kiên trấn giữ. Thế mà quân Mông Cổ vây hãm tới sáu tháng không hạ nổi, cho tới tháng tám năm ấy Mông-kha trúng đạn tử trận, quân Mông Cổ phải bỏ thành tháo chạy.\nMột tòa thành nhỏ bằng cái đấu đã cầm chân hàng vạn quân Mông Cổ quá nửa năm trời, lại còn giết được cả Mông-kha Đại Hãn tức là vua nước giặc. Thử hỏi, nếu Trung Hoa thành nào cũng là thành Điếu Ngư, tướng nào cũng là Vương Công Kiên thì vua tôi đâu có bị dồn đuổi nhục nhã như ngày nay.\nTâu bệ hạ, lo việc vũ bị trước hết nên lo việc dạy tướng, dạy quân có ý chí kiên cường kháng giặc mà thành Điếu Ngư và Vương Công Kiên chính là tấm gương sáng để ta noi. Tuy nhiên bệ hạ nên có kế sách để người dân ít nhiều đều có sản nghiệp, kịp khi giặc đến người ta có cái để mất thì người ta mới đem sinh mệnh ra để cố giữ. Một khi người ta không có gì để mất thì người ta cũng chẳng biết mình phải giữ cái gì. Khi người dân có chút sản nghiệp rồi, ta sẽ dạy dân lòng yêu nước, lòng dũng cảm, giữ nước cũng tức là giữ nhà vậy.\nNghe Hưng Đạo vương nói, nhiều người tỏ vẻ tâm đắc. Đó là cái gốc để giữ nước, nhưng khó thay, lấy đất đai đâu chia cho những người vô điền sản.\nVua Thánh tông cảm thấy nơi Hưng Đạo có nhiều chủ kiến làm hưng thế nước, nhà vua rất hài lòng. Ngài nói:\n- Hưng Đạo quả là bậc đại trí, triều đình sẽ xem xét các điều bàn thảo hữu ích hôm nay để biến thành quốc sách giữ nước.\n\nHoàng tử Trần Khẩm là con trưởng của vua Thánh tông tính nết nhu hòa hiếu thiện, là người có tư chất thông tuệ và linh giác nhạy bén khác thường, mới mười sáu tuổi đã học thông tam giáo, nhưng thiên hướng về Phật đạo ngày càng rõ rệt. Hoàng tử thường mời các bậc túc thiền để tham cứu về giáo lý Phật. Trong số các bậc thiền giả có nhẽ hoàng tử coi Tuệ Trung thượng sĩ là bậc thầy gần gũi nhất. Bởi nhẽ Thượng sĩ giảng giải vừa hợp với cái lý của đạo nhưng lại không xa rời cái lý thế gian.\nTrong đại nội có ngôi chùa Tư Phúc lập ra để hoàng gia tiện lễ Phật và tham vấn vị thiền sư trụ trì tại đó. Hoàng tử Trần Khẩm thường vấn đạo với thiền sư bản tự. Một hôm chợt hỏi sư:\n- Làm thế nào để giải thoát?\nSư đáp:\n- Muốn giải thoát thì đừng chấp thân, đừng chấp tâm, đừng chấp cảnh. Thân, tâm, cảnh đều không chấp thời chúng không có chỗ bám trụ thì dứt được tham, sân, si. Khi đã dứt được tham, sân, si ắt chứng đạo quả.\nThái tử lại hỏi:\n- Thiền sư dạy đừng chấp vào cái gì hết, đó là cái lý của đạo, nhưng cái khó là ở chỗ làm thế nào để đừng chấp, tức là cái dụng của đạo, xin thầy chỉ cho đệ tử.\nNghe hoàng tử hỏi, thiền sư giật mình tự nghĩ: “Người này có trí vô sư nên đã hiểu tới sự rốt ráo của đạo”. Đoạn sư nói:\n- Hoàng tử nên lấy cái trí ra mà soi xét, khi người đã thông cái lý của đạo thì mọi việc đều trở nên đơn giản.\nNgẫm nghĩ giây lâu, thái tử gật đầu đáp:\n- Bạch thầy, đệ tử hiểu.\nBữa nọ vua cha cho triệu Trần Khẩm vào cung dụ rằng:\n- Năm nay con đã tròn mười sáu tuổi, cha đã để ý xem xét từ học vấn đến đạo đức thấy con là người hiếu thiện, ái nhân, ái vật đức ấy sau này sẽ có thể bao trùm được thiên hạ, vậy cha lập con làm hoàng thái tử để truyền ngôi.\nNghe vua cha nói, một nét buồn thoáng hiện trên gương mặt non tơ của chàng hoàng tử. Trần Khẩm vội quỳ lạy:\n- Con cảm tạ phụ hoàng đã ban trọng ân.\n- Ta muốn biết ý con thế nào?\n- Tâu phụ vương, nếu phụ vương đã hỏi, cho phép con được tâu thực điều con nghĩ.\nVua Thánh tông mỉm cười độ lượng.\n- Con nói đi. Nghĩ sao nói vậy, cha không bắt lỗi đâu mà sợ.\n- Tâu phụ vương, xin phụ vương mở lòng, ý con đã muốn xuất gia nhưng chưa có dịp tâu lên. Nay con xin phụ hoàng để ngôi thái tử và cả ngôi nước cho em con.\nNghe con nói với vẻ chân thực, nhà vua thấy lòng se lại, giọng nghẹn ngào, vua dụ:\n- Trong số các anh em con, ta chỉ thấy con là hơn cả nên có ý lập. Con nên biết đây là trọng trách quốc gia đặt lên vai con, buộc con phải gánh vác chứ không phải chuyện muốn hoặc không muốn. Ngôi nước trước hết phải vì nước, sau đó mới vì nhà, vì mình được. Cha chắc con hiểu ý cha.\nHoàng tử rơm rớm nước mắt phục lạy:\n- Con xin tuân mệnh của phụ hoàng.\nVua cha lại nhắc bảo:\n- Con đã đến tuổi lập phi. Triều thần dâng sớ xin lập trưởng nữ của Hưng Đạo vương, ta cho là thuận. Việc đó coi như xong, ta sẽ sai người đứng ra làm mai làm mối cho có đầu có đuôi. Còn về lập con vào ngôi hoàng thái tử, ngày mai thiết triều cha sẽ tuyên chiếu trước bá quan.\nTừ khi vua cha dụ bảo hai việc lập phi và giữ ngôi hoàng thái tử để kế vị, Trần Khẩm thấy lòng trĩu nặng, chàng cảm như vừa bị mất mát một cái gì quý lắm, lớn lắm. Chàng suy nghĩ rất mông lung. Đúng là không thể trái ý vua cha. Làm con mà trái lời nghiêm huấn tức là con bất hiếu.\nChàng tự nhủ: “Thế nhưng lòng ta đã hướng về đạo. Chi bằng noi gương thái tử Tất Đạt Đa, nếu thành đạo quả không chỉ giải thoát cho riêng ta mà còn giúp nhà, giúp nước, cao hơn nữa như ngài Tất Đạt Đa khi chứng đắc đạo quả đã trở thành Phật tổ Thích Ca Mâu Ni không chỉ cứu độ cho hoàng gia, hoàng tộc, cứu độ cho đất nước mà còn cứu độ cho cả thế gian. Vậy thời ta có mắc lỗi hiếu nhỏ, nhưng ta đã đạt được điều hiếu lớn”. Nghĩ vậy, thái tử liền thu xếp cho việc hành động. Cân nhắc mãi cho việc ra đi nên như thế nào cho kín nhẹm, chẳng lại giống như thái thượng hoàng (Trần Thái tông) khi ra đi đem theo cả người hầu hạ thân tín, nên hình tích dễ bị lộ.\nTrong tâm trí hoàng tử Trần Khẩm luôn hướng về ngọn núi thiêng Yên Tử, ở đó đang có các bậc thánh tăng trụ trì. Đó cũng là cõi giới thanh tịnh cách biệt với bụi bặm thế gian. Với lòng mộ đạo chân thành, hoàng tử trốn khỏi hoàng cung vào lúc trăng xế giữa một đêm hè vắng lặng. Hoàng tử ra đi một mình không hành lý, không người hầu cận, trong túi không có một đồng tiền nào, chàng chỉ nhằm hướng đông trực chỉ. Bởi đôi ba phen đã dò hỏi bá phụ Tuệ Trung về các bậc cao tăng trên Yên Tử sơn và cả đường đi lối lại. Hoàng tử thay lốt áo quần trước khi ra khỏi cung cấm. Chàng mặc trên người bộ đồ nâu sồng, đầu đội chiếc nón cúp vành để che mặt, đi mải miết suốt ngày quên cả đói, chỉ nghĩ đến ngọn núi cao vút, rừng rậm bạt ngàn, quanh năm mây trắng phủ đầy và mơ ước được diện kiến bậc thánh tăng và được ngài thâu nhận làm đệ tử để tu học. Đói thì cố nhịn chứ không dám xin ăn, còn khát thì mỗi khi qua suối dùng hai bàn tay vốc lên uống tạm, qua sông qua đò thì xin được bố thí. Thấy người đàng hoàng mặt mũi sáng sủa nên các lái đò đều vui vẻ chứ chẳng ai nỡ nặng lời với cậu bé nom như một chàng hoàng tử.\nSang đêm thứ hai hoàng tử đã thấm mệt, dù là trong tuổi mười sáu non tơ, nhưng được nuôi dưỡng trong cung vàng điện ngọc, kẻ hầu người hạ, chưa kịp đói đã có người ép phải ăn, chưa khát đã có người tiến dâng đồ uống thơm tho, nay phải nhịn đói trong suốt một ngày đêm lại dầu dãi đường trường, chừng quá nửa đêm chàng thấy nhấp nhô mấy ngọn tháp, chắc đó là một ngôi chùa, đầu óc chàng vẫn hướng về núi thiêng Yên Tử, nhưng đôi chân lại dẫn chàng tới tận chân tháp mộ. Mỏi chân quá chàng ngồi nghỉ dưới chân tháp và thiếp ngủ lúc nào không biết. Trong lúc ngủ say hoàng tử mơ thấy từ nơi rốn mình mọc lên một đóa sen vàng rực rỡ, bông sen càng lúc càng lớn như một bánh xe, chợt bừng nở, trên bông sen có đức Phật vàng đang ngự.\nCạnh đức Phật có người chỉ vào hoàng tử hỏi: “Biết đức Phật này chăng? Đức Phật Biến Chiếu đấy”.\nSau khóa lễ buổi sáng, sư trụ trì thường đi dạo quanh vườn chùa xem cây trái có gì cần phải chăm bón, tưới xén hoặc trẩy hái. Khi sư đảo về phía vườn tháp nhận thấy một thiếu niên đang ngủ say, bên cạnh là chiếc nón lá. Mặt trời đã lên chiếu những tia nắng sớm chênh chếch xuyên qua lớp sương trắng mỏng nhẹ như khói. Nom gương mặt khôi ngô tuấn tú của thiếu niên biết đây không phải người thường. Sư chợt nhớ lúc nửa đêm trong giấc ngủ nghe như có thiên sứ đến gọi: “Có đức Phật hoàng ghé thăm bản tự”. Cũng trong mơ, sư tự nhủ: “Chắc ta mới đọc sự tích mấy vị vua Phật nên mơ vậy”. Rồi lại ngủ tiếp. Nhìn mãi dáng mạo thiếu niên đang ngủ, sư tự hỏi: “Chẳng nhẽ đây là vị khách thiên sứ mách bảo ta chăng?”. Nhìn ngắm mãi dung nhan người khách lạ, sư thấy lòng rung động bèn tự nhủ: “Nước ta quả chưa có Phật hoàng. Nhưng vị này thì không phải. Đây là một thiếu niên. Các đấng chăn dân đều đã luống tuổi và cũng không có vị nào xuất gia”. Ngần ngừ giây lát nhà sư bèn cúi xuống đánh thức:\n- Quý khách! Quý khách!\nThiếu niên mở bừng mắt thấy trước mình là một nhà sư đã luống tuổi và xung quanh là vườn mộ tháp, chàng bèn đứng dậy vái:\n- Kính bạch lão tăng, tôi là khách lỡ độ đường, đêm hôm không dám kinh động cửa sài, trộm ngủ nơi vườn tháp, xin đại sư tha tội đường đột.\nSư vội xua tay:\n- Ồ không! Cửa tam bảo lúc nào cũng rộng mở đón khách thập phương, xin quý khách chớ ngại. Lão tăng tôi xin có lời mời quý khách vào nhà phương trượng.\nLúc này ở Thăng Long hoàng gia đang bối rối không biết hoàng thái tử bỏ đi đâu. Vua Thánh tôn hết sức đau lòng. Ngài không ngờ Trần Khẩm vốn là người bản tính nhu hòa, hiếu thuận, đột nhiên lại bỏ hoàng cung đi không tâu báo, không duyên cớ. Lạ thay! Nhà vua sai đòi Nguyên thánh Thiên Cảm hoàng hậu vào hỏi:\n- Hậu có biết hoàng thái tử đi đâu không? Thế này thì hoàng gia đến loạn mất.\nHoàng hậu nước mắt tuôn rơi và sụp lạy:\n- Thần thiếp quả không biết hoàng thái tử đi đâu, nhưng thiếp có lỗi, con hư tại mẹ, xin hoàng thượng trị tội thiếp.\n- Sao hậu lại nói như vậy. Ta không bảo con hư. Phải nói Khẩm là một đứa con có hiếu. Nhưng nó đã xin với ta nhường ngôi thái tử cho em nó và xin được xuất gia. Nhà vua thở dài buồn bã.\n- Tâu hoàng thượng, thế thì đúng rồi, đôi ba phen Khẩm cũng ngỏ ý muốn lên Yên Tử sớm để cầu học các vị thánh tăng. Thiếp có khuyên: “Con muốn đi đâu phải xin phép phụ hoàng”. Coi chừng lần này có khi Khẩm lên thẳng Yên Tử, sao bệ hạ không cho quân đi đón con về.\n- Được! Được! Để ta sai mấy ông sư phó đi đón Khẩm. Đúng như hậu nói, Khẩm chỉ tìm đường về Yên Tử tầm sư học đạo. Khẩm vừa có lòng khoan dung đức độ, vừa thông tuệ sáng láng, lại vừa là trưởng tử nên ta muốn truyền ngôi nước cho nó chứ nhường cho đứa khác thì có khó gì. Vả lại giữ ngôi nước là giữ giang sơn nòi giống, việc thiêng liêng trọng đại như vậy không thể trao cho bất kỳ ai cũng được.\nChiều hôm sau thì hoàng thái tử Trần Khẩm đã về lại Thăng Long. Nhà sư vẫn còn muốn lưu thái tử lại chùa đàm đạo, nhưng cũng vừa lúc quan quân và mấy vị sư phó tìm đến. Tình thế buộc thái tử phải về kinh.\nQua mấy ngày dãi gió dầm sương, ăn uống thất thường, thái tử gầy sọp hẳn đi.\nNghe nói hoàng tử đã về cung, hoàng thượng và cả hoàng hậu cùng ghé Đông cung thăm con.\nVừa thấy cha mẹ, hoàng tử đã vội quỳ thưa:\n- Con thật bất hiếu để phụ hoàng và mẫu hậu phải nhọc lòng, con xin được nhận tội đánh trượng. Nói xong, thái tử nằm phục xuống thềm điện.\nNhìn mặt mày con hốc hác, hoàng hậu bưng mặt khóc. Nhà vua nâng con dậy và nói:\n- Con muốn xuất gia, ấy là đại hạnh cho hoàng gia, cha sao bắt tội con được. Nhưng cha hỏi, sao dạo này con gầy yếu thế, hay trong lòng con có điều gì bất an.\nThái tử vái lạy vua cha và thú nhận:\n- Phụ hoàng tha tội cho con, con không có gì bất như ý cả, con cũng không ốm đau bệnh tật, chỉ vì bấy lâu nay con ăn chay trường nên người có hao đi chút ít, nhưng thân thể vẫn mạnh khỏe.\nNghe con nói, vua Thánh tông ứa nước mắt nói:\n- Cha già rồi, mọi việc đều trông cậy nơi con. Nay con định bỏ ta, bỏ cả xã tắc để mong cầu giải thoát cho bản thân mình. Con nghĩ thế không sai, nhưng đó mới chỉ là sự tiểu giải thoát. Sao bằng con cầm cương chính, lo cho trăm họ đủ đầy hiếu thiện thời đó mới là đại giải thoát. Chỉ người đại giác ngộ mới dám quên thân vì nghĩa lớn như vậy.\nHoàng thái tử như vừa ngộ ra, chàng phục lạy:\n- Con xin tuân lời dạy của phụ hoàng, từ nay con dốc lòng tu chính.\n- Vậy thì cha yên tâm. Nhà vua vừa nói vừa kéo hoàng tử đứng dậy.\nTừ bữa ấy, hoàng tử chăm đọc cuốn\n*Di hậu lục* của vua cha. Chàng cũng nhờ các ông sư phó giảng kỹ kinh Xuân Thu và sách của thầy Mạnh Tử. Vì Mạnh Tử bàn về sự trị loạn xã hội rõ hơn Khổng Tử. Khổng Tử thiên về lễ, Mạnh Tử thiên về luật. Bản thân chàng tự tìm đọc và nghiền ngẫm binh thư của các nhà, lại sai người về Vạn Kiếp xin bá phụ Hưng Đạo vương sách *Binh thư yếu lược*. Lại nữa hoàng tử cũng chuyên tâm trong việc luyện rèn võ nghệ.\nThấy con chăm chỉ tìm hiểu các việc về trị bình cũng như chuyên tâm xem xét về binh pháp, vua Thánh tông mừng lắm. Nhà vua càng hối thúc các ông sư phó chỉ dẫn cho hoàng thái tử đến chỗ rốt ráo của học thuật.\nNgoại gián của ta từ đất Nguyên (Trung Hoa) đưa tin về sự diệt vong của nhà nam Tống đã cận kề. Và quân Nguyên cũng đang đưa đại quân qua đánh Nhật Bản. Như vậy cũng có nghĩa là người Mông Cổ đã tổ chức được quân thủy khá mạnh. Vì nếu quân thủy không mạnh sao có thể dám vượt biển khơi mà vào Nhật Bản.\nGiữa lúc đó nhà Nguyên lại sai sứ sang hối thúc Đại Việt phải đưa cống vật và nhắc lại sáu việc nước Nguyên đòi hỏi.\nVua Trần Thánh tông sau khi bàn bạc với một số các triều quan, nhà vua cân nhắc và viết biểu phúc đáp:\n“… Hơn mười năm nay, tuy ba năm cống vật một lần, nhưng sai phái sứ thần đi về mệt mỏi, chưa hề được nghỉ ngơi lấy một ngày. Còn như Đạt-lỗ-hoa-xích thiên triều sai đến đất nước chúng tôi sao có thể về không, phương chi những kẻ sai đến thường cậy thế chèn ép nước nhỏ… Vả lại Đạt-lỗ-hoa-xích chỉ nên đặt ở vùng man di ngoài biên giới, còn tôi đã được phong vương, làm phên dậu một phương mà còn đặt Đạt-lỗ-hoa-xích để giám sát, há không sợ các nước chư hầu cười cho hay sao… Tất cả các quan lại thiên triều sai đến xin đổi làm dẫn tiến sứ đề tránh được cái tệ Đạt-lỗ-hoa-xích. Và từ nay cứ một lần nộp cống ở Trung Nguyên, một lần nộp cống ở Thiện Xiển\n[106]”.\nNhà vua tự biết các điều không theo này sẽ làm cho Nguyên chúa nổi giận. Nhưng nếu theo như việc cống voi, cống người thì được đằng chân chúng sẽ lân đằng đầu, nay đòi được một thì mai nó sẽ đòi mười, dân sẽ khổ về việc tìm kiếm vật cống hằng năm. Còn như sáu điều kia, chỉ cần chấp nhận một trong sáu điều ấy là nước không còn giữ được thế nhân chủ nữa. Kẻ kia như lũ chó sói đói mồi, nếu cho chúng ăn thì không biết bao nhiêu là đủ.\nKhông chịu cống nạp đầy đủ, không chịu vào chầu, không chịu nộp tô, thuế, không chịu nộp quân tải lương… ắt ta phải chấp nhận đối đầu với lũ giặc hung hãn này thôi. Không chịu sống quỳ, sống nhục tức là không chịu khuất phục thì phải đối đầu. Xem ra từ quan đến dân trong nước ai ai cũng có lòng liêm sỉ, tự trọng muốn giữ nhà, giữ nước và đều căm giận vua tôi nhà Nguyên kiêu ngạo tự phụ, điêu trá toan lấy thịt đè người. Tuy vậy, muốn giữ được nước, giữ được lòng tự tôn, tức là giữ được phẩm giá của giống nòi với kẻ thù vừa hung hãn xảo quyệt vừa có sức mạnh khổng lồ kia là một việc muôn khó.\nNhà vua tuy tin vào quần thần, tin vào trăm họ nhưng vẫn băn khoăn trước sức mạnh của kẻ thù. Quả là ngài không sợ chết, nhưng chỉ lo không bảo vệ được muôn dân khi giặc ào ạt tràn vào bờ cõi. Để cho giặc tàn sát sinh linh, lòng vua sao nỡ. Vả lại đó còn là trách phận của kẻ chăn dân. Không thể để giặc tàn sát dân mình, rồi bảo đó là tội ác của giặc chứ không phải lỗi ở vua. Cũng như dân chết đói thì bảo đó là do trời làm mất mùa chớ đâu phải lỗi ở vua.\nNhà vua tự nhủ, ta đâu là kẻ vô minh, kẻ vô liêm sỉ mà có thể giũ bỏ trách phận người cầm cương chính của cả nước được.\nTướng quốc thái úy Quang Khải vào cung tâu báo việc cơ mật.\nVua hỏi:\n- Ta nghe nói quân Tống thua to, quân Nguyên càng hung hãn, em có tin tức gì mới không?\n- Em vừa nhận mật thư do ngoại gián gửi về, rằng thành Tương Dương, sau sáu năm dai dẳng kháng cự với quân Mông Cổ mới bị thất thủ năm Quý Dậu (1273) vì triều đình bỏ mặc không tiếp viện quân lương. Năm Giáp Tuất (1274) Hốt-tất-liệt đưa binh thuyền sang đánh Nhật Bản, chưa có tin tức gì thêm. Nhưng chắc là khó vào được, vì nước Nhật với hàng nghìn hòn đảo được phòng thủ vững chắc, mà người Mông Cổ chỉ quen cưỡi ngựa, trông thấy nước đã sợ rồi còn đánh chác gì, với đám quân người Hán (miền bắc) và quân tân phụ (miền nam) đang như gà phải cáo, hơn nữa họ cũng chẳng có thiện cảm với quân chiếm đóng. Hiện nay quân Mông Cổ đang ào ạt vượt sông Trường Giang nhằm tiêu diệt nhà nam Tống. Năm Ất Hợi này, mới đầu năm tên thừa tướng Giả Tự Đạo hèn nhát trong tay nắm mười ba vạn quân để giữ Vu Hồ, giặc chưa đến đã bỏ chạy khiến toàn bộ số quân của y bị quân Mông Cổ đánh cho tan tác. Nguyên Thế tổ (Hốt-tất-liệt) còn cử tả thừa tướng Bá Nhan thống suất hai mươi vạn quân chia làm hai đường: đường phía tây đánh vào Ngạc Châu, đường phía đông đánh vào Dương Châu.\nChẳng bao lâu nữa quân Nguyên sẽ chiếm xong Hợp Châu, Ngạc Châu, Đàm Châu, Dương Châu và như vậy Lâm An ba bề thụ địch, chỉ còn mặt nam là biển cả thôi.\nTống Độ tông vừa ốm chết, Giả Tự Đạo lập một đứa bé bốn tuổi lên ngôi, bà thái hậu vừa khóc vừa viết chiếu cần vương.\nTướng quốc ngừng lời nhìn nhà vua giây lát, lại nói:\n- Vương huynh, em còn được tin hiện nay hưởng ứng chiếu cần vương, giới sĩ phu Trung Hoa đang hô hào dân chúng lập thành những đội quân cứu nước. Lực lượng này đang chống trả quân Mông Cổ khá mạnh, còn quân triều đình dưới sự khống chế của Giả Tự Đạo không dám kháng cự, chỉ lăm le đầu hàng.\n- Thế thì nhà Tống bị diệt vong đến nơi rồi. Tống bị diệt vong cũng có nghĩa là Đại Việt ta phải trực diện đối đầu với quân Nguyên.\n- Vâng đúng như vậy, em định xin hoàng huynh chỉ dụ, vì thấy tình thế căng lắm, hôm nay bọn Đạt-lỗ-hoa-xích lại giục ta phải thực hiện sáu việc mà nhà Nguyên đòi hỏi. Em phải đem chiếu dụ năm Trung thống thứ tư của vua Nguyên gửi phụ hoàng năm Quý Hợi (1263) ra bác lại.\n- Em làm thế là đúng. Chắc bọn này còn ép ta hơn nữa. Vì vậy em phải đốc thúc các vương hầu và các lộ gom quân thật nhiều, luyện tập cho tinh thông và lương thực phải tích chứa, phải cất giấu vào những nơi thuận cho ta mà khó cho giặc. Mặt khác phải cử người sang thêm đất Nguyên để dò la. Ta nghe nói người Tống mới sang lánh nạn đông lắm phải không?\n- Dạ, em mới cử một nhóm sang Long Châu giả làm người đi mua thuốc. Còn số người Tống sang xin lánh nạn thì mới đây có ba mươi chiếc thuyền lớn chở gần một vạn người gồm đủ cả nam phụ lão ấu cùng nhiều của cải đồ đạc cập cảng Vân Đồn. Hải binh đô tổng quản có tâu về xin cho họ được vào cư trú sâu trong nội địa, chứ không thể đuổi người ta về cũng như không thể cho họ trú chân ở ngoài ấy được. Em đã cho chạy ngựa trạm ra bảo cho phép họ vào thẳng Thăng Long. Em định thông qua đám người này để lấy thêm tin tức cũng như lọc ra xem có kẻ nào làm gián điệp cho người Mông Cổ trà trộn vào dân chạy loạn.\n- Em nên thu xếp cho họ an cư, thế bất đắc dĩ họ mới phải ly hương. Ta nghe trong đám người tòng vong này có nhiều người trong giới quan lại quý tộc nhà Tống đang cố giấu mặt. Tuy nhiên xem trong đám họ kén lấy vài người mưu lược để đưa về lại Trung Nguyên làm ngoại gián cho ta. Tất yếu phải lấy những người cơ mưu, có lòng căm giận kẻ đã cướp nước họ và họ đang có người thân được ta cưu mang. Việc này phải thận trọng lắm, kẻo lại dùng nhầm phải gián điệp của Mông Cổ thì sự nguy hại không biết đâu mà lường. Ta định sang xuân sai Lê Khắc Phục, Lê Túy Kim sang sứ nước Nguyên, em sai lo đồ cống và căn dặn trước hai viên chánh phó sứ những điều cần thăm dò. Được, biểu trần tình với vua Nguyên ta tự thảo. Ta chắc việc bang giao từ nay sẽ ngày một cam go. Em phải gấp rút mọi việc ngay từ bây giờ kẻo khi giặc vào cõi trở tay không kịp. Còn điều gì cần nói, em cứ nói hết đi.\nSau một lát ngập ngừng, Trần Quang Khải nói:\n- Em rất phân vân nhưng không thể không tâu báo để vương huynh với trọng trách là bậc quân trưởng, thử cân nhắc. Ấy là việc ấp Vạn Kiếp, anh Quốc Tuấn chiêu binh lớn lắm. Xây dựng nhiều chủng quân, nhưng quân thủy là mạnh nhất. Hiện nay Quốc Tuấn có trong tay đội quân gần bằng hai phần ba số quân của triều đình, lại đang ra sức chiêu mộ hiền tài, liệu các việc làm ấy có ngầm chứa mưu đồ khuynh đảo xã tắc?\nTrầm ngâm suy tính một lát, nhà vua đáp:\n- Hiện ta chưa có bằng cớ gì về việc Hưng Đạo chia lòng. Trong lúc giặc ngoài đang đe dọa mà anh em nghi kỵ nhau thì làm sao có thể cố kết được toàn dân. Ta nhớ trước đây cũng đã có người nói cái ý đó đến tai thượng hoàng, người có hỏi ta rồi người lại dạy: “Phải quên ngay các điều dị nghị ấy đi. Biết đâu chẳng phải là kế của giặc. Vả chăng Quốc Tuấn chiêu mộ quân sĩ, huấn hỗ tinh thông, chẳng phải là Quốc Tuấn đã làm theo chiếu dụ triều đình đã ban sao”. Cho nên việc này em chỉ nên để mắt thôi chớ nên để tâm. Cứ xem các việc Quốc Tuấn hành xử, đủ biết huynh ấy là bậc trượng phu, bậc chính nhân quân tử chứ không phải là tiểu nhân ngầm chứa mưu gian.\n- Nếu thượng hoàng và huynh trưởng đã dạy thế, em yên tâm. - Quang Khải nói xong xin cáo lui.\nLại nói thượng hoàng Trần Thái tông từ khi lui về Thiên Trường ngài thường lo việc tu tập và trứ tác, còn việc triều chính ngài giao trọn cho con, thi thoảng ngài về Thăng Long hỏi han việc nước nhằm kiểm xét các việc Thánh tông làm có điều gì còn sơ khoáng thì ngài uốn nắn. Hoặc đôi khi có việc gì cần thượng hoàng chỉ giáo thì vua Thánh tông tự về Thiên Trường vừa thăm vua cha vừa xin ý chỉ.\nDạo này thượng hoàng đã về ở hẳn động Thái Vi. Tại đây ngài dựng một nếp chùa trước cửa động. Ngôi chùa nhỏ là nơi ngài vừa thờ Phật vừa tu tập. Hằng ngày thường vào chơi trong thôn ấp, thăm hỏi dân chúng và chỉ dẫn họ con đường làm ăn cũng như việc cho con cái học hành chữ nghĩa. Tu tâm, dưỡng đức, việc hiếu, việc hỷ, việc thờ cúng tổ tiên nhất nhất nhà vua đều hướng dân chúng vào con đường giản dị, tuân thủ lễ nghi phong tục mà tránh sự cầu kỳ xa xỉ. Khuyến cáo họ nên bỏ việc thờ các tạp thần, tà thần, dâm thần mà chỉ nên theo về Phật. Thờ Phật và tu theo Phật chỉ dạy là con đường tâm linh tiến hóa, con đường thiện đức từ ái.\nNhà vua dạy dân bằng sự thân giáo, tức là ngài sống giản dị, cần kiệm, nói và làm không mảy may sai khác nên dân tin và làm theo. Vì vậy đời sống người dân quanh vùng ngài ở ngày một khấm khá dễ chịu, thôn ấp đêm đêm vang tiếng trẻ ê a học bài, người già được kính trọng, trẻ nhỏ được chăm sóc, nạn cờ bạc, trộm cắp cũng mất hẳn. Những ngày tuần tiết dân chúng kéo đến chùa Thái Vi nghe thượng hoàng giảng đạo ngày một đông hơn, vì thế vua tôi gần gũi như tình cha con, ông cháu và phong tục ngày một thuần hòa.\nMột hôm nhà vua đi sâu vào trong xóm núi thấy đám bé gái thả trâu rồi ngồi xúm vào với nhau, mấy đứa chơi trò chồng nụ chồng hoa, lại mấy đứa chơi trò đánh chắt, đánh chuyền, vua sực nhớ cách đây hơn năm mươi năm ngày ấy ta mới bảy tuổi, được cho chức quan nội hầu vào hầu chơi với nữ chúa Phật Kim (Chiêu Thánh), ta cũng thấy nàng chơi các trò chơi này với đám thị nữ. Dường như nàng thích nhất trò đánh chuyền, vừa rải que vừa hát. Những câu hát nghe một lần đã nhớ. Ví như ở bàn một, vừa rải mười que ra vừa nhặt, mỗi khi nhặt một que lại kèm một câu hát. Nhà vua nghiêng tai lắng nghe vẫn thấy đám trẻ hát lại những câu hát xưa:\n*Que mốt* *Que mai* *Con trai* *Con hến* *Con nhện* *Giăng tơ* *Quả mơ* *Quả táo* *Cái gáo* *Lên đôi*\nVua để ý khi sang bàn hai, mỗi lần tung quả cầu đất lên đứa trẻ vừa hát vừa nhặt hai que.\n*Đôi tôi* *Đôi chị* *Đôi cái bị* *Đôi cành hoa* *Đôi sang ba…*\nVậy là trên năm chục năm trò chơi này vẫn chưa có gì thay đổi. Thế nhưng cuộc sống lại đổi thay đến chóng mặt. Nhà Lý mất, nhà Trần lên. Quân Mông Cổ xâm lược nước ta cách đây hai chục năm. Nước Tống sắp bị nước Nguyên nuốt chửng. Nhà Tống đang cơn hấp hối. Địa vị của ta, thân phận của Chiêu Thánh… Ngẫm ra cuộc đời cũng thật là có ý nghĩa mà cũng thật là vô nghĩa, nó tựa như một trò ảo hóa.\nGần cuối xuân sắp sang hạ trời đất chuyển mùa nên ở trong động, trong rừng, khí lạnh làm cho người già thân thể đau nhức. Vua Thái tông một phần thấy mệt mỏi, phần khác lại thấy nhớ Thăng Long bèn sai sửa soạn thuyền bè để ngài lai kinh. Thượng hoàng về thẳng cung Thánh Từ, được vài ngày ngài sai chuyển sang cung Vạn Thọ, chẳng là ngài thấy trong mình khó ở. Vả lại cung Vạn Thọ có ngôi chùa nhỏ, tiện việc cho ngài tụng niệm và đàm đạo với vị tăng già.\nBữa nọ thượng hoàng cùng các con trò chuyện nhân vua Thánh Tôn và các em vào cung vấn an vua cha. Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Chiêu Đạo vương Trần Quang Xướng, Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang chưa biết tin thượng hoàng yếu mệt nên chưa về thăm.\nSau khi hỏi han về tình hình đất nước, việc binh, việc lương, đời sống người dân, quan hệ với người Nguyên, người Tống, thượng hoàng dụ bảo:\n- Ta mừng đất nước ngày một giàu thịnh, thế nước vững vàng, dân nước an cư lạc nghiệp, nông tang phát khởi, học vấn mở mang, các con đều trưởng thành, văn võ kiêm thông. Ta cũng nghe nói Quốc Tuấn đã có trong tay một đội gia binh, gia tướng, gia thần có nhiều người tài đức. Nếu các vương hầu nhiều người làm được như Quốc Tuấn là phúc cho nước đấy. Quốc Tuấn có khiếu năng của bậc trí tướng có tài cầm quân trăm vạn. Ta nhớ hồi cuộc chiến chống quân Mông Cổ xâm lăng năm Đinh Tỵ (1257) ta có sai Quốc Tuấn đem hai ngàn quân lên tăng sức cho biên thùy phía giáp giới nước Đại Lý. Quốc Tuấn lên đó đã liên kết được với các đầu mục người man là Hà Khuất, Hà Bổng.\nKhi quân Mông Cổ tràn vào cõi sức nó đang cường như bão lốc, Quốc Tuấn đã khôn khéo né tránh mà dành lực lượng phối cùng các cánh quân man đánh chặn đuôi nó, diệt tan hơn hai vạn quân người Thoán, Bặc của Đoàn Hưng Trí khiến giặc vào tới Thăng Long mà đem lòng hốt hoảng. Khi bị ta đưa quân đánh vỗ mặt, giặc liền tháo chạy. Quốc Tuấn nhân cơ hội đón đánh khiến giặc sợ hãi bỏ chạy một mạch không dám dừng lại tiếp chiến.\nChính vì bị thua đau nên sau này giặc cũng bớt phần hăm dọa ta. Nhớ khi Quốc phụ Trung Vũ đại vương còn sống đã hai ba phen người căn dặn ta phải trao quyền thống suất việc binh cho Quốc Tuấn thời mới có thể kình chống được với giặc dữ Mông-Thát. Càng ngẫm, ta càng thấy lời dạy ấy là phải. Vậy các con nên xem xét và phải lấy nước làm trọng, những gì cần dẹp bỏ phải dẹp bỏ ngay. Hoàng gia, hoàng tộc cùng với bá quan phải quy tụ thành một khối. Triều đình với bách tính phải quy tụ thành một khối tựa như một bó đũa gồm thâu từng chiếc đũa, nhược bằng tháo rời bó đũa để tung tóe mỗi nơi mỗi chiếc thời chẳng khác gì tự mình đem nước dâng cho giặc.\nThượng hoàng nói một mạch hết các điều ngài thấy cần phải nói nên đã thấm mệt. Ngài ngả lưng vào tựa ghế. Nhà vua nhìn khắp lượt các con với tất cả tấm lòng yêu thương được dồn trút vào ánh mắt và như cố nén ghìm xúc động, ngài nói:\n- Giang sơn gấm vóc của tiền nhân để lại, mỗi gốc cây ngọn cỏ, mỗi hòn đá viên sỏi từng thấm máu của người mình trải mấy ngàn năm, cho nên một tấc một thước núi sông ta cũng không được phép để lọt vào tay quân thù. Từ xưa cái họa của nước mình thường từ phương bắc đến, do vậy các con nên canh chừng người Bắc.\nNgập ngừng giây lát thượng hoàng lại tiếp: - Sinh tử là nhẽ thường hằng, nếu ta có ra đi cũng chỉ nằm trong luật sinh diệt tụ tán của tạo hóa, các con chớ vì đó mà sao nhãng việc nước. Ta nghe như bước chân giặc đang rộn rã ngoài biên thùy rồi đấy. Nói xong ngài khép hờ đôi mắt như người nhập định.\nVua Thánh tông và các hoàng đệ đều quỳ phục dưới chân thượng hoàng, ai nấy đều ngước mắt nhìn vua cha mà âm thầm nhỏ lệ.\nChợt thượng hoàng mở mắt nhìn các con, ngài nghiêm huấn:\n- Các con chớ yếu lòng. Sang đầu hạ chắc ta đi xa. Các con khá nhớ nhời ta dặn, phải giữ lấy nước, phải lấy nước làm trọng. Phải truyền cho bách tính lòng yêu nước, lòng kiêu hãnh và cả sự liêm sỉ. Thiếu lòng kiêu hãnh dân tộc và thiếu cả sự liêm sỉ nữa, cũng tức là dấu hiệu báo trước sự bại vong.\nVua Thánh tông và các hoàng đệ đều xúc động nói:\n- Chúng con xin nghiêm giữ lời dạy của phụ hoàng.\nThượng hoàng Trần Thái tông giơ tay bảo các con:\n- Trở về cung, phủ làm việc đi.\nCác ngày tiếp nối, thượng hoàng tuy có yếu mệt nhưng chưa bỏ một khóa lễ nào và hằng ngày vẫn có cuộc đàm đạo với vị thiền sư trong hoàng thành, nhưng thời gian của các cuộc tiếp xúc cứ ngắn dần. Tới sáng ngày mùng Một tháng Tư như có linh tính, thiền sư liền sang cung Vạn Thọ vấn an. Nhà sư vừa tới, thượng hoàng vội nói:\n- Ta với hòa thượng chắc có duyên với nhau từ kiếp trước, nên biết “giờ của ta” mà đến chia tay. Chắc sẽ còn gặp nhau nữa đấy.\n- A di đà Phật! Thiền sư đáp lời nhà vua bằng một niệm. Lại nói:\n- Chẳng là tăng này vừa mãn khóa lễ, chợt thấy nóng ruột. Nếu công quả tròn đầy lại túc duyên nữa thì việc gặp gỡ có lo gì, vì bần tăng cùng với thượng hoàng đều là đệ tử Phật cả.\n- Phải! Thái tông đáp.\n- Vậy chớ ngài có điều gì cần nhắc nhở hậu thế và lớp đệ tử thuộc hàng con cháu?\nThượng hoàng Trần Thái tông khẽ lựa chiều xoay người ngồi theo thế kiết già và ngài nói kệ:\n*Cào đất đùng đùng trận gió hanh,* *Lão ngư say tít chiếc thuyền chành.* *Bốn bể mịt mù mây sầm bóng,* *Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.* *Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,* *Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.* *Giây lâu tan bụi bên trời tạnh,* *Trăng lặn lòng sông đêm mấy canh?* [107]\nVua Thánh tông cùng một số triều quan vào vấn an thượng hoàng, nghe được vài lời cuối bài kệ, chưa kịp hỏi han gì thì ngài đã hóa.\nNhà vua đi vào cõi tịch diệt như người đi du ngoạn. Ngài sống một cuộc đời giản dị, nhân ái, hiếu thiện, không ham phú quý, ở ngôi vua mà chẳng hám ngai vàng. Đã một lần bỏ ngôi báu lên Yên Tử tu thiền mà rồi ước nguyện chẳng thành, lại phải làm vua. Ở ngôi ít lâu lại nhường ngôi báu cho con rồi lui về động Thái Vi lập chùa tu đạo. Đúng là ngài chỉ ham kê cứu đạo nhất thừa mà coi chiếc ngai vàng không hơn đôi dép cỏ. Đời cho ngài là một vị vua thiền sư hiếm gặp.\nNhà vua mất đi trong sự tiếc thương của người dân cả nước. Dân nước coi ngài là một vị vua hiền, một người ái thiện. Giới tu hành coi ngài như một vị thiền sư, một nhà trứ tác Phật học xuất sắc.\nNhưng kinh ngạc nhất và xót xa nhất là cái chết của công chúa Thiều Dương, vợ của thượng vị Văn Hưng hầu, nàng vừa ở cữ nên trong khi thượng hoàng từ động Thái Vi về cung Vạn Thọ nàng không tới thăm vua cha được, lòng càng áy náy. Lại nghe nói thượng hoàng không được khỏe, nàng luôn sai người đến thăm hỏi. Người được sai đi, Văn Hưng hầu dặn phải nói lại với công chúa rằng “Thượng hoàng đã khỏe”. Công chúa Thiều Dương vẫn bán tín bán nghi, tới lúc nghe tiếng chuông thúc hối hả, liền hỏi người hầu: “Thượng hoàng mất chăng?”. Người hầu ra ngoài một lát về tâu: “Không phải thượng hoàng mất mà có sứ nhà Nguyên tới”. Công chúa vẫn không tin, lăn khóc vật vã, nước mắt chảy ra đỏ như máu rồi không nhìn thấy gì nữa và cứ gào mãi cho đến chết.\nĐược tin vua Thái tông mất, Hốt-tất-liệt cho đây là cơ hội để thôn tính Đại Việt, nên cử Lễ bộ Sài Thung sang viếng tang cùng dò xét tình hình.\nVua Thánh tông ra tiếp sứ. Sài Thung lấy cớ vua cũ mất, chưa được lệnh của thiên tử nhà đại Nguyên mà đã tự tiện lên ngôi nên vua mới phải sang chầu ngay. Với nhà Nguyên thì lúc này vua Thánh tông mới lên ngôi.\nĐể lấy lòng sứ giặc, vua Thánh tông mời Sài Thung dự tiệc yến. Y hỏi:\n- Nhà vua định thết yến sứ thiên triều tại cung nào?\nVua đáp:\n- Tiệc yến sang trọng trẫm thường cho bày tại hành lang đại điện để thượng khách vừa dự tiệc vừa ngắm cảnh.\nSài Thung nghiêm mặt:\n- Nhà vua coi thường ta quá. Ta là sứ giả thiên triều mà tiệc yến lại bày ngoài hành lang. Tại sao không bày trong đại điện?\nVua Thánh tông thấy tên sứ giặc này ngạo mạn không kém gì tên Trương Đình Trân mấy năm trước. Trong lòng nhà vua lửa giận đang nhen bốc, nhìn thẳng vào mặt Sài Thung vua toan quát, nhưng chợt nhớ nhời vua cha dặn: “Tình thế lúc này đã khác, không để cho giặc làm mất thể diện quốc gia nhưng cũng không thể làm căng với giặc được, cương nhu phải tùy lúc, tùy thời”. Quả đúng như vậy, hiện nay Hốt-tất-liệt đã chiếm gần hết Trung Hoa rồi. Quan lại, quý tộc nhà Tống đã bỏ Lâm An lũ lượt chạy sang ta xin tá túc ngày một đông. Vua tôi nhà Tống hiện như cá nằm trên cạn, sống thoi thóp có thể tính đếm theo giờ khắc. Nếu ta làm căng, Sài Thung về tâu báo, quân Nguyên có thể sớm tối vào cõi. Nhân vận áo xám, phụ hoàng rồi hoàng muội vừa qua đời, nay nếu không tính kỹ, chiến cuộc bùng nổ trong khi thế nước chưa vững, mất nước như chơi, tội ấy không gì có thể biện minh được. Bởi trong các loại tội phạm mà lịch sử lên án gay gắt nhất vẫn là tội bán nước và tội làm mất nước. Nghĩ vậy, Trần Thánh tông liền ém giận, lấy buồn làm vui. Nhà vua mỉm cười nói với Sài Thung:\n- Trẫm vẫn nghĩ mời Sài thượng thư vừa dự yến vừa ngắm cảnh nên định sai bày tiệc ở hành lang, nhưng nếu việc đó làm thiên sứ không vui thời ta mời sứ đến điện Tập Hiền dự yến.\nSài Thung vui vẻ đáp:\n- Nhà vua quả là người có văn chất cao, ta không có lý gì lại không tới điện Tập Hiền của quý quốc.\nTrước ngày dự dạ yến, nhà vua đã sai tướng quốc thái úy Trần Quang Khải đến nhà công quán thăm Sài Thung đôi ba lần. Mỗi lần đều biếu xén quà tặng là những vật trân bảo, và lần sau lại nhiều hơn, quý hơn lần trước. Thái độ của Sài Thung đã bớt hung hăng kiêu ngạo. Tuy vậy việc đó không ngăn nổi Sài Thung cho đám tùy tùng đi khắp nơi dò la tin tức, khám phá xem quân ta đã có động tĩnh gì nhằm trái mệnh Hốt-tất-liệt.\nTới buổi dạ yến, vua ngồi đối diện với Sài Thung và tự mình rót rượu mời sứ. Trong lúc đang vui vẻ thù tạc Trần Quang Khải rồi cả nhà vua đều có làm thơ tặng sứ giả. Sài Thung cũng muốn chứng tỏ mình không phải kẻ vũ phu, thô lỗ, y liền cầm bút làm thơ phúc đáp. Vua và Quang Khải đều không tiếc lời khen.\nNhân lúc cao đàm, nhà vua giải tỏ với sứ về sáu điều mà vua Nguyên lại vừa có chiếu sang thúc giục. Đại khái, vua tìm cớ thoái thác không chấp nhận một điều nào.\nĐang vui vẻ, Sài Thung nhíu cặp lông mày sâu róm và y nói tựa như một sự chân tình.\n- Nhà vua chẳng thấy mấy năm nay, năm nào thiên tử cũng nhắc đi nhắc lại An Nam phải thực thi sáu điều đó sao. Bây giờ thiên tử lại sai ta phải đích thân sang tận nơi đốc thúc, nếu ta trắng tay ra về, chắc thiên tử sẽ lấy đầu ta mất. Nếu nhà vua không đích thân sang chầu được thì trong hàng con cháu lại không cử được một người sang làm con tin sao? Nhà vua phải làm một điều gì đó để chứng tỏ sự thần phục của mình chứ. Ta thấy thiên tử nhà đại Nguyên là người khoan dung, độ lượng nhưng ngài cũng rất ghét sự nói suông đó.\nVua Thánh tông gượng cười và thư thả đáp lời:\n- Tôi chắc quan Lễ bộ thượng thư nhớ chuyện năm Tân Dậu (1261) thiên tử sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn đem chiếu thư sang dụ nước tôi, đã ban trọng ân như về phong tục, điển lễ\n*“Cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi”*. Và thiên tử còn ân cần dụ bảo: *“Ta đã cấm các biên tướng không được tự tiện đem quân xâm phạm bờ cõi nước ngươi, quấy rối nhân dân nước ngươi. Quan liêu sĩ thứ nước ngươi hãy cứ yên ổn làm ăn như cũ” * .\nRõ ràng chiếu thư do đích thân thiên tử thảo, không hề nhắc đến việc vào chầu và các việc khác, nay nghe nói phải làm sáu việc, lòng tôi xiết đỗi kinh ngạc. Vậy xin thiên sứ vui lòng về tâu lại thiên tử đã thương nước tôi thì thương cho trót.\nSài Thung biết Hốt-tất-liệt đã đổi ý, bởi đây là việc từ hơn mười năm trước. Nhưng quả thực Sài Thung không thể bắt bẻ vua Trần vào đâu được, y nói ấp úng:\n- Các ông cứ đem việc cũ ra cãi lý. Thôi được, để ta về tâu báo lại xem thiên tử có thương tình nước các ông mà cho hưởng tiếp ân sủng đã ban từ năm Tân Dậu.\nTrần Quang Khải đế thêm:\n- Sài thượng thư khỏi lo, thiên tử không nói hai lời. Sài Thung biết Quang Khải có ý ngầm nói móc, nhưng lại không thể bắt bẻ bởi đó là chính ngôn. Vì vậy Sài Thung im lặng không nói gì thêm.\nSài Thung trở về nước với vẻ không vui bởi y không ép được vua tôi nhà Trần quy phục theo yêu sách của Hốt-tất-liệt.\nSài Thung lo là đúng, bởi Hốt-tất-liệt oai trùm bốn cõi, đánh đâu thắng đấy, dưới gầm trời này không có ai là địch thủ. Có thể nói Hốt-tất-liệt là tướng siêu quần có tài: Chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, chỉ ngàn ngàn cháy. Y khó có thể tha thứ cho kẻ dưới quyền không hoàn thành sứ vụ.\nTrần Thánh tông sai hai vị đại thần là Đỗ Quốc Kế và Trịnh Đình Toản làm chánh phó sứ đoàn đem phương vật và hai con voi nhà sang cống nhà Nguyên. Sứ đoàn đi cùng với Sài Thung về Đại Đô\n[108].\nKhi sứ đoàn tới thành Ung Châu thì Sài Thung được tin mật báo gì đó nên y để Đỗ Quốc Kế, Trịnh Đình Toản ở lại Ung Châu, còn y tức tốc về ngay Đại Đô.\nSài Thung chưa ra khỏi biên thùy thì Trần Thánh tông đã chuẩn bị việc nhường ngôi cho con. Nhà vua nói với hoàng thái tử Trần Khẩm:\n- Thế giặc mạnh lắm, cha muốn trao ngôi nước để con làm quen dần, trong khi cha còn minh mẫn có thể chỉ dẫn cho con được đôi điều, kẻo mai này khi họa biến mà chẳng may cha đã khuất thì ngôi nước hóa ra không có chủ.\nHoàng thái tử khóc và quỳ lạy:\n- Phụ hoàng thương mà trao cho con ngôi nước, nhưng tuổi con còn quá trẻ, sức nghĩ hiểu còn nông cạn, sao con dám ngồi trên các bậc tiền bối công lao trùm thiên hạ. Vả lại thế nước đang cam go, con biết lèo lái con thuyền quốc gia ra sao khi trời nổi dông gió.\nVua Thánh tông nâng con dậy, ngài vỗ về:\n- Con khỏi lo, khi thượng hoàng trao cho cha ngôi nước cũng vào lúc cha bằng tuổi con bây giờ. Ngày ấy cha cũng thưa với phụ hoàng y hệt ngày nay con nói với cha. Con nên biết, cha trao trọng trách cho con gánh vác dần việc nước chứ không phải cha trao cho con quyền an hưởng lạc thú.\nHoàng thái tử vái lạy:\n- Con xin tuân lời nghiêm huấn của phụ hoàng.\nHoàng thái tử Khẩm lên ngôi đổi niên hiệu là Thiệu Bảo vào đầu năm Kỷ Mão (1279), miếu hiệu sau này là Nhân tông. Nhà vua bẩm thụ là một người hiếu thiện, hiếu thuận, hiếu hòa, hiếu Phật lại có óc thông tuệ khác thường. Kinh sách của cả ba nhà (Thích, Nho, Đạo) chỉ đọc một lượt là thấy được cái ý minh triết từ phía sau con chữ. Tuy tham bác đầy đủ cả ba dòng đạo, nhưng cái tâm của nhà vua lại hướng vào nền Phật đạo vừa tu học vừa tu chứng. Việc học Phật, ngoài tấm gương của vua cha và tổ phụ, ngài còn tham vấn các bậc túc thiền đạo cao đức trọng trong giới tu hành. Nhưng người mà nhà vua hướng cả tâm trí vào đó và tôn là bậc thầy lại chính là Tuệ Trung thượng sĩ Trần Quốc Trung, ông cũng chính là bá phụ (bác họ) của nhà vua.\nTrần Quốc Trung tức Hưng Ninh vương Trần Tung là anh ruột của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, là con của Yên Sinh vương Trần Liễu. Phong cách tu thiền của Tuệ Trung thượng sĩ khiến vua Trần Thánh tông cũng ngưỡng mộ và tôn thượng sĩ làm sư huynh.\nSở dĩ vua Nhân tông ngưỡng mộ thượng sĩ là bởi phép tu của ông là nhập thế gian, tức là trong dòng đời mà tu với đời, vì đời mà tu mà quảng bá nghiệp thiện, nhằm cảm hóa nhân quần xa lìa tham dục hướng tới giác ngộ, và từ đó mà giải thoát. Việc tu đó xuất phát từ cái tâm ái nhân ái vật sống cùng bách tính, tu vì bách tính, cùng bách tính vượt thoát khỏi bể dục trầm luân. Còn như cái tu xuất thế gian là xa rời bách tính, đóng cửa tự tu cho sự giải thoát của chính mình cũng là một cách tu. Vua Nhân tông không có ý bài xích người tu xuất thế gian, nhưng lòng ngài không hướng về pháp môn đó.\nVừa lên ngôi, vua Nhân tông đã gặp cản ngại lớn từ bên ngoài. Ấy là việc Hốt-tất-liệt vừa tiêu diệt xong nhà nam Tống trong trận chiến cuối cùng.\nChẳng là người của ta cài cắm dò la trên đất Nguyên, đất Tống ở Long Châu, Phúc Châu, Lâm An, Khai Phong, Kim Lăng, Yên Kinh… tới tấp gửi tin khẩn cấp về, tướng quốc thái úy Trần Quang Khải kê cứu cho có hệ thống rồi lập tức vào cung Quan Triều tâu báo. Vừa gặp lúc hai vua đang bàn quốc sự, thái úy toan sụp lạy. Thánh tông ngăn lại:\n- Vương đệ thật là đa lễ, anh em chú cháu trong nhà cả, có chuyện gì đệ cứ nói mau đi, ta nghe Hốt-tất-liệt đã diệt xong nhà nam Tống, tình thế bất lợi cho ta rồi đây. Vương đệ có được tin ngoại gián tâu báo về không?\n- Tâu, những nơi ta đặt ngoại gián đều khẩn cấp báo về, thần liệt kê đầy đủ các sự việc xin tâu để vương huynh và vương điệt biết rồi ta liệu bề đối sách.\nTâu, thần chỉ xin kể các sự việc từ năm Bính Tý (1276) tướng nhà Nguyên là Bá Nhan dẫn quân cách Lâm An ba mươi dặm hạ trại gây sức ép. Tạ thái hậu cùng một số đại thần nhà Tống hèn nhát bàn nhau đầu hàng. Tạ thái hậu sai một viên quan mang biểu và quốc ấn đến trại giặc nộp. Bá Nhan đòi thừa tướng nhà nam Tống phải đích thân tới ký hàng ước. Tạ thái hậu cử hữu thừa tướng Trần Nghi Trung tới thương thảo. Nghi Trung sợ giặc bắt không dám đi. Tạ thái hậu liền phong cho Văn Thiên Tường làm hữu thừa tướng sang trại giặc ký hàng ước. Văn Thiên Tường gặp Bá Nhan không đả động gì đến việc đầu hàng, còn đòi quân Nguyên phải rút khỏi các vùng đất vừa chiếm, nếu không quân Tống sẽ sang sông nghênh chiến.\nBá Nhan thâm độc giữ Văn Thiên Tường lại và sai người báo cho Tạ thái hậu không ký được hàng ước, quân Nguyên sẽ tiến đánh vì rằng Văn Thiên Tường đã cự tuyệt.\nĐược tin, Tạ thái hậu liền sai Giả Dự Khánh làm hữu thừa tướng thay Văn Thiên Tường sang trại giặc ký hàng ước. Bá Nhan đưa quân vào chiếm Lâm An không mất một mũi tên. Bà Tạ thái hậu dẫn con là Triệu Hiển (Tống Cung đế\n[109]) mới bốn tuổi ra khỏi cung xin hàng. Bá Nhan giải Triệu Hiển và Văn Thiên Tường về Đại đô. Nửa đường Văn Thiên Tường tìm cách trốn thoát. Sự việc này thần đã tâu báo với vương huynh và vương điệt cách đây mấy tháng.\nVua Nhân tông lắng tai nghe, còn thượng hoàng Thánh tông lại giục:\n- Hoàng đệ nói tiếp từ sau khi mẹ con Tống Cung đế ra hàng quân Nguyên cho tới khi nước Tống bị tiêu diệt.\n- Tâu, sau khi Tống Cung đế bị bắt giải về Yên Kinh, hoàng tộc và một số đại thần nhà Tống trong đó có Lục Tú Phu đưa hai người anh của Triệu Hiển là Triệu Tự chín tuổi và Triệu Bính sáu tuổi chạy đi Phúc Châu\n[110]. Tới lúc này đất đai của nhà nam Tống chỉ còn đúng hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông nhưng ba mặt đều bị quân Nguyên áp sát, chỉ có mặt đông là biển cả quân Nguyên chưa bủa vây.\nVề tới Phúc Châu, tả thừa tướng Lục Tú Phu bèn cử người đi tìm hữu thừa tướng Trần Nghi Trung và đại tướng quân Trương Thế Kiệt về Phúc Châu bàn quốc sự. Ba người đều đồng lòng tôn Triệu Tự lên ngôi hoàng đế. Quân Nguyên thừa thắng từ Lâm An tiến thẳng sang chiếm Phúc Châu. Hữu thừa tướng Trần Nghi Trung hoảng hốt lên thuyền trốn ra biển lớn. Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu hộ giá Triệu Tự lên thuyền chạy sang Quảng Đông. Chẳng may gặp gió to sóng lớn, Triệu Tự sợ phát ốm rồi chết. Hai quan đại thần Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu bàn nhau lại đưa Triệu Bính lên ngôi hoàng đế, rồi vua tôi giong thuyền chạy ra đảo Nhai Sơn.\nVua Nhân tông nóng lòng hỏi xen vào:\n- Thúc phụ, thế Văn Thiên Tường trốn được rồi đi đâu? Cháu nghe nói Văn Thiên Tường là một vị trạng nguyên có lòng yêu nước và là bậc trí dũng lắm kia mà.\n- Văn Thiên Tường dũng như bệ hạ nói, năm hai mươi tuổi ông ta từ quê lên Lâm An thi tiến sĩ có bài văn sách nổi tiếng bàn về kế đánh giặc hưng thế nước, quan trường chấm cho ông ấy đỗ trạng nguyên. Lại nói sau khi Văn Thiên Tường trốn khỏi tay giặc, ông liền chiêu mộ quân nghĩa tiếp tục đánh giặc.\nLúc này Nguyên thế tổ Hốt-tất-liệt sai Trương Hoằng Phạm và Lý Hằng làm nguyên súy và phó nguyên súy đem hai vạn quân đi diệt nốt lực lượng nhà nam Tống còn chống đối.\nBiết Văn Thiên Tường đang đồn trú ở Triều Châu, Trương Hoằng Phạm cho đại binh đến tiến đánh. Do lực lượng quá chênh lệch, quân của Văn Thiên Tường đại bại và ông bị quân Nguyên bắt sống.\nTrương Hoằng Phạm dò biết người cầm đầu quân Tống ở đảo Nhai Sơn là Trương Thế Kiệt, mà Thế Kiệt thường rất khâm phục Văn Thiên Tường, nên y dụ Văn Thiên Tường khuyên Trương Thế Kiệt ra hàng.\nVăn Thiên Tường cười khẩy đáp: “Ta đã không cứu được nước, lẽ nào lại khuyên người khác hại nước”.\nMặc cho Văn Thiên Tường từ chối, Trương Hoằng Phạm vẫn sai đem giấy bút ra ép Văn Thiên Tường phải viết.\nBị giặc thúc ép, Văn Thiên Tường cầm bút viết hai câu:\n*Nhân sinh tự cổ thùy vô tử* *Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh* [111].\nViết xong ông liền quẳng bút đi.\nTướng giặc trọng tài năng và nhân cách của ông nên nương tay muốn lưu lại để dùng, chúng bèn cho quân giải ông về Đại Đô.\nTrương Hoằng Phạm và Lý Hằng tiến đánh Nhai Sơn. Trương Thế Kiệt chỉ huy quân dân Nhai Sơn đánh trả khốc liệt, quân Nguyên bị dìm chết hết đợt ấy sang đợt khác. Nhưng quân giặc dày đặc biết không thể chống đỡ đến cùng, Trương Thế Kiệt vội phái thuyền đi đón Triệu Bính định phá vây đưa vua đi trốn, mưu đại cuộc.\nLục Tú Phu hộ giá thấy thuyền đến đón không biết thật giả thế nào, sợ nhà vua bị giặc lừa nên không cho đón. Trong khi đó thuyền giặc cứ ùn ùn kéo đến bủa vây vòng trong vòng ngoài. Tình thế mỗi lúc một nguy cấp hơn, tả thừa tướng Lục Tú Phu gạt nước mắt nói với ấu chúa: “Nhà Tống đã đến hồi chung cục, bệ hạ cùng thần đành hiến thân cho nước, chớ để giặc bắt”. Nói xong ông cõng Triệu Bính nhảy xuống biển, vua tôi cùng chìm nghỉm dưới biển sâu sóng dữ. Bảy ngày sau xác quân Tống nổi kín mặt nước kể tới chục vạn người. Nhà Tống diệt vong, triều Nguyên đại định. Nói xong Trần Quang Khải thở dài. Có thể ông chia sẻ với nỗi đau mất nước của người Trung Hoa, cũng có thể ông lo cho thế nước, lo cho số phận của dân tộc mình.\nNghe tướng quốc thái úy tường trình xong, thượng hoàng Trần Thánh tông lặng người đi, nhưng Trần Nhân tông lại mau mắn đáp lời:\n- Thưa phụ hoàng, thưa thúc phụ, Đại Việt ta không còn chọn lựa nào khác nữa. Giặc sẽ ép ta đến cùng để lấy nước ta thay vì chúng phải cất quân. Nếu ta không chịu sống quỳ, giặc sẽ xua quân ào ạt tràn vào. Cho nên, theo ý con vừa xử nhũn với giặc để làm kế hoãn binh, vừa phải gấp rút chuẩn bị lực lượng để kháng giặc. Nhưng hơn hết là phải thổi bùng ý chí kiên cường và lòng căm giận cho binh lính và cả muôn dân, và cố kết họ lại muôn người như một, thì đó mới là sức mạnh siêu thần nhập hóa để đánh bại mưu đồ quỷ quyệt và tham bạo của lũ sói già phương bắc.\nNghe con nói, vua Thánh tông như vừa bừng thức, ngài nhìn con với cái nhìn bao trùm, tựa như ngài đo sức trưởng thành của người con mà ngài mới truyền ngôi nước. Thượng hoàng mỉm cười nhìn vua Nhân Tôn lại nhìn sang tướng quốc thái úy, ngài phán:\n- Phải! - Không còn con đường nào khác như vương đệ và vương nhi ta vừa nói. Do vậy, phải cấp kỳ lo ngay mọi việc tựa như giặc đã áp sát biên thùy, nếu không sẽ trở tay không kịp.\nTrần Quang Khải lại nói:\n- Tâu, còn một việc nữa khá hệ trọng. Dạ, đó là Hốt-tất-liệt đã giữ chánh sứ Trịnh Đình Toản ở lại Đại Đô làm con tin. Và nghe đâu y cử lễ bộ thượng thư Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tằng sắp sang sứ nước ta, và bắt phó sứ Đỗ Quốc Kế của ta phải dẫn đường đưa chúng vào Đại Việt.\nNghe xong vua Thánh tông tỏ vẻ giận dữ, đoạn ngài buông một tiếng:\n- Quân cẩu trệ!\n*Láng Thượng 31 tháng 12 năm 2008* **HẾT**", "file": "books_text_final/ebooks.epub_35019.txt"} {"text": "284 ANH HÙNG HÀO KIỆT CỦA VIỆT NAM\n(Tập 5)\nTác giả : Vũ Thanh Sơn\nLỜI GIỚI THIỆU\nPHAN BỘI CHÂU\nTĂNG BẠT HỔ\nVƯƠNG THÚC QUÝ\nPHAN CHU TRINH\nHUỲNH THÚC KHÁNG\nNGÔ ĐỨC KẾ\nĐẶNG VĂN BÁ\nNGUYỄN AN KHƯƠNG\nĐẶNG TỬ KÍNH\nNGUYỄN THƯỢNG HIỀN\nPHẠM VĂN NGÔN\nHỒ HỌC LÃM\nTRẦN HOÀNH\nĐẶNG THÁI THÂN\nTRẦN KỲ PHONG\nNGUYỄN THẦN HIẾN\nTRẦN CHÁNH CHIẾU\nNGUYỄN HÁO VĨNH\nĐẶNG THÚC LIÊNG\nLÊ CƠ\nĐẶNG NGUYÊN CẨN\nLÊ KHÁNH\nHỒ SĨ TẠO\nLÊ THỊ ĐÀN\nNGUYỄN QUANG DIÊU\nMAI LÃO BẠNG\nNGUYỄN QUỲNH LÂM\nLÊ VĂN HUÂN\nĐẶNG ĐOÀN BẰNG\nBÙI CHÍNH LỘ\nNGUYỄN THỨC CANH\nNGUYỄN THỨC ĐƯỜNG\nLÝ LIỄU\nĐỘI PHẤN\nHỒ PHI HUYỀN\nTÔN THẤT DOÃN\nVÕ HOÀNH\nHOÀNG TĂNG BÍ\nTRẦN QUÝ CÁP\nTRƯƠNG GIA MÔ\nBÙI LIÊM\nLÊ ĐÌNH CẨN\nHOÀNG XUÂN HÀNH\nLƯƠNG VĂN CAN\nNGUYỄN QUYỀN\nPHẠM TƯ TRỰC\nPHAN TUẤN PHONG\nNGHIÊM XUÂN QUẢNG\nLÊ VÕ\nN' TRANG LƠNG\nHOÀNG TRỌNG MẬU\nNGUYỄN KHẮC CẦN\nNGUYỄN THẠC CHI\nTHÁI PHIÊN\nVUA DUY TÂN\nLÊ ĐÌNH DƯƠNG\nLÊ NGUNG\nNGUYỄN THỤY\nPHAN THÀNH TÀI\nLÊ CHÂU HÀN\nLÊ CHÂU NAM\nTÀI LIỆU BIÊN SOẠN CHÍNH\n\nBộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” bao gồm 5 tập với tổng cộng gồm 1000 trang của tác giả Vũ Thanh Sơn viết về chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà văn, nhà báo Vũ Thanh Sơn đã tập trung khắc họa lại tương đối đầy đủ và toàn diện về chân dung của 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam từ cuối Thế kỷ XIX đến đầu Thế kỷ XX. Trong đó nhiều nhân vật mà các cuốn sách đã xuất bản từ trước đến nay chưa hề được đề cập đến. Bằng công trình của mình không những tác giả đã đóng góp phần bổ sung cho những thiếu vắng của lịch sử nước nhà (đặc biệt là về nhân vật và sự kiện) mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục những tấm gương tiêu biểu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc - đó là sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.\nChân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận đại được tác giả Vũ Thanh Sơn tập trung khắc họa ở 3 nhóm chính tương ứng với ba thời kỳ sôi động của lịch sử Việt Nam, đã có biết bao anh hùng, nghĩa sĩ hô hào nhân dân vũ trang đánh đuổi giặc Pháp:\nĐó là thời kỳ đầu tranh chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (từ khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tại bán đảo Sơn Trà, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 1/9/1858).\nLà phong trào Cần Vương với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của văn thân chông Pháp (1885-1896) phát triển rộng khắp từ Nam ra Bắc.\nVà còn là phong trào đấu tranh chống Pháp đầu thế kỷ XX với ý thức của hệ tư tưởng mới với các phong trào chống thuế ở Quảng Nam, phong trào Duy tân, Đông du dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh...).\nTrong cuộc kháng chiến không cân sức này có biết bao anh hùng, hào kiệt đã ngã xuống, nhưng ý chí quật cường chống giặc Pháp, cùng những lời tuyên bô đanh thép trước giây phút bị hành hình vẫn mãi sáng chói, rạng ngời lên chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đó là những câu nói đến nay ta đọc lại vẫn rung động như Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuyên bố: “Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa”; Bình Tây đại nguyên soái Trương Định tuyên bố: “Chúng ta thề sẽ đánh mãi và không ngừng, khi ta thiếu tất cả ta sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy gộc làm vũ khí cho binh lính ta”; hay Nguyễn Trung Trực trước giờ giặc hành hình vẫn dõng dạc tuyên bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”... và còn rất nhiều, rất nhiều lời tuyên ngôn đanh thép khác.\nNhìn chung, các nhân vật lịch sử tác giả đề cập đến trong bộ sách đều xứng đáng được tôn vinh. Họ có thể là những quan lại, hay những nhà chí sĩ có tinh thần yêu nước. Mặc dù, mỗi người ở cương vị khác nhau, vị thế xã hội và hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng tất cả những con người ấy đều có chung mục đích cao cả nhất là không quản ngại hy sinh gian khổ, kiên quyết đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập cho đất nước.\nChúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” với quý vị độc giả.\nNHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN\n\nPhan Bội Châu trước năm 1900 có tên là Phan Văn Son, hiệu Hải Thụ, sau hiệu là Sào Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn có nhiều tên hiệu, bút danh như Thị Hán, Thiên Phú, Độc Tinh Tử, Cây Sung...\nÔng sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo quê ở làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 10/1900, sau khi cụ thân sinh mất, Phan mới có điều kiện hoạt động cách mạng.\nNăm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí chiêu tập nghĩa binh đánh thành Nghệ An, việc không thành. May nhờ có Tổng đốc Đào Tấn che chở, nên không bị thực dân Pháp bắt.\nNăm 1903 Phan Bội Châu đến kinh thành Huế đọc sách ở Quốc Tử giám, đã gặp Phan Chu Trinh. Từ đó về sau, hai người còn gặp nhau vài lần nữa, trao đổi chính kiến với nhau. Hai ông thống nhất với nhau là muốn cứu nước thì phải mở mang dân trí, coi trọng giáo dục, đưa thanh niên đi du học ở nước ngoài, mở mang việc tuyên truyền văn hóa mới. Phan Chu Trinh rất khâm phục con người và tài trí của Phan Bội Châu.\nTháng 2/1905, Phan Bội Châu ra Bắc gặp Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can bàn việc phát triển Duy tân hội và tổ chức Đông du. Việc Đông du được thực hiện ngay, chuyến đi này ông đem theo bốn học sinh trong đó có hai con trai của cử nhân Lương Văn Can là Lương Nghị Khanh và Lương Lập Nham (Lương Ngọc Quyến)\nNgày 25/02/1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc gặp Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên, Tại đây ông viết '”Việt Nam vong quốc sử” ( Lịch sử mất nước Việt Nam), lời tựa do Lương Khải Siêu viết.\nTháng 7 năm 1905. Phan Bội Châu về nước tiếp tục đưa thanh niên sang Nhật. Tháng 9 năm 1905 (tháng 8 năm Ất Tỵ) Phan Bội Châu về nước sau đó gặp gỡ Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phan Bội Châu về nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng ở làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bàn việc tổ chức các nhóm “ Minh xã” “Ám xã” và lập các hội Nông, Công, Thương, Học.\nTháng 3 năm 1907 trường Đông Kinh Nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, thì văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường số 4 Hàng Đào và các phân hiệu và trong các buổi diễn thuyết bình thơ văn cho đông đảo công chúng nghe. Trên cơ sở hiểu biết về trường Khánh Ưng Nghĩa thục ở Nhật Bản mà Phan Bội Châu trao đổi với các sĩ phu Hà Nội, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đỗ Cơ Quang, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đã quyết định thành lập trường Đông Kinh Nghĩa thục.\nVăn thơ Phan Bội Châu sôi sục tinh thần cách mạng đã từ trường Đông Kinh Nghĩa thục nhanh chóng phát triển trong nhân dân, trở thành một phong trào.\nTừ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Việt Nam lại nhìn sang Nhật Bản, mong được sự viện trợ “một nước da vàng tiên tiến” để ca ngợi sự nghiệp Minh Trị Duy tân của Nhật và việc Nhật đánh bại Sa hoàng Nga, chủ trương đưa Nhật Bản theo con đường Duy tân.\nViệt Nam Duy tân hội sau khi được thành lập cũng đề ra phương châm tranh thủ sự viện trợ của nước ngoài. Phan Bội Châu đích thân đi Nhật và phát động phong trào Đông du. Ông cho rằng Nhật Bản là một nước Châu Á cùng máu đỏ, da vàng và cùng có một nền văn hóa như Việt Nam, “thường lấy việc lợi hại khuyên răn ta, họ nhất định sẽ vui vẻ giúp đỡ chúng ta” .\nNhưng tới giữa năm 1908, đầu năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau giải tán các tổ chức học sinh Việt Nam tại Nhật Bản như “ Công Hiến hội” “Đông Á Đổng văn thư viện”... trục xuất lưu học sinh Việt Nam khỏi Nhật, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất. Bấy giờ Phan Bội Châu mới nhận thức được rằng không thể dựa vào Nhật Bản, nên ông chuyển hướng sang đảng cách mạng Trung Hoa và những nước những dân tộc trên thế giới \"có căn bệnh giống ta”.\nNăm 1911 cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng thống. Đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.\nNăm 1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải thể hội Duy tân thành lập Việt Nam Quang phục hội. Tháng 1 năm 1914, thực dân Pháp thỏa thuận với nhà cầm quyền Quảng Đông bắt Phan Bội Châu giải về Đông Dương giao cho thực dân Pháp. Tuy ở trong tù nhưng Phan Bội Châu vẫn tìm mọi cách liên lạc với các đồng chí chỉ đạo công việc của cách mạng như đối với cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng 5 năm 1916, Phan Bội Châu cũng đã ủy quyền cho Nguyễn Thượng Hiền tới đại sứ Đức và đại sứ Áo ở Xiêm La nhận tiền để mua vũ khí cho quân cách mạng Việt Nam. Ông bị giam ở núi Quan Âm mãi đến năm 1917, quân cách mạng tấn công Quảng Đông, Long Tế Quang bỏ chạy ông mới được giải thoát.\nTừ năm 1920 trở đi Phan Bội Châu về Hàng Châu cộng tác vói tờ “Bình sự tạp chí” ông đi lại nhiều ở Trung Quốc.\nNgày 30/6/1925, Phan Bội Châu tới một bưu điện Thượng Hải gửi tiền cho một du học sinh đang học ở Đức, thì bị một kẻ phản bội chỉ điểm báo cho mật thám Pháp bắt cóc. Chúng bí mật giải ông về Hồng Kông , rồi từ đó đưa ông về Hải Phòng trên tầu Ăng Co, rồi bị áp giải về Hà Nội giam ở nhà lao Hỏa Lò. Để tránh dư luận lên án và bí mật hãm hại ông theo bản án tử hình vắng mặt đã có sẵn, chính quyền thực dân bưng bít và đặt cho ông một cái tên giả là Trần Văn Đức. Song âm mưu của chúng đã bị bại lộ. Quần chúng nhân dân kịch liệt lên án phản đối, đòi trả tự do cho ông.\nTrước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước phản đối nhà cầm quyền Pháp kết án Phan Bội Châu. Hội đồng bảo hộ Pháp phải họp ngay tại phủ Thống sứ để xét lại cái án đó. Toàn quyền Varen phải gửi điện về Pháp xin ân xá cho ông.\nNgày 22/12/1925, toàn quyền Varen phải ký giấy trả tự do cho nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu. Ngày 29/12/1925, Tổng thống Pháp cũng phải ký uỷ quyền cho Varen tuyên bố tha bổng Phan Bội Châu, sau đó an trí ông ở Huế. Tại nơi an trí Phan Bội Châu không hoạt động chính trị được nhưng ôngđặc biệt quan tâm đến thời cuộc. Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940.\n\nTăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Sư Triệu, sinh năm Mậu Ngọ (1858). Ông quê ở An Thường, xã Ân Thạch, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.\nÔng là người học hành thông minh, thông hiểu kinh sách, từmg luyện tập võ nghệ, can trường. Năm Ất Hợi (1876) dưới triều Tự Đức, ông vừa 18 tuổi đã thay anh đi lính, trước năm 1883 đã thăng suất đội.\nNghe tin vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, Tăng Doãn Văn bỏ quân ngũ kêu gọi đồng đội chiêu mộ nghĩa quân lập chiến khu tại núi Kim Sơn gọi là Tổng dinh chống Pháp. Lực lượng nghĩa quân của Tăng Doãn Văn phát triển nhanh, thực dân Pháp và bọn tay sai biết ông là người đứng đầu phong trào Cần vương ở tỉnh Bình Định đã đánh phá căn cứ của ông rất ác liệt.\nTháng 8 năm Bính Tuất (1888) tên Việt gian Nguyễn Thân kéo quân vào Bình Định, đóng quân tại đồn Lại Giang xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn để tiến đánh đồn Tổng Dinh và lực lượng kháng chiến ở Kim Sơn. Phán đoán trước ý đồ của giặc, ông mật ước với Thống trấn Bùi Điền lợi dụng đêm tối tấn công vào đồn Lại Giang trrước. Tướng Bùi Điền lầm tưởng Lại Giang là Lộc Giang thuộc xã Ân Tường, huyện Hoài Ân vào đêm đó lực lượng phân tán, ông bị quân địch phản công nên bị thiệt hại nặng nề, đối phó với giặc rất khó khăn.\nMùa xuân năm 1887, Tăng Doãn Văn cùng một số đồng chí sang Xiêm La toan tính cầu viện cứu nước. Khi đi đến dốc Đót giáp với cao nguyên An Khê tỉnh Bình Định gặp con cọp đứng chắn đường, mấy người đi theo ai nấy run như cầy sấy. Tăng Doãn Văn không chút sợ hãi, ông nhìn thẳng vào con cọp nói: “Này chúa Sơn lâm! Ta đi đây là vì đại nghĩa, chứ không phải việc riêng tư nào khác. Xin chúa Sơn lẩn tránh ra một bên để cho kẻ vong quốc này lên đường cho sớm!”\nCon cọp như hiểu được lời ông liền tránh sang một bên, nhường đường cho ông đi qua. Những người cùng đi vô cùng cảm phục ông và tôn ông là Tăng Bạt Hổ. Từ đó ông mang tên này.\nTăng Bạt Hổ ở Xiêm La vài tháng rồi sang Trung Quốc. Ông tới nhiều vùng của hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gặp gỡ Việt kiều để gây dựng cơ sở. Khi Tăng Bạt Hổ ở Trung Hoa, người Pháp xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết bấy giờ đang bị an trí ở Triều Châu. Tăng Bạt Hổ có tài nguỵ trang, ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và Huế biết được biến động chính trị ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Dương (Indonexia) nơi mà Tăng Bạt Hổ đã đến tận nơi khảo sát tình hình chính trị, kinh tế.\nTrong những chuyến từ Trung Quốc về nước Tăng Bạt Hổ còn đem theo các sách Tân thư, Tân văn của Trung Hoa và Nhật Bản về nước. Tăng Bạt Hổ đã có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Thượng Hiền.\nVề nước một thời gian, nhưng cơ hội chưa đến Tăng Bạt Hổ thấy chỉ có con đường đi Nhật như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã nói. Để đỡ tốn tiền, ông xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn sang Nhật.\nTháng 10/1904, Tăng Bạt Hổ từ Nhật trở về nước gặp Phan Bội Châu. Ông cùng Phan Bội Châu bàn thành lập phong trào Đông du với sự có mặt của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền.\nTháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Tăng Bạt Hổ vừa là người đưa đường, người phiên dịch tháp tùng Phan Bội Châu sang Nhật.\nTháng chạp năm 1905 ông từ Nhật về mang theo thư của Phan Bội Châu nhan đề “Khuyên Thanh niên Du học”. Sau đó ông lại cùng Nguyễn Quyền xúc tiến thành lập Đông kinh nghĩa thục.\nMùa Đông năm Đinh Mùi (1908), ông từ Bắc Kỳ trở vào miền Trung, ông dừng chân tại Huế cổ động cho phong trào Đông du thì lâm bệnh. Bệnh ông quá nặng, thuốc thang không giảm, ông mất trên thuyền. Các đồng chí an táng ông trên bờ sông Hương.\n\nVương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.\nVương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Vùng Nam Đàn có bốn người học giỏi nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên chiếm tới ba người là Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc, Trần Văn Lương, chỉ còn lại Phan Bội Châu người làng Đan Nhiệm:\nUyên bác bất như San\nThông minh bất như Sắc\nTài hoa bất như Quý\nCường ký bất như Lương\nNghĩa là:\nKhông ai hiểu biết rộng như Phan Văn San (tức Phan Bội Châu)\nKhông ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc\nKhông ai tài hoa như Vương Thúc Quý\nKhông ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương\nKhoa thi Hương năm Tân Mão (1891), Vương Thúc Quý đi thi đậu cử nhân. Mang nặng mối thù nhà, nợ nước, ông không ra làm quan, cũng không đi thi Hội ở nhà dạy học, cùng Phan Bội Châu hoạt động cách mạng cứu nước.\nNgày 14 tháng 7 năm 1901, lợi dụng ngày Quốc khánh nước Pháp có nhiều người đi lại trong thành Nghệ An, Vương Thúc Quý, Trần Hải đã theo Phan Bội Châu chỉ huy khoảng 20 người, bí mật tập trung trong thành Nghệ An định dùng giáo mác để cướp vũ khí giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ An. Việc không thành vì tên Nguyễn Điềm phản bội mật báo với thực dân Pháp. Tổng đốc Nghệ An Đào Tấn hết lòng che chở, nên Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Hải và những người tham gia đều thoát nạn.\nNăm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam, năm 1905 phát triển ra Nghệ An, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội Duy tân. Ông tổ chức cho nhiều thanh niên Nghệ An xuất dương sang Nhật du học và vận động tài chính cho Hội. Năm 1907, trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư.\nGiữa năm 1907 Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị ốm nặng phải trở về quê nhà. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngày 19 tháng 7 nãm 1907, Vương Thúc Quý cố gắng ngồi dậy, bảo người bên cạnh đưa giấy, bút, viết mấy chữ : “Phụ thù vị báo, thử sinh đồ” (Nghĩa là: thù cha chưa báo được đời này thật uổng, rồi trút hơi thở cuối cùng.\n\nPhan Chu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Quảng Nam.\nNăm 1900, Phan Chu Trinh thi đỗ cử nhân, năm sau thi hội đỗ Phó Bảng, được bổ làm Thừa biện bộ Lễ. Năm 1903 kết giao với Phan Bội Châu.\nNăm 1904 Phan Chu Trinh từ quan tham gia cuộc vận động Duy tân. Năm 1905 ông vào Bình Định cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết Chí Thành thông thánh. Năm 1905 sang Trung Quốc rồi sang Nhật trao đổi chính kiến với Phan Bội Châu, nhưng ông không đi theo con đường vũ trang của Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh muốn lợi dụng chiêu bài khai hóa của thực dân Pháp để đấu tranh hợp pháp, trước hết là mở mang trường học để khai hóa dân trí.\nNăm 1906, Phan Chu Trinh ra Bắc gặp Lương Văn Can bàn việc mở một trường học tại Hà Nội để làm kiểu mẫu, rút kinh nghiệm mở các trường trong toàn quốc. Sau khi gặp Lương Văn Can, Phan Chu Trinh bí mật dời Hà Nội lên Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám.\nĐầu năm 1907 Phan Chu Trinh trở về Quảng Nam cùng các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng thực hiện chủ trương khai hóa dân trí đã bất chấp sự cấm đoán của bọn cầm quyền Bảo hộ Pháp và chính quyền Nam triều, các ông đã đi vận động mở nhiều trường học ở Quảng Nam như trường An Phước (Hoa Phụng), Tân Thạnh (Hòa Phước), Hòa An (Hòa Phát) đều thuộc huyện Hòa Vang ra đời. Sau khi hàng chục trường học ở Quảng Nam ra đời thì tại Hà Nội, ông cử Lương Văn Can, Đốc học Nguyễn Quyền cùng nhiều nhà nho khác đã thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Lương Văn Can đã mời Phan Chu Trinh ra dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Phan Chu Trinh đã nhiều lần diễn thuyết về phong trào Duy tân trước công chúng Hà Nội tại trường Đông Kinh nghĩa thục và các phân hiệu như ở Chèm, Hà Đông. Ông cổ động cho lối sống mới ở Hà Nội. Phan Chu Trinh rất quan tâm đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn cho từng ngành nghề khuyến khích việc học nghề. Trong phong trào Duy tân, Phan Chu Trinh chủ trương không tán thành bạo động vũ trang mà ông chủ trương cải cách là \"khai thông dân trí, mở rộng dân quyền\" trái ngược với chủ trương bạo động của Phan Bội Châu. Từ chủ trương cải cách của Phan Chu Trinh đã dẫn tới cuộc đấu tranh \"xin xâu, chống thuế ở Trung Kỳ\".\nPhan Chu Trinh với chủ trương ''Pháp - Việt đề huề” đã có nhiều hoạt động trong giới Việt kiều và vận động các chính khách tư sản, hội Nhân quyền và Chính phủ Pháp thực hiện những cải cách ở Đông Dương trong khuôn khổ cải lương tư sản.\nÔng bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Phan Chu Trinh khi ở Côn Đảo làm rất nhiều thơ, trong đó có bài:\nCÔN LÔN TỨC CẢNH\nBiển dân đời đổi mấy thu đông\nCụm núi Côn Lôn đứng vững trông\nBốn mặt dày vò oai sóng gió\nMột mình che chở tội non sông\nCỏ hoa đất nở cây trăm thước\nRồng cá trời riêng cả một vùng\nNước biếc non xanh thiêng chẳng nhĩ\nGian nan xin hộ khách anh hùng\nNăm 1911 ra tù ông sang Pháp, hoạt động trong Việt kiều yêu nước. Năm 1912, Phan Chu Trinh gặp Phan Văn Trường sang Pháp từ trước. Đầu năm 1914 ông và Phan Văn Trường thành lập ''Hội người Việt Nam yêu nước\" tại Pháp. Tháng 4/1914 ông và Phan Văn Trường bị bắt vì bị vu cho là \"Mật thông với kẻ thù của nước Pháp\" (nước Đức). Phan Chu Trinh cũng đưa con là Phan Châu Dật là con thứ ba và là con trai duy nhất sang Pháp học. Trong thời gian Phan Chu Trinh bị giam ở ngục Săng đê, Châu Dật được phép mỗi tuần đến thăm cha hai lần chờ ở phòng khách thăm tù. Tháng 4/1914 chúng phải thả hai ông vì không có đủ chứng cứ buộc tội.\nNgày 3/2/1925, Phan Chu Trinh diễn thuyết lần cuối cùng ở hội Nhân quyền Paris. Ngày 28/5/1925 ông cùng Phan Văn Trường đi Mác Xây rồi về Sài Gòn.\nTháng 6/1925 Phan Chu Trinh về đến Sài Gòn. Ngày 24/3/1926, Phan Chu Trinh đột ngột qua đời tại Sài Gòn.\n\nHuỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Minh Viên, sinh năm Bính Tý (1876), ở làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông nhà nghèo, học giỏi.\nNăm Canh Tý (1900) ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm Giáp Thìn (1904), ông 29 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáp ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân dân xếp là \"Tứ Hổ\" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiên, Phạm Liệu). Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, mà ờ nhà đọc tân thư, giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh.\nĐầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia \"Duy tân tự cường\" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế. Khác với Phan Bội Châu theo chủ trương bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát khởi phong trào Duy tân cải cách văn hóa xã hội theo hướng ''khơi dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh\" (khẩu hiệu và mục tiêu của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng không phản đối đường lối “bạo động xuất dương cầu ngoại viện\" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn toàn tin theo đường lối \"bất bạo động, bất ngoại vong\" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là người có vai trò: \"điều hòa mâu thuẫn\" giữa hai đường lối của hai nhà yêu nước họ Phan.\nNgay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn (1904), Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ động cho phong trào Duy tân. Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc \"Nam du\". Đến nơi nào ba nhà Duy tân cũng \"cổ xúy tân học không chán''.\nÔng cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Huỳnh Thúc Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2/1921 ông được tha.\nTháng 12/1926 ông vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh doanh để tài trợ cho những hoạt động chính trị.\nTháng 4/1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà Nẵng với sự tham gia của nhiều nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái... chuyên ngành in và báo chí. Huỳnh Thúc Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân mà ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.\nNgày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được coi như cơ quan ngôn luận của Viện dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này làm diễn đàn đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.\nSau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hợp thường niên ngày 2/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của bọn thực dân và ông tuyên bố từ chức. Việc ông từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến bộ. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Được sự tin cậy của Hồ Chủ tịch, ông đã giữ chức Quyền Chủ tịch nước (và cũng là Quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng, giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc Pháp và bọn Việt Quốc, Việt Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, ông đi thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại diện Chính phủ. Ông đột ngột mắc bệnh rồi qua đời tại nhà một người dân dùng làm trụ sở Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày 21 tháng 4 năm 1947.\n\nNgô Đức Kế hiệu Tập Xuyên, sinh năm Kỷ Mão (1879) (có sách viết ông sinh năm Mậu Dần (1878). Ông người xã Trảo Nha, tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, nay là thôn Nam Sơn, thị trấn Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (Có sách viết nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc. tỉnh Hà Tĩnh). Ngô Đức Kế bẩm tính thông minh, học giỏi từ nhỏ. Khoa thi năm Đinh Dậu (1897), khi mới 19 tuổi, ông đỗ cử nhân, khoa thi năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901), đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ khi mới 23 tuổi.\nNgô Đức Kế không ra làm quan, đề xuất lối học mới, vận động bỏ khoa cử, hô hào thực nghiệp. Ngô Đức Kế có mặt ngay từ khi Duy tân hội được thành lập, hoạt động trong phái \"Minh Xã\". Phái này hoạt động công khai, hợp pháp chuyên lo mở trường học, lập hội buôn, mở xưởng thủ công nghiệp để chấn hưng kinh tế đưa phần lớn tiền lãi vào quỹ hội Đông du. Ngô Đức Kế cùng em trai là Ngô Đức Thiệu mở một hiệu buôn ở Nghèn. Đến khoảng năm 1906, ông lại cùng với Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân thành lập Triêu Dương Thương điếm ở Vinh chuyên lo buôn bán đường mật, tơ lụa. Khi Phan Bội Châu xuất dương, ông cùng với các đồng chí đảm nhiệm cổ vũ phong trào Đông du. Thương điếm cũng là trạm liên lạc của hội Duy tân, có quan hệ với các hiệu buôn khác cùng mục đích vận động Duy tân như Hồng Tân Hưng, Quảng Hương Long, Quảng Nam Hiệp thương công ty. Năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục thành lập, Ngô Đức Kế ở Vinh nhưng cũng tham gia ban Tu thư của trường cùng với Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Chu Trinh. Ban này chia làm hai bộ phận: biên soạn và dịch thuật. Ngô Đức Kế ở ban biên soạn. Ông đã soạn được nhiều sách, trong đó có các cuốn: \"Quốc dân độc bản\", \"Nam quốc giai sự”, \"Nam quốc địa dư\", \"Quốc văn giáo khoa thư\", \"Luân lý giáo khoa thư\"...\nĐầu năm Mậu Thân (1908) cuộc xin xâu nổ ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi rồi lan đến Nghệ Tĩnh. Các Hội viên hội Duy tân như Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập đứng lên lãnh đạo và hô hào đồng bào \"xin xâu\". Ngô Đức Kế cùng một số yếu nhân như Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân... đều tích cực tham gia. Các ông bị nhà cầm quyền bắt vào tháng 3, tháng 4/1908, bị đưa về giam ở nhà lao Hà Tĩnh. Tòa án Nam triều do Án sát Cao Ngọc Lễ, Lãnh binh Ngụy Tác Hạ theo lệnh của công sứ Pháp Đuxê (Doucet) đã tuyên án tử hình Nguyễn Hằng Chi, Trịnh Khắc Lập. Ngô Đức Kế, sau đổi làm tội đồ (đi đày) chung thân, rồi giảm xuống 13 năm đày ra Côn Đảo.\nỞ Côn Đảo Ngô Đức Kế đã gặp Huỳnh Thúc Kháng và hai ông đã trở thành bạn thân thiết cũng như với Đặng Nguyên Cẩn và Phan Bội Châu. Bốn nhà chí sĩ cùng có một tâm huyết đánh đuổi giặc Pháp, cùng gắn bó với nhau trong sự nghiệp văn chương trong dòng thơ văn yêu nước.\nHết hạn đi đày, năm 1921, Ngô Đức Kế về quê nghỉ ngơi ít lâu, rồi cuối năm 1922 ra Hà Nội chủ trương báo Hữu Thanh, nguyên là cơ quan Ngôn luận của Hội Trung Bắc nông công thương tương tế, lúc mới lập do nhà thơ Tản Đà làm chủ bút. Ông còn mở hiệu đối trướng ở phố Hàng Điếu, Hà Nội. Ngô Đức Kế là nhà cựu học tiếp cận được với trào lưu mới, ông giao tiếp nhiều, kiến văn rộng,\nNăm 1926, Ngô Đức Kế mở \"Giác quần thư xã\", xuất bản một số thơ văn của Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ di thảo... Ông đọc sách Bách khoa toàn thư, viết cuốn \"Đông Tây vĩ nhân\" trong đó có Tôn Dật Tiên, Găngđi.\nNgô Đức Kế làm sách chưa được bao lâu thì ông ốm nặng và mất vào ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (10/12/1929), tại Bạch Mai, Hà Nội.\n\nĐặng Văn Bá tự Thanh Bình, hiệu Nghiêm Giang, sinh năm 1873, người làng Phất Lão, nay là xã Thanh Bình, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.\nÔng thi đỗ cử nhân khoa Canh Tý(1900), nên thường gọi là Cử Đặng. Ông tham gia Duy tân hội và phong trào Đông du từ năm 1905 thuộc phái \"Ám xã\". Ông có quan hệ mật thiết với Lê Võ và Trần Văn Bỉnh một người Thiên chúa giáo yêu nước cùng tham gia Duy tân hội với ông. Đặng Văn Bá thuộc phái “Ám xã” tức là phái vũ trang bạo động. Ba ông có dự mưu khởi nghĩa vũ trang từ năm 1905, ông và Lê Võ chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ, Trần Văn Bỉnh là người có năng khiếu về cơ học, từng nghiên cứu cách chế tạo súng đạn lo việc quân giới.\nKhoảng năm Bính Ngọ ( 1906), năm Đinh Vị (1907), Đặng Văn Bá muốn khởi sự ở Trung Kỳ, ông đã đầu tư tiền bạc giao cho ông Trần Văn Bỉnh đưa hơn 10 đệ tử đến tỉnh Phương Lâm (Sau đổi là tỉnh Hòa Bình) ở xứ Bắc Kỳ là nơi đồng bào dân tộc có nhiều súng cũ hỏng, nơi có rừng núi hiểm trở thành lập xưởng đúc súng. Trong khoảng nửa năm. Trần Văn Bỉnh chế tạo súng đã dùng được, nhưng còn thiếu đạn, Ông Bỉnh đang nghiên cứu chế tạo thì lâm bệnh nặng rồi mất. Đặng Văn Bá cùng Lê Võ tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ hoàn chỉnh việc chế tạo súng đạn, thì năm 1908 nổ ra cuộc xin xâu, chống thuế từ Quảng Nam lan ra Hà Tĩnh, Nghệ An, Đặng Văn Bá cũng bị thực dân Pháp bắt với Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, các ông bị đầy ra Côn Đảo.\nTrần Văn Bỉnh mất, Đặng Văn Bá bị mất, số vũ khí tinh xảo do Trần Văn Bỉnh chế tạo ra cũng mất theo. Sau một năm giam cầm trong nhà tù với cảnh “ngậm đắng, ăn cay đợi bữa luôn” giữa “Sóng khoá chân thần sau mặt khuất, Biển dăng hơi quỷ khiến người nôn” của cảnh tù đày Côn Đảo, địa ngục trần gian, Đặng văn Bá đã khẳng định:\nTrải nhiều gian khổ thêm can đởm (đảm)\nBiệt cảnh quê hương rối mộng hồn.\nLá rụng một đêm theo gió cuốn\nNon sông khắp xứ thu vòng tròn.\nÔng bị đày 1 năm rồi 2 năm, 3 năm, tìm mưu tính kế bao lần các sĩ phu không vượt được ngục vẫn phải âm thầm sống trong tù đày. Các sĩ phu yêu nước lại động viên nhau: Chớ ngại tóc sương khắp mái.\nĐến năm 1921 (Có tài liệu viết năm 1916) ông được tha. Ông về ở Sài Gòn. Năm 1925 Phan Bội Châu bị an trí ở Huế thì ông về Huế cùng ở với Phan Bội Châu, sau một thời gian ở Huế, ông về quê, mất năm 1931. Đặng Văn Bá sáng tác nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. Xin giới thiệu một số bài để thấy rõ tâm tư cùng hoài bão của một người yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:\nTÍCH NIÊN KIM NHẬT ĐÁO CÔN LÔN\nTích niên kim nhật đáo Côn Lôn\nNhữ khổ hàm tân bất đãi luân\nCựu mục thần châu ba lãng viễn\nBức nhân quỷ khí hải đào hôn\nThường đa gian khổ tăng can đảm\nBiệt cửu gia sơn nhiễu mộng hồn\nNhất dạ thu phong tồi lạc nghiệp\nThiên sơn vận hái kiến triêu đôn\nDịch thơ:\nNGÀY NÀY NĂM TRƯỚC ĐẾN CÔN LÔN\nNgày này năm ngoái đến Côn Lôn\nNgậm đắng ăn cay đợi bữa luôn\nSóng khỏa châu Thần trong mặt khuất\nBiển giăng hơi quỉ khiến người nôn\nTrải nhiều gian hiểm thêm can đảm\nBiệt cách quê hương rối mộng hồn\nLá rụng một đêm theo gió cuốn\nNon sông khắp xứ thấy vừng tròn.\nHuỳnh Thúc Kháng dịch\n(Theo Thi tù tùng thoại,\nNxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951).\n\nNguyễn An Khương người làng Mỹ Hòa (Quán Tre) huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Ông là thân phụ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh.\nKhi Phan Bội Châu và các đồng chí phát khởi phong trào Duy tân, thì Nam kỳ là nơi phong trào phát triển nhất. Ngoài số thanh niên xuất dương, còn có các nhân sĩ yêu nước, các phú hào, các đại điền chủ ủng hộ tài chính.\nTrong số những người tham gia Duy tân hội ở Nam Kỳ ( Nam Kỳ gọi là Minh tân) phải kể đến các nhân vật Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến...\nNguyễn An Khương là chiến sĩ cách mạng, thủ lĩnh phong trào Duy tân ở Nam Kỳ. Ông vận động nhiều thanh niên xuất dương, quyên góp tiền bạc cho phong tràoo Khi trường Đông Kinh nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, ông là người đầu tiên hưởng ứng và tích cực mở trường nghĩa thục ở Nam Kỳ.\nÔng mở khách sạn Chiêu Nam Lầu tại số 49 đường Kinh Lấp (Boulevard Charner) Sài Gòn. Khách sạn này kinh doanh dịch vụ khách sạn nhà hàng, cạnh tranh công khai với cơ sở nhà hàng của Hoa Kiều. Ông lấy tiền lãi cung cấp cho thanh niên Đông du vừa là nơi in lại sách của trường Đông Kinh nghĩa thục, cung cấp cho các trường nghĩa thục ở Nam Kỳ. Khách sạn còn là nơi các nhà yêu nước gặp gỡ nhau bàn định công việc cứu nước.\nNăm 1908, Nguyễn An Khương cùng các đồng chí Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Bùi Chí Nhuận vượt biên giới sang Cao Miên rồi từ đó qua Xiêm La để sang Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Nguyễn An Khương tích cực hoạt động cho phong trào Đông du. Ông được tổ chức phân công về hoạt động ở Nam Kỳ. Tại Củ Chi, nhà ông là nơi liên lạc bí mật của các chí sĩ. Trong thời gian ở Củ Chi, Sài Gòn, Nguyễn An Khương dịch các sách Trung Quốc như Tam Quốc chí, Thủy Hử, Phấn Trang Lầu từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ. Ông cũng là trợ bút đắc lực cho tờ \"Nông Cổ Mín đàm''. Tờ Nông cổ Mín đàm trước của một người Pháp tên là Canavaggiô, sau giao cho các ông Gilbert Chiểu, Đỗ Thức, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Chánh Sắt quản lý. Năm 1902, Canavaggiô qua đời thì Nguyễn Chánh Sắt làm chủ bút. Ông đã cho in những văn thơ yêu nước, viết và đăng những lời cổ động cho phong trào Minh tân. Nguyễn An Khương là trợ bút đắc lực cho tờ báo này.\n\nĐặng Tử Kính người làng Hải Côn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, ông là chú ruột Đặng Thái Thân. Ông là một trong năm thành viên sáng lập ra Duy tân hội.\nTháng giêng năm Ất Tỵ (1905) ông cùng Tăng Bạt Hổ tháp tùng Phan Bội Châu sang Nhật với mục đích là cầu ngoại viện. Đặng Tử Kính mới qua Nhật, nhưng qua Tăng Bạt Hổ và các nhân sĩ Trung Quốc ông đã có mối quan hệ rộng rãi với chính khách Nhật. Phan Bội Châu giữ ông ở lại Nhật giúp bố trí nơi ăn ở, học tập ở các trường cho lưu học sinh Việt Nam, giao tiếp với các chính khách Nhật và các nhà cách mạng Trung Hoa đang ở Nhật.\nKhi Phan Bội Châu có việc về nước lần thứ nhất (1905) lần thứ hai (1906) thì toàn bộ công việc đối nội, đối ngoại ở Nhật đều do Đặng Tử Kính lo liệu. Cuối năm 1908, Chính phủ Nhật thông đồng với nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương trục xuất lưu học sinh Việt Nam chủ yếu ở Nam Kỳ về nước thì ông cũng là người đứng ra lo tiền bạc cho lưu học sinh.\nĐến năm 1909 Chính phủ Nhật thực hiện Hiệp ước ký với Pháp đã ra lệnh trục xuất Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính cùng toàn thể cán bộ, lưu học sinh Việt Nam ở Nhật. Cán bộ, học sinh đành phải về Trung Hoa. Đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn của lưu học sinh, vì tiền bạc trong nước bị nghẽn không gửi sang được. Ông cùng Phan Bội Châu và những đồng chí đang hoạt động ở Trung Quốc phải dựa vào mối quan hệ với các nhân sĩ Trung Quốc, những người dân Trung Quốc ủng hộ cách mạng Việt Nam, kiều bào Việt Nam ở Trung Quốc lo tiền ăn học cho anh em.\nNăm 1911 cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) thành công, đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Đặng Tử Kính liền từ Xiêm về Quảng Đông.\nNăm 1912, Phan Bội Châu triệu tập cán bộ ba kỳ và cán bộ đang hoạt động ở Trung Quốc, Xiêm La họp ở Quảng Đông tuyên bố giải tán Duy tân hội, thành lập Việt Nam Quang Phục hội. Đặng Tử Kính được bầu vào ban chấp hành, phụ trách kinh tế.\nTừ năm 1914 khi Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng bị nhà cầm quyền Quảng Đông bắt giam thì Đặng Tử Kính và Nguyễn Thượng Hiền lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội.\nTháng 3 năm 1915, ỏng và Nguyễn Thượng Hiền sang Xiêm vận động công sứ Đức, Áo viện trợ 10.000 đồng tiền Xiêm. Hai ông chia làm 3 phần giao cho ba nhóm Quang Phục quân mua vũ khí để đánh vào Móng Cái, Hà Khẩu, Lạng Sơn. Song đáng tiếc những hoạt động quân sự trên không thành công.\nNăm 1925 khi Phạm Hồng Thái trong nhóm Tâm Tâm xã, ném tạc đạn ở Sa Điện Trung Quốc, ám sát hụt Toàn quyền Méc Lanh. Mật thám, lính Pháp truy kích gắt gao, ông nhẩy xuống sông Châu Giang để thoát thân, không ngờ dòng nước chảy xiết, cuốn trôi ông. Đặng Tử Kính cảm phục tinh thần dũng cảm của Phạm Hồng Thái, ông làm bài thơ:\nKÍNH DÂNG HƯƠNG HỒN LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI\n(Trích đoạn cuối)\n... Bây giờ cơ đã đến nơi\nLòng người có chí thì trời cũng bênh,\nÔng khi ấy một mình len lỏi\nMột chiếc thuyền theo dõi bờ sông\nToàn quyền Đông Pháp Mặc Lanh\nHắn lên xe điện thẳng dong hàng\nThành Sa Điện\n(*) phố phường đón rước,\nMời vào nhà thết tiệc hoan nghênh,\nÔng vào thám thính phân minh\nLại gần chú lính đang canh nạt dồn\nTám giờ tối bàn hoàn chưa định,\nViệc gấp rồi phải tính mau mau\nKhen người kế hoạch mưu cao\nTới ngay cửa sổ ném vào một khi\nNgười trong tiệc còn chi đâu nữa\nChúng kinh hoàng hồn rữa, phách tan\nTây kia mới hết khoe khoang\nXương tan xác pháo, thịt tan bụi hồng\nChốn Sa Điện một vùng tối mịt\nThuyền Châu Giang trăm chiếc đón đưa\nHy sinh cứu nước bây giờ\nHồn thiêng cao phất, ngọn cờ tự do.\n\"Anh hùng vị quốc quyên khu\"\n(**)\nSông Châu Giang ấy nghìn thu lưu truyền\n(Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX)\nÔng mất tại tỉnh Phi Chịt nước Xiêm năm 1928.\n(*) Sa Điện tên đất thuộc Quảng Châu (Trung Quốc) tô giới nước Pháp\n(**) Người anh hùng vì nước hy sinh thân mình.\n\nNguyễn Thượng Hiền tự Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, hiệu Mai Sơn, sinh năm 1866 trong một gia đình phong kiến quý tộc, quê ở làng Liên Bạt, tổng Xà Cầu, huyện Sơn Lãng, sau đổi là huyện ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, nay là xã Liên Bạt, huyện úng Hòa, tỉnh Hà Tây.\nÔng là người thông tuệ, lại chăm chỉ học ở trường và đọc sách. Năm Giáp Thân, Kiến Phúc thứ nhất (1884), ông 19 tuổi đỗ Cử nhân. Ông đỗ cử nhân, nhưng bỏ nhà đi tu. Sau vì anh ông mất sớm, gia đình đón về bắt lấy vợ. Ông kết duyên với con gái Tôn Thất Thuyết.\nẤt Dậu, năm đầu Hàm Nghi (1885), ông 20 tuổi thi Hội trúng cách, chưa kịp truyền loa thì kinh thành thất thủ, nên chưa được công nhận chính thức. Ông ở lại Huế học tập.\nKhoa thi năm Nhâm Thìn thành Thái thứ 5 (1892) ông đi thi Hội, vì đã trúng cách trước, nên ông được vào thi Đình, đỗ Hoàng giáp, bấy giờ ông mới 27 tuổi.\nÔng đỗ cao nhưng đau xót cảnh đất nước rơi vào tay giặc Pháp, nên không chịu ra làm quan, dâng sớ xin nghỉ 10 năm để đọc sách tu dưỡng. Triều đình chỉ cho nghỉ 3 năm. Hết hạn nghỉ, ông ra nhận chức Toản tu quốc sử quán, sau đổi làm Đốc học Nam Định - Ninh Bình.\nTrong thời gian ỉàm việc ở Huế và ở Nam Định, Nguyễn Thượng Hiền được đọc nhiều tân thư của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vy (Trung Quốc).\nSau đó lại được tiếp xúc với nhà cải cách Nguyễn Lộ Trạch, sư Viên Giác và các nhà chí sĩ Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nên ông có cảm tình sâu sắc với phong trào chống Pháp. Ông từ quan về núi Nưa (Thanh Hóa) ở ẩn.\nNăm 1907 thân phụ mất, ông tìm đường xuất dương hoạt động cách mạng. Ông tham gia phong trào chống thuế ở miền Trung bị bọn cầm quyền Pháp kết án tử hình vắng mặt.\nNăm 1908, ông xuất dương sang Trung Quốc gặp Phan Bội Châu. Năm 1912, Nguyễn Thượng Hiền tấn thành tôn chỉ bỏ quân chủ của Việt Nam Quang Phục hội. Ông là đại biểu cho Bắc Kỳ trong bộ Bình nghị của Việt Nam Quang Phục hội.\nNăm 1914 Phan Bội Châu bị quân phiệt Trung Hoa bắt giam, mọi công việc của Hội đều do ông lo liệu, ông lại thực hiện kế hoạch ba mũi tiến công vào Bắc Kỳ mà ông trực tiếp chỉ huy một đội quân mưu việc đánh úp Lạng Sơn, song việc không thành. Giặc Pháp ráo riết truy bức các nhà cách mạng Việt Nam Quang Phục hội. Nguyễn Thượng Hiền phải bôn tẩu khắp nơi, khi ở Quảng Đông, Quảng Tây, khi ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu, có lúc lại sang Xiêm La.\nNăm 1915 ông đi Xiêm La liên hệ với hai viên công sứ Đức và Áo, yêu cầu họ giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Họ giúp cho một số tiền để mua vũ khí về nước đánh Pháp. Trung Quốc tuyên chiến với Đức và Áo, khủng bố các nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc.\nĐại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc nước Pháp thắng trận, năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt đưa về nước rồi bị quản thúc ở Huế. Nguyễn Thượng Hiền nản chí bỏ đi tu ở một ngôi chùa ở Hàng Châu (Trung Quốc).\nNguyễn Thượng Hiền sáng tác rất nhiều văn thơ yêu nước, bài văn, thơ nào cũng cháy bỏng lòng yêu nước thiết tha, ca ngợi những người vì nghĩa quên mình, kêu gọi mọi người mở mang công nghệ, lập hội buôn, mở trường học để chấn hưng đất nước Nguyễn Thượng Hiền là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc. Ý chí bất khuất của ông được thể hiện rõ nét trong văn thơ:\nĐỀ MIẾU Mà VIỆN Ở LONG THÀNH\nTrèo non vượt bể biết bao công\nMột trận Hồ Tây chút vẫy vùng\nQuắc thước khoe chi mình tóc bạc\nCân đai đọ với khách quần hồng\nDèm chê đã chán đầy mâm ngọc\nCông cán ra chi mấy cột đồng\nAi muốn chép công, ta chép tội\nCông riêng ai đó oán hờn chung\nKhi được tin vợ mất, ông làm câu đối khóc vợ:\n\"Ngưỡng quan thiên, thiên dĩ vân mai tứ tắc, phủ quan địa, địa dĩ kinh cức hoàng sinh, bôn trì thiên vạn lý, khiết tiết thôn chiên, thượng hải vị năng điền, thệ ngã thử tâm, trường đối, giang sơn oanh lữ mộng;\nThiếu tòng phụ, phụ dĩ vương mệnh xuất bôn, tưởng tòng phu, phu dĩ quốc nạn viễn tỵ, tiền hậu tam thập niên, hàm tân nhữ khổ, bạch đầu ưng cách thậm, đa quản tiên giác, tảo ly trần giới đoạn sầu căn\".\nDịch:\nNgẩng trông trời, trời đã mây mù che kín, cúi xem đất, đất đã gai góc mọc đầy, chạy vạy ngàn muôn dặm, ăn tuyết, nhai tanh, bể xanh còn chưa lấp, thề tớ lòng này, đất khách mơ màng non nước cũ;\nTrẻ theo bố, bố vâng lệnh chúa ra đi, lớn theo chồng, chồng vì nạn nước xa lánh, sau trước ba mươi năm, nuốt cay, ngậm đắng, đầu bạc lại thêm thương, may bà biết trước, suối vàng dứt hẳn mối sầu xưa.\nLê Thước dịch in trong Hợp tuyển thi văn Việt Nam\n(1858 - 1920) quyển II Nxb Văn học, Hà Nội, 1985).\nÔng sống lưu vong ở Trung Quốc song vẫn hướng về quê cha, đất tổ Việt Nam, vẫn không ngừng cổ động, khuyến khích lớp lớp con cháu làm cách mạng đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Sức ông yếu, lại sót sa, nỗi buồn mất nước, nặng lòng thương cảm các đồng chí lần lượt hy sinh, do vậy sức khỏe của ông ngày càng suy sụp. Ông ngã bệnh nặng rồi mất ngày 28 tháng 12 nãm 1925 tại chùa Thường Tịch Quang trên núi Cô Sơn giữa Tây Hồ, tỉnh Hàng Châu, Trung Quốc, thọ 57 tuổi. Thi hài của ông được hỏa táng, rắc tro xuống sông Tiền Đường theo lời Di chúc của ông.\n\nPhạm Văn Ngôn còn gọi là Phạm Ngôn, hiệu Tùng Nham, sinh năm 1881, quê ở thôn Yên Nội, xã Việt Yên hạ, huyện La Sơn, phủ Đức Phong, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.\nTháng 12 năm 1906, Phan Bội Châu từ Nhật trở về nước đến đồn Phồn Xương lần thứ hai gặp Hoàng Hoa Thám. Hai ông thỏa thuận lập một \"Đồn điền Tú Nghệ\" ở Yên Thế làm nơi ẩn náu cho các nhà cách mạng Nghệ An, Hà Tĩnh.\nNăm 1907 giặc Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh, Tú Ngôn đưa một số đồng chí ra ẩn náu ở đồn điền Tú Nghệ ở Yên Thế chờ thời cơ.\nĐầu năm 1909 trước âm mưu chuẩn bị tiến công căn cứ Đề Thám ở Yên Thế của giặc Pháp ngày càng lộ liễu, Tú Ngôn trở về Hà Tĩnh để vận động binh lính nổi dậy chống Pháp phối hợp tác chiến với Đề Thám. Cuộc vận động xây dựng đồn điền Tú Nghệ ở Yên Thế không thành vì không có kinh phí. Tại Nghệ An cũng có cuộc nổi dậy chống Pháp phối hợp với Đề Thám nhưng thất bại. Giặc bao vây nơi các ông hội họp, các ông chống cự kịch liệt và bị đàn áp dã man. Phạm Văn Ngôn bị giặc bắt, chúng đánh ông gẫy hai cái răng cửa, mình mẩy thâm tím. Chúng giam ông ở nhà lao Đà Nẵng chờ ngày ra Côn Đảo cùng với nhiều đồng chí khác, trong đó có em ruột ông là Phạm Văn Thản.\n(Việt Nam nghĩa liệt sử viết: “Phạm Văn Ngôn ở Nghệ An nghe tin quân Pháp tuyên chiến với tướng quân Hoàng Hoa Thám, ông dẫn một số đồng chí ra Bắc định vào đồn giúp Hoàng Hoa Thám đánh giặc. Nhưng đồn bị vây tứ phía. Hoàng tướng quân cũng giữ đồn chống giặc, trong ngoài không thông được tin tức với nhau. Ông mạo hiểm tìm đường mà tiến. Giặc thì đóng, đường mắc nghẽn, ông bị giặc vây đánh và bị bắt giải về Nghệ An. Bọn chó săn cho Pháp dùng nhục hình tra tấn ông hòng tìm ra chứng cớ đảng”).\nTại nhà lao Đà Nẵng, Phạm Văn Ngôn vẫn kiên cường đấu tranh bất khuất. Khi bọn cai ngục đàn áp, ông lấy thân mình đỡ đòn cho các đồng chí bị đau yếu. Ông mất tại nhà ngục không rõ thời gian. Nhưng theo bài \"Văn tế anh'' của em trai ông là Phạm Văn Thản, còn gọi là Đồ Thản, tham gia phong trào Duy tân rồi cùng Đội Quyên lập đồn Bố Lư ở huyện Thanh Chương rồi bị bắt đầy ra Côn Đảo (Phạm Văn Thản bị chết ở Côn Đảo năm 1920) thì ông mất vào ngày 15 tháng 2 (không rõ năm), nguyên văn câu đó như sau:\n\"... Mang tu mi đứng giữa cõi đời, tuổi ba mươi lăm lẻ\nĐem tính mệnh thác ngoài Côn Đảo, ngày mười sáu tháng hai”\n\nHồ Học Lãm còn có tên là Hồ Xuân Lan, sinh năm 1848 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Xuân Lan là người học hành thông tuệ, lại tiếp thu được truyền thống cách mạng của gia đình, nên sớm có hành động yêu nước. Khi xuất dương \"Đông du\" sang Nhật ông đổi lên là Hồ Học Lãm. Sang tới Tôkyô (Nhật Bản), ông được Phan Bội Châu bố trí vào học ở trường Chấn vỗ học hiệu. Ông lại đổi tên là Hồ Hinh Sơn để đăng ký với nhà trường.\nĐầu năm 1909, Chính phủ Nhật Bản trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam. Học sinh Việt Nam bị giải tán, một số về lại Việt Nam còn phần lớn về Trung Quốc, Xiêm. Hồ Học Lãm cùng Lương Lập Nham, Lâm Quảng Trung... học ở Bảo Định sĩ quan học hiệu.\nCách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra thì Hổ Học Lãm tốt nghiệp mãn khóa. Ông được phiên chế về bộ Tổng Tham mưu quân cách mạng do Tưởng Giới Thạch làm ủy viên Tổng tài. Ông từng tham gia nhiều trận Quốc Dân Đảng đánh lại Viên Thế Khải.\nNăm 1912, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục hội trên đất Trung Hoa. Hồ Học Lãm có mối quan hệ mật thiết với những người lãnh đạo của Hội. Năm 1916, Hồ Học Lãm phụ trách biên tập tờ Bình sự tạp chí ở Hàng Châu cho tới năm 1929. Ông đã viết nhiều bài luận văn quân sự quan trọng, nội dung các luận văn quân sự đã bộc lộ rõ tâm tư ông luôn hướng về Tổ quốc.\nGia đình Hồ Học Lãm ở Hàng Châu là cơ sở rất tin cậy và an toàn cho các nhà cách mạng Việt Nam lưu vong sang Trung Quốc hoạt động từ năm 1914 đến 1918.\nTừ cuối năm 1925 đến năm 1927, Hồ Học Lãm chuyển đến công tác ở Nam Kinh và vẫn hoạt động trong quân đội Quốc Dân đảng. Gia đình ông vẫn là cơ sở tin cậy của các nhà cách mạng Việt Nam, của các chiến sĩ cộng sản Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc. Nhiều tài liệu đã ghi nhận sự đóng góp lớn lao của gia đình ông đối với cách mạng như:\n\"Có thể nói trong nhiều năm, ngôi nhà của ông ở Nam Kinh, theo cách nói của anh em ta lúc bấy giờ hệt như một trạm đón tiếp nồng hậu, một trạm xá tận tình chữa bệnh. Lúc ít cũng hơi, ba đồng chí; lúc đông tới mười, mười lăm người. Có đồng chí dừng chân vài ba ngày. Nhung cũng có những đồng chí một hai, ba tháng. Ngoài ăn uống, thuốc men, đồng chí nào sức yếu, mùa đông lạnh, còn có cả áo \"ba đờ suy'' bằng len dạ. Ông bà coi như một nghĩa vụ của mình đối với cách mạng”.\n(Theo Siêu Hải: Người mang biệt danh cây gỗ mun,\nNxb Hải Phòng, 1993, tr. 153).\nNăm 1928, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cử Lê Thiết Hùng đến Nam Kinh gặp Hồ Học Lãm nhờ ông bố trí cho Lê Thiết Hùng vào công tác ở ngay trong quân đội Quốc Dân đảng và giữ mối liên lạc giữa đồng chí Nguyễn Ái Quốc với Hồ Học Lãm và Đảng Cộng sản Trung Quốc.\nTừ năm 1930 đến 1935, Hồ Học Lãm đã vượt qua biết bao nguy hiểm thu thập được tư liệu 5 lần quân Quốc Dân Đảng tấn công vào khu vực Xô Viết thông qua Lê Thiết Hùng để báo cho đảng Cộng sản Trung Hoa biết.\nKhoảng cuối năm 1935, Hồ Học Lãm cùng một số ngưòi yêu nước chân chính lập ra \"Việt Nam Độc lập vận động đồng minh hội'' gọi tắt là Việt Minh. Hồ Học Lãm được bầu làm Chủ tịch và được chính quyền Tưởng Giới Thạch công nhận, cấp giấy phép hoạt động. (Việt Nam độc lập vận động đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh, nhưng không phải là Việt Nam độc lập Đồng minh (Việt Minh thành lập ngày 19/5/1941).\nNăm 1937, Hồ Học Lãm theo bộ Tổng tham mưu về Trùng Khánh, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bí mật đến gặp Hồ Học Lãm, yêu cầu cho Lê Thiết Hùng giải ngũ về nước.\nBước sang đầu năm 1943, bệnh tình ngày càng trầm trọng và ông đã qua đời vào ngày 12/4/1943 tại Quế Lâm.\nThiếu tướng Lê Thiết Hùng kể lại lời Bác Hồ nói về Hồ Học Lãm như sau: \"Ông Hồ Học Lãm là người yêu nước cùng thời với Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân là những bậc lão thành cách mạng, hết lòng vì nước vì dân. Tuy chưa phải là người cộng sản, nhưng chúng ta cũng coi ông Hồ Học Lãm như một người trong tổ chức chúng ta. Nếu ông còn sống, có thể mời ông tham gia Chính phủ, làm Chủ tịch nước năm 1945..”.\nTheo Sở Văn hóa - Thông tin Nghệ An\nHồ Tùng Mậu - lịch sử và thời đại\n(Kỷ yếu tọa đàm khoa học\nBảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh xuất bản, 1997)\n\nTrần Hoành (Cửu Cai) hiệu Phước Bình, sinh năm 1878, quê ở làng Phương Sơn, xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (Sách \"Phong trào Duy tân” của Nguyễn Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng viết quê ông ở làng Phước Bình, huvện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam).\nNăm 1902 Trần Hoành làm thông ngôn ở mỏ than Nông Sơn tỉnh Quảng Nam. Năm 1905, ông tham gia phong trào Duy tân cùng với Phan Chu Trinh. Trần Hoành hoạt động trong nhóm Minh Xã do Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng chủ trương, hoạt động theo đường lối ôn hòa như tích cực vận động mở trường học chữ quốc ngữ, dùng hàng nội hóa, chống mê tín dị đoạn, đàn ông cắt tóc ngắn. Trong việc mở mang Tân học, ông hăng hái cổ động học chữ quốc ngữ, chữ Pháp.\nNăm 1906, ông là người mở trường và là giám đốc trường Phước Bình. Trường lập ở Quế Sơn gần Đèo Le, cạnh làng Trung Lộc không xa khu vực Tân tỉnh của nghĩa quân Cần vương Nguyễn Duy Hiệu. Đầu năm 1908, Quảng Nam, Quảng Ngãi phát động phong trào xin xâu, chống thuế. Đến tháng 3/1908 phong trào lan ra Quảng Trị đã được Trần Hoành hưởng ứng. Ông bị mật thám truy lùng ráo riết, nên chuyển vào hoạt động bí mật ở Quảng Trị, Quảng Nam và ở cả Nam Kỳ. Năm 1912 ông bị thực dân Pháp bắt ở Mỹ Tho và đầy ra Côn Đảo. Ngày 20 tháng 8 năm 1917, Trần Hoành, Phan Kim Đài, Nguyễn Đình Kiên đóng bè vượt ngục Côn Đảo, hoạt động ở tỉnh Bình Thuận. Trên đường ông vào Nam Kỳ cổ động cho cách mạng, ngày 25 tháng 9 ông lại bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo.\nTrần Hoành là một trong những người hăng hái tìm cách vượt ngục Côn Đảo trở về đất liền phục hồi phong trào cách mạng. Ngày 20 tháng 8 năm 1917, Trần Hoành, Phan Kim Đài, Nguyễn Đình Kiên đóng bè vượt ngục Côn Đảo. Năm, sáu ngày đêm liền, sáu ngày lênh đênh giữa biển cả, trên trời, dưới nước. Đồ ăn không còn, không đói lắm nhưng nước ngọt cạn kiệt. Khát quá mọi người phải nhúng người xuống biển cho đỡ khát. Mấy anh em tuyệt vọng chờ chết. Đến ngày thứ 6 thì nhìn thấy núi và đất liền, nhưng còn xa bờ. Anh em cố chèo, nhưng còn cách xa bờ. Gọi cứu, người trong bờ nghe tiếng, nhưng không ai ra cứu. Cuối cùng lợi dụng sóng to, anh em cố chèo lái cùng vào được bờ. Mọi người vừa đói, vừa mệt, họ nằm ngay trên bờ ngủ say như chết. Sau khi hỏi thăm thì được biết đây là một huyện thuộc tỉnh Bình Thuận, từ bãi biển ra tới đường xe lửa phải đi một ngày đường. Sáu người tìm vào một nhà dân mua gạo nấu cơm ăn. Khi đó thực dân Pháp đã thông báo cho các tỉnh, các bến xe, ga tầu hỏa truy nã các ông. Những người dân nghi ngờ các ông là tù vượt ngục, may là trong anh em có người mang trong mình một tờ giấy chữ Tây có dấu của Tham biện nên dân bán gạo và cho nấu cơm nhờ. Sau khi ăn uống nghỉ ngơi, ba người trở về lục tỉnh, còn hai người trở ra bắc Trung Kỳ, Cửu Cai cũng đi tầu hỏa cùng với hai người ra bắc Trung Kỳ, nhưng ông ở lại hoạt động ở tỉnh Bình Thuận. Trên đường ông vào Nam Kỳ cổ động cho cách mạng, ngày 25 tháng 9 ông lại bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Ở Côn Đảo, ông lại vượt ngục lại tổ chức vượt ngục, lại bị bắt. Ông được anh em tù chính trị gọi là \"Vua vượt ngục\".\nTừ năm 1927 đến năm 1930, ông làm quản đốc nhà in báo Tiếng Dân cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông mất năm 1945.\n\nĐặng Thái Thân sinh năm 1873, tên hiệu là Ngư Hải, người làng Hải Côn, huyện Nghi Lộc (nay là xã Nghi Thái huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) là học trò và là đồng chí của Phan Bội Châu. Ông thông minh, học giỏi, đỗ Đầu xứ.\nNăm 1901, cử nhân Vương Thúc Quý người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mở trường dạy học ở làng, Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc) cũng theo học thì Đặng Thái Thân cùng với Phan Bội Châu là khách thường xuyên tới bàn chuyện cứu nước.\nTháng 5/1904, Phan Bội Châu, Nguyễn Thành thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam ông là người đầu tiên tham gia. Khi Phan Bội Châu xuất dương (1905), thì ông là người tổ chức lực lượng ở trong nước, và quyên góp tiền gửi sang Trung Hoa và Nhật cho các du học sinh Việt Nam. Ông thường bí mật sang Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội Châu để bàn bạc, thống nhất chủ trương hoạt động của hội, phối hợp nhịp nhàng các hoạt động của hội ở trong nước và ngoài nước. Phan Bội Châu coi ông là người cộng sự xuất sắc, một đồng chí trung thành, hăng say và là một đồng chí tri kỷ.\nMùa đông năm 1906, Đặng Thái Thân nhận nhiệm vụ của Duy tân hội đem Hội chủ Kỳ Ngoại hầu Cường Để xuất dương.\nÔng định đến Đà Nẵng đi thuyền ra Bắc, nhưng gặp sóng to không đi được, lại sợ mật thám theo dõi phát hiện ra mình, ông làm bài thơ:\nĐỢI THUYỀN\nThiên lý nhăn tâm bước lộ trình,\nChết rồi sống lại các sinh linh\nĐông cung sáng suốt treo vừng nhật\nKịp gửi thuyền Tây\n( *) để tới Kinh\n1906\n(Theo Đặng Đoàn Bằng: Việt Nam nghĩa liệt sử,\nNxb Văn hóa, Hà Nội, 1955).\nNăm 1910, Đặng Thái Thân cùng Lê Khánh đến cơ sở ở làng Phan Thôn (nay là xã Nghi Kim huyện Nghi Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Cơ sở này bị lộ, mật thám Pháp và tay sai đem lính đến vây bắt. Đặng Thái Thân cùng Lê Khánh bắn trả bọn giặc. Lê Khánh bị chúng bắn chết. Đặng Thái Thân nhẩy lên mái nhà bắn chết 2 tên mật thám, còn viên cuối cùng bắn vào thái dương tự sát.\nCái chết của Đặng Thái Thân đã gây niềm tin lớn cho đồng bào là Việt Nam vẫn còn nhiều người dám hy sinh thân mình để cứu nước..\n(*) Tức thuyền máy\n\nTrần Kỳ Phong tự Nghĩa Bình sinh năm 1872 người Chu Me, xã Bình Châu, huyện Kim Sơn, tỉnh Bình Định. Ông đỗ tú tài năm Nhâm Dần (1902) nên thường gọi là Tú Trần. Ông tham gia phong trào Cần vương từ khi còn rất trẻ. Năm 1905 ông tham gia hoạt động cho Duy tân hội, hoạt động liên tục trong các cuộc vận động mở trường dạy chữ quốc ngữ chữ Pháp, cắt tóc ngắn, đùng hàng nội hóa.\nNăm 1906, Trần Kỳ Phong và một đồng chí ở Quảng Ngãi vượt biên sang Trung Quốc để sang Nhật du học. Các ông đi tới Quảng Đông thì gặp Phan Bội Châu. Phan Bội Châu đã biết ông là người có lòng nhiệt thành, có dũng khí, có thể đương được gánh nặng, Phan nói với ông rằng: \"Mục đích của chúng ta ngày nay là cốt ở cách mệnh, mà cách mệnh sở dĩ thực hành được tất ở trong nước có người vận động, cẩn thiết hơn tại ngoại du học nhiều lần. Bởi vì du học chỉ là bồi dưỡng nhân tài kiến thiết, mà nhân tài thuộc về phần phá hoại thì không thể chỉ dựa vào nhân tài du học được”.Hai ông nghe lời Phan Bội Châu vui lòng trở về nước vận động.\nNăm 1908 Trần Kỳ Phong tích cực tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Phong trào chống thuế bị đàn áp dữ dội, người bị bắn chết, bị tra tấn đến tàn phế, bị đầy đi Lao Bảo, Buôn Ma Thuột, Côn Đảo. Tòa án Nam triều tỉnh Quảng Ngãi kết án ông vắng mặt với án bắt được chém lập tức. Ông rút vào hoạt động bí mật.\nNgày 5/11/1908 Trần Kỳ Phong bị chính quyền thực dân bắt ở Cửa Đại (Quảng Nam). Thực dân Pháp và Nam triều đã hai lần xét lại bản án, cuối cùng tuyên án ông 13 năm tù khổ sai. Ở trong nhà tù của đế quốc, Trần Kỳ Phong vẫn kiên cường bất khuất, liên tục đấu tranh. Ông luôn luôn sẵn sàng hy sinh thân mình cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc với quan niệm; \"Góc biển rừng hoang xương anh hùng không cần lựa chỗ”.\nKhi mãn hạn tù trở về, tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1923 ông lập \"Hội Thiếu niên ái quốc\", năm 1925 ông thành lập \"Công ái đảng”. Khi hội Phục Việt do Tôn Quang Phiệt, Trần Phú thành lập ở thành phố Vinh sau đổi thành Đảng Tân Việt, ông tham gia với kinh nghiệm hoạt động dày dạn của mình, ông đã cùng Tú Kiên, Giải Huân truyền lại cho lớp trẻ như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Sỹ Sách.\nNăm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Trung Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội.\nNăm 1926 ông tham gia đảng Tân Việt rồi Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Cuối năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt.\nKhi mãn hạn tù, mặc dù tuổi già, sức yếu ông vẫn tận tụy, trung thành với Tổ quốc. Khi ông ra tù thì Đảng Cộng sản Đông Dương đã thành lập, ông thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng như những chiến sĩ cộng sản.\nTrần Kỳ Phong mất năm 1941.\n\nNguyễn Thần Hiến còn có tên khác là Nguyễn Như Khê, bút tự Phác Đình, biệt hiệu Chương Chu và Hoàng Xương, tục gọi là Hội đồng Hiến. Ông sinh năm 1856. Ông vốn gốc người Quảng Trị, tổ làm quan đời Gia Long.\nNguyễn Thần Hiến có mối quan hệ với Phan Bội Châu từ tháng giêng năm 1904 ở Sa Đéc khi Phan Bội Châu vào Nam Kỳ kết giao với cắc đổng chí. Vì vậy tháng 5/1904, hội Duy tân thành lập, Phan Bội Châu đã giao cho Nguyễn Thành vào Hà Tiên bàn bạc với Nguyễn Thần Hiến để phát triển hội ở các tỉnh Nam Kỳ.\nNguyễn Thần Hiến hăng hái tham gia và trở thành một yếu nhàn của Duy tân hội. Ông đã sáng lập \"Khuyến du học hội\" và đã đem một phần tài sản riêng với số tiền 20.000 đồng sung vào quỹ Hội. Việc làm của ông đã gây thành phong trào quyên góp, ủng hộ quỹ của phong trào Đông du do Duy tân hội tổ chức ở các tỉnh Nam Kỳ.\nNăm 1908 ông lên Sài Gòn tiễn chân con trai duy nhất là Nguyễn Như Bích Đông du sang Nhật. Nguyễn Thần Hiến đã bị mật thám Pháp theo dõi từ lâu, nên sau việc này ông bị nhà cầm quyền Pháp truy nã gắt gao.\nCuối năm 1908, Nguyễn Thần Hiến phải cùng Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn An Khương (thân phụ Nguyễn An Ninh), Bùi Chí Nhuận chạy vào Cần Thơ, ra biển trốn sang Cao Miên rồi đi Xiêm La nơi có cơ sở của những người Việt Nam yêu nước. Các ông ở Băng Cốc hơn một năm rồi sang Trung Quốc, hoạt động ở các tỉnh Quảng Đông, Hồng Kông, Thượng Hải, Hàng Châu sau đó sang Nhật Bản, hoạt động trong phong trào Đông du của Phan Bội Châu.\nTháng 5/1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải tán Duy tân hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội, chủ trương chống thực dân Pháp với tôn chỉ độc lập, dân chủ. Nguyễn Thần Hiến được cử giữ chức Tổng ủy viên Sự vụ trong Chính phủ lâm thời giải phóng dân tộc. Nguyễn Thần Hiến đại diện cho Nam Kỳ ở bộ Bình nghị. Ngoài các nhiệm vụ ở bộ Sự vụ và bộ Bình nghị, Nguyễn Thần Hiến còn lo quyên góp tiền dùng vào công cuộc cách mạng cứu nước.\nĐể có vũ khí chuyển về nước đánh Pháp, Nguyễn Thần Hiến cùng các ông Nguyễn Quang Diêu, Huỳnh Hưng, Đinh Hữu Thuật tổ chức sản xuất tạc đạn trong tô giới Anh ở Hồng Kông. Không may, một người sơ ý để tạc đạn nổ, các ông bị cảnh sát Anh ở Hồng Kông bắt ngày 5 tháng 6 năm 1913. Bọn cầm quyền Pháp ở Việt Nam yêu cầu cảnh sát Anh giao cho Pháp để đưa về xét xử tại Hà Nội. Các ông bị giải về Hà Nội giam ở nhà lao Hỏa Lò, bị chúng tra tấn cực kỳ dã man, tàn bạo. Nguyễn Thần Hiến đã bước vào tuổi 58, sức yếu không chịu được đòn đã bị liệt nửa người, thổ huyết, bọn Pháp đưa ông vào nhà thương của nhà lao. Tại đây ông tiếp tục tuyệt thực.\nÔng mất vào ngày mồng 1 tết Nguyên đán năm Giáp Dần (ngày 26 tháng Giêng năm 1914) Bọn cầm quyền Pháp không chôn cất ông, mà đưa ông qua trường Thuốc cho sinh viên giải phẫu. May sao có mấy sinh viên Nam Kỳ như Nguyễn Tấn Đởm, Võ Xuân Hoành nhận diện được ông và giữ nguyên thi hài và báo cho gia đình. Một tháng sau, cháu ruột gọi ông bằng chú từ Hà Tiên ra xin xác nhà cầm quyền, đưa về táng ở nghĩa trang Nam Việt ở Hà Nội (Sau năm 1954 nghĩa trang này dời đi, nay không rõ mộ ông chuyển đi đâu).\n\nTrong số người hoạt động công khai cho Hội Minh tân ở Nam Kỳ, hăng hái, có hiệu quả nhất là Gilbert Trần Chánh Chiếu, sinh năm 1867. Ông còn có nhiều bút danh, bút hiệu, nhưng bút danh thường ký là Trần Tứ Duy, Trần Thiếu Chánh, Gilbert Chiếu. Ông là con cụ Tú tài Trần Hữu Thườag một nhà giáo mẫu mực và nhiệt tình yêu nước. Quê ở xã Phú Thuận, quận Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ông làm quan phủ, nhưng hoạt động tích cực cho phong trào Minh tân, nên được gọi là quan phủ Minh tân.\nHoạt động của Trần Chánh Chiếu trên hai lãnh vực kinh tài và báo chí. Hoạt động kinh tài của ông chủ yếu gây quỹ cho Hội Minh tân, gửi sang Nhật nơi học sinh du học.\nHội Minh tân khuyến khích lập các hãng buôn, công ty, nhà hàng, khách sạn. Riêng Trần Chánh Chiếu đã đứng chủ hoặc hùn vốn với người khác kinh doanh như:\n- Nam Trung khách sạn ở đường Amiral Korantz (sau đổi là Phan Văn Hùm) do Trần Chánh Chiếu làm Tổng lý.\n- Minh tân khách sạn ở Mỹ Tho, cơ sở của Huỳnh Đình Điển, nhân sĩ yêu nước ở Gò Công, là sáng lập viên của Nam Kỳ Minh tân công nghệ, cho Trần Chánh Chiều mượn làm nơi đứng tên hội họp, do Trần Chánh Chiếu quản lý. Sau vì ông bận quá nhiều việc phải giao cho Huỳnh Đình Điền quản lý.\n- Nam Kỳ Minh tân công nghệ do Trần Chánh Chiếu và Nguyễn Thành Út sáng lập ở Chợ Lớn do Trần Chánh Chiếu làm Tổng lý. Cơ sở chuyên sản xuất xà bông, diêm quẹt, dệt vải.\n- Mỹ Tho Minh tân túc mễ Tổng cuộc Mỹ Tho chuyên mua lúa. Trần Chánh Chiếu lấy danh nghĩa là phủ hàm hùm vốn 1 000 đồng.\n- Công ty Nhàm ở Sài Gòn lập nhà in nhật trình, sách vở do một người Pháp là Pirre Jeautet làm Tổng lý, Trần Chánh Chiếu làm phó.\nNhững người tham gia Minh tân hội còn thành lập rất nhiều công ty, khách sạn, nhà hàng, thương cuộc như Minh tân thương cuộc ở Tầm Vu, Tân An; Nam Mỹ thương quán ở Vĩnh Long; Nam Mỹ Thanh thương quán ở Vĩnh Long; Nam Hoà Lợi ở Bến Tre, kinh doanh rượu, thuốc tây, dụng cụ học trò...Tế Nam khách sạn ở Sài Gòn; Nam Đồng Hướng Lữ quán ở Cao Lãnh; Y dược công ty ở Sài Gòn; Nam Hoà buôn bán lúa gạo ở Bến Tre và rất nhiều cơ sở kinh doanh ở Nam Kỳ.\nTrần Chánh Chiếu và các đồng chí của ông trong phong trào Minh tân còn tích cực hoạt động trên lãnh vực báo chí. Các tờ báo Nông Cổ mín đàm, Đại Nam Đồng Văn nhật báo, Lục tỉnh tân văn đã có rất nhiều bài xã luận, bình luận, tường thuật... cổ động cho phong trào Minh tân. Đáng chú ý là hai tờ báo lớn:\n- Nông cổ mín đàm vốn là của Canavaggio người Pháp, hội viên Hội đồng quản hạt. Sau giao cho các ông Đỗ Thúc, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Tấn Phong. Khi Canavaggio qua đời thì Nguyễn Chánh sắt làm chủ bút. Năm 1905 báo Nông cổ mín đàm thường xuyên hô hào canh tân, cải cách nông nghiệp, công nghệ... Trong các năm 1906, 1907 khi Trần Chánh Chiến làm chủ bút, ông đã đăng trên báo này chủ trương Minh tân kêu gọi các nghiệp chủ, điền chủ, tổng lý gia nhập Hội Minh tân. Sau đó lại tập hợp các bài mình viết in thành một tập sách với nhan đề “Minh tân tiểu thuyết”.\n- Năm 1907 tờ Đại Nam Đồng văn Nhật báo đổi thành Đông cổ tùng báo. Tờ báo này là của người Pháp tiến bộ là Francois Henry Schneider. Tờ Đông cổ tùng báo đã đăng nhiều bài kêu gọi lòng yêu nước, chống phong kiến góp phần hỗ trợ phong trào Duy tân. Báo tồn tại được 8 tháng, thì ngày 11/11/1907 bị đóng cửa.\n- Báo Lục tỉnh tân văn, chủ nhiệm là Pierre Jeantet là người Pháp tiến bộ, chống thực dân Pháp. Báo do Trần Chánh Chiếu làm phó chủ bút. Lục tỉnh tân văn công khai lập trường chính trị và hoạt động của hội Minh tân. Báo còn có các chuyên mục về văn nghệ, thơ, nhạc, tuồng, cải lương của các cây bút tiến bộ như Đặng Thúc Liêng, Hoàng Thế Trạc. Đến số 51 thì Trần Chánh Chiếu bị bắt, Lương Khắc Ninh thay thế, ra tới số 52 thì bị nhà cầm quyền Pháp đóng cửa. Đây là báo công khai chống thực dân Pháp\n(Theo Nguyễn Hữu Hiếu: Một trăm năm Duy tân ở Nam Kỳ,\nTạp chí Xưa và Nay số 235 tháng 5/2005).\n\nNguyễn Háo Vĩnh sinh ngày 19 tháng 2 năm 1893 tại làng Bình Đức, Long Xuyên. Theo chủ trương của Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành, năm 1905 đưa thanh niên Việt Nam “Đông du” sang Nhật học.\nNguyễn Háo Vĩnh khi đó ở vào tuổi 13 nhưng tác phong nhanh nhẹn, học hành thông minh, sớm căm thù giặc Pháp cướp nước nên được cử đi học đợt đầu ở Nam Kỳ.\nSang Nhật, Nguyễn Háo Vĩnh vào học trường công nghệ, song hoạt động của phong trào Đông du đã bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ.\nNăm 1909 nhà cầm quyền Pháp thông đồng với chính quyền Nhật Bản trục xuất Phan Bội Châu, Cường Để và du học sinh Việt Nam tại Nhật. Phần lớn học sinh chạy về Trung Quốc, Xiêm La. Riêng Nguyễn Háo Vĩnh được ông Nguyễn Háo Văn đón về Hồng Kông tiếp tục học ở trường Saint Joseph English.\nKhi Nguyễn Háo Vĩnh về nước thì xảy ra việc Minh Tâm công nghệ do các ông Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng đang xúc tiến xây dựng nhà máy diêm quẹt ở Mỹ Tho phải ngừng lại vì không được nhà cầm quyền cấp phép.\nTrước tình hình đó Nguyễn Háo Văn dẫn Nguyễn Háo Vĩnh đến trình diện Toàn quyền Klobukowski. Nguyễn Háo Vĩnh bị Toàn quyền Đông Dương tra hỏi anh sang Nhật học do ai cung cấp tiền. Nguyễn Háo Vĩnh bình tĩnh trả lời: “Tôi đi Nhật học do tiền của công ty Minh tân cung cấp để sau này trở về trông nom xưởng diêm quẹt của công ty”.\nVới ý đồ gài Nguyễn Háo Vĩnh vào tổ chức Minh tân để thực hiện âm mưu phá tổ chức yêu nước từ trong phá ra, Toàn quyền Klobu Kowski hỏi ông Nguyễn Háo Văn có muốn mua lại cổ phần Minh tân công nghệ không? Ông Nguyễn Háo Văn trả lời là muốn mua phần lớn cổ phần công ty Minh tân để Nguyễn Háo Vĩnh nắm quyền kiểm soát nhà máy diêm quẹt Mỹ Tho. Toàn quyền Đông Dương bắt Trần Chánh Chiếu giao quyền điều khiển nhà máy hợp quẹt cho Nguyễn Háo Vĩnh, không giao cho Đặng Thúc Liêng nữa. Trần Chánh Chiếu thực hiện ngay lệnh của Toàn quyền Đông Dương.\nTừ đó Nguyễn Háo Vĩnh tiếp tục xây dựng và quản lý nhà máy diêm quẹt. Khi nhà máy đã đi vào hoạt động có nền nếp, Nguyễn Háo Vĩnh tuyên bố xưởng bị thua lỗ xin toà phát mãi để giao tiền lại cho Minh tân.\nTừ ngày 3/11/1909 Kỳ Ngoại hầu Cường Để bị Chính phủ Nhật trục xuất, Cường Để về Hồng Kông. Năm 1913, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến từ Nam Kỳ vượt biển sang Hồng Kông mời Kỳ Ngoại hầu Cường Để về Nam Kỳ để lòng dân tin tưởng. Cuối tháng 5/1913 Nguyễn Háo Vĩnh khi đó đang học ở Hổng Kông đã giúp Kỳ Ngoại hầu về Nam Kỳ. Cường Để trở lại Hồng Kông cũng bị mật thám Anh bắt, ông Nguyễn Háo Vĩnh và ông Lâm Cần ở Hồng Kông thuê luật sư bào chữa với tiền thế chân là 2000 đồng, nên Cường Để chỉ bị giam 8 ngày thì được tha. Sau đó Cường Để đi Anh, đem theo ông Trương Duy Toản giỏi tiếng Pháp, Đồ Văn Y giỏi tiếng Đức, Lâm Tỷ giỏi tiếng Anh từ Singgapor đi Luân Đôn (Anh). Nguyễn Háo Vĩnh sau khi tốt nghiệp ở Hồng Kông cũng đi Luân Đôn liên lạc với Cường Để.\nNăm 1916 Nguyễn Háo Vĩnh bị mật thám Anh bắt ở Hồng Kông giao cho mật thám Pháp ở Sài Gòn. Toà kết án tử hình, sau nhờ cụ Nguyễn Háo Văn chạy chọt, nên được giảm án. Khoảng năm 1923 được tha, ông trở về Sài Gòn làm báo. Ông là sáng lập viên của hai tò báo Hoàn Cầu tân văn và Nam Kỳ kinh tế báo. Ông cũng là chủ nhà in Xưa Nay ở Sài Gòn.\nNăm 1928, Nguyễn Háo Vĩnh bị bắt giải ra toà về tội “rải giấy in nói chuyện” tầm bậy (thực ra là chuyện chính trị).\nNgày 29/7/1934 Nguyễn Háo Vĩnh thọ pháp pháp (tu theo pháp môn Cao Đài Chiếu minh tam thanh).\nNguyễn Háo Vĩnh mất ngày 19 tháng 6 năm Tân Tỵ (1941). Mộ phần xây có tháp tại trước nhà đàn mang tên “Trước Tiết Tàng Thơ” tại Thủ Thiêm, Thủ Đức nay là phường An Khánh quận 2 thành phố Hồ Chí Minh mà ông xây dựng từ khi chưa theo đạo Cao Đài.\n\nĐặng Thúc Liêng sinh năm 1867, thuở nhỏ tên là Đặng Văn Huấn, năm 18 tuổi ông lấy biệt hiệu là Trúc Am, năm 30 tuổi ông đổi tên là Đặng Thúc Liêng, biệt hiệu Lục Hà Tẩu, bút tự Mộng Liêm. Ông nguyên quán ở làng Tân Phú Trung, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định nay thuộc xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.\nNăm 1904, Phan Bội Châu, Nguyễn Thành... thành lập Duy tân hội, phát động phong trào Đông du. Phong trào từ miền Trung nhanh chóng phát triển vào Nam Kỳ. Những người hưởng ứng phong trào Đông du đầu tiên là Trần Chánh Chiếu (Gibbert Chiếu) Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương... Đặng Thúc Liêng đã tích cực trong việc vận động tuyển chọn thanh niên đi du học, quyên góp tài chính cho phong trào Đông du. Đặng Thúc Liêng hoạt động trên nhiều lãnh vực: báo chí, văn, thơ, dịch thuật, phê bình văn học, sân khấu, y dược. Ông còn là người tích cực cổ động cho việc học chữ Quốc ngữ.\nĐặng Thúc Liêng với bút danh Lục Hà Tẩu, Mộng Liêm, Phụ viên thập bát (18 thôn vườn trầu), ông đã viết cho các tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đại Việt Tạp chí, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn, Thần chung, Công luận báo. Từ chỗ tham gia viết báo, Đặng Thúc Liêng đã giữ vai trò người chủ trương ra báo chí. Năm 1933, ông sáng lập và làm chủ bút báo Việt Dân, xuất bản ở Sài Gòn, công kích bọn tay sai, thân Pháp, đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu thân Pháp. Tháng 1 năm 1938 khi nhà cầm quyền Pháp đóng cửa báo Việt Dân, ông chuyển sang phụ trách biên tập tờ Tạp chí Văn học Đông Phương.\nTrong hoạt động báo chí của ông có những bài xuất sắc, nêu cao tinh thần tự chủ dân tộc như bài xã luận “Quốc văn hồn” đăng ở Đông Pháp thời báo số tháng 5/1926, đăng lại trên báo Đông Phong số 31 tháng 12 năm 1943.\nTrong văn học, Đặng Thúc Liêng sáng tác, biên khảo, dịch thuật, làm thơ, bình luận. Trong đó sách văn học có Quốc văn hồn, Hán văn thi tập, Việt âm thi tập, Tiểu Phù viên thi văn toàn tập, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Việt Nam Trung lương công thần, Lê Văn Duyệt. Sách khuyến nông có các quyển Tâm bổn mễ thượng, Canh hoang biến pháp. Sách giáo dục đạo đức có Tâm quyền giải, Tu lưỡng học dĩ phục nhơn tâm... Sách Tôn giáo có Cao Đài đàm quái giáo nghị...\nTrong hoạt động văn học, thơ của Đặng Thúc Liêng cũng được độc giả đương thời ca ngợi. Đặc biệt thơ của ông ca tụng những canh tân của đất nước theo chủ trương của Duy tân hội. Ông có bài thơ trên báo Nông cổ mín đàm ca ngợi báo có ích đốivới quốc dân. Báo Nông cổ Mín đàm mở cuộc thi thơ cũng lấy bài thơ “Sùng tu VănThanh miếu” của ông làm đề tài cho cuộc thi thơ. Trong số những người hưởng ứng có nhà văn yêu nước Nguyễn Chánh Sắt mà hai năm sau, ông cùng với Trần Chánh Chiếu là yếu nhân của phong trào Duy tân và Đông du. Đặng Thúc Liêng cũng sáng tác cổ vũ cho phong trào thơ mới. Ông còn phê bình thơ như bài: “Đọc Thanh quan thi hữu cảm thỉnh dẫn” đăng trên “Đại Việt tạp chí” năm 1918. Ông quan niệm: “Thi ca là để tỏ cái chí khí và ý thức của người, chẳng phải để làm trò vui về lối văn chương... Vậy mới biết người mà không chí khí, không ý thức, thời có thể làm được thi ca gì”.\nVề sân khấu, Đặng Thúc Liêng đã có công phục hồi, chấn hưng loại hình hát tuồng, hát bội, hát cải lương. Ông soạn sách Tuồng “Trưng nữ vương” ca ngợi khí phách chống giặc ngoại xâm của Trưng Trắc, Trưng Nhị.\nVới chủ trương “Người Nam dùng thuốc Nam”, năm 1934, Đặng Thúc Liêng sáng lập “Việt Nam y dược hội”.\nĐặng Thúc Liêng còn là một nhà từ thiện, năm 1926, các tỉnh Bắc Kỳ bị vỡ đê, lụt, Đặng Thúc Liêng đã đi khắp nơi diễn thuyết “Quốc văn hồn” kêu gọi đồng bào lạc quyên, cứu trợ...\n\nLê Cơ sinh năm 1870 là con ông Lê Tuân ở Quảng Nam thuộc dòng dõi vua Lê Thánh Tông. Ông sinh quán ở làng Phú Lâm, huyện Lễ Dương, sau đổi là Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Lê Cơ là người có khí phách, ngang tàng, sẵn sàng đương đầu với cường quyền, đấu tranh cho công bằng xã hội. Ở làng Phú Lâm, chức Lý trưởng từ xưa đến nay không ai muốn làm, vì thế đã ba năm liền, Phú Lâm không có lý tưởng. Tri phủ Thăng Bình ép ông ra làm lý trưởng. Từ đó ông còn có tên là Lý Cơ hay Lý Sáu. Lý Cơ đã thực hiện cải cách, xóa bỏ những bất công ở làng Phú Lâm tồn tại từ nhiều năm nay.\nNhững cải cách của Lê Cơ lại đi đúng đường lối của nhóm Minh tân xã trong hội Duy tân do Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng chủ trương là chấn hưng kinh tế, lập hội buôn, bài trừ hủ tục, mở mang việc học để khai hóa dân trí làm cho quốc phú, dân cường. Đó là điều thực dân Pháp và bọn quan lại Nam triều làm tay sai cho chúng đang thực hiện một chính sách kìm hãm kinh tế, ngu dân để chúng dễ bề thống trị.\nTrong buôn bán, Lê Cơ cũng thực hiện có bài bản, xin bằng của quan phủ rồi mới lập Hội buôn. Hội buôn này theo Huỳnh Thúc Kháng chỉ: “mua giấy bút bán cho học trò, cùng mắm muối bán cho dân cày, như một cái quán trong nhà quê”. Nhưng thực ra đó là một đại lý cho người nghèo đến nhận hàng đem đi bán rồi ăn hoa hồng. Hội buôn mà lại có cả lò rèn rèn nông cụ và cả lập vườn trồng quế. Lê Cơ đã biến hội buôn thành nơi hội họp công khai. Vì thế quan phủ đòi lại bằng Lê Cơ không chịu trả cứ thế dằng co mãi. Cuối cùng quan phủ kiện Lê Cơ lên toà sứ. Sứ gọi hai người lên hầu toà. Quan phủ cay cú lắm, còn quan sứ đâu cũng có thực lòng xử cho Lê Cơ được kiện. Lê Cơ biết như vậy, song ông không chịu lùi mà hội lập hội Bảo hiểm vườn quế với quy mô lớn có trạm gác, có cắm cờ biển, tất nhiên các chi phí đó các chủ vườn quế phải đóng góp. Điều đó làm cho quan phủ và tổng lý, chức dịch tay chân của quan phủ tức muốn chết. Song Lê Cơ không sợ, vẫn dũng cảm trong cuộc chiến. Đang kỳ thu thuế, các chánh tổng 4 tổng mở cuộc hát bội để thu tiền của các xã. Lê Cơ viết câu đối trên vải điều treo công khai trong đám hát bội:\nDịch:\nTổng thời thuế chưa xong, xâu chưa hết, lợichưa hưng, hại chưa trừ, vui gì vậy? Xã thì gia chẳng an, trẻ chẳng học, trai chẳng cày, gái chẳng dệt, hát làm chi.\nChánh tổng tức lắm, thu đôi câu đối. Những cải cách của Lê Cơ được phe Duy tân ca ngợi, nhưng bọn cầm quyền Pháp và Nam triều thì bầm gan, tím ruột. Chúng ton hót về mối nguy cơ đối với nền bảo hộ của Pháp quốc ở Việt Nam, đến nỗi công sứ Pháp xưa xử cho ông được kiện nay cũng phải đề phòng. Công sứ phải cho mở một con đường chiến lược từ phủ Thăng Bình qua Phú Lâm tới huyện Tam Kỳ để chở quân đối phó với loạn Lê Cơ - một cuộc nổi loạn tưởng tượng đó, thực dân Pháp đóng một đồn binh ngay giữa làng Phú Lâm, cái lô cốt cao nghện chĩa nòng khẩu súng máy vào nhà Lê Cơ.\nLê Cơ đâu có sợ cái đồn đó, ngay từ khi bọn giặc mới tới, đi chặt tre, cắt gianh của dân, đã bị Lê Cơ sai tuần đinh lấy gông, gông cổ lại. Tên thiếu uý phải đến xin lỗi. nhận đền mỗi cây tre theo thời giá là hai giác. Chưa hết, tên đồn trưởng nuôi dê, dê chạy sang phá vườn nhà Lê Cơ. Hai lần đầu, ông trói lại đem trả. Lần thứ ba, ông chặt chân dê rồi kêu đồn trưởng ném trả. Tên thiếu uý đồn trưởng cũng không dám làm gì ông.\nTháng 3 năm 1908, nổ ra cuộc cự sưu, kháng thuế của nông dân huyện Đại Lộc rồi nhanh chóng lan ra cả tỉnh Quảng Nam, rồi tới Thừa Thiên. Thực dân Pháp bắt các ông Trần Quý Cáp cùng nhiều yếu nhân khác xử chém. Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng bị đầy ra Côn Đảo. Lê Cơ và anh rể là Lê Lương bị kết án 3 năm tù. Lê Cơ ở tù về vẫn nuôi ý chí chống Pháp, song có một điều ông giác ngộ là không thể chấn hưng kinh tế, thực hiện dân quyển, khai hóa dân trí khi đất nước bị giặc Pháp đô hộ, mà trước hết phải vũ trang đánh đuổi giặc Pháp trước. Vì vậy năm 1914 ông đã bí mật gia nhập tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ở Quảng Ngãi do các chí sĩ Lê Ngung, Lê Đình Dương, Nguyễn Thuỵ, Nguyễn Suý lãnh đạo\n(*). Trong cuộc khởi nghĩa này, Lê Cơ được cử giữ chức Ngự tiền hộ giá Đại tướng quân (đặc trách hầu cận vua Duy tân) kiêm Tổng đốc Nam Ngãi Lưỡng Quảng (Quảng Nam - Quảng Ngãi). Ông được phân công cùng Thái Phiên nổ phát súng lệnh ở đồn Mang Cá trong kinh thành Huế.\nKhởi nghĩa được quyết định nổ ra vào tối mùng 3 rạng ngày mùng 4 tháng 5 năm 1916. Song các nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa không ngờ rằng cuộc khởi nghĩa đã bị tiết lộ trước 2 tiếng đồng hồ. Giặc Pháp đã thu súng của lính khố xanh, khố đỏ, cấm trại, giặc Pháp đã điều động lính Âu - Phi, lính Lê dương chặn các ngả đường, bao vây các trung tâm khởi nghĩa.\nThái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Để, Nguyễn Duy Siêu, Phan Thành Tài, Lê Cơ bị giặc Pháp bắt. Giặc Pháp đã xử chém các ông Thái Phiên,Trần Cao Vân, Tôn Thất Để, Nguyễn Quý Siêu, Phan Thành Tài ở An Hoà, đày vua Duy Tân sang đảo Reunion. Lê Cơ, Trần Huỳnh, Trần Tùng Vân bị đày đi Lao Bảo cùng với 60 đồng chí. Ngày 21 tháng 9 năm Mậu Ngọ (1918), bọn cai ngục bắt các tù nhân đi lao dịch. Lê Cơ được chứng kiến tên quản ngục hành hạ dã man một người tù bị bệnh kiết lỵ, ông vô cùng phẫn uất, sẵn con dao vót nan cầm trong tay, ông lao vào đòi chặt đầu tên quản ngục, lập tức một tên lính đứng gần đó xả một loạt đạn vào người ông, ông hy sinh.\n(*) Họ Lê dòng dõi Lê Thánh Tông ở tỉnh Quảng Ngãi có rất đông người tham gia Việt Nam Quang Phục hội như Lê Đình Dương con cụ Lê Đĩnh, Lê Bá Trinh, nay thuộc quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, hai anh cm Lê Chân Hàn (Lê Cảnh Thái), Lê Chân Nam (Lê Cảnh Vận)... đều là những yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội.\n\nĐặng Nguyên Cẩn tên cũ là Đặng Thúc Nhận, lại có tên là Đài Nhận, hiệu Thai Sơn, sinh năm Đinh Mão (1867).\nÔng là người thông tuệ, học giỏi, thi đỗ cử nhân khoa Mậu Tý (1888), đỗ phó bảng khoa Ất Mùi (1895), năm 29 tuổi. Ông được bổ làm giáo thụ huyện Hưng Nguyên, sau thăng Đốc học Hà Tĩnh.\nNăm 1906, Đặng Nguyên Cẩn xin phép nhà cầm quyền Pháp mở trường tư thục dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp ở huyện Thanh Chương, Nghệ An. Ông còn thành lập nhiều hội buôn, trong đó có Triều Dương thương quán để lấy tiền lãi ủng hộ quỹ Đông du và là nơi các đồng chí hội họp. Các hoạt động yêu nước của ông ảnh hưởng sâu rộng trong các giới đồng bào Nghệ Tĩnh. Nhà cầm quyền Pháp và Nam triều lo sợ ảnh hưởng của ông ngày càng lan rộng gây khó khăn cho sự cai trị của chúng, nên đổi ông vào Bình Thuận và giám sát ông chặt chẽ. Tuy ông đã đổi vào tận Bình Thuận nhưng Cao Ngọc Lễ tên phản bội đã giết chết Tống Duy Tân và nhiều nhà hoạt động cách mạng khác, nay được Pháp cho làm Án sát Nghệ Tĩnh vẫn cho người giám sát ông, kiểm soát các thư từ của ông gửi về Nghệ Tĩnh và của các bạn ông từ Nghệ Tĩnh gửi vào Bình Thuận.\nNăm 1908 nhân phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, thực dân Pháp vu cáo cho ông âm mưu nổi loạn, bắt ông đày đi Côn Đảo. ít lâu sau tên Cao Ngọc Lễ cũng bắt Ngô Đức Kế đưa đi đày ở Côn Đảo cùng với nhiều nhà cách mạng khác. Đặng Nguyên Cẩn không những là một nhà sư phạm tài giỏi, một nhà hoạt động chính trị nhiệt thành mà còn là một nhà văn hóa. Đặng Nguyên Cẩn không những là một nhà sư phạm tài giỏi, một nhà hoạt động chính trị nhiệt thành mà còn là một nhà văn hóa. Ông được giới sĩ phu Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX suy tôn là bậc đàn anh về đạo đức và trình độ uyên tâm Hán học. Một số bài thơ của ông được in trong tập “Thi tù tùng thoại” và “Thi tù thảo” của Huỳnh Thúc Kháng. Trong đó có một số bài được liệt vào loại xuất sắc như:\nTIỄN PHAN SÀO NAM\nNAM\nDU\n( 1)\nBắc châu vị dĩ phục Nam châu,\nHồ hải hào tâm bất khẳng thâu\nTự tiếu thử sinh do bạch diện\n( 2)\nKhả vô kỳ khí ngạo thương châu\nThai Dương\n( 3) thái được tầm cao sĩ,\nTrường Lũy\n( 4), quan bi điếu cổ hầu\nĐộc hữu Tam Thai\n( 5) nhàn tàn hữu;\nTương tư tịch tịch ỷ giang lâu\nDịch thơ:\nTIỄN CỤ PHAN SÀO NAM VÀO NAM\nVừa ra Bắc đó lại vào Nam\nHồ hải lòng hăng bước chửa nhàm\nTự nghĩ thân này còn mặt trắng\nHá không khí lạ ngạo đời phàm\nCổ hầu lũy nọ tìm bia đá,\nCao sĩ làng kia hái thuốc thơm\nLựa có Tam Thai người bạn cũ,\nGiang lầu ngồi dựa ngóng thâu đêm.\nHuỳnh Thúc Kháng dịch\n(Thi tù tùng thoại - Nxb Nam Cường Sài Gòn, 1951)\nDo chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc Pháp nên năm 1921, sau 13 năm bị đày đọa ở nhà tù Côn Đảo, thân hình ông tiều tụy, chỉ 2 năm sau, năm 1923 ông mất.\n(1) Vào khoảng năm 1904 Phan Bội Châu sau khi ra Bắc gặp gỡ các chí sĩ Bắc Kỳ, trở vào Nam kết giao với các nhân sĩ lục tỉnh.\n(2) Chỉ học trò, ý nói mình chưa làm nên sự nghiệp gì.\n(3) Gần cửa Thuận An, quê của Hoàng Quang tác giả của bài Hoài Nam khúc\n(4) Trường Lũy: Lũy Trường Dục, cũng gọi là Lũy Thày do Đào Duy Từ đắp ở Quảng Bình.\n(5) Tam Thai: tên một ngọn núi quê của Tác giả. Biệt hiệu Thái Sơn của tác giả lấy từ núi này.\n\nLê Khánh sinh năm 1886, người huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình công giáo. Ông học trường Tiểu chủng viện Xã Đoài, sau khi tốt nghiệp ông được vào học trường Đại chủng viện. Những sinh viên học trường Đại chủng viện được coi là Thày già, vì chỉ học trong vài năm là được phong Linh mục. Song Lê Khánh cảm thấy nỗi nhục nhã của người dân mất nước, trong khi cả dân tộc đang phải hy sinh cả núi xương, sông máu để đánh đuổi giặc Pháp thì mình lại đi tu. Ý chí chống giặc Pháp, muốn xả thân cứu nước thôi thúc trong tâm can Lê Khánh đã lâu, song quy định nghiêm ngặt của nhà trường là sinh viên không được tiếp xúc với bên ngoài, không được đọc các sách báo ngoài kinh sách của Giáo hội, nên không rõ tình hình trong nước và trên thế giới. Lê Khánh chỉ biết tâm sự cùng Lưu Song Tử những nỗi căm thù người Pháp của mình, nhưng cả hai người đều không biết hành động ra sao. May sao trong số những người truyền giáo châu Âu có một người tên Việt gọi là Bạch Nhị Nghĩa đã đem tình hình Nga - Nhật chiến tranh và các phong trào cách mạng ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong đó có tổ chức Duy Tân hội và phong trào Đông du do nhà chí sĩ Phan Bội Châu tổ chức và lãnh đạo.\nBạch Nhị Nghĩa cũng vì mối quan hệ trên với Lê Khánh và Lưu Song Tử mà ngay trong năm đó bị bãi chức truyền giáo. Tuy nóng lòng yêu nước, nhưng Lê Khánh cũng như Lưu Song Tử phải đợi đến năm Bính Ngọ và năm Kỷ Vị (1906 - 1907), tốt nghiệp được cử làm thày giảng ở Tòa Giám mục mới thoát được sự khống chế của các linh mục người Pháp, được tiếp xúc với những người ngoài tôn giáo, trong đó có ông Trần Văn Bỉnh là giáo dân tham gia Duy Tân hội, đã giới thiệu Lê Khánh với ba vị Linh mục là Nguyễn Trường, Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thận Đồng và thày già Mai Lão Bạng đều là chức sắc trong Tòa giám mục địa phận Vinh. Ba vị Linh mục yêu nước đã theo dõi từng bước đi của hai sinh viên Đại chủng viện, nên khi được ông Trần Văn Bỉnh giới thiệu ba vị linh mục đã giao nhiệm vụ cho hai thày già Lê Khánh và Lưu Song Tử.\nKhi Lê Khánh và Lưu Song Tử tham gia hoạt động hội Duy Tân thì ba vị linh mục phân công Mai Lao Bạng xuất dương sang Nhật giúp đỡ Hội chủ, cử Lê Khánh vận động thanh niên, giáo dân ở huyện Hương Sơn. Sau đó Lưu Song Tử được cử sang Nhật học, Lê Khánh cùng hoạt động với Đặng Thái Thân.\nLê Khánh cùng Đặng Thái Thân tiếp tục vận động thanh niên công giáo sang Nhật và quyên tiền gửi sang Nhật. Lê Khánh bị địch truy nã gắt gao, nhưng ông vẫn cùng Đặng Thái Thân cố gắng gây dựng lại cơ sở. Ông cùng Đặng Thái Thân dự định vũ trang khởi nghĩa vì sợ rằng nếu cứ để cho địch khủng bố thì dần dần phong trào sẽ đi đến chỗ tan rã. Thực dân Pháp đàn áp Duy Tân hội và phong trào Đông du ngày càng khốc liệt, nhiều hội viên bị bắt. Trong một chuyến công tác, Lê Khánh bị bắt, bị giam ở nhà lao Vinh. Giặc tra tấn ông vô cùng dã man, nhưng ông kiên trinh bất khuất, giặc không khai thác được tài liệu gì. Ông đã nhặt nhạnh, tích trữ lạt gói bánh tày bện lại thành dây để leo leo lên mái nhà, dỡ ngói trốn khỏi nhà lao. Năm 1910 Lê Khánh cùng Đặng Thái Thân đến họp ở làng Phan Thôn. Thực dân Pháp cho quân đến bao vây làng rồi xông vào bắt, Đặng Thái Thân nấp ở máng nước giữa hai mái nhà, dùng súng lục bắn trả bọn mật thám, giết chết được mấy tên, dành viên cuối cùng tự bắn mà chết, quyết không để cho giặc bắt. Lê Khánh thu hút giặc về phía mình để cứu Ngư Hải, bị trúng đạn chết, năm đó ông mới 25 tuổi.\n\nHồ Sĩ Tạo sinh năm Kỷ Tỵ (1869), người thôn Hòa Cư, làng Nhơn Hưng, tổng An Mỹ, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay là xã Hòa Cư, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Hồ Sĩ Tạo đậu Tú tài tại trường thi Hương Huế, năm 19 tuổi. Năm Tân Mão, Thành Thái thứ 3 (1891), ông đỗ cử nhân ở trường thi Bình Định. Ông được bổ làm giáo thụ ở Tuy Hòa. Vừa làm quan, ông vừa học, khoa thi Giáp Thìn, Thành Thái thứ 16 (1904), ông đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, năm 36 tuổi. Được bổ làm Thừa phái ở bộ Lại 4 năm, rồi bổ Tri huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa.\nNăm 1905, Hồ Sĩ Tạo, Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Tôn Thất Doãn đã bí mật tiếp xúc với Phan Chu Trinh trong chuyến đi vào Nam tìm bạn đồng tâm. Tuy vậy bọn mật thám Pháp cũng dò xét được cuộc gặp gỡ bí mật của các ông, báo cho Khâm sứ Trung Kỳ và triều đình Huế biết.\nHồ Sĩ Tạo hưởng ứng phong trào Duy tân và hoạt động tích cực cho hội. Đầu năm 1908, Hồ Sĩ Tạo về quê cư tang mẹ. Trong lúc ông đang ở quê thì ở Quảng Nam, Quảng Ngãi nổ ra vụ ''chống thuế, xin xâu\". Theo gương các nhà chí sĩ ở Nam - Ngãi, Hồ Sĩ Tạo phát động nhân dân Bình Định noi gương 2 tỉnh Nam Ngãi chống thuế. Tại đây ông kết thân với Tiến sĩ Trần Quý Cáp. Ông đã phát động được phong trào chống thuế, xin xâu rộng lớn ở Bình Định. Nhân dân tín nhiệm mời ông làm minh chủ. Xúc động trước sự tín nhiệm của nhân dân, ông đã từ quan về quê gánh vác công việc nhân dân giao phó.\nPhong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị bọn cầm quyền Pháp đàn áp khốc liệt, hàng trăm người bị bắn chết, bị giam, Hồ Sĩ Tạo cùng nhiều nhà lãnh đạo khác và nhân dân tham gia chống thuế bị thực dằn Pháp bắt. Bùi Giản, Tổng đốc Bình Định tay sai đắc lực của thực dân Pháp khép ông vào tội chết song ông chỉ bị án 12 năm tù giam ở nhà lao Bình Định.\nKhi ở trong tù, Hồ Sĩ Tạo làm nhiều thơ, trong đó có bài \"Xuân Nhật ngẫu cảm'' như sau:\n\"Năm mới ngày xuân cha chả vui\nVui rồi nghĩ lại vẫn bùi ngùi\nMột thân võng lọng, gông cùm đủ\nNửa áng xuân thu khổ xướng rồi\nChương chướng ngoài tai trâu ngựa gọi,\nKhăng khăng trong dạ đá vàng trui\nTừ đây cho đến về sau nữa\nSau nữa ra răng để thử coi\".\nMãi đến năm 1920 ông mới được ra tù. Ông không ra làm quan, ở quê nhà mở trường dạy học, giữ trọn tấm lòng son sắt với đất nước. Ông mất năm Giáp Tuất (1934) tại quê nhà.\n\nLê Thị Đàn người xóm Chỉ, thôn An Hòa, làng Thế Lại Thượng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên, xuất thân từ một gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước. Lê Thị Đàn thông minh từ nhỏ, nết na, đức hạnh. Bà được cha mẹ cho theo học chữ Hán, nên sớm hiểu đạo lý làm người.(Việt Nam Danh nhân từ điển của Nguyền Huyên Anh, nhà sách Khai Trí, 62 Lê Lợi, Sài Gòn viết là Nguyễn Thị Đang, có bản chép là Lê Thị Đàn: Trong Tái sinh sinh (Sống trở lại). Phan Bội Châu lại viết là Âu Vân phu nhân - Bài này Phan Bội Châu viết trước khi ông bị bắt (năm 1925).\nTháng 5 năm 1904, hội Duy tân thành lập, Lê Thị Đàn cũng tham gia hoạt động. Phan Bội Châu đã đặt bí danh cho Đàn là Ấu Triệu - tức là \"Bà Triệu nhỏ\".\nẤu Triệu đã liên hệ mật thiết với Nguyễn Thành, Đặng Thái Thân và các yếu nhân khác của hội Duy tân. Ấu Triệu đã lựa chọn những chị em là họ hàng, bạn bè thân thiết, nhưng phải là người chung thủy, dũng cảm thành lập ra các chi hội phụ nữ ở các tỉnh để lo từng việc của nhiệm vụ giao thông, liên lạc. Ấu Triệu đã học tập được ở các vị tiền bối phương pháp tuyên truyền, giáo dục đến tuyển chọn người vào tổ chức, đặc biệt là công tác giữ bí mật. Ấu Triệu đã cùng các chi hội phụ nữ đi buôn, khi là người vợ thăm chồng đang đi lính cho Chính phủ bảo hộ, lại có khi trong vai người gồng thuê, gánh mướn, áo quần tả tơi đi công khai trên đường, vượt qua các trạm kiểm soát, qua mắt các tên mật thám nhà nghề một cách an toàn. Có những việc cần kíp bà phải nhịn đói đi suốt đêm để tránh sự kiểm soát của địch. Lại có khi phải lẩn trốn trong rừng sâu hoặc trong buồng tối của các cơ sở tránh sự truy lùng gắt gao của mật thám. Chị em trong các chi hội cũng học tập được ở bà đức tính kiên trì, lòng quả cảm tận tụy để hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ đó trong hơn bốn năm trời sự liên lạc giữa ba kỳ Bắc - Trung - Nam được thông suốt, tiền gửi sang Nhật, tài liệu của Phan Bội Châu, Mai Lão Bạng từ Nhật gửi về nước được đưa đến đúng địa chỉ không hề mất mát.\nBà đã cùng với Nguyễn Đình Tiến vận động thí sinh bỏ kỳ thi khóa sinh ở huyện Hương Trà để phản đối thực dân Pháp và Nam triều.\nTrong phong trào chống thuế nổ ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi năm Mậu Thân (1908) bà đã cùng các ông Khóa Mãnh, Khóa Mộng kêu gọi nhân dân Thừa Thiên hưởng ứng. Căm thù giặc Pháp xâm lược và triều đình Huế, tay sai cho Pháp, Ấu Triệu không giữ nổi bình tĩnh và bí mật đã công khai chửi rủa thực dân Pháp và triều đình Huế, nên bị chúng bắt.\nBọn mật thám dùng đủ mọi cực hình tra tấn, nhưng bà vẫn không hề hé răng khai báo một lời. Chúng giải bà đến nhà lao Thừa Phủ (Huế), giao cho tên Trương Như Cương, Thượng thư bộ Hình, con chó săn trung thành của giặc Pháp, tên này lại biết rõ thân phận của bà. Trương Như Cương mất hết tính người, không cần giữ thể diện là đại thần của triều đình, tự tay tra tấn, hỏi cung bà, khi thì dụ dỗ ngon ngọt để bà khai ra tổ chức và những người có liên quan. Song Ấu Triệu là một nữ đảng viên trung kiên, có đạo đức. Bà là người đã từng ngược xuôi Nam Bắc, rèn luyện mình trong chốn gian nan. Mặc cho Trương Như Cương và bọn chúa ngục tra tấn cực kỳ dã man, bắt khai báo các đồng chí và kế mưu của Đảng, nhưng trước sau bà không chịu nói câu nào. Bà biết giặc không để cho mình sống, liền quyết định chọn lấy cái chết thanh thản, để đền nợ nước, liền đánh lừa Trương Như Cương.\n- Người trong Đảng và mọi việc của Đảng, tôi đều biết hết. Muốn lấy cung thì không thể trong chốc lát mà tôi nói ra đầy đủ. Bây giờ tôi đang đau lắm, miệng không thể nói ra được. Xin cho tôi được đến một căn phòng yên tĩnh để nghỉ ngơi một đêm rồi đem đến cho tôi giấy bút, tôi sẽ ghi cho những gì tôi nhớ được, tôi sẽ ghi hết cho mọi sự việc, để các người xem khỏi phải tra tấn làm gì cho mệt, mà tôi cũng đỡ đau đớn. Các người có bằng lòng cho tôi được như vậy không? Nếu không thì tôi sẽ chết dưới kìm hẹp của các người, thì các người cũng chẳng có lợi gì!\nTrương Như Cương tin là thật, làm theo mọi yêu cầu của bà, chỉ cho lính gác chặt chung quanh phòng bà ở. Được tự do, có nước sạch bà gội đầu, tắm rửa, mặc quần áo tươm tất. Bà bèn trải giấy ra dưới đèn, cắn tay hòa máu tươi, chấm bút viết rất nhanh, lời lẽ thao thao đến vài ngàn chữ. Bà tố cáo tội ác trời không dung, đất không tha của giặc Pháp xâm lược và tội dâng đất cầu hòa cam tâm làm chó săn cho giặc giết hại giống nòi của vua quan triều Nguyễn. Viết xong, bà dán lên tường. Rồi bà lại cắn lưỡi lấy máu đề luôn ba bài thơ tuyệt mệnh. Xong đâu đó, bà đập đầu vào tường chết.\nTrời sáng rõ, bọn lính canh mở cửa phòng, thấy sự việc như vậy, liền hô hoán lên, báo cho Trương Như Cương biết. Tên thượng thư Việt gian vô cùng tức tối vì \"thấp mưu, thua chí đàn bà\" sai đem thi thể bà cùng những lời lẽ bà tố cáo bọn giặc viết ra đem thiêu hủy. Riêng mấy bài thơ bà viết trên tường bọn giặc không nhìn thấy. Những lời thơ đó như sau:\nI.\nThê lương ngục thất mệnh chung thi\nHải khoát sa không khốc tự tri\nTử quốc đáo mùng thiên hữu phận,\nThương tâm quan lũ kỷ nam nhi\nII\nTrùng tuyền yểm lệ kiến Trưng Vương\nĐề huyết thư quyên chỉ tự thương\nBằng tạ Phật linh như tái thế,\nNguyên thân thiên lý, lý thiên sang\nIII\nHuyết khô lệ liệt hận non tiêu,\nTrường đoạn Hương Giang nhật dạ trào\nNgô đảng táo thanh cừu lỗ nhật,\nPhần tiền nhất chỉ vị nung thiêu\nDịch:\nI\nLạnh lùng cảnh ngục lúc quyên sinh\nBiển rộng đồng không mình biết mình...\nChết với non sông em tốt số,\nTrạnh lòng tủi hổ lũ trâm anh!\nII\nSuối vàng gạt lệ gặp Bà Trưng,\nMáu thắm hồn quyên khóc thảm thương.\nLạy Phật: thân này còn hóa kiếp,\nTay xin nghìn cánh, cánh nghìn thương\nIII\nHuyết lệ dầu khan, giận chửa sờn,\nChiều hôm tê tái nước sông Hương\nĐảng ta khi quét xong quân giặc,\nTrước nấm mồ em đốt bó nhang\nĐặng Thai Mai dịch\n(Thơ văn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX )\n\nNguyễn Quang Diêu hiệu Tử Ngọc, biệt hiệu Trần Cảnh Sơn và Nam Xương, sinh năm Canh Thìn (1880) trong một gia đình khá giả; quê ở xã Tân Thuận, tổng An Tịnh, quận Cao Lãnh, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Nguyễn Quang Huy (tức Hội đồng Sách) và Thân mẫu là Nguyễn Thị Huệ.\nNguyễn Quang Diêu có tư chất thông minh từ nhỏ, đặc biệt là tính tình khoan dung, điềm đạm nhưng ngay thẳng và dũng cảm, có tâm hồn yêu nước dạt dào. Khi phong trào Duy tân lan rộng vào Nam, ông hăng hái gia nhập và hoạt động cùng các chí sĩ Nguyễn An Khương ( cha Nguyễn An Ninh) Nguyễn Thần Hiến, Bùi Chí Nhuận. Năm 1907, ông đặt trụ sở bí mật ở chùa Linh Sơn (Cao Lãnh). Từ chùa này ông phát triển tới chùa Kim Quang và các chùa khác.\nNăm 1912, Phan Bội Châu giải tán Duy tân hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội thì ông và hầu hết các đồng chí lại chuyển sang hoạt động cho Việt Nam Quang Phục hội. Tháng 5 năm 1913, Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu một đoàn 12 người, vượt biên giới sang Cao Miên, tới Xiêm La để từ đó đi Trung Hoa liên lạc với Phan Bội Châu và các đồng chí trong Tổng bộ. Đến Hương Cảng, các ông chưa kịp hoạt động thì cảnh sát Anh khám thấy tạc đạn và giấy tờ quan trọng tại nơi phái đoàn ở, nên ông và các đồng chí đều bị bắt. Nhà cầm quyền Anh ở Hương Cảng trục xuất, giải các ông về Hà Nội, giao cho mật thám Pháp.\nTrong phiên tòa xét xử, chúng coi ông là người cầm đầu, kết án 10 năm khổ sai, đầy sang Guyane (Nam Mỹ). Trên đường đi Guyane qua Pháp, chúng giam ông ở nhà ngục Mác xây. Thực dân Pháp đầy Nguyễn Quang Diêu đến một hòn đảo hoàn toàn xa lạ, sống giữa những người ngoại tộc, ông không hề biết tiếng nói, phong tục tập quán, không được nghe tiếng nói thân thương của đồng bào, đồng chí, cách Việt Nam nửa vòng trái đất. Đế quốc Pháp tin rằng ông sẽ phải chịu chết già trên hòn đảo đó, xong với ý chí quật cường, quyết tâm vượt ngục trở về nước hoạt động như ông đã bộc lộ trong bài thơ Bị giam ỏ MácXây cảm tác;\n“...Nếm mật nằm gai đành tạm lúc,\nSổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi... ”\nĐầu năm 1917, Nguyễn Quang Diêu vượt ngục trốn sang đảo Trinidat thuộc Anh. Ông khi đó đã giỏi tiếng Pháp, tiếng Hoa, ông sống trà trộn trong đồng bào Hoa, học tiếng Hoa, tiếng Anh. Bằng sự ngụy trang khéo léo để giấu tung tích, cuối nãm 1920, Nguyễn Quang Diêu trở về Hồng Kông rồi tới Quảng Châu liên lạc với Phan Bội Châu. Bạn bè, đồng chí vô cùng kinh ngạc thấy ông xuất hiện, ông rất đau buồn khi biết tin nhiều đồng chí thân thiết đã hy sinh hay còn nằm trong nhà tù đế quốc. Được trở về hoạt động cùng các đồng chí được nghe tiếng nói thân thương của đồng bào. Ông dồn hết sức lực, tâm chí cho công tác cách mạng, bù đắp cho thời gian ông bị đế quốc Pháp cầm tù ở nơi xa xôi.\nĐầu năm 1927, Nguyễn Quang Diêu về nước để khôi phục phong trào với cái tên mới là Trần Văn Vẹn. Thực dân Pháp đánh hơi thấy các hoạt động cách mạng của Nguyễn Quang Diêu, chúng tung mật thám đi dò la tung tích của ông, lùng bắt rất gắt gao, ông phải thường xuyên thay đổi chỗ ở. Do Nguyễn Quang Diêu tham gia phong trào Đông du, Việt Nam Quang phục hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên, nên ông đã dịch các sách Tam dân chủ nghĩa, Ngũ quyền hiến pháp của Tôn Dật Tiên.\nSau một số người có cảm tình với ông, lại có thế lực đối với Pháp đứng ra bảo trợ, ông đến làng Vĩnh Hoà gần Tân An dạy học và bốc thuốc. Ông cũng sáng tác nhiều văn thơ để gửi gắm nỗi niềm tâm sự của mình.\nĐến nay các đồng chí, dòng họ của ông còn giữ được nhiều thơ văn của ông, trong đó có các bài: Viếng Hoàng Hoa Cương, Viếng mộ Phan Tây Hồ, Sầu Non nước, Hà Thành lâm nạn, Tự do diễn ca, Chiêu hồn dân ruộng, Ngỏ cùng nữ giới...\nMùa hè năm 1935, Nguyễn Quang Diêu nhuốm bệnh rồi mất, thọ 57 tuổi.\n\nMai Lão Bạng là người theo đạo Thiên chúa, quê ở làng Vang, nay thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau mấy năm học chữ Nho, gia đình gửi ông vào học trường Đại chủng viện Đoài để trở thành linh mục. Thời gian học ở trường, ông thấy những cha cố người Tây cấm không cho học sinh đọc Tân văn, Tân thư từ ngoài xã hội đưa vào và khinh thị người dân Việt Nam.\nNăm Mậu Thân (1908) Mai Lão Bạng liên lạc với những người phụ trách phong trào Đông du ở trong nước đưa học sinh người công giáo Đông du. Từ đó Mai Lão Bạng ở lại Tôkyô cùng Phan Bội Châu gánh vác công việc ở Nhật. Mai Lão Bang là người giúp Phan Bội Châu làm công tác vận động công giáo trước hết là “Kêu gọi sự đồng tâm của giáo đổ Thiên chúa”, như trong Hải ngoại huyết thư đã nêu rõ:\n... Khắp đến kẻ hành nhân tẩu tốt,\nCả giáo đồ khắp suốt nơi nơi,\nĐội trời đạp đất ở đời,\nSinh ra Nam quốc là người trượng phu\nAi cũng bụng phục thù, báo quốc,\n...Dẫu rằng là đạo bất đồng,\nNhưng cùng đất nước, cùng chung giống nòi,\nQuyết không có thể nào không vì mình\nChớ thấy khác mà sinh hình tích,\nĐể cho rằng cừu địch Nam nhân,\nChữ rằng đồng loại tương thân\nGiáo dân xem với lương dân khác gì.\nĐể vận động đông đảo đồng bào công giáo tham gia vào công việc cứu nước, Lão Bạng sáng tác bài ca nhan đề: “Lão Bạng phổ khuyến” (Bài ca của Lão Bạng khuyên chung mọi người). Bài thơ “Lão Bạng phổ khuyến” có tác dụng giáo dục lòng yêu nước rất to lớn đối với đồng bào công giáo.\nNăm 1909, Phan Bội Châu, Mai Lão Bạng cùng học sinh Việt Nam bị Chính phủ Nhật trục xuất, phải trở về Trung Quốc, Mai Lão Bạng từ Trung Quốc sang Xiêm La, mưu về nước, nhưng chính quyền Pháp ở Đông Dương yêu cầu Chính phủ Xiêm La bắt các nhà cách mạng Việt Nam. Ông bị bắt giam 8 tháng mới được trả tự do. Ông sang Hương Cảng, song chính quyền Hương Cảng cũng theo ý của bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương bắt giam ông 3 tháng. Mai Lão Bạng cùng với Phan Bội Châu sang Quảng Đông.\nĐể phù hợp với thời cục chính trị mới năm 1912 Phan Bội Châu họp các đồng chí tuyên bố giải tán Duy tân hội thành lập tổ chức cách mạng mới là Việt Nam Quang Phục hội. Hội nghị bầu Phan Bội Châu làm Tổng lý của Chính phủ nước Việt Nam Quang Phục, Mai Lão Bạng được bầu làm uỷ viên bộ chấp hành cùng Đặng Tử Kính phụ trách kinh tế.\nViệt Nam Quang Phục hội thực hiện đường lối bạo động phái một số hội viên về nước đánh úp các đồn binh, ám sát một số tên cầm đầu cai trị Pháp, Việt gian, song kết quả không lớn, Việt Nam Quang phục hội bị khủng bố dữ dội, nhiều cơ sở ở trong nước, nhiều hội viên nòng cốt bị giặc Pháp bắt xử tử hình và đưa đi đầy.\nNgày 30 tháng 6/1925 do sự phản bội của Phan Bá Ngọc báo cho mật thám, Mai Lão Bạng cùng bị bắt với Phan Bội Châu ở Thượng Hải, mật thám Anh dẫn độ ông cho mật thám Pháp giải về nước. Chúng giam ông ở nhà lao Vinh một thời gian rồi đày ra Côn Đảo 15 năm, đến năm 1933 mới được tha về.\nMai Lão Bạng về quê sau đợt khủng bố đẫm máu của giặc Pháp trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh khiến ông đau đớn. Bạn bè giúp ông dựng cái quán thuốc bắc “Lão Bạng y quán” ở chợ Vinh kiếm ăn. Vài năm một lần ông đáp tàu hoả vào Huế thăm Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Bến Ngự.\nMai Lão Bạng mất vào năm 1942 ở Vinh trong sự thương tiếc của nhân dân.\n\nNguyễn Quỳnh Lâm người huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1891, đất nước đã mất, bị người Pháp cai trị, đồng bào cơ cực lầm than. Mùa đông năm 1906, ông mới 15 tuổi, nhưng chí khí cương quyết. Khi Phan Bội Châu cử người về nước lấy thanh niên xuất dương Đông du, ông hăng hái lên đường. Ông cùng với Đặng Bằng Đoàn vào học ở ban đặc biệt của Đồng thư xã học. Ông ít nói ham học, tiến bộ rất nhanh. Học được gần 2 năm thì hết tiền học, ông bỏ Nhật về Xiêm La rồi từ đó về Hà Tĩnh mưu vận động binh lính khởi nghĩa. Thực dân Pháp phát hiện được, lùng bắt ông ráo riết, ông lại phải chạy sang Hương Cảng. Ông xin vào binh dinh Quảng Đông, tập luyện những việc ở chiến địa. Sau khi ra khỏi binh dinh, ông lại nghiên cứu những cách chế tạo hoả khí chủ yếu là chế thuốc súng và thuốc tạc đạn. Ông dày công nghiên cứu, chế tạo được “vô yên hoả dược” (thuốc nổ không khói).\nTháng 2 năm Canh Tuất (1910) Phan Bội Châu giao cho Nguyễn Quỳnh Lâm áp giải rương súng đạn chở đi Băng Kốc. Cảnh sát Hương Cảng thấy rương nặng mở ra khám thấy súng liền tịch thu, Nguyễn Quỳnh Lâm bị giam mấy tháng. May Chính phủ này có cảm tình với Việt Nam, Quỳnh Lâm là người cách mạng nên ông được tha.\nNăm 1912, Việt Nam Quang Phục hội được thành lập, ông hết sức giao dịch với Trung Hoa Quốc dân đảng mong được viện trợ súng đạn.\nNăm Quý Sửu (1913) tháng 5, cách mạng lần thứ hai ở Trung Hoa nổ ra. Ông nói với các đồng chí: “Đây không phải là trường thử nghiệm của ta hay sao. Trời sinh ra ta có bộ gân đồng, xương sắt, mà cứ ngồi ăn uống thong thả, để ngày tháng qua làm gì?”. Anh em can ngăn ông vì đây là việc của Trung Hoa, ông không nghe. Ở Nhật ông đã quen Hoàng Khắc Cường (Hoàng Hưng) chỉ huy phòng thủ Nam Kinh. Ông gặp Hoàng Khắc Cường trình bày. Hoàng Khắc Cường hết sức khen ngợi, cử ông làm trung đội trưởng. Ông xung phong vào đội tiên phong. Khi ra trận luôn động viên chiến sĩ chiến đấu, tự mình xông lên trước làm gương. Quân cách mạng thiếu súng đạn nên tan rã, thành Nam Kinh sắp bị hãm, quân Viên Thế Khải hãm thành, Hoàng Khắc Cường khuyên ông bỏ chạy, ông gạt nước mắt nói: ‘Tôi là một người vong quốc, sau này tôi sẽ đánh giặc cứu nước, nay lại làm ông tướng bại trận thì chạy đi đâu? Vả lại đại trượng phu sao có thể bỏ chạy để mà sống?\". Hoàng Khắc Cường bỏ chạy, các binh quan Trung Hoa vẫn biết ông là người đảng cách mạng Việt Nam, khuyên ông: “Việc nảy không can thiệp gì đến việc cách mạng đảng, ông nên lưu tính mạng lại để đợi thời cơ”. Ông trả lời một cách can đảm: “Người ta đem quân giao cho mình là nghĩ mình giết được đồn giặc kia cơ mà! Bây giờ thấy giặc mà trốn, mặt mũi nào làm con trai nữa”.\nÔng tiếp tục chỉ huy chiến đấu, bị trúng hai mồi đạn ở ngực và cánh tay, chết ở giữa trận.\n\nLê Văn Huân hiệu Lâm Ngu, sinh năm 1867 (Có sách viết ông sinh năm Ất Hợi (1875) người làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống nho học, nhưng ông mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ cho ăn học đến nơi, đến chốn, ông thi Hương tại trường thi Nghệ An khoa Bính Ngọ (1906) đậu Giải nguyên, nên thường gọi là Giải Huân.\nÔng tham gia phong trào Đông du cùng với tiến sĩ Ngô Đức Kế, Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, tú tài Nguyễn Đình Kiên. Ông hoạt động rất tích cực trong nhóm \"Minh xã\", khác với nhóm \"Ám xã\". Ám xã chủ trương bạo động, còn nhóm Minh xã do Ngô Đức Kế đứng đầu chủ trương cải cách văn hóa, phát triển công thương nghiệp.\nKhi Phan Bội Châu từ Nhật Bản bí mật về nước thảo luận với các sĩ phu trong nước, trong đó có Lê Văn Huân bàn kế hoạch: \"khai dân trí - chấn dân khí - đào tạo nhân tài'' thì các sĩ phu nhiệt liệt hưởng ứng và bàn kế hoạch thực hiện. Năm 1907, Lê Văn Huân cùng với Tiến sĩ Ngô Đức Kế, Phó bảng Đặng Nguyên Can, tú tài Nguyễn Đình Kiên, Đặng Văn Bá, bà Trần Thị Trâm lập \"Triêu Dương thương điếm” công khai ở thành phố Vinh, lấy tiền lãi sung vào quý Đông du cấp cho thanh thiếu niên du học ở Trung Hoa, Nhật Bản. Theo chủ trương của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Duy tân hội đã cử một số sĩ phu ra Bắc Kỳ tới căn cứ Yên Thế gặp tướng quân Hoàng Hoa Thám, trong số đó có Lê Văn Huân.\nTháng 5 năm 1908, theo lời kêu gọi của Nguyễn Hàng Chi, Nguyễn Hiệt Chi, Trịnh Khắc Lập các sĩ phu yêu nước và nông dân nghèo ở các huyện trong tỉnh Hà Tĩnh đã kéo nhau về thị xã Hà Tĩnh biểu tình đòi giảm sưu khất thuế. Lê Văn Huân đã cùng Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Cẩn dẫn đầu các cuộc biểu tình tuần hành của nông dân kéo vào thị xã đòi nhà cầm quyền Pháp, Nam triều đòi giảm thuế, khất thuế. Phong trào chống thuế phát triển rầm rộ nhất là ở các huyện Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ, Nghi Xuân (Hà Tĩnh), Lê Văn Huân dẫn đầu hàng trăm nông dân các làng Đông Thái, Yên Vượng, Trung Lễ, Đông Khê, Văn Xã... Bọn cầm quyền Pháp và quan lại Nam triều đã đàn áp khốc liệt phong trào chống thuế ở Hà Tĩnh, Nghệ An cũng như những tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ở tỉnh Hà Tĩnh hàng trăm người bị bắt trong đó có Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Duy Phương. Cũng trong năm 1908, Lê Văn Huân bị thực dân Pháp bắt đầy ra Côn Đảo.\nNăm 1917 hết hạn tù, ông được tha về, lại tiếp tục hoạt động. Ông cùng với Nguyễn Đình Kiên và một số đồng chí bị tù đầy lập ra nhóm \"chính trị phạm Trung Kỳ”.\nNgày 14 tháng 7 năm 1925, Lê Văn Huân cùng một số trí thức tân học ở Hà Tĩnh như Tôn Quang Phiệt, Trần Mộng Bạch, Trần Phú... đã nhóm họp ở thành phố Vinh thành lập nhóm \"Phục Việt\" để truyền bá tư tưởng yêu nước và tập hợp lực lượng chống Pháp, Nghệ Tĩnh trở thành trung tâm của Hội”.\nNăm 1929, Lê Văn Huân bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Hà Tĩnh. Trong tù, Lê Văn Huân đấu tranh quyết liệt với bọn chúa ngục. Chúng đàn áp tàn bạo ông phản đối cùng các tù nhân tuyệt thực, sau đó ông rạch bụng hy sinh.\nLê Văn Huân là một nhà nho yêu nước thức thời, ông còn là một nhà thơ tài hoa, đồng thời là lý thuyết gia thành lập chính đảng dân chủ đầu tiên ở nước ta hồi đầu thế kỷ XX, ông cũng là liệt sĩ cách mạng đầu tiên của tổ chức tiền thân của Đông Dương cộng sản Đảng.\n\nĐặng Đoàn Bằng tức Đặng Hữu Bằng tên chính là Đặng Tử Mẫn, năm 1906 xuất dương lấy tên là Đặng Xung Hồng. Ông là con cụ nghè Đặng Hữu Dương, người làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, nay là huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đặng Đoàn Bằng thông minh từ nhỏ, giỏi sáng tác thơ văn, phú, câu đối, tính khí cương cường.\nÔng xuất dương sang Nhật, theo học trường Chấn Võ giỏi tất cả các môn quân sự, giỏi chữ Hán, chữ Nhật. Năm 1909, ông đậu Thủ khoa. Minh Trị Thiên hoàng (Mút su Hi tô Meifi) là bậc anh hùng canh tân nước Nhật chủ toạ lễ mãn khoá đã tặng riêng ông một chiếc đồng hồ bỏ túi có khắc tên, chữ ký của nhà vua. Khi thực dân Pháp cấu kết với Chính phủ Nhật trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam, ông trở về Trung Quốc học một trường quân sự.\nThượng tuần tháng 2/1912, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Quốc, ông tham dự và được bầu vào bộ chấp hành có 10 uỷ viên. Ông cùng Mai Lão Bạng phụ trách kinh tế. Ông còn giữ chức cố vấn quốc gia, uỷ viên vận động Bắc Kỳ của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Quang Phục hội thành lập hồi tháng 5 năm 1912. Ông là một yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội.\nNăm 1913 Đặng Đoàn Bằng cùng Nguyễn Thượng Hiền vượt biên giới về Lạng Sơn vận động lính dõng quê ở tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên nổi dậy tấn công đồn Đồng Đăng. Sau trận giao chiến với quân Pháp ở vùng Pắc Luống, nghĩa quân bị thua, nhiều người bị bắt. Ông cùng Nguyễn Thượng Hiền chạy thoát sang Trung Quốc.\nNăm 1913 ông tham gia chế bom, lựu đạn trong tô giói Anh ở Hương Cảng. Lựu đạn nổ, ông bị cụt ba ngón tay. Ông trốn thoát chạy về Quảng Đông, Quảng Tây.\nTrong mấy năm nương náu ở Quảng Đông, Quảng Tây, ông đã nghiên cứu, tập trung tài liệu viết cuốn “Việt Nam nghĩa liệt sĩ” năm 1918. Ông ghi chép 50 chí sĩ hi sinh cho đất nước như Đặng Thái Phiên, Trần Văn Bình, Trần Đông Phong, Phan Lại Lương, Nguyễn Quỳnh Lâm, Cao Trúc Hải, Hồ Bá Kiện, Hồ Bá Phiến, Phạm Văn Ngôn... Quyển sách này được Phan Bội Châu sửa chữa kỹ, Nguyễn Thượng Hiền đề tựa, in năm 1918 ở Trung Quốc. Sách đã được dịch ra chữ Quốc ngữ, Nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm 1960. Sau đây là một đoạn trong mục “Chép chung chuyện Nguyễn Đức Công, Nguyễn Thức Đường\".\n... “Nước mất, giặc hoành hành, nhưng bọn vô liêm sỉ đang đua nhau làm nô lệ, ông rất lấy làm thẹn, lúc 15, 16 tuổi, ông đã nuôi cái chí đánh giặc phục quốc, nhưng chưa biết làm với ai. Một hôm ông đến nhà Sào Nam, Sào Nam đưa ông xem bản “Lưu cần huyết lệ tân thư” Ông rất phấn khởi đem về nhà suốt đêm đọc không ngủ. Từ đó bỏ nghê học cũ, chuyên giao kết với các khách gươm rượu. Ông thân dỏ biết, nhưng cũng không ngăn cấm được...\nSau đây là một đoạn trong mục “Lê Khiết”.\n... Nguyễn Thân đã đánh dẹp đảng ở Nam Ngãi nên người Pháp cho Thân là giỏi, mới bổ Thân làm kinh lược tiết chế đợi sứ Nghệ Tĩnh. Thân đem Lê Khiết đi theo làm Tán tương, Lê giúp Thân dẹp đảng Nghệ Tĩnh và được bổ chức Bố chánh quyền việc Tổng đốc. Lúc đó Phan Thị Hán bị tình nghi và theo dõi, ông vì mến phục Phan mà hết sức che chở...\nĐặng Đoàn Bằng còn có nhiều thơ Điếu các chí sĩ như: Điếu Tăng Bạt Hổ, Điếu Nguyễn Đức Công, Điếu Đỗ Cơ Quang, thơ điếu Hoàng Văn Kỷ, Hà Thành tuấn nghĩa chư liệt sĩ Điếu nghĩa sĩ dân (các tỉnh Trung Kỳ) chống thuế bị hại.\nMùa hè năm 1923, Đặng Đoàn Bằng cùng với Hồ Tùng Mậu, Lê Văn Phan (Lê Hồng Sơn) Nguyễn Giản Khanh (con nuôi cụ Nguyễn Thiện Thuật) Trương Quốc Uy, Lê Cầu (Tống Giáo Cầu), Nguyễn Công Viễn (Lâm Đức Thụ) cùng có chung một chí hướng, cùng sinh sống, học tập tại Hàng Châu sáng lập ra Tân Việt Thanh niên đoàn (còn gọi là Tâm tâm xã).\nKhoảng năm 1924, Đặng Đoàn Bằng bị thổ phỉ ở Nam Ninh giết chết, chặt bàn tay phải thành tật của ông bán cho thực dân Pháp ở Bắc Kỳ.\n\nBùi Chính Lộ còn có tên là Lê Mai Tử. Ông người xã Thanh Thuỷ, nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sớm tham gia phong trào Duy tân, Đông du do Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân sáng lập. Khi Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Mãi Lão Bạng xuất dương thì ông làm công tác vận động thanh niên xuất dương và vận động tài chính.\nTừ sau vụ \"Hà thành đầu độc” thất bại thì các công ty buôn bán, thương quán, nhà hàng do Đông du và Đông Kinh nghĩa thục chủ trương đều bị bọn cầm quyền Pháp triệt phá, nếu không triệt phá được thì bao vây cô lập làm cho phá sản, do đó tài chính gây quỹ cho Đông du càng khó khăn hơn. Song Bùi Chính Lộ đã khôn khéo, mưu trí lọt qua được tất cả sự do thám của giặc, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Trong một chuyến đi quyên tiền vào khoảng cuối năm 1911, đầu năm 1912, kịp chuyển ra Hải Phòng để liên lạc gửi sang Trung Quốc cho Phan Bội Châu chi vào việc nuôi anh em ăn học và mua sắm vũ khí. Phan Bội Châu đã biểu dương Bùi Chính Lộ - Lệ Mai Tử trong “Tái sinh truyện” (sống, trở lại) như sau:\n“Sự nghiệp kinh doanh của cấc đồng chí tôi, nếu không liên lạc vận động thì không thể nào thành công, nhưng liên lạc, vận động lại là việc rất khó khăn, nguy hiểm. Người gánh vác cái trách nhiệm vô cùng khó khăn gian khổ dó chính là Lệ Mai tử. Vì Lệ Mai là người có nhiệt thành, có học vấn, có đảm lược lại có cơ mưu và sở trường về khoa ngôn luận. Giữa trách nhiệm đó là người của Đảng ngày một tiến bộ, tiếng tăm lừng lẫy, kẻ thù rất khiếp sợ, chỉ muốn bắt bằng được ông mới yên lòng”.\nBùi Chính Lộ bị mật thám bắt đưa về giam ở nhà lao Vinh. Sau đó ông giả chết để thoát khỏi nhà lao.\nTổ chức quyết định đưa ông sang hoạt động ở Xiêm La. Tới Xiêm La ông đã cùng Đặng Thúc Hứa xây dựng cơ sở Trại Cày Bạn Thầm làm nơi sản xuất ra lúa gạo, nơi dừng chân cho các nhà cách mạng Việt Nam từ trong nước trốn qua để xuất dương.\nBùi Chính Lộ đã tuyên truyền, khích lệ bà con thương yêu, giúp đỡ nhau ở nơi đất khách quê người, luôn luôn hướng về Tổ quốc. Mở trường dạy con em Việt Kiều học tiếng Việt, học lịch sử Việt Nam và cho các cháu biết Tổ quốc đang bị giặc Pháp giày xéo. Lớn lên phải có nghĩa vụ giải phóng Tổ quốc.\nBùi Chính Lộ theo đường Xiêm La sang Trung Quốc gặp Phan Bội Châu và các đồng chí. Khi đó Tổng bộ Việt Nam Quang Phục hội chủ trương tổ chức nhiều cuộc bạo động, gây những tiếng vang kinh thiên động địa để kích thích lòng yêu nước của đồng bào.\nMục tiêu là gây tiếng nổ ở cả ba kỳ: Bắc - Trung - Nam. Khi đó Bùi Chính Lộ vừa vượt biên mới sang Xiêm, ở Xiêm La một thời gian rồi sang Trung Quốc, liền xung phong đi. Phan Bội Châu biết rõ ông là người hiểu tình hình địa dư Nam Kỳ liền chấp nhận cho ông đi.\nBùi Chính Lộ đi đường Xiêm La - qua Cao Miên để về Nam Kỳ. Nhưng ông tới Băng Kốc (Xiêm La) thì bị bọn chó săn bám riết, không sao dứt ra được, không thể thoát được, ông liền rút lựu đạn ném giết chết hai tên mật thám. Bọn chúng xô vào bắt, đưa vào nhà lao thì ông tự sát.\n\nNguyễn Thức Canh sinh khoảng năm 1884 hay 1885, là con trai Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự và cụ bà là Lê Thị Huệ. Vì ông là con cả, nên còn gọi là Cả Canh, hiệu là Trần Hữu Công, Trần Trọng Khắc. Ông là anh các ông Nguyễn Thức Đường, Nguyễn Thức Bao và Nguyễn Thức Độ.\nÔng tham gia phong trào Duy tân hội, xuất dương sang Trung Quốc rồi sang Nhật học khoa văn chương trường Cao đẳng Sư phạm Tôkyô. Học xong ông trở về Trung Quốc. Em ông là Nguyễn Thức Đường (tức Trần Hữu Lực) và Nguyễn Thức Bao cũng xuất dương sang Nhật.\nVì vậy ngày 7/2/1910, Toà án Nam Nghệ An, Chánh án là Trần Đình Phác (Tổng đốc An Tĩnh), Tôn Thất Đạm (Bố chính), Đào Phan Duẩn (Án sát) đã luận tội các bị cáo chạy ra nước ngoài gồm có: Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa, Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Thức Đường. Sau khi Nguyễn Thức Đường (Trần Hữu Lực) bị bắt ở Xiêm đưa về Hà Nội xử bắn cùng Hoàng Trọng Mậu ở trường bắn Bạch Mai, tháng 6 năm 1915 thì bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương nhận được tin mật báo từ Nhật về cho biết: “Trần Hữu Công chính là Nguyễn Thức Canh, là anh của Trần Hữu Lực, đã ở Nhật nhiều năm, có nhiều bạn bè trong quan chức Nhật”.\nNgày 19/7/1923, Viện cơ mật Nam triều đã ra lệnh truy nã Nguyễn Thức Canh dẫn về giao cho nhà chức trách để luận tội theo luật của triều đình.\n“Năm 1924, mật thám Pháp ở Vinh có được một nguồn tin rằng Trần Hữu Công từ Berlin đã gửi một thư về Quảng Châu bàn về việc giúp đỡ Hồ Tùng Mậu. Phong bì mang tên Đức là Kranzlin, số nhà 2 Guthestrasse, Berlin Licheter - Felde, chính quyền Pháp đã nhờ chính quyền Đức điều tra và được biết đó là nhà một ông cách mạng mang tên là Nuchaellis. Tin này sau được xác nhận có Trần Hữu Công quốc tịch Trung Hoa ở nhà người Đức tên là Kranzlin”.\nViệc này cũng được Phan Bội Châu xác nhận trong cuốn Phan Bội Châu biên niên như sau:\nMấy năm nay tôi ở Hàng Châu, vì có gánh một việc, tức là giúp cho ông Trần Hữu Công, tức là Trần Trọng Khắc tiên sinh. Ông lưu học ỏ Béc-lin nước Đức. Tôi phải một năm hai lần tháng sáu và tháng chạp, lén lên Thượng Hải để gửi bạc học cho ông Trần.\nVà cũng vì chuyến đi này Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giải về Hà Nội.\nTháng 6/1930, mật thám Pháp ở Vinh biết rõ lai lịch của Nguyễn Thức Canh đã từng học ở Nhật, khi học ở Đức có liên lạc với Hồ Tùng Mậu, sau đó gặp Nguyễn Ái Quốc ở Berlin.\nNăm 1932, mật thám Pháp lại được tin Trần Hữu Công là quan chức cao cấp của phái đoàn Trung Quốc tại đã trở về Viễn Đông, hiện hành nghề bác sĩ trong một quân cảng ở Thượng Hải, hiện đang ở Hàng Châu, rồi lại có tin ở Nam Kinh.\nNăm 1934 sau khi Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần... tổ chức Việt Nam Độc lập đồng minh hội có ra tờ báo lấy tên là “Việt Nam thanh” (Tiếng nói Việt Nam). Những công tác viên chính của tờ báo là Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Trần Hữu Công, Vi Bình Di, Vi Chính Nam...\n\nNguyễn Thức Đường, hiệu Càn Kiệm, khi đi du học thì đổi là Trần Hữu Lực. Ông sinh năm 1885 tại làng Đông Chữ, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông là con cụ Nguyễn Thức Tự, giữ chức Sơn phòng sứ. Khi Tự Đức kí Hòa ước với Pháp, cụ cáo quan về quê dạy học, Phan Bội Châu cũng theo học cụ. Ông là em trai Nguyễn Thức Canh, anh trai Nguyễn Thức Bao, cũng xuất dương sang Trung Quốc, Nhật Bản, Đức du học. Nguyễn Thức Đường từ thuở thiếu niên đã là người tuấn tú, thông minh, một người có bản lĩnh, có ý chí. Ông được Phan Bội Châu, học trò của cha mình dìu dắt. Phan Bội Châu viết về ông có đoạn: \"Ông Trần Hữu Lực, người Nghệ An, nguyên tên là Nguyễn Thức Đường, con trai Đông Khê tiên sinh là thày học của tôi. Nhà đời đời nghiệp nho, mà tính chất ông khác một cách, có thái độ như một nhà võ sĩ đời xưa. Lúc ông 15 tuổi, thấy được quyển Lưu cần huyết lệ của tôi làm, bèn lấy trộm về nhà, đọc lén một mình, từ đó bỏ quách văn cử nghiệp, không chịu tập nữa, chuyên theo các anh em du hiệp học những việc múa gậy, đánh gươm, đã từng giết một tên cử nhân mà ăn lương chó săn tức là Nguyễn Điềm”. Giết Điềm chết rồi, ông chuyên làm những chính sách bạo động ở trong nước. Ông Ngư Hải sợ làm mất tiền đồ của ông, mới cưỡng bức ông xuất dương. Ông sang Nhật vào học trường Đồng Văn thư viện, và nhanh chóng trở thành một học sinh xuất sắc. (Nguyễn Điềm là tên năm 1902 đã tố cáo với Pháp việc Phan Bội Châu định lấy tỉnh thành Nghệ An).\nSau khi thực dân Pháp ở Đông Dương thông đồng với Chính phủ Nhật trục xuất Phan Bội Châu và học sinh Việt Nam khỏi Nhật Bản, Trần Hữu Lực cũng như Hoàng Trọng Mậu và nhiều học sinh khác về Trung Quốc, ông vừa lao động kiếm sống, vừa học tiếng bạch thoại, tiếng Hoa Bắc, Hoa Nam.\nĐúng lúc đó Thái Tùng Ba ở Quảng Tây đương huyện binh có nhà Lục quân cán bộ học đường (còn gọi là Quảng Tây học hiệu) chiêu sinh. Trần Hữu Lực đổi tên, mang quốc tịch Trung Hoa cùng Nguyễn Tiên Đầu, Nguyễn Thái Bạt ba người cùng đồng thời vào nhà quân hiệu học tập nghề làm tướng. Ba năm ở nhà Học hiệu thường hăng hái như tới giữa chiến trường. Sau khi tốt nghiệp trở về Quảng Đông, được bổ làm thiếu úy, xuất lĩnh một đội nhỏ, hễ đến lúc thao luyện, quân sĩ đều kinh sợ lắm”.\n(Nguyễn Tiêu Đầu tức Nguyền Bá Trác, về sau đầu thú giặc, viết báo Nam Phong, cuối cùng ra làm quan đến chức Thị lang của triều đình Huế, tay sai đắc lực của thực dân Pháp).\nCách mạng Tân Hợi (1911) thành công, là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu, Nguyễn Thức Đường và nhiều nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Trung Quốc, ở Xiêm đều trở về Quảng Đông. Năm 1912, Phan Bội Châu tuyên bố giải tán Duy tân hội, thành lập một tổ chức cách mạng mới là Việt Nam Quang Phục hội. Trần Hữu Lực được ủy nhiệm cùng Hoàng Trọng Mậu ủy viên trưởng phụ trách Quân vụ viết Tuyên cáo của Việt Nam Quang phục hội và Thư gửi đổng bào Nghệ Tĩnh trong dịp thành lập Việt Nam Quang Phục hội. Nhưng bọn cai trị Pháp ở Đông Dương đã cấu kết với Long Tế Quang, Tổng đốc Quảng Đông bắt những nhà cách mạng Việt Nam nộp cho Pháp. Trước tình hình đó, Trần Hữu Lực tự nguyện sang Xiêm La, tổ chức toán quân Việt kiều quang phục. Phan Bội Châu lấy danh nghĩa Quang Phục hội Tổng lý ủy ông làm Trú Xiêm Quang Phục hội chi bộ bộ trưởng. Ông bôn tẩu trên đất Xiêm, hễ chỗ nào có kiều dân Việt Nam là đến tuyên truyền, vận động. Kết quả ông thành lập được đội quân trên 60 người, trang bị vũ khí đầy đủ, dự định vượt biên giới qua Lào đánh vào Nam Trung Bộ. Chính phủ Xiêm đã thỏa thuận với nhà cầm quyền Pháp bắt các nhà cách mạng Việt Nam. Hai tên mật thám Pháp, một tên là Hùng người Bắc Kỳ, một tên người Trung Kỳ được cảnh sát Xiêm giúp sức lùng sục ông ở khắp nơi. Chúng bắt được ông trên một chuyến tầu và được trao cho chính quyền Pháp để đổi lấy tù chính trị người Ấn Độ ở Sài Gòn. Giặc Pháp đưa ông về Hà Nội, giam ở nhà lao Hỏa Lò, chúng biết ông là một nhân vật quan trọng trong tổ chức Việt Nam Quang phục hội, đang chỉ huy một đội quân ở Xiêm nên ra sức dụ dỗ: \"Nếu ông thu phục thì sẽ được tha tội\". Ông giữ vững ý chí. Bọn mật thám dùng đủ mọi cực hình tra tấn ông, song ông vẫn bền gan, vững chí, không tiết lộ bí mật của tổ chức không hề khai báo một người nào đã về nước và cơ sở của Hội ở trong nước cũng như ở Xiêm.\nKhông khai thác được gì ở ông, ngày 20 tháng 12 năm Ất Dậu (22 tháng 1 năm 1916) chúng đưa ông cùng với Hoàng Trọng Mậu vừa là bạn, vừa cùng quê, vừa là đồng chí thân thiết của ông, ra bắn ở trường bắn Bạch Mai.\n\nLý Liễu quê ở Tam Bình (Vĩnh Long), từ nhỏ đã được sống trong không khí sôi sục cách mạng của gia đình, lại bẩm tính thông minh, nên được cha cho đi học đến nơi đến chốn.\nNăm 1907, Phan Bội Châu cho Bùi Chí Nhuận về Nam Kỳ kêu gọi thanh niên xuất dương du học. Lý Liễu khi đó mới khoảng 14-15 tuổi cùng với Nguyễn Truyện, con cụ xã Trinh tuổi cũng xấp xỉ như vậy xuất dương ngay đợt đầu tiên. Sang tới Trung Quốc, Lý Liễu và Nguyễn Truyện được đưa tới Hồng Kông học tại trường Trung Anh học đường.\nLý Liễu vốn bẩm tính cực kỳ thông minh từ nhỏ, lại say sưa học tập nên ngoài chuyên môn, Liễu còn giỏi tiếng Anh, tiếng Trung và biết tiếng Pháp. Lý Liễu hết sức học tập, chờ ngày về nước Việt Nam độc lập thi thố tài năng giúp nước. Nhưng mơ ước đó vĩnh viễn không thành.\nNguyên là cuối tháng 5 năm 1913, một phái đoàn Nam Kỳ do ông Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu sang Hồng Kông với mục đích lãnh tín phiếu, mua vũ khí đưa thêm vài học sinh sang du học. Đoàn ngụ ở nhà ông Huỳnh Hưng ở ven đảo Cửu Long. Hai vợ chồng ông Huỳnh Hưng sang Cửu Long ở rất lâu giữ đầu mối liên lạc giữa các đồng chí ở Trung Quốc với các đồng chí ở trong nước. Vì vậy khi nghe tin phái đoàn đến, Lý Liễu và Nguyễn Truyện sang nhà Huỳnh Hưng hỏi thăm tin tức gia đình.\nNgày 16 tháng 6 năm 1913 do có kẻ chỉ điểm, mật thám Anh ập đến nhà Huỳnh Hưng khám xét, bắt được 13 quả tạc đạn, bắt hết những người có mặt. Lý Liễu vừa đến cũng bị cảnh sát bắt, Huỳnh Hưng nhận mình mua số tạc đạn đó, những người khác không biết. Tòa án Anh ở Hồng Kông xử Huỳnh Hưng án tù, còn những người khác bị cảnh sát Anh giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương.\nMùa đông năm 1913, Lý Liễu và các đồng chí bị cảnh sát Anh giao cho cảnh sát Đông Dương. Mọi người bị bọn mật thám tra tấn cực kỳ dã man. Cuối năm 1913, Tòa án Đại hình đặc biệt xử tại Hà Nội, trong đó Lý Liễu bị án nhẹ nhất là 5 năm khổ sai. Nguyễn Truyện tự tử, Nguyễn Thần Hiến nhịn ăn chết. Lý Liễu, Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật, Trần Ngọ đều bị đầy đi Guyane (Nam Mỹ). Tại đây, ông là người thông báo tin tức, đấu tranh đòi quyền lợi như quần áo, thuốc men, nhận thư từ từ trong nước gửi sang, và chuyển thư của anh em về nước.\nDo Lý Liễu quen biết thân thiết với nhiều kiều dân Hoa sống ở Guyane, ông ngỏ ý vượt ngục và nhờ họ giúp đỡ. Họ đã giúp ông trốn sang Trinidad và được kiều dân Trung Hoa ở đảo Trindad sắp xếp công ăn việc làm ổn định, lo giấy tờ hợp pháp: quốc tịch Trung Hoa.\nLý Liễu ở trong thương hội một thời gian rồi lấy vợ người Anh. Mặc dù sống nơi đất khách song ông vẫn không nguôi nhớ về quê hương. Ông tìm cách trở về Việt Nam Đổi tên là Lý Phùng Xuân. Thực dân Pháp biết ông trở về, sai người chiêu dụ ông ra đầu thú sẽ được làm quan. Ông phản đối, phải trốn về vùng quê hoạt động vẫn vững vàng một lòng tranh đấu.\nKhoảng năm 1933 - 1934, ông đang lẩn trốn trong một căn nhà lá nhỏ bên Lộ Kế Ông tỉnh Vĩnh Long, cách quận lỵ An Hóa không xa thì bị lính Pháp đến bao vây bắt được.\nTòa án thực dân Pháp gán cho ông tội gây loạn, phá rối trị an, lại truy cái án vượt ngục ở Guyane ngày trước, kết án tù 15 năm khổ sai, đầy ra Côn Đảo. Lý Liễu không chịu đựng được sự khổ sở nhọc nhằn trong cảnh lao tù, ốm đau trong thời gian dài. Cách mạng tháng Tám ra rước tù chính trị về, ông được cử làm Chủ tịch huyện An Hóa, tỉnh Vĩnh Long.\n\nĐội Phấn tên thật là Hồ Trọng Phấn, còn gọi là Hồ Bá Phấn, Hồ Sỹ Phấn, tên chữ là Càn Thái, ông quê ở xã Nghi Vạn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, ít được học hành, nhưng bản tính ông cương dũng, chuộng làm việc nghĩa, giàu lòng yêu nước. Khi giặc Pháp hạ thành Nghệ An, tuy còn ít tuổi nhưng ông đã theo nghĩa quân chiến đấu.\nHồ Trọng Phấn nhận thấy muốn đánh thắng quân Pháp thì phải học cách cầm quân, biết cách sử dụng binh khí hiện đại của quân Pháp thì mới đánh thắng được chúng. Nghĩ vậy ông trở về làng, xin vào lính bản địa (còn gọi là lính khố xanh). Ở lính vài năm, ông lập được nhiều công trạng, quan binh Pháp thấy ông tài giỏi lại có lòng trung thành với mẫu quốc, nên cho làm chức đội trưởng, được chỉ huy một tiểu đội lính tập, tiểu đội thời đó có đến 50 người. Vài năm sau, ông được lên tới chức Chánh đội trưởng, chỉ huy 100 lính tập được học tập, nghiên cứu, tìm tòi chiến lược, lập kế hoạch đánh trận. Ông cùng binh lính gần gũi nhau giúp đỡ nhau trong cuộc sống khi phải xa nhà, vì vậy binh lính quý mến ông, coi ông như người anh cả và nghe lời ông.\nNăm 1907 phong trào Duy tân phát triển mạnh mẽ ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Một số nhân vật thuộc phái \"Ám xã\" như Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thị Thanh biết Hồ Trọng Phấn tuy đi lính cho Pháp, làm tới chức Chánh đội trưởng, nhưng là người yêu nước, xưa đã từng ở hàng ngũ nghĩa quân, chưa gây tội ác với nhân dân, nên đã gặp gỡ tuyên truyền bí mật gia nhập Duy tân hội. Nhằm huấn luyện cho các hội viên hội Duy Tân biết kỹ thuật quân sự và sử dụng vũ khí mới, ông lấy lý do thu nhận ỉính mới để bổ sung cho lính già yếu. Ông tận tâm huấn luyện quân sự cho anh em để anh em nhanh chóng có khả năng chỉ huy một đội nghĩa quân. Anh em cũng hiểu rõ mục đích vào lính của mình nên tất thảy đều cố gắng học tập, tiến bộ rất nhanh.\nTháng 5 năm Mậu Thân (1908) phong trào \"Xin xâu”, \"Chống thuế\" từ Quảng Nam lan ra Nghệ An, Hà Tĩnh khiến cho nhà cầm quyền Pháp và Nam triều phải đối phó. Đội Phấn nhận định thời cơ khởi nghĩa đã đến, ông chỉ huy trên 100 lính phản chiến, phối hợp với quân của Quản Truyền, Quản Lại cũng bí mật gia nhập Duy tân hội như ông nổi dậy cướp thành Hà Tĩnh là nơi ông đóng quân.\nSong vào thời điểm 1907, 1908 thực dân Pháp và Nam triều đã ổn định được bộ máy cai trị ở các tỉnh Trung Kỳ, Bắc Kỳ, vì vậy quân khởi nghĩa chiếm thành được vài tiếng đồng hổ thì quân Pháp kéo đến phản công, bao vây, tấn công quân khởi nghĩa quyết liệt. Quân khởi nghĩa ít, trang bị kém nên chỉ cầm cự được vài tiếng, đồng đội của ông một số hy sinh, một số bỏ chạy. Khi quân Pháp tràn được vào thành, Đội Phấn cùng một số quân khởi nghĩa chạy thoát, đến ở một cơ sở bí mật của Duy tân hội ở ngoài thành. Đội Phấn cùng các ông Lê Quyên, Ngô Đảng bí mật chiêu mộ quân. Đội Phấn còn bí mật trở về Hà Tĩnh chiêu tập lính khố xanh, khố đỏ Pháp cho giải ngũ và thanh niên yêu nước về căn cứ Bố Lư ở huyện Thanh Chương để huấn luyện quân sự.\nSau những năm ở trong quân đội Pháp, Đội Phấn đã rút ra bài học là quân không cốt ở đông, mà cốt ở tinh luyện, thành thục các động tác chiến đấu biết lợi dụng địa hình, địa vật để bố trí trận đánh cho phù hợp để lấy ít địch được nhiều, lấy vũ khí thô sơ thắng vũ khí hiện đại, vì vậy ông rất coi trọng việc huấn luyện quân sự cho nghĩa quân. Đội Phấn còn đặc biệt quan tâm đến trang bị vũ khí hiện đại cho nghĩa quân. Trong một trận chiến đấu tại một đồn binh Pháp ở huyện Thanh Chương do Đội Phấn chủ quan nên bị quân Pháp bắt. Song ông đã mưu trí đánh lừa giặc, giết lính canh rồi trốn thoát. Ngày 16 tháng 2 năm 1910, Tòa án binh của thực dân Pháp kết án ông tử hình vắng mặt.\nÔng nhận thấy chiến đấu với quân Pháp nếu lực lượng của ta nhỏ không thể thắng được, nên đã bàn với các ông Lê Quyên, Ngô Đảng sáp nhập vào lực lượng nghĩa quân do Đặng Thái Thân lãnh đạo. Ồng đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu với quân Pháp rất nhiều trận. Nghe đến tên Đội Phấn là quân Pháp và quân Nam triều rất kinh hoàng.\nNăm 1912, Phan Bội Châu tuyên bố giải thể Duy tân hội, thành lập Việt Nam Quang Phục hội, Hội thành lập Phục quốc quân, Đội Phấn, Đội Quyên chuyển sang hoạt động cho Việt Nam Quang Phục hội. Đội Phấn, Đội Quyên đang tập hợp lực lượng để đánh thành Nghệ An, nhưng súng đạn chưa đủ, còn phải đợi hàng tuần nữa để tìm cách cướp xưởng binh khí của địch. Mật thám Pháp dò biết đem đại binh đến bao vây đồn bắt được ông.\nNgày 3 tháng 7 năm 1916, giặc Pháp chém ông ở quán Thầu Dầu, thành phố Vinh. Lúc ông bị giết có một người lính vệ binh tự tử theo.\n\nHồ Phi Huyền còn gọi là Hồ Phi Thống, ông là cháu năm đời Hồ Phi Tích, là cháu ngoại tiến sĩ Văn Đức Giai, là con cử nhân Hồ Phi Tự - một nhân vật quan trọng trong phong trào Cần vương ở Nghệ An.\nÔng sinh năm 1879 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Phi Huyền sớm nổi tiếng thông minh và cương trực.\nÔng đậu cử nhân khoa thi Hương ở Nghệ An năm Canh Tý (1900) khi 21 tuổi, đồng khoa với Phan Bội Châu.\nÔng không ra làm quan mà hoạt động trong Duy tân hội và phong trào Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng và lãnh đạo. Ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tù.\nRa tù, khoảng từ 1910 đến 1915, Hồ Phi Huyền dạy học, làm thuốc và viết sách.\nÔng tổ chức các lớp học kiểu mới dạy cả chữ Hán, chữ Quốc ngữ, toán, vẽ, thể dục, âm nhạc, đánh cờ. Thông qua sách báo của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vy là các nhà cải cách lớn ở Trung Quốc, ông truyền bá tư tưởng dân chủ và tinh thần yêu nước cho học sinh. Hồ Phi Huyền còn là một nhà một nhà trước tác chủ yếu là về triết học, y học, văn học. Trong đó \"Nhân đạo quyền hành'' do ông soạn thảo từ năm 1920 bằng Hán văn đăng trên Nam Phong, nãm 1929 dịch ra tiếng Việt đăng trên báo Thanh - Nghệ - Tĩnh năm 1934, in thành sách năm 1936. Quyển sách mỏng có 100 trang nhưng có tầm tư duy cao. Sách ra đời được nhiều người chú ý.\nChủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao phẩm chất và tư tưởng cũng như trước tác của Hồ Phi Huyền.\nNhà văn Sơn Tùng đã ghi lại Hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Hồ Chủ tịch từ Hội nghị Tân Trào.\nChuyện này xảy ra vào năm 1946 khi đất nước đang bị lâm nguy. Ở phía Bắc thì từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16, 20 vạn quân Tưởng, kéo theo bọn phản động tràn vào với âm mưu lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh; ở phía Nam vĩ tuyến 16 trở vào thì giặc Pháp núp sau quân Anh - Ấn gây hấn ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Giữa lúc đất nước đang lâm nguy như vậy, Hồ Chủ tịch tìm đến tận phòng làm việc của ông Huỳnh. Bác bảo: “Lần này có việc ủy thác chú đi mời đón một nhà túc nho thông thiên địa nhân. Bậc nho sĩ này đồng khoa, đồng đạo với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế”. Tôi (V.Đ.H) đi đón khách... Bữa cơm đãi khách thật đạm bạc mà ngon lành thanh khiết. Hồ Chủ tịch đón tiếp cụ Hồ Phi Huyền không đơn thuần như một vị nhân sĩ, mà còn là một bậc thân tri cố cựu... Mời cụ ra giúp nước, nhưng cụ biết mệnh phận không còn. Cụ phải thốt ra: \"Quốc gia đa cổ, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn đều ra gánh vác việc nước với cụ Hồ, tôi thì mệnh tận”. Tuy mệnh tận, ra gặp Bác Hồ, khi bái biệt, cụ còn thưa: \"Xin Chủ tịch lưu tâu, thời mệnh trong thế cực này, chúng ta phải trải qua: thiên đô bảo chủ quốc tôn, độn thổ trường kỳ kháng địch”. Sau đố cụ Hồ Phi Huyền trở về quê và mất ngày 25 tháng 12 năm 1946, lời tiên tri bỏ thủ đô và kháng chiến trường kỳ là đúng\".\nNgoài tác phẩm \"Nhân đạo quyền hành” Hồ Phi Huyền còn có các tác phẩm \"Y học toát yếu\", \"Đạm Trai văn tập\", \"Kỳ thuật\" (dạy đánh cờ).\n\nTôn Thất Doãn sinh năm 1858. Sau khi học xong trường Quốc Tử giám, ông được bổ nhiệm làm Thông phán ở dinh Tuần vũ Bình Thuận. Năm 1905, Tôn Thất Doãn, Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang mà một số nhà nho khác đã bí mật gặp gỡ Phan Chu Trinh trong chuyến cụ Phan vào các tỉnh phía Nam tìm bạn đồng tâm.\nNăm 1906 Tôn Thất Doãn được bổ làm Tri phủ Hòa Đa ở tỉnh Bình Thuận. Cũng năm đó phong trào Đông du do Phan Bội Châu phát động, phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh phát động từ Quảng Nam lan tới tỉnh Bình Thuận. Tôn Thất Doãn đã bí mật tham gia cả hai phong trào đó và đã nhanh chóng trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào Đông du và Duy tân ở miền Nam Trung Kỳ. Tôn Thất Doãn là người lập danh sách, cũng là người bảo quản danh sách những người tham gia phong trào Đông du và phong trào Duy tân ở các tỉnh Nam Trung Kỳ đồng thời quản lý phân phối các tài liệu bí mật như Hải Ngoại huyết thư, Lưu cầu huyết lệ tân thư của Phan Bội Châu, Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch.\nNắm vững phương châm hành động của phong trào Duy tân là: \"Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh\", Tôn Thất Doãn đã cùng các ông Trương Gia Mô, Hồ Sĩ Tạo, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh đứng ra mở trường Dục Thanh và thành lập công ty Liên Thành ở Phan Thiết.\nNăm 1908, Tôn Thất Doãn được Triều đình Huế bổ nhiệm làm tri huyện Ninh Hòa. Cũng vào thời điểm đó, Trần Quý Cáp giáo thụ huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam được điều về làm giáo thụ huyện Tân Định cũng thuộc tỉnh Khánh Hòa. Từ đó hai người quen biết nhau và trở thành đôi bạn thân thiết, thường cùng nhau bàn luận về thời cuộc, kể cho nhau nghe những thủ đoạn áp bức, bóc lột nhân dân của thực dân Pháp và bè lũ tay sai và bàn kế sách vận động nhân dân đấu tranh.\nThực dân Pháp giết hại Trần Quý Cáp, bắt giam các nhà yêu nước, Tôn Thất Doãn vẫn bền bỉ, củng cố, phát triển phong trào Đông du và Duy tân. Bọn cai trị Pháp biết ông vẫn hoạt động trong phong trào yêu nước, song không có chứng cớ để bắt giam, liền buộc triều đình Huế đổi ông đi nơi khác.\nĐầu năm Tân Hợi (1911), Triều đình Huế bổ nhiệm ông làm tri phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tôn Thất Doãn đã ủng hộ nông dân chống cường hào địa chủ bóc lột tô tức. Những hành động bảo vệ dân của ông không lọt qua được mắt chúng, Khâm sứ Trung Kỳ đòi Triều đình Huế cách chức ông để có cớ bắt giam. Song ông nhờ có người em thúc bá là Tôn Thất Hân làm Thượng thư Bộ Hình, phụ chính đại thần can thiệp với tòa Khâm sứ, nên năm 1913 ông bị điều về kinh giữ chức Thừa chỉ Hàn lâm viện. Tại đây ông lại chắp mối liên lạc với Phan Bội Châu đang ở Trung Quốc và các hội viên Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Kỳ.\nNăm 1914, Tòa Khâm sứ Trung kỳ buộc triều đình Huế cách chức ông. Trở về sống ở làng Kim Long, Tôn Thất Doãn lại bí mật liên lạc với Thái Phiên, Trần Cao Vân... cùng những yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội ở Nam Trung Kỳ.\nNgày 3 tháng 5 năm 1916, cuộc khởi nghĩa ở kinh thành Huế do Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo, có sự tham gia của vua Duy Tân thất bại, Thái Phiên, Trần Cao Vân và nhiều yếu nhân khác của Việt Nam Quang Phục hội bị xử chém. Vua Duy Tân bị đầy đi đảo Reunion. Tôn Thất Doãn chán nản, âu sầu vì cảnh mất nước, dân làm nô lệ ông lâm bệnh. Ngày 12 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (1/2/1918) ông mất ở tuổi 61.\n\nVõ Hoành hiệu Ngọc Tiên, sinh năm 1867 thuộc dòng dõi thế gia quê ở làng Thịnh Liệt, tục gọi là làng Quang, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông, nay Thịnh Liệt thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Võ Hoành đi thi mấy khoa nhưng không đỗ. Ông tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, là hội viên Tán trợ, lãnh trách nhiệm cổ động và quyên tiền cho trường. Ông còn giữ đầu mối liên lạc với các đồng chí ở trong nước với nước ngoài.\nTrường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập từ chủ trương của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh hai yếu nhân của hội Duy tân, nhưng cũng là thủ lĩnh của hai xu hướng: bạo động và cải cách, nên trường cũng tập hợp người của hai xu hướng đó. Võ Hoành được coi như người đứng đầu phái theo xu hướng bạo động. Các ông không chỉ đơn thuần là dạy học trò nâng cao kiến thức, mở mang dân trí, mà còn khơi dậy lòng yêu nữớc, căm thù giặc hướng quốc dân đồng bào đi vào con đường vũ trang khởi nghĩa\nNhững hoạt động tích cực của Võ Hoành đối với trường Đông Kinh Nghĩa thục và trong các tầng lớp nhân dân như truyền bá văn thơ yêu nước trong trường Đông Kinh Nghĩa thục, ngoài xã hội; quan hệ mật thiết với những người có xu hướng bạo động, quyên góp tiền cho trường, ngợi ca cuộc chiến đấu của Đề Thám của ông đã bị mật thám Pháp theo dõi. Sách Đông Kinh nghĩa thục của Chương Thâu đã dẫn nhận xét về ông của thực dân Pháp:\n\"Một phần tài liệu giảng dạy quan trọng ở trường Đông Kinh từ nước ngoài gửi về, trong đó có những tác phẩm của Phan Bội Châu như Hải ngoại huyết thư được nhà trường dịch ra ba thứ tiếng Hán, Nôm, Quốc ngữ phổ biến rộng rãi. Theo dõi hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục, bọn mật thám phát hiện: \"Cứ ba, bốn ngày một lần, Võ Hoành bí mật tập hợp một số người tại nhà riêng để đọc tài liệu từ Hải ngoại gửi về và mưu toan hưởng ứng cuộc bạo động của Phan Bội Châu tổ chức”.\nKhi trường Đông Kinh nghĩa thục bị Phủ Thống sứ Bắc Kỳ giải tán, Võ Hoành vẫn bí mật phân phát những tài liệu giảng dạy ở trường trong các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội. Cuối năm 1907 khi Thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Hoàng Hoa Thám cử Đội Hổ, Chánh Tỉnh, Chánh Song về bắt liên lạc với ông và các ông Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Quyền, Đồ Đàm, Đội Bình, Đội Nhân thành lập đảng Nghĩa Hưng ở Hà Nội thì Võ Hoành có nhiều đóng góp quan trọng.\nKhi vụ \"Hà thành đầu độc\" năm 1908 nổ ra Võ Hoành cũng nhiều yếu nhân của trường Đông Kinh Nghĩa thục tham gia. \"Vụ Hà Thành đầu độc” thất bại, giặc Pháp bắt Võ Hoành kết án chung thân khổ sai đầy ra Côn Đảo. Ông được tha trước thời hạn, năm 1909 nhưng bị bọn Pháp an trí ở Sa Đéc. Tuy bị Pháp an trí, nhưng vẫn hăng hái hoạt động cách mạng. Mặc dù bọn cầm quyền Pháp kiểm soát rất ngặt Võ Hoành vẫn liên lạc được với Nguyễn Quyền bị an trí ở Bến Tre, Dương Bá Trạc bị an trí ở Long Xuyên, Lương Văn Can bị an trí ở Nông Pênh. Năm 1914 cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ Hồ Chủ tịch đã tới Sa Đéc gặp Võ Hoành, cùng gặp gỡ các nhà chí sĩ ở Bắc Kỳ bị an trí ở Nam Kỳ để bàn kế hoạch tổ chức lực lượng yêu nước và cũng để hỏi thăm tin tức của Nguyễn Ái Quốc...\n\nHoàng Tăng Bí tự là Nguyên Phu, sinh năm Tân Tỵ (1833) tại làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội.\nÔng thi đỗ Á nguyên khoa Bính Ngọ (1906), song không ra làm quan mà tham gia phong trào Duy tân, đi các nơi diễn thuyết, hô hào Duy tân.\nÔng tham gia Đông Kinh nghĩa thục từ đầu, sung vào ban giáo dục. Ban này chia làm ba môn: Việt văn, Hán văn, Pháp văn. Hoàng Tăng Bí cùng các ông Nguyễn Quyền, Vũ Trác, Hoàng Tích Phụng, Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Đào Nguyên Phổ dạy Hán văn.\nHoàng Tăng Bí còn tham gia giảng bài, bình thơ vàn yêu nước, diễn thuyết ở trường Đông Kinh nghĩa thục, các phân hiệu ở Hà Nội, Hà Đông về văn thơ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền và của nhiều nhà hoạt động cách mạng khác từ Trung Quốc, Nhật Bản gửi về. Các ông cũng đưa những bài văn thơ đăng trên Đăng cổ tùng báo và Đại Việt Tân báo là cơ quan ngôn luận của trường. Ông là một diễn giả nổi tiếng của Đông Kinh nghĩa thục.\nHoàng Tăng Bí cổ động cho việc phát triển công nghiệp thương nghiệp để phát triển kinh tế của đất nước và là người thực liệm đã cùng với Nguyễn Quyền mở cửa hàng Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai vừa buôn bán, vừa làm công nghệ. Ông là người đầu tiên dùng những khung cửi rộng dệt xuyến hoa phù dung lớn rồi nhuộm đen. Hiệu buôn của ông còn sao tẩm chế ra trà Tàu, trà mạn, trà hộp ướp sen và giấy hoa tiên để cạnh tranh với hàng của Hoa kiều.\nĐông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, ông thôi dạy học vẫn tiếp tục mở mang thủ công nghệ, buôn bán và vẫn giữ liên lạc với các yếu nhân, giảng viên Đông Kinh nghĩa thục đàm luận thời cuộc.\nKhi vụ \"Hà Thành đầu độc\" nổ ra, thực dân Pháp đã gán cho những yếu nhân của Đông Kinh nghĩa thục có liên quan chủ mưu trong vụ đầu độc và liên kết với nghĩa quân Yên Thế đánh úp Hà Nội để bắt đưa đi đầy ở Côn Đảo, an trí ở các tỉnh thuộc Nam Kỳ, Cao Miên. Hoàng Tăng Bí cũng bị bắt, nhưng nhờ có nhạc gia là Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Hộ bảo lãnh, được tha, chỉ bị an trí ở Huế. Tại đây ông học tiếng Pháp và Toán, trở thành tinh thông.\nNăm 1915 ông ra Hà Nội mở trường dạy học Pháp văn, Toán học, Khoa học thường thức. Ông cũng dạy Việt văn ở trường Tư thục Gia Long (sau đổi là Thăng Long).\nNăm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân (1910), ông thi Hội, đậu Phó bảng, nhưng không ra làm quan.\nÔng viết báo và dịch các tiểu thuyết của Pháp như Paul et Virginie của Bemadin de Saint-Pierri. Le conte de Monte Cristo đăng trên báo Trung - Bắc tân văn mà ông làm trợ bút. Ông còn soạn các vở tuồng Đệ bát tài tử hoa tiên ký (1913), Nghĩa nặng tình sâu (1926), Thù chồng nợ nước (1927). Các vở tuồng của ông đều mượn tích xưa để kêu gọi đồng bào vùng lên đánh đuổi quân thù.\nHoàng Tăng Bí qua đời năm 1939.\n\nTrần Quý Cáp còn có tên là Nghị, tự Dã Hàng, lại tự là Thích Phu, hiệu Thai Xuyên. Ông sinh năm Canh Ngọ (1870), quê ở thôn Đài La, làng Bát Nhị, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.\nÔng thông minh, học giỏi, nhưng thi Hương ba khóa chỉ đậu Tú tài. Vì nhà nghèo, ông phải đi dạy học thêm ở nhà Bố chính Nguyễn Mại.\nTrần Quý Cáp đỗ tú tài liền ba khóa, theo lệ coi như đã đỗ cử nhân, được vào thi Hội. Ông đỗ Tam giáp tiến sĩ khoa Giáp Thìn (Thành Thái 16 năm 1904).\nTrần Quý Cáp không muốn làm quan, mà dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Thời gian đầu Trần Quý Cáp thuộc nhóm Duy tân hội (bạo động - cầu ngoại viện) của Phan Bội Châu. Song vì ông còn mẹ già nên không theo Phan Bội Châu sang Nhật Đông du được. Trần Quý Cáp hưởng ứng phong trào cải cách do Phan Chu Trinh khởi xướng và trở thành một nhân vật nhiệt thành với sự nghiệp cải cách.\nNăm Ất Tỵ (1905), ba nhà ái quốc Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lên đường vào Nam du để tuyên truyền cách mạng, quyên góp tiền vào quỹ Đông du.\nTrường Thăng Bình là nơi Trần Quý Cáp được cử đến làm giáo thụ, ông mở ngay lớp trong trường của nhà nước, mời thày về dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, học trò có vài trăm. Các hoạt động mở trường, diễn thuyết do Trần Quý Cáp chủ trương diễn ra sôi động ở tỉnh Quảng Nam, khiến cho bọn cầm quyền Pháp lo ngại.\nNgày 15 tháng 12 năm Duy Tân Thứ nhất (cuối tháng 1/1908), Tổng đốc Quảng Nam là Hồ Đắc Trung có trát cho các tổng, xã trong tỉnh là theo lời công sứ, Trần Quý Cáp, giáo thụ ở phủ Thăng Bình thường vận âu phục, đi lại các xã đánh trống, tụ tập dân chúng diễn thuyết, từ nay cấm Trần Quý Cáp không được làm như thế nữa. Đồng thời lệnh cho các tổng lý thông báo cho dân biết từ nay không được đánh trống, tụ tập diễn thuyết, ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật, những lý dịch không thực hiện nghiêm lệnh này cũng bị xử phạt. Ngay sau đó nhà cầm quyền Pháp đổi Trần Quý Cáp vào Khánh Hòa.\nĐầu tháng 5/1908 xảy ra việc chống thuế ở Quảng Nam. Giữa tháng 5/1908, Trần Quý Cáp từ Nha Trang gửí thư về cho bạn ở Quảng Nam, trong đó có đoạn: \"Cận văn ngô châu cử nhất, khoái sự ngô văn chi. Khoái thậm! Khoái thậm!” (Gần đây tôi nghe ở tỉnh nhà, có làm được một việc rất thú. Tôi nghe tin lấy làm khoái lắm! Khoái lắm).\nKhông ngờ thư bị kiểm duyệt, Phạm Ngọc Quát, Án sát Khánh Hòa vốn xuất thân tú tài bị ông khinh miệt, tìm cách trả thù. Hắn báo việc này với công sứ tỉnh Khánh Hòa là Bréda là nhân vụ chống thuế bắt ông. Hắn không trình lên triều đình Huế, muốn nhân dịp này trừ ông để đánh phá phong trào, vừa để trả thù ông khinh miệt hắn. Hắn thông đồng với công sứ Bréda quan thày của hắn cho lính khám nhà ông. Chúng chỉ bắt được một tấm bản đổ thế giới treo trên tường và tìm được bản \"Hải ngoại huyết thư\" ở trong tráp. Tội trạng như thế cũng chưa đủ để kết án, song tên Việt gian này đã làm án: \"Gia trung quốc thế giới địa đồ bức, ý dục hà vi Sương nội tàng Hải ngoại huyết thư nhất phong tịnh kỳ khả biến. Truy bạn trọng vị hình, nhi bạn tâm dĩ súc kĩ. Kỳ y Trần Quý Cáp, nghĩ ưng xử trảm dĩ vi mưu bạn giả giới” (Trên tường treo một bức bản đồ thế giới, ý muốn làm gì? Trong tráp giấu một phong \"Hải ngoại huyết thư\" tình đà đủ thấy. Tuy việc phản chưa hình thành nhưng lòng phản đã sẵn. Nghĩa nên xử chém, để những bọn mưu phản làm gương).\nTrần Quý Cáp bị bắt khiến dư luận phản ứng mạnh mẽ đòi đưa Trần Quý Cáp ra xét xử công khai. Song tên công sứ Bréda và Phạm Ngọc Quát đã vu khống cho Trần Quý Cáp tội \"Có hành động tạo phản chống Nam triều và Chính phủ Bảo hộ\".\nPhạm Ngọc Quát biết rõ với chứng cớ và lời lẽ trong thư, tấm bản đồ và bản \"Hải ngoại huyết thư\" chưa thể xử chém, thế nào Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, Bộ Hình cũng can thiệp, hắn tính: “Làm sự đã rồi”, ngày 17/5/1908 nghĩa là 2 ngày sau khi Trần Quý Cáp bị bắt, hắn thông báo sẽ xử theo hình thức \"yêu trảm\" nghĩa là chém ngang lưng ở bãi Sông Cạn bên cầu Phước Thanh, tục gọi là \"Gò chết chém\", nơi mà 23 năm trước (1885), giặc -Pháp đã chém Đề Phong (Trịnh Phong) thủ lĩnh phong trào Cần vương tỉnh Khánh Hòa.\nTrước khi bị chém ông ung dung đọc bài thơ Tuyệt mệnh.\n\"Ai mà sợ chết, chết như chơi\nChết cũng vì vua, chết bởi thời\nChết hiếu đã đành xương thịt nát,\nChết trunq bao quản cổ đầu rơi\nChết nhân tiếng để hiền muôn thuở\nChết nghĩa danh nêu biết mấy đời\nThà chết, chết trong hơn sống đục,\nAi mà sợ chết, chết như chơi.\nHôm đó là ngày 5 tháng 5 năm 1908, khi đó ông mới 38 tuổi.\n\nTrương Gia Mô hiệu Cúc Nông, tự là Sư Thánh, sau đổi là Sư Quản, biệt hiệu Hoài Huyền Tử, sinh năm 1806. Ông quê ở Gia Định, nhưng sinh tại làng Hương Điểm, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.\nTuy sinh ở Bến Tre, nhưng từ thời niên thiếu, Trương Gia Mô sống ở Bình Thuận là chính khi cha ông đương chức Tuần vũ Thuận - Khánh.\nTrương Gia Mô bẩm tính thông minh, học giỏi từ nhỏ và tìm đọc rất nhiều loại sách, kể cả sách khoa học, công nghệ, ngoại thương của phương Tây được dịch ra tiếng Hán. Nhờ đó ông tinh thông văn thơ, sử địa, kinh tế, quân sự. Chính vì vậy mà nhân dân gọi ông là Nghè Mô.\nNăm Nhâm Thìn (1892), Trương Gia Mô ra Huế được bổ làm thừa phái bộ Công.\nTại bộ Công, ông có điều kiện tiếp xúc với các loại sách do các đoàn đi sứ Trung Quốc, Pháp, Xingapo, Hương Cảng, Hồng Kông mang về. Nhân thượng thư Nguyễn Trọng Hợp được cử đi Pháp đàm phán, Trương Gia Mô gửi bản Điều trần lên vua Tự Đức xin triều đinh cải cách 5 việc:\n1. Mở trường dạy học chữ Pháp ở các tỉnh. Dịch sách chữ Pháp và chữ Trung Quốc ra chữ Quốc ngữ để phổ biến rộng rãi ra dân chúng.\n2. Chấn hưng công nghệ thực nghiệp, mở rộng việc khai hoang, chăm sóc, chữa bệnh cho bệnh nhân nghèo.\n3. Cách chức bọn quan lại tham nhũng, sàng lọc bọn vô dụng trong bộ máy công quyền.\n4. Lập Nghị viện, mở báo quán để rộng đường dư luận.\n5. Chỉnh đốn hương tục, đẩy mạnh việc giáo hóa trong xã hội, ngăn ngừa sự đồi bại.\nĐể được trực tiếp quan sát, học hỏi kỹ nghệ phương Tây, đưa về ứng dụng ở Việt Nam, ông làm đơn sung vào sứ đoàn đi Pháp, nhưng cả hai việc ông đề xuất đều không được triều đình chấp nhận. Ông bất mãn, trao trả ấn tín, từ quan về sống ở Lục tỉnh, sau đó lại trở ra Bình Thuận. Ông đã cùng với Nguyễn Lộ Trạch mưu tính việc xuất dương nhưng việc không thành.\nNăm 1904, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng \"Nam du\" để liên kết đồng chí chuẩn bị cho ra đời Hội Duy tân đã dừng chân ở Bình Thuận giao kết với Trương Gia Mô, cùng các thân sĩ hô hào Duy tân, cải cách, tổ chức công ty Liên Thành, thành lập trường Dục Thanh.\nNăm Mậu Thân (1908), sau vụ chống thuế ở Quảng Nam, ông bị bọn cầm quyền Pháp kết tội, tham gia vào tổ chức bí mật \"đảng hội\", bị chúng bắt giam ở nhà lao Khánh Hòa. Nhà ông cũng bị lính của Án sát tỉnh Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát lục soát. Phạm Ngọc Quát không tìm được chứng cớ buộc tội ông, nên phải thả ông. Ông trở về nhà lúc đã ngoài 40 tuổi, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Song ông vẫn bí mật liên lạc với Tri phủ Tôn Thất Doãn và các đồng chí trong Duy tân hội ngấm ngầm xây dựng lại phong trào.\nBình sinh Trương Gia Mô rất ghét giặc Pháp, ghét triều đình suy tàn. Khoảng năm 1928 - 1929 ông tiếp xúc với Nguyễn Sinh Sắc. Theo nhân dân miền Nam truyền lại thì khi Bảo Đại ở Pháp về làm vua, ông đi sắm súng sáu để đón đường bắn chết. Việc không thành, ông bị giặc Pháp truy bắt, ông ẩn mình ở núi Sam, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc tỉnh An Giang. Ông muốn tự tử, đốt cả thơ mình. Bị mật thám truy bức ráo riết ông không muốn mình lọt vào tay chúng, đã leo lên tháp cao của pháo đài cổ, gieo mình xuống vực sâu tự tử. Sự việc đó xảy ra vào năm 1929. Các báo Thần Chung, Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn đưa tin và bình luận cái chết của ông với sự kính trọng và thương tiếc. Mộ ông chôn ở chân núi Sam.\n\nBùi Liêm sinh năm 1881, người làng Giáp Nhị, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, song ông dự một khoa thi Hương nhưng không đỗ. Họ hàng có nhiều người làm quan, đưa ông vào học ở trường Hậu bổ, nhưng ông từ chối, liên lạc với các nhà nho yêu nước tìm đường cứu nước. Ông kết bạn với Phan Tuấn Phong ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm.\nNăm 1907, Phan Tuấn Phong giới thiệu Bùi Liêm tham gia Đông Kinh nghĩa thục. Bùi Liêm nhận thấy Thái Bình là nơi có phong trào Văn thân chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX, phong trào Đông du, phong trào Đông Kinh nghĩa thục phát triển, nơi có nhiều trường học dạy theo chương trình của trường Đông Kinh nghĩa thục, nên liền về huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình mở một cửa hàng Tạp hóa vừa để kinh doanh sinh sống, vừa là nơi liên lạc với các nhà nho yêu nước ở Thái Bình, Nam Định, vừa lấy tiền ủng hộ những người xuất dương Đông du. Sau khi Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, Bùi Liêm tham gia phong trào Đông du của Phan Bội Châu.\nGiữa năm 1912, nghe tin Việt Nam Quang Phục hội thành lập, Bùi Liêm cùng Đinh Trọng Liên, Nguyễn Quang Uyên (tức Hồ Hải Thu)... trốn sang Trung Quốc tham gia Việt Nam Quang Phục hội.\nNăm 1913, Trung ương Quang Phục Hội cử Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng về nước ám sát Toàn quyền Albert Sarraut, Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn không đạt kết quả mĩ mãn. Năm 1915 Quang Phục Hội lại cử Hoàng Trọng Mậu (Nguyễn Đức Công), Nguyễn Hải Thần, Trần Hữu Lực (Nguyễn Thúc Đường)... về đánh đồn Tả Lùng. Vì sai lầm của Nguyễn Hải Thần trận đánh thất bại, Trần Hữu Lực bị bắt ở Hương Cảng, Hoàng Trọng Mậu bị bắt ở Băng Cốc, rồi hai ông bị xử bắn ở Bạch Mai.\nSau một số lần thất bại, năm 1916 Việt Nam Quang Phục hội lại cử Bùi Liêm và một số đồng chí về nước gây dựng phong trào, nhưng trên đường về nước Bùi Liêm tới Quảng Châu thì bị mật thám bắt giải về nước.\nTại Tòa án Đại hình ngày 6 tháng 11 năm 1916, Bùi Liêm bị giặc Pháp xử bắn tại thành phố Nam Định - là nơi ông tham gia hoạt động.\nTrước khi chết ông có thư tạ tội cùng bố, vì đã không giữ trọn đạo hiếu phụng dưỡng cha già. Trong thư có hai câu nói lên chí hướng của mình:\n\"Sinh bất tiêm cừu chung hữu hậu\nTử nhu đắc sở thị hoàn danh\"\nDịch:\nSống chẳng diệt thù ôm hận mãi\nChết mà đúng chỗ ấy danh thơm.\n\nLê Đình Cẩn còn gọi là Lê Cẩn sinh năm Canh Ngọ (1870), người xã Hòa Vinh, huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, nay Hòa Nghĩa thuộc huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.\nLê Đình Cẩn là người thông minh, hiếu học. Ông đậu cử nhân khoa thi Hương năm Quý Mão, Thành Thái thứ 15 (1903) tại trường thi Bình Định, năm 34 tuổi, cùng khóa với Nguyễn Thụy (Nguyễn Sụy). Ông được bổ làm Huấn đạo huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.\nSau ông chán cảnh triều đình Huế ngày càng lệ thuộc vào thực dân Pháp, tiếp tay cho chúng đàn áp các phong trào chống Pháp của nhân dân. Vì vậy ông từ quan trở về kết giao với các nhân sĩ mưu việc cứu nước. Ông hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa do Trần Du lãnh đạo.\nNăm 1905, 1906, Lê Đình Cẩn tham gia phong trào Duy tân và Đông Du. Ông là một trong số ít người được Phan Bội Châu bàn bạc về Cương lĩnh chương trình hoạt động của Hội và có nhiều đóng góp tích cực cho sự ra đời của Duy tân hội và phong trào Đông Du.\nNăm 1908 nổ ra cuộc chống thuế quyết liệt ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, ông tích cực tham gia, trở thành một trong số người lãnh đạo chủ chốt của phong trào này. Lê Đình Cẩn đã cùng Lê Khiết, Nguyễn Bá Loan, cử Thụy, Tú Chẩm... đi khắp 6 phủ huyện phát động nhân dân nổi dậy chống thuế rầm rộ ở Quảng Ngãi, trở thành cao trào kéo về vây thành Quảng Ngãi tới 10 ngày và trừng trị bọn tay sai của giặc Pháp.\nKhi giặc Pháp đàn áp, ông bị giặc Pháp bắt cùng với các ông Lê Khiết, Nguyễn Bá Loan, cử nhân Nguyễn Thụy, cử Quảng, tú tài Nguyễn Cao Chẩm... Khi bị bắt, ông vẫn ngang nhiên chửi thẳng vào mặt tên tay sai đầu sỏ Nguyễn Thân. Giặc Pháp đưa ông về giam ở nhà lao Quảng Ngãi cùng với Cử Thụy, Tú Chẩm, Tú Tuyên, Cử Quảng, huyện Mai để chờ đưa đi đầy ở Côn Đảo. Tại nhà lao, Lê Đình cẩn làm bài thơ chữ Hán:\n\"Cố quốc sơn hà trọng\nTân triều thế lực khinh\nHùng tâm vinh đỉnh hoạch\nTô mộng đoạn nghê kình\nDục liệu Cao trường khấp\nNinh tri Cát bất thành\nTúng nhiên lưu nhiệt huyết\nĐồng loại hấp văn minh\"\nCụ Huỳnh Thúc Kháng dịch và in trong tập Thi tù tùng thoại:\n\"Non sông ơn vẫn nặng\nSóng gió cuộc vừa xoay\nVạc lửa lòng quên sợ\nTăm kình mộng đuổi ngay\nKhóc đời Cao chư chán\n(1)\nHỏng việc Cát nào hay\n(2)\nMáu nóng đầu trôi chảy\nVăn minh hấp cả bầy\".\n(1) Cao Sơn Chinh Chí\n(2) Cát Điền là nhân vật Duy tân Nhật Bản.\nLê Đình cẩn bị chết ở Côn Đảo năm 1915 (Tú Quang cũng bị chết, Nguyễn Cao Chẩm bị bọn chúa đảo sát hại tại đảo).\n\nHoàng Xuân Hành còn gọi là Giám Hành vì con đầu ông tên là Giám, nhân dân thường gọi là cố Giám Hành. Quê ông ở làng Hoàng Trù tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Thanh, tỉnh Nghệ An, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hoàng Xuân Hành thông minh, văn thơ hay, nhưng mấy lần lều chõng đi thi đều bị trượt vì phạm quy. Ông làm thày đồ ở các làng Dương Phổ, Phù Long.\nNam Đàn là địa phương đầu tiên ở Nghệ An có tổ chức Duy Tân hội do các ông Hoàng Xuân Hành cùng các ông cử nhân Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương, Vương Thúc Nghiêm... thành lập. Hoàng Xuân Hành là người dìu dắt Nguyễn Thị Thanh, con của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh sắc vào tổ chức Duy Tân hội.\nÔng được Phan Bội Châu tin cậy cử đi Yên Thế cùng với các ông Phạm Văn Ngôn, Vương Thúc Nghiêm, xây dựng đồn điền Tú Nghệ. Ít lâu sau Phan Bội Châu lại điều ông về Nghệ An cùng với các ông Đội Quyên, Đội Phấn, Thần Sơn Ngô Quảng, Lang Sơn... xây dựng căn cứ chống Pháp ở Bố Lư (Thanh Chương) và Đông Hồ (Tân Kỳ). Hoàng Xuân Hành cùng các đồng chí đã phân phát những lời kêu gọi, những vần thơ ứa máu và nước mắt của cụ Phan như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Khuyến quốc dân trợ tư dư học... đã khơi dậy lòng căm thù giặc Pháp, lòng yêu nước thiết tha của các nho sinh, thanh niên, nhân dân huyện Nam Đàn.\nHoàng Xuân Hành cùng các yếu nhân khác của Duy tân hội và phong trào Đông du đã vận động được nhiều thanh niên xuất dương như Vương Thúc Thoại, Vương Thúc Oánh, Nguyễn Sinh Khánh, Hoàng Tộ...\nNăm 1911 cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công, năm 1912, Phan Bội Châu triệu tập các yếu nhân của Duy tân hội và phong trào Đông du ở trong nước, ở Trung Hoa, Xiêm La thành lập Việt Nam Quang Phục hội, Phục Quốc quân xây dựng lực lượng vũ trang ở trong nước và ở Trung Hoa. Hai căn cứ Bố Lư và Đông Hồ được củng cố. Hoàng Xuân Hành tích cực hoạt động trong tổ chức này. Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt, nhất là ở làng Dương Phổ nơi ông ngồi dạy học.\nNăm 1914 ở đây đã nổ ra phong trào đánh Tây chống áp bức bất công. Phong trào công khai chống thực dân Pháp và Nam triều ở Dương Phổ được các làng Mỹ Thiện, Vạn Lộc, Xuân La noi gương.\nNăm 1915 Hoàng Xuân Hành về hoạt động ở thôn Mỹ Thiện, xã Tràng Cát, nay là xã Nam Cát, giáp xã Kim Liên về phía Đông. Do một học trò cũ phản bội chỉ điểm cho giặc Pháp, Hoàng Xuân Hành bị mật thám bắt giải về Vinh. Khi chúng giải đến địa phận huyện Hưng Nguyên, ông cắn lưỡi tự tử, song không chết. Chúng giải ông đến nhà lao Vinh, ông tuyệt thực luôn 9 ngày đêm. Giặc tra tấn ông bằng những đòn dã man, tàn bạo, cũng không lấy được một lời khai. Ngay kẻ thù cũng phải khiếp phục lòng kiên trinh, bất khuất của ông. Tòa án thực dân kết án ông tù 10 năm, đầy đi Lao Bảo.\nNăm 1925 Hoàng Xuân Hành được trả tự do. Nghe tin Phan Bội Châu bị quản thúc ở Huế, ông vào ngay Huế thăm người lãnh tụ của phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX.\nHoàng Xuân Hành đã cùng các ông Huỳnh Thúc Kháng, Trần Hoành, Phạm Nghị, Trần Đình Phiên và hai con trai của ông là Phan Nghi Huynh, Phan Nghi Đệ khâm liệm chôn cất ông Phan chu đáo. Ông còn ở lại chăm sóc phần mộ cho cụ Phan cho đến khi cải táng mới trở về quê. Về tới nhà được ba tuần, đúng ngày rằm tháng 10 năm Nhâm Ngọ (22/12/1942) Hoàng Xuân Hành từ biệt cõi đời.\n\nLương Văn Can tự là Hiếu Liêm, hiệu Ôn Như sinh năm 1854, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông nay là huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây.\nÔng sinh trưởng trong một nhà nho có truyền thống khoa bảng. Gia đình có nhà ở số 4 Hàng Đào, Hà Nội, mặt sau là số 10 phố Hàng Quạt.\nLương Văn Can thông minh từ nhỏ theo học cử nhân làng Vũ Thạch là một trường rất nổi tiếng, có đến hàng ngàn học trò (nay là số 7 Tràng Thi).\nNăm Lương Văn Can 17 tuổi đã thi Hương vào Tam trường, năm 1871 đỗ cử nhân. Năm 1872 ông thi Hội không đỗ. Triều đình cử làm giáo thụ phủ Hoài Đức, ông không nhận.\nKhi thực dân Pháp ổn định được bộ máy cai trị ở Hà Nội mời ông ra làm uỷ viên Hội đồng Thành phố, ông cũng không nhận, ở nhà dạy học, nuôi chí.\nLương Văn Can thấy đất nước ngày càng suy vong, ông mở trường dạy học ở số 4 phố Hàng Đào. Đây cũng là nơi lui tới của các chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Dương Bá Trạc... thường đến xướng hoạ văn thơ, đọc tân thư, tân văn, đàm đạo công việc cứu nước.\nLương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc... cùng các yếu nhân khác đã tích cực triển khai việc mở trường Đông Kinh Nghĩa thục ở Hà Nội...\nCử nhân Lương Văn Can, 53 tuổi là người nhiều tuổi nhất trong số sĩ phu sáng lập được bầu làm Thục trưởng phụ trách Ban Tu thư, Nguyễn Quyền được bầu làm Giám học.\nTháng 12 năm 1907 Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh đóng cửa trường. Năm sau chúng bắt các ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Lê Đại, tịch thu sách vở, tài liệu của trường. Tuy vậy thực dân Pháp không đủ chứng cứ kết tội nên phải thả. Song chúng vẫn cho mật thám giám sát chặt chẽ.\nNăm 1908 nhân Vụ Hà thành đầu độc, thực dân Pháp liên tục bắt Lương Văn Can, giám học Nguyễn Quyền cùng các giảng viên khác xét hỏi ở Sở Liêm phóng. Chúng căn vặn Lương Văn Can nhiều vấn đề, nhưng trước sau ông chỉ ôn tồn đáp: \"Chúng tôi mở trường Nghĩa thục để giúp Chính phủ khai hóa dân trí và Chính phủ đã cho phép. Từ khi Chính phủ rút phép, thì chúng tôi không hoạt động gì nữa!”'. Không có lý do để bắt giữ ông, hơn nữa trông ông đã già, râu tóc bạc trắng như đã 70 tuổi, chúng buộc phải thả, nhưng vẫn giám sát chặt chẽ.\nNăm 1913 sau vụ chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội ném bom vào khách sạn \"Con gà vàng’’ (ngày 23 tháng 4), thực dân Pháp bắt giam tới mấy trăm người, chúng cho là do nhóm Đông Kinh nghĩa thục chủ trương, nên bắt giam Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Dương Bá Trạc, Nguyễn Cảnh Lâm và nhiều giảng viên khác. Chúng kết án Lương Văn Can 10 năm biệt xứ, đưa đi an trí ở Phnom Pênh.\nNăm 1924, sau 9 năm bị an trí ở ông mới được trở về nước. Trong thời gian trở về Hà Nội, Lương Văn Can để hết tâm lực vào soạn các bộ sách: Quốc sự phạm lịch sử ấu học, Tùng đàm và dịch các bộ sách Luận ngữ, Mạnh Tử. Ông còn có mối liên hệ mật thiết với các nhà cách mạng như Nguyễn Mậu Cường ở Thái Bình, Phan Bội Châu bị an trí ở Huế, Huỳnh Thúc Kháng...\nSáu giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm Đinh Mão (12/6/1927), Lương Văn Can mất đột ngột.\n\nNguyễn Quyền sinh năm 1869, quê ở làng Thượng Trì, tục gọi là làng Đìa, tổng Thượng Mão, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông thi đỗ tú tài khoa Tân Mão (1891).\nCuối năm 1905, ông được bổ nhiệm làm Huấn đạo Phủ Lạng. Gọi là Phủ, nhưng chỉ là tỉnh nhỏ Lạng Sơn, vì quan Tổng đốc Lạng Sơn là Vi Văn Lý (con trai Vi Văn Định) tư xin phủ Thống sứ bổ cho một quan giáo chức là dạy học trò bản tỉnh. Vì vậy phủ Thống sứ mới bổ nhiệm ông. Nguyễn Quyền dạy học, nhưng học trò ít lắm, nên có thời giờ đọc Tân thư của Trung Quốc, do chí sĩ Duy tân Trung Quốc soạn hoặc dịch của các nước châu Âu, châu Mỹ như \"Trung Quốc hồn”, \"Quần kỹ quyền giới luận”. Ông cũng đã tiếp thu được những tư tưởng tân tiến trong Tân thư.\nQua một số lần tiếp xúc của Nguyễn Quyền với Lương Văn Can và một số nhà nho yêu nước khác, các cụ đã quyết định mở trường nghĩa thục tại Hà Nội, đặt tên là Đông Kinh nghĩa thục. Với lòng thiết tha đào tạo nhân tài cho đất nước, Nguyễn Quyền từ chức đốc học Lạng Sơn về Hà Nội tổ chức trường. Lương Văn Can được cử làm thục trưởng, Nguyễn Quyền khi đó 38 tuổi được cử làm giám học. Hai ông là những người đứng mũi chịu sào, chèo lái con thuyền Đông Kinh nghĩa thục.\nNhững hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục khiến cho thực dân Pháp tức tối.\nVì vậy cuối năm 1907, phủ Thống sứ Bắc Kỳ đã ra quyết định rút giấy phép của Đông Kinh nghĩa thục lấy cớ trường này đã làm náo động lòng dân, cấm các cuộc diễn thuyết bình văn, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục bị tịch thu. Đông Kinh nghĩa thục giải tán ít lâu, Thống sứ Bắc Kỳ buộc Nguyễn Quyền trở lại ty giáo huấn với chức vụ giáo thụ phủ Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Quyền về nhận chức giáo thụ ở Phù Ninh được một tháng thì bị giặc Pháp bắt giải về Hà Nội, giam ở Hỏa Lò. Các ông Lê Đại, Võ Hoành, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí... cũng đều bị bắt. Nguyễn Quyền bị giam ở Hỏa Lò 9 tháng thì cùng các ông trên bị Pháp đưa ra Hội đồng Đề hình (Comission criminelle) xét xử. Hội đồng này khép Nguyễn Quyền vào án \"Trảm giam hậu” sau đổi thành án khổ sai chung thân đầy ra Côn Đảo vào năm 1909.\nNăm 1930, Nguyễn Quyền được trả tự do được coi là \"Cứu xét vô can\" (Xét ra không can phạm tội gì) nhưng bị an trí ở tỉnh lỵ Bến Tre, Dương Bá Trạc ở Long Xuyên, Võ Hoành ở Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí ở Huế, Phan Chu Trinh ở Mỹ Tho.\nNguyễn Quyền bị an trí, song vẫn nặng lòng yêu nước, vẫn giao du với những nhà chí sĩ yêu nước trong vùng lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre làm nơi giao thiệp, liên lạc với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc gửi sang Nhật giúp Phan Bội Châu.\nNăm 1941, Nguyễn Quyền bị bệnh bướu ở cổ. Vào 12 giờ đêm ngày 24-6 năm Tân Tỵ (18-7-1941) ông từ trần. Mộ táng ở làng Tân Xuân gần xã Rạch Vạc, tỉnh Sa Đéc).\n\nPhạm Tư Trực hồi nhỏ có tên là Phạm Đăng Thê, tự Bang Phu, hiệu Trọng Thăng Tử, là con ông Phạm Hải, sinh quán ở làng Hoàng Xá, nay thuộc xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Thuở nhỏ Phạm Tư Trực chăm học, lại chăm lo việc nhà nông. Ông đỗ tú tài liền hai khoa Canh Tý (1900) và Quý Mão (1903). Đến khoa Bính Ngọ (1906) ông đỗ cử nhân thủ khoa. Thấy ông là người tài giỏi, chữ đẹp, Hoàng Cao Khải mời ép ông về tư dinh ở Thái Hà ấp chép hộ tập thơ chữ Hán, nhưng thực ra là dụ dỗ ông là làm quan dưới quyền hắn. Phạm Tư Trực lấy cớ còn mẹ già, kiên quyết từ chối xin về. Phủ Thống sứ Bắc Kỳ bổ nhiệm ông làm huấn đạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.\nVốn sẵn lòng yêu nước, ông đã bí mật liên lạc với cử nhân Lương Văn Can, huấn đạo Nguyễn Quyền, hoàng giáp Đào Nguyên Phổ và một số nhà nho khác thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Ông được cử vào ban Tu thư viết và dịch sách giảng dạy ở nhà trường và dùng làm tài liệu trong các buổi diễn thuyết cổ súy tân học, bình văn thơ yêu nước. Phủ Thống sứ Bắc Kỳ cấp giấy phép cho trường không thể vừa cấp xong đã thu hồi, để đối phó, phủ Thống sứ cũng thành lập ban tu thư, do ông làm trưởng ban, buộc ông viết một cuốn Lịch sử Việt Nam.\nÔng đã làm bài thơ chứa chan niềm tự hào dân tộc trong các cuộc chiến thắng ngoại xâm trong lịch sử, thực dân Pháp bèn cách chức trưởng ban tu thư ở phủ thống sứ của ông trả về làm huấn đạo huyện Thanh Miện.\nTrong khi giữ chức Huấn đạo ở huyện Thanh Miện, Phạm Tư Trực vẫn làm nhiệm vụ ở ban tu thư. Ông sáng tác thơ văn theo tôn chỉ của trường là ca ngợi tinh thần bất khuất của Tổ tiên trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước, khuyên mọi người đồng tâm đồng sức cứu nước.\nLời thơ của Phạm Tư Trực có những câu cứng như thép, quyết liệt được thể hiện trong bài Cải cách lối học:\nChí làm trai đứng trong trời đất\nPhải sao cho tỏ mặt non sông\nKìa kìa mấy bậc anh hùng\nCũng vì thuở trước học không sai đường\nCuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh\nMở trí dân giàu mạnh biết bao\nNước Nam học vấn thế nào\nChẳng lo bỏ dại lẽ nào còn khôn\nChữ quốc ngữ là hồn trong nước\nPhải đem ra tỉnh trước dân ta\nSách các nước, sách Chi-na\nChữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường.\nNhưng trong bài thơ \"Mẹ khuyên con'' thì lời thơ lại nhỏ nhẹ, tâm tình, đúng là tiếng tâm sự thủ thỉ của mẹ hiền:\nCon làm sao cho thù báo nghĩa đền\nCho yên việc nước kẻo phiền mẹ cha\nCon làm sao cho ích nước lợi nhà\nNước kia có vẹn thì nhà mới xong\nCon làm sao, cho nổi tiếng Lạc Hồng\nVăn minh đôi chữ đọ cùng Á, Âu.\nPhạm Tư Trực còn dịch nhiều sách chữ Hán ra chữ Nôm như sách Đại học, Luận Ngữ, Kinh thi. Ông biên soạn các sách Ấu tân học thư, Nam quốc lịch sử giáo khoa thư, Tu thân, Luân lý giáo khoa thư.\nTrong khi tham gia hoạt động ở Đông Kinh nghĩa thục, Phạm Tư Trực vẫn bí mật liên lạc với phong trào Đông du do Phan Bội Châu tổ chức.\nPhạm Tư Trực mất ngày 15 tháng 3 năm Tân Dậu (1921) tại quê nhà, thọ 53 tuổi.\n\nPhan Tuấn Phong là anh cả Phan Văn Trường quê ở làng Đông Ngạc (Vẽ) huyện Từ Liêm, Hà Nội, ông cùng là Phan Trọng Kiên tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục.\nSách \"Đông Kinh nghĩa thục\" của Chương Thâu viết về hoạt động của Phan Tuấn Phong đối với trường Đông Kinh nghĩa thục như sau: \"...Ngoài ra còn có nhiều hội viên tán trợ như: Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lê Đại, Vũ Hoành, Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Tất Tuân v.v...”\nPhan Tuấn Phong thường có mặt ở Chèm, nơi có đông đảo nhân dân tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Đề phòng bọn cầm quyền Pháp khủng bố những người tham gia, lập một tổ chức bí mật ở một hiệu thuốc Bắc trên bờ đê sông Hổng, làm nơi hội họp nghe bình thơ văn, diễn thuyết. Phan Chu Trinh, Lương Trúc Đàm thường về diễn thuyết bình văn.\nKhi Bùi Liêm về Thái Bình cùng các ông Đào Nguyên Phổ, Ngô Quang Đoan, Phạm Tư Trực mở một trường Đông Kinh nghĩa thục ở Thái Bình, Phan Tuấn Phong cũng hết sức khuyến khích, cung cấp một số tài liệu giảng dạy, học tập.\nĐể có tiền ủng hộ những người xuất dương Đông Du, Bùi Liêm về huyện Thụy Anh mở cửa hàng Tạp hóa thì Phan Tuấn Phong cũng về giúp ông tiền vốn, kinh nghiệm kinh doanh.\nPhan Tuấn Phong là một trong những người phụ trách phân hiệu Chèm-Vẽ. Sách Đông Kinh nghĩa thục của Chương Thâu viết: \"Ở làng Chèm (Từ Liêm) nhân dân tham gia phong trào khá đông. Họ tổ chức những buổi bình thơ văn, kích động lòng yêu nước. Ở đây họ lập một tổ chức yêu nước hoạt động bí mật đặt trụ sở ở hiệu thuốc Bắc ngay bờ để làm nơi tụ họp. Phan Chu Trinh, Hoàng Tăng Bí cũng thường về đây diễn thuyết, bình văn\".\nPhan Tuấn Phong là bạn thân với Bùi Liêm quê ở xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì. Biết Bùi Liêm không vào học trường Hậu bổ để ra làm quan, từ năm 1907, Tuấn Phong đã giới thiệu Bùi Liêm vào Đông Kinh nghĩa thục. Sau Bùi Liêm sang Trung Quốc tham gia Việt Nam Quang Phục hội. Năm 1916 nhận lệnh về nước hoạt động, đến Quảng Châu thì bị mật thám Pháp bắt và xử tử hình ngày 6/11/1916 tại thị xã Nam Định.\nSau khi Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh giải tán Đông Kinh nghĩa thục, hiệu thuốc bắc ở làng Chèm cùng nhà nhiều hội viên bị khám xét.\nSau vụ Hà Thành đầu độc ngày 27/5/1908, thực dân Pháp bắt hết các nhà sáng lập, giảng dạy, ủng hộ Đông Kinh nghĩa thục. Phan Tuấn Phong cùng với anh trai là Phan Trọng Kiên bị bắt.\nLịch sử Việt Nam từ năm 1897 đến 1918 cũng viết: \"Hoàng Hoa Thám dã lập ra đảng Nghĩa Hưng gồm những nhân vật chủ yếu như Chánh Tỉnh (tức Chánh Sòng), Nguyễn Viết Hanh, tức Đội Hổ, Lý Nho, Đỗ Hà Nam tức Đồ Đản, Nguyễn Văn Phúc, tức Lang Seo. Họ tản về các tỉnh, nhất là về Hà Nội bắt liên lạc với các nhà yêu nước của Đông Kinh nghĩa thục như Lê Đại, Phan Tuấn Phong, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành\".\nPhan Tuấn Phong bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo từ năm 1909, đến năm 1911 thì được tha, đưa về đất liền, xác bị quăng xuống biển.\n\nNghiêm Xuân Quảng sinh năm 1869, người xã Tây Mỗ nay là thôn Tây Mỗ, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.\nÔng đỗ cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Thành Thái 7 (1895) năm 26 tuổi.\nLúc đầu bổ làm tri huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Hai năm sau, năm 1897 ông cáo quan về rồi lại ra Hậu bổ Hưng Hóa, lần lượt giữ các chức đốc học Hưng Yên, Án sát Lạng Sơn. Nghiêm Xuân Quảng là một trong bốn người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục.\nĐông Kinh nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, Nghiêm Xuân Quảng đang làm Án sát tỉnh Lạng Sơn, từ quan về Hà Nội cùng Lương Văn Can và các yếu nhân khác xây dựng trường. Các ông chủ trương xây dựng trường nghĩa thục ở Hà Nội thật tốt, rồi mở rộng ra chung quanh. Nghiêm Xuân Quảng thành lập một phân hiệu Đông Kinh nghĩa thục ở Tây Mỗ, làng của mình. Phân hiệu do các ông Tú Kình, Đỗ Đàm, Nguyễn Hữu Đạm, Bá Quýnh, Nguyễn Văn Khuyên phụ trách.\nNghiêm Xuân Quảng xuất thân nhà nho, làm tới Đốc học, Án sát, nhưng do đọc nhiều tân thư, tân báo, tiếp xúc với các nhà nho tiến bộ như Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can, Phan Chu Trinh, Nguyễn Quyền... nên có lòng yêu nước. Ông quan điểm muốn cho dân giầu nước mạnh, thì phải mở mang công nghiệp, thương nghiệp. Đó cũng là mục hàng đầu trong cuốn \"Quốc dân độc bản”, tài liệu giảng dạy của Đông Kinh nghĩa thục. Vì vậy mà các yếu nhân của Đông Kinh nghĩa thục, các sĩ phu yêu nước từ Nghiêm Xuân Quảng, Đỗ Quang Cơ, Ngô Quang Đoan, Hoàng Tăng Bí... chẳng những chỉ giảng dạy về phát triển công nghiệp, thương nghiệp mà chính các ông cũng mở xưởng công nghệ, mở công ty thương nghiệp như Nghiêm Xuân Quảng thành lập công ty Nghiêm Xuân Quảng ở Thái Bình, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Quyền mở hiệu Đông Thành Xương.\nGương Án sát Nghiêm Xuân Quảng từ quan về tham gia Đông Kinh nghĩa thục và mở hiệu buôn đã lôi cuốn nhiều nhà nho thức thời như Nguyễn Trác mở hiệu buôn sơn ở Việt Trì. Tại Thanh Hóa, công ty Phượng Lâu có từ trước cũng mở rộng kinh doanh, có chi nhánh ở Vinh, Hà Tĩnh. Ở Quảng Nam - Quảng Ngãi có Liên Thành công ty. Ở Nam Kỳ, Nguyễn An Khương (thân sinh Nguyễn An Ninh) - một thủ lĩnh phong trào Duy tân ở Nam Kỳ mở công ty Chiêu Nam Lầu...\nMặc dù làm chủ công ty kinh doanh tơ lụa, nhưng Nghiêm Xuân Quảng vẫn cùng các nhà yêu nước ở Thái Bình như Nguyễn Hữu Cương, Ngô Quang Đoan, Lý Thoa ở huyện Kiến Xương, Tiền Hải, Tú Phan, Lý Bội, Dương Xuân Ngại ở Đông Hưng, Thái Bình vẫn đứng ra mở trường dạy học chữ quốc ngữ cho thanh, thiếu niên. Nội dung dạy theo chương trình của trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội.\nCũng như những nhà nho yêu nước, tiến bộ khác, Nghiêm Xuân Quảng mở công ty tơ lụa với mục đích làm gương, khuyến khích nhân dân làm theo. Tại công ty của ông cũng là nơi nhà yêu nước bàn đinh kế sách cứu nước. Lợi nhuận của các cửa hàng, công ty trên phần lớn tài trợ cho thanh niên xuất dương Đông du.\nKhi trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội bị Thống sứ Bắc Kỳ bắt đóng cửa thì các công ty, hiệu buôn, nhà hàng cũng bị nhà cầm quyền Pháp gây khó khăn, một số phá sản, một số phải tự đóng cửa. Công ty Nghiêm Xuân Quảng cũng nằm trong số phận đó. Sau khi Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, Nghiêm Xuân Quảng nghỉ tới 10 năm, sau đó lại ra làm quan và mất vào ngày 8 tháng 5 năm 1941.\n\nLê Võ còn gọi là Ấm Võ, tên chữ là Ngoạn Ngọc, hiệu là Trúc Khê tiên sinh lại có hiệu là Dạt Trúc tiên sinh. Ông là con trai quan Bố chính Lê Khanh và bà Nguyễn Thị Thục.\nÔng sinh năm Giáp Tuất (1871), người làng Trung Lễ (Lạc Thiện), nay là xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh. Lê Võ vốn là dòng dõi con nhà tướng bốn người anh đã chết vì nước. Ông có tướng lạ: tay vượn, mày diều, mặt mũi sắc sảo. Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng cùng với anh trai là Lê Trực. Năm 1887, Lê Trực tử trận ở Trung Lễ, ông được cử thay anh giữ chức Thương biện quân vụ khi còn rất trẻ.\nNăm 1891, phong trào Cần vương ở Nghệ An, Hà Tĩnh bị đàn áp, ông về sống ở quê, năm 23 tuổi, ông vào Huế xin khai ấm sinh nhưng vì ông tham gia phong trào Cần vương nên không được xét. Lê Võ nghe tin ở Quảng Nam có nhiều danh sĩ, liền lẻn vào Quảng Nam xin vào học quan Đốc học Quảng Nam là Trần Đình Phong. Tại đây ông kết bạn với các danh sĩ nổi tiếng như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.\nNăm 25 tuổi, ông vào Huế được tập ấm vào học ở trường Quốc Tử giám.\nNăm 1905 Phan Bội Châu vào khuyên ông không nên theo con đường cử nghiệp mà nên mở một cuộc vận động lớn trong nước theo con đường Tân học. Phan Bội Châu trở ra Bắc bàn bạc với các đồng chí, Lê Võ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nam Kỳ vận động. Chuyến đi của Lê Võ có kết quả là cùng các ông Hội đồng Hiến, Thần Sơn Ngô Quảng đứng ra quyên góp được tới 20.000 đồng và tìm được một số đông đảo thanh niên để xuất dương. Sau khi tập hợp được các đồng chí ở cả Trung, Nam, Bắc Kỳ, Phan Bội Châu, Lê Võ lại gặp nhau và quyết định hai ông cùng Cường Để xuất dương. Kết quả chuyến đi Trung Quốc của Phan Bội Châu, Lê Võ, Cường Để đã bàn bạc với các nhà cách mạng Trung Hoa là Tôn Văn, Hoàng Hưng thành lập được trường \"Đồng Văn học hiệu\" ở Trung Hoa, do người Nhật quản lý, đào tạo học sinh cho Việt Nam và Trung Quốc.\nCác ông phân công nhau, Phan Bội Châu lưu trú ở Đông Kinh, (Nhật Bản) sắp xếp công việc ngoại giao, Lê Võ sang Tàu và sang Xiêm cổ động Việt kiều đi học.\nLê Võ ở Xiêm La một thời gian, sau đó ông qua Lào trở về Thanh Chương (Nghệ An), ông tìm các đồng chí. Khi đó mới biết sau vụ chống thuế ở Quảng Nam - Quảng Ngãi thì \"Việt Nam Duy tân hội\" và \"Đông du\" ở trong nước bị nhà cầm quyền Pháp đàn áp, bị tổn thất nặng nề. Lê Võ lên Yên Thế Bắc Giang (trước đó Phan Bội Châu đã thảo luận với Hoàng Hoa Thám) về việc lập đồn điền \"Tú Nghệ\" ở Yên Thế và lập căn cứ kháng chiến ở Nghệ Tĩnh để làm thế ỷ dốc với nhau.\nSong công việc tiến hành gặp khó khăn vì thiếu vốn để mở đồn điền \"Tú Nghệ” ở Yên Thế, các chí sĩ ở Nghệ An người bị hy sinh, người ở trong tù nên kế hoạch lập căn cứ ở Nghệ Tĩnh cũng không thực hiện được.\nNăm 1909, Lê Võ ra Bấc liên hệ với các đồng chí chưa bị bắt để tiếp tục vận động thanh niên xuất dương. Song Lê Võ bị ốm kéo dài nên phải ở lại Đại Đồng, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh dưỡng bệnh tới 6 tháng trời mới bình phục.\nCuối năm 1910, Lê Võ ra Hà Nội để liên lạc với các đồng chí. Ông không thể ngờ có một kẻ phản bội đã bám theo ông, ngầm báo với Pháp lập mưu bắt ông ở phố Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chúng giải ông về Nghệ An, giam ở nhà lao Vinh. Tổng đốc Nghệ An Đoàn Đình Nhân thân hành hỏi cung và tra tấn ông. Song ông kiên trinh sắt đá không hề khai ra đồng chí của mình\nLê Võ bị nhà cầm quyền Pháp và Nam triều ở Nghệ An kết án tử hình. Toàn quyền Albert Sarraut giảm án tử hình đầy ông ra Côn Đảo.\nÔng bị tù 15 năm ở Côn Đảo, năm 1926 được ân xá, bị an trí ở Hà Tĩnh.\nNăm 1927 ông đi khẩn hoang mở trang trại ở Công Khanh, huyện Nghi Xuân. Song những năm hoạt động bí mật và tù đầy đã làm sức khỏe ông suy giảm.\nĐầu năm 1941 thì ông bị xuất huyết dạ dày, ông mất ngày 12 tháng 3 năm Tân Tỵ (Bảo Đại thứ 6-8/4/1941) thọ 68 tuổi.\n\nN'Trang Lơng tên thực là N'Trang, vợ là Lơng, phong tục người Mơ Nông gọi tên vợ sau tên chồng, nên gọi là N'Trang Lơng, Ama Trang Lơng, Pu Trang Lơng, gốc bộ lạc Biệt. Ông sinh năm 1870 \"đầu làng\" của làng M' Nông. Vừa đứng lên đánh Pháp, N'Trang Lơng đã tập hợp được chung quanh mình nhiều \"đầu làng\", tù trưởng trong và ngoài dân tộc M'Nông.\nTheo Henri Bernard và một số tác giả khác trong những năm nổ ra cuộc khởi nghĩa, đồng bào M'Nong chỉ có khoảng 3 000 người sống trên cao nguyên. Ngay từ khi mới phát động khởi nghĩa, N'Trang Lơng rất chú trọng đến công tác tuyên truyền. Trong bài thơ kêu gọi dân tộc M'Nông khởi nghĩa có đoạn:\nDân M'Nông ơi! Vùng lên đi\nCon gái đánh bằng chày giã gạo,\nCon trai cầm dao găm, giáo mác,\nTất cả giơ lên như bông lau lách,\nGiết cho được tên Hăng ri mét đồn trưởng đồn Bát mô ra...\nHưởng ứng lời kêu gọi của thủ lĩnh N'Trang Lơng, nhân dân M'Nông, XTiêng dân tộc anh em ở Tây Nguyên đã xiết chặt đội ngũ theo thủ lĩnh N'Trang Lơng bền bỉ chống Pháp suốt từ năm 1912 đến năm 1935 và đã thực hiện được mục tiêu giết tên Hăng ri mét. Phong trào phát triển rộng rãi tới hầu hết các buôn làng M'Nông, XTiêng. Ông chia nghĩa quân làm hai lực lượng: Lực lượng tập trung, cơ động và chiến đấu tại chỗ. Ông còn tổ chức một lực lượng đặc biệt làm nhiệm vụ tuyên truyền và thám báo (Bal Ty Lah Bôn Lan). N'Trang Lơng trực tiếp chỉ huy 150 tay súng, gồm những nghĩa quân Biệt, Nông đóng tại căn cứ Bu Siết, Bu Luk. Thủ lĩnh Amprad, chỉ huy nghĩa quân R'Hong, Biệt tại căn cứ Dak Huich. Thủ lĩnh B'Heng Reng chỉ huy nghĩa quân Bunor ở căn cứ Bupa Man... Khi tác chiến các thủ lĩnh tác chiến độc lập hoặc phối hợp với các thủ lĩnh khác, hoặc do N'Trang Lơng điều động. Khi truyền lệnh từ thủ lĩnh N'Trang Lơng đến các thủ lĩnh địa phương các buôn làng về lệnh chiến đấu, giao lương, tiếp tế đều có hiệu lệnh riêng theo truyền thống của người M'Nong. N'Trang Lơng rất coi trọng công tác này, ông đã cùng vợ, con và viên đội Bal Ty Lah đến buôn Tauch là một buôn có tên Rad làm tay sai đắc lực cho tên Henri Matre, tên Rad đe dọa buộc đồng bào phải phục tùng tên Henri Matre. Sau khi N'Trang Lơng đến, dân làng đã theo nghĩa quân.\nN'Trang Lơng còn tổ chức hậu cần, cứu thương rất chu đáo ở từng khu vực và riêng từng trận đánh.\nNghĩa quân N'Trang Lơng mở đầu trận đánh vào đồn Bou Pustra đầu năm 1912, chỉ huy sở của quân Pháp đặt ở chân núi Nam Lyr. Quân Pháp bị thất bại hoàn toàn.\nTrong 2 mùa khô 1912 - 1914 nghĩa quân N'Trang Lơng liên tiếp bẻ gẫy các cuộc hành quân của quân Pháp vào các đơn vị quân đồn trú Pháp và các đoàn khảo sát vũ trang tìm cách xâm nhập vào Tây Nguyên.\nĐầu tháng 8/1914, lợi dụng việc tên Hăngrimet chỉ huy đồn Bumêra bày trò đầu thú, ngày 2/8/1914 N'Trang Lơng bố trí người trá hàng, dụ Hăngrimét, chỉ huy đồn Bumêra đến Buno. Tại đây, bất thình lình N'Trang Lơng xông vào giết chết Hăng ri mét tên xâm lược có nợ máu với nhân dân M'Nong. 40 tên lính khố xanh đi theo cũng bị diệt hết. Thừa thắng, tới 4/8, nghĩa quân lại đột nhập vào đồn Bumêra tiêu diệt số lính còn lại trong đồn và phóng hỏa đốt đồn.\nTừ đó thanh thế của N'Trang Lơng vang dội khắp miền Nam Tây Nguyên, người gia nhập nghĩa quân càng đông.\nCuộc chiến đấu của nghĩa quân N'Trang Lơng trong giai đoạn này rất quyết liệt và cũng vô cùng dũng cảm, và đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Cuộc chiến đấu kiên cường dũng cảm của nghĩa quân N'Trang Lơng khiến giặc Pháp phải thừa nhận: \"Tất cả đều quyết tâm một lần nữa đánh đuổi chúng ra ra khỏi Cao nguyên M'Nông\".\nTrong trận quyết chiến ngày 23/5/1935 NTrang Lơng bị trọng thương, bị bắt và hy sinh ngày 25/6/1935, chấm dứt cuộc khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào M'Nông Tây Nguyên kéo dài 23 năm.\n\nHoàng Trọng Mậu tên thật là Nguyễn Đức Công, tự là Báu Thụ, cũng gọi là Trần Báu Thụ, sinh năm 1874, quê ở làng Cẩm Trường, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Hoàng Trọng Mậu là con trai thứ tư trong gia đình cụ Cử Tân. Ông thông minh và đã đậu Đầu xứ nên còn gọi là Đầu xứ Công.\nTháng 2 năm 1908 Hoàng Trọng Mậu được Ngư Hải Đặng Thái Thân trao cho thư kêu gọi Đông du của Phan Bội Châu từ Nhật Bản gửi về.\nTháng 4/1908 ông tức khắc từ bỏ cử nghiệp, đem hết của riêng mình từ giã vợ và bốn con lên đường sang Nhật. Hoàng Trọng Mậu được vào học trường Đồng Văn thư viện. Ông vào học chậm nửa năm, song ông nghiên cứu các sách chữ Nhật thuộc các môn khoa học, không thòi giờ nào nghỉ ngơi, ông lại chú ý nghiên cứu các sách về quân sự và còn tập luyện. Ông tham gia Công Hiến hội với cương vị ủy viên Bộ văn thư.\nSong Chính phủ Nhật thông đồng với thực dân Pháp ở Đông Dương, giải tán phong trào Đông du, trục xuất Phan Bội Châu và lưu học sinh Việt Nam. Hoàng Trọng Mậu về Trung Quốc tiếp tục học tập, nghiên cứu.\nĐầu năm 1909 nghe tin trong nước cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám được phục hồi, Phan Bội Châu giao cho ông chuẩn bị lực lượng về nước tiếp ứng.\nKhoảng đầu tháng 3 năm 1912, Phan Bội Châu tuyên bố giải tán hội Duy tân, thành lập một tổ chức cách mạng mang tên \"Việt Nam Quang Phục hội\". Bộ Chấp hành có mười ủy viên, Hoàng Trọng Mậu được cử làm ủy viên trưởng phụ trách Quân vụ. Ông cùng với Nguyễn Thức Đường (tức Trần Hữu Lực) được ủy nhiệm viết lời \"Tuyền cáo của Việt Nam Quang Phục hội\". Ông viết ba chương cuốn \"Việt Nam Quang Phục quân sách lược\", hai chương đầu do Phan Bội Châu viết. Hoàng Trọng Mậu còn tham gia chọn Quốc kỳ và quân kỳ. Quốc kỳ hình ngũ tinh liên châu (hai chuỗi năm ngôi sao), nền vàng, sao đỏ làm Quốc kỳ, nền đỏ sao trắng làm quân kỳ. Vàng là thể hiện giống người nước ta; đỏ là thể hiện nước ta ở phương Nam thuộc hỏa, hỏa sắc đỏ. Sắc trắng thuộc về kim giữa việc sát phạt cho nên chọn làm quân kỳ. Việt Nam Quang Phục Hội in Quân dụng phiếu ký tên Phan Bội Châu và Hoàng Trọng Mậu.\nViệt Nam Quang Phục hội không được sự ủng hộ của chính quyền Quảng Đông nên gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, thiếu thốn tài chính, giấy tờ tùy thân hợp pháp. Trong khi đó thì ở trong nước, sau vụ Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần ném tạc đạn ở khách sạn ''Con Gà vàng\", giặc Pháp điên cuồng khủng bố tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ở trong nước, bắt và phá vỡ nhiều cơ sở.\nNgày 19/1/1914, Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng bị chính quyền Quảng Đông bắt giam. Đứng trước khó khăn chồng chất đó, Hoàng Trọng Mậu vẫn kiên trì liên kết với đảng cách mạng Trung Hoa, tổ chức lực lượng quân cách mạng về nước đánh Pháp.\nÔng chủ trương sang Thái Lan để chuẩn bị vũ khí, tiền bạc cho các trận đánh tiếp theo. Việc đi này rất nguy hiểm vì mật thám Pháp và chính quyền của Long Tế Quang bủa lưới bắt các nhà cách mạng Việt Nam ở khắp nơi. Song ông vẫn kiên quyết đi, xuất phát từ Ung Châu đến Hương Cảng đợi tầu đi Thái Lan thì các ông bị cảnh sát Anh bắt giao cho cảnh sát Pháp giải về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Trong nhà tù, Hoàng Trọng Mậu vẫn lạc quan ngâm thơ:\n\"Thiên niên cố quốc quyên đề thảm;\nVạn lý cô thần hạc khiếu ai\"\nTạm dịch:\n\"Nghìn năm nước cũ quyên kêu thảm;\nMuôn dặm tôi xa hạc khóc thương\"\nThực dân Pháp tra tấn dã man, rồi lại mua chuộc, ông vẫn hiên ngang bất khuất, chúng kết án tử hình ông với tội danh: \"Việt cảnh quán thông, mưu đồ phản nghịch\" (Vượt biên ra liên hệ với nước ngoài để mưu đồ phản nghịch) và xử bắn vào ngày 20 tháng 12 năm Ất Dậu (22/01/1916) tại trường bắn Bạch Mai (Hà Nội).\n\nNguyễn Khắc Cần tức Nguyễn Văn Túy, quê ở xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội. Ông là hội viên Việt Nam Quang phục hội. Mùa đông năm Nhâm Tý (1913), Nguyễn Khắc Cần sang Trung Quốc nhận mệnh lệnh của Trung ương Việt Nam Quang Phục hội thi hành bản án tử hình đối với tên trùm thực dân Abbert Sarraut và các tên tay sai đầu sỏ Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn.\nNgày 25/4/1913, Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Thụy điều tra biết bọn sĩ quan Pháp thường tụ tập ăn uống ở khách sạn Hotel tại đường Paulbert, nay là phố Tràng Tiền. Nguyễn Văn Thụy cảnh giới Nguyễn Khắc Cần liệng bom vào, giết chết hai trung tá Pháp là Monggơra và Sapuy (Chapuis) chết tại chỗ, một số tên Pháp và tay sai người Việt bị thương\n(1). Thi hành xong bản án lợi dụng lúc bọn giặc đang hoảng loạn, la hét, hai chiến sĩ ung dung đi bộ trên đường rồi lên một chiếc xe tay kéo nhanh qua Gia Lâm về Yên Viên. Hai anh em ẩn náu ở Yên Viên, vài hôm thấy giặc không lùng sục, Nguyễn Khắc Cần và Phạm Văn Thụy được lệnh trở về Trung Quốc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi, ngày 7/5/1913, hai ông vừa từ trên ga xe lửa bước xuống một ga xép thì bị lính kín áp tới lục soát. Vì trong người hai ông có một số giấy tờ khả nghi, nên chúng bắt cả 2 người giải về Hà Nội.\nSau hành động ỉàm kinh hoàng giặc Pháp và bọn Việt gian bán nước ở Thái Bình và Hà Nội, giặc Pháp điên cuồng khủng bố các cơ sở Việt Nam Quang Phục hội ở trong nước. Chúng bắt cả những người chúng nghi ngờ có liên quan đến phong trào Đông du và vụ Hà Thành đầu độc. Tại các tỉnh Bắc Kỳ, các nhà tù chật ních các chiến sĩ cách mạng. Tổng số chiến sĩ Việt Nam Quang phục hội ở Hà Nội và những người có liên quan lên tới 254 người. Tất cả những người bị bắt đều bị chúng tra tấn dã man để ỉấy khẩu cung.\nNgày 5/9/1913, Hội đồng Đề hình Pháp họp mở phiên tòa tra hỏi 84 người trong số 254 người được coi là liên quan. Chúng xử tử 7 người với tội danh: âm mưu ám sát hoặc đồng lõa ám sát là: Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng, Phạm Đệ Quý, Vũ Ngọc Thịnh, Phạm Hoàng Khuê (Quế) Phạm Hoàng Triết, Phạm Văn Tiên - người ám sát chủ đồn điền Đặng Vũ Hành ngày 25/5/1913. Lương Văn Phúc bị kết tội đồng mưu trong vụ ném bom ở Thái Bình chỉ bị kết án khổ sai chung thân vì mới 18 tuổi. 8 người bị lưu đày trong đó có ông Tư Diếc ở Quan Nhân, 5 người phát phối, 2 người bị kết án 5 năm, 11 án khổ sai hữu hạn, 5 án cầm cố, 9 án tù từ 20 tháng đến 2 năm.\nNguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng và các đồng chí của hai ông tuy chưa đạt được mục tiêu mà Trung ương Việt Nam Quang Phục hội đề ra, đế quốc Pháp khủng bố, lực lượng Việt Nam Quang Phục hội bị thiệt hại nặng nề nhưng đã thức tỉnh lòng yêu nước của đồng bào Hà Nội cũng như đồng bào cả nước.\n(1) Sách \"Nhân Chính trên những chặng đường lịch sử”, Nxb Chính trị quốc gia viết quả bom (lựu đạn) do Nguyễn Khắc Cần ném là do ông Tư Diếc (Nguyễn Vãn Diếc) ở làng Mọc Quan Nhân chế tạo, giặc Pháp bắt ông đày đi Côn Đảo.\nSách Việt Nam nghĩa liệt sử, Đặng Đoàn Bằng viết \"Hiệp sĩ Nguyễn Khắc Cần\" viết quả tạc đạn ném ở khách sạn Hà Nội là do Hán Minh (?) ném nhầm vào quan binh Pháp. Pháp truy nã ráo riết người đảng, bọn chó săn cũng đề phòng rất nghiêm ngặt, nên ông không thục hiện được kế hoạch của mình. Ông lại cùng Nguyễn Thế Trung định ra ngoại quốc. Đến Lạng Sơn thì gặp phải người Pháp, nên cả hai bị bắt. Nguyễn Khắc Cần muốn cho Hán Minh chạy thoái cho nên mới nhận với người Pháp chính ông là người ném tạc đạn ở khách sạn. Vì vậv ông bị giết cùng Nguyền Thế Trung.\n\nNguyễn Thạc Chi còn có các tên là Hai Thạc, Nguyễn Quýnh Chi, Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trung Thường, Nguyễn Trọng Thạc, Nguyễn Mạnh Hiếu, tự là Thường Sinh. Ông là con thứ hai quan Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục huyện Mỹ Hào tỉnh Hải Dương, nay là xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông là người trầm tĩnh, khoan hòa, học rộng, nghe nhiều. Khi cha ở Trung Quốc, anh trai là Nguyễn Tuyển bị đày ra Côn Đảo, Nguyễn Thạc Chi còn ở tuổi thiếu niên, phải theo người nhà đi trốn tránh. Vào tuổi thanh niên, ông cùng chú là Nguyễn Thiện Kế sang Trung Quốc Đông du và quyên tiền cho thanh niên du học. Nguyễn Thạc Chi cùng chú thường xuyên Hoa - Việt đi về để vận động và đưa thanh niên Bắc Kỳ sang Trung Quốc du học.\nMùa thu năm 1912 Nguyễn Thạc Chi dự Hội nghị với Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Lương Ngọc Quyến, Mai Lão Bạng, Hoàng Trọng Mậu... thành lập Việt Nam Quang Phục hội. Hội nghị phân công Nguyễn Thạc Chi làm nhiệm vụ vận động cách mạng ở trong nước.\nNăm 1912 Nguyễn Thạc Chi cùng Nguyễn Hải Thần đem 6 quả tạc đạn, 300 đồng Đông Dương theo đường Lạng Sơn đánh vào Bắc Kỳ với nhiệm vụ giết tên Toàn quyền Abbert Sauaut; phá khoa thi Hương ờ trường thi Nam Định (11/1912). Việc không thành ông phải quay trở về Trung Quốc.\nNăm 1916 chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Những người lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội nắm lấy cơ hội đó yêu các đại sứ Đức ở Xiêm giúp vũ khí, tiền bạc cho Việt Nam đánh Pháp. Nguyễn Thạc Chi cùng Nguyễn Thượng Hiền sang Xiêm liên lạc với công sứ Đức - Áo giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp. Việc chưa có kết quả, hai ông trở về Trung Quốc.\nSau đó ít lâu ông nhận nhiệm vụ về nước tập hợp những người cùng chí hướng chống Pháp. Ông dự Đại hội ở nhà ông Lý trưởng xã Đồng Trung tục gọi là làng Chuôm, nay thuộc xã Việt Hưng, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên gần ga Xuân Đào thì bị giặc Pháp bao vây làng rồi ập vào bắt. Nguyễn Thạc Chi bị đế quốc Pháp kết án tù chung thân đầy ra giam ở nhà tù Côn Đảo.\nCuộc nổi dậy chống chế độ nhà tù đế quốc nổ ra vào 14 giờ ngày 14/2/1918, tức là ngày mùng 4 tết năm Mậu Ngọ, Nguyễn Thạc Chi cùng Phạm Cao Chẩm lãnh đạo 89 tù nhân banh II dùng búa đập chết tên giám ngục Simon và 2 tên lính mã tà. Nguyễn Thạc Chi còn hô mọi người cướp súng của lính gác, nhưng tên hạ sĩ quan là Larmierrier phản kích kịp thời. Lát sau tên quản đốc Andouard dẫn lính đến chi viện. Hắn ra lệnh cho lính xả súng vào đám đông và truy sát tận tuyệt. Nguyễn Thạc Chi và Phạm Cao Chẩm cùng 89 người bị chúng giết chết.\nNguyễn Thạc Chi không những chỉ là một nhà cách mạng kiên cường, mà còn là một nhà thơ, nhà giáo dục. Đến nay gia phả còn chép một số thơ của ông, con cháu nội ngoại cũng thuộc nhiều thơ của ông như: Thơ từ Côn Đảo gửi về, Bài ca chúc Cha thượng thọ, Năm bài ca Luân lý.\n\nThái Phiên hiệu Nam Xương, sinh năm 1882 quê ở làng Nghi An, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Ông sống và làm việc ở Đà Nẵng từ nhỏ. Ông là người yêu nước thiết tha, tính tình cương trực, căm thù giặc Pháp cướp nước và bè lũ Việt gian tay sai của giặc Pháp\nTháng 5/1905, Thái Phiên cùng với Tiểu La Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển tham gia thành lập Duy tân hội. Ông trở thành một yếu nhân của Duy tân hội ở Quảng Nam, hoạt động có nhiều hiệu quả, được Phan Bội Châu tin cẩn. Thái Phiên cũng như Trần Cao Vân, Lê Ngung, Phan Thành Tài đều là những yếu nhân của phái Duy Tân với xu hướng Duy Tân tự cường rồi mới \"dần mưu tính việc khác\".\nTừ năm 1909 trở đi, nhất là sau khi Đỗ Đăng Tuyển một yếu nhân của Duy Tân hội ở Quảng Nam bị bắt thì một mình Thái Phiên phải lo gây dựng lại tổ chức Duy tân hội ở Quảng Nam, đồng thời bắt liên lạc vói Lê Ngung để gây dựng lại tổ chức Duy tân hội ở tỉnh Quảng Ngãi.\nChủ trương của Phan Bội Châu chuyển Duy tân hội sang tổ chức Việt Nam Quang Phục hội. Năm 1914, Thái Phiên cùng Lê Ngung tổ chức một cuộc họp các nhà yêu nước tại Trung Kỳ tại thành phố Đà Nẵng. Thái Phiên và Trần Cao Vân nhiều lần cử người sang Trung Quốc, Xiêm La để đặt kế hoạch phối hợp.\nSau cuộc tiếp xúc với vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân triệu tập các yếu nhân Việt Nam Quang Phục hội ở các tỉnh Trung Kỳ họp Đại hội lần thứ hai vào trung tuần tháng 3 năm Bính Thìn (1916) tại nhà một đảng viên ở chợ Cầu Cháy làng Xuân Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đại hội kiểm điểm lực lượng cách mạng quyết định kế hoạch khởi nghĩa với danh nghĩa: \"Việt Nam quân Chính phủ\".\nNgay sau khi nhận được mệnh lệnh của vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân thông báo cho các ủy viên ủy ban khởi nghĩa quyết định vào giờ Tý ngày 2 tháng 5 năm Bính Thìn, tức 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1916. Mật hiệu khởi nghĩa là \"Năm Thìn, tháng Tỵ”. Tại Huế, Thái Phiên, Trần Cao Vân bị mất liên lạc với các trại lính, nhưng vẫn quyết định điều động thuyền đến bến Thương Bạc rước vua Duy Tân ra lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Vụ mưu khởi nghĩa không thực hiện được, vì không nổ được pháo lệnh, không đốt được lửa trên đèo Hải Vân, nên các nơi đều phải rút. Chỉ riêng ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, dân binh dù không có lệnh, vẫn bao vây tòa Đại lý Pháp, phá kho thu được hai khẩu súng trường rồi kéo vào phủ đường, nhưng tri phủ đã bỏ trốn. Ngay ngày hôm sau giặc Pháp thẳng tay đàn áp, chém giết nghĩa quân, hầu hết các thủ lĩnh nghĩa quân đều bị bắt. Tại Quảng Ngãi, Lê Ngung tự tử trước khi bị bắt vây mà chúng vẫn chặt đầu ông đem bêu. Các ông Nguyễn Thụy, Trần Thân, Võ Cầu, Mai Tuấn, Hứa Thọ đều bị chém. Ở Quảng Nam số người bị chém lên đến hàng trăm. Thái Phiên, Trần Cao Vân rước vua ra khỏi thành, định đưa về Nam Ngãi. Nhưng ngày hôm sau vua tôi mệt nhọc vào nghỉ ở chùa Ngũ Phong thì giặc Pháp ập vào bắt.\nNgày 17 tháng 5 năm 1916, giặc Pháp chém các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu ở An Hòa (Huế), cách kinh thành không đầy 1 cây số. Chúng chôn hai ông Thái Phiên, Trần Cao Vân một hố. Sau một nữ đồng chí là Trịnh Thị Hưng (hay Hương) bí mật dời hài cốt từ nơi xử án về an táng tại khu rừng gần chùa Châu Lâm ở Kinh thành Huế.\n\nNăm 1907 vua Thành Thái yêu nước bị giặc Pháp phế truất đầy ra Vũng Tầu. Hoàng tử Vĩnh San khi đó mới lên 8 tuổi được thực dân Pháp đưa lên làm vua, đặt niên hiệu là Duy Tân, vì chúng hy vọng nhà vua ít tuổi chỉ ngồi làm bù nhìn. Sọng trái với sự mong đợi của chúng, vua Duy Tân bẩm tính thông minh, giỏi đối đáp, có lòng yêu nước từ nhỏ.\nBiết được những thông tin đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Kỳ là Thái Phiên, Trần Cao Vân đã thực hiện bằng mọi cách tiếp xúc với nhà vua. Kết quả vua Duy Tân nhận lời tham gia cuộc khởi nghĩa. Đầu năm 1914, Thái Phiên triệu tập cuộc họp các yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội của 5 tỉnh miền Trung quyết định khởi nghĩa. Vua Duy Tân báo cho Thái Phiên, Trần Cao Vân biết là đến hết ngày 10/5/1916 thì 2500 lính mộ tập trung ở Huế sẽ phải sang Pháp, nên phải khởi sự ngay. Thái Phiên, Trần Cao Vân quyết định khởi nghĩa vào tối ngày mùng 3 rạng ngày mùng 4 tháng 5/ 1916 ở 5 tỉnh. Song các nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa không biết rằng quân Pháp đã biết cuộc khởi nghĩa từ 2 ngày trước nên đã có kế hoạch ngăn chặn. Kẻ địch khẩn trương nhưng bí mật đối phó, ra lệnh giới nghiêm ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế tước vũ khí của lính khố xanh, cho lính Pháp, lính khố đỏ tuần phòng nghiêm ngặt. Theo lời hẹn trước của Thái Phiên và Trần Cao Vân, vua Duy Tân cải trang như người bình dân: đầu chít khăn đen, mặc áo ngắn màu đỏ, quần vải trắng, chân đi đất, cùng bốn thị vệ tin cậy ra khỏi thành. Kế hoạch bị lộ, quân Pháp kịp thời đối phó, nhiều cánh quân khởi nghĩa chưa xuất phát đã bị bao vây, bị bắt. Vua và tùy tùng đi về hướng Tây - Nam Thừa Thiên, song vì có kẻ làm phản nên cả đoàn Khâm sứ Charles buộc triều đình Huế khép vua vào tội: \"Vua một nước dưới quyền bảo hộ của Pháp đang chiến đấu với kẻ thù là Đức mà khởi loạn chống lại Pháp là phản bội, phải tội tử hình\". Song bọn cầm quyền Pháp vẫn thuyết phục Duy Tân làm vua bù nhìn cho chúng. Khâm sứ Trung Kỳ điện ra Hà Nội mời Toàn quyền Đông Dương vào thuyết phục. Nhà vua vẫn trả lời: \"Nếu ông buộc tôi tiếp tục ở lại ngôi vị Hoàng đế An Nam. Ông cần xem tôi như một vị hoàng đế đã trưởng thành. Tôi không cần cả Hội đồng Phụ chính lẫn lời khuyên của ông. Tôi sẽ điều hành công việc của đất nước tôi trên cơ sở như các quốc gia khác, trong đó có nước Pháp\".\nBọn cầm quyền Pháp giao cho Thượng thư bộ Hộ là Hồ Đắc Trung thi hành án tử hình. Ông Trung bàn với các quan không nên tử hình vua, triều đình tán thành, làm vãn bản cứu vua. Nhờ đó vua Duy Tân chỉ bị đưa đi đày ở đảo Reunion ở Ấn Độ Dương.\nNăm 1936 mặt trận Bình Dân Pháp do Đảng Cộng sản và các đảng cánh tả ở Pháp thành lập, lập Chính phủ thực hiện nhiều cải cách như phóng thích tù chính trị ở chính quốc và các thuộc địa. Cựu hoàng Duy Tân nắm lấy thời cơ đề cập đến quyền tự chủ của đất nước. Nhà vua dự cuộc mít tinh do Mặt trận Bình dân tổ chức tại cảng La Pointe des Galets, phát biểu tại diễn đàn, phía sau là lá cờ đỏ búa liềm. Ông yêu cầu Bộ trưởng Thuộc địa trả tự do cho ông, chuyển ông về sống tại Paris. Song yêu cầu này không được Chính phủ Pháp đáp ứng. Do bị sức ép của giai cấp tư sản và các thế lực cánh hữu cùng những biến động do phát xít Đức và Chủ nghĩa phát xít Ý gây ra, Mặt trận Bình dân phải tự giải tán, Chính phủ Bình dân đổ. Giấc mơ của cựu hoàng Duy Tân về độc lập dân tộc cũng bị dập tắt. Năm 1939, đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngày 18/6/1940, vua Duy Tân nghe được bản Hiệu triệu của Đờ Gôn người đứng đầu phe kháng chiến. Trong 2 năm sau, vua Duy Tân liên lạc được với tổ chức Pháp Tự do ở trong vùng, và bị chính quyền thân Đức bắt giam một tháng. Mùa thu năm 1942, phái Đờ Gôn chiếm được đảo Reunion, để thoát khỏi đảo, nhà vua đăng lính và làm điện báo viên trên tầu Léoperd. Do có sự can thiệp của Đờ Gôn ngày 18/6/1945, nhà vua được đưa về Paris. Tại đây nhà vua có các cuộc đi thăm Việt kiều, thăm lính thợ bị giam ở Kelarman... Nhà vua luôn luôn đả kích các lỗi lầm của Pháp ở Đông Dương... Quan điểm yêu nước của nhà vua đi ngược với âm mưu sử dụng nhà vua vào mục đích xâm lược Việt Nam. Vì vậy chúng đưa ông sang sư đoàn 9 bộ binh đóng ở Đức để chuẩn bị sang Viễn Đông tham chiến. Tại đây các hoạt động nhằm mượn đường quân sự trở về nước của nhà vua quá lộ liễu, bọn Pháp chuyển nhà vua qua trung đoàn thiết giáp cũng đóng ở Đức để cách ly. Ngày 29/10/1945, Đờ Gôn ký Nghị định đặc cách cho vua Duy Tân lên cấp tiểu đoàn trưởng. Ngày 14/12/1945, Đờ Gôn gặp nhà vua. Nhưng vua Duy Tân sau cuộc gặp đó đã tuyên bố rằng Chính phủ Pháp đã công nhận nền độc lập của Việt Nam, chờ cơ hội để ký kết việc thống nhất ba kỳ, viện trợ kinh tế và quân sự, cũng như giúp Việt Nam về phương diện ngoại giao và quốc phòng. Nhà vua không biết ngày 3/12/1945 bộ Thuộc địa Pháp đã ký Quyết định số 7312/102 trả Hoàng tử Vĩnh San về lại đảo Reunion, tiếp tục cuộc sống lưu đày từ năm 1916. Ngày 24/12/1945, vua Duy Tân rời Paris bằng chiếc máy bay Lockheed Lodester kiểu C60 và chiều 26/12/1945 trên chặng đường thứ hai từ Ford Lamy hướng về Bangui, phi cơ hết xăng (?) phải hạ cánh khẩn cấp xuống vùng đồi ở làng Bossakô và máy bay vỡ nát bốc cháy. Vua Duy Tân, hành khách và cả phi hành đoàn đều chết. Như vậy việc vua Duy Tân trên đường về đảo Reunion từ biệt vợ con để trở lại Paris chuẩn bị về \"cầm cờ tái chiếm Việt Nam cho Pháp\" không hề có. Trước sau vua Duy Tân vẫn là người yêu nước, chống Pháp.\n\nLê Đình Dương quán làng Đông Mỹ (Na Kham có sách viết là La Kham), tổng Khương Thượng (Gò Nổi, Phù Kỳ), huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là con Thượng thư Tổng đốc Hà - An (Hà Nội - Hưng Yên) Lê Đình Đĩnh. Lê Đình Dương là y sĩ, ông là anh em ruột với y khoa bác sĩ Lê Đình Thám, bác sĩ Lê Đình Kiền, bác sĩ Lê Đình Củng, thạc sĩ y khoa Lê Đình Quy.\nLê Đình Dương tham gia tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ở tỉnh Quảng Ngãi ngay từ khi mới thành lập. Ông cùng với Lê Ngung, Nguyễn Súy là yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội ở Quảng Ngãi. Lê Đình Dương còn là một trong những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh miền Nam Trung Kỳ trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất.\nTháng 9/1915, Thái Phiên triệu tập các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Kỳ họp Đại hội lần thứ nhất tại Huế để thảo luận kế hoạch bạo động. Tại cuộc họp này, Lê Đình Dương và Nguyễn Thụy tìm gặp, tiếp xúc với viên trung tá người Đức là Harmaudes chỉ huy đội lính Lê dương đóng ở Bình Đài (đồn Mang Cá) để vận động hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Nhờ cố đạo Bàn Gốc cũng là người trong tổ chức Việt Nam Quang Phục hội làm môi giới, Lê Đình Dương và Nguyễn Thụy đã thỏa thuận được với thiếu tá Harmandes khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, họ sẽ hưởng ứng. Ông cũng thuyết phục được các đội trưởng người Việt dưới quyền Harmandes như Đoàn Văn Còn, Nguyễn Đình Trứ, Hà Lại, Đào Duy Phong nhận làm hậu thuẫn cho cuộc khởi nghĩa. Trong đó Nguyễn Đình Trứ, Hà Lại sẽ cùng Phạm Thành Chương chỉ huy công phá trấn Bình Đài. Không bao lâu, trung tá Harmaudes được thăng hàm đại tá, Tổng chỉ huy quân đội toàn miền Trung đã lên kế hoạch lấy cớ đi phát lương để ngầm cổ vũ tân cựu binh người Việt hưởng ứng khởi nghĩa. Nhờ có sự vận động tích cực của Lê Đình Dương và các ông Phan Thành Tài, Trương Bá Huy, Đỗ Tự nên lực lượng khởi nghĩa ở Quảng Nam mạnh hơn các tỉnh. Đến trước ngày khởi nghĩa, tỉnh Quảng Nam đã vận động được khoảng 80% lính tập tham gia. Chỉ tính riêng ở tổng Phước Lợi, phủ Tam Kỳ đến trước ngày khởi nghĩa đã có 240 Phục Quốc quân, 200 tân binh. Các ông còn vận động đổng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Phú Túc, Bà Nà ở Hòa Vang và Nước Hai ở Trà Mi để xây dựng khu căn cứ. Lê Đình Dương đã đóng góp phần tích cực vào công việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ở tỉnh Quảng Ngãi.\nSong cuộc khởi nghĩa bị bại lộ không thực hiện được, chỉ riêng ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, dân binh dù không có hiệu lệnh vẫn bao vây tòa đại lý Pháp, phá kho thu được một số đạn và 2 khẩu súng trường rồi kéo vào phủ đường nhưng cũng như đại lý Pháp, tri phủ đã bỏ trốn. Ngay đêm đó Phục Quốc quân và dân binh rút lui. Tại Huế, vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân và hầu hết các thủ lĩnh đều bị bắt, bị giết hại. Lê Đình Dương cũng bị giặc bắt. Chúng dùng đủ cực hình tra tấn ông, song không moi được ở ông lời khai báo nào. Giặc đày ông lên nhà lao Buôn Ma Thuột ông vẫn kiên cường đấu tranh.\n\nLê Ngung còn gọi là Tú Ngung vì ông đỗ tú tài, quê ở tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1908 các thủ lĩnh Duy tân hội phát động phong trào \"chống thuế\" \"xin xâu\" ở Quảng Nam, Quảng Ngãi thì hầu hết các yếu nhân của Duy tân hội người bị xử chém, người bị đày ải ở các nhà tù. Tuy nhiên ở Quảng Nam vẫn còn Thái Phiên, ở Quảng Ngãi vẫn còn Lê Ngung. Vì vậy từ năm 1909, Thái Phiên cùng Lê Ngung thường xuyên gặp gỡ nhau để phục hồi phong trào.\nViệt Nam Quang Phục hội được thành lập thay thế Duy tân hội, và phát triển về nước một cách nhanh chóng. Lê Ngung có nhiều đóng góp vào sự trưởng thành của tổ chức Việt Nam Quang Phục hội các tỉnh Nam Trung Bộ và cùng với Thái Phiên trở thành thủ lĩnh của tổ chức này.\nĐầu năm 1914, Lê Ngung đã cùng Thái Phiên tổ chức một cuộc họp mặt các nhà yêu nước ở Trung Kỳ tại Đà Nẵng. Hội nghị nhất trí phải gấp rút khởi nghĩa, nên đã phân công người chuẩn bị lực lượng, xây dựng căn cứ ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào. Trong số các thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa thì Lê Ngung là người nôn nóng khởi nghĩa nhất. Ông cho rằng Thế chiến thứ nhất nổ ra, Đức đánh Pháp, Pháp phải rút lực lượng ở Đông Dương về phòng thủ là cơ hội tốt nhất để khởi nghĩa đánh Pháp. Tháng 8 năm 1914, khi Đức bắt đầu tiến quân đánh vào nước Pháp, ông đã viết thư gửi Thái Phiên nói rõ: \"Ngày Đức - Pháp đánh nhau chính là thời cơ độc lập của nước Việt Nam\". Nhưng đề nghị của Lê Ngung không được Thái Phiên và các nhà lãnh đạo khác chấp nhận, vì cho rằng lực lượng khởi nghĩa chưa mạnh, lực lượng quân sự của Pháp chưa thật suy yếu.\nTrước tình hình chiến tranh xảy ra ngày càng ác liệt, tháng 01 năm 1915 Lê Ngung lại viết thư lần thứ hai đề nghị tiến hành khởi nghĩa. Tuy nhiên Thái Phiên và các nhân vật chủ chốt khác vẫn chưa đồng ý vì lực lượng quân Pháp còn mạnh, lực lượng vũ trang ở các tỉnh vẫn chưa phát triển đều.\nLần thứ ba, ngày 3 tháng 7 năm 1915 Lê Ngung biết được tin, quân Đức đang tiến đến gần Paris, Chính phủ Pháp phải rút một bộ phận quân đội viễn chinh ở Đông Dương về bảo vệ nước Pháp. Lê Ngung lại gửi thư cho Thái Phiên và gửi ra nước ngoài cho Phan Bội Châu thúc giục khẩn thiết: \"Thời hồ, thời hồ, thời bất tái lai! Kim trì bất phấn cô đãi hà thời?” (Thời cơ! thời cơ! Thời cơ không trở lại. Ngày nay không phấn đấu đợi đến lúc nào?).\nLần này thì Thái Phiên và các đồng chí chấp nhận và quyết định triệu tập Hội nghị các nhà yêu nước các tỉnh miền Nam Trung Kỳ tại Huế để bàn định. Kế hoạch được lập ra, nhưng lại bị bại lộ từ hai ngày trước, mà ủy ban khởi nghĩa không hề biết. Kết quả là toàn bộ ủy ban khởi nghĩa và vua Duy Tân bị bắt.\nGiặc Pháp bắt được hầu hết các ủy viên ủy ban khởi nghĩa và nhiều binh lính, dân binh ở Quảng Ngãi. Lê Ngung bị bao vây, chiến đấu tới cùng rồi uống thuốc độc để sẵn trong người tự tử. Tuy vậy giặc vẫn lập Tòa án kết án ông ''Lục thi trảm niên\", nghĩa là dù chết rồi vẫn đem thi hài ra chém bêu đầu ở làng Cam Lê cùng 13 đồng chí của ông. Các thủ lĩnh khác như Nguyễn Thụy, Trần Thiểm (Thêm), Võ Cần, Mai Tuấn, Hứa Thọ bị bắt và bị chém đầu. Phạm Cao Chẩm cùng nhiều binh lính người Việt bị đày đi Côn Đảo, Châu Doãn Địch và 25 người khác bị đày ở nhà lao Thái Nguyên.\n\nNguyễn Thụy còn có tên là Nguyễn Sụy, sinh năm Canh Thân (1880), quê tại thôn Hổ Tiếu, xã Tư Nghĩa Hạ, nay là ấp Hố Thanh, xã Tư Nguyên, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất thân từ một gia đình bá hộ nổi tiếng trong vùng. Ông là người thông minh, giao du rộng, tính tình khảng khái, cương trực.\nNguyễn Thụy đỗ cử nhân Hán học khoa Quý Mão (1903) tại trường thi Bình Định. Ông cũng giỏi chữ Quốc ngữ, học rộng, đọc nhiều tân thư của Trung Quốc, giao du với bạn bè ở nhiều tỉnh, tính tình khảng khái, cương trực và rất trung hiếu. Mặc dù thi đỗ cử nhân, bạn bè rủ ra làm việc nhưng ông đều từ chối, mà nói: \"Nước có đạo, nên ra làm quan, nước vô đạo nên ở ẩn\".\nĐể góp phần truyền bá lòng yêu nước trong nhân dân, ông làm giáo viên dạy chữ Quốc ngữ ở trường Vạn Tường. Cũng trong thời gian dạy học, ông hưởng ứng phong trào Duy tân do Phan Bội Châu sáng lập. Ông cắt tóc ngắn, bắt học trò cũng cắt tóc ngắn và thường ra Hà Nội mua sách Tân thư về đọc. Đầu năm 1908 phong trào \"khất thuế\" \"xin xâu\" của nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam lan nhanh khắp tỉnh rồi lan sang tỉnh Quảng Ngãi.\nTháng 3/1908, Nguyễn Thụy cùng với Nguyễn Bá Loan (ấm Loan) và Lê Khiết đứng ra vận động phong trào chống Pháp như ở Quảng Nam dưới chiêu bài \"xin khất thuế\". Cử nhân Nguyễn Thụy làm tân thơ khích lệ đồng bào đấu tranh. Thơ của ông được hàng vạn đồng bào học thuộc lòng cùng đồng thanh ca vang như sấm dậy, khiến bọn Pháp và lũ tay sai run sợ, chúng đóng chặt các cổng thành. Lực lượng nhân dân đến bao vây càng đông, Nguyễn Thụy cùng ban lãnh đạo liền rút bớt lực lượng bao vây thành, phân tán thành những nhóm nhỏ, đi lùng bắt bọn Việt gian, tay sai của Pháp. Giặc Pháp bắt được hầu hết những người lãnh đạo phong trào \"xin xâu\" như Cử Thụy, Cử Quảng, tú tài Phạm Cao Chẩm, Tú Huyên, đi đày Côn Đảo. Sau khi mãn hạn tù, ông đã nhanh chóng trở thành yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội ở Quảng Ngãi. Ông cùng Lê Ngung, Võ Cầu, Mai Tuấn nhanh chóng phát triển tổ chức của hội ra toàn tỉnh.\nCuối năm 1915 Pháp thua Đức trong chiến tranh châu Âu, quân Đức tấn công thủ đô Paris. Bọn Pháp ở Đông Dương ráo riết bắt lính, lính thợ sang Paris làm bia đỡ đạn cho chúng, vơ vét tài nguyên ở Đông Dương chở về nước phục vụ chiến tranh. Các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Nguyễn Thụy... nhân cơ hội này mưu tính cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Hầu hết đồng bào, thân sĩ đều hưởng ứng, một phần ba người Việt trong quân đội Pháp tình nguyện làm nội ứng cho quân khởi nghĩa. Cử Thụy đã bí mật tổ chức nghĩa binh, vận động dân chúng quyên góp rất có kết quả. Nhưng đại sự đã lộ ở Quảng Ngãi từ ngày 29 tháng 3 năm Bính Thìn (chiều 1/5/1916). Việc bại lộ, Cử Thụy lệnh cho các toán nghĩa đang tiến về thành Quảng Ngãi rút lui để bảo toàn lực lượng. Nghĩa quân bỏ lại nhiều gươm giáo Trong mấy ngày liền, lính Pháp và bọn tay sai tầm nã khắp nơi bắt trên 100 đảng viên Việt Nam Quang Phục hội đầy đi Côn Đảo. Tri phủ Tư Nghĩa Nguyễn Mậu dẫn tổng lý, tập binh bao vây, đóng tại nhà Cử Thụy, bắt mẹ ông làm con tin, kê khai tài sản, tầm nã Cử Thụy gắt gao. Thương mẹ và để giặc không bắt thêm các đồng chí, đêm hôm ấy Cử Thụy lẻn về nhà tắm rửa sạch sẽ. Ngay 5 giờ sáng chúng giải ông về tỉnh. Dọc đường ông nằm trong võng vén màn cho đồng bào xem mặt.\nNgày 10 tháng 5 năm 1916 (tức ngày 9 tháng 4 năm Binh Thìn) giặc Pháp và bọn tay sai Nam triều đưa Cử Thụy, Lê Triết, Trần Thân, Mai Tuấn, Hứa Thọ và một số đồng chí ra cửa bắc thành Quảng Ngãi chém đầu. Đồng bào, đồng chí bí mật quyên góp làm lễ truy điệu và để tang ông.\n\nPhan Thành Tài, hiệu Đức Đạt sinh năm 1869 người làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Phan Thành Tài rất nhiệt huyết với Tân học do Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp chủ trương. Năm 1906 Trần Quý Cáp được bổ nhiệm làm giáo thụ phủ Thăng Bình. Theo Tiểu sử Trần Quý Cáp viết: \"... Đến nơi (Thăng Bình), Tiên sinh mở lớp Tân học ngay trong trường giáo, rước thày về dạy chữ Pháp, chữ Quốc ngữ, học trò xa gần đến học có hơn đôi trăm người\".\nCùng với trường Thăng Bình, ở Quảng Nam còn có nhiều trường nữa, trong đó có hai trường lớn, nổi tiếng là trường Diên Phong mở tại Phong Thử huyện Điện Bàn (sau dời về Phước Bình). Giáo sư của trường có Tiến sĩ Trần Quý Cáp, cử nhân Phan Thúc Duyên, Mai Ái và Phan Thành Tài. Ông Tài là người tổ chức, quản lý và là giáo viên chính của trường. Trường Diên Phong cũng như các trường ở Quảng Nam, Quảng Ngãi... chỉ tồn tại đến năm 1908 khi phần lớn cán bộ giảng dạy của trường như Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, tham gia lãnh đạo phong trào chống thuế bị bắt. Trần Quý Cáp bị xử chém, Phan Thành Tài bị bắt đi đày...\nSau khi ra tù Phan Thành Tài lại bí mật cùng các đồng chí hội họp để thành lập tổ chức yêu nước chống Pháp mới. Năm 1912, Việt Nam Quang Phục hội thành lập ở tỉnh Quảng Đông phát triển về trong nước. Quảng Nam là nơi có phong trào mạnh thì Phan Thành Tài lại tham gia và trở thành một yếu nhân trong tổ chức này. Chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, Đức đánh. Pháp phải rút bớt lực lượng quân đội Pháp ở Đông Dương, bắt lính khố đỏ, lính thợ người Việt sang Pháp đánh Đức. Trước tình thế đó, những người đứng đầu tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Kỳ muốn nhân cơ hội này tổ chức lực lượng vũ trang đánh đổ Pháp.\nTháng 9 năm 1915 tại cuộc họp ban Lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội toàn Trung Kỳ. Dự cuộc họp có Thái Phiên, Trần Cao Vân, Đỗ Tự, Phan Thành Tài, Lê Đình Dương, Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Võ Văn Trứ để bàn việc khởi nghĩa và thống nhất mời vua Duy Tân tham gia.\nSau cuộc tiếp xúc giữa vua Duy Tân với Thái Phiên và Trần Cao Vân vào ngày 12 tháng 3 năm Bính Thìn (1916) nhà vua nhận lời tham gia cuộc khởi nghĩa. Từ đó Phan Thành Tài luôn luôn ở bên cạnh Thái Phiên, Trần Cao Vân cùng vạch phương hướng hành động, chỉ đạo cho các tỉnh tích cực chuẩn bị cuộc khởi nghĩa.\nTrong một cuộc Hội nghị của Việt Nam Quang Phục hội Trung Kỳ đã quyết định bầu ủy ban khởi nghĩa có Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Lê Ngung, Đỗ Tự và Nguyễn Thụy. Theo Việt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang thì Phan Thành Tài được cử làm Nam - Nghĩa kinh lược. Ông được ủy ban khởi nghĩa giao nhiệm vụ chỉ huy nghĩa quân đánh chiếm tỉnh Quảng Nam nơi có căn cứ để đón vua Duy Tân. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, quân Pháp và quân Nam triều chiếm đóng làng Bảo An, tàn sát dân chúng, đốt phá nhà cửa. Chúng đe dọa nếu Phan Thành Tài không về hàng thì chúng giết cả làng. Thương dân, ông tự về làng cho chúng bắt. Giặc Pháp xử tử ông vào ngày 9 tháng 7 năm 1916.\n\nLê Châu Hàn còn có tên là Lê Cảnh Thái hay Ấm Hàn (có tư liệu viết là Hàng) và em là Lê Châu Nam, còn có tên là Lê Cảnh Vạn hay Viên Thông con cụ Lê Hữu Khánh làm quan tới Quang lộc Tự khanh, Triều liệt đại phu Đông các đại học sĩ, quê ở làng Mỹ Thị, huyện Diên Phước, sau thuộc xã Hòa Long, huyện Hòa Vang, nay thuộc khối Đa Mỹ Tây, phường Bảo Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Lê Châu Hàn đỗ tú tài dưới triều vua Thành Thái, song ông là người yêu nước, thiếu thời đã cùng em là Lê Châu Nam (tức Lê Cảnh Vạn) gia nhập tổ chức Việt Nam Quang Phục hội, hoạt động tại các tỉnh Nam Trung Kỳ do hai ông Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo. Hai ông Hàn, Nam trở thành những yếu nhân của tổ chức Việt Nam Quang Phục ở Nam Trung Kỳ.\nĐầu năm 1914, Thái Phiên cùng với Lê Ngung một người yêu nước ở tỉnh Quảng Ngãi tổ chức cuộc họp mặt các nhà yêu nước ở Trung Kỳ tại Đà Nẵng. Lê Châu Hàn, Lê Châu Nam cũng dự hội nghị đó. Hội nghị nhất trí phải chuẩn bị khởi nghĩa. Hai ông có cha làm quan to trong triều, có cơ hội gần gũi vua Duy Tân một ông vua yêu nước, nên được Thái Phiên và Trần Cao Vân giao cho tiếp xúc. Sau mấy lần trò chuyện với anh em họ Lê, vua Duy Tân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, giao cho hai ông bố trí cho nhà vua gặp hai nhà cách mạng Thái Phiên, Trần Cao Vân.\nLê Châu Hàn đã bố trí cuộc gặp gỡ đó một cách an toàn ở Cửa Tùng, nhà vua đã tán thành và tham gia cuộc khởi nghĩa.\nSong cuộc khởi nghĩa thất bại, hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội ở Nam Trung Kỳ trong đó có Lê Châu Hàn, Lê Châu Nam bị bắt. Các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân bị xử chém. Vua Duy Tân đưa đi đày, Lê Châu Hàn, Lê Châu Nam nhờ có thế lực của cha nên chỉ bị giam ở nhà tù 10 năm thoát khỏi án tử hình.\n\nLê Châu Nam còn có tên là Lê Cảnh Vận, Lê Cảnh Thông. Ông là con quan Triều liệt đại phu Lê Hữu Khánh, là em trai Lê Châu Hàn. Ông sinh ra trong một gia đình cự tộc họ Lê ở Quảng Nam - Đà Nẵng.\nMặc dù là con quan đại thần, nhưng trước nạn đất nước bị giặc Pháp thống trị, cả dân tộc bị trói buộc trong vòng nô lệ, ông đã cùng với người anh trai là Lê Châu Hàn gia nhập tổ chức Việt Nam Quang Phục hội Trung Kỳ do Thái Phiên, Trần Cao Vân khởi xướng. Nhờ uy tín của cha từng là thày dạy học cho vua Thành Thái và vua Duy Tân khi còn là Hoàng tử, nên ông có dịp thân cận với nhà vua. Hai thủ lĩnh Thái Phiên, Trần Cao Vân giao phó đặc trách công tác tư tưởng cách mạng với vua Duy Tân. Nhà vua yêu nước đã hưởng ứng và trở thành linh hồn của cuộc khởi nghĩa Bính Thìn (1916). Lê Châu Nam được tham đự bàn cơ mun hành động với các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Lê Cơ, Nguyễn Sụy (Nguyễn Thụy), Phan Thành Tài, Lê Đình Dương, Lê Châu Hàn, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu. Ông được giao cho giữ mối liên lạc giữa nhà vua và ban lãnh đạo khởi nghĩa.\nCuộc khởi nghĩa vào ngày mùng 3 tháng giêng năm Bính Thìn quyết định khởi sự vào 9 giờ đêm hôm đó. Song do sự phản bội của những tên Việt gian bán nước mà cuộc khởi nghĩa bị lộ, giặc Pháp đã kịp thời đối phó. Các ông thấy đã đến giờ mà không thấy súng thần công nổ làm hiệu lệnh thì bỗng nhiên giặc Pháp kéo đến, đồng thời nghe tiếng kêu khói ở trong cung vang động. Thái Phiên biết đại sự đã đổ vỡ, ông Thái Phiên bèn bảo Lê Châu Nam qua bến Ngự báo hung tin. Nhà vua nghe xong thở dài: \"Thôi việc như rứa thì hay rứa, chừ thày đi tìm mời thày phó\" (tức Thái Phiên đến nhận mệnh). Ông vội ra đi và liền ngay sau đó, ông lại đến gặp lại nhà vua với hai thị vệ thân tín là Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu phò vua Duy Tân xuất bôn. Chính ông là người cõng vua Duy Tân băng thành trong đêm khởi nghĩa năm Bính Thìn (1916). VI thế ông bị giặc Pháp bắt cùng vói các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu. Tất cả đều bị kết án tử hình, hành quyết vào ngày 17 tháng 5 năm 1916. Riêng ông may mắn thoát chết nhờ uy thế của thân phụ và Thượng thư Bộ Hình Hồ Đắc Trung mà chỉ bị án tù 10 năm, nhưng thực dân Pháp giam giữ ông tới vài chục năm mới thả. Ông trở về thì phong trào Việt Minh đang lên cao, ông tích cực hoạt động và tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Đêm 1 tháng 8 năm Giáp Thìn (1946) ông bị chết một cách thê thảm. Ông được táng ở nghĩa địa Lê tộc cùng với cha mẹ, anh là Lê Cảnh Hàn tại phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.\n\nSách lịch sử:\n- Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1894\n- Việt sử cương mục tiết yếu\n- Đại Nam thực lục chính biên, tập 34, 35, NXB Khoa học xã hội, 1974.\n- Công văn tấu tập, ký hiệu A545, Thư viện Khoa học xã hội.\n- Hà Nội thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trần Quốc Vượng chủ biên, NXB Quân đội Nhân dân.\n- Hội đồng lịch sử Hà Bắc: Lịch sử Hà Bắc tập I.\n- Ban nghiên cứu lịch sử Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Những mẩu chuyện và thời niên thiếu của Bác Hồ, NXB Sự thật, 1985.\n- Lịch sử 80 năm chống Pháp.\n- Hà Nam nhân vật lịch sử và văn hóa\n- Trần Văn Giầu: Chống xâm lăng quyển I, II, NXB Xây dựng, Hà Nội 1956\n- Tôn Quang Phiệt: Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958.\n- Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập I, NXB Khoa học xã hội.\n- Nguyễn Phan Quang - Lê Hữu Phước: Khởi nghĩa Trương Định, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1989.\n- Phan Trần Chúc - Lê Quế: Nguyễn Tri Phương, NXB Quốc Văn, Hà Nội, 1946.\n- Ban liên lạc Cựu chiến binh Việt Nam ở Cămpuchia thời kỳ 1945- 1954: Quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia thời kỳ 1945-1954.\n- Phan Khoang: Việt Nam Pháp thuộc sử, Sài Gòn 1974.\n- Đào Đăng Vỹ: Nguyễn Tri Phương, Bộ Văn hóa - Giáo dục và thanh niên, Sài Gòn, 1974.\n- Phạm Văn Sơn: Quân dân Việt Nam chống Tây xâm, Sài Gòn, 1963.\n- Nguyễn Văn Hầu: Cuộc khởi nghĩa Bẩy Thưa, Tân Sinh, Sài Gòn, 1956.\nSách Văn học:\n- Phan Bội Châu toàn tập, nxb Thuận Hóa\n- Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, NXB Văn học, Hà Nội, 1970.\n- Thơ văn yêu nước Nam Bộ.\n- Dương Quảng Hàm: Văn học sử yếu, nha Học chính Đông Pháp, Hà Nội, 1943.\n- Đại Nam chính biên liệt truyện, Quốc sử quán triều Nguyễn\n- Phan Bội Châu niên biểu\n- Truyện Trương Định\n- Ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn\n- Sơn Nam: Bến Nghé xưa, NXB Trẻ 1997.\n- Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971.\n- Phạm Phú Thứ với tư tưởng Canh tân, NXB Đà Nẵng, 1995.\n- Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969.\n- Nhóm Trà Lĩnh: Đặng Huy Trứ: Con người và tác phẩm, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.\n- Kỳ Xuyên Văn Sao, bản dịch của Lê Thước.\n- Văn học yêu nước cách mạng Hà Nam Ninh.\n- Phạm Thận Duật toàn tập, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.\n- Danh nhân Thái Bình.\n- Các nhà khoa bảng Việt Nam.\n- Vè Thái Bình.\n- Vũ Ngọc Khánh: Giai thoại ông đồ, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002.\nĐịa chí:\n- Địa chí Bến Tre\nSách tiếng Pháp:\n- André Massen: \"Hà Nội, giai đoạn 1873 - 1888\".\n- Dulleman: Cuộc chiến tranh chống cướp bóc\n- Histoire militaire de l'Indochine Francais\n- Parlin Histoire de la Cochindume\n- Toboulel: Le geste francais en Indochine\n- P.Vial: Les premièrè années de la Cochine (Những năm đầu ở Nam Kỳ).\n- Annales de la, prapagagation de la Foi\n- L'Amiral Dpéet la conquête du Ton Kin Dideb.\n- Histoire militaire de l'Indochinoir\n- Những người Pháp ở Bắc Kỳ và việc can thiệp của người Pháp.\n- Xứ Bắc Kỳ và sự can thiệp của Pháp (bản dịch thư viện KHXH).\nSách tiếng Nga:\n- K.Xtannhin Kêvich: Vòng quanh thế giới trên lầu Coóc xin: Tuyển tập tác phẩm, 1977.\nSách tiếng Trung Quốc:\n- Dương sự thủy mạt: Bản dịch của trường Đại học Tổng hợp, Hà Nội.\n- Chiến tranh Trung - Pháp, quyển 7.\nBáo cáo:\n- Báo cáo của công sứ Thái Bình Ô e (Auer), hồ sơ số 71, 844, F6, 686, Cục lưu trữ Trung ương.\n- Simôni: Báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương.\n- Thư tín chính trị (Contes pondances pliliquen) (Thư của De Vile gửi cho Henririvière).\nTạp chí:\n- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử các số 3/1977; Số 2/1990, số 4/1994, số 6/2000.\n- Tạp chí Xưa và nay số 223 tháng 1/2004; số 223/2005.\n- Tạp chí Toàn cảnh số 5/1999.\nGia phả:\n- Gia phả họ Lê Xuân ở Rạch Giá.\n\nCover\n\n", "file": "books_text_final/ebooks.epub_11357.txt"} {"text": "Tên sách : CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG\nTác giả : LÊ VĂN LÂN\n\nMỤC LỤC\nCHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG\nLỜI CẢM TẠ CỦA NGƯỜI VIẾT\nTHAY LỜI MỞ : NHẶT LÁ VÀNG XƯA\nBÀI I : CHUYỆN THỜI SỰ BÊN LỀ ẤN KIẾM CỦA CỰU HOÀNG BẢO ĐẠI\n1) Nguyễn đi thì Nguyễn lại về\n2) Ý kiến của thứ phi Mộng Điệp\n3) Ấn kiếm và lễ đăng quang của vua Bảo Đại\n4) Lời ong tiếng ve đồn đãi\n5) Chi tiết về thanh bảo kiếm của Cựu Hoàng\nBÀI II : KHÁI QUÁT VỀ Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA ẤN TRIỆN CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM\n1) Ấn triện là gì ?\n2) Giá trị biểu tượng thiêng liêng\n3) Chất liệu làm ấn triện\n4) Nuốm và đế : hai phần cơ bản của một chiếc ấn\n5) Chữ Triện là gì ?\n6) Các qui cách khác\n7) Thú chơi ấn triện ngày xưa của văn nhân tài tử\n8) Ngàn vàng dễ kiếm, triện xưa khó tìm\nBÀI III : HOÀNG ĐẾ CHI BỬU CHIẾC ẤN CUỐI CÙNG TRIỀU NGUYỄN ?\n1) Giọt nước mắt của vị hoàng thân\n2) Thế nhưng… Quo Vadis ! Ấn này đang thất lạc về đâu ?\n3) Có chăng chuyện Châu về Hợp phố ?\n4) Bốn ngàn năm văn hiến !\n5) Vài chi tiết về chiếc ấn « Hoàng đế chi bửu »\n6) Bản kiểm kê của Chính Quyền nhân dân cách mạng\n7) Bản chất trọng nghĩa khinh tài của vua Bảo Đại\n8) Bàn tay vơ vét của Pháp thực dân\nBÀI IV : VUA MINH MẠNG VÀ NHỮNG CHIẾC ẤN NGỰ DỤNG\n1) Triều vua có nhiều cải tổ !\n2) Các Bảo ấn ngự dụng cất ở đâu và sử dụng thế nào ?\n3) Có phước lớn mới nhìn thấy ấn vua !\n4) Vài chi tiết về chiếc « Sắc Mạng chi bửu »\n5) Những bằng sắc có dấu ấn « Sắc Mạng chi bửu »\n6) Vua Minh Mạng là vị vua thế nào ?\n7) Chuyện « Trụ tam đợi như các mệ » ở Huế xưa !\n8) Chức năng của nhiều ấn mới cho nhu cầu\n9) Đóng dấu đè lên niên hiệu của Vua phải tội bất kính !\n10) Kỷ niệm cung đình về chiếc ấn vua\n11) Khi ông vua đã mất quyền năng\nBÀI V : NHỮNG CHIẾC ẤN QUAN NHA VÀ TƯ NHÂN DƯỚI TRIỀU NGUYỄN\n1) Những danh từ mới cho các ngạch Quan cai trị\n2) Thể thức dùng triện cho các quan\n3) Hình xử bá đao tùng xẻo cho kẻ làm ấn giả\n4) Ấn của tư nhân ta và tầu khác nhau thế nào ?\n5) Những hình ấn trang hoàng\nBÀI VI : TẤM VÁY VIỆT NAM HAY TỜ CHIẾU NHÀ VUA VỚI MỘT CÂU CA XỨ BẮC\n1) Nhà vua cấm váy\n2) Y phục Việt nam được vua các triều đại sửa đổi như thế nào ?\n3) Nụ cười của hạng cùng dân\n4) Lịch sử Váy Xống Việt Nam\n5) Mặc quần… phải mất một con trâu\n6) Nhà không chái, Đái không ngồi, Nồi không quai\nBÀI VII : CHIẾC NGỌC TỈ VÀ CHIẾC ẤN VÀNG MANG QUỐC HIỆU ĐẠI-NAM\n1) Hai hình ảnh trái ngược\n2) Ấn tín tạo đúc dưới đời Thiệu trị với quốc hiệu Đại nam\n3) Tại sao có hai chữ Đại nam như khắc trên ấn ?\n4) Chi tiết về chiếc « Đại Nam Hoàng đế chi tỉ »\n5) Chiếc « Đại Nam Hoàng đế chi tỉ » làm bằng loại ngọc gì ?\n6) Chiếc ấn vàng này từng đem lại những mùa Xuân\nBÀI VIII : BÀI HỌC LÀM CHƯ HẦU : VIỆT-NAM QUỐC-VƯƠNG CHI ẤN\n1) Một khúc quẹo bất ngờ\n2) Tây dương hất cẳng Thiên triều\n3) Ấn bạc mạ vàng với nuốm hình lạc đà\n4) Cống sứ nhưng vẫn độc lập\n5) Bễ thụt ở Toà Khâm sứ Pháp\n6) Nam quốc sơn hà, Nam đế cư !\n7) Ta có tiền lệ trả ấn lại cho Tầu không ?\n8) Hành động áp bức hống hách của Pháp thực dân\n9) Nhờ Pháp… tôi mới thấy giang sơn của tôi !\nBÀI IX : NỖI LÒNG CỦA VỊ HOÀNG ĐẾ SAU CÙNG\n1) Một sự xuống cấp thê thảm\n2) Ông từ giữ chùa\n3) Tờ thỏa hiệp thư ép buộc của Pháp\n4) Viện Dân Biểu Gật\n5) Nhà vua trẻ đã hành động ra sao ?\n6) Thế nhưng rồi…\nBÀI X : CHIẾC « ẤN TRUYỀN QUỐC » CỦA NHÀ NGUYỄN BẨY NỔI BA CHÌM VỚI NƯỚC NON\n1) Giấc mộng truyền ngôi vĩnh viễn của các chúa Nguyễn\n2) Những con người hậu duệ muốn noi gương\n3) Huyền thoại về chiếc ấn truyền quốc của Tần thủy hoàng\n4) Huyền thoại về chiếc ấn truyền quốc của nhà Nguyễn\n5) Mất hay còn ?\n6) Đại Nam thực lục đã viết thế nào ?\n7) Ấn truyền quốc này có giao cho Bá đa lộc không ?\n8) Ấn này hiện ở đâu ?\nVÀI SUY TƯỞNG THAY LỜI KẾT\nPHỤ LỤC A : KỸ THUẬT, NGHỆ THUẬT, THÚ CHƠI TRIỆN\n1) Tìm hiểu về Ấn đúc\na) Những chiếc ấn đồng Hậu chu tiên khởi\nb) Khuôn cát cốt sáp\nc) Những tay thợ khéo của Kinh đô Huế xưa\n2) Tìm hiểu về Ấn khắc\na) Cương độ của loài khoáng thạch\nb) Đá và ngọc dùng để khắc ấn triện\n3) Hột xoàn và bảo thạch ở Việt Nam có từ đâu ?\n4) Phụ tùng quanh những ấn triện\n5) Ngược dòng tìm nguồn gốc chữ Triện\n6) Lạc vào khu rừng của đường nét\n7) Thiên biến vạn hóa của văn tự\n8) Những cơn chuyển mình lịch sử\n9) Những trường phái điêu khắc về ấn triện\n10) Kỷ niệm xưa về bàn tay người thợ khắc\n11) Phải chăng « Gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi » ?\n12) Con mắt của Thưởng Giám gia\n13) Bốn điều cần đạt cho một nghệ nhân\n14) Nghệ thuật trói voi bỏ vào rọ\n15) Tinh diệu của những thế đao pháp\n16) Triết lý của cổ nhân Đông Phương : Yêu Nhàn !\nPHỤ LỤC B : GIAI THOẠI VÀ Dà SỬ VỀ ẤN TRIỆN\n1) Có con voi nầy làm chứng !\n2) Tìm hiểu nguồn gốc vài danh từ về ấn triện\n3) Triết tự chữ « Ấn »\n4) Ý nghĩa của chiếc ấn qua hình thức một món quà tặng\n5) Chuyện bà mẹ trẻ nằm mơ thấy ấn\n6) Khi về đeo quả ấn vàng…\nPHỤ LỤC C : MỘT LỜI VÂNG TẠC ĐÁ VÀNG\n1) Một bức thư quí giá\n2) Về đá khắc ngọc\n3) Về hình dáng của ấn\n4) Về các ngự ấn của nhà Thanh\n5) Về văn liệu liên quan đến ấn\nPHỤ LỤC D : CÁI ĐẸP CỦA CHỮ NHO (Viết để tưởng nhớ phụ thân)\nMẤY LỜI MONG ƯỚC\nMẨU TIN TỔNG HỢP CHÓT ĐẦY Ý NGHĨA\nTÀI-LIỆU THAM-KHẢO\n1) Ngoại ngữ\n2) Việt ngữ\n\nInconnu(e) CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG LÊ VĂN LÂN\n\n« Không thầy đố mày làm nên » Ông bà Việt nam mình quen nói thế !\nRốt cuộc tập bút khảo này đã thành hình, dù là người viết đã cố gắng chăm chút sửa chữa nhưng vẫn còn luộm thuộm với nhiều lỗi lầm và nhiều điều sai sót. Sự thành hình này tôi phải thành thật nói là nhờ công ơn của nhiều « vị thầy bằng hữu ».\nQua nhiều bài viết hay tác phẩm giá trị của họ, hay qua những chi tiết lý thú cung cấp trong sự đàm thoại hoặc qua những hình ảnh lịch sử hiếm của riêng đã cho mượn, v.v… những người này đã khiến cho những trang sách của tôi không còn tính khô khan, cứng ngắc vô hồn của một bài biên khảo nhạt nhẽo mà lại trở nên dồi dào phong phú, sống động, đầy hơi hướm hương vị của một trời quá vãng…\nNgười viết mượn trang giấy hẹp này để tri ân các vị học giả, nhà văn sau :\nTiến sĩ Thái văn Kiểm, Hoàng Liên Nguyễn văn Đài, Nguyên Hương Nguyễn Cúc, Phạm Thăng, Trúc Chi Tôn thất Kỳ, Võ Hương An, Võ Phiến, Hứa Hoành, Nguyễn đức Hiển, Trọng Kim. Lời cảm tạ cũng xin gởi đến ông Nguyễn Hòa tại thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ, luật sư Lê chí Thảo, giáo sư và bà Phạm ngọc Hương ở Washington D.C., các bác sĩ Tôn thất Niệm, Võ văn Tùng, Bùi Minh Đức ở California, Tôn thất Thận ở Montréal, Canada.\nNgười viết cũng xin gởi tới các bạn trẻ Nguyễn thành Tâm và Hàng kỳ Hòa của tuần báo Làng ở Sacramento, California lời cảm ơn riêng về sự đảm trách chủ chốt trong công việc ấn loát, xuất bản tập sách này.\nThương tặng Nhàn\nvới tình yêu hơn là một người vợ…\nLê văn Lân\n\nSống ở đời cũng như lái xe hơi, người lái phải luôn nhìn thẳng phía trước qua kính chắn gió, chứ không chăm chăm nhìn vào kính chiếu hậu.\nĐúng ! Tuy nhiên, liếc nhìn kính chiếu hậu đôi khi lại cần thiết.\nNgoái nhìn về quá khứ thường mang tiếng là hoài cổ, là tiếc nuối dĩ vãng… nhưng ai dám nói cái nhìn này vô bổ, nhất là nhìn với chủ đích « ôn cũ biết mới ». Người ta vẫn nghiệm rằng lịch sử nhân loại thường là những vở tuồng cũ soạn lại với những bài bản và nhân vật mới.\n*Tập bút khảo này nhắm chủ ý viết về những chiếc ấn triện của triều Nguyễn, một triều đại quân chủ sau cùng của nước Việt nam. Nhưng để làm mối duyên khởi khai mào, tôi chọn cho nó cái tên đầy ý nghĩa là « *Chiếc bảo-ấn cuối cùng của Hoàng-đế Việt-Nam * », dựa trên những mẩu tin thời sự về sự tạ thế vừa rồi của Cựu Hoàng Bảo Đại tại Pháp (ngày 31 tháng 7, năm 1997) và những lời đồn đãi về chiếc bảo ấn duy nhất còn sót lại trong tay ông. Chiếc bảo ấn này có tên gì ? Hình dáng, kích thước, trọng lượng quí kim của nó ra sao ? Và lý lịch, giá trị và ý nghĩa lịch sử của nó thế nào ? Toàn là những điều mà dân Việt ai cũng tò mò muốn biết !*\nNhưng vì chiếc bảo ấn này là chiếc ấn cuối cùng còn xuất hiện, lại nằm trong một tập hợp của nhiều chiếc bảo ấn khác trong kho tàng của triều Nguyễn, nên tôi phải mượn những trang sách kế tiếp để trình bày lại những điều tôi đã thu góp được liên quan đến toàn bộ những ấn triện của nhà Nguyễn này. Đặc biệt gợi lại vai trò của vài chiếc ấn quan trọng tiêu biểu liên quan đến những biến cố lịch sử của nước ta trong thời cận kim. Và ở cuối sách, tôi viết thêm một phần đặc khảo phụ lục giới thiệu về kỹ thuật, nghệ thuật, cùng những giai thoại dã sử liên quan đến ấn triện Trung hoa nói chung để trình bầy những điều lý thú của ngành ấn chương học. Tôi nghĩ rằng phần đặc khảo này sẽ giúp những bạn trong giới văn chương nghệ thuật Việt nam hiện nay hiểu thế nào là thú chơi ấn đã từng làm cổ nhân say mê như chơi đồ cổ ngoạn vậy.\nNhững chiếc ấn triện ngày xưa thường là những món cổ vật đầy tính chất biểu tượng đã được đúc ra với những công dụng, chức năng đặc biệt riêng. Người ta có thể nói rằng mỗi chiếc ấn có một đời sống, một số mệnh riêng tùy theo chủ nhân của nó là một cá nhân, một thế tộc, một triều đại, một quốc gia…\nNghiên cứu và suy gẫm về những chiếc ấn của triều Nguyễn trên phương diện lịch sử và văn hóa chắc chắn sẽ hé lộ cho chúng ta nhiều cái nhìn lý thú và bổ ích để ta hiểu ta, hiểu người ; để nhìn lại thế nào là những bài học về thiên thời, địa lợi, nhân hòa…\nCầm những chiếc cổ ấn lên xem với con mắt thưởng ngoạn, kẻ hậu sinh sẽ bồi hồi và cực kỳ hoan lạc nếu hiểu được những tâm tình, tư tưởng và triết lý sống mà người xưa đã muốn mượn mặt đá và dao khắc gởi gấm vào !\n*« * *Ai ơi ! trở lại mùa thu cũ,* *Nhặt lấy cho tôi những lá vàng* * »* *.*\nViết tập bút khảo này, tôi chỉ xin đóng vai trò một kẻ góp nhặt những chiếc lá vàng dĩ vãng để rồi trân trọng ép chúng trên những trang ký ức của đời.\nTôi thành khẩn xin quí bạn hãy đốt dùm tôi một cây nến để đọc và để chỉ giáo hay bổ khuyết cho những sơ sót, sai lầm của tôi. Thật là muôn vàn cảm tạ.\nLê Văn Lân\nMạnh Thu – năm Đinh Sửu\n\nTin tức hàng đầu đối với người Việt ở khắp nơi trong tháng tám năm 1997 là sự tạ thế của Cựu Hoàng Bảo Đại ở Pháp. Bên cạnh sự chú ý tò mò về nghi thức tang lễ của vị hoàng đế Việt nam cuối cùng này với những mẩu chi tiết về đời tư của ông lúc sinh tiền, người ta cũng quan tâm đến hai món bảo vật của ông : đó là chiếc ấn và thanh kiếm vàng tượng trưng cho vương quyền của Nguyễn triều.\nHai món vật báu này bây giờ ở đâu ?\nTrong tay bà\n**Monique Baudot** người Pháp ? Nhân vật hàng đầu này thường vẫn được báo chí Việt ngữ quen gọi là vương phi hay là bà vẫn tự xưng là Công Nương Vĩnh Thụy mà Cựu Hoàng đã chính thức tái hôn sau khi Nam Phương Hoàng Hậu đã mất ở Pháp vào năm 1963.\nHoặc là ấn kiếm đã ở trong tay\n**Hoàng Tử Bảo Long ?** Bảo Long, năm nay 62 tuổi, là Đông cung Thái tử tức là người con trai cả của Cựu hoàng với bà Nam Phương cùng với một hoàng tử và ba công chúa khác là Bảo Thắng (sanh 1943), Phương Mai (sanh 1937), Phương Liên (sanh 1938), Phương Dung (sanh 1942). Bảo Long làm đại tá trong quân đội Pháp. Người ta đồn đãi rằng giữa bà vương phi Monique (có báo gọi là Monica) và các con của bà Nam Phương có một sự bất hòa, tranh chấp trầm trọng trên vấn đề thừa kế đương nhiên không tránh được, nên đã nảy ra những điều lủng củng trong vấn đề tổ chức tang lễ của Cựu Hoàng. Trên đây toàn là những lời đồn đãi bàn ra tán rộng được đăng tải rải rác trên báo chương, loại tin « nghe nói » bên lề, hư thực và mâu thuẫn ra sao, khó kiểm chứng !\nNhân đọc lại cuốn sách «\n**Những ngày cuối cùng của Tổng thống Ngô-đình Diệm** », chúng ta thấy tác giả Hoàng Ngọc Thành và Thân thị Nhân Đức có nhắc đến sự lưu lạc của hai món bảo vật ấn kiếm, sau khi Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945 trên cửa Ngọ Môn kinh thành Huế đã trao ấn kiếm cho đại diện của Việt Minh là Trần Huy Liệu như sau (trang 28) :\n« …Phái đoàn chính phủ Hồ Chí Minh lấy ấn kiếm này đưa ra Hà Nội. Sau khi chiến tranh bùng nổ cuối năm 1946, quân đội Pháp tình cờ tìm thấy ấn kiếm nầy tại một căn nhà mà họ đang tu bổ tại Hà Đông năm 1951. Cái ấn bằng vàng, có chạm trổ, nặng đến 13 cân, tức độ 6 Kg 9, còn cái kiếm cũng bằng vàng. Người Pháp làm lễ trao lại hai vật này cho ông Bảo Đại trong một buổi lễ ngày 8 tháng 3, 1952 (Theo sách L’aventure de Vietminh của Jacques Massu và Jean Julien Fonde do Plon xuất bản tại Paris 1980, trang 83).\n*« * *Nay chúng tôi được biết rằng sau nầy ấn kiếm được gởi vào két sắt của Liên Hiệp Ngân Hàng Âu Châu (Union des Banques européeness) tại Paris. Năm 1993, một nhà báo đã chụp được bức ảnh Bảo Đại và vợ Pháp Monique Boudot ngồi trước bảo ấn bằng vàng này. Thanh gươm vàng đã xuất hiện tại cuộc triển lãm tại Paris về Việt nam hồi đầu năm 1995. Cả thanh gươm và bảo ấn do vua Gia long đúc năm 1804, đều là tài sản của dân tộc Việt nam… »*\nVề bức ảnh đặc biệt chụp vua Bảo Đại và bà Monique ngồi trước bảo ấn, thì tôi có may mắn lớn nhìn được một phóng ảnh mầu khổ 8 x 7.5 inches (Ảnh của học giả Thái văn Kiểm tặng cho họa sĩ Phạm Thăng).\nTheo sự tra cứu của tôi, sẽ nói tỉ mỉ ở sau, thì thời điểm chiếc ấn được đúc không phải triều vua Gia Long vào năm 1804 mà xác thực là vào năm Minh Mạng thứ tư (1823).\nVề những chi tiết trên sự kiện ấn kiếm bị rơi vào tay Việt Minh rồi lại được trở lại với vua Bảo Đại, có người lại thêm thắt kể rằng nơi chôn dấu là bức tường của một ngôi chùa cổ ngoài Bắc mà lính commando Pháp đi hành quân tình cờ phá ra bắt được, rồi đem về cho tướng chỉ huy Pháp là De Linarès, sau đó trình lên tướng De Lattre để trao lại cho vua Bảo đại hồi 1951. Người Pháp bấy giờ muốn đánh lá bài « giải pháp Bảo Đại » bèn giao trả cho Cựu Hoàng cùng với lời loan truyền đánh về mặt tâm lý chiến với quần chúng là « Nguyễn đi thì Nguyễn lại về » nên ấn kiếm như « châu về Hợp Phố » trở lại tay Ngài khi Ngài hồi loan ! Về buồi lễ trả ấn kiếm, tờ báo Paris Match đã dành một số đặc biệt tường thuật với nhiều hình ảnh đáng nhớ.\nLại đặc biệt có bài viết trên tờ báo Lao Động số ra ngày 8 tháng 12 năm 1996 ở Sàigòn của Nguyễn đắc Xuân phỏng vấn trực tiếp bà Mộng Điệp thứ phi của Cựu Hoàng Bảo Đại về hai món ấn kiếm này (Bài này được tờ Người Việt tự do ở Cali trích đăng lại).\nSau đây là những điều tóm lược đáng chú ý về bài báo :\nBà Mộng Điệp kể rằng ấn kiếm được chôn dấu trong một thùng thiếc dầu hỏa đã bị rỉ sét khi được giao trả, nên một vị nhân sĩ Huế có tiếng là Lê thanh Cảnh gọi điện thoại cho bà nhận sau khi chùi rửa kỹ rồi đem lên Bamêthuôt. Sau đó, bà Mộng Điệp mời bà Từ cung-mẹ của Cựu Hoàng ở Huế lên nhận diện những món này. Đức Từ đã dặn dò rất kỹ về nghi thức cung nghinh báu vật ở phi trường như phủ chúng bằng\n**khăn đỏ**, lập hương án và **lạy năm lạy** để rước về (theo lệ thì người sống lạy 2 lạy, lạy bàn thờ ông bà thì bốn lạy, còn 5 lạy là dành cho vua). Cũng theo đức Từ, ngày xưa khi một vị vua băng hà, thì **bốn vị đại thần Tứ trụ vào điện Càn thành rước ấn kiếm ra** để vị vua kế vị lạy xong rồi mới lên ngôi. Theo sự tra cứu của tôi từ sách « **Cố đô Huế – Lịch sử, Cổ tích, Thắng cảnh** » của Thái văn Kiểm, điện Càn thành xưa là nơi vua ở nằm sau điện Cần Chánh, nó thuộc Tử Cấm thành với điện Quang Minh trước là nơi Đông cung Hoàng tử ở, điện Trinh Minh là nơi ở của các bà Phi, viện Thuận Huy của các bà Tần và năm viện là Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Huy, Đoan Trang, Đoan Tường là chỗ ở của các Cung Nhơn. Nên về sự kiện chiếc ấn kia để trong điện Càn thành, tôi không biết có sự nói lầm hay nghe lầm giữa người đối thoại vì sự phát âm *Càn thành và Cần chánh rất gần nhau chăng* ?\nTheo giáo sư Bửu Kế trong cuốn\n**Chuyện Triều Nguyễn** cũng như ông Phạm khắc Hòe, cựu Tổng lý Ngự Tiền Văn phòng của vua Bảo Đại hồi trước tháng 8 1945 thì những món bảo vật của Triều đình Huế được cất trong điện Cần Chánh (có nói rõ là trong một cái hầm lớn dưới mái sau của điện này) như các thứ ấn ngọc, ấn vàng, kim sách, ngân sách, bửu tỷ, kim bài, phù tín… Ngoài ra còn có những sắc bằng của vua nhà Thanh phong cho vua Gia long, bộ Ngọc diệp, thanh kiếm của vua Gia Long cán bằng sừng tê giác và nhiều vật quí giá khác. Hằng năm vào hạ tuần tháng chạp ta, Nội các chọn ngày lành rồi tâu lên vua để tổ chức lễ Phất thức để cho các quan mặc áo rộng xanh, dùng hương thủy (nước nấu với hoa thơm) để rửa các khuôn ấn và lau bằng khăn đỏ, xong lại bỏ vào những trắp tôn trí trong những cái tủ cẩn chạm trổ như trước, ngoài dán con niêm bằng lụa trên đóng dấu có hai chữ « hoàng phong ». Những chi tiết tỉ mỉ trân trọng nói trên chứng tỏ ngày xưa người ta cực kỳ tôn quí những chiếc ấn biết chừng nào.\nTôi nghĩ có thể đức Từ cung, với tước hiệu Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, đã nhớ chính xác về chuyện xa xưa mà muốn nhắc đến tên điện Cần Chánh hơn là Càn thành vì chính bản thân bà dự lễ đăng quang của vua Bảo Đại ngay đúng tại địa điểm trên vào ngày 24 tháng 3 năm 1934 như lời tường thuật của ông Pierre Daudin, tác giả cuốn Sigillographie sino-annamite dựa trên báo chí địa phương đương thời :\n«\n*Sáng hôm đó, buổi lễ đăng quang của vị Hoàng đế trẻ đã diễn ra theo đúng với nghi thức cổ truyền trong khung cảnh cực kỳ long trọng uy nghiêm của cung điện cổ xưa của cố đô Huế.* *« Từ sáng sớm, hai vị đại thần khâm mạng đã vào *điện Cần Chánh * để lãnh nhận những món biểu tượng vương quyền. Xong rồi dẫn đầu một đám rước có nhạc bát âm và cờ biển nghi vệ, hai ông lại cùng với những người tùy tùng bưng khuôn bửu ấn và kim sách chứa tờ sắc phong tức vị di chuyển đến điện Thái bình lâu, nơi đây Đức bà Hoàng Thái Hậu (tức là Đức Từ Cung) đứng chờ, vận triều nghi thoải mái và kỳ xúng với một bộ y trang lễ phục lộng lẫy, gồm áo thụng dài tay rộng bằng gấm vóc màu vàng và một chiếc mão gắn vàng và ngọc quí.* *« Khuôn bửu ấn và kim sách – biểu tượng vương quyền – bấy giờ được đặt trên hai cái bàn *phủ lụa vàng * ở chính giữa điện. Đức Bà cúi đầu vái ba vái, nhận đón các món trên bằng cách đưa lên ngang mày, và lại vái tạ ân lần nữa. Đức Bà cất khuôn bửu ấn và kim sách, trong khi những vị khâm mạng cùng với đám rước lại rước những cờ biển về lại điện Cần Chánh ».*\nNhân nhắc đến tính chất bất ly thân và vai trò tín dụng đặc biệt của những « ấn tín », tôi lại thấy giáo sư Bửu Kế nhắc đến cái « phù tín » được cất ở điện Cần Chánh. Đây là cái tượng hình cọp bằng vàng cắt đôi thành hai mảnh – nên còn gọi là Hổ phù – có công dụng là ban đêm hoặc khi có biến cố gì khiến nhà vua phải rời cung điện sẽ mang theo một nửa, còn nửa kia giao cho kẻ thân tín, sau này trở về gặp nhau ráp lại cho phù hợp để tránh sự giả mạo. Như vậy, cái phù tín này có thể được dùng vào biến cố Thất thủ Kinh Đô ngày 23 tháng 5 năm Ất dậu khiến vua Hàm Nghi phải xuất bôn ra khỏi kinh thành chăng ? Xem trên, ta thấy ngày xưa vai trò của những cái ấn của vua thật quan trọng trên mặt tượng trưng cho vương quyền. Nhìn vào hiện tại, thân phận của ấn kiếm của vua Bảo Đại đúng là :\n*« * *Xưa sao phong gấm rủ là,* *Giờ sao tan tác như hoa giữa đường* * »* *.*\nTheo bà thứ phi Mộng điệp kể thì Cựu Hoàng ở Pháp về giao ấn kiếm cho Ông Nguyễn duy Trinh cất giữ trong một két sắt đựng chung với vài món quí khác như là cái mão của vua Gia Long bện bằng tóc tết 9 con rồng nhỏ bằng vàng do bà Từ cung ở Huế đem vô. Sau đó, vua Bảo Đại viết giấy giao cho bà Mộng Điệp đem qua Pháp. Đến 1953, bà này trả cho bà Nam Phương và hoàng tử Bảo Long, có bốn ông phụ bưng cái ấn đặt vào tủ sắt là Nguyễn Đệ, Nguyễn duy Quang (anh ruột của Nguyễn duy Trinh), Nguyễn tiến Lãng, Phạm Bích (con của ô. Phạm Quỳnh). Cũng theo bà Mộng Điệp, Bảo Long đã đem cây kiếm bán đấu giá cho người Pháp, có chụp ảnh với người mua đứng giữa cầm kiếm và hai vợ chồng Bảo Long đứng hai bên (!) Bà Mộng Điệp lại cho rằng cái ấn nghe đâu cũng sẽ bán đấu giá (?)\nLại có nguồn tin rằng ông Bảo Long đã bán 600 món bảo vật của nhà Nguyễn ra ngoài thị trường đồ cổ. (Báo Ngày Nay số 373 ngày 01-09-97)\nCâu chuyện loan truyền đồn đãi bên lề quanh hai bảo vật ấn kiếm xin được tóm lược ghi lại như trên, sự thực thế nào vẫn là điều bí ẩn chỉ trong nội bộ gia quyến hay thân tín mới am tường thôi. Học giả Thái văn Kiểm, là một người trong vòng thân tín của Cựu Hoàng lúc sinh tiền, có lẽ cũng biết nhưng ông chỉ thận trọng nói rằng sự tình theo ông càng lúc càng cực kỳ phức tạp chưa có thể nói ra.\nHoàng tử Bảo Long, con trưởng với địa vị Đông cung Thế tử, theo truyền thống vương quyền V.N. cũ phải là người đầy đủ thẩm quyền thừa kế không những chỉ hai món báu vật ấn kiếm nói trên mà còn nhiều của cải khác chăng ? Hoặc giả là bà vương phi Monique Vĩnh Thụy, người vợ chính thức sau cùng đã ở với vua Bảo Đại trong nhiều năm sau cùng đã là vai trò chủ động, ít nhất là bề ngoài trong nghi thức tang lễ của nhà vua :\n«\n*Dù có mặt trong đám tang nhưng các con của Cựu Hoàng Bảo Đại đã chẳng giữ vai trò gì cả và qua lời giáo sư Vũ quốc Thúc, đã đi sau bà Monique vài bước… Những năm chót của cuộc đời, Cựu Hoàng đã sống đạm bạc ở Paris với người vợ Pháp tên Monique Baudot nhưng đi đâu bà này cũng muốn mọi người phải gọi là Công nương Vĩnh Thụy* ».\nTheo giới sinh hoạt chính trị ở Pháp, bà Monique đã như bức bình phong ngăn chặn mọi tiếp xúc của Cựu Hoàng với mọi thành phần chính trị V.N. muốn tiếp xúc với ông… («\n**Đám tang Cựu hoàng Bảo Đại như đám ma một ông Tây !** », Trọng Kim, báo Ngày Nay 12 tháng 8, 1997).\nNhững câu chuyện bên lề kể trên chỉ là chuyện thời sự nhất thời, tuy mới mẻ và mạnh mẽ đập vào sự hiếu kỳ, nhưng chưa đủ tính chất chín chắn, trầm lắng để kết tinh thành những sự kiện lịch sử. Do đó, hai món bảo vật ấn kiếm của Cựu Hoàng Bảo Đại đang ở trong tay ai ? hoặc đang lưu lạc ở đâu ? Lịch sử chỉ mới đang dở sang một trang mới, chúng ta là những thế nhân đương thời vẫn đang nôn nóng có thái độ chờ coi « hạ hồi phân giải ».\nTrong ý hướng tìm tòi biên khảo, tôi nghe nói tại\n*Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế* còn lưu giữ một số hình ảnh hiếm về ấn kiếm vàng mà Cựu Hoàng Bảo Đại trao cho Việt Minh vào ngày thoái vị 25-tháng 8 1945 và về buổi lễ ngày 8 tháng 3 năm 1952 mà Pháp tổ chức tại Hà Nội để trao trả lại cho Quốc trưởng Bảo Đại sau khi tình cờ tìm thấy lại như tôi đã trình bầy ở trên. Qua ông bạn Nguyễn trung Thoại ở Montréal (Canada), tôi được dịp có những bức sao ảnh về : Hình Ngự lâm Quân Việt nam rước ấn và kiếm, các hình chiếc ấn và kiếm mà một ông tên là Phan thanh Hải cung cấp cho ông Phạm mạnh Cương để viết bài « Di tích lịch sử : Bộ Ấn Kiếm Cuối Cùng Của Triều Nguyễn » trong đặc san địa phương « Huế, Một Chút Gì Để Nhớ ».\nCũng trong tinh thần tìm hiểu, qua bài viết về Thời sự : « Đám Tang Jean Robert Vĩnh Thụy Vị Vua Cuối Cùng Việt Nam » (Báo Thế Kỷ 21, số 101, tháng 9.1997), tôi thấy tác giả TS Phạm trọng Chánh cung cấp nhiều chi tiết có ngày tháng đặc biệt sau :\n- Về đám cưới : «\n*Những ngày cuối đời cô đơn, ông đã yêu Monica, cô giúp việc, con bà quản gia chung cư. Cô Monica, sinh năm 1946 đã trở thành vợ ông. Đám cưới và lễ rửa tội ngày 17-4-1988 tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot, Cựu Hoàng Bảo Đại trở thành Jean Robert Vĩnh Thụy* ».\n- Về đám tang : «\n*Không ai đọc được di chúc Cựu Hoàng trong tay Monica. Hội đồng hoàng tộc, ông Ưng Trình và Tiến sĩ Thái văn Kiểm đến, Monica không cho vào. Các công chúa, hoàng tử hay tin cha mất qua báo chí, thì mọi việc đã rồi. Monica đã chuẩn bị hết, từ việc thuê mướn nhà đòn, nghi lễ nhà thờ đến việc chọn nơi chôn cất. Trên báo chí, hai cáo phó riêng biệt, một của Monica và một của Bảo Long, Phương Mai, Phương Liên, Bảo Thắng. Mối xung đột giữa Monica và các con của Hoàng hậu Nam Phương bắt nguồn từ việc sau ngày cưới Monica, bỗng nhiên Cựu Hoàng vác đơn kiện Thái tử Bảo Long để đòi ấn kiếm và chia lại gia tài, vụ án kéo dài cuối cùng tòa xử Bảo Long giữ kiếm và Bảo Đại giữ ấn. Từ nay, chiếc ấn Quốc Bảo Việt nam nặng 12.9 kilô vàng trong tay Monica… *»\n- Về trọng lượng của chiếc ấn, theo sự tính toán của tôi dựa vào tài liệu riêng, sẽ nói sau, thì không nặng 12 kg 9 mà chỉ nặng 10 kg 534 vàng !\nNguồn tin trên, qua TS Phạm trọng Chánh, phải chăng đã hướng sự chú ý rằng ai là người sau cùng đang giữ chiếc ấn vàng có đúc chữ «\n**Hoàng đế chi bửu **» của quốc gia Việt Nam ? Tấm hình chụp Cựu Hoàng và bà Monique ngồi có chiếc ấn vàng để trên bàn trước mặt (không thấy cây kiếm) được đề cập ở trên phải chăng là một bằng chứng cụ thể rằng vụ cha con kiện tụng để chia ấn kiếm là đúng ?\nGiá trị chiếc ấn quốc bảo trên như thế nào ? Ngoài khối lượng vàng mười mấy kilo, chiếc ấn trên, cũng như nhiều món báu vật khác của triều Nguyễn, đương nhiên còn mang nhiều giá trị vô song khác liên quan đến những sự kiện lịch sử văn hóa của nước ta mà tôi xin lần lượt trình bày ở sau.\nCuối bài này, tôi thiết tưởng tuy rằng chủ ý chỉ biên khảo đặc biệt riêng về những chiếc ấn của triều Nguyễn mà ấn của vua Bảo Đại là chiếc cuối cùng, nhưng chúng ta cũng nên tìm hiểu vài sự kiện liên quan đến cây kiếm đã đi đôi với ấn. Người ta vẫn lầm tưởng rằng chiếc kiếm được truyền từ vua Gia Long, kỳ thực căn cứ vào giòng chữ khắc trên vỏ kiếm : «\n**Khải định niên chế** » thì nó được đúc rèn vào thời vị vua này ở ngôi 1916-1925, nghĩa là kiếm chỉ có số tuổi khoảng 70-80, thua xa số tuổi của ấn đúc vào ngày mồng tư tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư hay 1823, nghĩa là 174 tuổi ! Vỏ kiếm có ghi : « **Trọng kim tứ lạng thất ngũ phân** » nghĩa là trọng lượng vàng là 4 lạng 7 chỉ 5 phân, tức là khoảng 178gr vàng, so với chiếc ấn cũng thua xa vì chiếc ấn làm toàn bằng vàng mười tuổi, nặng 280 lượng 9 chỉ 2 phân (thập thành hoàng kim thập nhị bách bát thập lạng cửu tiền nhị phân). Chuôi kiếm được nạm ngọc. Hình dáng chung của kiếm rất đẹp. Lưỡi kiếm hình như không phải bằng vàng mà theo ông Cù Huy Cận, dự buổi trao ấn kiếm thoái vị năm 1945, thì lưỡi bằng thép. Điều này có lẽ đúng vì sau này 1952 kiếm được tìm thấy do lính Pháp giao cho ông Lê thanh Cảnh tiếp nhận sơ khởi thì ấn kiếm được chôn trong thùng thiếc dầu hỏa nên lưỡi kiếm rỉ sét bể làm đôi, phải hàn vá lại để không thấy vết gãy.\nCũng xin nói thêm cho đầy đủ là theo ông Thái văn Kiểm, thanh kiếm này cùng với Kim sách được Cựu Hoàng giao cho Thái tử Bảo Long cất tại một ngân hàng ở Paris. Vào tháng tư 1995, Thái tử có cho một cơ quan mượn trưng bày ở Au Bon Marché. Kim sách là cuốn sách vàng của Hoàng tộc trong đó có khắc chạm 11 bài thơ Ngự Chế về Phiên hệ và Đế hệ thi của vua Minh Mạng vào ngày 1 tháng giêng Minh mạng năm thứ tư (11-2-1923)\n\nInconnu(e)\n\nInconnu(e) BÀI THƠ « PHIÊN-HỆ-THI » VỀ NHỮNG HỌ LÓT CHO GIÒNG DÕI HOÀNG TỬ CẢNH\n\nInconnu(e) Tăng-Duệ Hoàng-Thái-Tử (Hoàng-trưởng tử của Đức GIA-LONG)\n\nĐối với thế hệ tân học chúng ta, đại đa số không hiểu tại sao người Trung Hoa và ông bà cựu học Việt nam mình ngày xưa lại dành một sự quí chuộng đặc biệt cho những món nho nhỏ gọi là « ấn triện ». Trong tháng 8 năm 1997 vừa rồi, danh từ « ấn triện » được báo chí Việt ngữ hải ngoại nhắc nhiều đến sau khi Cựu Hoàng Bảo Đại tạ thế bên Pháp. Chiếc ấn của Cựu Hoàng để lại trong mắt kẻ phàm phu bất quá chỉ là một món cổ vật mà cái giá trị nằm nhiều trong cái khối tích nặng hơn 10 cân tây vàng ròng đúc nên nó hơn là cái ý nghĩa về văn hóa và lịch sử của nó.\nVậy để tìm hiểu lại một đặc thù văn hóa dĩ vãng của Cổ Á Đông nói chung và của nước Việt ta nói riêng, chúng ta thử ôn lại vài nét đại cương về Ấn Triện.\nẤn Triện nói chung trên mặt cụ thể thực dụng là những khuôn dấu để in trên những giấy tờ. Nhưng tùy theo những trường hợp hay người sử dụng, chúng có những tên gọi riêng khác nhau như ấn, tín, ký, triện, chương, bảo, tỉ, v.v… Thông thường nhất thì gọi là ấn hay triện như các hàng chức sắc, quan tước vẫn dùng : triện lý trưởng, triện chánh tổng, ấn quan huyện, quan phủ, tổng đốc, tuần vũ, v.v… Nhưng ấn triện của vua thì là gọi là chương, là bửu, là tỉ… Người thường dân buôn bán giao dịch ký kết giao kèo khế ước, hay thầy thuốc kê đơn thì gọi là ấn ký, hoặc ký tín.\nGiới phù thủy, sư, tăng thường cũng dùng ấn triện để viết sớ hay để in bùa bắt tà ma hay trấn áp quỉ mị như bùa Thái thượng Lão quân, Phật tổ, Trương Đạo Lĩnh thiên sư… Áo con nít được in dấu ấn của thầy pháp gọi là «\n*áo dấu* * »*.\nGiới văn nhân, thi họa sĩ cũng tự hào sáng chế riêng cho mình những khuôn triện đặc biệt để đóng dưới những thi văn hay họa phẩm đã sáng tác.\nCác lò nung đồ sứ như lò Cảnh đức trấn ở Giang tây cũng có dấu triện riêng để đóng vào phần dưới đít của các đồ sứ mà lò sản xuất như là nhãn chứng tránh sự giả mạo.\nẤn triện thường tượng trưng cho chức vị đương nhiệm của một người. Tiếp nhận một chức vị gì thuở xưa quen gọi là\n*tiếp triện* và lúc rời bỏ chức đó thì gọi là *giải ấn* (như trong Truyện Kiều có câu : « Rắp mong giải ấn từ quan » là như thế !) Hằng năm, vào buổi tất niên, các quan nghỉ việc ăn Tết không làm việc ở công đường thì cất ấn vào hộp thì gọi là *hạp ấn*, để sang tân niên mở ra lại để dùng gọi là *khai ấn*. Trong triều đình nhà Nguyễn, chức quan phụ trách giữ bảo ấn cho vua gọi là quan Thượng Bảo. Ấn tín trong mắt người xưa còn tượng trưng cho uy quyền của người chủ ấn, người đâu thì ấn theo đó, một vị tướng phải vất ấn tín của mình mà chạy là một sự thất bại nhục nhã vô cùng. Bảo ấn của vua đóng trên các chiếu chỉ thì có hiệu lực như chính ngài đang ngự trị một cách vô hình trên đó, nên làng xã khi được chiếu sắc vua ban thì phải tổ chức rước sắc và lập hương án đón tiếp với cờ quạt và nhạc bát âm. Cuốn lịch của tòa Khâm thiên giám đóng dấu Kim bảo của vua có công hiệu trừ tà yểm quỉ nên vẫn được dân ta dùng để liệm vào quan tài khi người chết trúng phải giờ xấu, giờ trùng.\nVật liệu để làm ấn triện có thể làm bằng nhiều thứ : từ loại rẻ tiền như gỗ, xương, đồng… cho đến những thứ quí như ngà, bạc, vàng, ngọc… do đó triện có thể gọi tùy theo chất liệu như mộc triện, đồng triện, ngân triện, kim triện, ngọc triện… Cấp làng xã thường dùng triện gỗ nên dân quen gọi là « đóng mộc », còn dấu ấn bằng vàng hay ngọc của Hoàng đế thì gọi là dấu « kim bảo », hay dấu « ngọc tỉ ». Mộc ấn hay mộc triện thường dễ khắc. Gỗ quen dùng là gỗ cây thị có thớ mịn, không bị nứt. Còn đá thì người ta quen dùng loại dảm-thạch (soap-stone) tương đối có cương độ Mohn thấp dễ chìu theo nét chạm khắc ; còn loại ngọc thạch thì thường dùng loại nhuyễn ngọc (nephrite) tương đối cứng nhưng không dòn dễ mẻ như khi chạm trên ngạnh ngọc (jadeite) có cương độ Mohn cao xấp xỉ kim cương.\nẤn triện thường có hai phần gọi là nuốm và đế :\n- Nuốm là phần bên trên để giữ lấy ấn triện khi in xuống giấy. Nuốm thường được đúc hay chạm theo nhiều hình thù thú vật long, ly, qui, điểu… Chỉ có ấn nhà vua mới chọn hình rồng hoặc kỳ lân, thế rồng có thể là hình rồng nằm cuộn gọi là bàn long, hay bàn ly. Trên phần nuốm, đôi khi có đục lỗ để xuyên giây mà đeo ở thắt lưng.\n- Phần đế có mặt triện để khắc chữ : Chữ khắc thường là kiểu chữ « triện », một trong những kiểu thư pháp cổ điển là chân, thảo, triện, lệ… do đó mới phát sinh ra danh từ « triện » để chỉ cái khuôn dấu nói chung.\nLối viết chữ triện để khắc đã thay đổi tùy theo thời kỳ hay triều đại.\nChữ triện xưa nhất có vào khoảng 800 năm trước Thiên chúa ở đời Chu Tuyên vương do một vị Sử quan tên là Trứu gom lại bao nhiêu thứ cổ tự đời trước mà biến chế ra, nên đời sau gọi là Trứu văn hay Đại triện. Về sau, khoảng 213 năm trước Thiên Chúa, vua Tần thủy hoàng giao cho Thừa tướng Lý Tư soạn lại chữ Đại triện mà đặt ra chữ Tiểu triện. Chữ khắc trên chiếc ngọc tỉ truyền quốc của Tần thủy Hoàng là chữ « tiểu triện » của thừa tướng Lý Tư viết xong lại giao cho người thọ ngọc danh tiếng đương thời khắc. Vì chữ Triện là loại chữ tối cổ của văn tự Trung Hoa nên rất khó đọc ngay dù đối những vị thâm nho thông thái. Chữ Triện thường được dùng để khắc trên những chiếc ấn hay để trang hoàng như ta thường thấy như chữ Song Hỉ, chữ Thọ viết hay chạm khắc trên cửa hay bàn ghế.\nNét chữ Triện khắc lại vẽ theo những lối riêng như kiểu « Cửu điệp » nghĩa là một nét được vẽ uốn éo thành nhiều bậc. Triện theo lối Việt nam thường có hình chữ « vạn » nhà Phật có râu ! Lối phân bố nhiều chữ triện trong một ô vuông cũng phải có qui tắc đồng thanh đồng thủ, ví dụ chữ « nhất » chỉ có một gạch ngang thì chữ « diêm » là muối có đến 24 nét. Về lối khắc thì chữ khắc chìm là\n*âm triện*, chữ có màu trắng ( **bạch văn**) hiện trên nền đỏ, trong khi khắc chữ nổi là *dương triện*, chữ có màu đỏ ( **chu văn**) trên nền trắng. Tờ hôn thư thường được in hai dấu Âm và Dương triện.\nNói về mực in khuôn dấu thì màu đen do than muội của cây bông vải đốt ra ; còn màu đỏ thì do chu sa hay son hòa với dầu phọng… (Dấu triện trên thư phân ưu tang sự thì thường đen, hay xanh hoặc chàm… còn mừng hỉ sự, đám cưới, tân gia thì màu đỏ). Về sắc son đỏ, thì cũng có qui chế : son tươi đỏ chói rực rỡ thì của vua, quan tước cấp cao thì đỏ vừa, cấp thấp thì đỏ hơi ngả tím.\nHình thù mặt triện cũng thay đổi, thông thường nhất là hình vuông, kế đó là hình tròn, hình thuẫn, hình đồng tiền… nhưng giới thi văn lại có thể chọn nhiều hình khác như trái đào, trái bầu, nậm rượu, thanh kiếm tùy sở thích.\nNội dung chữ khắc trên mặt triện cũng thay đổi như tên họ, chức tước, biệt hiệu, và có thể là một câu châm ngôn, một câu thơ biểu lộ ý chí hay lý tưởng…\nCách in khuôn dấu trên mặt giấy hay tranh vẽ cũng theo một qui cách nào đó…\nRiêng về sắc bằng của vua, anh Phạm Thăng – người sưu tập sắc vua – nhận xét thấy dấu triện thường được đóng trên hình rồng vẽ trên nền giấy. Vua Minh Mạng đã cho phép các quan khi tấu sự hay sao những lệnh chỉ của vua có thể đóng dấu quan sở của mình trên chữ « tháng » của niên hiệu nhà vua thay vì đóng chệch xa ra vì lòng tôn kính. Mục đích sự vua cho phép là vì để tránh sự giả mạo.\nNhìn lại đại khái về thể thức dùng ấn triện ngày xưa, ta thấy phản ảnh rất nhiều khía cạnh đặc thù về nền văn hóa cổ truyền khi mà tổ tiên chúng ta còn chịu ảnh hưởng của Nho học phát xuất từ cái nôi Trung Quốc.\nVới tinh thần hoài cổ, và cũng là thắp một nén hương cho linh hồn Nho học cũ, tôi mạo muội viết loạt bài bút khảo về ấn triện để chia xẻ với quí bạn đọc, mặc dù tôi tự biết sở học của tôi còn thô lậu.\nSau đây là một vài mẫu triện mà tôi nghĩ rằng lý thú cho chúng ta nắm được tinh thần chơi triện của người Trung Hoa trên phương diện triết lý nhân sinh :\n**Triện số 1 :** có hình đồng tiền, in chữ triện là câu châm ngôn : « duy ngã tri túc » (duy chỉ có ta biết thế nào là đủ).\n**Triện số 2 :** có hình nậm rượu in chữ « nhất hồ thủy * »*, nói lên hoài bão của một đệ tử Lưu Linh chỉ thích trăm năm thi túi rượu vò.\n**Triện số 3 :** có hình vầng trăng lưỡi liềm, khắc chữ « ngọa nguyệt *»*, có nghĩa là hoài bão của người chỉ thích hưởng nhàn nằm khểnh ngắm trăng.\n**Triện số 4 :** có hình vuông, khắc chữ chìm (âm triện) những chữ cổ triện ngoằn nghoèo đọc là « Thời hồ ! Thời hồ ! Bất tái lai ! » mang ý nghĩa là Ôi thời gian ! Ôi thời gian ! chẳng bao giờ trôi trở lại, đúng là câu than của một người có triết lý nhìn đời trôi chảy nên chủ trương vui chơi với cuộc đời hiện tại.\n**Triện số 5 :** Ấn khắc chữ nổi (dương triện), nét chữ thẳng đuột có nội dung : « nhân gian thiên thượng *»* nghĩa là cõi người sống có vòm trời ở trên, nói lên sự khiêm cung của nhân thế đối với trời cao ! **Triện số 6 :** Ấn hình thuẫn, khắc chữ cổ triện, mà chữ nào có gạch ngang bên dưới cần phải lập lại để hiểu ý nghĩa uyên sáo của câu. Đây là một câu châm ngôn của một người tìm cái vui trong sự học vì nội dung đọc là : « Lạc thị lạc thử học, học thị học thử lạc *»*, tạm dịch là vui là vui được học làm vậy, học là học được cái học vui như thế.\n**Triện số 7 :** Ấn có hình vuông, khắc chữ triện tối cổ gồm những nét tượng hình với nội dung đầy thi tứ : « Tịch dương giang thượng lâu *»*, tạm giải thích là lên lầu nhìn nắng chiều chiếu rọi trên sông\n**Triện số 8 :** Ấn hình tròn, khắc chữ cổ triện tượng hình với câu : « Nhật vân trung * »* (mặt trời nằm lẩn trong mây). Chữ vân chỉ viết đơn sơ phác họa bằng một nét uốn éo như một sợi mây.\nQua vài mẫu triện trên, ta thấy tinh thần triết lý nhân sinh của Đông phương là con người thích hòa cái bản thể của mình trong bản thể của thiên nhiên.\nTrong những bài tới, tôi xin mời bạn đọc trở lại những chiếc ấn triện của triều Nguyễn như là những món vật tượng trưng cho uy quyền, tước vị.\nNgày nay, thật khó kiếm mua lại những chiếc ấn triện ngày xưa dù là bỏ ra vàng nén… Có một ngành nghiên cứu về ấn triện gọi là ấn triện học hay ấn chương học. Chuyên gia ngành này không những tinh thông về cách đọc các chữ triện mà còn phải nghiên cứu về Sử học tùy theo thời đại.\nBây giờ những tay mê đồ cổ ngoạn ước ao có được chiếc ấn nhà Nguyễn ngày xưa… Vì chỉ riêng cái dấu ấn của nó mà thôi in trên bằng sắc cũng đủ bộn tiền… mấy ngàn đô la chưa dễ mua được như chuyện ông Nguyễn tấn Đời nài nỉ một tấm bằng sắc có đóng dấu « Sắc Mệnh chi bửu » của nhà văn thích sưu tập Phạm Thăng.\n\nInconnu(e) CÁC KIỂU NUỐM ẤN TRIỆN\n\nVừa rồi qua giây nói viễn liên, anh bác sĩ T.T.N ở Cali đại diện cho Hội đồng Hoàng tộc Nguyễn-Phước Hải-ngoại qua Paris dự đám tang của Cựu Hoàng Bảo Đại cho biết một vị lớn tuổi trong hoàng tộc Nguyễn triều ở vai chú của ngài đã khóc khi được hỏi về chiếc ấn của Cựu Hoàng nay đã nằm đâu ?\nHai ba giả thuyết cũng như tên của một vài nhân vật thân cận được đưa ra, nhưng chẳng có gì làm chắc ! Một điều lo sợ, tuy vu vơ, nhưng cũng lởn vởn là liệu có kẻ nào tham lam, có thể làm chuyện ngu muội nhất trần gian, vớ được ấn đem nấu chẩy lấy vàng như đã từng xảy ra với một cái cúp bằng vàng của một danh thủ thể thao, được coi là quốc bảo ở một xứ Nam Mỹ, bị kẻ lấy trộm nhưng biết không thể nào bán được nên đã hành động phá hoại như trên.\nVà một điều đã thực sự xẩy ra tại Việt Nam khiến Cụ Vương Hồng Sển hồi sinh tiền phải đau đớn khóc là khi cụ đọc được tin về những món nữ trang của bà Từ Dũ bị quân gian phi đào mả lấy trộm và sau đó bị nhà nước Việt nam đương quyền lấy lại gần đủ, nhưng sau đó lại ngu dốt xử lý bằng sự đem những món bảo vật này « hóa nghiệm », tức là nung chẩy ra để lấy vàng sung vào công quĩ.\nĐối với chiếc ấn vàng « Hoàng Đế chi bửu » thì sự thể đương nhiên hoàn toàn phải khác vì theo lời đồn, nó có thể đang ở trong tay của bà Monique, người phụ nữ ăn ở với Cựu Hoàng sau cùng, tuy là gốc gác bình dân nhưng nuôi ít nhiều tham vọng, vừa hiểu biết giá trị hãn hữu của chiếc bảo vật cuối cùng nên đã manh tâm nhắm nhía xúi dục kiện tụng tranh chấp chiếm đoạt chiếc ấn từ lâu ? (Bà này lại theo dư luận của người Việt ở Pháp đã có lần muốn được ăn vận trang phục theo kiểu triều nghi của một vương phi). Nếu giả thuyết theo mẩu tin thời sự đăng trên tờ Thế kỷ 21 (số 101 tháng 9, 1997) do TS Phạm trọng Chánh là sự thực, bà Monica là người nắm trong tay tờ di chúc của người quá cố vừa nằm xuống, thì theo luật thừa kế ở Pháp đương nhiên có thể là sở hữu chủ hợp pháp không ? Và nhìn về tương lai gần xa, thì sau bà này chiếc ấn còn rộng đường phiêu bạt… Quo vadis !\nThị trường quốc tế về đồ cổ, nhất là ở Pháp và New York Mỹ có thể đang có nhiều tay hiểu biết rành rẽ về cổ vật Đông phương, những con cá mập cá sà thương mãi thèm muốn sẵn sàng tung dollars để buôn chiếc ấn này lắm chứ !\nDo đó, những giọt nước mắt nóng hổi của vị hoàng thân nói trên có ý nghĩa đánh động tâm lý của chúng ta chăng, khi thấy rằng một món quốc bảo cuối cùng vô giá của nước ta vì một hoàn cảnh tuyệt vọng bi đát của một vị hoàng đế thất cơ lỡ vận lại lọt vào tay một « ngoại nhân » ?\nChuyện những món quốc bảo của quốc gia bị thất thoát ra khỏi nước chẳng phải là điều mới xẩy ra cho nước ta mà đã từng xảy ra trước đây ! Và mỉa mai thay vẫn đang xẩy ra !\nHãy nói chuyện đã xảy ra, ví dụ ở Trung Hoa chiếc ấn bằng ngọc thạch của Triệu tử Long có số tuổi già 1700 năm rơi vào tay người Nhật. Vào khoảng 1932, ấn được tìm thấy khi người ta đào ao rồi được bán cho một người buôn đồ cổ với giá 10,000 Mỹ kim. Năm sau, nhà khảo cổ Nhật Sato Jiro mua lại với giá 50,000 rồi đem về Đông Kinh. Câu chuyện thứ hai là chiếc ấn truyền quốc Thanh triều của vua Phổ Nghi bị viên tướng quân đội Trung Hoa Dân Quốc tên là Phùng Ngọc Tường, mùa thu năm 1924 vào chiếm Bắc kinh bắt phải giao cho… Ai ngờ sau đó, chiếc ấn này được một tên lính ngoại quốc trong đoàn Bát quốc Liên Quân khi vào Bắc kinh vớ được rồi đem bán với giá rẻ mạt cho một thương gia ngoại quốc, rồi sau đó lại bán cho một người Thượng Hải. Một viên chức của triều Mãn Thanh nghe thế bèn mua lại với giá 3,500 Mỹ kim rồi đem hoàn trả cho triều đình này… Nhưng sau đó vài năm, với nhiều cuộc rối loạn chiến tranh ở Tàu, chiếc ấn truyền quốc vô giá có còn nằm ở cung điện như xưa không ?\nMột chuyện khác về hai cái ấn của Triều Đình Huế bị thất lạc nhưng tìm lại được ở Pháp năm 1937. Hai chiếc ấn này bằng đồng, một đúc vào năm 1876, gọi là « Đình thần chi ấn » (năm Tự đức 28) mà các quan đại thần, túc trực ngày đêm làm việc ở nhà bên trái điện Cần Chánh, dùng để liên lạc giữa nhà vua với lục bộ ở Kinh đô. Ấn này bị thất thoát có lẽ vào biến cố Thất thủ Kinh đô Huế ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (Juillet 1885) ; còn chiếc kia đúc năm 1886 với dấu khắc là « Đồng dần hiệp cung » của Bộ Công, bị thất lạc do một người Pháp tên là Gassier tới sinh sống ở Đànẵng hồi Pháp mới sang chiếm đóng mua lại. Người cháu của ông tên Pélissier thừa hưởng nhưng sau đó trả lại cho triều đình Huế. Đúng là châu về Hiệp phố !\nNhưng sự đời đâu có lẽ may mắn được như thế hoài ! Giả thử chúng bằng vàng hay ngọc quí thì ra đi khó lòng trở lại, như chuyện 23 viên ngọc trai lớn màu da cam của Nguyễn Triều đang nằm trong tay của một người Thụy sĩ mới vừa đưa cho một tiệm chuyên buôn đồ cổ ở New York tìm hiểu gốc gác và đánh giá. Nhân đây, tôi lại nhớ một anh bạn đồng nghiệp dòng Tùng thiện Vương kể rằng ông cố của anh bày bàn thờ gia tiên với hai chân đèn bằng… gỗ vì sợ rằng bằng đồng thì con cháu dễ bán !\nNói chuyện hiện tại thì báu vật trong nước Việt nam ta đang dần dà mọc cánh mà bay đi. Những chiếc ấn nho nhỏ thì bay lẹ và kín đáo vô cùng, rồi đến các đồ sứ cổ, thậm chí cho đến những câu đối liễn, hoành phi… đang đua nhau mọc cánh ra đi là không bao giờ trở lại, làm tụi con buôn đồ cổ ngoại quốc được thể đục nước béo cò trả dìm giá. Nhiều phủ đệ ở Huế cũng bị con cháu gỡ rui mè chạm trổ mà bán đi. Hiện nay, ở Montréal-Canada, một nữ bác sĩ Việt nam tên là Nguyễn thị Th. nghe đâu đã sưu tập nhiều món đồ cổ quí giá của Triều Nguyễn. Nước ta thường tự hào có mấy ngàn năm văn hiến thế mà những di tích cổ vật lịch sử mới chừng 50 năm cũng đã khó tìm. Ở cái xứ Mỹ với lịch sử mới 2-300 năm, người ta trân trọng bảo tồn nhiều thứ, nói đâu xa loài chim ưng đầu sói (bald eagles) bị thuốc DDT lâm vào họa diệt chủng đã được người ta đặc biệt quan tâm. Ở nhiều nơi trên thế giới, nước nào cũng nghiêm chỉnh bảo tồn những thứ đang lâm vào tai họa diệt vong (endangered species) như loài gấu Panda, tê ngu, cá voi… ngoại trừ « nước có 4 ngàn năm lịch sử văn hiến » như Việt nam chăng ?\nNhìn lại thân phận của hai món bảo vật ấn kiếm của vua Bảo Đại, vị hoàng thân đã khóc với những giọt nước mắt nóng hổi, thật là quá đúng !\nKhóc vì ngổn ngang trăm mối bên lòng ! Khóc cho người, cho cảnh, cho thời, cho vận, cho cơn bĩ cực của con thuyền quốc gia ! Quá đúng với cảnh :\n*« * *Trải qua một cuộc bể dâu,* *Những điều trông thấy mà đau đớn lòng* * »* *.*\nChắc có người nói rằng chuyện ấn tín là chuyện di sản của vua chúa phong kiến, nhắc chi sự lỗi thời, mất hay còn thì đâu có chết một người Giao chỉ nào đâu !\nTrên thực tế, thì đúng vì ai mà dư nước mắt khóc cho một vật vô tri. Nếu ở hải ngoại người dân Việt vẫn đứng nghiêm chỉnh chào lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì chuyện thương tiếc cho thân phận một chiếc ấn cũng là một hành động biểu tượng chứ sao !\nGiá trị biểu tượng của những chiếc ấn triều Nguyễn có nhiều khía cạnh ý nghĩa đáng cho hậu sinh chúng ta tìm hiểu lắm cũng như tìm hiểu bao nhiêu di tích lịch sử khác mà con cháu Việt nam đang cố gắng gìn giữ.\nẤn tín triều Nguyễn đã phản ảnh một quá trình lịch sử cận đại của Việt nam dài mấy trăm năm ! Phản chiếu lại những hành xử của những nhân vật vua, quan, thứ dân đã sống qua một thời huy hoàng gọi là « quân chủ » mà nay chỉ còn vang bóng ! Phản chiếu lại những nếp văn hóa, những tâm tình, suy nghĩ của cha ông chúng ta còn đọng lại trong phong tục cổ truyền !\nChiếc ấn này được đúc dưới triều Minh Mạng chứ không phải dưới triều Gia Long (1802-1819) như nhiều người lầm tưởng. Ấn được coi là chiếc ấn lớn nhất trong số những ấn tín lớn của triều Nguyễn. Ấn hình vuông, mỗi cạnh đo là 137mm. Đường mép biên đo 14mm. Bề dày là 21mm (tính theo thước ta thì cạnh đo 3 tấc 2 phân, dầy 5 phân, theo sự ghi chép trong sách Đại Nam thực lục chánh biên tập VI). Nuốm hay tay cầm của ấn là con rồng cuốn hai tầng (bàn long). Mặt ấn khắc hai dòng chữ Hán ghi rõ niên hiệu đúc, chất liệu và trọng lượng : «\n*Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo ; Thập thành hoàng kim thập nhị bách bát thập lạng cửu tiền nhị phân ».*\nCó nghĩa là : Đúc vào giờ tốt lành của mồng 4 (tức là ngày Giáp thìn) tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư (tính ra dương lịch là 17 Mars 1823) bằng vàng mười, cân nặng 280 lượng 9 tiền 2 phân. Chức năng sử dụng của ấn là đóng vào những chiếu chỉ cho các hoàng thân, các quan đại thần và các quan đầu tỉnh ; nói rõ theo lời huấn dụ của vua Minh Mạng là :\n*« …Gặp có khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ, cùng là các cáo dụ, các thân huân, đi tuần thú để xem xét các địa phương, mọi điển lệ long trọng và ban sắc, thư cho ngoại quốc thì dùng ấn « Hoàng đế chi bửu ».* (ĐNTLCB)\nẤn « Hoàng đế chi bửu » phải chăng là chiếc ấn quí giá cuối cùng của triều Nguyễn ?\nCâu hỏi này khó đáp ! Theo ông Pierre Daudin – học giả Pháp chuyên về Ấn chương học – trong cuốn sách Sigillographie Sino-Annamite (Ấn chương của Trung Hoa và Việt nam) của ông xuất bản ở Sàigon Janvier-Mars 1937, ông được Hoàng đế Bảo Đại ra lệnh cho Ngự tiền văn phòng (Cabinet civil) của Ngài cho phép đặc biệt đóng các dấu ấn và chụp ảnh lại bốn khuôn ấn chính thường rất thông dụng của Triều đình Huế để in trong cuốn sách của ông :\n*-* * Hoàng-đế chi bửu (bằng vàng nặng 280 lạng 6 tiền 2 phân)* *-* * Đại-Nam Hoàng-đế chi bửu (bằng ngọc thạch xanh lục)* *-* * Sắc-Mạng chi bửu (bằng vàng nặng 223 lạng 6 tiền)* *-* * Đại-Nam Hiệp-kỷ-lịch (bằng vàng 125 lạng 5 tiền 4 phân)*\nNhư thế là vào thời điểm Vua Bảo đại mới ở Pháp về để thực sự lên ngôi (8 tháng 9, 1932), sau 10 năm du học, thì ấn tín chính tương đối còn rất đầy đủ. Còn hiện nay, sau bao nhiêu cuộc biến loạn thăng trầm trầm trọng của quốc gia, ba chiếc ấn kia ở đâu ? Nếu tính một lạng tương đương 37 gr 500 thì giá trị về quí kim, chiếc nào cũng dễ nể… nhưng về giá trị về nghệ phẩm, về ý nghĩa văn hóa lịch sử thì lấy tiêu chuẩn nào mà đánh giá đây ? Bên cạnh những chiếc ấn quan trọng thường dùng trên, theo ông Daudin, được gọi là «\n*hiện đang được Triều Đình Huế dùng » (principaux sceaux actuellement employés à la cour d’Annam), *ông còn nhắc đến nhiều chiếc ấn khác mà Triều đình cất ở điện Cần Chánh, cứ cuối tháng chạp hằng năm vào lễ Phất thức (chọn một ngày tốt tâu lên vua) được đem ra lau chùi rồi cất lại dưới hầm kho.\nCứ theo sách\n**Khâm định Đại Nam Hội điển Sự Lệ **thì ngoài bốn ấn kể trên thì những bảo ấn, bảo tỉ làm bằng vàng khác có nuốm hình rồng gồm : Các bảo ấn Ngự tiền chi bửu, Văn lý Mật sát, Chế cáo chi bửu, Mệnh đức chi bửu, Quốc gia tín bửu, Hoàng đế tôn thân chi bửu, Sắc chính vạn dân chi bửu, Thảo tội an dân chi ấn, Khâm văn chi tỉ, Duệ Vũ chi tỉ, Tề gia chi bửu.\nNgoài ra các thứ bảo tỉ làm bằng ngọc, ngoài chiếc Hoàng đế chi tỉ trên còn có những chiếc sau : Vạn thọ vô cương, Đại Nam Thiên tử chi tỉ, Thần Hàn chi tỉ, Hành tại chi tỉ, Hoàng đế chi tỉ.\nBốn loại ấn tỉ được đặc biệt cất riêng trong mỗi hộp sơn son thếp vàng, gọi là Tông tàng bảo tỉ gồm có : Truyền quốc kim bửu, Truyền quốc ngọc tỉ (bằng ngọc trắng núm hình rồng quấn), Tiểu lang kim bảo (nuốm hình rồng đi), Tư lịch kim bửu.\nNhư vậy, triều Nguyễn có rất nhiều ấn khác quí giá ngoài 4 chiếc ấn mà ông Pierre Daudin đã chụp. Một câu hỏi lớn có tính chất quan trọng lịch sử là những báu vật gồm những bảo ấn trên và các kim bài kim sách, ngọc ngà, tiền thưởng trong hầm kho của điện Cần chánh phải chăng đã mất mát nhiều vào tay những người Việt Minh thường tự nhận là « chính quyền nhân dân » đã ở Hànội vào Huế ngày 25 tháng 8 1945 nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại qua hành động kiểm kê kho tài sản báu vật này ?\nSở dĩ tôi nêu lên như vậy là sau khi đọc lại một đoạn trong cuốn « Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc » của ông Phạm Khắc Hòe, nguyên là cựu Tổng lý Ngự tiền Văn phòng của vua Bảo đại. Ông Hòe gốc làng Đức thọ (Nghệ An), tốt nghiệp Hậu bổ, có vợ trong Hoàng tộc, hình như tên là bà Phẩm, con cụ Hường Thiết, tức là cháu nội của Tuy lý Vương Miên Trinh, nên được đề bạt làm Quản Đạo Di linh thuộc Hoàng triều cương thổ. Ông có viết một chi tiết liên quan đến lễ Phất thức cuối cùng trước khi kho báu vật được giao cho Việt Minh. Ông Phạm khắc Hòe là một người mà Việt Minh móc nối và cài trong Nội cung Huế để dò xét và đảm nhận mọi công tác dẫn dụ vua Bảo Đại thoái vị và trao quyền một cách êm thắm cho Chính phủ Nhân dân Cách Mạng của Việt Minh vào tháng 8, 1945. Ông Hòe là nhân chứng sống chính mắt và tận tay đảm nhận công tác kiểm kê các bảo vật rồi manh tâm lập công ngõ hầu để các báu vật giao trọn vẹn cho « Cách Mạng ». Xin hãy đọc nguyên văn đoạn viết sau chứng minh điều trên :\n« …Chiều ngày 27 và buổi sáng 28, tôi (tức Phạm Khắc Hòe) cho kiểm điểm lại các thứ tài sản công trong Đại nội để trao cho chính quyền Cách Mạng. Nói đến của công trong Đại nội lúc bấy giờ, thì quí giá nhất là các đồ vật bằng vàng bạc, ngọc ngà, châu báu có tính chất lịch sử của các đời vua nhà Nguyễn, cất trong một cái hầm lớn dưới mái sau của điện Cần Chánh. Hàng năm, ngày 20 tháng chạp âm lịch, triều đình tiến hành lễ Phất thức mở hầm lấy tất cả các thức ra để kiểm điểm và quét bụi bặm, lau chùi thật sạch rồi lại cất vào hầm khóa lại. Chỉ các quan từ nhị phẩm trở lên mới được dự lễ này và phải tự tay mình làm lấy mọi việc : đưa ra, cất vào, quét dọn lau chùi, v.v…\n« Trong dịp lễ Phất thức tháng chạp năm giáp thân (đầu 1945), tôi đã theo dõi sát việc kiểm điểm và các bản kiểm kê đều được làm lại bằng chữ quốc ngữ, chứ không phải bằng chữ Hán như trước nữa. Cho nên lần trổng kiểm điểm cuối cùng này tiến hành được khá dễ dàng và tất cả các loại tài sản đều được giao lại cho chính quyền nhân dân đầy đủ và có giấy tờ minh bạch. Người thay mặt Chính phủ lâm thời để kiểm nhận tài sản là ông Bộ trưởng Lê văn Hiến ».\nBản kiểm kê cuối cùng bằng chữ quốc ngữ này về tài sản quí giá trên, dù là một văn kiện được soạn thảo kỹ lưỡng và mang nhiều chữ ký người giao kẻ nhận cặn kẽ, liệu có còn trên thế gian này không ? Bao nhiêu món báu liệu có còn nữa không ? Hay chúng đã bị tẩu tán như bao nhiêu thứ khác ?\nNhân nói chuyện về hành động phản trắc của ông Phạm Khắc Hòe, người ta kháo rằng ông có người con tên là Phạm khắc Chi, học hành đến Tiến sĩ, giàu có, có vợ là bà Nguyễn Khoa Diệu Biên, nhưng vừa rồi lại bị thảm sát… bằng củi tạ, đánh dập óc chưa đủ… còn bị cứa đứt cổ. Hậu quả của oan nghiệp mà người cha đã gây ra chăng ? Hay là bia miệng đời thêu dệt ? Tôi nghe sao xin nói vậy !\nNhân tôi được đọc cuốn hồi ký « Đời Tôi » của Cụ Võ Văn Triêm (thân phụ của anh bạn của tôi là Bác sĩ Võ-văn Tùng), tôi có thể nói rằng Sở Tài Chánh trong Ủy ban nhân dân Trung bộ của ông Trần hữu Dực đã phụ trách tiếp thu những món báu vật của Triều đình Huế. Ủy ban Trung bộ đóng ở Tòa Khâm cũ. Còn Sở Tài Chánh của Việt Minh đóng tại tư thất của Thượng thư Phạm Quỳnh ở An cựu. (Xin nói thêm là Ông Phạm Quỳnh lúc đó bị họ bắt đi và thủ tiêu tại Phù ốc : nhưng sau hình như Phạm Tuyên con của ông lại là tác giả bài nhạc :\n*Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng).*\nGiám đốc sở Tài Chánh Trung Bộ là ông Nguyễn Tấn, rể của cụ Tôn Thất Quảng, nguyên là Phán sự hạng 6 về Tài chánh ở Tòa Khâm sứ Pháp nhưng đã theo Việt Minh từ trước nên được giao cho chức vụ này. (Về sau ông Tấn làm bộ trưởng Tài chánh ngoài Bắc).\nTrước ngày 19 tháng 12 năm 1946, sở Tài chánh của Việt minh này đã di chuyển những món tiếp quản quí giá này ra ngoài Vinh, ở vùng Linh Cảm, chứa cất tại trụ sở mới tạm chiếm là khuôn viên nhà lầu của Ông Hoàng cao Khải và con là Hoàng Mạnh Trí. Cụ Triêm, nguyên Phán sự tòa Khâm, làm việc dưới quyền ông Nguyễn Tấn, về sau bỏ Vinh trốn về Huế, kể lại rằng kho của Sở Tài chánh này chứa nhiều món quí như chiếc hoàng bào rộng bằng gấm vàng của vua Bảo đại chẳng hạn mà cụ Triêm lúc bấy giờ bị mất hết áo quần riêng mà trời rét căm căm nên cụ liều lĩnh tinh nghịch lục ra… mặc cho ấm ! Như vậy, chúng ta có thể nghĩ rằng còn nhiều món bảo vật vàng ngọc khác cũng được di tản và cất dấu bởi Việt minh khi rút khỏi Huế. Cũng xin kể thêm rằng ở Huế vào thời gian này, có nạn hôi của mà người dân Huế gọi là « đổ bộ ». Cụ Võ văn Triêm còn kể rằng đồ quí xưa trong nhà ông Phạm Quỳnh cũng nhiều, ngoài bàn ghế cẩn xà cừ, chén bát, chóe cổ, còn có một bức tượng Phật Quan Âm bằng ngọc cao hơn một thước, tượng của vua Bảo Đại bằng cẩm thạch… Nghe nói các món đồ này bị đổ bộ cất dấu ở vùng Phú Bài, lính Lê dương của Pháp đi hành quân thấy nhà nào có chứa những món này của ông Phạm Quỳnh cho là Việt minh đều đem cả nhà ra bắn hết. Lại chuyện nghiệp báo chăng trong bia miệng của đời ?\nTôi lại đọc được bài\n**« **Chuyện Cung Đình nghe kể lại ** »**, người viết là anh *Võ Hương An *có thân phụ là cụ Võ văn Lang, làm Nhất đẳng thị vệ trong Đại Nội Huế (quen gọi là quan Nhứt Lang), được vua Bảo đại giao cho nhiệm vụ bàn giao tài sản của Triều Đình cho Uỷ ban tiếp thu của chính quyền Việt Minh. Cụ Nhứt Lang kể rằng công việc bàn giao này kéo dài ba tháng mới xong. Sau đây là lời viết của Võ Hương An : *« Khi nghe kể việc bàn giao cho Việt Minh tất cả kim sách (sách bằng vàng), ngân sách (sách bằng bạc) và các loại ấn, tôi ngạc nhiên hỏi : « Theo con thì vua bàn giao ấn và kiếm, tượng trưng vương quyền cho chính phủ Việt Minh như vậy là đủ rồi, còn kim sách, ngân sách và các thứ ấn khác thì coi như là của riêng vua, việc chi phải giao cho họ ? » Thầy tôi trả lời : « Khi nói tới bàn giao những gì, thầy cũng đem ý đó ra tâu với Ngài, nhưng Ngài dạy rằng : « Nếu những thứ đó bằng sắt hay bằng đồng thì không nói làm gì. Ở đây nó bằng vàng. Nếu giữ làm kỷ niệm, người ta sẽ nghĩ rằng ta còn tham.* Cả cái ngai vàng ta còn chưa tiếc, tiếc chi mấy thứ đó *… »*\nQua những nhân chứng trên, chúng ta có thể đoán rằng phần lớn các ấn triện của triều Nguyễn đều được chính quyền Việt Minh tiếp thu trong toàn bộ báu vật của triều đình Huế còn sót lại sau kỳ Thất thủ kinh đô năm 1885. Nhân chuyện mất mát kho báu lần này, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu kho tàng này đã từng bị vơ vét lần trước ra sao ?\nDựa vào vài tư liệu chính xác còn lưu trữ tại Văn khố Ngoại giao của Pháp (Archives : Affaires étrangères, MD, 1887-1887) mà Francois Thierry nhắc đến trong cuốn Collections monétaires của ông, tôi thấy vài sự kiện đáng chú ý là : Tài sản châu báu của triều Nguyễn (trong đó đương nhiên có những chiếc bảo ấn) đã một lần trong quá khứ bị kiểm kê rất cẩn thận bởi người Pháp vào năm 1885 sau khi Kinh Đô Huế bị thất thủ, nội thành và Hoàng cung bị chiếm và lục soát. De Courcy, người cầm quân đánh chiếm, sau đêm biến cố, đã điện về Paris :\n«\n*Hoàng cung được giữ nguyên vẹn nhờ tinh thần kỷ luật của Tiểu đoàn 3 Khinh binh chiếm đóng và bảo toàn. Tại đây có nhiều của cải : 5 triệu thoi bằng bạc, nhưng con số nầy sẽ lớn hơn bội phần nếu tôi tìm thấy trong đó có nhiều thoi vàng*… »\nSau đó, đầu năm 1886, người Pháp quyết định về kho tàng của triều Nguyễn như sau :\n- Một phân nửa được phục hoàn cho vua Đồng khánh (trong đó đương nhiên có số ấn tín quí giá, đã được lưu lại ở Huế như P. Daudin sau này đã chụp hình vào năm 1937)\n- Phân nửa kho tàng trên lại được phân chia một phần cho Ngân Khố Pháp (Bộ Tài chánh) để nung chảy thành tiền Pháp ; và phần kia dành cho nền bảo hộ tuỳ thuộc Bộ Ngoại giao Pháp.\n- Tháng 7, 1886, kho tàng trên được chuyển từ Sài gòn đến cảng Marseille rồi lên Paris. Sau đó, nó được phân tích và xếp loại bởi ông Devéria vì ông này đọc được chữ Hán ghi chú trên những thỏi vàng bạc, huy chương, kim khánh, ngân tiền… Devéria đề nghị giữ nguyên 94 phẩm vật. Bấy giờ, có hai ý kiến nghịch nhau : một là đem bán đấu giá, hai là đem nung chảy ra. Cuối cùng thì ngoài những phẩm vật được chọn riêng và kiểm kê, tất cả thứ còn lại bị Bộ Tài chánh nung chảy để đúc tiền. (Văn khố AMM Hồ sơ Huế, 1887)\nNhà văn biên khảo Phạm Thăng, trong cuốn Tiền tệ Việt nam, kết luận rằng :\n«\n*Như vậy kho tàng nhà Nguyễn đã bị nung chảy tại bên Pháp để thành tiền tệ của kẻ thắng trận cướp nước. Toàn bộ chỉ còn lại 62 thoi vàng, 86 huy chương vàng và 4 thoi bạc. Phần gởi trả về vua Đồng Khánh đã tiêu mất hết, nên hiện nay chúng ta khó được trông thấy những thoi vàng, nén bạc thời vua Minh Mạng, Thiệu trị, và Tự đức. May ra chúng ta có thể thấy những huy chương (kim tiền, kim khánh, ngân tiền, ngân khánh của thời đó với hình ảnh, lời lẽ chúc tụng : Rồng Mây, Giàu sang, Sống lâu, Nhiều con, v.v… mà Vua chúa ban cho các quan, các Hoàng tử, Công chúa mỗi khi có việc vui, và các vị này lưu truyền cho con cháu coi như vật gia bảo… »*\nSau bao nhiêu biến cố dồn dập xảy ra cho nước Việt nam, hết tay người Pháp rồi lại đến bàn tay của Việt Minh, những của gì quí giá của triều Nguyễn đều lần lượt mất cả hay sao ? Trên phương diện di sản về tinh thần và văn hoá, ai là những người có nhiệm vụ bảo tồn ?\n\nInconnu(e) HOÀNG ĐẾ CHI BỬU\n\nTrong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (tên huý là Đảm, thường được đọc né trại ra là Đởm) là người cho đúc nhiều ấn nhất cho ông và cho guồng hành chánh cai trị trong nước nhất.\nMinh Mạng là vị vua thứ hai của triều Nguyễn, kế vị vua cha Gia long vào năm 1802. Dưới triều Gia long (1802-1820) chỉ mới dựng thành qui chế, lập ra pháp luật, mọi sự đều mới cả. Đến vua Minh Mạng mới thực sự cải tổ cho hoàn hảo. Vua Gia long cũng cho chế tạo những chiếc ấn nhưng chưa được hoàn bị, nhà vua đã ra sắc lệnh dùng vàng đúc các thứ ấn sau : Ấn chế cáo, Ấn Quốc gia tín bảo, Ấn sắc chính vạn dân, Ấn Thảo tội an dân, Ấn Ngự tiền, và Ấn Mệnh đức.\nNhững ấn đúc đời Gia long này thì theo Pierre Daudin không còn thấy khi ông được phép vua Bảo đại chụp hình vào đầu thập niên 30. Không biết chúng đã thất lạc làm sao, hoặc là trong đêm binh biến Thất thủ Kinh đô Huế 23 tháng 5 Ất Dậu 1885, hoặc bị tướng De Courcy tịch thu chở về Pháp năm sau 1886, rồi được giữ lại trưng bày ở Bảo tàng viện Paris. Hoặc có thể Triều đình Huế còn cất kỹ trong kho, không tiện bày ra để Pierre Daudin chụp hình, nếu chúng ta bây giờ còn có những tấm hình này thì quí giá lắm !\nTrong đời vua Minh mạng, nhà vua vẫn sử dụng những ấn của vua cha đúc nhưng vua này lại sai lấy vàng đúc thêm những ấn khác như : Hoàng đế chi bửu, Hoàng đế tôn thân chi bửu, Sắc mệnh chi bửu, Ấn Khâm văn, Ấn Duệ vũ, Ấn Trị lịch minh thời. Vua Minh Mạng lại qui định thật chặt chẽ rõ ràng về cách cất để các bảo ấn ngự dụng ở đâu và sự dùng các ấn này cho mỗi trường hợp ra sao !\nTheo lệnh vua Minh mạng năm thứ ba (1822), chúng được để một cách tôn kính vào gian giữa của điện Trung Hoà, tức là điện Càn thành kể từ 1839, tức là nơi nhà vua ở :\n« Khi muốn dùng đến bảo ấn, thì quan Đại học sĩ hiệp cùng viên Thượng bảo ấn, tức quan giữ ấn, của phòng văn thư tâu rõ lý do. Sau khi được lệnh chỉ cho phép, thì quan nội giám bưng hòm bảo ấn ra điện Cần Chánh. Dùng bảo ấn xong thì niêm khoá lại ngay, đem để vào điện như cũ, chìa khoá do viên Thượng bảo giữ ».\nNhư vậy chỉ tuyệt đối những chức quan liên hệ mới được phép thấy những bảo ấn của nhà vua thôi, ngoại thuỷ không ai thấy nữa. Tuy nhiên, vào năm Minh Mạng thứ mười tám, gọi là một ân tứ đặc biệt, vua xuống dụ cho quan trong Nội các rằng :\n« Ấn bảo tỷ là đồ quý trọng của quốc gia, trước đây vẫn để trong điện Trung Hoà, khi dùng bảo tỷ nào thì phải tâu xin, do Thái giám trong cung bưng ra dùng, các đại thần ít được trông đến. Điện Trung hoà là chỗ ở của trẫm, tất không phải phòng ngừa cái gì, nhưng là đồ quý trọng mà chỉ có người đàn bà và quan hoạn được dự biết, thì không phải là phép tắc tốt để lại muôn năm về sau được.\n*« * *Nay định bắt đầu, từ năm nay, ngày phong sắc dùng đến ấn thì Thái giám bưng các bảo tỷ cùng là kim sách, kim bài và phù tín mấy hòm ra, để trên án chính giữa điện Chần chánh.* *« Trước hết quan trong Nội các liệt bày các danh sách các viên được phong làm Hoàng tử, nhất phẩm văn võ đại thần, hoặc Cơ Mật, Nội các, để trẫm khuyên vào, đến ngày phong thì đội mũ mặc áo hết thảy kiểm điểm đóng ấn, rồi lau chùi để vào hòm khoá cẩn thận, lại do Thái giám tôn kính bưng cất đi ». *(Minh Mạng chính yếu, Quyển 18)\nNhìn lại quá khứ, những chiếc ấn của nhà vua được tôn kính như chính bản thân nhà vua vậy. Còn bây giờ, thấy sự thể đổi thay, chúng ta không khỏi bùi ngùi cho qui luật đào thải và nỗi thăng trầm của thế sự. Theo Nguyễn đắc Xuân đã phỏng vấn bà Mộng Điệp, thì bà Từ cung đã cho rằng bà thứ phi Mộng Điệp « có phước lớn » mới có ân tứ được cung nghinh và giữ chiếc ấn « Hoàng đế chi bảo » của vua Bảo Đại được Pháp giao trả sau khi tìm lại được. Hôm đón cái ấn – lời bà Mộng điệp – Đức Từ bảo phải đặt một cái bàn ở sân bay Buôn ma thuột, phủ khăn đỏ, lạy ấn và kiếm năm lạy rồi mới được phép đem về dinh. Đức Từ bảo tôi :\n*« Bà có phước lắm bà mới trông thấy ấn kiếm ấy. Tôi vào làm dâu nhà Nguyễn bao nhiêu năm mà tôi có được trông thấy bao giờ đâu ».*\nChiếc « Sắc mạng chi bửu » là chiếc được dùng nhiều nhất và dấu ấn của nó còn lưu đến hiện nay trên rất nhiều tờ sắc phong thần của các làng và các bản cáo phong đặc biệt do quan địa phương sở tại tâu lên để ban ân tứ cho những người dân đặc biệt…\nTrong số những chiếc ấn do vua Minh Mạng ra lệnh đúc thì chiếc « Hoàng đế chi bửu » (đã nhắc đến ở trên) và chiếc « Sắc Mệnh chi bửu » quan trọng nhất.\nẤn đúc bằng vàng, nặng 233 lạng 6 tiền (mỗi lạng tương đương với 37gr500, mỗi tiền là 1/10 lạng, mỗi phân là 1/10 tiền), đúc vào tháng mười năm Minh Mạng thứ ba (Nov., 1827), nuốm hình rồng ngẩng cổ như sắp phi lên, xòe 4 chân có 5 móng rõ ràng, mặt ấn hình vuông mỗi cạnh đo 135mm, mép viền 12mm, đế ấn dày 13mm. Ông Pierre Daudin chụp lại trong sách Sigillographie Sino-Annamite (1937) ghi chú về chức năng sử dụng của ấn này là :\n«\n*Để đóng trên những bằng sắc cho bá quan văn võ, những tờ sắc phong cho các thần linh, và những tờ cáo chỉ tuyên bố với bàn dân thiên hạ » (destiné à être apposé sur les brevets des mandarins civils et militaires, les brevets des génies et les textes des proclamations au peuple).*\nXin nói thêm về một điểm lớn sai biệt là tác giả Hồ Vĩnh trong bài « Ấn triện triều Nguyễn » (Gia định 1996) nói rằng theo sách Minh Mạng chính yếu thì ấn « Sắc mạng chi bửu » nặng đến 395 lạng, tức là nặng 14 kg 812, nặng nhứt trong các bảo ấn của Triều Đình Huế sao ? và rõ ràng sai biệt hẳn với tài liệu của ông Pierre Daudin. Tôi chưa có cuốn Minh Mệnh chính yếu để phối kiểm điểm sai biệt này.\nTuy rằng chiếc ấn trên đã thất lạc từ lâu, nhưng dấu ấn của nó có thể nói là vẫn tồn tại vì nó đã được đóng trên nhiều bằng sắc cho thần linh, thành hoàng các làng xã, trên những bằng truy tặng cho người dân xin ân hàm, hay các bằng « tiết hạnh khả phong », v.v… Trung bình vào thời Nguyễn, Triều đình mỗi tháng đóng dấu « Sắc mệnh chi bảo » trên ba ngàn bằng sắc (theo Hồng Hoài Lê văn Hoàng trong bài của tác giả Hồ Vĩnh trên).\nNhà biên khảo Phạm Thăng không những sưu tập về tiền xưa mà còn có cơ duyên đổi chác các vật cổ ngoạn như chóe xưa, tiền bạc hoa xòe để « chuộc » lấy gần chục tấm bằng sắc của triều Nguyễn có dấu « Sắc Mạng chi bửu », và đôi tấm sắc bằng của triều Lê và Tây sơn. Kích thước của mỗi tờ sắc thần lớn hơn một thước tây về chiều dài, căng ra như tấm chiếu nhỏ gần che hẳn hình người thực đứng sau ; màu mực xạ còn đen nhánh và son đỏ còn tươi rói dù giấy hơi ngả màu với thời gian.\nAnh Thăng kể rằng bà luật sư Nguyễn Phước Đại và ông Nguyễn tấn Đời đã từng này nỉ mua lại một hai bức, nhưng anh ước ao rằng một cơ sở văn hóa Việt nam nào muốn sưu tập lại toàn bộ thì là điều lý tưởng nhất.\nMuốn hiểu về tầm quan trọng của ấn tín triều Minh Mạng, ta hãy tìm hiểu về vua Minh Mạng, một vị vua tuy mang tiếng là nghiêm khắc chuyên chế độc tài hay là « bạo quân » theo vài sự phê phán của đời sau nhưng lại là một người đã làm nhiều việc cho xứ sở.\nTrần trọng Kim đã viết về vua Minh Mạng như sau trong cuốn Việt nam sử lược :\n*« Trong đời vua Thánh tổ làm vua, pháp luật, chế độ, điều gì cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ. Nhưng chỉ vì ngài nghiêm khắc quá, cứ một mực theo cổ, chứ không tùy thời mà biến hóa phong tục ; lại không biết khoan dung cho sự sùng tín ; đem giết hại những người theo đạo, và lại tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình ».* (trang 228)\nTrong khuôn khổ nói về ấn triện, tôi chỉ xin nói đến những sự kiện lý thú liên quan đến những chiếc ấn của vị vua uy quyền nhất của triều Nguyễn này thôi.\nLên ngôi vua trễ tràng lúc đã 30 tuổi (1820), hoàng tử Đởm rất am hiểu việc triều chính. Nhưng theo sử sách ghi lại thể chất mảnh mai, sức khỏe không được dồi dào, nét mặt lạnh lùng nhưng thông minh, cương quyết. Do vậy, tuy trị vì trong 20 năm, nhà vua luôn luôn tự phấn đấu không biếng nhác vì mệt mỏi vừa bằng thuốc bổ dưỡng vừa bằng nghị lực tinh thần để tự mình sắp đặt, cải tổ mọi việc cai trị. Trên phương diện thuốc thang để tự bổ dưỡng, hậu thế đồn đãi về toa ngự thang « nhất dạ ngũ giao sinh lục tử ». Chuyện thâm cung bí sử thì không biết hư thực ra sao, tuy nhà vua chỉ thọ 50 tuổi (1841), nhưng nhân số của Hệ nhì chánh của ngài được coi là đông nhất gồm 56 phòng (mỗi phòng do một vị Hoàng tử) và tính đến năm 1942, số Nam nhân được 1800 người.\nNhân nói chuyện vua Minh Mạng, chúng ta thấy trừ chỉ có vua Tự Đức là vô tự và Kiến Phúc chết trẻ lúc 16 tuổi – đại đa số các chúa và vua nhà Nguyễn đều « cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con ». Nên ở Huế thuở tôi còn bé hay nghe người lớn nói về chữ « hoang » và « trụ » của dân Hoàng phái, chẳng hạn nói « hoang như các mệ », « trụ tam đợi như Hoàng phái ». Hoang không phải là hoang phí xài tiền hay tinh nghịch chơi hoang, mà là hoang dâm với các chữ « nói hoang, làm thơ hoang như Hồ Xuân Hương, vua Thành thái « hoang » lắm ! Còn trụ là chữ « trụ vương » nói tắt ! Trụ tam đợi là ba đời đều là vua Trụ cả. Do đó, tôi xin sao lục một giai thoại sau : Một Mệ Hoàng Phái đi ngủ đò (còn gọi là Nôốc), du dương quá làm chiếc đò chòng chành, khiến mặt nước Sông Hương vốn phẳng lặng bỗng gợn sóng. Mệ đã quá và vốn là tay thi phú, Mệ bèn ra câu đối : «\n*Tau nắc mi, mi nắc nôốc, nôốc nắc nác (nác = nước), bỗng dưng Hương thủy nổi ba đào ! »*\nCô gái làng chơi bèn dựa trên ý « trụ ba đời » mà ứng khẩu lại mà đối rằng : «\n*Ôôn (ông) sinh cha, cha sinh con, con sinh cháu, đa đoan truyền tử với lưu tôn ! »*\nCó lẽ tin tưởng vào cái khả năng tình dục phi thường của hậu duệ, Vua Minh mạng mới « ngự chế » 11 bài thơ Phiên Hệ và Đế hệ thi, dùng để đặt tên lót cho mỗi đời con, đời cháu, đời chắt, đời chíu… và lập ra Tôn nhơn phủ (năm 1836) đặt quan chức để coi mọi việc ở trong họ nhà vua, và một cái ấn là « Hoàng đế tôn thân chi bửu ».\nTheo cuốn Nguyễn Triều ngọc điệp của Bửu Phúc, thì có 6 Hệ chánh từ vua Gia long là Hệ nhất chánh, cho đến vua Đồng Khánh là Hệ Sáu chánh, nhưng vì Hệ năm Chánh tức là Vua Kiến phúc không con, nên chỉ còn 5 Hệ chánh thì về nhân số tính lại đến năm 1943, tổng cộng được 2522 người đàn ông và 2400 đàn bà.\nVì nhu cầu hành chánh, vua Minh Mạng đặt ra hai cơ quan quan trọng là Nội các và Cơ mật viện.\nCông việc của Nội các tựa hồ như phòng bí thư của vua làm bao nhiêu việc về giấy tờ như biểu, sách, chế, cáo, chương, tấu, sắc, mệnh, v.v… Mỗi một thứ giấy trên có một chức năng hệ trọng riêng dưới guồng máy cai trị quân chủ mà chúng ta đời sau không thấu đáo nên hiểu lầm lẫn, mù mờ ví dụ không biết phân biệt thế nào là sắc, chiếu, chế, cáo… và đương nhiên khuôn dấu ấn triện phải dùng khác nhau. Theo sử gia Trần trọng Kim, vua Minh Mạng rất mẫn cán, việc gì ngài cũng muốn tìm hiểu hỏi han, đêm nào, ngài cũng thức đến canh ba mà duyệt xét các tấu chương từ các trấn trong nước gởi về.\nDưới triều Minh Mạng, nhà vua còn lập ra những ấn sau để đáp ứng nhu cầu hành chánh như sau :\n- Ấn\n**Ngự tiền chi bửu **dùng cho các việc đóng cho các chỉ dụ, sớ tấu và sổ sách của văn phòng nhà vua.\n- Ấn\n**Trị lịch minh thời **dùng cho việc ban chính sóc (tức là ban lịch).\n- Ấn\n**Khâm văn **thì dùng vào giấy tờ liên quan đến việc học, mở khoa thi, hoặc ấn định về sĩ tử.\n- Ấn\n**Duệ vũ **đóng giấy tờ về việc binh nhung, mở trường võ cử, nghiêm luật về việc võ bị.\n- Ấn\n**Mệnh đức **thì dùng vào việc khen thưởng công lao.\n- Ấn\n**Tề gia **thì dùng vào việc thưởng phạt trong cung cấm.\nTôi xin nói riêng về chiếc ấn « Ngự Tiền chi bửu » là khi thất thủ Kinh Đô, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng trị, Tôn thất Thuyết có đem nó theo, nhưng khi vua Đồng Khánh được Pháp đưa lên kế vị thì cho chế tạo lại.\n«\n*Nguyên thủy nó hình tròn và bằng vàng, nhưng khi chế tạo lại thì sợ rằng không theo đúng mẫu cũ, e có nhiều sự trở ngại, nên Vua Đồng Khánh chuẩn cho làm lại bằng ngà voi theo hình bát giác để tạo ra dấu riêng. Dấu ấn « Ngự tiền chi bửu » mới này còn lưu lại trên chân dung của vua Đồng Khánh* * »* *.*\nVua Minh Mạng còn lo chuẩn định lề lối cho các quan trong triều về cách đóng dấu : Theo luật thì trên các tờ văn kiện sớ tấu, dưới chỗ ký tên được đóng dấu của quan phòng liên hệ ; chỗ niên hiệu nhà vua thì đóng dấu đình thần, chỗ giáp phùng (nối giáp qua tờ khác) thì đóng dấu « Đồng di hiệp cung ».\nMột điều mà chúng ta người đời sau nên biết về tinh thần tôn ty khắt khe thời quân chủ như luật phải tuyệt đối không được phạm thượng, như kiêng gọi các tên cúng cơm của các nhà vua triều Nguyễn (gọi là quốc húy ví dụ như các tên Noãn, Ánh, Đảm, Chủng, Hiệu) mà khi đóng khuôn dấu, người dưới không được đóng dấu đè lên niên hiệu của nhà vua, như thế là phạm tội bất kính. Đối với điều kiêng cữ này, vua Minh Mạng chuẩn cho các quan nha lớn nhỏ được phép đóng ấn tín như lời dụ của vua xuống bộ Lễ :\n«\n*Dùng ấn tín để phòng kẻ gian ngụy, ngăn sự thay đổi. Xưa nay các kỳ ấn, bảo tỷ, hay ấn chương phần nhiều đóng trên chữ niên hiệu năm ấy. Duy lệ cũ, các nha đóng ấn tín về một bên là ngụ ý tôn kính vua. Nay trẫm nghĩ ấn ngự dụng đã đóng lên chữ *năm * thì chuẩn cho các nha lớn nhỏ, ấn tín được đóng lên chữ *tháng * ấy cũng đủ phân biệt tôn ti mà lại phòng ngừa được tệ cạo tẩy… »*\nNgày xưa, có lẽ đôi lúc coi chuyện được « vua đè » là một điều vinh dự như câu hát :\n*« * *Một đêm tựa mạn thuyền rồng,* *Còn hơn mãn kiếp trên sông thuyền chài* * »* *.*\nTuy nhiên, « đè » lắm chẳng ai chịu mãi dù là ẩn nhẫn như tâm sự của Nguyễn côngTrứ oan ức bị vua nghi là lòng dạ « phản trắc » :\n*« * *Đem lưng cho thế gian nhờ* *Chẳng trung thì chớ, lại ngờ bất trung !* * »*\n(câu đố giải là cái phản)\nBạn Võ Hương An, có thân phụ là Nhất đẳng Thị Vệ trải hai triều Khải Định (1916-1925) và Bảo Đại (1925-1945), kể về lối công văn trong Cung Nội như sau :\n«\n*Thầy tôi thường gọi phòng làm việc của vua là « phòng phê » và bàn giấy của vua là « Bàn ngự phê ». Đời Khải Định, bộ phận văn phòng của vua được đặt ở một nơi khác, gọi là Nội các, thường gọi là « Các ». Đến đời Bảo Đại, sau khi ở Pháp về, vua cho cải tổ lại nhiều mặt, trong đó văn phòng của vua gọi là Ngự Tiền Văn Phòng, cầm đầu là một Đổng Lý. Các quan của Nội Các đều lấy từ các bậc đại khoa (xuất thân tiến sĩ hay phó bảng) được đặc cách mang « bài bạc » chứ không phải « bài ngà » như các quan khác. Các quan ở Các vừa có học vị cao, vừa được gần gũi với vua, nên cả triều đình đều nể vì kính trọng. Đời vua Khải định chữ Hán đang còn thịnh, vua thường phê giấy tờ bằng chữ Hán với bút son. Công việc của thị vệ trực tại phòng phê, không những lo hầu trà, hầu thuốc, hầu quạt, mà còn cả việc mài mực, mài son, sắp đặt giấy tờ, đóng ấn, truyền đạt mệnh lệnh của vua. Cái ấn « Đại Nam Hoàng đế chi bửu » bằng vàng ròng, nặng khoảng 10kg thường đóng trên các đạo sắc phong và các giấy tờ quan trọng khác. Thầy tôi nói : Đóng ấn gì cũng lấy sức mà đè để nó ăn cho đều chứ còn với cái ấn ni thì cứ cầm cho vững để nhè nhẹ trên hộp son, nhắm vị trí trên tờ giấy cho ngay ngắn, rồi để xuống nhè nhẹ là nó đều ngay ».* *« * *Vua thường chỉ thị cho các Bộ, Viện hay Nội Các. Thị vệ là con thoi liên lạc giữa Vua và Nội các. Muốn truyền một chỉ thị gì, đại khái vua sẽ nói với thị vệ trực rằng : « Này, X (tên thị vệ) truyền cho Các rằng ta (nội dung chỉ thị) ». Sau khi nghe xong, người thị vệ vái, tâu : « Tuân mạng » rồi nhẹ nhàng lui ra, thi hành phận sự. Đến nơi làm việc của Nội Các (ngày đêm có quan túc trực gọi là « trực thần »). Thị vệ hô : « Hoàng đế truyền chỉ ». Trực thần vội sửa sang khăn áo chỉnh tề, đứng dậy với giấy bút cầm tay, sẵn sàng ghi chép, miệng nói : « Dạ, chúng tôi xin tiếp chỉ ». Người Thị vệ lặp lại lời vua dặn, quan Nội các nghe đến đâu ghi chép tới đó. Nội dung này sẽ được trang trọng chép trên tờ giấy khác, cho vào tráp sơn son thếp vàng, đệ ngược lại để vua xác nhận. Công việc này được gọi là « thỉnh huấn ». Vua đọc lại thấy nội dung do thị vệ truyền đạt phản ánh đúng ý, vua chỉ cần điểm một chấm son nơi đầu chữ « tấu » (tâu), có nghĩa là đúng như vậy, « đồng ý ». Động tác này gọi là « châu điểm », còn nếu không, vua sẽ thêm bớt cho rõ ý hơn. Tờ giấy mang bút tích xác nhận đó sẽ mang trả lại Các. Bấy giờ quan Nội các sẽ sao mệnh lệnh ấy ra, đóng ấn Nội các rồi gởi cho Bộ, Viện hay người liên hệ thi hành, còn bản chính sẽ được lưu vào văn khố, về sau sẽ trở thành sử liệu để Quốc sử quán chép sử… »*\n(Chuyện Cung đình nghe kể lại của Võ Hương An đăng trong Tiếng Sông Hương của Nguyễn Cúc. Dallas TX, USA).\nDưới chính thể quân chủ tuyệt đối, uy quyền của nhà vua là tối thượng nên kẻ thần dân rõ ràng như câu thơ của Hàn Mặc tử tả là « run như run thần tử thấy long nhan ». Hình ảnh của vua thường được thể hiện qua dấu ấn của nhà vua đóng trên những tờ sắc chiếu mà người dân phải để chúng trong những cái hộp sơn son thiếp vàng, đặt trên kiệu long đình có lọng che mà rước đi trong một đám rước long trọng mà ngày xưa quen gọi là « đám rước sắc ». Những cờ biển mà nhà vua ban cho ai phải luôn được trọng vọng rước đầu tiên với tiếng nhạc của phường bát âm như lời di chúc của cụ Nguyễn Khuyến dặn con phải tuân theo khi đưa đám ma cho mình :\n*« * *Cờ biển của Vua ban ngày trước*\nLúc đưa thầy con rước đầu tiên\nLại thuê một lũ thợ kèn\n*Vừa đi vừa thổi mỗi bên năm thằng* * »* *.*\nNhưng than ôi, một khi thiên tử mà thất thế thì chiếc ấn đầy uy quyền thiêng liêng cũng bị tịch thu như trường hợp vua Thành thái sau này bị người Pháp bắt phải thoái vị, do đó trên tờ chế cáo thoái vị của ông không có dấu ấn (coi phụ bản), cái ấn đã bị ông Trương như Cương thay mặt Nội các tịch thu rồi. Nhìn tờ chế cáo của vị vua không dấu ấn, chúng ta khó mà ngăn được tiếng thở dài não ruột.\n\nInconnu(e) SẮC MỆNH CHI BỬU\n\nMột điều rất đặc biệt là Vua Minh Mạng lại không theo lối cũ chia nước ra từng trấn với chức quan Trấn thủ, Tổng trấn, Hiệp trấn như trước mà theo lối nhà Thanh\n**đổi trấn làm tỉnh **và đặt các chức **Tổng đốc **(quan đầu tỉnh lớn), **Tuần phủ **(quan đầu tỉnh nhỏ), **Bố chánh sứ **(coi về thuế má), **Án sát sứ **(coi hình luật và trạm dịch) và **Lĩnh binh **(coi binh lính).\nNước Việt dưới triều Minh Mạng có cả thảy\n**31** tỉnh. Xin coi phóng ảnh của vài mẫu dấu ấn triện của các quan cai trị tỉnh ở Nam kỳ đời Minh Mạng (1820-1840). Riêng về Kinh đô Huế nằm trong **tỉnh Thừa thiên **(thừa nhận từ trời) thì tỉnh trưởng tỉnh phó là chức **Phủ thừa, Phủ doãn.** Thi ông danh tiếng Ưng Bình Thúc Giạ thị đã từng giữ chức Phủ doãn trước đây. Về sau, nước ta lại đặt càng ngày càng nhiều phủ huyện và tỉnh, chẳng hạn như vào đời vua Đồng khánh thì Việt Nam có : *« * *Ba mươi sáu tỉnh rộng dài,* *Năm trăm phủ huyện trong ngoài hai kinh* * »* *.*\n(Dương Bá Trạc)\nHai kinh đây là chỉ Bắc và Trung, còn Nam việt thì trở thành thuộc địa của Pháp rồi.\nTôi xin nói thêm rằng những danh từ quan tước mới được đặt ra thời này như Tổng đốc, Tuần vũ, Án sát, Bố chánh vẫn được dân miền Bắc và Trung quen gọi là quan (hay cụ) Tổng đốc, quan Tuần, quan Án, quan Bố dưới thời Pháp thuộc trước đây thường được dùng trong những tác phẩm tiểu thuyết hồi trước 1945… Còn trong những truyện nói về đời vua Gia long và đời Lê trở về trước thì nhắc đến những danh từ chức tước như quan Tổng trấn, Hiệp trấn, Trấn thủ, v.v… Tả quân Lê văn Duyệt dưới triều Gia long là Gia định thành Tổng trấn như hình dấu ấn triện. Điều này các cây bút sáng tác những truyện hư cấu dã sử vào giai đoạn Lê và Nguyễn nên lưu ý để viết cho đúng với thực tế.\nNhư vậy, song song với sự cải tổ về hành chánh, mới lên ngôi 2 năm (1822), vua Minh Mạng cho phát các ấn triện bằng đồng cho các chức phủ huyện gọi là đồng triện. Do đó, số lượng về ấn triện rất lớn với con số 31 tỉnh trong nước với vô số phủ huyện tổng thôn xã. Tại sao sự cải tổ lại không làm vào đời vua cha Gia long (1802-1820) khi ngài mới thống nhất giang sơn Bắc Nam ? Diện tích nước Việt nam vào thời Gia long, so với thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng Thuận Quảng (1558-1613) đã gia tăng gấp đôi, chưa kể chuyện bảo hộ Cao miên và một phần đất Ai lao. Chuyện dân tình lại rất phức tạp giữa Nam và Bắc, giữa đất ngàn năm văn vật cố cựu còn giữ lòng tưởng nhớ nhà Lê và vùng đất mới khai phá cực nam, dân tình còn chất phác ít học. Sau những năm bôn tẩu phục quốc, nhà vua đã mệt mỏi lắm nên việc cải tổ vẫn còn dở dang, phải đợi vua Minh Mạng kế vị mới làm nổi.\nTrước thời Minh Mạng, chỉ có các chức khâm sai nhà vua mới được dùng đồng triện, còn các chức phủ huyện chỉ được dùng triện gỗ hay mộc triện mà người dân quen gọi là «\n**mộc** ». Hằng năm, các công sở từ tri huyện trở lên, vào buổi tất niên thường có lệ định ngày « hạp ấn » (đóng hộp ấn cất ấn đi) gọi là để các quan nghỉ ăn Tết, chờ sang năm mới chọn ngày tốt mới trịnh trọng mở ra gọi là lễ « khai ấn ». Thông thường khai ấn cũng giống như khai bút đầu năm, vị quan dùng giấy hồng điều trịnh trọng nghiêm trang viết giòng chữ : *« Xuân vương chính nguyệt, sơ… nhật, khai ấn đại cát » *(Vào mồng… tháng của Chúa Xuân, khai ấn tốt lành). Ngày khai ấn thường sớm sủa, mồng hai, mồng ba Tết, dù là chưa phải là ngày làm việc, cốt chọn ngày giờ đại cát mà thôi, mà tránh về sau khi cần việc khẩn cấp đóng triện lại rơi vào ngày hung kỵ, xúi quẩy cả năm. Điều này thật đã phản ánh một khía cạnh duy tâm trong phong tục cổ truyền của dân Việt đối với nhiệm vụ thiêng liêng của những bậc cầm cân nảy mực cho người dân. Tục này nay không còn nữa, có nên tiếc chăng ? Chiếc ấn ngày xưa không những biểu trưng cho quyền uy mà lại còn cho danh dự của người có chức vị như cây cờ hay cây kiếm hiệu lệnh của vị tướng cầm quân, chẳng hạn như chuyện Tôn sĩ Nghị lúc bị vua Quang trung đánh vào thành Thăng Long phải chạy thoát thân quên cả ấn tín bị coi là nhục nhã vô cùng.\nVề mực dùng đóng ấn, thì nhà vua Minh Mạng ấn định là các quan cấp tỉnh dùng son màu đỏ chói, quan phủ bớt đỏ một chút, còn các chức huyện chỉ được dùng màu đỏ lẫn đen. Riêng về các quan huyện, thì được cấp một đồng triện gồm 4 chữ và một mộc triện duy nhất có chữ « Tín », một hộp tampon mực đỏ lẫn đen, 12 bộ Hình luật, và một xấp « án lệ » tùy địa phương mà áp dụng để xử cho dân trong bản hạt. Việt nam ta thường có câu « phép vua thua lệ làng » nên các tri phủ, tri huyện trấn nhậm phải học về « án lệ » kẻo mất lòng dân sở tại. Và đáng chú ý thêm là họ được lãnh 50 quan tiền gọi là tiền « dưỡng liêm » ngoài tiền lương bổng và số lương gạo thường xuyên, và một số y phục gọi là « xuân phục ». Lương tiền của các quan viên thời trước so với nay thì quá ít ỏi, nên nhà vua sợ những phủ huyện thiếu thốn mà nhũng lạm của dân, cho nên mỗi năm lại phát thêm tiền « dưỡng liêm » (nuôi đức tính thanh liêm). Còn áo quần thì được tính ra bằng giá cả quan tiền, chỉ cấp phát mỗi năm vào mùa xuân nên gọi là tiền xuân phục. Nhưng trên thực tế, các bậc phụ mẫu chi dân vào cuối đời Nguyễn, ngay cả hiện nay, khó giữ tính thanh liêm nên Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), từng làm quan đến Tổng đốc, khi vịnh chuyện Thúy Kiều đã mỉa mai rằng :\n*« * *Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ?* *Đời trước làm quan cũng thế a !* * »*\nẤn triện ngày xưa tượng trưng cho quyền uy của người giữ chúng, nên hình luật quốc gia cực kỳ nghiêm khắc trừng phạt sự giả mạo, như trường hợp xảy vào năm Quí Dậu (1813), một người tên Hoan với sự trợ giúp của một ông sãi chùa của làng Hà Liễu đã làm giả một chiếc ấn triều đình bằng đồng bị phát giác và bị bắt nên bị giải về Kinh với tất cả vợ con : anh ta bị xử tử bằng hình phạt bá đao (hay « tùng xẻo » đánh một tiếng trống tùng thì xẻo một lát dao cho đến… 100 lát thì thôi), thây chôn bên hồ Lao thủy, còn vợ con thì giam ngục ; gia nhân hơn mười ba người đều bị tội chết, một người con nhờ trốn vào rừng sâu mà thoát chết.\n(Tôi cũng xin kể trong dấu ngoặc về trường hợp một người đã lấy củ khoai lang khắc khuôn dấu bằng Tú tài đôi, vào cuối thập nhiên 40, ở vùng Việt Minh chiếm để khi hồi cư về Hànội nạp cho trường Đại Học mà xin nhập học Y-khoa. Trường hợp không bị phát giác và… đương sự cũng thông minh chuyên cần gắng học hằng năm, vẫn đủ điểm lên lớp, và cuối cùng tốt nghiệp Y khoa tiến sĩ như ai. Sự việc giống như vụ gian lận nghe lén để tranh cử Tổng thống Watergate, nhưng nếu Tổng thống Nixon đắc cử ở Mỹ bị giải chức thì « vụ bằng cấp củ khoai » của ta có một happy ending, vì không ai biết vụ « bác sĩ củ khoai » cả).\nBên cạnh những ấn triện công quyền, Việt nam cũng có nhiều ấn triện của các tư nhân dùng để giao dịch, đóng trên những tờ khế ước giao kèo mua bán ruộng đất nhà cửa quan trọng, giấy nợ…\nVề hình thức, những chiếc triện của Việt nam đã khác của Trung Hoa ra sao ?\nPhong tục và thể cách dùng ấn triện, thì từ những triều đại trước của ta vẫn bắt chước của họ, nhưng dựa vào nhiều chiếc triện của triều Nguyễn còn lưu lại trong bộ sưu tập của Bảo tàng viện Blanchard de la Brosse, Saigon thì người ta chú ý vài điểm dị biệt sau :\nDù là bằng ngà voi, đá, hay bằng đồng, những khuôn triện cũ của những cá nhân người Việt ngoài khuôn thức hình vuông quen thuộc, còn có một khuôn thức đặc thù cho những ấn triện Việt nam là hình lục giác không đều, mà hai đỉnh của hai góc tù bị cắt lõm vào bằng một đường nửa hình tròn (coi hình). Có lẽ hai phần lõm là chỗ dùng hai ngón tay cầm triện mà đóng ? Những khuôn ấn đặc biệt này có mép viền 2mm, lại chứa trong lòng một hình chữ nhật dùng để khắc chữ, ở khoảng giữa đường mép viền và khuôn chữ nhật lại được khắc những hình trang trí kỷ hà như đường hoa văn, và đặc biệt là những nét chữ Vạn có râu tua. Thể thức những chữ khắc trên các ấn triện của Việt nam lại có thêm điều khác biệt sau là chỉ chấm dứt bằng hai chữ : « Tín Ký », hoặc đôi khi giản tiện bằng một chữ « Ký ». Thể thức này thì người Tàu chỉ áp dụng độc quyền trên những ấn của thương gia, còn các ấn cá nhân thì người Tầu lại hay dùng công thức sau : « …chi Ấn » hay « …Ấn » (Ấn của Mỗ). Có lẽ ở Việt nam ngành thương mãi không được coi trọng, nên dành chữ « ấn », « triện » cho làng xã, hay kẻ sĩ (?)\nMột kiểu thức khác của ấn Việt nam là khi ấn khắc 4 chữ thì sự sắp xếp lại theo hình chữ thập như trên đồng tiền, thứ tự đọc từ trên xuống dưới, và phải qua trái.\nVề kiểu chữ, thì ấn Việt nam không theo kiểu chữ triện thông thường của Tầu mà lại biến hóa tùy thích :\n- Hình 1-2 là chữ Tín biến hóa kiểu Việt.\n- Còn hình 3 là chữ Tín theo lối triện thường lệ của Tầu.\n- Hình 4-5 là chữ Ký biến hóa theo Việt.\n- Và hình 6 và 7 là chữ Ký của Tầu.\n- Hình 8 là chữ Thôn (làng) trên triện lý trưởng của Việt.\n- Hình 9 là chữ Thôn của Tầu.\n- Hình 10 là chữ Trưởng của triện ta.\n- Các hình 11-12-13 là chữ Trưởng theo sách Tầu.\nTôi cũng sưu tập được phóng ảnh của một tờ y án và dấu triện của các ông Ngự Y triều Nguyễn, sau chẩn bệnh cho nhà vua phải viết ra tường trình bệnh trạng và đã cắt thuốc ra sao. Những tờ y án này rất quan trọng nên được lưu trữ để điều tra về sau sợ có âm mưu đầu độc nhà vua chăng ? Và đặc biệt phải đóng dấu « giáp phùng » trên những tờ giấy sang trang để tránh gian lận.\nNgoài những ấn triện công quyền và tư gia, người Việt lại có những chiếc ấn triện không có chức năng thực tiễn mà để trang trí như những nghệ phẩm để trưng bày. Những loại này thường khắc trên ngà hay răng cá voi, mà nuốm khắc hình kỳ lân, sư tử… Vào thập niên 30, nhiều ấn loại này được bán đấu giá ở Saigon. Những khuôn triện nghệ phẩm này thường có hình trái xoan, hình thuẫn, khắc những chữ Thọ, Phúc, Nam Phong chung quanh có chạy những đường chỉ hoa văn.\nNhìn lại những khuôn ấn triện cũ của Việt nam còn sót lại từ thời cận đại, hậu sinh chúng ta thấy rằng chúng quả là những chứng tích mang linh hồn của một thời lịch sử và văn hóa quá khứ cực kỳ phong phú nếu chúng ta hiểu biết ; còn nếu không thì chúng chỉ là những vật vô tri.\n\nCác mẫu ấn của tư nhân còn lưu trữ tại bảo tàng viện Saigon (Musée Blanchard de la Brosse). Phần lớn để chữ Tín Ký, chữ Bảo và Tỉ là ấn của vua.\n\nẤN QUAN NHA VÀ TƯ NHÂN DƯỚI TRIỀU NGUYỄN\nMột đơn thuốc dâng lên vua Gia Long với 4 dấu triện của 4 vị Ngự Y.\n\nẤN QUAN NHA\n(1) Long Khánh huyện ấn\n(2) Biên Hòa Án sát ty chi ấn\n(3) Vĩnh Long Định Thừa Tổng Đốc quan phòng\n(4) Vĩnh Long Bố Chánh Sứ ty chi ấn\n(5) Ấn Đa Phước thôn trưởng\n(6) Phước Tuy phú án\n(7) Biên Hòa tuần vũ quan phòng\n\nInconnu(e) ĐẠI NAM NGUYÊN ĐÍCH CHI TỈ Trên chân dung Vua Đồng Khánh mang dấu ấn « Ngự Tiền Chi Bửu ».\n\nInconnu(e) CÁC MẪU ẤN DÙNG ĐỂ TRANG HOÀNG\n\nSử gia Trần trọng Kim, như trên tôi đã nói trong bài trước, đã nhận định nhẹ nhàng rằng vua Minh Mạng tuy là bậc anh quân nhưng lại rơi vào một khuyết điểm là « không tùy thời mà biến hóa phong tục\n* ». *Theo tôi, điều này đã liên quan với câu ca oán thán của người dân xứ Bắc : *« * *Tháng tám có chiếu vua ra,*\nCấm quần không đáy, người ta hãi hùng.\nKhông đi thì chợ không đông !\nĐi ra bóc lột quần chồng sao đang ?\nCó quần ra quán bán hàng,\n*Không quần đứng nấp đầu làng trông quan* * »* *.*\nNhưng có người lại thắc mắc hỏi : Quần không đáy thì ám chỉ cái váy, điều đó thì rõ ràng vì đúng là mô tả cái quần không đũng hay là :\n*« * *Cái thúng mà thủng hai đầu,* *Bên ta thì có, bên tầu thì không !* * »*\nNhưng « tháng tám » vào năm nào ? Và cắc cớ gì vua Minh Mạng lại xuống chiếu sắc cấm phụ nữ miền Bắc mặc váy và bắt buộc phải mặc quần.\nTôi xin mượn câu ca trên làm duyên khởi mà đề cập đặc biệt lại đến chiếc ấn « Sắc mạng chi bửu » đúc bằng vàng này của vua Minh Mạng đã được đóng trên một chiếu chỉ vào tháng tám năm\n**Mậu tí (1828)** *ban hành chiếu lệnh chặt chẽ bắt dân xứ Bắc đổi y phục theo dân Thuận Quảng mặc quần có ống chân và áo kiểu khách, tuyệt đối cấm mặc váy !*\nNhìn lại quá trình lịch sử Việt nam, chẳng phải lần đầu một nhà vua ở nước ta xuống chiếu cho dân về vấn đề sửa đổi trang phục phải tuân theo. Và cũng chẳng phải lần đầu dưới chế độ quân chủ chuyên chế kẻ thứ dân dám oán thán hay phê phán về một quyết định của triều đình. Tại sao lần này vua Minh Mạng, nổi tiếng là cực kỳ độc tài nghiêm khắc lại gặp một phản ứng đặc biệt như thế ?\nTra cứu cuốn biên khảo « Tìm hiểu Trang phục Việt nam\n* » (Dân tộc Việt) của bà Đoàn thị Tình (Nhà Xuất bản Văn Hóa 1988) *thì vấn đề sửa đổi trang phục từng được sử sách ghi lại như sau :\n- Vua Lê Ngọa Triều (1006) đổi lại phẩm phục triều đình và tăng đạo theo đúng như nhà Tống.\n- Vào thời Lý, vua Lý Thái tông (1029) qui định chế độ mũ áo cho các công hầu và các quan văn võ và năm 1040 nhà vua này bắt may triều phục bằng gấm vóc nội hóa, chứ không dùng của Tầu. Vua Lý Thánh tông (1059) bắt các quan vào chầu phải đi tất, đi hia, và đội mũ cánh chuồn. Cũng dưới đời Lý, có nhiều sự qui định khác, ví dụ như : từ vua đến quân sĩ, vẫn giữ tục xâm mình, xâm ở ngực, ở chân và quân cấm vệ được phép xâm rồng lên người ; người dân cấm mặc áo sắc vàng (1182) ; phụ nữ dân dã cấm búi tóc kiểu cung nhân.\n- Trong đời Trần (1225-1400), triều đình cũng vài lần qui định lại qui chế mũ, áo, vải vóc và mầu sắc cho các quan văn võ, hàng tôn thất… Đặc biệt vào đời Trần trong giai đoạn chống Mông cổ, quân sĩ đều xâm vào cánh tay hai chữ « Sát Thát » ; nhân dân chỉ được mặc sắc đen mà không được mặc các màu xanh, đỏ, vàng, tía và nhất là màu trắng dùng cho tôi tớ trong cung vua.\n- Đến đời Lê, khoảng ba trăm năm trị vì, chỉ trong địa hạt trang phục, triều đình đã trên hai mươi lần qui định, nhắc nhở quan quân, và dân thứ phải tuân theo. Ví dụ đời Lê Thánh tông, trong khoảng từ 1466-1488, có sáu lần vua hạ chiếu hiểu dụ về trang phục. Vua Lê Dụ tông có thời kỳ cứ trung bình hai, ba năm lại nói về vấn đề trang phục.\nĐến triều Nguyễn khởi đầu vào năm 1802 để chấm dứt vào khoảng 1945, cũng có vài lần nhà vua ban chiếu qui định tỉ mỉ về trang phục như những triều đại trước, cơ quan chuyên trách là Bộ Lễ. Vua Gia Long mới lên ngôi (1802) đã qui định trang phục cho chính ngài, rồi 4 năm sau (1806), nhà vua lại hạ chiếu qui định phẩm phục cho các quan văn võ… Tờ chiếc sắc này là một qui định nằm trong sự ban phát ân tứ cho các hàng quan chức, văn cũng như võ giai, kẻ nào được hưởng phải lạy tạ cung kính vì đó là ơn vua lộc nước, hó hé gì thì không những bị tước bỏ bổng lộc mà còn bị mất đầu…\nĐến tờ chiếu của vua Minh Mạng vào tháng tám năm Mậu Tí (1828) thì sự thể hoàn toàn khác về chủ đích và đối tượng. Nó nhằm sửa đổi một phong tục về trang phục lâu đời thân thiết của một lớp đại chúng thứ dân đông đảo.\nCứ như lời ca thì chiếu của nhà vua đã đi ngược lại quyền lợi của người dân nghèo, gia tư cùng khổ ít quần ít áo, hằng ngày phải đi chợ buôn thúng bán mẹt để sinh nhai, nhưng lời châm biếm lại nhắm khéo vào mặt của vị quan sở tại mang tiếng là « cha mẹ của dân » có nhiệm vụ thi hành chiếu lệ của vua. Trong một nước quân chủ tuyệt đối ngày xưa như nước ta, một cá nhân trái lệnh vua là mất mạng, nhưng ở đây đối tượng lại là một tập thể đông đảo vô định hình, chỉ phản ứng một cách tiêu cực bằng một lời ca bóng gió không tác giả và được dí dỏm loan truyền khắp nơi thì hình phạt sẽ nhắm vào ai đây ? Đây chẳng phải lần đầu người dân Việt nam đã dùng nụ cười, câu ca làm khí giới đề kháng hay đàm tiếu một mệnh lệnh cửa quyền nếu chúng ta nhớ lại vài câu ca khác đại khái như chuyện đời Trần, công chúa Huyền trân bị gả cho vua Chàm :\n*« * *Tiếc thay cây quế giữa rừng* *Để cho thằng mán thằng mường nó leo !* * »*\nHay chuyện đàm tiếu về chánh sự đời vua Lê chúa Trịnh :\n*« * *Ba quân có mắt như mờ,* *Để cho quan quận vào sờ chính cung !* * »*\nHoặc chuyện cấm đoán người dân hút thuốc lào (Nicotiana rustica) vì sợ hỏa hoạn thời thuốc lá mới được du nhập vào Việt nam, vào thế kỉ 17 từ Phi luật tân, nhưng dân ghiền cứ tiếp tục hút lén :\n*« * *Nhớ ai như nhớ thuốc lào,* *Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên* * »* *.*\nVà một câu hát thời đại về hiện tượng đồng bào Việt nam bỏ nước đi « chui » ; đi chui nhưng phải cúng cô hồn « bác, đảng » bằng cách cũng bắc chước Bác « trồng cây », nhưng dân thì « chồng cây » nghĩa là đóng chồng những cây vàng lá cho chủ ghe mà vượt biên :\n*« * *Ra đường trồng cây nhớ Bác,*\nVề nhà trồng Bác mua cây.\nXuống thuyền rải cây theo Bác,\n*Lên bờ cho Bác leo cây* * »* *.*\n(Sưu tầm của Nguyễn Cúc – Tiếng Sông Hương)\nCũng nói thêm người Việt có lúc mới đây nhìn hình Bác trên những tờ giấy bạc lớn nhỏ mà nói giá cả, như nói : Em « đi » với anh, cho em một « Bác ngó thẳng » hay 5 « Bác ngó nghiêng ».\nTrở về chiếu lệnh của vua Minh Mạng, chúng ta thấy nhà vua lại vô tình đi vào vết xe cũ của lịch sử vì bản tính chuyên chế « không tùy thời mà biến hóa phong tục\nCứ theo sự biên khảo kỹ lưỡng của bà Đoàn thị Tình, chiếc váy là trang phục lâu đời nhất của đàn bà Việt nam từ đời Hùng vương trên địa bàn lập quốc của vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã nghĩa là Bắc Việt và phía bắc Trung Việt.\nCũng dựa theo sử sách, chuyện phụ nữ quen mặc quần là thói tục trang phục của miền Trung và Nam ít ra kể từ ngày dân ta theo gót Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào vùng Thuận Quảng, rồi về sau đã được Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1774) ra lệnh dân Nam Hà nhất thiết phải tuân theo như là một dấu hiệu biểu trưng sự khác biệt và đối kháng với dân Bắc Hà.\nNhìn vào trống đồng thời Hùng Vương, người ta thấy những hình người mặc váy làm bằng lông vũ hoặc bằng lá cây xòe ra. Quan sát những hiện vật khảo cổ bằng đồng khác như các tượng chạm nổi, ta thấy vào thời này, đàn bà có hai loại váy :\n**váy kín **(váy chui) là hai mép vải khâu lại thành hình ống và **váy mở **(váy ngắn) là mảnh vải quấn quanh mình (cũng lưu ý rằng áo cũng có loại chui đầu và loại cài khuy. Về điểm cài khuy thì cài bên trái, chứ không cài bên mặt như về sau cho đến giờ).\nPhong tục đàn bà Việt mặc váy là điều hiển nhiên được phản ánh qua nhiều tài liệu về các triều đại sau.\nVáy, theo tiếng Việt, còn gọi là\n**xống** (Miền Bắc Trung Việt còn gọi váy là **mấm**). Chữ « xống » thường dùng trong danh từ đôi quen thuộc là « *áo xống »*. Nếu nguồn gốc dân Việt từ Mã lai, thì biết đâu « Xống » chẳng là liên hệ với cái « *Xà rông* » (?)\nTấm váy cũng từng được phụ nữ Việt chăm sóc cho huê mỹ, nhà nghèo thì đương nhiên váy vải đen hay nâu, may vá đụp khi cũ rách, nhưng khá giả giàu có đỏm dáng thì họ có thể mặc :\n*« * *…* *tấm váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen dài chấm gót. Cạp váy bao giờ cũng may rộng bản, khoảng từ 8cm đến 10cm, và đặc biệt là dùng màu sáng như màu xanh, màu vàng chanh hay màu hồng điều. Mầu đen của tấm váy làm nền cho những dải thắt lưng bằng vải sồi hay lụa tơ tằm màu mỡ gà, màu hồng đào, màu hoa lý… thắt so le buộc múi, buông dịu dàng ». *(Đoàn thị Tình)\nChiếc váy của lớp phụ nữ bình dân thường mặc ngắn đến ống chân, khi làm việc đồng áng thì xắn cao lên trên đầu gối rồi buộc túm gấu váy trước và sau vào nhau nên cũng kín đáo…\nNhưng thân phận cái váy cổ truyền này lại nhất thời thay đổi vào thời gian nước Việt bị nhà Minh đô hộ (1414-1427), trong chiều hướng đồng hóa nước ta, bọn Tầu cầm quyền Hoàng Phúc bắt dân ta thay đổi phong tục, tập quán, cách ăn mặc theo lối phương Bắc. Chúng nói : «\n*phong tục có liên quan đến việc trị đạo* », nên đã nghiêm khắc hạn định trong một tháng, từ quan lại, binh lính, đàn ông đàn bà đều phải có sự phân biệt về y phục, nếu không thì bị tội. Chúng « *bắt con trai con gái không được cắt tóc, đàn bà con gái thì phải mặc áo ngắn quần dài theo như người Tàu cả *». (Việt nam sử lược, Trần trọng Kim)\nNhưng rồi người Việt lại khôi phục nền độc lập với công ơn của vua Lê Lợi, đời vua Thịnh Đức Lê Thần Tông (1653), tẩy bỏ dấu tích nô lệ trên bằng sự qui định lại trang phục cho quan dân. Đến vua Lê Huyền Tông (1665) thì nhà vua cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (đương nhiên là phải mặc váy). Điều lệnh này ra năm Ất tị hay năm Cảnh trị thứ ba (1665) ghi chép lại trong Lê triều chính lệnh thiện chính, nói rằng ai trái lệnh phạt 5 quan cổ tiền, tương đương giá cả một con trâu. Về cái quần xuất ở nước ta thuở nào thì chưa thấy ai tìm hiểu. Nhưng theo Pierre Huard và Maurice Durand trong cuốn Connaissance du Viêtnam (1954) :\n« …\n*cái quần được biết từ dân Ấn-Âu (Ga* *u* *lois, Ba Tư cổ), dân Thổ-Tatars (tức là dân cổ Nga gốc Thổ nhĩ kỳ), dân Mông cổ ở vùng Trung-Á đã du nhập vào Trung Quốc cũng chiếc hia vào một thời tương đối mới đây (thế kỷ thứ 3)… »*\nTôi không thấy điều trên đã xuất xứ tham khảo từ đâu, nhưng cái quần ở Việt nam có thể lại bắt chước từ Tầu chăng, nên nhà Minh mới áp đặt cho phụ nữ ta phải mặc thay váy, đồng thời bắt mặc áo ngắn kiểu Tàu mà người ta gọi tên là « áo khách ». Và theo giòng lịch sử, một lớp dân Đàng Ngoài từ đời này dần dà di cư vào vùng địa đầu Thuận Hóa – Quảng nam theo chúa Nguyễn Hoàng mỗi ngày mỗi nhiều còn tuân giữ điều cấm này mà vẫn mặc quần và áo khách. Đến đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong (hay Nam Hà) xưng vương để đối kháng với Đàng Ngoài (Bắc Hà) và đổi thể chế về áo mũ và phong tục. Sự thay đổi này đều dựa vào sách Tam tài Đồ Hội của Tầu mà định ra, nên cùng là Việt nam mà Bắc mặc váy và Trung Nam mặc quần (Le changement de costume sous Võ-Vương, R.P. Cadière, BAVH,1915 ; Đất lề quê thói, Nhất thanh Vũ văn Khiếu ; Việt nam phong tục sử, Lê Dư, Khai trí tiến đức, số 4 tháng 7, 1941). Điều này cũng được Lê quí Đôn ghi nhật khi viết cuốn Phủ Biên tạp lục khi ông từ Bắc hà vô tiếp thu Nam Hà.\nTa cũng nên hiểu thêm rằng nhà Nguyễn đã có khuynh hướng mô phỏng Trung hoa nhiều hơn các triều đại trước, ví dụ như bộ luật Gia long (1815) tuy nói là theo luật Hồng đức của triều Lê và tham chước với luật nhà Thanh, nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi (theo VNSL của Trần trọng Kim). Về mặc kiến trúc, Đại nội Huế có bố cục và danh từ giống như Cố cung của Bắc Kinh như cửa Ngọ môn, các điện Thái Hòa, Càn Thành, Thái miếu (Kiến trúc Huế, Nguyễn Bá Lăng)\nTheo Cố Cadière viết trong bài « Sự thay đổi y phục dưới đời Chúa Võ Vương », thì động lực chính khiến ông thay đổi là để hoán cải một lời sấm cho rằng cơ nghiệp của Nam hà dưới sự cai trị của họ Nguyễn đến đời chúa thứ tám là một sự « trở về kinh đô chính » (hoàn trung đô), tức là về lại Thăng long thành hay trở về sự qui phục với Bắc Hà như trước. Câu sấm còn tiên đoán rằng khi có hiện tượng núi lở, biển cạn, thì giang sơn và nhân dân Nam hà sẽ hoàn toàn đổi khác. Trong đời Chúa Võ vương, bấy giờ lại xảy ra lắm điều trùng hợp khiến Chúa lo sợ rằng là những điềm báo hiệu nguy cơ « hoàn trung đô » sẽ ứng nghiệm cho ông, chẳng hạn như bấy giờ ở Nam hà có một đỉnh núi bị sụt đất thình lình, và một cửa biển bị lấp đầy cát khiến các tầu lớn bị mắc cạn. Chúa bèn phải ứng phó tình thế là phải hoàn toàn hoán cải mọi sự như đặt thêm nhiều sự thay đổi luật lệ, dời cung điện kinh đô, và phỏng theo sách Tầu mà thay đổi y phục của thần dân. Tóm lại biến vùng đất Nam hà hoàn toàn khác biệt như là một giang sơn và nhân dân mới, như thế thì đương nhiên tránh được nguy cơ « hoàn trung đô » vậy.\nSau khi hiểu được đầu đuôi gốc ngọn của tấm váy và cái quần, chúng ta thấy rõ ràng là Vua Minh Mạng triều Nguyễn đã có sự thiên vị trở về với một điều cải tổ do tổ tiên của mình là Chúa Nguyễn Phúc Khoát năm xưa, vốn mô phỏng theo Tầu mà áp đặt phong tục trang phục của miền trong cho toàn quốc. Sự phản kháng của dân Bắc qua câu ca than vãn về sự cấm mặc váy mà mặc quần chỉ là một giọt nước nhễu vào cái thùng đã đầy nước. Khi nhà Nguyễn được giang sơn, dân Bắc Hà vẫn nuôi tâm trạng hoài Lê nên chưa qui phục hẳn ; vua Gia long thuở mới lên ngôi cũng muốn thu phục nhân tâm nên tế nhị khéo léo chiêu hiền đãi sĩ như câu nói với Nguyễn Du…\nNhưng đến vua Minh Mạng, nhà vua với bản tính độc tài, cứ thẳng mực tầu mà làm đã không còn giữ sự khôn khéo trên mặt chính trị như vua cha nên mới gặp sự đề kháng « dí dỏm » của dân tình đất ngàn năm văn vật, nên chúng ta ngày nay mới được có câu ca độc đáo như trên. Trên giòng lịch sử phân tranh Trịnh Nguyễn, kéo dài khá lâu, lấy sông Gianh làm giới tuyến, phong tục tập quán hai miền Bắc và Nam Hà đương nhiên là có lắm điều dị biệt nhỏ cũng như hoàn cảnh bây giờ của chúng ta vậy, dù rằng thời gian chỉ kéo dài từ 1954 đến 1975. Tâm lý chúng ta chỉ mới nghe vài danh từ khác lạ đã thấy chối tai như thủ trưởng, quản lý… huống hồ chi nói chuyện đàm tiếu về những chuyện kỳ thị, áp bức, cải tạo, v.v… Lịch sử đúng là một sự lập lại !\nBên cạnh câu ca oán thán về cái váy, chúng ta còn nghe một câu khác nói lên nét tập quán sống đặc thù của người Bắc là :\n**Nhà không chái, Đái không ngồi, Nồi không quai.**\nChuyện phụ nữ miền Bắc và miền Bắc Trung Việt « đái… đứng » chính là bắt nguồn từ chuyện họ mặc váy mà trước đây trông rất quen mắt vào hồi đầu thế kỷ, nhất là ở giới bình dân nhà quê. Vì gấu váy dài và ở trong không mặt quần lót… nên thong thả thoải mái để có thể giải quyết nhu cầu tiểu tiện ở bất cứ nơi nào, dù là trên vai đang gồng gánh, chỉ việc dạng chân ra và tay trước tay sau nhẹ vén là được :\n*« * *Ham việc làm ăn quên cả nhọc* *Dạng hang một lúc đã đầy phè !* * »*\n(Hồ Xuân Hương)\nCòn chuyện « đàn bà đái không qua ngọn cỏ » chắc chắn phải là tư thế của những vị « hồng quần » ở miền trong mà thôi.\n\nInconnu(e) MAISON DES ENVIRONS DE HUẾ. MỘT NHÀ NƠI PHỤ CẬN HUẾ\n\nTRANG PHỤC CỔ TRUYỀN CỦA PHỤ NỮ BẮC\nCostume et coiffures des femmes.\n(Đồ ăn mặc và cách đội khăn của đàn bà)\n\nInconnu(e) TRANH TẦU VẼ VỀ ĐỜI MINH (WOMEN UNDRESSING)\n\nInconnu(e) HÌNH CÔ GÁI BẮC MẶC VÁY, NGỒI THỔI CƠM\n\nInconnu(e) HÌNH CÔ GÁI BẮC MẶC VÁY, ĐI BÁN THUỐC LÁ RONG\n\nInconnu(e) HÌNH PHỤ NỮ BẮC MẶC VÁY\n\nVua Minh Mạng là một ông vua vóc dáng mảnh khảnh yếu ớt nhưng ý chí rất mạnh, chịu khó làm việc nên đã làm nhiều sự cải tổ. Người đời sau đồn rằng nhà vua ra lệnh cho Thái Y viện nghiên cứu cho ngài những toa thuốc làm việc và… làm tình không biết mệt. Đêm nào ngài cũng thức khuya tự mình coi tấu chương từ các tỉnh gởi về cho đến canh ba mới đi nằm… ấy thế mà ngài chưa chịu ngủ… ngài với tay lấy một cái thẻ rồng đựng trong cái ống đầu ngự sàng rồi đưa cho Thái giám để vời một bà đến chăn gối hầu Ngự. Rõ là :\n*« * *Cái đêm hôm ấy ! Đêm gì ?* *Bóng dương trùng bóng trà mi trập trùng* * »* *.*\nNgược hẳn với vua Khải Định về sau bị chứng lao xương ốm gầy, coi ảnh thì rõ. Bác sĩ Tây là ông Normet (?), Đông Y thì là Thái Y Viện, nhưng vua chỉ thọ đến 41 tuổi thôi. Theo cụ Nhất đẳng thị vệ Võ văn Lang kể lại, vua Khải Định ở một mình trong điện Kiến Trung, lâu lâu bà Nhất giai phi – con gái đại thần Hồ đắc Trung, tên là Hồ thị Chỉ – nước da bồ quân nhưng người nghiêm trang thùy mị – có đến thăm vua vào ban tối với hai thị nữ đi trước cầm đèn lồng và hai thị nữ đi sau hầu hạ.\n«\n*Vua ngồi trên sập hay bàn. Sau khi vái chào, bà Phi được vua mời ngồi nơi ghế do thị vệ mang lại. Vua gọi vợ bằng bà và bà Phi gọi vua bằng Hoàng đế hay ngài. Hai bên hỏi thăm sức khỏe của nhau và nói chuyện như khách. Chừng mười lăm phút là chấm dứt buổi thăm* ». (Chuyện Cung đình nghe kể lại, Võ Hương An).\nXin nói thêm bà Phi này về sau bị loạn trí nên ở Huế hay nhắc đến với cái tên là « bà Phi điên » mà bà Lệ Vân có viết về nhân vật này qua bài « Một Hoàng phi buồn » (Đặc san Tiếng Sông Hương, Thuận Hóa, Phú Xuân, « Văn hóa & Con người », số 1997). Tôi cũng nói thêm về một điều nghe được qua lời của ông Hoàng L., vị giáo sư văn sĩ niên trưởng người Huế kể rằng : Theo bác sĩ Trần đình Nam thì nhà vua thường rất đau đớn về chứng lao xương nên bác sĩ thường phải dùng thuốc trấn thống mạnh là chích « morphine », nhưng vì chích thường xuyên quá nên đâm ghiền và lờn thuốc, liều lượng càng ngày càng phải tăng thêm mới làm giảm đau. Do đó nhà vua đã chết vì ngộ độc chất morphine vào năm 1925. Chất ma túy tinh thuốc phiện này có lẽ chính là nguyên nhân gây ra chứng liệt dương mà người ta vẫn đồn đãi. Còn những cơn đau kinh khủng, dai dẳng của ngài được người Pháp nhắc bằng danh từ « longue maladie impitoyable » (căn bệnh tàn nhẫn lâu năm) trong bản loan tin nhà vua băng hà trong số báo của trường Viễn Đông Bác Cổ năm 1925.\nTrở về với vua Minh Mạng – vị vua Mặt trời của Việt nam – ngài chỉ thọ đến 50 tuổi, thật đáng tiếc… Ngài không chết vì bệnh, vì lao lực, lao tâm hay là vì chuyện gối chăn mãnh liệt. Mà ngài chết vì ham hoạt động. Ngài chết vì té ngựa ngày 21 tháng 7 năm 1841 (Cadière : Abrégé de l’Histoire d’Annam, phần hai tr.13).\nCon của Vua Minh Mạng là hoàng tử Miên tông lên nối ngôi với niên hiệu là Thiệu trị. «\n*Tính vua… thuần hòa, không hay bày ra nhiều việc và cũng không được quả cảm như Thánh tổ (Minh Mạng)* » (Việc nam Sử lược, Trần trọng Kim) nên về mọi việc như học hiệu, chế độ, thuế má đều noi theo cha mà làm. Vua Thiệu trị 40 tuổi thì chết, ở ngôi chỉ có 6 năm. Tôi không hiểu tại sao tác giả Louvet của cuốn La Cochinchine religieuse dựa vào đâu mà cho rằng vua Thiệu trị « *ủy mị và ham thích những thú vui dâm dật* » như Linh Mục Phan Phát Hườn dựa vào khi viết cuốn Việt Nam Giáo sử (tr.469). Đối với Phật giáo, vua Thiệu trị đã cho xây chùa Diệu đế nhìn ra sông Đông Ba Huế vào năm 1844 ; và từ năm 1844 đến 1846, vua cho làm trước chùa Thiên Mụ một cái tháp bẩy tầng ban đầu gọi là tháp Từ Nhơn, nhưng sau lại đồi thành tháp Phước duyên. Về ấn tín, vua Thiệu trị đã tạo đúc hai chiếc quan trọng là :\n-\n**Đại nam Hoàng đế chi tỉ **(bằng ngọc)\n- và\n** Đại nam Hiệp kỷ lịch chi bửu **(bằng vàng)\nĐây chính là ý chỉ của vua Minh Mạng truyền ra mà vua Thiệu trị đã tuân theo.\nĐại Nam là Quốc hiệu của nước ta theo sắc dụ của Vua Minh Mạng công bố tại Phu Văn Lâu Huế năm 1838 tức là năm Minh Mạng thứ 19. Quốc hiệu này được dùng chính thức cho đến triều Bảo Đại cuối cùng, ví dụ nêu trên Hiệp ước Patenôtre là Đại Nam Phụ chánh đại thần Nguyễn văn Tường, trên cuốn lịch của triều đình phát ra cho dân dùng, hay trên những sớ như Đại Nam quốc, Thừa thiên tỉnh, Phú Hòa phường… Tôi còn nhớ vào năm 1945 đi thi Tiểu học còn phải viết quốc hiệu Đại Nam trên bài thi. Tôi lại nhớ rằng các quan của triều đình Huế vẫn được gọi là các quan « Nam Triều », ăn mặc quốc phục khăn đóng áo dài thì gọi là « nam phục », cây sâm đất thì gọi là « nam sâm », cây mù u có hoa vang thì gọi là « nam mai ».\nTại sao Vua Minh Mạng thích ý niệm « NAM ». Ý của Ngài viết trong sắc dụ là :\n«\n*lấy đất dấy lên vương nghiệp làm quốc hiệu : nay bản triều có toàn cõi phương nam, bờ cõi ngày mở rộng, cho đến chân núi bờ biển cũng đều thông thuộc, nguyên trước là Việt Nam, nay xưng là Đại Nam, thì càng rõ thêm danh nghĩa, mà chữ Việt cũng ở trong ấy vậy. Quốc hiệu nên xưng là « Đại Nam » còn hiệp kỷ lịch thì đổi lại hai chữ Đại Nam mà thi hành ».*\nVua Minh Mạng ban hành quốc hiệu năm 1838 thì năm trước là năm 1837, nhà vua khánh thành chín cái vạc đồng khổng lồ gọi là Cửu Đỉnh ở Thế Miếu, với mục đích là «\n*làm sáng tỏ công nghiệp to lớn các đời trước, cũng muốn theo gương người xưa* ». Về công trình kiến trúc, Vua Minh Mạng vào năm 1832 đã hoàn tất việc xây cất Kinh Thành Thuận Hóa khởi công từ năm 1804 đời vua Gia long, xây Đại cung môn và nhất là Ngọ Môn năm 1833. Triều Minh Mạng thật là một đỉnh cao thịnh trị của triều Nguyễn vậy xứng đáng với danh hiệu Đại Nam Quốc. *« * *Chiếc Đại Nam Hoàng đế chi tỉ bằng ngọc thạch màu lục, chạm thành vào tháng 3 năm Thiệu trị thứ tư (Avril, 1844), khuôn hình vuông, cạnh 102mm, đế dầy 42mm. Nuốm ấn hình con rồng nằm. Chức năng sử dụng là để đóng vào những bằng sắc chiếu chỉ khi nhà vua đi tuần du ở các tỉnh và thư tín cho ngoại quốc* * »* *.*\nChiếc ấn ngọc của vua Thiệu trị này có vài điều đáng lưu ý sau :\n- Ấn được gọi là « tỉ », chứ không là « bửu » : Trên phương diện sử dụng, các thứ ấn đều giống nhau, nhưng danh từ để gọi lại tùy triều đại và người dùng mà thay đổi như « bửu » (hay bảo) và « tỉ » là chỉ ấn của vua chúa, còn « ấn » là chữ dùng thông thường ; ngoài ra còn có chữ « chương », ít dùng tuy rằng ngành nghiên cứu về ấn nói chung vẫn được gọi là « ấn chương học » (sigillographie). Riêng về cách gọi bằng chữ « tỉ » bắt đầu từ đời Tần thủy hoàng với chiếc « truyền quốc tỉ » tiếng tăm muôn thuở bằng ngọc quí vang danh trong sử Trung Hoa, làm chảy nhiều máu nhưng hiện nay hoàn toàn mất tích (có dịp, tôi xin trở lại chiếc ngọc tỉ này). Chữ « tỉ » viết với bộ Ngọc nói lên chất liệu của nó là bằng ngọc quí và nó rơi vào tay ai thì người đó có thể cho rằng mình có chân mạng đế vương. Chiếc « tỉ » đầu tiên được chạm từ khối ngọc quí do người thợ ngọc Biện Hòa khám phá ra từ lòng núi đá. Buồn cười là chữ « tỉ » đọc theo âm Tầu nghe giống như là « tử » là chết, nên về sau vài vị vua Tầu tránh mà gọi là « Bửu » và « Ấn ».\n- Chiếc ngọc tỉ của vua Thiệu trị này không thấy sách nói nặng bao nhiêu, nhưng có lẽ vua Thiệu trị đã đeo theo bên mình lúc đi tuần du trong nước vì «\n*ngọc tỉ có nuốm chạm hình rồng và có xỏ lỗ để luồn một sợi giây tơ có tua ngũ sắc để giắt vào thắt lưng* * »* *. *Đây chính là loại « đái ấn » hay « đái tỉ ». Người Tàu ngày xưa có phong tục « đeo ngọc » để phân biệt chức tước và để lấy khước, bảo vệ sức khỏe. Chiếc ngọc tỉ của vua Thiệu trị có nét khắc rất sắc sảo, ta cũng nên nhớ rằng ngọc thường cứng nên giòn dễ mẻ, khiến cho sự chạm ngọc tỉ là một kỳ công.\nTôi chưa tìm ra xuất xứ của chất liệu ngọc này ở đâu ? Ngọc được khai thác sản xuất trong nước ta hay được xứ chư hầu dâng cống ? Đọc truyện Thúy Kiều, ta thấy có nói đến ngọc Lam điền của đất Thiểm tây bên Tàu. Theo Đào hồng Khanh (452-536), vùng Lam Điền nổi tiếng với những hầm đá ở núi Ngọc sơn với ngọc thạch màu trắng và lam. Nhưng ở Việt nam, cũng có một địa danh gọi là\n**Lu-jung river of Tonking, **mà sách Âu Mỹ nhắc lại là Đào hồng Khanh cũng đã đề cập đến trong sách Ming i pieh lu (?) của ông, cho rằng đã sản xuất ra ngọc thạch quí như các xứ khác, ngọc trong và trắng như mỡ heo và gõ kêu giòn là thứ thiệt. (Berthold Laufer, Jade, its history and Symbolism in China, Dover publications, NY 1989)\nTôi thấy Lê Quí Đôn cũng nhắc tương tự trong sách Vân đài loại ngữ của ông là « sách Bản thảo nói rằng :\n*Ngọc thường ở sông Lư-dung, trấn Nhật Nam ».* Nhật nam tức là tỉnh Nghệ An ngày nay, còn Lư dung thì không biết ở đâu. Tôi chưa tra cứu về địa danh Lư Dung ở đâu mà sản xuất ngọc, nhưng ở Việt nam có hai nơi sản xuất đá là Thanh Hóa (gần Nghệ an) và Quảng Nam đã từng cung cấp đá để xây Cửa Ngọ Môn ở Huế. Nhưng ta có thể tin được ý kiến của G. Devéria, chuyên gia người Pháp về bảo vật đặc biệt của triều Nguyễn không ? Trong cuốn Histoire des Relations de la Chine avee l’Annam, Paris 1880, Devéria rất giỏi Hán tự đã dịch ngọc thạch lam lục của Việt nam, một thứ ngạnh ngọc jadeite, là **Phỉ thúy (fei ts’ui)**, tức là xanh như lông chim cánh chả hay chim kẻ trài. Nếu đúng như Devéria, thì « *chiếc ngọc tỉ của vua Thiệu trị chạm từ ngọc Phỉ thúy chăng ?* * »*\nNhắc đến Devéria, ta không thể quên được rằng ông này đã can dự vào sự kiểm kê kho châu báu gồm đến hàng triệu nén quí kim, huy chương, kim khánh, ngân tiền của nhà Nguyễn sau biến cố Thất thủ Kinh đô Huế 23 tháng 5, Ất dậu (1885) bị Pháp lấy rồi chuyển về Pháp vào năm 1886 :\n«\n*Cuối tháng 12, 1886, ông Devéria trình bày kết quả phân tích và xếp loại. Ông đề nghị giữ nguyên ít nhất là 94 phẩm vật, vì biết kho báu sẽ được xử lý như thế nào. Do đó, cơ quản Quản lý (của bộ Tài Chánh) sẵn sàng lập bảng liệt kê ghi rõ trị giá các món vàng bạc của Kho tàng nhà Nguyễn *». (Phạm Thăng, Phần đọc thêm trong cuốn Tiền tệ Việt nam)\nMột câu hỏi lớn là chiếc ngọc tỉ vô giá trên nay ở đâu ?\nSo với dấu ấn Ngọc tỉ trên, thì chiếc ấn vàng sau của vua Thiệu trị lại có công dụng phổ biến, dấu ấn của nó xuất hiện rất nhiều nơi để dân gian nhìn được nó. Mang chữ khắc là « Đại Nam Hiệp kỷ lịch chi bửu », ấn này được đúc bằng vàng vào tháng 10 năm Thiệu trị thứ 7 (Août 1847), nặng 125 lạng 5 chỉ 4 phân, tương đương 4kg707. Khuôn ấn vuông, cạnh đo 111 mm, mép viền 12 mm, đế dày 13 mm.\nNuốm chạm hình kỳ lân đứng. Ấn này theo tên gọi chỉ đặc biệt đóng trên những cuốn lịch.\nHai nhà văn đã đem nó vào thơ văn là Tú Xương và Nguyên Tuân. Ông Tú của đất Vị hoàng sông Vị tỉnh Nam định đã nói về ngày Tết là :\n*« * *Xuân từ trong ấy mới ban ra,* *Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà* * ».*\nĐã ám chỉ đến vụ ban hành cuốn lịch từ triều đình Huế ra Bắc cho người dân biết ngày nào là đầu năm mà ăn Tết.\nCòn Nguyễn Tuân, trong chuyện Khoa thi cuối cùng của cuốn Vang bóng một thời, ông đã viết với một giọng văn cầu kỳ cổ kính ở đoạn mở đầu :\n« Ở cuốn lịch niên hiệu Duy tân năm thứ mười, bìa vàng nhòe nét son kim ấn tòa Khâm thiên Giám, thấy tiết thu phân và ngày lập thu qua đã lâu… »\n(Xin nói thêm trong dấu ngoặc rằng tôi không rõ Nguyễn Tuân có lầm chăng khi nhắc đến khoa thi hương cuối cùng này ở Bắc kỳ vào mùa thu năm Ất Mão 1915 tức là năm Duy tân thứ chín nếu ta tính rằng nhà vua đã lên ngôi năm 1907 hay Đinh vị được kể là năm thứ nhất ; còn năm 1916 thì vua Duy Tân bị Pháp bắt đi an trí sau vụ khởi nghĩa đêm mồng một tháng tư năm Bính thìn (02-05-1916). Hơn nữa theo lệ nhà Nguyễn thì thi hương (còn gọi là thu vi) thường được tổ chức vào mùa thu của các năm : tí, ngọ, mão, dậu ; còn thi hội (còn gọi là xuân hội) thì tổ chức vào mùa xuân của các năm : thìn, tuất, sửu, mùi. Vậy kỳ thi hương mà Nguyễn Tuân nói không thể tổ chức vào năm Thìn được).\nCuốn lịch ngày xưa rất quan trọng cho dân mình, mà chỉ có vua là chủ cả nước mới có quyền và ban phát lịch cho nhân dân. Đối với người mình, thì nhất nhất việc gì cũng phải coi ngày kén giờ từ chuyện cưới hỏi, tang ma, đào móng, dựng đòn dông cho đến chuyện xuất hành, khai trương cửa tiệm, khai công xưởng thợ, v.v…\n«\n*Kén ngày thì phải xem đến lịch. Sách lịch do tòa Khâm thiên giám soạn ra. Mỗi năm vào ngày mồng một tháng chạp, Hoàng đế ngự điện khai trào, các quan tòa Khâm thiên giám cung tiến Hiệp kỷ lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch đi các nơi.* *« Lệ phát lịch, bao nhiêu văn võ quan lại cho đến tổng lý đều được. Tự quan tứ phẩm giở lên thì lịch có dấu ấn dấu Kim bảo ; còn ngũ phẩm giở xuống thì ấn dấu Giám. Còn dân gian thì mua lịch của Giám mà dùng.* *« * *Ban lịch trọng nhất là để cho thiên hạ biết chính xác tiết khí, tháng thiếu tháng đủ, ngày tốt ngày xấu, để cho tuân hành được đều nhau » *(Việt nam phong tục, Phan Kế Bính).\nThành ra, chiếc ấn « Đại nam Hiệp kỷ lịch chi bảo » tượng trưng cho một nền văn hóa và kinh tế chủ nông dựa theo thiên văn cũ và lý thuyết vũ trụ quan Á Đông. Nhà vua được coi như vị giáo chủ thờ trời trong một quốc gia, cuốn lịch là cuốn luật điển về những điều kiết hung lành dữ mà người dân muốn sống thuận lẽ thiên nhiên phải tuân hành vậy. Dấu ấn Kim bảo in trên cuốn lịch có uy quyền như là một sự chuẩn y tối hậu không có không được trên văn bản để mọi người chấp hành. Dấu ấn này rất đỗi thiêng liêng vì phát xuất từ nhà vua là người thừa mệnh trời mà trị dân trị nước. Do niềm tin tưởng này, người mình ngày xưa trong nhà có tang ma thì :\n*« * *…* *trước khi nhập quan phải chọn giờ tránh tuổi rồi dùng bùa nọ bùa kia, dán trong, ngoài quan tài. Có người cho là chết phải giờ xấu thì lạ bỏ cỗ bài tổ tôm, hoặc cuốn lịch tàu, hoặc quyển lịch ta (nhất là quyển lịch có dấu bộ đóng thì càng hay »* *.*\nChiếc ấn vàng Hiệp kỷ lịch của vua Thiệu trị chính là một di tích văn hoá, thất lạc đi thật đáng cho ta bùi ngùi hối tiếc.\n\nInconnu(e) ĐẠI NAM HOÀNG ĐẾ CHI TỈ\n\nInconnu(e) ĐẠI NAM HIỆP KỶ LỊCH CHI BẢO\n\nTrong số những chiếc ấn của triều Nguyễn, có một chiếc đặc biệt đã bị người Pháp bắt phải phá huỷ đi ! Đó là chiếc ấn mà vua Gia Long có được khi nhận lãnh sự sắc phong từ vua nhà Thanh lúc mới lên ngôi như là biểu tượng cho sự thần phục của một bang quốc với Thiên triều. Sự phá huỷ ấn này bằng cách đun chảy tan vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại toà Tổng trú sứ Pháp (ở Huế quen gọi là toà Khâm) sau 13 ngày bàn cãi thương thảo gay go trước khi Việt và Pháp ký hoà ước Patenôtre (còn gọi là Hoà ước Giáp Thân 1884).\nPhía người Pháp là các ông\n**Patenôtre **và **Rheinart **(Patenôtre nguyên là Công sứ ở Tầu được Thủ tướng Jules Ferry sai phái ký kết hoà ước này, còn Rheinart theo giúp vì rất am hiểu các nhân vật ở Triều đình Huế, về sau ông này ở lại làm Khâm sứ).\nPhía Việt nam có các ông :\n**Nguyễn văn Tường **(Phụ chánh đại thần), **Phạm thận Duật **(nguyên là Thượng thư bộ Hộ cử làm Toàn quyền đại thần), **Tôn thất Phan **(nguyên là Tham tri bộ Công cử làm Phó Toàn quyền).\nHoà ước này ký vào năm vua Kiến Phúc nguyên niên 1884 là hoà ước căn bản bắt Việt Nam ta phải chịu sự « bảo hộ » của Pháp mà sau này Vua Bảo Đại cùng Triều đình Huế luôn luôn trở lại và dựa vào để thương thảo với họ khi họ cứ được thể lấn áp Việt nam. Nó gồm 19 khoản qui định những quyền hạn mà người Pháp làm để « bảo hộ » ta.\nMột điều đặc biệt là trước khi hai bên đặt bút ký thì Patenôtre nói là kể từ nay Việt nam đã nhận nước Pháp « bảo hộ », thì tức là hoàn toàn hết sự phiên thuộc đối Trung Hoa nữa, do đó cái ấn của nhà Thanh sắc phong cho vua ta nên giao cho nước Pháp. Việc này làm phía đại diện Việt nam khó nghĩ. Nếu để Pháp lấy ấn này đem về Pháp thì làm Trung Hoa bỉ mặt, còn giữ lại mà đem trả cho Trung Hoa cũng không xong vì lại càng chứng tỏ rõ ràng Việt Nam không còn công nhận vai trò đàn anh của họ như từ mấy trăm năm trước nữa. Do vậy, theo ông Nguyễn văn Tường, thì đem nấu chảy phá đi. Pháp chẳng giữ nó được mà Việt khỏi mất công đem trả, lôi thôi, phiền toái về sau !\nViệc nấu phá chiếc ấn này là một sự kiện đặc biệt mà chúng ta khi biên khảo về những ấn tín của nhà Nguyễn không thể không nhắc đến vì đây là một khúc quẹo chuyển hướng bang giao bất ngờ cho giòng sông lịch sử ; từ cả ngàn năm thì sự bang giao theo trục Việt-Hoa, thì nay trục này bị chặt đứt mà thay vào đó trục Việt-Pháp, hay nói cụ thể là Huế-Paris.\nChiếc ấn không còn là một khối kim khí vô tri tầm thường để đóng trên những văn kiện, mà còn mang những ý nghĩa biểu tượng rắc rối cho tư tưởng, danh dự, lễ nghi, quyền lợi của con người trong sự giao thiệp với nhau.\nTại sao người Pháp lại nảy ra ý kiến bắt chẹt Triều Đình Huế phải giao chiếc ấn nhà Thanh cho họ ? Nguyên do là họ rất tinh khôn, mang tiếng là những người thực dân đem súng đạn đi chiếm nước người, bị người Tầu khinh khi gọi là « lũ quỉ trắng » (bạch quỉ), « lũ quỉ đến từ biển phía Tây » (Tây dương quỉ), nhưng đi tới đâu là họ tìm hiểu địa hình, địa vật, nhân tình tới đó. Patenôtre bản thân nguyên làm Công Sứ ở Tầu, chính là đã nghe theo ý kiến của một tên « cáo già » chuyên gia nghiên cứu về Trung Hoa tên là Dévéria, thông ngôn của bộ Ngoại giao Pháp rất thông thạo Hán tự, lại chuyên tìm đọc các sử sách của Tầu.\nCòn nhớ sau này khi tướng Pháp De Courcy chiếm toàn bộ kho báu vật và vàng bạc chứa trong điện Cần chánh của nội cung Huế đem về Pháp năm 1885, bộ Tài chánh và Ngoại giao Pháp lại gọi đến chính tên Dévéria cáo già tinh khôn này lại kiểm kê và phân loại qua sự soi kiếng lúp đọc những giòng chữ Hán nhỏ khắc li ti trên những kim ngân sách, hay tiền tệ quí kim. Nhân nói đến sự tinh khôn của người ngoại quốc khi can dự vào nước ta, ta thấy rằng người Nhật cũng rành rẽ từng độ sâu của biển Vịnh Cam ranh và toạ độ những hang biển có yến sào, người Mỹ nghiên cứu kỹ từng dặm vuông của thềm lục địa của ta với những túi dầu hoả ngoài Biển Đông, và nói đâu xa, ông Léon Sogny, trùm Mật thám Pháp ở Huế, từng đi bắt vua Duy Tân sau cuộc khởi nghĩa không thành năm 1916, là một người nói tiếng Việt giọng Huế, ghi chép từ những câu nói tục chửi thề của người bình dân trên đường phố, ông còn làm bỉnh bút trong ban biên tập của tạp chí Đô thành hiếu cổ.\nTrở về với Dévéria và chiếc ấn nhà Thanh, ta thấy ông này đúng là một loại Hán học, không hóc hiểm sử sách Tầu, Ta mà ông không mày mò tìm hiểu. Ông đã viết cuốn « Histoire des relations de la Chine avec l'Annam, Paris 1880 ». (Bang giao sử giữa Trung Quốc và Việt nam), trong đó ông có nhắc đến sự sách phong của Thiên triều Trung Hoa với việc giao cho vua ta một chiếc ấn có nuốm hình con lạc đà, biểu tượng cho sự thần phục của xứ chư hầu.\nTheo Trần Trọng Kim (Việt nam sử lược), Vua Gia long sau khi thống nhất giang sơn Việt nam lên ngôi vua (Nhâm tuất, 1802) liền gởi sứ bộ qua Bắc kinh để xin sách phong và tiến cống, Chánh sứ Việt nam là Lê Quang Định, Thượng thư Binh bộ, theo lệnh vua xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, dựa theo lẽ rằng nước Việt thường ở phía Nam. Nhưng vua nhà Thanh sợ rằng tên Nam Việt gây hiểu lầm là đất Nam Việt của Triệu Đà ngày trước gồm đất Lưỡng Quảng, bèn đổi là Việt nam. Mãi đến hai năm sau là 1804 (Giáp tí) – tức là Gia long năm thứ ba – vua Tầu mới sai Tề bố Sâm sang phong vương và ban ấn cho vua Việt Nam. Đến hai năm sau đó (1806), vào năm Bính Dần, Vua Gia Long mới tổ chức lễ « xưng đế ».\nChiếc ấn nhà Thanh này bằng bạc mạ vàng trên có nuốm hình lạc đà. Ấn này hình vuông, mỗi bề 11 phân tây, nặng 5kg900, trên mặt ấn chia làm hai, bên phải khắc thành hai cột 6 chữ Hán « Việt nam quốc vương chi ấn » ; còn bên trái thì khắc giòng chữ triện Mãn Thanh. Tưởng cũng nên nói thêm rằng nuốm của ấn có hình con « lạc đà », chứ không phải hình con « kỳ lân » như ông Phan Khoang tra cứu trong cuốn Việt nam Pháp thuộc sử (1884-1945). Kiểu ấn có nuốm hình lạc đà này là một trong những kiểu ấn đã được các triều đại cũ của Tầu quen cấp cho các xứ chư hầu trong quá khứ. Theo sách Khâm định Đại Thanh Hội điển sự lệ, thì các thân vương Thát đát hạng nhất, thì được ban ấn vàng có nuốm hình con rùa ; quốc vương Cao ly, cũng kiểu ấn trên nhưng nhỏ hơn, các quốc vương của Việt nam, đảo Lưu cầu, Ai Lao, Xiêm, Miến Điện thì nhận ấn bạc mạ vàng có nuốm lạc đà. Còn các thân vương Thát đát hạng nhì thì nhận cái ấn bạc có nuốm hình con hươu… Ví dụ như năm 1368, Trần dụ Tông được vua Minh thái tổ sai sứ Trương Dĩ Ninh qua phong cho làm An nam Quốc vương và ban cho quả ấn nuốm hình lạc đà bằng bạc mạ vàng với cuốn lịch Đại thống và 40 tấm vóc sa hoa vàng (Bang giao chí, Lịch triều Hiến chương loại chí, quyển XLVI).\nHậu sinh chúng ta cũng nên nhớ chi tiết quan trọng này là trong suốt cả ngàn năm lịch sử, vấn đề bang giao của nước Việt là nước nhỏ đối với Trung Hoa là nước lớn khổng lồ ở phương Bắc, tổ tiên chúng ta luôn luôn giữ chủ trương mềm dẻo mà thông hiếu với họ, tuy rằng chúng ta vẫn nuôi dân dựng nước với qui mô riêng biệt, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối với họ thì xưng vương, vẫn chịu sự phong quốc hiệu và nhận ấn phiên thuộc của họ. Tuy nhiên, Việt nam vẫn giữ nền độc lập của mình trong quyền nội trị, Nước Tầu mấy lần sang xâm lược ta đều bị đánh đuổi, và chém tướng, giết sĩ… nhưng sau đó lại phải mềm dẻo dâng biểu xin chịu phong vương cấp ấn của họ, như chuyện vua Lê Lợi đã giết tướng Tầu Liễu Thăng ở gò Đảo Mã pha thuộc Chi lăng và vua Quang Trung đuổi Tôn sĩ Nghị chạy toé khói khỏi Thăng Long bỏ quên ấn tín, nhưng sau đó vua mình lại phải sai những cận thần là Nguyễn Trãi hay Ngô thời Nhậm viết những tờ biểu xin cầu phong với vua Tầu. Xét lý thực tế thì phải như vậy.\nChính chiếc ấn này của vua nhà Thanh giao cho vua Gia long năm 1804 đã bị nấu chảy trước khi hai bên Việt Pháp ký hoà ước năm Giáp Thân 1884. Theo ông Dévéria tra cứu sử sách của ta thì sau đời Gia long, các vua Minh Mạng và Tự Đức cũng theo lệ xin Tầu sách phong và ban ấn ; riêng vua Tự Đức là vị vua cuối cùng đã nhận một cái ấn với chữ Mãn thanh vào năm 1849. Nhưng trên thực tế thì đáng ngờ vì người ta không tìm thấy nó, nếu không thì cũng bị Patenôtre đòi hỏi nấu chảy.\nSau đây, chúng ta hãy tìm đọc lại « Hồi ký của một nhà ngoại giao\n« Ngày ký kết đã được ấn định vào ngày 6 tháng 6. Ngay trước sự ký kết, có một hành động ý nghĩa đã gây ra trong thời điểm này một tiếng vang nào đó : đấy là sự phá huỷ chiếc ấn do Hoàng đế Trung Hoa chính thức ban cho Vua Gia long năm 1883 như là một biểu tượng đế quyền tối thượng và Triều Đình Huế vẫn liên tục dùng từ đó để đóng vào văn thư liên lạc với Triều đình Bắc kinh… Chiếc ấn này, có nuốm hình lạc đà nằm, đúc bằng bạc mạ vàng. Ấn hình vuông, mỗi cạnh đo hơn 11 phân tây. Toàn thể dáng dấp của chiếc ấn thật lạ, do đó tôi muốn bảo tồn nó lại cho một bảo tàng viện của ta. Tôi bèn đề nghị với ông Phụ chánh đại thần bằng cách hãy xin chính phủ Pháp đừng cho những kẻ thường tục ngó thấy nó trong một thời gian lâu nào đó. Lời nói trên bị gạt hẳn và theo sự đồng ý đôi bên thì bèn thoả thuận rằng chiếc ấn sẽ được long trọng nung chảy trước sự hiện diện của những đại thần của Quốc gia được mời dự vào sự ký kết hoà ước… Chiếc ấn trước hết được long trọng khảo sát đúng là chính thực không giả mạo, và sau đó dùng son đỏ mà đóng dấu nhiều lần để ít ra tồn trữ lưu niệm về món kỷ vật lịch sử này. Rồi một cái lò bằng đất thông với một ống bễ thợ rèn được đặt ra chính giữa căn phòng và được hai người bản xứ thay phiên thụt thổi cho cháy. Một lần chót, tôi lại xin những vị quan hiện diện chủ toạ sự chuẩn bị trên nghĩ lại có thích gìn giữ cái ấn của vua Gia long khỏi bị phá huỷ và gởi qua Pháp không ! Họ bảo là không chịu. Vài phút sau đó, món cổ vật muôn đời biểu tượng cho tình trạng chư hầu quốc kể từ nay bị vĩnh viễn tiêu huỷ và biến thành một khối vật vô định hình… »\nCũng quang cảnh lịch sử trên, nhưng được miêu tả bởi một đặc phái viên của hãng thông tấn Havas :\n« Người ta ngồi quanh cái bàn trong đại sảnh của toà Trú sứ. Đông quan khách dự. Đô Đốc Courbet đã phái một số sĩ quan thuộc cấp của ông phối hợp với các sĩ quan quân trấn. Trên bàn, chiếc ấn nhà vua đã được bầy ra với cái hộp vải tẩm son. Đây là một tấm bằng bạc mạ vàng, cạnh đo 10x12 cm, nặng 5 kgrs 900, mà nuốm là hình con lạc đà nằm. Lạc đà là con vật tượng trưng cho sự qui phục trong những hình biểu trưng của Tầu, điều này ai cũng rõ. Người ta bèn dùng ấn in ra nhiều mẫu khuôn dấu. Vị Thượng thư đọc tờ mô tả về chiếc ấn mà chính ông đã kiểm điểm là đúng. Trong lúc đó, những người tuỳ tùng đặt chính giữa đại sảnh một ống bễ và một bếp lò ; ống bễ này gồm hai ống viên trụ cao 1m50 bằng tre ; hai nùi giẻ gắn trên một cái cán, đậy vừa khít khao lòng hai ống kia, được nối liền với bếp lò bằng hai ống tre.\n« Người ta đốt lò. Quang cảnh trông rất thú vị. Tiếng của hai nùi giẻ tuần tự kéo lên, thụt xuống trong lò do hai người Việt nam cố sức làm có lúc át hẳn tiếng nói của những người đang thương thảo. Thoáng một chốc thì cái nồi nấu đỏ rực trên than hồng, với những lưỡi lửa bốc lên xanh lè. Thời điểm nung chẩy ấn đã đến. Một người cầm lấy chiếc ấn, trong tư thế quăng nó vào lửa. Ông Patenôtre bèn ngăn lại và ngoảnh về phía quan Phụ chánh đại thần đang giữ nét mặt bất động mà hỏi : « Vẫn còn kịp thì giờ ; chúng tôi sẽ giữ ấn, nhưng sẽ đưa nó về Paris ». Vị kia không đáp ngay. Ông cúi ghé vào tai vị phụ tá, rồi ông lắc đầu từ chối.\n« Vài phút sau, dấu tích cuối cùng cụ thể về uy quyền thượng đẳng mà nước Trung hoa đòi hỏi đối với nước Việt nam đã tan mất, còn lại chăng là một khối bạc vô định hình ».\nHai lời tường thuật trên gợi lên một sự tiếc nuối sâu sắc trong nhãn quan của người chiến thắng hay bàng quan đối với chiếc ấn phong vương của Trung Hoa là một cổ vật đầy tính chất lịch sử. Nhưng trong nhãn quan của chúng ta, chiếc ấn nhà Thanh cùng lắm chỉ là một hình thức phiên thuộc biểu trưng, không bao hàm một sự cắt đất, sự mất mát quyền nội trị, sự tương nhượng về của cải vật chất khác ; cùng lắm nếu nói là mất của thì chỉ là thủ tục sứ cống định kỳ về lễ vật. Ví dụ đồ cống phẩm mà ba năm Việt nam phải nạp cho Trung hoa gồm :\n- Vàng : 200 lượng\n- Bạc : 1000 lượng\n- Lụa : 100 cây\n- Sừng tê giác : 2 bộ\n- Ngà voi và quế : 100 cân (mỗi thứ)\nĐọc lại lịch sử bang giao với Trung Quốc, thì ta thấy mấy chú con trời cũng nhiêu khê rắc rối về hình thức danh xưng và nghi lễ. Đời Đinh, Tiền Lê, và đầu nhà Lý, nước ta chỉ vua Tầu sách phong làm « quận vương » như Lịch triều Hiến Chương loại chí chép : «\n*Đời Lý Thần tông (1130), ngang với Tống Cao tông, nhà Tống sai sứ đem bảo ấn và sắc vàng sang phong cho vua làm « Giao chỉ quận vương *», vì trong mắt của Tàu nước ta còn là « Quận Giao chỉ » ; nhưng đến đời Lý, năm Thiên cảm chí bảo thứ hai (1175), nhà Tống mới nhìn nước ta là một nước và phong vua ta làm « An nam Quốc vương ». Ta cũng nên nhớ rằng bản Tuyên ngôn Độc lập của ta đã thể hiện với bài thơ phá Tống của Lý Thường Kiệt như sau :\n« Nam quốc sơn hà, Nam đế cư\nTiệt nhiên định phận tại thiên thư\nNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạm\nNhữ đẳng hành khan thủ bại hư ».\nXin tạm dịch :\n*« * *Núi sông đất Việt, vua ta ở*\nSách trời ấn định rõ ràng thay !\nCả gan tai ngược mà xâm phạm\n*Bè lũ coi chừng thất bại ngay !* * »*\nNhư vậy, tinh thần quốc gia của người Việt bắt đầu từ đây đã rõ nét với ý niệm ranh giới núi sông.\nVề lệ cống sứ thì vào đời Trần trước thì hạn ba năm một kỳ cống, đến đời Hậu Lê mới định lệ sáu năm một kỳ. Lệ phong ấn có nuốm hình lạc đà chỉ thấy bắt đầu vào năm 1368 đời vua Trần Dụ tông. Sự tiếp đón, tiễn đưa các khâm sứ Trung Quốc của Việt nam có lúc lại được điểm suyết một cách lịch sự bằng những bài thơ thù tạc, và vài món quà kỷ niệm tặng riêng cho sứ bộ gọi là « sính vật ».\nCũng nhân nói về sự nhận ấn của vua Tầu ban cho vua Việt nam, có bao giờ xảy ra chuyện « trả ấn » lại không ? Trên lịch sử bang giao, cũng đã có nhưng là trả ấn của triều đại cũ hay « Ngụy », để xin sách phong và ấn mới với triều đại mới lên như Vua Gia long trả cho nhà Thanh chiếc ấn sách phong cho Tây sơn hoặc như khi Nhà Minh dứt, ta trả ấn Minh triều và xin ấn của Thanh triều, chứ không bao giờ dám trả lại ấn của đương triều như trường hợp chiếc ấn của vua Gia long nhận của vua Càn long. Tuy nhiên, có lần vua ta xin « đổi ấn », như trường hợp vua Lê duy Đàm nhận chiếc ấn sách phong của Tầu, nhưng không phải bằng bạc mạ vàng mà là bằng đồng mạ vàng. Vua ta khiếu nại, gởi trả lại ngay. Vua Tầu giữ tín nghĩa bèn đổi cho ấn khác đúng với lễ nghi.\nNgó lại lịch sử làm thân phận một nước nhỏ của ta, gỡ ra khỏi cổ một sự phiên thuộc dù chỉ là tượng trưng từ phía Tầu để thay vào đó một cái ách bảo hộ Pháp tròng nặng nền trên đầu là Hòa ước Giáp thân 1884, quả là một bài học quá đắt giá cho ta. Đọc lại chi tiết khi Triều Đình Huế ký Hòa ước trên, danh từ « bảo hộ » mà Pháp gọi là Protectorat bị ông Nguyễn văn Tường cương quyết không chịu mà phải đổi là « bảo trợ », nghĩ lại không phải là ông không có lý, hình như về sau học giả Pháp là Philastre, học giả thông thái Hán học này đã dịch bộ luật của ta ra Pháp văn cho rằng dân Việt dư đủ sự tinh khôn không cần ai lên mặt thầy khai hóa và che chở ! Chung qui, danh từ « bảo hộ » chỉ là một mỹ từ hay một cái vỏ đường bọc viên thuốc đắng.\nVề điển lễ phong vương thời Việt nam còn chịu sự phiên thuộc với Tàu dưới triều Nguyễn thì được qui định và mô tả trong hai cuốn Thực lục và Hội điển, nên các đời Gia long, Minh Mạng, Thiệu trị, Tự đức đều cứ theo đó mà thi hành. Gọi là để bạn đọc nhìn lại lịch sử, tôi xin trích ra một đoạn trong cuốn Việt nam sử lược của Trần trọng Kim để chúng ta thấy rằng người Pháp sau khi ký hòa ước Patenôtre đã hành sử hống hách ra sao. Đó là sự việc khi vua Hàm Nghi lên ngôi vua do sự sắp xếp của hai ông Phụ chánh Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường, nhưng viên Khâm sứ Rheinart can dự vào như sau :\n*« Viên Khâm sứ Rheinart trước đã tư giấy sang cho Triều-đình Huế rằng : Nam triều có lập ai làm vua, thì phải xin phép nước Pháp mới được. Nhưng Tường và Thuyết cứ tự tiện lập vua, không cho viên Khâm sứ biết.* *Viên Khâm sứ thấy vậy, viết thư ra Hànội. Thống tướng Millot bèn sai tham mưu là đại tá Guerrier đem 600 quân và một đội pháo binh vào Huế, bắt triều đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua. Tường và Thuyết làm tờ xin phép bằng chữ nôm gửi sang bên Khâm sứ. Viên Khâm sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ Nho. Đến ngày 27 tháng 6, đại tá và viên Khâm sứ đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Xong rồi quân Pháp lại trở ra Hànội ».*\nVà cũng để nhìn lại lịch sử về thân phận của vị vua bị « bảo hộ », ta đọc lại tâm sự của Cựu Hoàng Bảo đại viết về chuyến ra thăm Bắc Hà lúc mới ở Pháp về :\n«\n*Từ Hải phòng lên Hà nội, tôi bằng tàu hỏa. Khắp nơi, dân chúng nồng nhiệt hoan hô. Từ thời Minh Mạng, chưa có vị Hoàng đế nào ra thăm Bắc Kỳ. Vua Gia long trước kia đã ra đây, đến sát biên giới Trung Hoa, để nhận thụ phong của vua nhà Thanh.* *Còn tôi thì nhờ Pháp đưa ra Bắc, nên mới trông thấy giang sơn của nước mình, dù muốn dù không, tôi đã thành chư hầu của Pháp ».*\nTa hãy giở lại bản tường thuật của ông M.A. Meynard được dự kiến lễ tức vị của Hoàng tử Vĩnh Thụy lên ngôi với đế hiệu Bảo đại ngày 6 tháng Giêng tây 1926 :\n« …Đối với vị vua này, sự sách phong ngày xưa đã từng được ban bởi những sứ thần của Tầu thì nay lại được ban bởi ông Toàn Quyền Đông dương và những khuôn ngọc tỉ và kim sách thì do vị Nhiếp chánh dâng lên. Chấm dứt buổi lễ đăng quang là lễ tế cáo với Liệt thánh và Tiên đế ».\nVà sau này, trong thời vua Bảo đại tại ngôi trong cung nội, nhất nhất việc gì cũng phải trình cho viên Khâm sứ Pháp ở tòa Khâm bên hữu ngạn sông Hương biết. Nhưng thế mà, người Pháp vẫn chưa yên tâm, họ sợ nhà vua trẻ tuổi cấp tiến này có thể được những thần dân chí sĩ ái quốc lén lút tìm gặp như trường hợp vua Duy Tân năm 1916, họ bèn đặt một đại úy Pháp bên cạnh Ngài tên là\n**Bon **(dân Huế quen gọi là « quan ba hộ giá », có vợ Việt nam người Huế mà dân quen gọi là « Mệ Bông ») để báo cáo sinh hoạt thường nhật của Ngài. Và sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông dương vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố nước Việt nam độc lập do người Nhật điều động và hủy bỏ tất cả giao ước trước kia ký với Pháp và Nội các Trần trọng Kim thành lập. Ngoài mặt là thế, nhưng trên thực tế thì là Nhật thuộc ; Ông Ykozama thay thế Khâm sứ Pháp ở chức vị Tối cao Cố vấn, đặt văn phòng cũng tại Tòa Khâm cũ. Và Ông Cố vấn Tối cao Nhật này cũng ưu ái cho một ông Nhật tên là Sigurichi làm « quan Võ giá » (Officier d’Ordonnance) hầu cận vua Bảo đại thay Capitaine Bon của Pháp (theo cuốn « Nhật ký Đời tôi » của cụ Võ văn Triêm). Có hiểu hoàn cảnh bị quản thúc trong nhung lụa của vua Bảo Đại, người dân mới thấm thía câu nói lịch sử : « Làm công dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước bị trị » mà ngài thốt ra một cách chân thành khi thoái vị. Nhưng rồi, công dân Vĩnh Thụy được « Cách mạng » cho làm chức Cố vấn để tiện canh dò hành vi… Rốt cuộc Ngài tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Vừa rồi, Ngài tạ thế, chính phủ CHXHCN đã không phân ưu mà nói Ngài năm xưa không làm tròn nhiệm vụ của chức Cố vấn của Cách Mạng.\nVua Bảo Đại sinh vào ngày 23 tháng 9 năm\n**Quí Sửu **(22 tháng 10, 1913), tuổi con trâu. Ngài lên ngôi ngày 24 tháng 11 năm **Ất Sửu **(ngày 8 tháng 1 năm 1926) Và ngài băng hà vào năm **Đinh Sửu** !\nThan ôi !… trong thời gian nửa thế kỷ về sau… những người kế vị vị vua này trong nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia vô tình hay cố ý cũng đã sa lầy vào con đường sình lầy làm chư hầu. Phe thì chọn trục Sài gòn – Hoa thịnh Đốn, phe thì đi dây với trục Hànội – Bắc kinh – Mạc tư Khoa !\nVà buồn hơn nữa là khi nhà Vua lưu vong từ 4 thập niên vừa tạ thế thì đám dân gọi là con dân nước Việt gần 2 triệu người vẫn đang bất đắc dĩ chọn làm công dân của những quốc gia tạm dung từ hơn 20 năm nay.\n\nẤN CỦA NHÀ THANH SÁCH PHONG CHO VUA GIA LONG NĂM 1803 BỊ PHÁP BẮT TRIỀU ĐÌNH TA ĐUN CHẢY Ở HUẾ KHI KÝ HIỆP ƯỚC BẢO HỘ NGÀY 6 JUIN 1884\nBên phải có 6 chữ : Việt nam Quốc vương chi Ấn.\nBên trái có giòng chữ triện Mãn thanh.\n\nHiệp Ước Bảo Hộ Pháp (1884) Với chữ ký của Patenôtre (phía Pháp) và các đại diện Việt Nam : Nguyễn văn Tường, Phạm thận Duật, Tôn thất Phan.\n\nInconnu(e) NGUYỄN VĂN TƯỜNG : NGƯỜI KÝ HIỆP ƯỚC PATENÔTRE (1884)\n\nChiếc ấn « Sắc mệnh chi bửu » là một trong những chiếc ấn quan trọng dưới triều Nguyễn, không chỉ về mặt chức năng sử dụng trên các chế sắc của nhà vua mà còn về cân lượng của khối vàng và về nét đẹp nghệ thuật của cái nuốm hình rồng của nó.\nKhi triều Nguyễn còn hưng thịnh, chiếc « Sắc mạng chi bửu » này đã một thời uy quyền ghê gớm, nhất là triều Minh Mạng, trong sự đóng những tờ chiếu sắc phong chức vị, hay ban hành chế cáo của Triều đình. Ấy thế mà chiếc ấn này bị xuống cấp thê thảm ngay sau khi Vua Khải định băng hà ngày 6 tháng 11, năm 1925 và vị ấu chúa tức vị Bảo đại mới 13 tuổi lên ngôi dưới sự nhiếp chánh của cụ Phụ chánh Thân thần Tôn thất Hân.\nNhững ngày tháng lịch sử đáng ghi về vua Bảo đại như sau : sanh ngày 22 tháng 10 năm 1913, hay 23 tháng 9 Quí Sửu ; sang du học ở Pháp ngày 15, tháng 5 năm 1922 (9 tuổi) ; trở về đưa đám vua cha Khải định và tức vị ngôi vua vào ngày 8 tháng 1 năm 1926 (13 tuổi) rồi lại trở qua Pháp tiếp tục học cho đến ngày 8 tháng 9, 1932 (19 tuổi) để thực sự làm vua.\nNgười Pháp chọn đúng thời điểm « tang gia bối rối » đưa ra một thỏa hiệp thư giữa chánh quyền bảo hộ Pháp và các vị Đại diện của Triều đình Huế bắt phải ký kết khẩn cấp ngay lúc vua Khải định mới tắt nghỉ chưa được nhập quan và phát tang để chặt hầu như hết quyền hành nội trị của nhà vua.\nRõ ràng là một sự xuống cấp thê thảm cho chủ nhân ông của chiếc ấn mà vua Bảo Đại đã thổ lộ trong cuốn hồi ký chính trị (1913-1987) : « Le Dragon d’Annam » (Con Rồng Việt nam), Nguyễn Phước tộc xuất bản 1990. Xuân thu phát hành. Nhà vua nhớ lại một cách chua chát kỷ niệm ra thăm Bắc Hà hai tháng sau khi ở Pháp du học về. Ông viết :\n*« Khi hồi triều, tôi cảm thấy khá nhiều thất vọng. Bởi vì, chính ngay tại nước mình, tôi được tiếp đón như khách, chứ không phải là chủ nhân ông ; vai trò của tôi quá bé nhỏ, làm sao dân chúng đợi chờ gì ở tôi được. Tất cả mọi việc từ lớn đến nhỏ, từ đời sống hàng ngày của dân chúng đến tương lai của đất nước, đâu tôi được quyền dòm đến ? Tôi chỉ là một diễn viên sân khấu, thỉnh thoảng xuất hiện cho xôm trò, chứ đâu phải là người đạo diễn ? Vậy thì cái ý niệm làm hoàng đế như tôi đã từng tin tưởng, theo đúng tinh thần cơ bản cổ truyền về nhiệm vụ của vị thiên tử để cho triều đại được huy hoàng, vĩ đại thật quả đã xa vời, xa vời quá đỗi… »* *(trích bản dịch Việt ngữ từ tập san Tiếng sông Hương 92, Dallas, Xã hội Việt nam ngày trước).*\nTrong cuốn hồi ký trên, vị Hoàng đế cuối cùng này đã giải thích hoàn cảnh « làm vì » của ông, mặc dù ông cũng muốn thi hành cải tổ cho đất nước mà ông tự nghĩ rằng phải làm trên cương vị của nhà vua.\nĐiều này cũng đã được Phan Khoang viết vắn tắt trong cuốn « Việt nam Pháp thuộc sử » (1884-1945) :\n«\n*Năm 1925, Vua Khải Định mất. Con là Đông cung Vĩnh Thụy đương du học ở Pháp được đưa về lên ngôi, rồi lại trở qua Pháp. Chính quyền Bảo hộ ép Nam triều ký hiệp định giao cho Khâm sứ Trung Kỳ đảm nhiệm tất cả quyền hành của vua mới, cử ông Tôn thất Hân làm phụ chánh thân thần thay vua coi giữ việc cúng tế và ban cấp phẩm hàm mà thôi. ông Nguyễn hữu Bài hết sức phản đối nhưng vô hiệu… *» (tr.423)\nNhư vậy, so với hòa ước Bảo hộ Patenôtre ký ngày 6-6-1884, thì ta chỉ mất quyền ngoại giao, còn quyền nội trị, quyền binh bị vẫn còn giữ. Thế mà người Pháp chờ cơ hội vua Khải định mới chết chưa liệm quan và phát tang (ngày 6 tháng 11 năm 1925) thì lại làm áp lực trong cùng ngày ấy bắt Triều đình Huế dưới quyền của cụ Phụ chánh thân thần ký tờ thỏa hiệp thư cực kỳ quái ác khiến sau này vào năm 1932, vị vua Bảo Đại trẻ tuổi ở Pháp trở về muốn canh tân xứ sở theo đường lối cấp tiến phải bó tay !\nDở đọc lại cuốn hồi ký của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt nam, ta hãy nghe ông tâm sự chán ngán về vai trò của một ông từ giữ chùa :\n*« Sau ngày hồi loan, 9-1932, được trao nhiệm vụ bảo tồn nghi lễ triều Nguyễn, tôi đã hoàn tất một cách chân thành mẫu mực. Hàng ngày tôi mang lễ vật đến dâng kính trước bàn thờ Liệt thánh và tranh thủ ngồi trầm tư trong khu lăng tẩm giữa vùng quê tịch mịch tràn đầy chất thơ của chốn thần kinh ». *( *Le Dragron d’Annam*)\nThật là một tâm sự của một người ở vào cái thế « chẳng đặng đừng » của một ông vua bù nhìn do người Pháp nặn ra mà sau này không ai hiểu chỉ thấy ông dùng thì giờ nhàn rỗi thể thao, du ngoạn, săn bắn, gán cho ông tiếng « vua playboy ». Dường như vua Bảo Đại càng ngày về sau càng không quan tâm đến chiếc ngai vàng định mệnh mà ông bất đắc dĩ phải ngồi… Một lời chua chát khác mà ông viết trong hồi ký của ông là :\n*« …họ (tức là người Pháp) đã đặt tôi vào địa vị trớ trêu này, tôi phải đành tâm sống như một vị vua ngoại quốc vậy. Hoàng đế bị đi đày – y như các tiên đế của tôi trước đây *(ý ám chỉ các vua Hàm nghi, Thành thái, Duy Tân…) * – nhưng là đi đày ngay trong nước mình, giữa thần dân của mình ».*\nQuyền hành của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt nam là duy nhất dùng chiếc ấn « Sắc mạng chi bửu » không phải để ban hành những chỉ thị thực tế cụ thể về hành chánh nội trị, chọn Nội các, bổ nhiệm các quan chức cai trị như ngày xưa mà chỉ là để đóng trên những bằng sắc phong thần cho các thành hoàng, và phong hàm cho những người chết\n*.*\nTa hãy tìm lại một di tích văn kiện lịch sử nói rõ điều trên. Theo thỏa hiệp thư ngày 6 Novembre 1925 :\nGiữa những quan Đại thần đại diện cho Đế quốc An Nam, xử lý thay vị Hoàng Đế và Toàn Quyền của xứ Đông dương, vị được giao phó quyền hành của nền Cộng hòa (tức là nước Pháp), đã thỏa hiệp như sau :\n**Điều thứ nhất :** Chỉ duy nhất những luật lệ liên quan đến những nghi lễ hay những qui phép hiến định của vương quốc là thuộc quyền sắc chỉ của Vua. Hoàng đế tối thượng chỉ can thiệp trực tiếp hoàn toàn vào sự thi hành ban ân tứ và phong những thụy hàm và bằng sắc cho các thành hoàng của các làng xã ở Trung kỳ và Bắc kỳ. Những tờ tước phong, những bực điện hàm, những bực cung hàm và năm tước vị quí phái (công, hầu, bá, tử, nam) sẽ được Hoàng đế ban xuống cho các thần dân, chiếu theo điều 5 của chỉ dụ ngày 7 tháng 6 năm 1923. Tất cả những vấn đề khác liên quan đến tư pháp và hành pháp của vương quốc, tổ chức những nha sở, tuyển dụng và phong chức của các công chức người An nam thuộc mọi cấp đều do nghị định của những Đại diện của Bảo hộ. Tuy nhiên, ở Trung kỳ, những nghị định của ông Khâm sứ (đúng ra dịch là Tổng Trú Sứ từ chữ Résident supérieur) sẽ đưa ra Hội đồng Nội các để lấy ý kiến của Hội đồng này. Vì sự tiến triển hiện nay của xứ sở, Chính phủ Nam triều cần xét là lúc thích hợp để cho nhân dân dự vào công việc quản lý những việc của Quốc gia. Vì vậy, Khâm sứ ở Trung kỳ được ủy thác làm đại biểu thường trực cho Hoàng thượng trong tất cả những sự cải tổ lớn xét ra hữu ích để lấy ý kiến của « Viện Dân Biểu » (Chambre des représentants du Peuple), đây là giai đoạn đầu tiên đi tới một sự tham gia hữu hiệu hơn của nhân dân vào việc công.\nNhững điều cải tổ sẽ áp dụng bằng những nghị định sau khi có ý kiến phù hợp của viện này.\nNhững nghị định do bởi những Đại biểu của nền Bảo hộ sẽ đầy quyền lực bắt buộc trong mỗi nơi trong xứ mà họ thi hành quyền hạn.\nSự bổ nhiệm và giải nhiệm của những vị Thượng thư sẽ do Nhà Vua làm sau khi có sự thỏa thuận can thiệp với Khâm Sứ ở Trung kỳ và sự tham gia của Toàn Quyền.\n**- Điều 2 :** Mọi sự tiêu pha liên quan đến việc hành chánh dân và quân sự của Chính phủ Nam triều sẽ tính vào ngân sách địa phương của Trung kỳ. Danh sách hộ tịch của Hoàng thượng và Hoàng tộc, sự tiêu pha về Nghi Lễ và về những gì liên quan đến cung điện và lăng tẩm sẽ làm thành một ngân sách đặc biệt tùy nghi cho Hoàng thượng và sự quản lý sẽ giao cho Thượng thư bộ Hộ. **- Điều 3 :** Hội đồng Nội các sẽ do Khâm Sứ chủ tọa ở Trung kỳ ; khi ông này vắng mặt hay có sự ngăn trở, ông sẽ cử người đại diện cho ông. **- Điều 4 :** Tờ thỏa hiệp thư này được thi hành vào ngày ký kết.\nLàm tại Huế, ngày sáu tháng mười một một ngàn chín trăm hăm lăm.\nTheo ông Phan Khoang trong Việt Nam Pháp thuộc sử (1884-1945), thì Hòa ước Giáp thân 1884, đúng lý thì thi hành đến năm 1945 và Việt nam chỉ mất quyền ngoại giao, nhưng quyền cai trị trong nước, binh bị ở Trung kỳ và Bắc kỳ vẫn trong tay Triều đình Huế, « …\n*thế mà sau đó một thời gian, đặt một chức lý trưởng, cũng phải do quan Sứ ưng thuận và cấp bằng, binh lính thì để kéo xe hay hầu hạ các quan…* » Ông Phan Khoang đã dựa vào tờ thỏa hiệp thư ngày 6 tháng 11, năm 1925 trên để viết một cách khẳng định như thế.\nTrong văn kiện trên, có nhắc đến Viện Dân Biểu mà viên Khâm sứ Pháp cần lấy ý kiến thì tính chất ra sao ? Viện này còn được gọi là Hội đồng Nhân dân theo sự châm biếm của người đương thời chỉ là « hội đồng gật ». Chính vì vậy, Cụ Huỳnh thúc Kháng năm 1925 bị đày Côn lôn trở về Huế ra báo Tiếng Dân và được cử vào Hội đồng này sau lại phải thôi. Cụ Ưng Bình Thúc Giạ thị cũng từng làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ (1940-1945), không biết cụ đã ăn nói thế nào, nhưng cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy cũng khen là : «\n*Hay dè dặt lời ăn tiếng nói, vẫn không ngọng bởi xôi chùa. Cứ thẳng ngay nước bước đường đi, nào có oam như tre miễu *» ! Nói vậy là trên thực tế, trong Hội đồng nổi tiếng là « gật », đã có nhiều ông nghị « ăn nói ngọng » và « lưng đã oằn oam » luồn cúi.\nTuy nhiên vào năm 1932, nhà vua Bảo đại trẻ 19 tuổi ở Pháp về nước, bỏ thỏa hiệp thư ký vào cuối năm 1925, bắt tay vào chủ trương canh cải nước nhà. Một Hội đồng cải cách được lập ra. Ngay một tháng sau, khi về Việt nam (10, tháng 9, 1932), vua Bảo đại tuyên bố tự mình chấp chính và quyết canh cải ngạch quan lại, Tư Pháp, Giáo dục. Vào thời điểm này, nhà vua dùng học giả Phạm Quỳnh làm Đổng lý Ngự tiền Văn Phòng để chuẩn bị đem cái chủ nghĩa quân chủ lập hiến của báo Nam Phong chủ trương ra áp dụng. Năm sau 1933, nhà vua giải tán cái Hội đồng Thượng thư bù nhìn gồm 5 cụ già nua là : Nguyễn hữu Bài, bộ Lại ; Tôn thất Đàn, bộ Hình ; Phạm Liệu, bộ Binh ; Võ Liêm, bộ Lễ ; Vương Tứ Đại, bộ Công. Thay vào đấy, nhà vua lập Nội các mới với 5 bộ giao cho 5 Thượng thư phái mới trẻ trung, trong đó có Ngô đình Diệm giữ bộ Lại, Phạm Quỳnh giữ bộ Giáo dục. Việc cải tổ của vua Bảo đại làm xôn xao dư luận :\n- Trước hết là một bài thơ lịch sử châm biếm 5 cụ Thượng thư mới bị vua cho về vườn, cái hay của bài thơ là nhét tên mỗi cụ và tên của bộ mà mỗi cụ đã giữ :\n*« * *Năm cụ khi không… rớt cái ình*\nĐộc ban một tiếng thẩy đều kinh !\nBài\n* không mang nữa đem dâng *lại\nĐàn\n* chẳng ai nghe khéo dở *hình *.*\nLiệu\n* thế không xong, *binh * chẳng đặng*\nLiêm\n* đà mất tiếng, lễ đừng rinh.*\nCông\n* danh như thế, là hưu hỉ*\nĐại\n* sự nhường cho lũ hậu sinh* * ».*\n- Cả nước chú mục vào Huế, coi sự cải tổ như cuộc đảo chánh, với liên tiếp bốn, năm đạo dụ ban bố sửa đổi như ấn định quyền hạn quan lại, công bố luật hình, đặt cơ cấu cho nền giáo dục phổ thông mới…\nNgười Pháp ban đầu để yên, coi giải pháp cải tổ « Bảo Đại – Phạm Quỳnh » như một giải pháp mềm dẻo để trấn an, thoa dịu phần nào những sự bất bình phẫn nộ của người dân Việt nam vào những năm đầu thập niên 30 và để thu hút cảm tình của người dân còn chút ít lưu luyến nền quân chủ và nay thì được có vua trẻ tuổi tân tiến lãnh đạo.\nNhưng về sau người Pháp họ tỏ ra lừng khừng, ngoan cố không chịu trả lại quyền hành cho Nam triều, khiến ông Ngô đình Diệm từ chức. Còn chương trình cải tổ thu hồi nền Giáo dục của ông Phạm Quỳnh không được có ngân quĩ mà điều hành. Và rủi nhất là Toàn quyền Pierre Pasquier, cha đẻ giải pháp « Bảo Đại – Phạm Quỳnh » bị tử nạn máy bay vào cuối năm 1933. Toàn quyền mới là René Robin lại nhắm đến giải pháp « trực trị », nghĩa là để người Pháp càng đi sâu vào nội quyền Việt nam để làm nước Việt mau tiến hóa, nên ông tận dụng, bổ nhiệm những trí thức Việt nam trẻ khao khát sự tiến hóa vào guồng máy hành chánh trực trị, do đó thỏa mãn được khuynh hướng cầu tiến của họ. Việc mở rộng quyền vua ra xứ Bắc và hợp nhất Bắc Trung tất nhiên là không thành tựu như ước vọng của nhà vua Bảo đại trẻ tuổi. Cuộc cải tổ của ông năm 1933 rút lại là một chuyện « đầu voi đuôi chuột » vì sang đến năm 1934 tắt ngủm với sự lấy vợ của vua Bảo Đại với bà Nam Phương vào tháng 3, năm này và vai trò của một ông vua chuyên nghi lễ tế tự lại trở lại với sự tế Nam giao và dùng chiếc ấn « Sắc mạng chi bửu » đầy quyền uy ngày xưa để phong thần và ban sắc hàm cho những người chết. Quyền hành lại trở về với tòa Khâm Sứ như tinh thần thỏa hiệp thư năm 1925.\nTheo Phan Khoang trong cuốn Việt nam Pháp thuộc sử (1884-1845) thì vua Bảo Đại vẫn muốn làm một cái gì cho đất nước với cương vị của một vị vua nhưng gặp hoàn cảnh thất lợi :\n*« Năm 1938, vua Bảo đại và Thượng thư Phạm Quỳnh sang Pháp bầy tỏ với Bộ trưởng Thuộc địa, bấy giờ là ông Mandel về tình hình Việt nam và yêu cầu Chánh Phủ Pháp hợp nhất Trung, Bắc kỳ cho đúng vời Hòa ước 1884. Nhưng rồi vua trở về tay không, không thu được kết quả gì* ».\nSau đó, thì lâm vào Thế chiến thứ hai kéo dài đến 1945.\nTôi còn nhớ rằng bản thân vua Bảo đại cũng đã được người Pháp đặc biệt ưu ái cắt cử một sĩ quan cấp đại úy Pháp làm hầu cận mà dân Huế quen gọi là « Quan Ba Hộ giá », một danh từ hoa mỹ cho việc kiểm soát hành vi của nhà vua ! Nhà vua không những là vị vua đi đầy trên xứ sở của mình, mà vô hình chung là tên tù trong chính cung điện của mình.\nThời gian nhàn rỗi của nhà vua trẻ tuổi đầy nhiệt huyết không lẽ chỉ được dùng trọn vẹn cho những sự dâng hương lễ lạy kỵ giỗ trước phương hồn các tiên đế trong các điện Thái Miếu, Phụng tiên… mà cần phải tiêu phí với những trò chơi thể thao như chơi cù, quần ngựa ở bãi golf ở Dạ Lê, lái thủy phi cơ trên sông Hương, săn bắn trên Cao Nguyên.\nTôi còn nhớ thời thơ ấu, tôi học ở Huế, cứ hàng năm vào tháng mười có lễ sinh nhật của vua Bảo đại gọi là lễ Vạn thọ vô cương, học sinh các trường phải ăn mặc chỉnh tề áo dài đen quần trắng, tay cầm cờ Long tinh, hát bài Đăng Đàn cung và khi đi diễu hành qua trước cửa Ngọ môn có Ngài ngự ở trên thì hô lớn khẩu hiệu : Hoàng Đế Vạn tuế !\nNhìn lại hơn nửa thế kỷ trôi qua, khi viết lại tập bút khảo này, đi sâu vào tâm sự của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt nam, lòng tôi không khỏi bùi ngùi vô tả.\n\nInconnu(e)\n\nNhiều người vẫn nghĩ rằng chiếc bửu ấn của vua Bảo Đại là chiếc « ấn truyền quốc ». Kỳ thực là không phải, nhưng trên thực tế hiện tại, ấn này là có vẻ là chiếc ấn duy nhất quí giá còn lại để truyền về sau. Chiếc ấn thực sự gọi là « ấn truyền quốc » nguyên thủy của nhà Nguyễn đích đáng với ý nghĩa của nó là chiếc ấn « Đại-Việt-Quốc Nguyễn-chủ vĩnh-trấn chi bửu » đúc bởi Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa này sau được truy tôn là Hiển-Tông Hiếu-Minh Hoàng-đế.\nNếu kể về ấn xưng chúa thì chiếc ấn này là lâu đời nhất. Lý do là những chúa Nguyễn trở về trước, tuy là cát cứ giang sơn Đàng trong kể từ sông Gianh trở vào, họ vẫn chịu niên hiệu và sắc mệnh của vua Lê ở Bắc Hà (ban đầu là chức Thái phó Quân công, nhưng về sau thì thăng làm Thái phó Quốc công). Chúa Nguyễn phúc Chu tự xét rằng mình đủ thế lực đứng đối lập với Vua Lê Chúa Trịnh, nên kể từ đây Chúa đã dám cho mình cái danh hiệu ngạo nghễ có ý nghĩa là vị chủ tể họ Nguyễn đứng trấn thủ đời đời dưới bầu trời Đại Việt Quốc như đã được gọi qua giòng chữ khắc trên ấn « Đại Việt Quốc Nguyễn Chủ vĩnh trấn chi bửu ». Trên thực tế, đối với vua Lê, chúa Nguyễn phúc Chu vẫn giữ chức Thái Phó Tộ Quốc công, Tiết chế các xứ Thuận Hóa, An Nam Quốc nhưng Chúa đã nuôi tham vọng lớn bằng sự việc đút lót cho Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) xin Thiên triều Trung Quốc phong vương tước và được triều cống. Tuy nhiên, vua nhà Thanh không chấp thuận vì còn vua Lê. Năm 1714, Chúa Phúc Chu cho sửa sang ngôi chùa Thiên Mỗ cho nguy nga tráng lệ, đồng thời đúc một cái chuông có khắc chữ « Đại Việt Quốc vương ». Chúa Phúc Chu đang tuổi trẻ, tự cậy phú cường, còn lăm le đem quân Bắ Tiến nên đã sử dụng đòn gián điệp để dò xét tình hình ở Kinh đô Thăng long và các trấn thành Bắc Hà, nhất là trấn Nghệ An, châu Bố Chánh là chỗ địa đầu với Nam Hà. Điệp viên của chúa Phúc chu là hai người khách trú lái buôn gốc Phúc kiến và Quảng Tây theo lối Quảng đông vào miền Bắc, dùng tài làm thuốc và coi địa lý phong thủy giỏi để len lỏi làm quen với các quan chức lớn ngoài Bắc mà tìm hiểu tình hình quân quốc, quan dân của Bắc hà. Nhưng rốt cuộc, theo báo cáo của hai điệp viên lợi hại này, Bắc Hà phòng thủ kỹ càng nên Chúa Phúc Chu mới bỏ ý định Bắc Tiến.\nVề sau, cháu nội của chúa Phúc Chu là Nguyễn Phúc Khoát (1744), nhân thấy Bắc Hà loạn lạc binh đao và lại lấy điềm « ưu đàm khai hoa » (cây sung nở bông), bèn lại xưng vương, thay đổi cách xưng gọi về chức tước, phủ đường, và cho đúc ấn Quốc vương… (theo Phủ Biên tạp lục của Lê Quí Đôn). Tuy nhiên, theo sự ghi chép lại trong cuốn « Đại Nam thực lục tiền biên » (tập I, quyển VIII), duy chỉ có chiếc ấn Truyền quốc của chúa Phúc Chu là được truyền xuống cho các vị chúa kế tiếp và các vua triều Nguyễn sau này. Vua Gia Long khi trao ấn truyền quốc này cho Hoàng tử Đởm tức là vua Minh Mạng có dặn rằng :\n«\n*Ấn báu này các đời truyền nhau, ngày xưa đã trải nhiều phen binh lửa, người chẳng chắc còn, mà ấn này vẫn còn giữ trước sau… chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này…* »\n«\n*Năm Canh thìn Minh Mạng năm thứ nhất, Thánh tổ Nhân Hoàng đế tự tay phong kín cất đi. Đến năm Đinh dậu thứ 18, ngày 22 tháng chạp lại mở ra xem một lần nữa, rồi viết chữ son niêm lại để cất như cũ, dùng để truyền cho ức muôn đời…* »\nCâu hỏi của chúng ta vào thời điểm hiện tại là chiếc ấn này bây giờ ở đâu cũng như bao chiếc ấn khác của triều Nguyễn ? Nhân đọc lại nhiều tài liệu cũ, tôi thấy chiếc ấn này có một sự tích ly kỳ từ khi nó lọt vào tay Chúa Nguyễn Ánh (sau này là Vua Gia long). Theo thân phận long đong suốt 24 năm bôn ba phục quốc của Chúa, khi bị Trịnh quân tấn công, lúc bị lực lượng Tây sơn truy diệt, chiếc ấn cũng đã ba chìm bẩy nổi trôi dạt nhiều nơi… đúng như lời nói trên : « ngày xưa đã trải nhiều phen binh lửa »… nhiều người đã chết, nhưng ấn vẫn tồn tại ! Trong chương sách này, tôi xin dẫn dắt quí bạn theo dõi con đường trôi dạt ẩn hiện của chiếc ấn này với những câu hỏi sau : Phải chăng chiếc ấn này đã bị quẳng xuống sông mất tiêu ở Gò công khi Nguyễn Ánh phải mở đường máu mà chạy thoát thân ? Phải chăng chiếc ấn đã được Tây du sang Pháp khi Hoàng tử Cảnh theo Giám Mục Bá đa lộc yết kiến Pháp Hoàng cầu viện ? Chiếc ấn mà vua Gia long giao cho con là Hoàng tử Đởm sau này có phải là chiếc ấn truyền quốc đích thực ngày trước không ?\nGiả dụ, chiếc ấn còn truyền đến vua Minh Mạng và được chính nhà vua tự tay phong kín cất đi trong kho báu vật của điện Cần chánh… thì sau đó ấn đã biến đi đâu ?\nĐể mở đầu câu chuyện kỳ thú trên, chúng ta hãy trở lại khởi điểm quan trọng là chúa Nguyễn Phúc Chu, người đã khai sinh ra chiếc ấn, và ý nghĩa căn bản truyền thống của Ấn truyền quốc là gì ?\nChúa Nguyễn phúc Chu là một vị chúa ghi nhiều công nghiệp cho giang sơn Việt nam qua việc Nam tiến của chúa chẳng hạn như Chúa đã xóa tên nước Chiêm Thành trên bản đồ qua việc chiếm lấy đất đai còn lại của Chiêm quốc để biến thành Thuận thành phủ (1694), lấy Phan Rang và Phan Rí làm huyện Yên-Phúc và Hòa-Đa (1697) ; Chúa còn lấn qua nước Thủy-Chân-lạp, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, đặt Biên Hòa làm Trấn Biên dinh và Gia-định làm Phiên trấn dinh, đổi Sài côn làm huyện Tân Bình. Cuộc Nam tiến còn tràn xuống tận miền Hậu giang cho tới vịnh Xiêm la… Có lẽ qua công trạng trên, Chúa Nguyễn phúc Chu nghĩ rằng mình phải đúc cho mình một cái ấn truyền quốc để lưu truyền cho con cháu.\nÝ niệm truyền quốc – tức là ý niệm giao nước nhà truyền cho người sau để lãnh sứ mệnh thay trời mà trị dân – đã mô phỏng theo Trung Quốc từ đời vua Tần Thủy Hoàng (227-207 trước Công Nguyên). Trước đời này, người Tầu đã biết dùng ấn triện bằng đồng thau, ít ra từ đời Hậu Chu cho những quan chức hay dùng để phong kín thư tín, trước khi giấy được phát minh. Nhưng ý niệm về một chiếc ấn có chức mệnh « truyền quốc » phải thực sự được thoát thai từ câu chuyện đầy tính chất huyền thoại sau đây :\nChuyện kể rằng 800 năm trước Công nguyên có một người thợ ngọc tại nước Sở, một xứ chư hầu thời Chiến quốc tên là Biện Hòa, tìm thấy một tảng đá sần sùi ở núi Kinh sơn mà theo y là chứa ở trong lòng một loại ngọc quí, bèn dâng ngay cho Sở vương đó, nhưng ông này không nhận đã đành mà còn kết tội rằng Biện Hòa nói láo bèn chặt đứt bàn chân trái của y. Khi Sở Vũ vương lên ngôi, người Biện Hòa bèn dâng ngọc lại, ngọc không được nhận mà bàn chân phải của y cũng bị chặt luôn. Đến khi Sở Văn vương lên ngôi, người Biện Hòa ngồi trước đền vua mà khóc đến chảy máu mắt, vua lấy làm lạ hỏi tại sao. Y bèn đáp : «\n*Tâu rằng hạ thần khóc không phải vì hai chân bị chặt. Ngọc thạch quí mà cho là đất đá thường, người quân tử mà nhận lầm lẫn với tiểu nhân ! Bệ hạ thử coi tại sao hạ thần không khóc sao đặng* ».\nNghe thế, vua bèn cho người bửa tảng đá ra, và quả nhiên, có ngọc quí ở trong hiện ra với hào quang sáng rỡ ! Vua bèn phong tước cho người Biện Hòa, nhưng y không nhận.\nVề sau, một ông vua nước Sở nghe ngọc quí bèn đem 15 thành trì mà đổi, do đó ngọc được đời sau còn gọi là ngọc « liên thành ». Ngọc liên thành cuối cùng rơi vào tay Tần Thủy Hoàng, người đã tóm thâu thiên hạ, được vị bạo chúa này ra lệnh cho thừa tướng Lý Tư biến nó thành một chiếc ấn quí (hay bảo tỉ) trên có khắc giòng chữ : « Thụ mệnh vu thiên ký thọ vĩnh xương » (có nghĩa là Hoàng đế nhận mệnh từ trời, đời đời thịnh trị). Tần thủy hoàng truyền phán rằng kể từ đây chiếc bảo tỉ này trở nên sự tượng trưng cho uy quyền tối thượng của hoàng đế mà các người kế vị ngôi báu phải trân trọng gìn giữ như là bảo vật. Do đó, đời sau bèn gọi nó là truyền quốc tỉ. Và khoảng bốn trăm năm sau, một sự việc rúng động đã xảy ra liên quan đến chiếc bảo tỉ này. Khi Đổng Trác lăm le muốn đoạt ngôi nhà Hán, vị quan giữ bảo tỉ bèn quăng dấu nó trong một giếng nước. Vài năm sau đó, Đổng Trác bị vây khốn tại thành Lạc Dương, ông bèn nổi lửa hỏa thiêu thành này và dời qua đất Tràng An. Tôn Kiên là một trong những tướng vào Lạc Dương khi thành còn đang khói lửa. Quân lính bỗng thấy một luồng ánh sáng lạ chiếu từ đáy một cái giếng, nên không ai dám kéo nước giếng mà dùng. Tôn Kiên sai tát cạn giếng và chiếm lấy chiếc bảo tỉ. Ông ta vui mừng reo lên : «\n*Trong thời buổi loạn lạc, kẻ nào có khả năng sẽ làm vua. Nếu Hoàng thiên đã cho ta có phước chiếm hữu bảo vật này, ta còn chờ gì nữa* ».\nSau đó, Tôn Kiên quyết định lui về quê của mình để lo đại sự, bèn gặp Viên Thiệu là tổng chỉ huy lực lượng chinh phạt Đổng Trác mà xin nghỉ cáo bệnh để về quê. Viên Thiệu nói : «\n*Nhà ngươi bị bệnh « truyền quốc tỉ » đó mà !* »\nTôn Kiên giật thót mình khựng lại, thề thốt không hay biết gì về chiếc bảo tỉ : «\n*Nếu tôi có tỉ ấn, thì Trời hãy hại tôi !* »\nTrên đường rút quân sĩ của mình về quê cũ, Tôn Kiên lại bị Lưu Biểu theo lệnh trên chặn y lại. Lưu Biểu bèn nhất quyết đòi khám xét Tôn Kiên mặc dù y thề độc : «\n*Nếu tôi giữ ấn thì tôi sẽ bị chết vì tên bắn như mưa *».\nHai bên đụng trận, khiến Tôn Kiên thảm bại phải chạy dài. Nhưng sau đó, nhân Viên Thiệu tức giận Lưu Biểu không cho mình mượn quân lương bèn viết thư xúi dục Tôn Kiên đem quân đánh Lưu Biểu, và còn hứa rằng sẽ mang viện binh trợ chiến. Tôn Kiên ý muốn phục thù cũ, nghe theo lời Viên Thiệu, đánh Lưu Biểu, nhưng rốt cuộc y bị rơi vào ổ phục kích và bị chết nát thây vì trận mưa tên như lời y thề độc. Viên Thiệu sau đó lấy được chiếc bảo tỉ từ tay vợ của Tôn Kiên. Câu chuyện ngọc tỉ truyền quốc có thể được kể với vài chi tiết hơi khác chút đỉnh tùy theo sách, ví dụ chiếc ấn làm bằng ngọc Lam điền… Nhưng ý nghĩa của nó vẫn xoay quanh ý niệm người có được ấn là kẻ có thiên mệnh làm vua. Chiếc ngọc tỉ của Tần thủy Hoàng năm xưa về sau lại theo sự thăng trầm biến loạn của giòng lịch sử Trung Hoa mà trôi dạt vào tay lãnh chúa này qua tay đế vương khác, vì ai cũng muốn tranh đoạt ngọc tỉ để làm bá chủ thiên hạ như Tần thủy Hoàng vậy. Do đó, mỗi lần ngọc tỉ truyền quốc đổi chủ là mỗi lần máu đổ thịt rơi… Cuối cùng đến kỳ biến loạn chính trị vào thế kỷ thứ 10, thì ngọc tỉ trên bỗng biến hẳn cho đến thế kỷ 18, thì lại có tin đồn ngọc tỉ xuất hiện. Những triều đại vua bên Tầu về sau vẫn thường mô phỏng theo ý nghĩa ngọc tỉ truyền quốc trên bằng cách dùng ngọc thạch mà chạm cho mình một chiếc ấn để truyền giang sơn cho con cháu mình cai trị.\nChiếc ấn « Đại-Việt-Quốc Nguyễn Chủ vĩnh trấn chi bửu » chính là ngọc tỉ truyền quốc của nhà Nguyễn vậy ! Nó cũng trôi nổi phiêu bạt như những người tiếp nhận nó, đáng nói hơn cả là khi nó đã theo chúa Nguyễn Ánh, sau đời Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, thì đến nạn quyền thần Trương Phúc Loan trong triều chính, sự nổi dậy của Tây sơn, rồi Trịnh quân ngoài Bắc kéo vào, Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần và hai người cháu là Phúc Dương (được chọn làm Đông cung) cùng Phúc Ánh phải bỏ chạy. Cuối cùng thì Tây Sơn bắt giết Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Đông cung Nguyễn Phúc Dương ở Long Xuyên, chỉ có Nguyễn Phúc Ánh lúc đó mới 13 tuổi chạy thoát để mưu khôi phục lại cơ đồ. Số phận của chiếc ấn truyền quốc của chúa Nguyễn bấy giờ trôi dạt ra sao ? Qua những sự kiện sau đây, chúng ta bèn thấy nó trở nên ly kỳ nếu không muốn nói là ẩn hiện hư thực khiến người ta phải tranh cãi.\nTheo tài liệu của ông M.E. Maitre viết về chiếc ấn đặc biệt này trong bài « Documents sur Pigneau de Béhaine » trên La Revue Indochinoise (1913) thì :\nVào thời điểm này, Nguyễn Nhạc của Tây sơn sau khi chiếm được Sài gòn trở nên hừng chí tham vọng bèn xưng vương là Tây sơn vương vào khoảng tháng tư, tháng năm, 1776. Nhạc cũng muốn đúc một chiếc ấn vàng, nhưng theo sử sách thì đúc hai lần thì ấn có vết nứt, đến lần thứ ba mới được. Theo Thực lục đệ nhất kỉ, Tây sơn không bao giờ chiếm hữu được ấn của chúa Nguyễn, vì khi họ truy nã Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần đang lẩn trốn ở Tam Phụ (1777), vị tướng tùy tùng là Lê Chữ phụ trách giữ « kim bảo ». Nhóm người này bị Tây sơn bắt kịp tại Sông Tra (ở phía bắc Gò Công chảy ra sông Vàm cỏ đông theo ông Hứa Hoành), Lê Chữ quẳng ấn xuống sông. Năm 1778, ông trở lại vớt lên, thấy vẫn còn nguyên vẹn, bèn dâng cho Nguyễn Ánh. Khi Nguyễn Ánh xưng vương năm 1780 (lúc đó 18 tuổi), thì theo sách Đệ Nhất kỉ, kể từ đó chiếc ấn trên được Nguyễn vương dùng chính thức. Nhưng ông M.E.Maitre lại thấy một tài liệu thứ hai viết khác hẳn điều trên về số phận chiếc ấn : Đó là lời tường thuật của Ông Chapman, đặc phái viên của Toàn Quyền Warren Hastings xứ Bengale ở tại Qui nhơn, kinh đô của Tây Sơn từ 13 đến 28 Juillet 1778. Chapman kể rằng ông có cho một vị quan của Chúa Nguyễn thuộc hoàng tộc cải y phục Tây phương trốn trên tàu của ông. Khi ông Chapman nhận được thư của Nguyễn Nhạc mời ông đến yết kiến, ông bèn đưa cho vị quan trên coi lá thư thì ông này nước mắt dàn dụa nói rằng dấu ấn trên thư là\n**dấu ấn của Chúa Nguyễn** mà kẻ thoán đoạt khốn nạn đã lấy mất (A narrative of a voyage to Cochinchina, Journal of the Indian Archipelago, Singapore. Tome VI, 1852, trang 302).\nÔng Maitre bèn kết luận rằng phải chăng Nguyễn Nhạc đã cho đúc một chiếc ấn giống hệt ấn truyền quốc của chúa Nguyễn hay là chiếc ấn mà Lê Chữ « vớt » lại từ đáy sông Tra ở Gò công là một chiếc ấn khác giả tạo được thay thế để dâng cho chúa Nguyễn Phúc Ánh ?\nNhưng sự nghi ngờ trên là vô căn cứ vì nếu chúng ta đọc lại Đại Nam thực lục chánh biên, thì thấy nói như sau :\n« Tháng giêng năm Canh tý (1780), vào ngày Quí Mão, Hoàng đế lên ngôi báu. Mặc dù làm Đại Nguyên Soái Nhiếp Quốc chánh, các tướng lãnh vẫn khuyên ngài nắm quyền bính, nhưng ngài tự xét tình hình đất nước chưa làm ngài rửa được hận thù, ngài đã khiêm nhường từ chối. Sau đó, các người tùy tùng nài nỉ mãi ngài mới chịu. Ngài lên ngôi tại Sài Côn (bây giờ là Chợ lớn). Ngài lệnh chỉ như sau : văn thư cho quần thần thì gọi là « Truyền chỉ » ; văn thư cho các vị khâm sai thì gọi là « Chỉ sai » và dùng chiếc ấn có khắc chữ « Đại-Việt-Quốc Nguyễn chủ Vĩnh trấn chi bửu », ấn này do Hiển tông Hiếu Minh Hoàng đế đúc, bây giờ trở thành « Truyền Quốc chi bửu ».\nHai năm rõ mười về sự tồn tại của chiếc ấn trên theo bằng chứng sử liệu cho đến thời điểm này. Tuy nhiên, sự nhắc nhở về nó trong những giai đoạn sau khiến những nhà nghiên cứu lại thắc mắc nghi ngờ !\nChẳng hạn như chuyện Nguyễn Vương giao Hoàng tử Cảnh cho Giám Mục Bá đa lộc qua Pháp triều ở điện Versailles cầu viện thì có đưa ấn tín làm bằng. Theo thư với thủ bút của chính Nguyễn Vương gởi cho Pháp Hoàng có đoạn sau :\n*« Theo lời khuyên của Canh chi (tức Giám mục Bá đa lộc), tôi quyết tâm cầu đến Ngài. Vậy tôi giao con trai của tôi là Cảnh và cũng giao luôn chiếc ấn truyền quốc của tôi để làm tín vật cho ông xin đến yết kiến Ngài và xin Ngài những điều viện trợ cần thiết khi trở về vương quốc của tôi* ». (A. Faure. Mgr. Pigneau de Béhaine, 1891, p.124)\nKhởi hành từ Nam Kỳ vào cuối năm 1784, Giám Mục Bá đa lộc, sau một thời gian ghé Pondichéry (Ấn độ), đã cập bến ở Lorient (Pháp) vào tháng giêng 1787.\nCũng vào năm này (28 Novembre 1787), ở điện Versailles đã được ký kết một hiệp thư liên minh tấn công và phòng vệ giữa nước Pháp và xứ Nam Kỳ, mà phần mở đầu viết như sau :\n*« Hoàng đế đã ủy quyền cho ông de Montmorin thảo luận và ấn định với Giám mục d’Adran về tính chất, phạm vi, và những điều kiện viện trợ cần cung cấp ; và những đặc sứ toàn quyền này – sau khi tự hợp thức hóa địa vị của mình – nghĩa là Hầu tước de Montmorin trình bày sự toàn quyền của mình và Giám mục d’Adran trình ra cái ấn tín của Vương quốc Nam kỳ và tờ văn kiện thảo luận của Hội đồng Nội các của Vương quốc này, hai người đã đồng thỏa thuận trên những điểm và những điều khoản sau »* (sau đó là những điều khoản của hiệp thư).\n(Lời người viết : chữ Cochinchine rất khó dịch. Danh từ « Nam kỳ » quen dùng không hoàn toàn đúng với hoàn cảnh lịch sử thời này ; nhưng tôi xin tạm dùng cho dễ hiểu câu chuyện)\nMột điều đáng nói là trong những sách Việt ngữ viết về lịch sử như Việt nam Sử lược của Trần trọng Kim chẳng hạn đều xác định về sự kiện chiếc « ấn tín » đã được Nguyễn Ánh giao cho Bá đa lộc để làm bằng khi đi cầu viện. Nhưng ông Pierre Daudin, tác giả cuốn Sigillographie sino-annamite, cắc cớ tìm kiếm hình dáng khuôn dấu ra sao. Vào năm 1935, sau khi tham khảo Hồ Sơ Lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp, ông đã tìm thấy nguyên bản của tờ hiệp thư trên thì thấy ở cuối tờ này hai khuôn dấu in trên xi đỏ : một là của hình kỳ hiệu của Hầu tước de Montmorin, một là của huy hiệu giáo tông của Giám mục d’Adran. Dấu « ấn truyền quốc của xứ Nam kỳ » mà ông trông đợi phải có trên tờ hiệp thư lịch sử lại không có. Theo ông Daudin, khó mà biết rằng chiếc ấn mà Nguyễn Ánh giao cho Giám mục Bá đa lộc đã phù hợp với dấu ấn mà Nguyễn Ánh đã đóng trên bằng sắc truy tặng cho Giám mục khi tạ thế.\nGiám mục Bá đa lộc đã mất vào năm 1799. Sắc bằng mà chúa Nguyễn Ánh truy tặng cho Giám mục đề ngày 12 tháng 11 năm Cảnh hưng (8 Décembre 1799) có in dấu « Đại Việt quốc Nguyễn chủ vĩnh trấn chi bửu », hiện còn treo tại Tòa Tổng Giám Mục ở Sài Gòn.\nNhư vậy, chiếc ấn truyền quốc này đã tồn tại đến vua Gia Long, để sau này nhà vua trao tận tay cho người con kế vị là vua Minh Mạng ; vua này còn tự tay lấy ra xem và cẩn thận phong kín lại vào năm Minh Mạng thứ 18 (Đinh Dậu).\nCó lẽ chiếc ấn này đã nằm ngủ kỹ dưới lớp bụi thời gian trong hầm chứa bảo vật của điện Cần chánh cho đến ngày Kinh đô Huế thất thủ ngập tràn trong khói và Hoàng cung bị toán lính Pháp của tướng de Courcy lục soát. Chiếc ấn có được vua Hàm nghi khi xuất bôn dắt đem theo hay không ? Hay de Courcy đem về Pháp ?\nCòn nhớ lời của vua Minh Mạng khi cất ấn này vào kho đã phán rằng giữ chiếc ấn này truyền cho ức muôn đời sau… Bấm đốt tay thì chỉ mới có gần non hai trăm năm kể từ đó mà ấn đã không còn ai tìm thấy nữa ! Vanitas vanitatum, et omnia vanitas… Hư vô rồi lại trở về Hư vô ! Tất cả là hư vô !\nL’Homme propose mais c’est Dieu qui dispose ! Thế nhân xây đắp mộng đời ; Mộng thành hay bại ? Ý Trời định cho ! Mộng của Tần thủy hoàng đế khi tạo chiếc ấn truyền quốc là muốn truyền đến vạn thế. Mộng của vua Minh Mạng khiêm nhường hơn là truyền ngôi qua 20 đời với bài thơ « Đế hệ thị », nhưng có lẽ ý Trời chỉ cho Nguyễn triều hưởng đến chữ « Vĩnh » mà thôi. Dầu sao anh linh của Ngài cũng phần nào thỏa mãn vì trên phương diện chữ nghĩa thì « Vĩnh » bao hàm ý nghĩa muôn đời đó.\n\nInconnu(e) ẤN TRUYỀN QUỐC ĐỀ CHỮ THỤ MỆNH VU THIÊN KÝ THỌ VĨNH XƯƠNG TƯƠNG TRUYỀN CỦA VUA TẦN THỦY HOÀNG\n\nInconnu(e) TÔN KIÊN BỊ TÊN BẮN NHƯ MƯA VÌ LỜI THỀ ĐỘC KHÔNG GIỮ ẤN TRUYỀN QUỐC\n\nẤN CỦA CHÚA NGUYỄN ÁNH TRUY TẶNG CHO GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC CHỮ TRIỆN LÀ MỤC TRỤ ĐỊNH HẠ TRÁNG VŨ ỦNG HÀNH\n\nẤN TRUYỀN QUỐC CỦA CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU VỚI CHỮ TRIỆN : ĐẠI VIỆT QUỐC NGUYỄN CHỦ VĨNH TRẤN CHI BẢO\n\nSự băng hà của Cựu Hoàng Bảo Đại tại Paris vào ngày 31 tháng 7 năm 1997, trong khung cảnh lưu vong âm thầm cô đơn gần bốn thập niên, đã vang vọng như một nốt nhạc buồn nhẹ nhàng nhưng thâm trầm ray rứt khôn nguôi trong lòng của hầu như mọi người tỵ nạn Việt nam ở khắp năm châu.\nỞ đời thông thường sự gì đi vào chung cuộc để rồi tắt ngúm đều mang ít nhiều tính chất bi muộn và gợi nên nhiều suy tưởng bi quan, nhất là đối với những gì đã từng có một quá khứ huy hoàng…\nVua Bảo-Đại là một vị Hoàng đế cuối của triều đại nhà Nguyễn – một thể chế quân chủ sau cùng trên đất nước Việt nam. Nhà Nguyễn – một triều đại phát khởi vào chính giữa thế kỷ 16 với công nghiệp vẻ vang mở rộng biên cương Nam tiến của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa kế vị từ vùng Thuận Quảng cho đến vùng đất Hà tiên cực tây, đã khởi sự suy tàn thê thảm với Hiệp ước Bảo hộ Pháp Patenôtre ký vào năm Giáp thân (1885). Vua Bảo Đại là vị vua nhận lãnh cái thời điểm cuối cùng của hồi chung cuộc kéo dài lây lất trong hư vị, từ lúc tức vị năm 1932 đến lúc thoái vị năm 1945… Rồi hoàn cảnh lịch sử đất nước lại biến chuyển, nhà vua lại một phen ngắn ngủi làm Quốc trưởng vài năm để cuối cùng tự chọn cho mình một cuộc sống lưu vong âm thầm trong gần 40 năm cho đến ngày tạ thế…\nCái chung cuộc của đời ông như là một vì vua đã không bi thảm với máu chẩy đầu rơi như Sa-Hoàng Nga hay Pháp Hoàng Lu-Y 16, và không quá cực tủi như vua Lê Chiêu thống, vua Phổ Nghi… Có người trách rằng nhà vua đã thiếu nghị lực nhưng đã ai thông cảm cho cái thế chẳng đặng đừng của vai trò của ông trong cơn lốc của cục diện tranh chấp chính trị toàn cầu vào cuối thế kỷ 20. Điểm mặt trên chính trường trong thời gian qua người ta vẫn chưa gọi ai là người có thể đóng vai trò anh hùng cái thế có khả năng phi thường dàn dựng hoặc nhào nặn lịch sử quốc gia. Vua Bảo Đại sanh ra với tướng mạo hiền từ, bản tính nhu hòa điềm đạm bao dung ngay cả với những người lật lọng ông. Tính sổ lại công nghiệp của ông làm cho đất nước tuy không lớn lao lắm nhưng cũng xứng đáng kể để người dân Việt nam ghi nhớ khi ông làm Quốc trưởng mà ông cũng không phải là người nuôi tham vọng chính trị nhiều hay thao túng quyền năng để gây tác hại hoặc để tiếng xấu cho nhà cho nước. Khi Cựu Hoàng Bảo Đại rút lui sống ẩn dật âm thầm trong cảnh lưu vong, ông cũng đã sáng suốt hiểu ý nghĩa của chữ « thời » trong vai trò của một đấng quân vương thời Mạt Nguyễn.\nNhà Nguyễn tính từ năm 1558 là thời điểm Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Quảng dựng nghiệp cho đến năm 1945 kéo dài 387 năm đã tạo đúc ra nhiều ấn tín để sử dụng trong những vấn đề điều hành của guồng máy cai trị… Nhìn lại quá trình lịch sử, người ta đã ghi nhận có hai đỉnh cao thịnh trị rạng rỡ đánh dấu bằng sự tạo đúc ấn triện là :\n**-** Thời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu với công nghiệp phát triển lãnh thổ mạnh mẽ trên địa bàn đồng bằng Thủy Chân lạp qua niềm tự hào đúc bảo ấn « Đại Việt-Quốc Nguyễn Chủ vĩnh trấn chi bửu » để làm ấn truyền quốc cho hậu duệ.\n- Thời Vua Minh Mạng với sự cải tổ đại qui mô về nội trị qua sự tạo đúc nhiều loại ấn triện : ấn ngự dụng trong triều đình, ấn của quan nha trong khắp nước.\nNhưng than ôi ! trong tinh thần triết lý vũ trụ quan của Cổ Á-Đông, mọi sự đều phải bị chi phối bởi qui luật Dịch lý tuần hoàn diễn tả qua Ý niệm Thiên Mệnh bằng những từ ngữ đi cặp đôi nhưng tương phản mâu thuẫn như sinh-diệt, thành-bại, tồn-vong, đắc-thất, tụ-tán, thịnh-suy, hưng-mạt.\nCon người sống phải nương theo cái mệnh-lý mà thi hành. Của cải không thể nào tụ mãi trong tay một người, một thế tộc mà phải có lúc tán ra. Quyền hành không thể nào hưng phấn vĩnh viễn trong tay một người chủ súy, một triều đại mà có lúc theo qui luật phải suy đồi…\nKhi Nhà Nguyễn đang hồi cao điểm thịnh phát hưng phấn trong những điều kiện thuận lợi thì mọi điều đều được các vua chúa quan niệm với cái nhìn tuyệt đối, trường cửu ví dụ như :\n- Tên lót cho toàn giòng dõi là «\n**Phúc** ».\n- Ấn tín truyền quốc thì khắc là « vĩnh trấn chi bửu » ; Chúc tụng sinh nhật cho vua thì hô to : « Vạn thọ vô cương » ; chúc thọ cho Hoàng hậu là « Trường hỉ ».\n- Tên hiệu của lăng tẩm các đời Chúa thì được gọi bắt đầu với chữ « Trường » phối hợp theo thế hệ với những chữ của hai câu thơ : « Cơ Diễn\n- Tên lót của các vua kế vị vua Minh Mạng toàn theo bộ «\n**Nhật** » (mặt trời).\n- Tên gọi của Kinh đô Huế là tỉnh «\n**Thừa Thiên** » (đón nhận từ Trời).\nNhưng bánh xe lịch sử đã lăn không chiều theo ý con người. Vua Bảo Đại tuy là được lót với chữ « Vĩnh » (tức là muôn đời) với tên húy là « Thụy » lại là vị vua sau chót của triều Nguyễn ! Bài « Đế-Hệ thi » hai mươi chữ của vua Minh Mạng rốt cuộc chỉ mới hoàn tất được qua một câu 5 chữ mà thôi !\n« Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh\nBảo Quí Định Long Trường\nHiền Năng Kham Kế Thuật\nThế Thoại Quốc Gia Xương »\nTuy nhiên, Cựu Hoàng Bảo Đại là vị vua ý thức sắc nhất chữ « Thời » của Thiên Mệnh qua vai trò của mình như là một điểm cáo chung tất yếu, nên ngài đã sống an phận như một người thường trong nhiều năm trước khi tạ thế. Thế sự thăng trầm quân mạc vấn !\nTrên phương diện về di tích lịch sử phản ảnh qua những chiếc ấn triện có thể giúp hậu sinh đời sau hiểu được việc làm của người xưa thì chúng ta hiện nay chỉ còn nghe nói đến chiếc bảo ấn « Hoàng Đế chi bửu » của Cựu Hoàng Bảo Đại. Phải chăng nó là chiếc cổ-ấn cuối cùng còn lưu lại trên thực tại từ đời Minh Mạng, trong khi còn rất nhiều cổ triện khác thuộc triều Nguyễn kể như là đã biến mất hẳn sao ? Nếu quả đúng như thế, thì chúng ta đành thở dài tự cho rằng mình thực là những người dân thường tự hào có mấy ngàn năm văn hiến, nhưng lại bất hạnh vì không còn giữ lại những di sản của tiền nhân hay sao ?\nBài học nhìn lại chuyện ấn tín của người xưa chỉ là một bài học về biểu tượng để con dân Việt nam suy ngẫm mà biết chọn cho mình một sứ mệnh để tự tồn, tự lực, tự cường vì hết hồi bĩ cực rồi sẽ đến tuần thới lai. Hưng vong, thịnh suy, đắc thất… là hiện tượng nhưng điều quan trọng là bản thể của dân tộc phải tự tồn để thích ứng cho mọi tình huống của chu kỳ vận hóa của vũ trụ.\nRiêng đối với việc chiếc bảo ấn « Hoàng Đế chi Bửu », cho đến giờ phút này, những người ngoài thân thuộc gia quyến của Cự Hoàng Bảo-Đại vẫn chưa biết nó đã được trao cho ai, và không biết người nhận nó có biết\n**trân trọng bảo tồn nó cho xứng đáng với giá trị lịch sử đặc biệt của nó hay không ?**\nCòn đối với ba chiếc bảo ấn mà vào năm 1937 vẫn còn hiện hữu trong kho báu vật của Triều Đình Huế là : Sắc mạng chi Bửu, Đại Nam Hoàng đế chi tỉ, Đại Nam Hiệp kỷ lịch chi Bửu thì nay đã thất lạc đi đâu ? Chúng hiện đang ở trong tay một cá nhân nào ? hay chúng đã được nhà cầm quyền Việt Nam đương cuộc, vốn tiếp thu chúng vào năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị, hiện đang cất dấu bảo quản ? Hoặc chúng đã lưu lạc tản mát ra nước ngoài và đang nằm trong tủ kính trưng bày của một bảo tàng viện của Pháp hay của một quốc gia nào đó ? Những câu hỏi thắc mắc trên tôi nghĩ rằng những vị hậu duệ của Hoàng tộc Nguyễn Phước – hải ngoại cũng quốc nội – nên có nhiệm vụ thiêng liêng tìm hiểu hơn là ai cả !\n\nTrong nền văn hóa xưa của Đông Phương, ấn triện – ngoài công năng cụ thể in đóng trên giấy tờ về hành chánh và thương mãi – còn là những món nghệ phẩm cũng như những món đồ sành sứ mà người xưa chế tạo ra vừa cho công năng đựng chứa, vừa cho mục đích trưng bày nghệ thuật để lưu lại đời sau mà thành đồ cổ ngoạn đắt giá.\nĐể đi sâu vào tính chất nghệ thuật của ấn triện, thiết tưởng ta nên tìm hiểu chúng được tạo đúc như thế nào cũng như người ta khi chơi đồ sứ Trung Hoa cần nhắc đến những lò sứ danh tiếng Thành hóa, Tuyên Hóa bên Tầu vậy.\nCông trình chế tạo một chiếc ấn như là một nghệ phẩm đã chứa đựng nhiều điều tỷ mỷ liên quan về kỹ thuật và nghệ thuật.\nCách thức chế tạo những ấn triện tùy thuộc vào chất liệu của chúng : bằng kim khí như vàng bạc đồng thiếc thì phải nấu chẩy và đúc vào khuôn (gọi là trú tạo) ; bằng những vật liệu như gỗ, đá, ngà voi, ngọc quí… thì phải khắc chạm (điêu khắc).\nMặc dù người ta có thể khai quật vài dấu tích về những sự ghi chép thô sơ in trên những món đồ gốm của đời tân thạch khí, vấn đề khắc những văn tự trên những vật liệu cứng như mai rùa hay xương thú vật hiển nhiên trở thành một hoạt động về nghệ thuật của con người thái cổ vào đời Thương. Nhưng bước qua giai đoạn đồng khí, nhiều món đồ dùng tế lễ đã dần dà được đúc với những giòng cổ văn tự ghi làm kỷ niệm. Phải đợi đến cuối đời Chu, người ta mới có thể nói rằng những chiếc ấn đầu tiên bằng đồng mới thực sự xuất hiện mang những chức tước của các quan văn võ, những ấn này thường nhỏ và dẹp, nuốm có lỗ để xỏ dây mà đeo ở thắt lưng mà phân biệt ngôi thứ. Phải chờ đợi rất lâu về sau, phong tục dùng ấn chế tạo bằng đủ thứ vật liệu khác mới phổ biến cho khắp dân gian để khắc tên họ dùng để giao dịch. Những chiếc ấn thuở đầu còn được coi như là những món đồ đeo cá nhân làm bùa đeo lấy hên và trừ tà ma, lúc chết thường được liệm chôn theo. Ấn đồng có công dụng thông thường là in trên những dấu sáp hay si phong khằn các thư từ, văn kiện quan trọng. Sau những ấn đồng, người ta từ từ dùng những thứ ấn khác như vàng, bạc, sắt hoặc mạ vàng, mạ bạc, đủ mọi kích thước và hình thể.\nĐại để cách đúc những chiếc ấn đồng hay các kim loại khác cũng giống như sự đúc các món vật dụng như nồi chảo, các đồ lỗ bộ, lư đỉnh… nghĩa là dùng lò bễ thụt lửa để đun chẩy kim khí trong những chiếc nồi bằng đất gọi là nồi cơi. Nhưng phương pháp đặc biệt cho sự đúc ấn thường là\n**phương pháp đổ khuôn cát (phiên sa) với mô hình bằng sáp ong (bát lạp).**\nTrước hết, nghệ nhân hay thợ đúc hoặc đôi khi thợ vàng thợ bạc phải nặn đắp thật kỹ càng một mô hình chiếc ấn bằng sáp giống rập theo kiểu mẫu đã vẽ, phần việc phải tỉ mỉ khi gọt các nét chữ trên mặt ấn, hoặc chìm hay nổi… Xong rồi, mô hình ấn được bọc trong một khuôn bằng cát thật mịn, ở trên được trổ một lỗ (gọi là\n*trổ điệu*) để rót kim khí đun lỏng vào khiến sáp sẽ tan và chẩy thoát ra ngoài thành khuôn bằng vài lỗ gió (tiếng Pháp dịch cách đúc này là « à cire perdue »). Ấn đúc khéo là vào giai đoạn rót khuôn thật đều tay, khiến kim khí đun lỏng chảy đều khắp các chi tiết, chữ ấn không thiếu nét hoặc rỗ mặt. Cũng nên hiểu thêm rằng nhiều khi đúc vụng phải đúc lại như trường hợp ấn của Nguyễn Nhạc Tây sơn phải đúc đến hai lần vì non hay già lửa sao đó nên bị nứt. Theo sách vở Tầu, về nghệ thuật đúc « phiên sa bát lạp » (tức là cốt sáp khuôn cát) trên chỉ có các tay thợ Phù tang vào thế kỷ 17 là đạt tới sự thành công không ai bì kịp. Người Tầu còn nhắc đến tên tuổi của một thư pháp gia tên là Trương Di Linh, có bí quyết gọi là « bát lạp văn » dùng mũi dao gọt trên mô hình sáp thật khéo để các nét đúc thật đều…\nNhìn vào hình những chiếc ấn vàng đúc đời Minh Mạng và Thiệu Trị, chúng ta có thể tự hào rằng những tay thợ đúc của Việt Nam vào thế kỷ 19 đã thành công mỹ mãn với nghệ phẩm tuyệt hảo của họ : nét chữ đúc thật đều, dắn dỏi. Tôi không biết những nuốm ấn hình rồng của những ấn triều Nguyễn đã được đúc riêng hay khắc chạm công phu rồi sau mới được hàn gắn với đế ấn, hay đúc chung trong một khuôn ?\nTuy rằng việc chú tạo những chiếc bảo ấn bằng vàng là một sự kiện rất đặc biệt thường được ghi chép lại trên những tài liệu văn khố của Triều đình như Thực lực chánh biên hay Hội điển sự lệ, nhưng người đời sau chúng ta khó lòng tìm hiểu thêm rằng chi tiết công việc này đã giao cho những ai để thực hiện ? Có thể là công trình kết hợp nhiều người như việc của các vị thâm nho trong Nội Các, của bộ Lễ nghiên cứu về mẫu chữ, kiểu thức, chọn ngày hạnh kiết… thông qua việc của bộ Hộ là xuất vàng bạc, việc của bộ Công là điều khiển những người thợ liên hiện trong các tượng cục mà tạo đúc. Sở dĩ tôi suy đoán như thế là những chiếc bảo ấn của Triều Nguyễn nhìn về mặt cấu tạo cũng phức tạp cần sự liên kết của nhiều tay thủ công cũng như vào thời này đúc súng thì có sự phân công như sau vào thời Chúa Nguyễn đã được Lê Quí Đôn ghi lại trong Phủ Biên tạp lục :\n« …\n*đinh súng thợ rèn làm, cò máy thì thợ bạc làm, tai súng thì thợ tai làm, báng súng thì thợ mộc làm, quân ba đội thợ đúc chỉ đúc lòng súng mà thôi…* »\nNhững tượng cục thợ liên hệ đến sự đúc những bảo ấn vàng bạc có thể là Kim tượng cục (thợ vàng), Ngân tượng cục (thợ bạc), Chú tượng cục (thợ đúc) thuộc bộ Công. Tra cứu lại tài liệu xưa, chúng ta thấy rằng kinh đô Huế đã từng là trung tâm hội tụ tinh hoa của những người thủ công Việt nam dưới triều Nguyễn đến từ nhiều vùng đất nước :\n- thợ đúc có quê quán từ Thừa thiên, Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, Bắc Ninh.\n- thợ vàng, thợ bạc cũng đến từ quê quán như trên, nhưng thêm dân Hà nội.\n- thợ khắc chữ, thợ ngọc gốc Thừa thiên.\n- thợ vẽ từ Quảng Bình.\n- thợ khắc bản in từ Hải dương, Thừa thiên.\nRiêng về ngành đúc thì ở Huế các thợ lập thành một vùng gọi là Phường đúc thuộc làng Dương Xuân trên bờ sông Hương. Còn các thợ vàng bạc ở Huế thường phát xuất từ làng Kế Môn. Dưới triều Nguyễn, đồ ngự dụng và quan dụng làm bằng vàng bạc đều do phần lớn thợ Kế môn đảm trách. Họ biết cách luyện vàng bằng thủ công để loại bỏ các tạp chất từ các loại vàng đãi ở mỏ như những giai đoạn nấu chua, áo hàn the, phi hàn the, nướng chua, chải rửa, đánh bóng, nhuộm… Do đó, chúng ta có thể nghĩ rằng những tay nghề Kế môn đã được trưng dụng trong việc tạo đúc những chiếc ấn vàng ngự dụng và quan dụng ở Huế, nhất là kỹ thuật và nghệ thuật của nghề ngón riêng của ngành vàng bạc như\n*doai, dác, cán, kéo, chạm, khảm*… họ đã làm những hình rồng trên nuốm các ấn cực kỳ linh động.\nNhững bảo ấn của Triều Nguyễn bị thất lạc quả là một điều bất hạnh lớn cho di sản văn hóa của ta !\nTrong công việc đúc (chú-tạo) ấn triện bằng kim loại, trọng tâm phần lớn nhằm vào vấn đề kỹ thuật, bàn tay nghệ thuật của nghệ nhân chỉ tác dụng vào giai đoạn viết mẫu chữ và gọt khuôn đúc cốt sáp.\nBây giờ chúng ta hãy đi vào công việc chế tạo ấn triện bằng công trình điêu khắc trên những vật liệu không phải là kim khí như gỗ, đá, đồ sành sứ, san hô, mã não, hổ phách, bảo thạch, ngà voi, sừng tê giác, sừng trâu… (có nhiều khi hột quả táo cũng dùng khắc những chiếc ấn tí hon). Chính trong sự điêu khắc, bàn tay nghệ nhân mới có dịp lưu danh thiên cổ qua nhiều trường phái.\nVật liệu thông thường nhất là gỗ để khắc thành những chiếc mộc triện, từ đó phát sinh ra danh từ đóng mộc. Mộc triện chính là môi trường thích hợp nhất để cho mũi dao khắc tung hoành thi thố tài năng của người thợ khéo hay của nghệ sĩ tài ba mà tôi sẽ trình bầy ở sau. Kế sau gỗ là những đá, ngọc… không còn mềm mà trở nên cứng.\nĐể ấn định độ cứng của loài khoáng chất, người ta đời nay dựa vào bản thang biểu cương độ Mohs (Mohs hardness scale), chia thành 10 H-độ (H= hardness) từ thấp lên cao, theo đó : H-1 là Thạch dảm thạch (soapstone), H-2 là những loại hạt trai, hổ phách, H-3 như san hô, khổng tước thạch, H-4 như bạch kim, H-5 như kiếng thường hay pha lê, lam bảo thạch, H-6 như quí cảm lãm thạch, các thứ ngọc thạch (nhuyễn thạch và ngạnh thạch), H-7 như lục trụ thạch, tử ngọc anh, H-8 như miêu nhãn ngọc, kim lục thạch, H-9 như hồng bảo và thanh bảo ngọc, H-10 như kim cương.\nThông thường một mũi dao thép có thể vạch khắc trên những vật liệu từ cương độ H-5 trở xuống. Kim cương hay toàn thạch (hột xoàn) với cương độ H-10 thường dùng làm những mũi khoan trong ngành khai mỏ.\nĐá để khắc triện do đó thường là loại dảm thạch hay đá vôi, nhứt là đá thạch nhũ. Người Tầu hay kén loại đá gọi là « Hoa thạch nhũ » sản xuất ở vùng Thiên thai sơn (Triết giang) và Bảo Hoa sơn (địa phận Jéhol). Loại hoa thạch nhũ có vân sắc như vảy, sáng óng ánh, sờ mịn tay, nhìn trong nhưng cứng, nên được quí chuộng chọn làm ấn triện. Vương Miện là thư pháp gia đầu tiên lấy hoa thạch nhũ để khắc triện vào cuối đời Nguyên (1340-1360). Trước Vương Miện, ấn của Tầu toàn bằng đồng. Vì đá này có đặc tính phát ánh sáng như đèn trong tối (nhờ chất lân tinh ?) nên còn được gọi là Minh đăng thạch hay Đăng quang thạch.\nNgười Tầu lại cầu kỳ ca tụng một thứ đá khác đủ loại mầu tìm thấy ở trong một thung lũng hẹp có tên Ngũ Hoa Khanh của vùng núi Thọ sơn thuộc huyện Hầu Quan tỉnh Phúc Kiến. Thọ sơn thạch có nhiều sắc đẹp để chế tạo ra những ấn và những nghệ phẩm trưng bày đắt giá, nhưng quí chuộng nhất là mầu « ngải lục » tức là mầu lục của lá ngải châm cứu. Vào đời Tống, sự khai thác đá này đã gây cho dân cư trong vùng nhiều chứng bịnh, nên thung lũng Ngũ hoa Khanh của Thọ sơn bị lấp đi (Bịnh do những khoáng chất độc như muối thủy ngân, hay thạch tín hay là do phóng xạ Radon chăng ?) Mãi về sau, vào đời Khang Hi nhà Thanh, dân Phúc kiến như ông Trần nhật Dục trở vô lại để khai thác loại đá này. Có lẽ đá này vừa hiếm vừa xưa cổ, nên đắt giá còn hơn vàng. Người Tầu còn cầu kỳ phân biệt nhiều cấp độ quí của Thọ sơn thạch tùy theo lấy ở đâu trong vùng, quí nhất là vùng ruộng đá (điền khanh), kế là dưới nước (thủy khanh), chót là trong lòng núi (sơn khanh). Trên phương diện màu đá, dân chơi ấn điệu nghệ lại thích kén loại đá trong trong ửng hồng như màu hồng trứng cá hay não cá mà họ gán cho những tên rất gợi ý và cầu kỳ thơ mộng như Ngư tử đống hay Ngư não đống.\nVề chuyện khắc chạm trên đá, người Tầu thường nhắc đến một loại dao đặc biệt tên là\n*Côn Ngô đao*, dài cỡ một tấc, xén gọt đá cẩm thạch dễ dàng như gọt đất sét. Đá Côn ngô lần đầu được dâng lên cho vua Chu Mục vương (1001-946 trước TC) bởi dân Tây Hồ. Đá này rất nhiều ở quần đảo Lưu cầu, được luyện thành thép làm bảo kiếm chém sắt như chém bùn trong những chuyện kiếm hiệp Trung Hoa (theo Thập châu ký). Trong Cung oán ngâm khúc của Việt nam có nhắc đến loại thép Lưu cầu qua câu : *« * *Giết nhau chẳng phải dao Cầu,* *Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa !* * »*\nCứ theo sách Khảo Bàn Dư Sự, những chiếc ấn cổ bằng ngọc thạch (jade) khắc được những nét chữ triện điệp nét coi sắc sảo linh động như viết bằng bút lông phải được thực hiện bằng mũi chạm bằng Côn ngô đao chấm, đặc biệt, vào nước dãi của cóc. Ngoài Côn ngô đao, người Tầu xưa khi khắc trên ngọc thạch còn dùng mũi dao chạm bằng thép đặc biệt cứng là « Chân Cúc Hoa Cương ». Khắc chữ triện trên ngọc thạch cứng (ngạnh ngọc) cực kỳ khó vì mũi chạm thường trượt đi, người ta không dùng dùi chạm mà chỉ dùng sức của cườm cổ bàn tay. Bên cạnh chỗ ngồi, phải để đá mài để lâu lâu mài mũi dao cho sắc nhưng không quá mỏng. Nếu hiểu được sự tử công phu của người thợ ngọc, chúng ta mới thấy nét chữ khắc « Hoàng đế chi tỉ » trên chiếc ấn của vua Thiệu trị triều Nguyễn làm bằng ngạnh ngọc phỉ thúy thật quí giá biết chừng nào !\nTôi mạn phép mở dấu ngoặc ở đây nói về hột xoàn hay kim cương là thứ đá có độ cứng cao nhất tương đương với thứ đá Côn ngô ở trên. Cổ nhân ở Việt nam ta biết đến hột xoàn để dùng làm ngọc trang sức từ thời nào ? Hột xoàn ở Huế thường được gọi là « ngọc hườn chiếu ». Qua cuốn Phủ Biên tạp lục của Lê Quí Đôn, ta thấy Đàng trong của chúa Nguyễn từ thế kỷ 17, 18 đã nhập cảng nhiều loại đá quí (bảo thạch) như thủy soạn ngọc, hỏa soạn ngọc, hạc đính ngọc… từ nhiều nước đến buôn bán ở Hội An (Quảng Nam). Riêng về « Hạc đính ngọc » thì ông tả là giống như ngà voi, sắc hơi vàng điểm đỏ, trong sáng, dùng làm những hộp đựng hương sáp và chuỗi hạt niệm kinh. Lê Quí Đôn cho rằng ngọc này từ nước Bột-nê đem lại (tôi đoán là Bornéa) nhưng ông nói sự kiện này đáng chú ý là :\n*« Xứ Thuận-hóa lại có thứ ngọc được gọi là « Hoàn-chiêu ngọc ». Thứ ngọc này vốn từ thuyền buôn nước Hòa-lan đưa đến. Thứ ngọc ấy có màu xanh, và màu trắng thì nhiều hơn. Còn thứ ngọc màu vàng nhạt và màu hồng, màu đỏ thì rất ít. Thứ ngọc lớn thì to bằng hạt ngô (thục thử), còn thứ nhỏ thì bằng hạt đậu xanh. Người ta dùng ngọc ấy để trang sức nhẫn đeo ngón tay và đính trên mão đội. Người ta để thứ ngọc này vào chỗ tối tăm thì mấy chỗ đó sáng rực lên. Nếu người ta để ngọc ấy gần mắt mà trông, thì thấy đủ cả năm màu sắc, nhứt là màu xanh và mầu hồng lại càng rực rỡ. Người ta cho ngọc ấy vào lửa cũng không cháy. Một hạt ngọc đáng giá 100 lượng bạc ». *(Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, do Lê Xuân Giáo dịch)\nTrở về đề tài khắc ấn triện trên đá, ta thấy tinh thần của người Trung Hoa thường vẫn tôn sùng văn tự từ thời cổ, nên dụng cụ trong thư phòng như giấy bút mực nghiên được cầu kỳ kén chọn và được trịnh trọng gọi là Văn phòng tứ bảo. Do đó, đọc chuyện đá để khắc triện ấn, ta gặp toàn những điều huyền thoại, nhưng được họ tin tưởng một cách sắt đá. Chuyện cái nghiên quí của Vua Tự Đức mà theo cụ Vương Hồng Sển kể trong cuốn « Hơn nửa đời hư » là một thí dụ điển hình.\nHiện nay, các tiệm khắc ấn triện ở vài phố Tầu ở San Francisco và New York, Philadelphia vẫn dùng loại đá dảm thạch (soapstone) và loại đá vôi để khắc triện, mầu thường trắng trắng nâu nâu hay ngó giống huyết lươn, nhưng hỏi họ là đá gì, họ trịnh trọng gọi là « kim thạch ». Tôi thấy họ dùng các thứ đá trên để tiện thành hộp đựng và nhiều mẫu triện với đủ loại nuốm long li qui phụng, càng lớn khối thì lớn tiền. Họ lại có một cuốn album để khách chọn chữ, nhưng nếu để cho họ vẽ cho mình một kiểu chữ đặc biệt thì phải trả thêm 5-10 đô la. Giá biểu công khắc tính theo số chữ. Vài văn thi sĩ Việt nam ở hải ngoại (như Hồ Trường An, Phạm Thăng, Trần Quán Niệm, Nguyễn tấn Hưng…) còn hoài cổ cũng muốn đặt cho mình một chiếc ấn để đóng trên tác phẩm, giá biểu cũng xê xích trong vòng 50-100 đô la.\nTôi có hỏi ông bạn văn-thi-họa Nguyễn đức Hiển ở Houston về bí quyết khắc chữ triện trên thạch-ấn ở Phố Tầu, ông bạn có mách rằng ấn đá thường được ngâm nước chanh cho mềm trước khi khắc, sau đó thì lại ngâm trong dung dịch khác cho đá cứng lại. Về các kiểu chữ triện, thì có thể dò trong cuốn Lục thư thông, một loại tự biểu gồm đủ kiểu chân thảo triện lệ khải tống. Nếu hiểu thêm về thạch ấn thì có cuốn « Tề-Bạch-Thạch ấn ảnh » do Đới xuân Thanh trứ tác, in bởi nhà Vinh bảo trai, ngoài ra còn những số báo « Cố cung văn vật nguyệt san » của Đài Loan.\nẤn thường có hai phần là đế có mặt khắc chữ và phần nuốm để cầm hay đeo.\nẤn có thể mình trơn, không trang hoàng, nhưng phần lớn thì có nuốm tiện khắc nhiều hình như rồng, kỳ lân, tượng người, hoa trái. Có vài loại ấn đa diện để người ta thay đổi mặt chữ in, có ấn mang hai ba mặt in hoặc đến sáu mặt in. Trên vách thành của đế ấn, có thể để trơn hay điêu khắc phong cảnh tùy sở thích hay tùy văn thi xã, hoặc trường phái. Mặt ấn để in chữ thông thường là vuông hay chữ nhật, nhưng nó có thể tròn, hình thuẫn, hình trái bầu…\nNgoài ra, người ta còn thấy loại ấn « Mẹ Con », tức là chiếc ấn lớn rỗng lòng chứa một chiếc ấn con khác như hình búp bê Mẹ con của dân Nga vậy. Trong lịch sử quân sự của Trung Hoa, người ta còn thấy vài chiếc ấn bằng thau mềm được khắc một cách khẩn cấp cho nhu cầu hành quân hay bổ nhiệm các tướng cầm quân nơi trận tiền gọi là « cấp tựu ấn » như trường hợp những ấn của tướng Mã viện. Loại ấn này chỉ thấy ở đời Tần và Hán.\nĐồ phụ tùng đi với ấn là hộp mực in : màu đỏ son là thông dụng, nhưng màu khác vẫn dùng, tuy nhiên màu đen và xanh thường dùng trong tang sự. Về màu đỏ, Son hay chu sa (mercuric sulfide) được dùng bằng cách nghiền ra với dầu mè (thảo ma du) rồi được tẩm vào những miếng nùi đệm bằng lá ngải diệp phơi khô xé tưa ra. Loại son chế tạo kỹ càng có thể lưu lại những dấu ấn bền cả mấy trăm năm không phai màu, chẳng hạn như vua Càn Long nhà Thanh đã nổi tiếng chế son bằng tám loại bảo thạch : đại để với trân châu, san hô, hồng bảo ngọc, chu sa… nên dù đến ba trăm năm sau, dấu son của ông vẫn tươi đỏ như mới vậy. Ở Việt nam, dấu son của chiếc « Sắc mạng chi bửu » đời Minh Mạng nhìn vẫn sướng mắt. Tôi cũng tra cứu thêm về huyền thoại của ông Trần Mậu đời Đường đã chế son bằng cách giã chu sa với phèn, rồi chế thêm xạ hương rồi cất trong hộp bằng sừng tê giác. Loại son này được gọi là « thấu vân hương » (thơm đến mấy từng… mây) nên thư tín của ông gởi xa đến mấy… ngàn dặm mở ra vẫn điếc mũi về mùi thơm của chất son. Nhiều sách Tầu lại nói về cách chế son đặc biệt khác nhau như dùng dầu nấu chu sa với bồ kết, hoặc trộn với mật ong, hoặc dùng mỡ của con trút (xuyên sơn giáp). Tôi cũng xin nói thêm cho đủ là son của Tàu đôi lúc được đựng trong hộp bằng sứ sản xuất bởi các lò sứ danh tiếng Thành hóa hay Tuyên Hóa ở xứ Định Châu. Nói như vậy để ta thấy nghề chơi triện ấn của Trung Hoa rất đỗi nhiêu khê vì tinh thần tôn sùng văn tự của họ.\nTrên thế giới, dân Trung Hoa có thể nói là dân tộc « hiếu cổ » nhất thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn nhất là văn tự mà tổ tiên họ sáng chế cách đây mấy ngàn năm nay vẫn được dùng qua hình thức chữ « Triện ». Ta có thể nghĩ rằng nếu không có chữ « Triện », thì dân Tàu không bày ra cái thú chơi những khuôn ấn mà họ vẫn gọi là « ấn triện ». Thành thử ra, muốn tìm hiểu về ấn triện đương nhiên phải hiểu chữ triện là gì, và nhất là, như đã nói ở trên, một khuôn ấn đúng với danh nghĩa của nó là phải đạt đến cái tiêu chuẩn « cổ » với những nét khắc về triện tự.\n**Chữ triện là gì ?** Đó là một thứ chữ tối cổ của Trung Hoa đến nay vẫn được dùng. Nó không còn được dùng để làm một thứ văn tự truyền thông để đọc, để in cho người ta đọc như những thứ chữ Tầu khác. Nhưng Chữ Triện trở thành loại văn tự biểu tượng nếu không nói là một thứ « linh tự » như chữ bùa.\nChữ Triện được viết thành những bức họa phù qua như « Bách phúc toàn đồ », « Bách thọ toàn đồ »… mà cho đến cuối thế kỷ 20, dân Tầu khắp nơi trên hoàn cầu vẫn còn thích treo để lấy hên. Những dân tộc láng giềng chịu ảnh hưởng Hoa văn như Nhật, Triều tiên, Việt nam… cho đến giờ phút này vẫn thích dùng vài chữ triện trong nhiều dịp như chữ « Phúc » trên bao tiền lì xì đầu năm, chữ « song hỉ » trên thiệp cưới, chữ « Thọ » trên… quan tài.\nXin mời quí bạn đi ngược giòng thời gian với tôi để tìm về gốc gác của thứ văn tự cổ kính này :\nTheo truyền thuyết, con người thái cổ đã ghi chép sự việc bằng cách lấy dây thắt nút hay lấy dao chém vào thân cây. Từ đó có loại chữ kết thằng (thắt giây thừng) và loại chữ văn đầu tiên gồm những nét ngoằn ngoèo phác họa hình thể sự vật một cách thô sơ. Vua Phục Hi (2953 trước TC), Hoàng Đế (2698 trước TC) cùng vị quan Thương Hiệt (2700 trước TC) là những người được hậu thế tin là thủy tổ của văn tự Trung Hoa với những « khoa đẩu tự » (giống như nòng nọc) hay « điểu tích tự » (giống vết chân chim). Qua thời gian, những văn tự thô sơ trên biến dạng dần. Khoảng 800 năm trước TC, vào đời Chu Tuyên vương, có vị Sử quan tên là Trứu gom bao nhiêu thứ cổ văn đời trước mà hệ thống hóa lại thành một thứ chữ dùng cho qui củ : Chữ này gọi là Trứu văn hay là Đại triện.\nThành ra, chữ Đại triện đã thực sự xuất hiện từ đời nhà Chu. Cách cấu tạo của Đại triện gồm sáu cách viết gọi là « lục thư » như : tượng hình, chỉ sự, hội ý, hài thanh, chuyển chú, giả tá.\nNgành khảo cổ đã khai quật được nhiều di chỉ về những thứ cổ tự trên những khúc xương và mai rùa. Tại miếu Khổng tử ở Bắc Kinh, người ta có trưng bầy mười cái trống đá khắc chữ Đại triện ghi chép lại một buổi đi săn của một ông vua đời Chu (sống vào năm 827 trước TC).\nVề sau, khoảng năm 213 trước TC, Tần thủy Hoàng giao cho thừa tướng Lý Tư san định lại chữ Đại triện mà bày ra lối chữ mới là Tiểu Triện.\nKể từ sau Lý Tư, văn tự Trung Hoa lại dần dần biến dạng với sự sáng chế của bút lông và giấy để trở thành các chữ khác của đời sau như Lệ tự (của Trình Mạo 200 năm trước TC), Khải tự, Thảo tự (đời Tấn), Hành tự (đời Đường, vào 616 trước TC)… Văn tự Trung hoa đến đời Tống gần như hết biến thái và được tiêu chuẩn hóa để ấn loát gọi là chữ Tống.\nHiện nay, dù là trải qua nhiều thời gian, chữ Triện vẫn được duy trì với sự xuất hiện một cách trịnh trọng trên những khí vật bằng đá và đồng như bia, chuông, đỉnh, khánh và nhất là phổ biến trên những khuôn ấn triện.\nVăn tự Trung Hoa có một đặc thù độc đáo là lấy sự Tượng hình (Pictograms) làm chủ chốt tiên khởi cho sự diễn tả, rồi từ đó mới chuyển qua Chỉ sự (Indicators), Hội ý (Ideograms), Chuyển chú (Deflectives), Hài thanh (Phonograms), Giả tá (Borrowed characters). Con người Trung hoa đời thái cổ đã dùng đôi mắt của mình thu nhận hình ảnh sự vật, rồi dùng bàn tay mà vẽ lại. Những ý niệm khác đều chỉ là sự dùng những hình vẽ tiên khởi mà biểu diễn ra, như ý niệm sáng (minh) là hình phép của hình mặt trời với mặt trăng, ý niệm mở (khai) là hình cánh cửa với bàn tay đẩy ra… (Xin nói trong dấu ngoặc rằng dân Việt nam mình có đặc điểm dùng tai để nghe và ghi chép sự việc nên mình có nhiều tiếng tượng thanh và ngôn ngữ của ta nhiều nhạc tính). Mỗi chữ của Tầu hầu như là một bức vẽ gồm sự bài trí của những đường nét… Chữ Triện là hình thức cô đọng những đường nét cụ thể. Ta có thể nhận định rằng thư pháp của Trung Hoa có một sức truyền cảm của trường phái hội họa ấn tượng siêu hình chăng ?\nNgười Trung Hoa có cái cầu kỳ riêng của họ qua những lối gọi như : thơ mà gợi nhiều hình ảnh thì nói là : thi trung hữu họa (trong thơ có vẽ) ; bức vẽ mà gợi nên nhiều tứ thơ thì lại nói : Vô thanh thi (thơ không có tiếng). Trên một khuôn triện có diện tích bằng một phân vuông, các nghệ nhân Trung hoa đã ký thác đủ thứ : họa, thi, triết lý. Những bậc hiền nhân quân tử ngày xưa ở Trung hoa, thấm nhuần triết lý sống theo Khổng giáo, thường cho vấn đề tu thân (sửa mình) là đầu mối ưu tiên trước khi đi đến sự tề gia (lo việc gia đình), trị quốc (cai quản nước), và cuối cùng là bình thiên hạ (đem lại thái bình cho nhân loại). Muốn tu thân, họ thường viết những bài « minh » để làm tiêu chuẩn mà răn mình.\nXin mời quí bạn nhìn vào vài giòng chữ triện minh họa sự kiện trên :\nHình 1 : viết theo lối Huyền châm thư (hình những cái kim treo) của Tào Hỉ đời Hán sáng chế để chép nhan đề của những chương sách trong Ngũ kinh. Giòng chữ viết câu : « Phù danh nan đắc, nhi dị thất dã ». (Ôi ! Điều danh khó lòng có được nhưng lại dễ mất thay !) cũng như ta hay nói : Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng !\nHình 2 : viết theo Khoa đẩu văn (hình nòng nọc) do Thường Hiệt sáng chế viết thành câu : « Bất khả bất chí ». (« chẳng có thể chẳng quên » nghĩa là nhớ mãi luôn, nghĩ tới là nhớ !)\nHình 3 : viết theo lối Ngư thư (chữ hình cá) sáng chế do Vũ vương khi thấy điềm hên là con cá trắng nhẩy vào thuyền của ông. Giòng chữ là : « Vô Hành khả hối ». (Không làm gì để hối tiếc).\nHình 4 : viết theo Điểu thư (chữ hình chim) do Vũ vương khi thấy điềm hên là con chim đỏ bay vào nhà ông. Giòng chữ là « An lạc tất kính ». (Kính thay cho ai có được điều yên ổn, hạnh phúc).\nHình 5 : viết theo lối Phi Bạch thư (hình vệt trắng bay) do Thái Ung nhìn một người dùng bút lông viết nhanh như bay lướt trên mặt giấy nên nét bút chứa nhiều sợi trắng rất đẹp lẫn ở giữa. Câu viết chữ : « Hoàng hoàng như kính khẩu ». (Khi ta giầu sang phú quí huy hoàng, thiên hạ chỉ kính sợ ta ngoài miệng).\nHình 6 : viết theo Anh lạc văn (hình giải mũ) do ông Lưu Đức Thăng sáng chế sau khi ngắm nhìn chuôi sao Bắc đẩu giống như tua giải mũ. Câu này viết giòng chữ : « Hạnh đức tắc hưng ». (Sống đức hạnh ắt hưng thịnh).\nHình 7 : viết theo lối Tuệ thư (hình bông lúa) do Thần Nông sáng chế sau khi thấy ở vùng Thượng đảng cây lúa trổ được tám bông. Câu viết giòng chữ : « Sở giám bất viễn thị ». (những điều mình có nhiệm vụ coi sóc chẳng thể đứng xa mà ngó).\nHình 8 : theo lối Doanh Minh (bài minh khắc trên cột để nhớ mà răn mình), viết câu : « Hồ thương kỳ họa tương trường ». (dầu cho điều xui họa cứ kéo dài cho ta, đâu có sao).\nHình 9 : theo lối Quán bàn minh (bài minh răn mình khắc trên chậu rửa mặt), viết câu : « Nịch ư uyên do khả du ». (dẫu rớt chìm trong đáy vực sâu, ta cứ lội).\nHình 10 : theo lối Đái minh (bài minh răn mình đeo ở thắt lưng), viết câu : « Thận giới tất mãng mãng tắc thọ ». (Cẩn thận kiêng ăn cữ uống tất mang tiếng thô lậu… nhưng sống lâu).\nHình 11 : theo lối Trượng minh (bài minh răn mình khắc trên cây gậy), viết câu : « Ô hô nguy ư phẫn chí ». (Dễ cáu giận thực là nguy hiểm thay !)\nHình 12 : theo lối Cung minh (bài minh răn mình khắc trên cái cung) viết câu : « Phế hưng chi hành vô tự\n*quá* ». (Chuyện phế hưng cho đời mình – đừng quên rằng chính mình có phần lỗi). **Hình 13 :** theo lối **Đồng thủ triện **(chữ triện theo hình đầu đứa trẻ – hay còn gọi là Hài nhi diện – mặt con nít) mà đời Hán quen dùng khắc triện, viết câu : « *Kiến nhĩ tiền, lự nhĩ hậu* ». (nhìn chuyện đã qua của mày mà lo chuyện sẽ xẩy ra sau). **Hình 14 :** theo lối **Thượng phương đại triện** (lối chữ triện của thừa tướng Lý Tư được Trình Mạo tô điểm lại cho đẹp), viết câu : « *Thực tự trượng, thực tự trượng* ». (ăn thì tự lượng, ăn thì tự lượng) nghĩa là trong cuộc đấu tranh tự tồn, hãy tự trông vào tự lực !\nNgoài những kiểu chữ triện trong những bài minh trên, chúng ta còn ghi nhận nhiều kiểu chữ khác tùy theo trường hợp sử dụng hay tùy theo hình dáng của chữ. Đại khái, ta có thể kể ra khá dài giòng nhưng theo tôi cũng nói lên cái óc tưởng tượng phong phú của dân Tầu.\nKiểu theo dụng cụ :\n- Thù thư : chữ khắc trên khí giới\n- Phần thư : chữ viết trên mộ chí\n- Đào văn : chữ viết trên đồ sứ\n- Chung Đỉnh văn : chữ viết trên đỉnh vạc, chuông\n- Bi văn : chữ viết trên bia\n- Khắc phù triện : chữ viết trên thẻ tre làm phù lệnh\n- Cổ chuyên ngõa văn : chữ viết trên gạch ngói\nKiểu theo hình dáng loài vật :\n- Long thư : chữ viết do Phục hi lúc bắt được rồng\n- Hạc đầu thư : chữ giống đầu chi hạc của người trên viết cho người dưới\n- Hổ thư : theo hình cọp của Sử Dật\n- Thử vĩ văn : chữ giống đuôi chuột\nKiểu theo hình dáng sắc thái của chữ hay liên quan đến tích lịch sử :\n- Đỉnh thiên lập địa văn : do Từ Khải (tự Sở Kim), chữ cao đồ sộ, đầu đụng trời chân chạm đất.\n- Phản văn : chữ viết ngược\n- Phương điền văn : loại chữ vuông nhưng đặc nét của Lý Tư\n- Phù ty văn : chữ viết giống như trên mạng lưới của Tô Hào\n- Hán lệ văn : chữ của Lâu nhan phát, dựa vào chữ Triện vào đời Hán\n- Hán ấn văn : chữ khắc ấn đời Hán\n- Hồi văn : chữ viết theo thứ tự lộn lại\n- Cửu triết văn : chữ gập lại 9 tầng\n- Cửu trù văn : chữ chế theo 9 điều luật của vua Vũ\n- Cửu điệp văn : chữ có nét uốn 9 tầng\n- Mãn bạch văn : chữ có nét rỗng thẳng và hẹp\n- Mãn chu văn : do Lữ đại Lâm có nét đặc đỏ\n- Âm dương văn : chữ khi khắc chìm, khi khắc nổi\n- Thanh trọc văn : chữ do Đỗ Bá đời Tấn, nét dầy nét mỏng chen nhau\n- Tào toàn bi văn : lối chữ nhại từ cái bia danh tiếng Tào Toàn đời Hán, hiện còn lưu lại.\n- Ngọc trợ văn : chữ của Lý dương Băng giống hình đũa ngọc\n- Viên chu văn : chữ son tròn do Triệu Tùng Tuyết đời Nguyên\nKiểu theo hiện tượng thiên nhiên :\n- Vân thư : chữ giống mây bay\n- Yển ba văn : giữ giống sóng nước đổ nghiêng\n- Lôi văn : chữ giống sấm chớp\nQua danh sách khá dài về nhiều kiểu chữ kể trên, chúng ta thấy dân Tầu rất yêu thiên nhiên mà họ cố mô tả bằng những đường nét sơ gợi ý… và tạo ra những dịp dùng văn tự khác nhau.\nDân Tầu lại là một dân thích huyền thoại hóa hay thi vị hóa những sự kiện xảy ra trong thực tế ; ví dụ như những chữ sau :\n**- Mai hoa văn** : do một ông ẩn sĩ tên Lâm Hòa Tĩnh, mặc dù vua ba lần nài nỉ trọng dụng, vẫn thích ẩn dật trên núi, trồng cả thẩy 360 gốc mai để ngắm và sáng chế ra loại chữ Hoa Mai, chữ to chữ nhỏ chen nhau rất đẹp. **- Kim ty khảm thiết lạc văn** : chữ do Lỗ Ban (Công du tử người nước Lỗ), ông tổ nghề mộc, nhân lấy chỉ vàng mà khảm vào gổ, thấy đẹp quá bèn sáng chế ra. **- Phong Vân Tề hội văn** : do Phục Hi lúc nghiên cứu về quẻ Kiền trong Kinh Dịch bèn phán rằng : Vân tòng long, Vũ tòng hổ (mây theo rồng, gió theo cọp) mà sáng chế ra chữ này. **- Trảm đinh văn** : chữ giống như những cây đinh chặt cụt đầu do sự tích Hạng Vũ có lần dẫn quân đi đánh giặc, đã biểu lộ ý chí quyết chiến bèn tuốt kiếm mà chém vào thành đá, chỗ chém hiện thành chữ « Thắng », quân lính thấy vậy chép lại và lưu truyền thành loại chữ « Trảm đinh văn ». **- Điêu trùng triện** : chữ giống như sâu bò, do bà vợ của Thu Hồ nuôi tằm thấy tằm lúc nhúc bò mà nghĩ ra.\nNói tóm lại, kể hoài không hết chuyện của mấy ông « con trời » vẽ vời với giấy mực, nên dân Việt vẫn có câu là : « Đừng kể chuyện bên Tầu ».\nVăn tự Trung hoa thuở đầu còn viết trên những thẻ tre, những miếng gỗ mà người ta bó lại hay lấy giấy kết lại. Để bảo đảm sự kín đáo, người ta lấy đất sét đắp vào nút giây rồi dùng ấn đồng in vào. Tục lệ này tiếp tục mãi về sau cho đến thế kỷ 19 mặc dù giấy đã được phát minh vào thế kỷ thứ hai, đất về sau được thay bằng sáp hay si trám.\nSau thế kỷ thứ hai của Công nguyên, sự kiện giấy được sáng chế khiến cho những ấn triện được đóng vai trò tối quan trọng bảo đảm về tính chất quyền uy và chính thống của văn thư công quyền. Những dấu ấn đúc bằng đồng được đóng trên giấy bằng chu sa hay mực pha nước, hay mật và về sau trộn với dầu. Vào đời Đường, văn học nghệ thuật thi ca, hội họa thư pháp trở nên thịnh vượng và được vua chúa nâng đỡ bảo trợ. Đường Thái tông là người tiên khởi mở đầu truyền thống dùng ấn triện riêng của mình mà đóng trên những sưu tập sách, tranh và bức thiếp thư họa để lưu truyền mãi cho đến hiện đại. Và các hoàng đế về sau cũng bắt đầu dùng ấn triện để làm tặng vật khi sách phong cho những vua của những xứ lân bang chư hầu. Giới văn nghệ sĩ mãi đến thời Mạt Đường và Tống đại mới dần dà dùng ấn triện riêng đóng trên các sáng tác của mình ; nhờ vậy, rất hữu ích cho các sử gia hậu thế dựa vào dấu ấn để nhận định sử liệu…\nKể từ thế kỷ 14, họa gia Vương Miện là người phổ biến sự sử dụng những loại đá tương đối mềm để khắc ấn, khiến cho ngành điêu khắc ấn được dịp rộ nở. Kể từ đó trở đi, chẳng phải duy nhất những tay thợ khắc lãnh công tác khắc ấn triện, mà các thi-văn-họa gia cũng tự tay làm lấy cho mình, và nhân đó, giới này có cơ hội thí nghiệm những ý tưởng, sáng kiến, kiểu thức và kỹ thuật mới mẻ trong sự điêu khắc ấn triện. Chính nhờ sự tham gia này đã khiến từ đời nhà Minh về sau, ở Trung Quốc đã phát sinh nhiều sáng tác phẩm mà trên đó người ta có thể thưởng giám một sự tổng thể về nghệ thuật, nghĩa là cùng một lúc ngắm nghía một bức tranh đẹp, ngâm đọc vài giòng thơ hay phần lạc khoản của tranh, trầm trồ khen ngợi nét khắc tài tình của dấu ấn của trứ tác gia đa tài vậy.\nSự chuyển mình của nghệ thuật khắc chữ triện trên mặt đá đã ghi nhận nhiều người tiên phong kể từ thế kỷ thứ 13 như Triệu Mạnh Phủ, Vương Miện, Văn Bành. Những chữ triện trên những ấn cổ của đời Chu và Tần đã theo thời gian mà trở thành một loại khác gọi là « Mâu triện » với những nét đều đặn, ngay ngắn, nằm trung gian giữa cổ triện và chữ Lệ. Những nghệ nhân đời sau lại dần dà biến Mâu triện này thành « Viên triện » (hay Viên chu triện) với những nét không còn thẳng tắp mà lại lượn cong nhờ sự khắc trên mặt đá tương đối mềm. Những ấn khắc với kiểu chữ Viên Chu này hiện nay còn lưu lại là ấn khắc biểu tự của anh em Tô Thức và Tô Triệt, cùng chiếc ấn ngọc viết hai chữ Nhạc Phi.\nHọa gia Triệu Mạnh Phủ là người tiên khởi đưa cái đẹp của Viên triện trên trong ngành điêu khắc ấn. Sau ông, nhiều trường phái điêu khắc đã lần lượt ra đời với những tay tài hoa mà người đời thích gọi bằng tên của người sáng lập hay vùng địa phương sinh quán của họ.\n**- Hà chấn** – cùng thầy là **Văn Bành** – đã thay đổi sâu xa chữ Viên triện, làm thành một nhóm gọi là Văn-Hà. **- Trình Toại**, kế nghiệp Hà chấn, lại lập ra « *trường phái An Huy* * »* cùng với ba người khác nối tiếp được gọi là Hấp tứ tử (bốn vị tài danh vùng Hấp huyện). Lối cầm dao khắc của trường phái An Huy đã khác với những tay khắc đi trước vốn chỉ biết dùng những đao pháp cổ điển như cầm đao ngang (bình đao), cầm dao nghiêng (trắc đao), cầm dao chuyển quanh (triền đao), cầm dao cắt xén (thiết đao). Trường phái An Huy đưa ra lối đao pháp riêng gọi là « sáp đao », còn gọi là « tỏa pháp », nghệ nhân khắc không nhanh, không chậm mà khoản đãi đè mũi dao khắc xuống rồi rút nó lên một cách khúc khắc, cốt tạo ra những nét khắc như ngôi sao mà chỉ những con mắt thưởng giám tinh tế mới thấy cái sinh động độc đáo. Trường phái An huy thịnh hành vào thế kỷ 17 và 18. **- ** *Trường phái Triết giang* có thủ lãnh phát khởi là **Đinh Kính** ở vùng Tiền đường, cùng với bẩy danh thủ khác trong ngành khắc ấn được người đời gọi là Tây lĩnh bát gia, thịnh hành vào thế kỷ 18 và 19. **- **Nhiều danh thủ khác trong thế kỷ 19 và 20 cũng đã tạo cho họ một chỗ đứng độc đáo qua cách biến hòa kỹ thuật cổ truyền, áp dụng những đường nét thư pháp mới vào điêu khắc cùng cải tổ phương pháp dùng dụng cụ và chất liệu.\nSự điêu khắc những ấn triện thông thường là việc làm của một công nhân như thợ khắc, thợ chạm. Nhưng ở một trình độ cao hơn, là sự thi triển tài năng của một nghệ nhân. Trong nghệ thuật sử Trung Hoa, có vài tay thư pháp gia kiêm họa gia ví dụ như Triệu Mạnh Phủ (hay Triệu Tử Ngang) đã tự tay viết chữ và điêu khắc luôn trên mặt ấn. Những ấn do bàn tay của họ bây giờ trở nên quí hơn vàng ngọc.\nNhà tôi ở cổng thành Đông ba, Huế vào khoảng từ năm 49 đến 52, có cho một người thợ khắc khuôn dấu mướn để hành nghề, nên tôi hằng ngày có dịp quan sát. Ông Đoàn, tên người thợ, vẫn dùng những khúc gỗ cây thị cưa ra làm khuôn dấu. Gỗ thị sắc trắng ngà, có thớ rất mềm dai nhưng mịn mặt vô cùng, rất lý tưởng để khắc chữ. Nhà ông Đoàn ở vùng ngoại ô Kim Long, vùng xôi đậu gần chùa Linh Mụ, hằng ngày vẫn đạp xe đạp để đến làm ở tiệm. Tội nghiệp, đôi khi tôi thấy ông nghỉ việc một hai tuần, lúc đi làm lại thì thấy mặt và môi ông bầm tím và sưng húp. Hỏi tại sao, ông chỉ buồn rầu không nói. Nhưng về sau, tôi mới hiểu cớ sự là Việt Minh ở vùng Kim Long đôi lúc ban đêm đến tìm ông bắt khắc khuôn dấu giả của vùng Quốc gia cho cán bộ của họ hoạt động nội thành, không nghe thì cũng khổ vì sợ cho tính mạng bản thân và gia đình, mà nghe thì bị Mật thám Liên bang Pháp bắt tra tấn. Ưng hay oan, tôi không dám nói. Riêng tôi, tôi thấy ông ấy đã làm tôi ưa thích với công việc khắc dấu của ông và đặc biệt để ý cái cách ông cầm con dao khắc. Nó đặc biệt khó tả lắm, may thay sau 40 năm, tôi tình cờ tìm thấy hình chụp tư thế của bàn tay của nghệ nhân khắc khuôn dấu trong cuốn Chinese Seals của T. C. Lai. Bây giờ, với phương tiện máy móc, công việc của người thợ khắc dễ dàng, mau lẹ và chính xác… nhưng sản phẩm không còn có « hồn » như khắc bằng tay.\nVấn đề nhìn một khuôn ấn triện khắc bằng tay do một nghệ nhân khắc đương nhiên phải khác việc làm một người thợ khắc tầm thường và hoàn toàn khác một ấn triện khắc bằng máy, cũng như nhìn một bức thư pháp cổ bằng bút lông so sánh với trang chữ Tầu được ấn loát.\nGiá trị của một chiếc ấn, trong mắt một phàm nhân, thường chỉ qui tụ vào chất liệu quí giá đã tạo nên nó, chứ thật ra hiếm người đạt đến sự thưởng lãm chân thật về phương diện mỹ thuật điêu khắc những chữ triện trên đó. Đó là nói vào thuở ngày xưa – ít ra cách đây đầu thế kỷ 20 này – khi Nho học còn thịnh, và chữ Nho là chuyển ngữ trong sự giáo dục, thi cử, giấy tờ giao dịch công tư nên những người có Nho học vẫn đọc và hiểu chữ này. Ngay cả vào thuở ông Tú Xương còn lận đận chuyện lều chõng thi cử, chữ Nho đã bị rẻ rúng rồi :\n*« * *Nào có ra gì cái chữ Nho*\nÔng Nghè, ông Cống cũng nằm co\nChi bằng đi học làm thông phán\n*Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò* * ».*\nTrong số những tâm hồn còn lưu luyến cái đẹp của văn tự ngày xưa, họa hoằn ta còn kể đến vài tên trong thuở tiền chiến như Nguyễn Tuân, Vũ đình Liên, Quách Tấn, Đông Hồ, J.Leiba, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… Còn hiện nay là buổi hoàn toàn tân học, sự mến chuộng điều cổ kính đương nhiên phải triệt tiêu. Đọc câu thơ « Ai ơi, trở lại mùa thu cũ, nhặt lấy cho tôi những lá vàng », chắc có người dám chê rằng tâm hồn của người thi sĩ rõ là dở hơi ! Vào đầu thập niên 50, ông Đới Ngoạn Quân qua Sàigòn trưng bày những nghệ phẩm điêu khắc siêu đẳng của ông như khắc cả cuốn Chinh Phụ Ngâm trên một miếng ngà thật nhỏ với bản rộng bằng ngón tay hay bài « Tống biệt » bằng chữ quốc ngữ của Tản đà trên một hột gạo, chữ nhỏ phải soi kính lúp mới thấy nhưng quần chúng Việt nam chỉ tò mò đi xem để trầm trồ khen ngợi về cái tinh vi của ông hơn là thưởng về cái diệu mỹ của nét khắc nghệ nhân của ông.\nSự thưởng thức hay nói đúng hơn niềm « cảm thông » về cái « hồn », cái đẹp của văn tự xưa đã lịm chết theo thời gian, nên thi sĩ Vũ Hoàng chương đã khinh bạc than cho con mắt (hay tâm hồn) của thế nhân thời hiện đại cơ khí với những cái nhìn thực tế và máy móc là nhìn : « gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi ».\nVới tinh thần hiếu cổ và không ngại rằng điều sở học còn thô lậu kém cỏi, tôi mạo muội viết lăng nhăng vài điều thu lượm gọi là bút khảo để thân tặng những ai đang muốn tìm hiểu về thú chơi ấn triện…\nTrên phương diện thú chơi nghệ phẩm, danh họa gia Mễ Nguyên Chương (hay Mễ Phế) đã nói về quan niệm Thưởng Giám đại khái như sau :\n*« Phải phân biệt hai loại người, một là những tay mơ tài tử – đúng ra là dân tò mò kiếm chuyện (háo sự gia) – hai là hạng có con mắt tinh đời biết nhìn để thưởng lãm (*thưởng giám gia *). Loại đầu thường giàu có, ham danh, gặp cái gì cũng bỏ tiền ra mua để khoe mẽ với thiên hạ ; trong khi hạng người sau là những bậc có trí tuệ bẩm sinh, hiểu rộng, biết nhiều… khi gặp một nghệ phẩm như một bức tranh, dù tự họ cũng biết vẽ hay họ đã thấm nhuần óc nghệ sĩ, họ dám bỏ ra một ngày trời ngồi mà ngắm nghía như đang đứng trước tác giả vậy ».* (Cách cổ yếu luận)\nMễ Phế (1051-1107) cũng như Triệu tử Ngang, hiệu là Triệu Mạnh Phủ (1254-1322) đều là những họa gia danh tiếng của Trung hoa, nhưng lại kiêm luôn tài khắc ấn triện.\nNhận định về thẩm mỹ của một chiếc ấn thường dựa vào những điểm nào ? Nói là ấn đẹp, dù cho nó xô xảm về hình thức chất liệu, nó phải toát ra « cái nhã ». Dù là trình bày trong một khoảng hạn chế, chiếc ấn vẫn tỏ ra có cái sức lực chế ngự bên trong ; nét hùng mạnh và nét yểu điệu thục nữ chen nhau ; sự phong nhã phải lấn át cái thô kệch. Còn chiếc ấn tồi là khi nó toát ra cái hời hợt nông cạn của người khắc ; khoảng đỏ khoảng trắng không cân xứng ; chiếc ấn thiếu hẳn cổ-điệu, nó chỉ nhắm vào sự sắc lẻm hời hợt của đường dao, nó thiểu lực và tầm thường, cái tinh xảo của nhân công lấn lướt hẳn cái tinh mỹ của nghệ thuật.\nTrên mặt thẩm mỹ, những ấn triện rất tương cận với ngành thư pháp duy chỉ khác một điều : nếu thư pháp và khắc ấn cả hai đều nhắm đến cái tác dụng toàn diện, thì cái vùng tác động tung hoành của một chiếc ấn lại hạn chế hơn và muốn thành công, nghệ nhân phải biết thận trọng dự tính và tự chế. Trong khi mỗi chữ phải tự nó có cái đẹp độc lập, thì vì chúng phải nằm gần nhau nên tức thì chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Sự phân bố của khoảng trắng – sự cấu tạo và tư thế của mỗi chữ, sự giao thoa của những nét – bao nhiêu điều này hợp lại hài hòa thì mới gọi là sáng tạo nghệ thuật. Những điều nhận định trên là tôi viết phỏng theo tác giả T.C Lai trong cuốn Chinese Seals của ông.\nÔng T.C. Lai còn nói thêm rằng : Đừng hòng lấy ngôn từ mà phân tách cái đẹp trong mỹ thuật mặc dù rằng người ta cố gắng chứng minh về sự bài trí đặc biệt của những chữ hay về nét lượn bất ngờ của một nét nào đó mà người ta nghĩ rằng là những yếu tố góp phần tạo nên cái đẹp. Tuy nhiên, nhận định về những ấn triện, người thưởng giám có thể phê phán là chiếc này nhã, chiếc kia khỏe, chiếc này tung tăng đùa đỡn, chiếc nọ tinh khôn, chiếc này chín muồi chững chạc, tinh tế, chiếc nọ phong phú dồi dào…\nSau đây là những yếu tố mà nghệ nhân khắc ấn triện thông thường phải đạt đến khi hành động :\n**-** ** Đạt cái « Khí »** là nghệ nhân phải thuần thục về lục thư (sáu kiểu viết tiêu chuẩn của chữ Tầu) nhất là chữ « **Triện** » và « **Lệ** ». Nghệ nhân phải nắm vững những nét rắc rối trong cấu trúc của những chữ và cái tinh tế của ngành điêu khắc ấn. Ông phải có một nhận định sáng suốt và sâu sắc của công việc. Và phải nhìn gương sáng của Triệu Mạnh Phủ và Văn Bành mà hiểu rằng những nghệ nhân lớn trong ngành khắc ấn triện cũng là những thư pháp gia lớn. **-** ** Đạt cái « Tinh »** (hoặc cái Thần) nằm ẩn tàng trong vật thể. Cái tinh thần không ở trong chiếc ấn mà trong nghệ nhân, nếu chính ông ta không có tinh thần thì chiếc ấn chẳng có nốt. Nghệ nhân không tinh thần thì hơi thở yếu ớt, ngón tay vụng về, và kết quả sẽ tồi tệ thảm bại. Nó tựa như buồn ngủ mà nói chuyện, mắc ói mà… uống nước vậy. Nhưng đạt « **tinh thần** » thì ngón tay nghệ nhân như được chắp cánh, và mũi dao khắc của nghệ nhân như phát hào quang. **-** ** Đạt cái « Hứng ». **Hứng là vô hình và như ảo tưởng, nhưng một khi hứng đến khó mà đè nó xuống. Có hứng, thì nghệ nhân coi như là được nói chuyện với tiên thánh thần linh. Có hứng thì ban đêm đang ngủ tự nhiên bừng thức giấc – choàng dậy bắt tay vào sự khắc – chẳng cần hiểu phải thế nào và tại sao hay không tại sao lại tuân theo qui luật hay phương pháp nào. Kết quả nó giống như tiếng hát của tiều phu, ngư phủ cất tiếng hát không cần theo điệu nhịp nào nhưng cứ phát ra êm tai và tự nhiên gì lạ. **-** ** Đạt cái « Cổ »** : Có ba cái cổ là cổ về diện mạo, cổ về phong thái, cổ về hình thức.\nCái diện mạo khó có thể ép buộc được ; cái phong thái thì tùy con người ; và hình thức thì phải tùy cơ mà thích hợp.\n- Diện mạo nói là cổ nó giống như vết đồi mồi trổ trên mặt một lão nhân, hay cái tuyết mốc của mặt đồng ; áp dụng vào chiếc ấn thì là cái vẻ mòn cũ và rách xước của tuổi tác hay sự tàn phá của nước xói, lửa nung.\n- Phong cách nằm giữa mũi dao và mặt chữ. Nếu đường dao đi khắc khổ gập ghềnh, thì đó là cái cổ uy nghi ; nếu kết quả là một sự thanh thản thì đó là cái cổ thanh minh ; khi mũi dao vượt ra khỏi cái tầm thường nhân thế, thì đó là cái cổ phong nhã ; khi mũi dao không bị nhuốm cái khuôn sáo, thì đó là cái cổ kỳ quan.\n- Muốn đạt cái cổ về hình thức, nghệ nhân chỉ cần thân thuộc với những trang cổ triện, đắm mình trong những món đồ cổ ngoạn.\nCái đẹp của ấn triện của người văn thi nhân thông thường là đẹp một cách dung dị và bình thản, chứ không ở chỗ phức tạp, cũng tựa như một cành hoa, một đám cỏ lơ thơ trước một túp lều tranh, hay vài con cá tung tăng trong nước hồ trong suốt, tự chúng đã toát ra cái đẹp rồi.\nNgoài ra, tính chất thanh tế cũng là một điều quí nếu nó làm tương phản cái thô nhám, gồ ghề… Mũi dao gập ghềnh cũng tựa như khúc gỗ ngàn năm, đặc sắc ở cái rời rạc thưa thớt… Còn mũi dao thanh tế thì phân biệt ở cái điểm vạch ra những nét nhỏ nhắn mảnh khảnh, nhẹ nhàng, chính xác. Cái thanh tế điểm xuyết phơn phớt cũng giống nàng Tây thi đang an giấc điệp ; còn nó nhí nhảnh nhộn nhàng, nó sẽ gợi nên hình ảnh của nàng Dương quí phi say đang múa khúc Nghê thường.\nNhững nét khắc nhẹ thường gây cảm giác thoải mái như một vài thoáng mây, một đôi nhánh liễu rủ… Nếu không có tài, mà cố tô điểm bằng nhiều nét thì cũng giống như vẽ thỏ mà chấm thêm… sừng.\nCông việc của một nghệ nhân khắc ấn triện khác hẳn công việc của một thư pháp gia : thư pháp gia có cả một trang giấy để tung hoành ngòi bút của mình, còn nhà khắc triện chỉ có thể làm việc trong phạm vi của một khoảng nhỏ rộng trên dưới một phân vuông. Ngoài ra ông ta còn phải biết vận dụng tài nghệ của mình sao cho thích nghi với cương độ của vật liệu, với sự nhuệ độ của nhãn lực theo dõi những đường nét li ti. Chữ Hán thường gồm nhiều nét phức tạp phân bố trong một hình vuông tưởng tượng. Nếu chữ « nhất » viết bằng một nét ngang, thì chữ « diêm » (muối) gồm đến 24 nét ; nếu có những chữ ngắn và rộng thì lại có chữ dài và cao. Do đó, người khắc phải liệu mà phân bố những chữ khác kích thước làm sao cho chúng nằm hài hòa trong một khoảng hạn chế. Thông thường, sự bài trí của các chữ Hán đều theo một qui luật : bắt đầu từ góc mặt bên phải rồi đi xuống, xong di chuyển từ phải qua mặt. Tuy nhiên, người khắc phải linh động điều khiển những sự tương quan giữa những nét trong một chữ, và giữa những chữ kế cận sao cho đồng thanh đồng thủ với khoảng rất hẹp của khuôn ấn.\nGiai đoạn sau đó là viết mẫu chữ hoặc là viết trực tiếp trên mặt gỗ hay đá, hoặc là viết trước trên giấy bản rồi dán lên. Mặc dù sự thao tác của mũi dao khắc là vấn đề kỹ thuật thuần túy, nhưng những chuyên gia đã cố gắng luyện làm sao cho mũi dao khắc càng gần cái điệu nghệ của ngòi bút thì càng lý tưởng, nên mới có danh từ « ngòi bút sắt » để tôn vinh cho những lưỡi dao khắc tài tình trên mặt ấn. Một nét dao khắc phải gọt đi, chuốt lại trên một nét chữ là một việc làm cần tránh đến mức tối thiểu nếu không bị chê là vụng vậy. Tuy nói vậy, những nét khắc quá sắc và quá ngọt chưa hẳn được tán thưởng vì bị cho là tiểu xảo, máy móc.\nNgười Tầu chuộng cái « cổ » nên nét khắc phải mang hơi hướm đúng cái tinh thần của những giòng Hán triện ấn. Đã rất nhiều người lấy giấy bản in rập lại những chữ khắc trên những tấm bia cổ để học cái đẹp của cổ nhân. Tôi xin kể quí bạn nghe một giai thoại về chuyện chép chữ triện của người Tầu, nó nói lên tinh thần hiếu cổ cầu kỳ của họ :\nỞ vùng Thiểm tây, có ngôi chùa Long Khánh, đặc biệt có tấm bia viết chữ triện tên là Bích lạc văn bi, dựng vào đời Đường rất danh tiếng. Không biết loại chữ triện bí hiểm thế nào mà thư pháp gia Lý Dương Băng mê mẩn nhìn ngắm bẩy ngày không chịu rời bước và ông đã bỏ ra 12 năm để học lối chữ Bích lạc bi văn này… nhưng không thành công. Cuối cùng phát cáu, ông cầm đục đánh vào bia, nên tấm bia mang những vết mẻ… bây giờ du khách còn nhìn thấy (sic).\nTôi lại kể thêm về một phong tục của Tầu thời xa xưa, khi một đứa con trai được đẻ ra, người ta bèn tặng cho nó một miếng đồng, rồi gia đình nó bèn chôn dưới đất chờ cho đứa trai này đến tuổi thanh niên sẽ đào lên mà khắc ấn. Những chỗ đồng han rỉ được ham chuộng lắm. Điêu ấn gia Hà Tuyết Ngư rất nổi tiếng về lối khắc chữ ấn trên đồng han rỉ được trịnh trọng gán cho một cái tên là lối chữ « Lạn Đồng Văn » (Lạn đồng là đồng nát).\nNhìn một cái ấn, đôi khi người ta thấy một vài chỗ trống để trắng hay ở đường viền bị sứt, hay một nét chữ hơi mờ, đó chính là sự khuyết điểm hữu ý để tạo ra tính chất phóng khoáng về nghệ thuật.\nTrong nghề điêu khắc ấn, người điệu nghệ có thể nhận định được những thế đao pháp tùy theo sự thao tác của người khắc ấn mang những tên ly kỳ như đường múa về kiếm pháp vậy :\n-\n*Khinh đao pháp* (dùng mũi dao khều nhẹ)\n-\n*Xung đao pháp *(lối vung đao khắc thật lẹ như chim bay nên còn gọi là « phi đao »)\n-\n*Trì đao pháp : *để khắc rất chậm nhưng nét lại sâu\n-\n*Chánh đao pháp :* khắc chữ thật thẳng\n-\n*Song nhập chánh đao pháp :* để khắc những nét thẳng nhưng có hai đường ; góc nét lại tròn.\n-\n*Mai đao pháp :* vùi mũi dao xuống trong đá để theo chiều của nét chữ khắc.\n-\n*Lưu đao pháp :* dùng để lưu lại những nét rời rạc buông lơi ở những chỗ hai nét nối liền…\n-\n*Phúc đao pháp :* lật mũi dao ngửa lên\n-\n*Thiết đao pháp :* đè dao mà xén xuống\n-\n*Thưởng thượng phỏng hạ lưỡng đao pháp :* đưa mũi dao húc ngược đè xuôi thật thẳng góc, thật chắc nịch để tạo ra những nét rất mảnh dẻ và thẳng\n-\n*Vũ đao pháp :* dùng mũi dao đào hai bên một đường có nét đôi, như đang múa xàng bên phải, xê bên trái, tựa như người bị… gai chích, vai bên này một phát, vai bên kia một phát, do đó vũ đao pháp còn gọi là *thích đao.*\nChúng ta không tinh thông Hán tự, mù tịt về thư pháp Trung Hoa đã đành mà còn là những phàm nhân trên phương diện nghệ thuật, đương nhiên khó mà hiểu được cái tinh diệu của những thao tác của nghệ nhân. Để kết luận trên nghệ thuật về ấn triện, tôi xin mượn lời của học giả Jiu-fong L. Chang đã viết như sau :\n*« Trong bàn tay của một nghệ nhân chân chính, sự khắc triện đích thị là một phương tiện giúp ông thỏa mãn một cách chân thật sự tự biểu lộ tâm hồn sáng tạo của mình về cá tính cũng như về hội họa và thư pháp. Dù rằng ông phải thấm nhuần học hỏi về truyền thống, cái phong điệu của ông – nói ra một cách rõ ràng và không lầm lẫn – là phong cốt riêng của ông và nó luôn luôn phản ánh cái nhân cách của ông ». *(Jiu-fong L.Chang, Introduction viết đề tựa cho cuốn Chinese Seals của T.C. Lai, January 1996, Seattle, Washington).\nTrong những thú về nghệ thuật cổ truyền của Trung Quốc như văn, thi, họa, thư pháp, cầm, kỳ, chơi cổ ngoạn… thì thú chơi ấn triện ít được người ta hiểu nhất, không những cho chúng ta, dân Việt đã chịu ảnh hưởng Hán học trót ngàn năm đã đành, mà ngay cả chính với đa số dân Tầu hiện đại nữa, nói gì các nước Tây phương…\nCái hay đẹp của ngành thư pháp và ấn triện bắt nguồn từ lòng tôn sùng chữ Nho, nhưng dân tộc chúng ta trong một khúc quẹo lịch sử vào cuối thế kỷ 19, đã ly khai với địa bàn văn hóa Trung Hoa, chấp nhận chuyển ngữ là chữ quốc ngữ ráp bằng mẫu tự la tinh, nên Hán tự không còn chút chân đứng trong ngành giáo dục. Nho tự đã trở thành một loại tử ngữ bên cạnh bao nhiêu sinh ngữ Anh, Pháp hiện đại. Do đó, một trong những điều khó nhất của ta là đã không có cái chìa khóa văn tự để tìm hiểu trực tiếp về văn chương, triết lý của ta và của Trung hoa trong quá khứ. Còn dân Tầu hiện ở Hoa Lục chỉ học Hoa ngữ giản thể thì cũng không hiểu cha ông của họ viết gì !\nDo đó, trên phương diện khảo cổ, sự tìm hiểu sơ lược lịch sử và sự phát triển của ngành ấn triện của Trung Hoa thực là bổ ích, vì ấn triện ngoài cái công dụng cụ thể là những khuôn ấn in trên mặt giấy còn là sự biểu lộ về tư tưởng, triết lý, nghệ thuật của cổ nhân ở Cổ Á Đông.\nBên cạnh những ấn triện tư dụng như « danh ấn », « biểu tự ấn », bút hiệu ấn, cùng những ấn niên hiệu của vua chúa các triều đại quí giá về lịch sử, kho tàng ấn triện Trung quốc còn loại ấn gọi là « từ cú ấn », khắc luôn một câu, đã phản ảnh nhiều khía cạnh lý thú nói lên cái triết lý nhân sinh của tác giả nghệ nhân.\nXin mời quí bạn duyệt qua vài cái ấn ý nghĩa sau :\n- Ấn 1 : « Đắc nhất nhật nhàn vi ngã phúc » (Được một ngày ngàn là tôi hạnh phúc) của Văn Bành.\n- Ấn 2 : « Sài môn thâm khấu » (Cửa củi sơ sài đóng kín) của Hà Chấn.\n- Ấn 3 : « Giang lưu hữu thanh đoạn ngạn thiên xích » (Giòng sông chảy rì rào dưới chân vách núi cao ngàn thước) của Đặng Diễm.\n- Ấn 4 : « Khiêm khoái thị bảo thân đệ nhất pháp » (Giữ thân tốt hơn cả là biết khiêm nhường).\n- Ấn 5 : « Vũ quá lạc hoa hồng bán khê » (Mưa tạnh, nửa mặt suối đỏ vì hoa rơi rụng).\n- Ấn 6 : « Nhân nhàn trọng văn tình » (Người nhàn quí trọng buổi chiều êm)\n- Ấn 7 : « Nhất nhật tam thu » (câu lấy từ Thi Kinh Quốc phong là : « Nhất nhật bất kiến như tam thu hề ». Một ngày không gặp tựa ba thu)\n- Ấn 8 : « Thiên lý kiến thư như kiến diện, vạn sơn già mục bất già tâm » (Ngàn dặm đọc thư như thấy mặt, Vạn sơn che mắt chẳng che tim)\n- Ấn 9 : « Hạnh hoa xuân vũ ». (Mưa xuân trên nhánh hạnh hoa)\n- Ấn 10 : « Kiếm đảm cầm tâm ». (Hai vai, một kiếm một đàn ; Võ uy can đảm, hồn tràn nhạc âm)\n- Ấn 11 : « Bằng quân truyền ngữ báo bình an » (dựa theo câu thơ của Sầm Tham : Mã thượng tương phùng vô chỉ bút. Bằng quân truyền ngữ báo bình an. Xin dịch là Lưng ngựa gặp nhau không giấy bút. Nhờ anh nhắn hộ vẫn bình an)\n- Ấn 12 : « Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ ». (dựa theo thơ của Lục du : Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ. Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa ; Mưa xuân lều nhỏ lắng nằm, Tinh sương ngõ hẹp rao rằng : « Hạnh hoa ! »)\n- Ấn 13 : « Minh Nguyệt tiền thân » (có thể dựa vào hai bài thơ của hai thi nhân :\nCủa Tư không đồ qua câu : «\n*Tình phong kim nhật. Minh Nguyệt tiền thân ». *(Kiếp này gió tạnh đời ta. Hẳn là kiếp trước ta là trăng suông).\nCủa Bạch cư dị qua câu : «\n*Thủ bả dương chi lâm thủy tọa. Nhàn tư vãng sự tự tiền thân ».* (Bờ suối ngồi cầm một nhánh dương. Vẩn vơ kiếp trước nhớ muôn đường).\n- Ấn 14 : « Thị tửu kiến thiên chân » (dựa vào thơ Đỗ Phủ gởi Lý Bạch : «\n*Kịch đàm lân dã dật. Thị tửu kiến thiên chân » – *Kẻ thích ăn nói bộc trực không ưa người dân quê ăn nói ý tứ ; người nào ưa rượu thường bộc lộ cái thiên chân của mình)\n- Ấn 15 : « Thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt » (lấy trong Xích bích phú của Tô đông pha :\n*Duy giang thượng chi thanh phong dữ sơn gian chi minh nguyệt. *Nhĩ đắc chi vi thanh. Mục ngụ chi nhi thành sắc. Thủ chi vô cấm. Dụng chi bất kiệt. (Kìa gió mát thổi trên sông, kìa trăng sáng soi trên núi. Tai mình nghe tiếng gió. Mắt mình ngắm mầu trăng. Của này chẳng ai cấm. Dùng hoài không hề cạn).\n- Ấn 16 : « Thiên hà ngôn tai » (Trời kia chẳng nói sao !) Dựa theo\n*Luận ngữ *qua mẩu đối thoại ngắn này : Khổng tử nói : « Ta không nói nữa đâu ! » Tử cống bèn hỏi : « Thầy không nói thì học trò làm sao thuật dậy lại cho đời sau ? » Khổng tử đáp : « Trời kia chẳng nói sao ? Bốn mùa luân phiên đến, vạn vật đều sinh sôi ! Trời kia chẳng nói sao ! »\nNhững chiếc ấn mà tôi đan cử ở trên thuộc về một loại ấn đặc biệt mà những nhà sưu tập rất thích mà họ gọi là «\n**Nhàn Chương**\n\nInconnu(e) BÁCH PHÚC TOÀN ĐỒ TREO LẤY HÊN NGÀY TẾT\n\nInconnu(e) BÁCH THỌ TOÀN ĐỒ\n\nInconnu(e) CHỮ TRIỆN TRÊN TRỐNG ĐÁ, MIẾU KHỔNG TỬ (BẮC KINH)\n\nInconnu(e)\n\nInconnu(e)\n\nInconnu(e)\n\nInconnu(e) ẤN NGỰ DỤNG NHÀ THANH\n\nInconnu(e) ẤN CỦA TỀ BẠCH THẠCH : NGUYỆN ĐẮC BIẾN QUAN THIÊN HẠ DANH TÍCH\n\nNgười Việt mình vẫn quen kể về một nhân vật lịch sử nối tiếng là thông minh từ thuở bé, mà tôi rất tiếc đã không nhớ tên họ. Vì chuyện này liên quan đến đề tài về ấn triện, tôi xin thuật lại như sau :\nỞ một làng kia, có một đứa bé trai mới lên sáu, lên bảy gì đó, cha mẹ nó nghèo phải đi làm việc bên ngoài vắng mặt luôn, nên thường để nó chơi lê la một mình ở nhà. Một hôm, có người chủ nợ đến đòi tiền thì thấy nó đang ham mê chăm chú lấy đất sét nặn một con voi… Ơ kìa, con voi đất lại cử động được… Ông khách đòi nợ thích thú nhìn kỹ thì thấy thằng bé đặt voi đất trên mai lưng của một con cua đồng, vòi voi là con đỉa, tai voi là hai con bướm.\nKhách hỏi : « Bố Mẹ mày đi đâu ? Tao lại đòi tiền mà Bố Mẹ mày nợ tao đây ».\nThằng bé trả lời : « Bố đi « chặt sống trồng chết », còn Mẹ đi « bán gió mua trăng ».\n- « Mày nói quái gì mà tao không hiểu ? » Ông khách gắt, nhưng thằng bé nói : « Cháu nói thế mà Bác không đoán ra sao ? Nếu cháu giải nghĩa ra, Bác tha nợ cho Bố Mẹ cháu nhé ! »\nKhách thấy nó là con nít bèn hứa dối rằng : « Được ! Tao không đòi nữa đâu. Nói đi ! »\n- Thưa, bác lấy cái gì làm bằng chứng bác đã nói vậy ?\nKhách bèn lại hứa ẩu : « Có con voi của mày làm chứng được không ? »\nThằng bé bảo ừ và nói : « Bố cháu đi « chặt sống trồng chết » nghĩa là đốn cây tre tươi về làm cột hàng rào, và Mẹ cháu « bán gió mua trăng », tức là đi bán quạt để có tiền mua dầu phọng thắp đèn ban đêm ».\nKhách nghe xong, khen : « Thằng này giỏi, giảng nghe được lắm ! » và ông rảo bước ra về. Nhưng thằng bé chạy theo và lẹ làng nắm lấy ngón tay cái của khách rồi đè dấu in trên lưng con voi mà nó vừa nặn bằng đất sét còn ướt. Làm xong, nó ù té bỏ chạy, khiến khách ngỡ ngàng không hiểu gì cả.\nVài hôm sau, ông khách trở lại đòi tiền, lần này gặp cha mẹ nó ở nhà. Nhưng thằng bé nói ngay : « Bác đã hứa không đòi nữa rồi mà ? » Khách chối : « Tao hứa lúc nào ? »\n- Thưa Bác, có con voi làm chứng… với dấu tay của Bác in trên lưng nó đây này !\n(Để câu chuyện có tình, có lý thì ông khách là người hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, bèn xóa món nợ chẳng đáng bao nhiêu… và xin thằng bé làm con nuôi để cho nó được học hành nên người !)\nDùng ngón tay in trên giấy chính là sự « điểm chỉ » mà người mình ngày xưa không biết chữ vẫn quen làm thay chữ ký trên những tờ văn khế, giấy nợ vậy.\n*« Chỉ » *không có nghĩa là giấy, mà là « ngón tay » (mẫu chỉ là ngón cái, thực chỉ là ngón trỏ để chỉ trỏ, nhưng gốc là để chấm mút).\nVề vấn đề dùng đất sét, thì ngày xưa trước thế kỷ thứ hai lúc giấy chưa được sáng chế, người ta dùng thẻ tre hay tấm ván để viết, xong rồi bó lại xỏ xâu bằng giây, cuối cùng đắp đất sét khằn lại rồi đóng dấu vào để gởi đi, điều này gọi là : « phong nê » (phong kín bằng đất bùn sét), mãi về sau mới dùng sáp ong (\n**phong lạp**) hay trám xi. Chuyện đóng kín công văn thư tín nói chung là « hộ phong\nTục viết thư xong rồi ký tên bên dưới, theo sử Tầu, bắt đầu từ đời Lục Triều. Chữ ký thường gọi là « Hoa tự » (Chữ hoa), hay « áp tự » (Chữ in đè), nên các tờ khế ước, giao kèo được ký gọi là «\n*Hoa Áp » *(hai chữ trên rút lại) với tên gọi ( **danh) **và tên chữ ( **tự**). (Tên « tự » thường là tên nói rõ cái ý của tên gọi, hay còn gọi là « biểu tự » ví dụ, con của đức Khổng tử có danh là Lý (cá chép) nên tự là Bá Ngư).\nTrên một tờ đơn xin, hay một tờ biểu tấu, mà cấp trên ừ thuận cho thì được phê chữ « hành » (làm đi) hoặc dùng bút chấm một cái dấu giống hình đuôi chim gọi là « Phượng vĩ nặc » (Nặc là chấp thuận, còn « nặc » là dấu tên như thư nặc danh thì chữ nặc này viết giống nặc (ừ) nhưng bị viết với cái khuôn che đi.\nVề danh từ cho các thứ ấn Tầu thường được dùng như sau :\n**Bửu (Bảo) **dùng cho khuôn dấu của hàng thân vương. **Ấn **dùng cho cấp quận vương. Ấn cũng được gọi là **Chương**, hay **Phù. Kiềm ký **và **Đồ ký **cho các cấp quan dưới. Những thường dân thì ấn dùng được gọi là **tư ấn **hay **tiểu ấn**. Ấn thường dùng có nhiều cỡ gộp chung thành một bộ gọi bộ ấn mẹ con ( **tử mẫu sáo ấn**). Chữ « **tỉ** » thì thời thượng cổ chỉ ấn chung cho mọi cấp, kể từ đời Tần và Hán về sau, tỉ chỉ dùng cho hoàng đế thôi. Một điều đặc biệt là ấn của các vị khâm sai, đại diện cho vua lúc thi hành sứ mệnh, thì Ấn được gọi là « Quan phòng », như ở Việt nam triều Nguyễn cũng dùng như « Biên Hòa tuần phủ quan phòng » hay các quan chánh chủ khảo thay mặt vua để chấm các kỳ thi.\nẤn Quan phòng có hình vuông, ngày xưa vua chúa sợ giả mạo thì cho đóng chồng lên hai mép giấy, nửa trên sổ cái, nửa trên giấy con, tựa như dấu « giáp phùng\nVề hình thức của chữ, chữ khắc nổi (in relief) dùng cho « dương triện » ; chữ khắc chìm (in intaglio) dùng cho « âm triện ». Dương triện và âm triện từ xưa đến nay đều được mọi giới, nhất là giới văn nghệ sĩ, ưa chuộng. Một họa sĩ có hai triện âm và dương thường dùng luôn cả hai để đóng vào tác phẩm, trông rất nổi bật vì tương phản, rất bắt mắt. Còn trên hôn thư giá thú, tân nương dùng âm triện, tân lang dùng dương triện để nói lên cái hòa hợp của vũ trụ.\n*Nhưng qui luật lại bắt buộc rằng ấn của vua, quan, và của công quyền nha bộ phải dùng *dương triện *.*\nẤn nghĩa thông dụng ta quen hiểu là in. Kỳ thực chữ «\n**ấn** » nguyên thủy là hình cái khuôn ấn.\nChữ Nho chỉ cái ấn đầu tiên là chữ «\n*Khanh »*, vẽ ra hình cái khuôn dấu gồm hai phần giống nhau ráp lại. Ngày xa xưa, khi Thiên tử phong chức cho một chư hầu hay một cận thần thân tín, thường giao cho họ một miếng gỗ, hay một miếng ngọc cưa đôi, Thiên tử giữ nửa mảnh, còn mảnh kia thì trao cho vị vừa phong chức ý nói lên sự tin dùng. Do đó, chữ ấn thường đi đôi với chữ tín là vậy. Cũng xin nói thêm, một thẻ tre hay thanh gỗ chẻ ra, vua giữ một nửa, người kia giữ nửa kia còn gọi là « *phù », *nên về tên gọi nói là **ấn phù **hay **ấn tín **đều đồng nghĩa cả.\nChữ « Ấn », về sau được thực sự vẽ ra hình cái bàn tay phải cầm một mảnh phân nửa cái ấn nguyên thủy ở trên bị cưa đôi.\nNgười Tàu thuở xưa coi chiếc ấn là biểu tượng cho những chức quan mà vua thường ban như các chức khanh tướng công hầu. Do đó về thiếp chúc Tết của Tầu, đôi khi họ thích chơi chữ trong sự chúc tụng, ví dụ một người nhận được cái thiếp đề chữ « thụ phong quí ấn » nhưng lại vẽ hình con khỉ (hầu) leo lên một cây phong (maple), đang với tay khều lấy một tổ ong (cũng nghĩa phong) và lấy cái túi vải đựng ấn. Toàn hình vẽ nói lên lời cầu chúc hy vọng được thăng quan lớn !\nĐọc sử ai cũng biết Nguyễn Hoàng bị Trịnh Kiểm ghen ghét muốn ám hại để trừ mối lo tranh dành quyền lực về sau, nhưng Nguyễn Hoàng khôn ngoan xin với chị ruột của mình là Ngọc Bửu, vợ của Trịnh Kiểm, cho đi trấn thủ Thuận Hóa. Nhưng đến đời Trịnh Tùng, con của Trịnh Kiểm, vẫn còn hiềm nghi, Nguyễn Hoàng lại để người con thứ năm và cháu nội ở lại ngoài Bắc làm con tin. Thế vẫn chưa đủ, Nguyễn Hoàng lại đem con gái mình là Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng là con của Trịnh Tùng. Khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha, bà Ngọc Tú bí mật cho người vô gặp anh để trao một phong thư và một cái ấn rất quí hàm ý mong đợi anh thành công trong nghiệp lớn. Người trao thư và ấn là Nguyễn Cửu Kiều được chúa Sãi trọng thưởng và gả con gái là Ngọc Đỉnh cho.\nQua truyện trên, chúng ta thấy lòng người nham hiểm khó dò, nhìn bề mặt thì rất thân thiện, kết giao tình hôn phối với nhau, nhưng trong thâm tâm những người trong cuộc luôn chờ dịp hại nhau.\nĐọc lại cuốn «\n*Đại Nam thực lục chánh biên* », chúng ta thấy một huyền thoại về hình ảnh chiếc ấn như sau : Trong thời gian Nguyễn Ánh còn đang chạy trốn quân Tây sơn ở Nam Kỳ, thì người vợ thứ hai được lấy vào 14 tuổi bản thân cũng phải luôn luôn trốn chui trốn nhũi nhiều nơi kẻo sợ bị giặc giết…\nHằng đêm, bà vợ trẻ thắp hương khấn trời đại khái rằng :\n« Trong hoàn cảnh nguy kịch của nước non, nhà vua và quân thần phải chạy tỵ-nạn khắp nơi, không nhất định ở chốn nào. Nếu trời cao thương cho tôi một đứa con trai, thì tôi sợ vì tình cảnh rối loạn khó khăn, tôi sẽ đau lòng mà dứt bỏ con đi, và nếu tôi bồng bế chạy theo vua thì sẽ gây ra bao nhiêu phiền lụy, vướng bận cho vua. Đằng nào cũng khó xử cho tôi. Nếu số phận trời cho tôi có đứa con trai, thì xin Trời cho tôi sinh nó ra một khi nước non yên giặc. Nếu quả được thế, tôi xin đội ơn trời ».\nKhi Nguyễn Ánh lấy lại Gia định, bà thiếp này mơ thấy một vị Tiên ban cho bà\n**một cái ấn và hai khuôn dấu**. Chiếc ấn màu thật đỏ, chiếu sáng như mặt trời, còn hai khuôn dấu, một là màu tía, một là tía nhạt hơn nhiều, tất cả đều trao cho bà cả.\nVào năm 1791, bà thiếp này 24 tuổi, sinh ra một hoàng tử ở phường Tân Lộc, Sài gòn. Và năm 1832, hoàng tử này đã lên ngôi vua với niên hiệu Minh Mạng được 13 năm bèn lập một ngôi chùa gọi là Khải tường tự để kỷ niệm điềm tốt lành mà mẹ ngài ngày xưa đã được trời báo trước cho như ý nghĩa của hai chữ « khải tường ».\nBà này là Đệ nhị phối Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu của Thế tổ Cao Hoàng Đế Gia long. Đệ nhị phối là vợ thứ hai, còn bà vợ thứ nhất của vua là bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu đã sinh ra Thế tử Cảnh (1779-1801) chết vì đậu mùa ở Diên khánh và Hoàng tử Hy (1782-1801) chết trận đánh với Tây sơn cũng ở Diên Khánh. Do đó, vua Minh Mạng mới được truyền ngôi.\nNhư vậy, điềm bà mẹ của vua Minh Mạng nằm mơ thấy một ấn với hai khuôn ứng vào sự lên ngôi của Vua cha Gia Long và vua con Minh Mạng.\nĐọc chuyện Tàu thời Chiến quốc, ai cũng nhớ đến một nhân vật nổi danh tên là\n**Tô Tần**. Sở dĩ tôi nhắc đến Tô tần ở đây là vì có liên quan đến chuyện những chiếc ấn của ông đã được lưu danh trong lịch sử, và nhất là được làm điển tích trong văn chương.\nTô Tần, tự là Quy-tử, là người tài giỏi ở xứ Lạc Dương. Nhưng thuở hàn vi, ông phải bỏ nhà ra đi kiếm sống vì ở nhà ông bị vợ và chị dâu khinh khi chửi mắng. Ông lang thang qua nhiều nước, quyết chí dùng ba tấc lưỡi để làm công việc giống như các nhà ngoại giao bây giờ nghĩa là du thuyết. Đến nước Tần nói mưu mô với Huệ vương, Vương không dùng nên Tô Tần lại về nhà, ăn mặc rách rưới, gặp vợ đang ngồi bên khung cửi… Bà thấy chồng, ngó lơ không thèm bước xuống chào mừng, mà lại nói mát mẻ vu vơ.\nSau Tô Tần lại ra đi, đến nhiều nước đều được dùng làm tể tướng. Ông đã bày thế hợp tung, câu kết sáu nước Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề và Sở để chống với nước Tần là nước mạnh nhất thời bấy giờ. Khi phú quí thành công, Tô Tần về lại nhà, đeo sáu quả ấn tể tướng bằng vàng. Bà vợ thấy, lại quì mọp xuống, cúi đầu xếp tai, mỗi lời Tô nói ra là mỗi dạ, mỗi vâng…\nChuyện này được đưa làm điển tích thi văn cho hậu thế, nói lên sự lòng người tham danh lợi – dù là vợ chồng – thường chuộng phú quí, khinh sự nghèo hèn.\nĐặng Trần Côn nhắc đến điển này trong nguyên tác chữ Nho của quyển Chinh phụ ngâm vào đoạn kết khi nàng chinh phụ mừng đón chồng về như sau :\n*« * *Thiếp phi Tô-gia si-tâm phụ,*\nQuân duyệt Lạc Dương hảo nam nhi\nQui lai thảng bội hoàng kim ấn,\n*Khẳng học đương niên bất hạ ky !* * »*\n(Si-tâm phụ là mụ vợ ngu dại !)\nĐoàn thị Điểm đã diễn ra thơ nôm như sau :\n*« * *Thiếp chẳng dại như người Tô-phụ,*\nChàng hẳn không như lũ Lạc dương,\nKhi về đeo quả ấn vàng,\n*Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao* * »* *.*\n(Khác hẳn chuyện bây giờ với cảnh vài bà vợ lính tham phú phụ bần nên đã thay lòng đổi dạ đối với người chồng đi lao tù cải tạo trở về, nàng chinh phụ điển hình Việt nam ngày xưa không những không dám rẫy ruồng chồng mà lại còn tươi cười hớn hở tiếp đón. Hãy đọc tiếp những vần thơ kế :\n*« * *Xin vì chàng xếp bào cởi giáp*\nXin vì chàng rũ lớp phong sương\nVì chàng, tay chuốc chén vàng\nVì chàng, điểm phấn đeo hương não nùng\nMở khăn lệ chàng trông từng tấm\nĐọc thơ sầu chàng thẩm từng câu\nCâu vui đổi với câu sầu\n*Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời* * »* *.*\n\nTập bút khảo này cuối cùng đã được hoàn tất, nhưng người viết vẫn áy náy vì tự biết rằng sở học còn thô lậu và tài liệu còn hạn chế và thiếu sót. Trong tinh thần khiêm cung và thành khẩn để cầu toàn trách bị, tôi có nhờ vài quí văn hữu giám chính lại bản thảo và cung cấp thêm vài tranh ảnh trước khi lay-out lần chót để in :\n- Người thứ nhất là bạn\n**Nguyên Hương Nguyễn Cúc **ở Dallas (Texas, USA) đã gởi cho mượn nhiều hình ảnh riêng hiếm về Cựu Hoàng Bảo Đại. Anh Cúc là chủ biên chủ bút đặc san *Tiếng Sông Hương *ra đều đặn hằng năm, tờ này đã được nhiều người bất luận gốc Bắc Trung Nam, nhất là dân xứ Huế, tìm đọc vì giá trị biên khảo lịch sử nghiêm túc, chính xác và vì mặt lý thú về văn chương và hoài niệm về đất Thần Kinh cũ.\n- Người thứ hai là văn-họa sĩ\n**Phạm Thăng **ở Calgary (Canada). Anh Thăng vừa là tay sưu tập đam mê về tiền Việt nam xưa, vừa là cây bút biên khảo phong phú về văn hóa miền Nam mà tác phẩm để đời là cuốn *Tiền Tệ Việt Nam.* Qua cơ duyên hãn hữu, anh đã dùng nhiều món cổ vật hay tiền cổ để trao đổi mà thủ đắc đến trên mười tấm bằng sắc với dấu ấn triện của nhiều nhà vua qua các triều đại Tây Sơn và Nguyễn. Anh Phạm Thăng đã đem tâm tình nồng nhiệt của mình mà viết bài Bạt ở cuối sách này, đồng thời lại cho tôi nhiều bức phóng ảnh về vài tờ bằng sắc quí giá.\n- Người thứ ba là thi-họa sĩ\n**Nguyễn đức Hiển** ở Houston (Texas, USA), rất sành về thú chơi cổ ngoạn, am tường tinh tế về văn chương nghệ thuật của cổ Trung Hoa. Qua cuốn thi thoại « Vang Bóng Hạc Vàng », anh Hiển đem bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu mà phóng dịch một cách tài tình thành 17 bài thơ Việt ngữ, phong khí của mỗi bài lại mỗi vẻ một khác nhau. Anh lại hoàn tất hai tập Cổ Thi Nhàn dịch cùng tập thơ Anh ngữ Rain Melody (I&II), tập thơ Việt và Hán văn Thu Vũ. Chính quan niệm về triết lý nhân sinh của anh Nguyễn đức Hiển trên chữ **Nhàn** đem áp dụng vào phạm vi trước tác về văn chương nghệ thuật đã làm tôi nhớ đến một loại ấn triện mà những thư pháp gia kiêm ấn chương gia của Trung Hoa đã lấy tinh thần « nhàn nhã » để khắc nên chúng gọi là Nhàn chương, Nhàn ấn. Do cơ duyên đó, tôi bèn nài nỉ anh duyệt lại bản thảo của tập bút khảo của tôi, ngõ hầu thủ đắc thêm những điều chỉ giáo hay điểm xuyết, nối điêu… Quả đúng như niềm mong ước của tôi, qua hình thức « thư tín ưu tiên » (priority mail), anh Hiển đã đem hết nhiệt tình mà viết cho tôi bức thư sau mà tôi xin đăng ra đây để quí độc giả thưởng giám những kiến thức thâm hậu của anh về phạm vi ấn triện.\nLời thư của anh viết thật gọn, và sắc xảo đi thẳng vào vấn đề như những nhát dao khắc « nhất thiết đao », mỗi lần hạ xuống là một chính xác, ít khi phải tô đi điểm lại.\nNguyên văn lá thư\n*(Ở vài đoạn thư của anh, vì có vài danh từ thuật ngữ hoặc đôi chi tiết chuyên biệt liên hệ đến bút khảo của tôi, tôi xin mạo muội nói dặm vài chữ trong dấu ngoặc để quí bạn được minh tường thêm)* của anh Nguyễn đức Hiển gởi cho tôi như sau :\nThưa anh,\nDưới đây là một vài hiểu biết nhỏ của tôi về triện để anh giám chính cho.\nVề khắc triện có ba yếu pháp : Đao pháp, Triện pháp, Chương pháp :\n**-** ** Đao pháp : **Về đao pháp, ta nên coi tương đồng với « bút pháp », « thư pháp ». Thư pháp hay bút pháp dùng bút và giấy. Đao pháp dùng dao, đá, gỗ, ngà, ngọc, v.v… Cả hai đều cần **khí lực cao nhã**. Có khí cao và nhã là **Vương thái** ; có lực mà không đủ cao, nhã là **Bá thái.**\n(Thái là sắc vẻ, phong độ. Người Tàu thường dùng danh từ Vương và Bá để chỉ định về phong thái, cả hai đều là thủ lãnh thượng thặng đáng nể cả, nhưng về điều ái kính thì Vương hơn Bá. Chẳng hạn Bái công Lưu Bang áp dụng điều nhân nghĩa nên gọi là Vương đạo, còn Sở vương Hạng Võ áp dụng sự tàn bạo nên gọi là Bá đạo, tuy rằng về võ nghiệp của cả hai đều làm thiên hạ phải kinh sợ. Trong phạm vi thưởng giám về nghệ thuật ấn triện, sự « nhã » chính là một tiêu chuẩn siêu hình khi bàn về cái đẹp).\n**-** ** Triện pháp : **Triện pháp là cách chọn lựa kiểu chữ khắc sao cho biểu lộ được tính chất của chữ và của người chủ ấn (nam, nữ, lão, thiếu, v.v…) cùng cách độ giữa chữ và nền (chỗ nổi chỗ chìm). Hiện nay tại Bảo tàng viện Đài Loan có nhiều ấn có những chữ mà các học giả, nghiên cứu gia, thư pháp gia cũng không đọc ra nhưng rất đẹp. **-** ** Chương pháp : **Chương pháp là ý nghĩa, số cữ, cách phân phối, được coi như cái « floorplan » của nhà.\nRiêng về dao pháp, học cầm dao như học cầm bút : sức mạnh và sự dẻo dang đều ở cổ tay. Sự vận chuyển, đè, ấn ở ngón tay. Mỹ thuật ở «\n**giác độ** », chữ sắc ở « **lực độ** », và quán khí hài hòa ở « **tốc độ** ».\nNhững thầy khắc ấn, nếu khắc cho người khác phải có «\n**tha tâm** » – tâm người ! Nhìn người, hỏi người để biết rõ người cùng trạng thái, tâm tình người rồi mới khắc, vì con người và con dấu phải hợp với nhau (như người phải hợp với quần áo, v.v…)\n(Trên điểm « tha tâm », ta bèn thấy nghệ nhân phải hiểu đối tượng mà mình phục vụ, đặc biệt tự xả bỏ cái vị kỷ hành động theo ý của mình, mà đem nỗi niềm vị tha cho người. Tôi còn nhớ trong nhiều đám tang của người Việt ngoài Bắc, tiếng kèn của người thợ kèn đã vì tang chủ mà thổi một cách tha tâm nên nghe thật là não nuột và thống thiết làm sao, âm sắc khi thì lê thê kể lể, khi thì nức nở nghẹn ngào !)\nHiện giờ ở Trung Hoa. Có hai trường phái khắc ấn nổi tiếng hơn cả là « Nam Ngô, Bắc Tề », trường phái phương nam của Ngô Xương Thạc và trường phái phương bắc của Tề Bạch Thạch. Ngô, Tề là hai họa sư kiêm điêu khắc gia nổi tiếng cận đại của Trung Quốc. Họ Tề mới mất năm 1957. Họ Ngô mất trước khá lâu.\nVề triện pháp giữa hai nhà, người ta còn phân biệt được ; chứ về đao pháp và chương pháp thì thực khó nói được điều dị biệt.\nTuy nhiên họ Tề được xưng tụng là « Tâm, thủ qui nhất » và « tiểu tâm lạc mặc, đại đảm tấu đao ».\n(Lời khen đầu có nghĩa là lòng trí và tay khắc qui nhập với nhau làm một ; trong lời khen thứ hai là theo ngôn ngữ bạch thoại của Tầu « tiểu tâm » là rất chăm chú cẩn thận từng chi tiết nhỏ, nên tiểu tâm lạc mặc theo tôi hiểu là khi hạ bút mực xuống thì cực kỳ chú tâm tỉ mỉ cẩn thận từng li từng nét của nét chữ ; còn « đại đảm » là túi mật lớn nên đại đảm tấu đao là khi vung dao thì xung phạt xông xáo không e dè sợ hãi, cứ phăng phăng mà khắc thoăn thoắt, không chùn tay. Như thế, công trình thi hành từ lúc còn thai nghén trong tim óc cho đến lúc hạ thủ đương nhiên chỉ qui nhập đến một kết quả tuyệt vời mà thôi).\nKhi họ Tề dạy học trò có nói : « Học ngã giả sinh, Tự ngã giả tử ».\n*(Câu này mới đọc mà hiểu nghĩa đen từng chữ là : Học theo tôi thì sống, bắt chước tôi thì chết, nghe bí hiểm quá ! May thay ông bạn Nguyễn đức Hiển liền giải thích tiếp). *Nghĩa là nếu học theo ta, tức là học những nguyên tắc, tiêu hóa được để thành riêng biệt thì dù vẽ, dù khắc cũng biến thành linh động ; còn chỉ bắt chước cho hệt, cho khéo thì họa, khắc đều vô hồn.\nHiện giờ ở Đài loan có ông Dịch Việt Thạch cũng nổi tiếng về khắc triện được xưng tụng là « Nhất thiết đao ». Nét khắc chỉ một dao thôi, không cần soi đi, dọi lại.\n(Chi tiết này làm tôi lại nhớ chuyện nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa là một khi bực thầy đã hạ bút xuống thì nét chữ viết chỉ đi một lần thôi, chứ không tô dặm trở lại… Trong bài Cái đẹp của Chữ Nho, tôi có ghi điểm quan trọng này là muốn biết chữ viết có phải do bậc thầy không, người ta soi tờ giấy lên ánh sáng, nếu thấy một lằn sẫm chạy đều ở tâm nét bút, còn mực chung quanh nhạt hơn là đúng ! Mà quí bạn biết không, trong phép viết những nét chữ Nho, đâu chỉ có ngang bằng sổ ngay, chấm, phẩy, đá ngược, đè xuôi lưỡi mác mà còn bao nhiêu thứ khác… tất cả gồm 21 điểm và 39 nét vạch. Đúng là nghề chơi cũng lắm công phu)\nLá thư của ông Nguyễn đức Hiển còn cung cấp cho tôi vài chi tiết tản mạn bổ ích và lý thú sau về vật liệu khắc triện, hay thể thức này kia. Sau đây xin trở lại lời của ông viết trong thư :\nNhững thứ đá khắc phần nhiều cương độ dưới 4, 5. Mã não và các loại thuộc khoáng Chalcedony rất được ưa chuộng. Thực ra ngọc rất khó để phân loại và đặt tên vì, nếu ở lâu dưới đất, dưới nước, ngọc vẫn bị biến thể, oxide-hóa, calcium-hóa… Ngọc họ Hòa cũng chỉ là một thứ đá đẹp mà thôi. Ngọc Nephrite (nhuyễn ngọc) và Jadeite (ngạnh ngọc) chỉ có nhiều ở Miến Điện và du nhập vào Trung Hoa sau này nên chỉ có số ít ngọc tỉ được làm bằng thứ ngọc thạch này thôi. Còn đại loại ngọc là những thứ đá đẹp mang những tên đẹp như Thanh điền thạch, Thọ sơn thạch, Xương hóa thạch, Đăng quang đống, sản xuất ở Triết giang, Phước Kiến. Thứ nào có nhiều màu đỏ như Kê huyết thạch thì quí hơn. Thứ nhì là màu vàng Điền hoàng. Rồi mới đến các thứ khác.\nNuốm ấn hình lạc đà thì mang ý « trọng tải, hành viễn ».\nNuốm ấn thường để dùng khi đóng ấn khỏi đóng ngược, đầu con thú ra trước tức là đầu triện ; đuôi con thú về phía người đóng triện.\nVề cách treo những bức Bách Phúc đồ, Bách Thọ đồ, Bách Lộc đồ\nNhững chứ Phúc, Lộc thường được treo ngược, hàm ý Phúc (Lộc) lạc ư thiên, tức là Phúc, Lộc do trời cho. Lạc nghĩa là rơi, lạc ư thiên là từ trời ban xuống, lại đồng âm với Lạc (hạnh phúc, khoái lạc) nên còn có nghĩa ghép là Phúc+Lạc (an lạc), Lộc+Lạc (vui vẻ)\n*(Nhân đây, tôi vẫn thấy chữ Xuân thường được người Tầu treo ngược mà tôi hỏi thì họ nói là Xuân đảo, nhưng *đảo * là lộn ngược đồng âm với *đáo * là đến, nên bèn hiểu rằng mùa Xuân đã đến ! Nếu hiểu là *Xuân lạc * là Vui Xuân cũng có ý nghĩa lắm !)*\nÔng Hiển đã tra cứu thêm và kê ra mấy loại sau :\n- Tước hiệu tính danh niên hiệu tỉ (ví dụ như Càn long ngự bút)\n- Cung điện tỉ (v.d Tỵ thử sơn trang)\n- Giám tàng tỉ (v.d Ngự thư phòng giám tàng tỉ)\n- Cảnh cú thi văn tỉ (v.d Kính sự, Tích thốn âm, v.v…)\n- Hoa áp tỉ (những loại này không có đường viền quanh)\n(Theo tôi, ngoài loại « hoa áp tỉ » mà tôi nói ở trước dùng để thay chữ ký, ấn của vua nhà Thanh kê ra theo công dụng, chức năng tùy theo trường hợp lúc nhà vua ban ngự bút, hay làm thi văn ; hoặc tùy theo nơi chốn như ấn của cung điện nơi nhà vua nghỉ hè, tránh nắng (tị thử), hay nơi thư phòng, v.v… Kể ra cũng nhiêu khê về cái trò chơi ấn, nhất lại là vua !)\n*Ông bạn Hiển cũng cho tôi biết thêm rằng về chiếc ấn Minh Nguyệt tiền thân thì nếu ông nhớ không sai, *thi sĩ Tchya * xưa kia cũng có chiếc ấn khắc câu : « Mai hoa tái thế, Minh nguyệt tiền thân ». Cám ơn ông bạn đã nhắc nhở tôi về vị giáo sư cũ của tôi là nhà văn *Mai Nguyệt * có tên thực là *Đái đức Tuấn * với bút hiệu bí hiểm TCHYA hiểu rằng « Tôi chẳng yêu ai » hay là « Tôi chỉ yêu A » tức là người phụ nữ lai Pháp có tên bắt đầu với chữ A đều được cả !)*\nNhân chuyện ấn Tô Tần mà tôi nhắc đến câu trong Chinh Phụ ngâm :\n*« * *Thiếp chẳng dại như người Tô phụ,*\nChàng há từng như lũ Lạc Dương,\nKhi về đeo quả ấn vàng,\n*Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao* * ».*\nÔng bạn Hiển có trích dẫn lại bài thơ của Lý Bạch liên hệ đến tích Tô Tần bị vợ khinh rẻ khi về mà công danh chưa đạt. Bài thơ như sau :\n*« * *Biệt nội phó chưng*\nXuất môn thê tử cưỡng khiên y\nVấn ngã Tây hành kỷ nhật quy\nLai thời thảng bội hoàng kim ấn\n*Mạc kiến Tô Tần bất hạ ky* * »* *.*\nCũng nhân nói chuyện giá trị khảo cổ của những giòng chữ triện, anh Hiển lại nhắc đến bài thơ của Đỗ Mục :\n« Xích Bích »\n*« * *Triết kích trầm sa thiết vị tiêu*\nTự tương ma tẩy nhận tiền triều\nĐông phong bất dữ Chu lang tiện\nĐồng tước xuân thâm tỏa nhị Kiều\nAnh Hiển đã tạm dịch như sau :\nCát vùi mũi kích thép chưa tiêu\nMài rửa nhìn ra dấu cựu triều\nVí thử chàng Chu không gió giúp\n*Xuân sâu Đồng tước khóa hai Kiều* * »* *.*\nĐiểm lý thú mà anh Hiển muốn nêu ra là ba chữ « nhận tiền triều » phải hiểu làm sao ?\nTrước cái mũi kích rỉ sét tìm thấy trên đám cát ở sông Xích bích, nơi năm xưa Chu Du nhờ ngọn gió Đông lập thế hỏa công để đốt quân Tào Tháo, do đâu mà người đời sau có thể nhận định ra thời điểm chính xác của một dữ kiện quá khứ. Nếu chỉ căn cứ vào hình dáng của cái kích, hậu thế chỉ đoán được về thời đại tổng quát thôi, còn muốn tìm hiểu chính xác thì phải tìm đọc những giòng chữ triện ghi niên biểu hay vương hiệu của năm chế tạo được khắc trên mũi giáo sau khi chùi rửa sạch sẽ. Xin tâm phục ý kiến của anh và tôi đồng ý dịch là : Mài rửa nhìn ra « dấu cựu triều », thật là đúng tinh thần khảo cổ của một nhà thơ như anh.\n\nPhụ thân tôi hồi sinh tiền có thói quen mỗi khi viếng một ngôi đình, chùa, hoặc đền đài lăng tẩm, thường dừng chân rất lâu để ngắm nghía, chiêm ngưỡng những bức trướng, liễn, câu đối, nghi môn, hoành phi… khiến tôi, thuở ấy là một đứa bé, phải sốt ruột và ngạc nhiên.\nBây giờ thì tôi đã hiểu tại sao. Cái hiểu này đi kèm với nỗi nhớ, tiếc, thương, cảm phục. Phụ thân tôi là một trong những nhà nho cuối mùa của đất nước hồi đầu thế kỷ, khi nền học vấn chuyển từ bút lông qua bút sắt. Ân hận, lỡ dở, bơ vơ, lạc loài, câm nín… thôi thì ngổn ngang trăm mối trong lòng con người sống ở thể hệ « bản lề » của lịch sử. Tuy tiếc nuối là nền Nho học đã lỗi thời, không giúp ông lập thân như bao thế hệ trước, nhưng trong lòng ông vẫn ầm ỉ niềm tôn sùng không lay chuyển về cái đẹp cũ. Cái đẹp mà nhà văn Nguyễn Tuân mô tả là « vang bóng một thời ».\nMột trong những sở thích của ông là ngắm những nét chữ Nho đẹp, đặc biệt là chữ đại tự. Ông bảo rằng, viết chữ Nho cho đẹp đã là một nghệ thuật đòi hỏi công phu luyện tập rồi, huống hồ là viết chữ đại tự ! Phụ thân tôi còn giảng nhiều điều lý thú linh tinh khác như muốn trút bao nhiêu tâm sự, cảm nghĩ, ưu tư cho thế hệ kế tiếp nhưng đầu óc ngây thơ của một đứa bé là tôi ngày đó không thể nào hiểu hoặc nhớ hết được ! Bây giờ, tra cứu về những sách dạy về thư pháp Trung Hoa, bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ từ tiềm thức tôi có dịp trỗi dậy như đương xem lại một đoạn phim mờ mờ ảo ảo, vì cũ cũng có và cũng vì mắt lệ sương sương một màu thương tiếc ngậm ngùi !\nBài bút khảo này chỉ muốn đề cập đến một vài tính chất và kỳ công của kỹ thuật thủ pháp chữ Nho, đặc biệt đi vào kỹ thuật siêu thực chấm nét. Đối với thế hệ trẻ mà nền cổ học Đông phương đã bị đẩy lùi vào viện bảo tàng hay bị rơi vào quên lãng tàn nhẫn của thế nhân thì những dòng chữ dưới đây chỉ là một tiếng thở dài ngậm ngùi cho cái dĩ vãng một thời vang bóng ; nhưng đồng thời nó cũng là một đốm lửa nhỏ làm ấm lòng những tâm hồn hoài cổ.\nThủ pháp Trung Hoa hoàn toàn không phải là một kỹ thuật viết chữ máy móc mà là một nghệ thuật siêu đẳng. Người viết chữ Nho là một nghệ nhân qua một quá trình luyện tập lâu dài và liên tục, đem cả tâm huyết, tinh thần mình ký thác trên mặt giấy. Những món vật dùng để viết, do đó, được trân trọng kén chọn và gìn giữ. Văn phòng tứ bảo – như tên gọi – gồm bốn món quí sau : mực, nghiên, giấy, bút. Mỗi món được chế tạo đặc biệt theo nhiều trình độ khác nhau của người sử dụng.\nĐại khái, mực tàu màu đen đúc thành từng thanh dẹp nhỏ hay tròn gọi là thoi (hay thỏi). Vật liệu làm mực thường là muội than của gỗ tùng và khói dầu, trộn với chất keo dẻo đun lỏng rồi đúc thành thoi để nguội. Mỗi khi sắp viết, người ta mài thỏi mực với một chút nước trong một cái nghiên.\nTrong truyện Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân, qua miệng nhân vật Huấn Cao, câu khen : «\n*Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá ? Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không ?* » Mực sở dĩ thơm là vì lúc chế tạo, nó được trộn với xạ hương, do đó ở Huế, người ta quen gọi là mực xạ.\nNghiên mực là một phiến đá dẹp, trũng lòng. Ở một đầu nghiên có một cái lỗ khá sâu chứa nước. Đá làm nghiên thường là một loại đá đỏ được cắt và mài. Lòng nghiên không mài nhẵn thín, trơn tru nhưng cũng không để thô xảm mà phải vừa đủ để mài cho mực ra. Các nghiên đời Hán làm bằng gạch hay ngói nung thường rất quí. Khi mài mực, người ta cầm dựng đứng thỏi mực, mài chậm rãi, đều và chắc tay. Thời gian mài là lúc để tâm trí bình thản suy gẫm về kiểu thức những dòng chữ sắp viết. Số lượng mực mài ra chỉ nên vừa đủ viết ; mài nhiều để lâu mực sẽ khô đặc và biến màu làm sắc vẻ của các nét chữ không đều. Mực mài đặc quá sẽ quánh lại, ngòi bút khó chạy trên mặt giấy. Mài lỏng thì nước thấm vào giấy bản làm nét chữ bị nhòe. Tương truyền loại nghiên làm bằng ngói cung Vi Lương đời Hán có đặc tính kỳ lạ là hãm rất bền các chất mực cũ trong các lỗ nhỏ li ti của đất nung nên khi dùng, chỉ cần hà hơi cho ẩm là có đủ mực để viết một bài… tứ tuyệt.\nVề giấy thì có nhiều loại. Thông thường giấy bản dùng để viết và vẽ có thớ hơi xảm và xốp. Sự kén chọn phẩm chất giấy tùy theo kinh nghiệm và sở thích của người viết.\nGiấy ngày xưa có hiệu tùy theo gốc sản xuất. Hà Nội có phố Hàng Giấy chuyên bán các loại giấy, bút, mực cho các thầy khóa khi khoa cử còn thịnh. Miền Bắc có hai nơi làm giấy lâu đời là làng Phú Định, tỉnh Hưng Hóa và làng Bưởi gần Hà Nội. « Giấy Lịch Bưởi » là loại giấy trắng tốt. Vật liệu làm giấy ở Việt Nam là vỏ cây bồ đề (Ficus religiosa), cây dó (Rhamnoneuron balansae), cây giướng (Broussonetia papyrifera).\nNgòi bút lông chỉ dùng để viết chữ Nho. Đó là một chùm lông thú buộc từng bó nhỏ, nhét gắn vào một cái quản tre rỗng ruột. Cán bút có thể khảm vàng, bạc, ngọc, ngà. Lông ở ngòi bút cứng hơn bút lông vẽ tranh nước của Tây phương. Các loại lông có thể dùng là ngòi bút : trừu, nai, chồn, cáo, chuột, thỏ tùy theo loại. Nếu viết chữ nhỏ, mảnh, thì bút lông thỏ tốt hơn cả ; còn viết chữ lớn thì dùng lông trừu. Theo Nguyễn Tuân trong truyện Khoa Thi Cuối Cùng, thì các thầy khóa thường dùng các loại bút « Song lan, Thanh chi, Nhất chi, Kiều lan, Trúc lan… Tốt nhất là bút Tảo thiên quân lông trắng ».\nCách cầm bút là điều tối quan trọng. Như một cung thủ cần định rõ mục tiêu, thân hình vững vàng, tay nắm chắc cây cung, nhắm chính xác thì tên mới trúng đích ; người viết chữ phải định thần, thân hình ngay ngắn quân bình, quản bút cầm thẳng, viết chấm nào, nét nào xuống phải đúng nét ấy. Năm ngón tay cầm bút phải đặt thế nào để quản bút chuyển động theo ý muốn là do việc tập luyện từ nhỏ. Mỗi thư pháp gia có một lối cầm quản bút với các thế ngón riêng. Thông thường, ngọn bút phải dựng đứng, không nghiêng phải nghiêng trái. Ngón cái và ba ngón kế nắm lấy cán bút ở bốn phía, ngón út làm chỗ nâng. Ngón cái và ngón trỏ quan trọng nhất vì nhận sức lực của cổ tay và cả cánh tay để điều hòa áp lực của nét chữ. Ngón giữa và ngón áp út làm công việc xoay, chuyển. Ngón giữa vận cán bút xuống dưới hay quay qua phải ; ngón áp út nhấc lên hay quay qua trái. Khi ngón áp út đang nhấc bút lên thì ngón giữa điều chỉnh cho nó. Khi ngón giữa móc ôm lấy bút thì ngón áp út ngăn không cho nó tuột xa. Riêng ngón út thì làm nhiệm vụ của một tài công, khi thì kéo ngón áp út về phải, khi thì đẩy sang trái. Kỹ thuật về các chuyển thế của các ngón gọi là bát đăng. Đăng là cái bàn đạp ngựa ; bát là chuyển xoay, lái như trong câu « Cậy, bát thuyền trên nước ».\nBút tuy là để viết chữ nhưng không được cầm một cách khinh xuất mà phải được nắm chắc như cầm binh khí. Vương Hiến Chi, người con thứ bảy của thư pháp gia trứ danh Vương Hi Chi, lúc mới lên bảy, ngồi tập viết thì người cha lén đứng sau lưng, chụp lấy cán bút. Nhưng cậu con cầm chặt quá đến nỗi ông cha giằng mạnh cũng không ra. Vương Hi Chi bèn khen : « Thằng này về sau sẽ nổi danh trong giới thư pháp ».\nCầm bút phải theo những kỹ thuật sau : Lòng nắm tay phải trống rỗng (hư quyền) ; ngón tay phải chắc (thực chỉ) ; cổ tay phải ngang bằng (bình uyển) ; cán bút phải thẳng đứng (thụ phong).\nCổ tay cần ngang bằng (bình uyển) là điều tối thiểu phải làm khi viết dù với bất cứ kiểu chữ nào. Khi viết các chữ nhỏ li ti, muốn cho vững chắc, không run, người ta áp dụng lối chẩm quyền, nghĩa là để cổ tay phải gối lên bàn tay trái. Khi viết chữ cỡ trung thì áp dụng lối đề uyển, tức là tì khuỷu tay phải trên mặt bàn và để cánh tay nhấc lên với giác độ 25-30 độ. Còn viết đại tự thì bắt buộc phải theo lối huyền uyển, không có bộ phận nào của tay được chạm mặt bàn mà phải lơ lửng như được treo. Khi viết, nội lực toàn thân truyền qua vai, bắp tay, khuỷu tay, cánh tay, cổ tay và các ngón để dồn vào ngọn bút. Có như vậy nét chữ mới hoàn toàn linh động, vững mạnh. Lối huyền uyển đòi hỏi sự tập luyện lâu năm và liên tục, nếu tập lơ mơ sẽ viết ra những nét run…\nNgọn bút lông tạo ra trên mặt giấy những nét dày mỏng khác nhau tùy theo cách nhấn. Nếu nhấn dập đầu là\n*đốn*, nhấc nhẹ lên là *đề*, còn đè xuống cho tà đuôi ra thì gọi là *nại*. Nghệ thuật *đốn, đề, nại* áp dụng tùy theo diệu thủ : nét đề mảnh dẻ dùng cho chữ có nhiều nét ; nét nại mập dùng cho chữ ít nét ; nét đốn thì dùng để khởi đầu hay chấm dứt một vạch, khi chuyển, hoặc là ở chỗ tiếp nối hai vạch.\nChữ\n*nhất* là một chữ rất khó viết tuy chỉ có một vạch ngang. Nhìn theo thế bút thì nó khởi sự bằng nét đốn, rồi nét đề và chấm dứt bằng đốn.\nNgười ta ví von rằng, một nét vạch phải khởi đầu với sức mạnh chuyển núi mà lúc chấm dứt còn để lại dư hưởng dồn ở cuối nét thì mới gọi là tuyệt !\nTốc lực của những nét chữ cũng rất quan trọng. Nét nào cũng phải có chỗ viết chậm, chỗ viết mau. Lại còn nghệ thuật « dấu đầu kim trong nắm bông » là một tuyệt kỷ. Ngọn bút gọi là « hở hang » khi nét chữ có cạnh sắc như mỏ chim nhưng lại thiếu nét tim ở giữa do mũ bút lông tạo ra. Gọi là « kín đáo » khi trong nét viết, ở giữa tim có một lằn rõ. Muốn biết chữ viết có phải do bậc sư không, người ta soi tờ giấy lên ánh sáng, nếu thấy một lằn sẫm chạy đều ở tâm nét bút, còn mực chung quanh nhạt hơn là đúng.\nNgười Tàu nói sức mạnh của ngòi bút là « nhập mộc tam phân » nghĩa là xuyên gỗ sâu đến ba phân, đặc biệt khi viết với ngòi bút thẳng đứng. Tùy theo thế cán bút, người ta phân biệt ra hai lối viết : viên bút khi dùng kỹ thuật đề ; và phương bút khi dùng kỹ thuật đốn. Viên bút thì mềm, uyển chuyển ; còn phương bút thì chắc và vững. Phương bút thích hợp cho kiểu chữ Khải. Viên bút thì hợp với kiểu chữ Hành và Thảo. Tuy nhiên ở các bậc diệu thủ, phương bút và viên bút được sử dụng thích hợp và tài tình, không hẳn theo lệ trên.\nNgười Trung Hoa tôn sùng các diệu pháp của cổ nhân đến độ trong thư pháp hàng thế kỷ sau người ta vẫn mô phỏng các bậc thầy thuở trước bằng cách lấy mực thoa lên bia đá để chép lại kiểu chữ xưa.\nTuy nhiên, « mô phỏng » trong thư pháp Trung Hoa không có nghĩa là bắt chước đến độ hoàn toàn máy móc vì mỗi ngòi bút đều ít nhiều mang cá tính người viết. Một giai thoại lý thú về « bắt chước » chữ viết như sau : Vương Hiến Chi tuy nhỏ tuổi đã là một danh thủ thư pháp, tài gần bằng cha của mình là Vương Hi Chi. Một hôm Vương Hiến Chi đùa nghịch lấy trộm bức chữ của cha treo trong thư phòng rồi viết một bức thiếp khác hoàn toàn giống như vậy để trám vào. Hôm sau, Vương Hi Chi về nhà, thấy bức thiếp giả, bèn dừng chân ngắm nghía. Cậu con Vương Hiến Chi núp gần đó hồi hộp dọ nghe, thấy ông gật gù nói nho nhỏ : « Lạ nhỉ ! Khi ta viết bức thiếp này có lẽ ta chuếnh choáng say chăng ? »\nCái đẹp của chữ Nho nhiều khi còn tùy thuộc vào sự phối trí thành phần các nét. Thông thường là trong một khoảng vuông tiêu chuẩn như đoạn văn sau của Nguyễn Tuân :\n*« Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời ». *(Chữ người tử tù)\nTuy nhiên « đẹp mà vuông » không nhất thiết là tiêu chuẩn để nhận định cái đẹp về « thế » của các nét chữ. Mỗi thư pháp gia đều có một phép phối trí riêng, tùy theo tâm trạng từng lúc của người viết, và tùy theo lối viết (Chân, Thảo chẳng hạn).\n**Chữ ** **« **túc » của Nhan Chân Khanh, bố trí cân cái, vững chãi như bước chân của một vị hòa thượng đang uy nghi cử bộ.\n**Chữ ** **« **giới » của Triệu Chi Khiêm bố trí như một con cú đang cất cánh bay lên.\n**Chữ ** **« **ý » của Tô Đông Pha gây ấn tượng về hình ảnh một người ngồi thoải mái, trầm tư mặc tưởng.\n**Chữ ** **« **tùy » viết theo Thảo thư của Vương Hi Chi tạo ra hình ảnh một nữ vũ công đang múa, xiêm áo xoay chuyển theo nhịp múa.\n**Chữ ** **« **di » (phép tắc) của Trương Di gợi nên hình ảnh một con cò đứng co một chân, trầm ngâm.\nChữ đẹp «\n**vuông** » (chân phương) là đẹp tiêu chuẩn, nhưng nhiều thư pháp gia đã phá lệ, viết chữ rất đẹp trong khuôn khổ không cân đối.\nCái đẹp của thư pháp Trung Hoa đôi khi không nằm trong sự cân đối\n*(symmetry)* mà nằm trong sự không cân đối đầy động tính (dynamic asymetry) như tác giả Trương Di nhận định trong cuốn Chinese Calligraphy. Một chữ in thường có nét sắc, gọn, rõ ràng, đầy tính máy móc mà người ta có thể dùng compas, thước, bút chì nhọn để vẽ lại đúng như thế. Nhưng đó là những chữ « chết ». Ngòi bút lông thì khác, nó linh động với cái sống của nó. Sự sống bổi hổi bồi hồi của ngọn bút là làm ra những nét lúc dày lúc mỏng, lúc nhu lúc cương, lúc khoan lúc nhặc, lúc thẳng lúc cong để diễn tả dịch tính rất động của thiên nhiên.\nSự huyền diệu của thiên nhiên tẩm nhuần mọi ngành nghệ thuật, truyền cảm vượt ngoài năng lực của ngôn ngữ. Bá Nha đàn mà nghĩ đến núi thì Tử Kỳ khen « Nga nga hồ chí tại cao sơn » ; nghĩ đến sông thì Tử Kỳ khen « Dương dương hồ chí tại lưu thủy ». Trong thư pháp, ý tưởng xuất hiện từ đầu ngọn bút.\nTrong thư pháp Trung Hoa, các nét chấm, nét vạch không phải là những đường thuần túy máy móc về kỷ hà học mà là những nét huyền diệu. Có bảy nét chấm và vạch căn bản để viết chữ Nho, gọi là thất diệu :\n**- Hoành** (nét vạch ngang) : diễn tả như một đám mây trải dài thiên lý rồi ngừng lại. **- Điểm**(nét chấm) : giống như một viên đá rơi toàn lực từ vách núi cao xuống. **- Phiệt** (nét phết) : giống như một cạnh dao bén chém phạt xuống hay giống cái sừng tê giác. **- Trực** (nét thẳng) : như một nhánh dây leo cố thủ, mạnh vững. **- Loan** (nét cong) : như sợi gân và khớp nối của cánh cung, dẻo và dai. **- Nại** (nét đè) : giống như đợt sóng thình lình trải ra hay một đám mây phát ra tiếng sấm báo cơn dông. **- Thích** (nét đá) : giống như nhánh cây rủ với rễ chắc chắn.\nTuy nhiên, trong lịch sử Trung Hoa, các diệu thủ thư pháp đã chế biến nhiều nét hơn. Một ông vua đời Hậu Hán đã phân biệt ra 14 kiểu nét. Vi phu nhân nhận định 72 kiểu nét. Còn Vương Hi Chi lại gom thành 8 nét căn bản để viết một chữ mà ông cho là cốt tủy : chữ Vĩnh trong cuốn Vĩnh tự bát pháp. Tám nét là trắc, lặc, nỗ, địch, sách, lược, trác, trách.\nLý thuyết của Vương Hi Chi thâm sâu và khó nên vào đời Thanh, Lý Phổ Quang đem 8 nét trên khai triển thành 32 nét. Trương Di, trong cuốn Chinese Calligraphy, cho rằng chữ vĩnh không bao gồm đủ các nét cần thiết để viết nhiều chữ quan trọng nên ông trình bày kỹ càng hơn, nhiều nét hơn 8 nét của Vương Hi Chi và ít hơn 72 nét của Vi phu nhân. Mỗi chấm hay mỗi vạch cho nét chữ đều in đen nhưng có một lằn trắng có mũi tên chỉ hướng chuyển động của đầu ngọn bút. Tất cả gồm 21 điểm và 39 nét vạch.\nTên và hình các điểm :\n1. Hướng tả điểm (giống vuốt cọp)\n2. Hướng hữu điểm (giống đầu rùa)\n3. Trực điểm (giống mỏ phụng)\n4. Trường điểm (chấm dài)\n5. Khúc bão điểm (chấm cong ôm)\n6. Lưỡng hướng điểm\n7. Tả hữu điểm\n8. Câu điểm (chấm móc)\n9. Bình điểm (chấm bằng)\n10. Hướng thượng điểm\n11. Vi điểm (chấm bé)\n12. Trác điểm (mỏ chim)\n13. Hai chấm bằng\n14. Ba chấm thủy\n15. Hai chấm mỏ chim banh ra\n16. Hai chấm mỏ chim túm lại\n17. Ba chấm hai mỏ chim và một vuốt cọp ở giữa\n18. Ba chấm hai chấm lưỡng diện và một mỏ chim\n19. Bốn chấm hỏa (thường viết phía dưới)\n20. Bối diện điểm\n21. Hợi tứ điểm\nNgoài ra còn nhiều kiểu như lá liễu, cánh hoa lan, trái hạt giẻ… phải chấm thật nhẹ, thật mau với bút lông khi viết.\nHình các nét :\n1. Hoành họa (nét ngang)\n2. Thụ họa (nét sổ)\n3. Thùy lộ (giọt sương)\n4. Huyền cham (kim treo)\n5. Khúc đầu (đầu gẫu)\n6. Khúc bão phiệt (phết, phẩy)\n7. Đoản binh phiệt (phẩy thẳng ngắn)\n8. Trường trực phiệt (phẩy thẳng dài)\n9. Quyển phiệt (phẩy cong)\n10. Thụ phiệt (phẩy sổ)\n11. Khúc đầu phiệt (phẩy con đầu)\n12. Trường khúc phiệt\n13. Hồi phong phiệt\n14. Bình phiệt\n15. Lan diệp phiệt\n16. Nại (thụ nại) nét đè\n17. Bình nại (giống con cá lội)\n18. Trắc nại\n19. Phản nại (mũi cùn)\n20. Khúc đầu nại\n21. Kim đao nại (mũi sắc không tà)\n22. Thiên (nét phẩy)\n23. Trường thiên (nét khẩy dài)\n24. Trường câu (móc)\n25. Bình câu\n26. Hoành câu\n27. Qua câu (lưỡi mác)\n28. Nỗ câu\n29. Phương sí câu\n30. Nữu câu\n31. Long vĩ câu (móc đuôi rồng)\n32. Phù nga câu (móc cổ ngan)\n33. Thác câu (móc câu nâng lên)\n34. Viên câu (móc tròn)\n35. Bao câu (móc ôm)\n36. Hướng hữu câu\n37. Hí điệp (hình bướm bay)\n38. Bàn long (rồng cuộn khúc)\n39.Ngôn cung\nMột chữ nho là một tập hợp của nhiều nét chấm và nét vạch. Khi viết phải tuân theo thứ tự trước sau của từng nét, đồng thời phối trí cho các nét thích hợp trong khuôn khổ của khoảng trống. Nếu viết không đúng thứ tự sẽ bị các cụ mắng là « viết trái cựa ». Để nhận định các chấm, nét, người ta dùng những danh từ : xương, thịt, bắp thịt, huyết.\nVi phu nhân nói : « Người viết biết dồn sức mạnh vào ngòi bút thì nét chữ có xương. Còn lối viết của kẻ kém tài, nét chữ đầy thịt. Viết mà nhiều xương ít thịt thì gọi là « gân guốc ». Viết mà nung núc thịt, xương yếu thì gọi là « mập như heo ». Chữ viết mạnh và gân guốc là thần bút, viết mà không có lực, chẳng có gân thì cũng giống như một phế nhân ». (Trích\n*Dân tôi, nước tôi* của Lâm Ngữ Đường)\nTrong mọi nét chữ phải có « xương », tạo ra bởi sức mạnh của người viết, cho nên cách cầm cán bút rất quan trọng mà lối huyền uyển là cách viết hiệu quả nhất. « Thịt » của nét chữ tùy thuộc vào chiều dày của ngòi bút và cách đè mạnh hay nhẹ của bàn tay viết. Nó còn tùy thuộc vào số lượng nước trong mực. Thịt sẽ nhão nếu mực chứa nhiều nước, sẽ khô nếu ít nước, sẽ mập nếu nét mực quá dày, và ốm nếu nét quá mảnh. Còn ý niệm « bắp thịt » trong một nét tùy theo sự tưởng tượng. Nếu nét chữ có\n*xương* và vừa vặn *thịt*, thì chữ viết mạnh. Trong các chữ viết đẹp, người ta thấy các *bắp thịt* liền lạc nối nhau từ nét này qua nét kia và chữ này qua chữ khác. « Huyết » dùng để chỉ số lượng nước trộn hòa đều đặn với mực từ đầu đến cuối. Đúng ra phải gọi là *huyết sắc*, nghĩa là màu mực phải tươi nhuận thống nhất.\nDân ta thường vẫn tin rằng học trò chữ Nho không được gặm chân gà vì sợ run tay, viết chữ như « gà bới ». Trong thư pháp Trung Hoa có bát bịnh dùng để chỉ tám tật tiêu biểu các nét chữ xấu là :\nĐầu trâu\nĐuôi chuột\nNọc ong\nĐốt tre\nGai ấu\nNhánh cây gãy\nChân cò\nĐòn\nHọc trò xưa đi học cố dùi mài trau luyện sao cho được hai điều căn bản là\n*văn hay chữ tốt.* Về chữ tốt, ngoài sự luyện tập còn cần có hoa tay. Một người viết chữ đẹp thường rất kêu hãnh vì được thiên hạ chiều lụy xin chữ. Mỗi triều đại ở Trung Hoa chỉ sản xuất được vài thư pháp gia danh tiếng mà thôi. Qua *Chữ người tử tù* của Nguyễn Tuân, ta có thể thấy niềm kiêu hãnh cũng như sự trọng vọng của xã hội dành cho những tay diệu thủ về thư pháp :\n«\n*Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười : « Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ ta thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng chỉ mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ… »*\n« …\n*Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : Kẻ mê muội này xin bái lĩnh ».*\nCái đẹp của thư pháp Trung Hoa là cái đẹp không thể lấy tiêu chuẩn Tây Phương mà nhận định. Nó là cái đẹp không nằm trong khối thể\n*(mass)* mà nằm trong những nét *(line)*. Các nét chỉ có hai loại : nét thẳng tạo ấn tượng mạnh, vững, nghiêm khắc, tĩnh ; nét cong tạo cảm giác động, bồng bềnh, dịu, tế nhị. Màu mực chỉ là đơn sắc tức là màu đen mà thôi. Chỉ với những nét chấm, phẩy, vạch ngang, vạch dọc và màu đen của mực mà những diệu thủ của thư pháp Trung Hoa đã cống hiến cho hậu thế nhiều nghệ phẩm. Chúng ta hãy duyệt qua một vài bức thư pháp của những thư pháp gia danh tiếng :\n**Vương Hi Chi** đời Tấn, đã nổi danh với vẻ đẹp toàn bích trong thư pháp. Bức thiếp trên gọi là *Phụng cách thiếp* viết vào thế kỷ thứ tư với kiểu chữ Hành thư cực kỳ linh động. Đây là duy vật duy nhất còn sót lại của tay thư pháp diệu thủ nổi danh qua bút pháp Lan Đình.\nThư pháp của\n**vua Tống Huy Tông** có vẻ đẹp thanh nhã lạ thường. Nhà vua là một người đa tài : học giả, họa sĩ, thư pháp gia. Nét thư pháp của ông mảnh dẻ và cao quý như châu báu nên được mệnh danh là *Slender gold style.* Cũng như nét chữ, thể chất ông cao, mảnh, tuấn tú.\nTranh của ông cho đến nay vẫn được những tay sưu tầm kiếm mua với giá cao. Tiếc thay cái đa tài nghệ sĩ của ông đã bất phùng thời. Một nghệ sĩ tuyệt thế mà bị ép làm vua cho nên mới có cái án Huy Tông làm mất nước và án một trăm lẻ tám anh hùng Lương Sơn Bạc làm giặc. Ông là vị vua của thời mà Thi Nại Am đã chọn làm bối cảnh xã hội cho bộ truyện danh tiếng\n*Thủy Hử.*\nThư pháp của\n**Tô Đông Pha **(1036-1101) có một vẻ đẹp lạ lùng. Ông cùng với cha và em được kể là ba đại văn gia đời Tống (Tam Tô). Ông đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, văn phong của ông mạnh mẽ, súc tích, trôi chảy. Qua nét chữ, con người thể chất của ông đã biểu lộ : « nhiều thịt » và dễ dãi hề hà. Tô Đông Pha có tư tưởng rất phóng khoáng. Ông chẳng những không hề gò bó trong Khổng giáo mà còn biết dung nạp các tư tưởng hay, đẹp của Lão giáo, Phật giáo. Ông cũng nổi danh là có tinh thần hài hước cao độ nên người Trung Hoa thường nói muốn sống lâu nên bắt chước thư pháp của Tô Đông Pha.\nMột Thư pháp gia danh tiếng là\n**Mễ Phi**. Bức thiếp của vị này biểu tượng được nét thanh thản, vô tư lự.\nKhông phải bất cứ ai cũng có khả năng thưởng lãm cái đẹp của thư pháp Trung Hoa. Nó đòi hỏi không những một kiến thức sâu rộng về thư pháp mà còn cả tinh thần say mê nghệ thuật nữa. Nếu câu «\n*đàn gẩy tai trâu » *để chỉ những người không có trình độ thẩm âm khi nghe nhạc, thì một bức thiếp của Vương Hi Chi cũng sẽ chỉ là một tấm giấy viết chữ ngoằn ngoèo, nhăng nhít dưới mắt một người bình thường.\nNhưng với những dân tộc chịu ảnh hưởng Nho học lâu đời như Việt Nam thì thư pháp Trung Hoa đã đi vào huyền sử qua nhiều giai thoại, vượt cõi nhân gian để tâm động đến quỉ thần và xúc cảm cả vạn vật.\nCửa bể Thần Phù huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam là nơi sông Đáy chảy ra biển, cực kỳ hiểm ác cho các thuyền bè, đến nỗi ca dao có câu :\n*« * *Lênh đênh qua cửa Thần Phù,* *Khéo tu thì nổi, vụng tụ thì chìm* * »* *.*\nVua Lê Thánh Tông lúc qua cửa biển này trên đường Nam chinh cũng có thơ rằng :\n*« * *Thử khứ hải môn tam thập cửu,* *Kế trình hà nhật đáo Ô châu ?* * »*\nTrên vách đá cao vòi vọi dựng đứng nơi cửa biển, có hai chữ Nho thật lớn : Thần Phù, kích thước rất vĩ đại để tàu bè đi ngoài biển có thể thấy được. Nhưng chữ Thần không hiểu vì sao lại thiếu nét sổ dọc. Một nho sĩ gan dạ bèn buộc mình vào một sợi dây thừng dài, đầu kia buộc vào một gốc cây trên đỉnh vách. Một tay nho sinh cầm cái chổi lớn, một tay cầm một thùng vôi. Gió biển vù vù thổi mạnh như muốn hất ông ta vào vách đá nhọn nhưng ông vẫn cứ thòng người xuống từ từ. Một bên là vách đá lởm chởm, thẳng đứng ; dưới chân là sóng đánh ầm ầm. Trong tình trạng nguy hiểm như vậy, nho sinh đã định thần, viết một nét sổ dọc thật dài, thật thẳng, thật mạnh, thật gân cho chữ Thần.\nKhông biết có phải vì phù sa sông Đáy bồi đắp khiến lòng biển cạn dần, hay vì hành động phi thường của người nho sĩ trên đã tâm động đến quỷ thần mà từ đó những ngọn sóng thần trở nên dịu hẳn, không gây đắm thuyền nữa. Ngày nay, đi qua cửa Thần Phù, người ta vẫn còn thấy nét chữ trên đã đổi màu nâu sẫm.\nMột giai thoại khác liên quan đến thư pháp như sau : Vào đời Ngụy Minh Đế, thư pháp gia Ngụy Đan tuân lệnh vua viết chữ trên một cái đài cao ngất từng mây có tên là Lĩnh Vân Đài. Ông phải làm một cái giàn tre cao cả trăm thước để leo lên viết ba chữ này. Khi viết xong leo xuống, tương truyền tóc của ông trở nên bạc phơ như cước. Về sau, trước khi chết, ông đã trối lại, bảo con cháu đừng nên lâm vào nghiệp dĩ viết chữ như ông !\n\nInconnu(e) CHỮ « THỌ » CỦA VUA CHU HI ĐỜI TỐNG (KÍCH THƯỚC 2.59’ X 1.75’)\n\nBạt\nPhạm Thăng\nTôi là nhà văn miền nam chánh cống, không phải là người của xứ Huế cổ kính và càng không phải là người trong Hoàng tộc nhà Nguyễn. Tôi chỉ là một người Việt có tuổi sống tạm dung trên xứ người nhưng tôi có tâm hồn hoài cổ quá nặng, say mê lịch sử nước nhà, nên thường hướng về quê cha đất Tổ mà nhớ kỉ niệm xưa… để mấy tháng nay lòng xót xa buồn trĩu khi nghe tin vị vua cuối cùng triều Nguyễn là cựu hoàng Bảo Đại qua đời, và\n*đám táng Cựu hoàng Bảo Đại như đám ma một ông Tây !*\nBuồn thảm thật ! Cựu hoàng một nước nhược tiểu đang bị chiếm nên phải sống lưu vong như một công dân thường, rồi chết trong một bệnh viện nhỏ không tên tuổi… như một ông Tây nào đó.\nLại càng buồn hơn khi đọc tin trên báo chí Việt lời xôn xao bàn tán về các báu vật của Nguyễn triều, trong đó có vật thiêng liêng nhất là « bộ Ấn, Kiếm cuối cùng của nhà Nguyễn hiện giờ ở đâu ? » Đang ray rức như vậy thì nhận được bản thảo tập bút khảo của học giả Lê Văn Lân, biên khảo về các Ấn Triện của triều đại Gia Long, cho tôi cái hân hạnh đọc trước.\nThật là mát lòng hả dạ như người đang khát nước, đang muốn khóc, được người cầm ly nước đến vổ về cho uống ! Tôi đã đọc ngấu nghiến, đọc tới đọc lui không chán. Lê quân khiêm nhường nói là bút khảo nhưng tập sách dù không đồ sộ nhiều trang, vẫn gói ghém đầy đủ tài liệu về các loại Ấn của một triều đại mà người thường làm sao biết rõ. Những trang sách hữu ích và quí giá biết bao.\nKhông phải quí như món đồ có giá mà cuốn sách quí vì cái công sưu tầm tài liệu của tác giả để giới thiệu chúng ta biết những luật lệ của triều nghi một thời đã qua. Cuốn sách chỉ nói quanh các loại ấn triện, mô tả hình dung bửu ấn, kích thước, v.v… đúng vào thời gian cái bửu ấn cuối cùng còn hay mất ? Tôi tin chắc đa số người Việt, nhất là các vị có tuổi, đón nhận tập sách này một cách nồng nhiệt.\nSẽ có một số bạn trẻ nói rằng : « Một thời phong kiến đã qua, sao lại mất thời giờ về những cái ấn triện đó ? » Đúng vậy, nhưng các bạn trẻ khi đọc hết tập biên khảo nầy mới thấy công năng của các ấn triện đó. Chúng là biểu tượng của triều đại, chúng là biểu trưng của một cá nhân. Lê quân đã viết như cốt nhắn nhủ :\n« …\n*Nếu ở hải ngoại người dân Việt vẫn đứng nghiêm chỉnh chào lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì chuyện thương tiếc cho thân phận cũng là một hành động biểu tượng chứ sao ! » *(bài III)\nLá cờ quốc gia có linh hồn nên ta trân quí, nếu hai mảnh vải vàng, đỏ để rời thì không tượng trưng gì cả, nhưng nếu may thành lá cờ vàng ba sọc đỏ thì là biểu trưng một thời Cộng hòa, cũng như khối vàng hay khối ngọc nếu được khắc chữ… chi tỷ hay… chi bửu và được đóng đè lên niên hiệu của vua chúa, được lưu giữ trân trọng, thì cái ấn đó tượng trưng cho triều đình rồi. Dấu son ấn triện đóng vào văn bản có tác dụng và uy lực vô cùng.\nTrong dân gian, nơi nào cũng có đình chùa, mà không phải nơi nào cũng có Sắc phong. Vì nếu chùa có công trạng gì đó mới được vua Sắc tứ, và vị Thần ở đình làng nếu được tâu xin và triều đình xét có công với dân làng hoặc đã chứng minh linh hiển giúp dân mới có Sắc của vua phong cho. Vì vậy có làng có đình thờ thần, có cúng tế hàng năm mà không có Sắc phong Thần, nên trước đây xẩy ra tệ nạn Sắc thần bị mất trộm. Như vậy chứng tỏ Sắc thần không phải chỉ là tờ giấy bản màu vàng với chữ nho ghi danh tánh, chức vụ… mà phải có ấn của vua ban mới thật là trân bảo. Vậy, ấn Sắc Mệnh chi bửu là tượng trưng của nhà vua nên quí giá và linh thiêng. Không phải người nào cũng được thấy. Dân làng chỉ nghe nói, chỉ chiêm ngưỡng cái hòm Sắc mỗi khi đình làng cúng Cầu An (Kỳ yên) hàng năm mà ngay cả các hương chức Hội tề cũng vậy, không ai có quyền mở hòm Sắc ra coi. Hòm Sắc là cái hộp cây, cạnh vuông độ 10cm, bề dài 60m, sơn đỏ đậm. Tôi còn nhớ vào ngày cúng Cầu An, hương chức và dân làng áo dài khăn đóng với cờ xí, võng lọng từ đình đến nhà ông Cả để rước Sắc thần về tôn trí tại đình suốt 3 ngày lễ, vì làng tôi trước năm 1965, cũng như nhiều làng khác, không dám để Sắc Thần tại đình sợ bị ăn cắp, phải gửi nơi nhà ông Hương Cả, nhà ngói vách tô chắc chắn. Một năm, nhà ông Hương Cả bị mưa dột nên hòm Sắc bị ướt. Cả làng quýnh lo, phải đốt hương lạy Thần tại đình để tạ lỗi và xin phép dời hòm Sắc ra ngoài sân phơi lại cho khô. Hương chức tề tựu đầy đủ, ông Hương Cả trịnh trọng bưng hòm Sắc ra sân để lên bàn phơi nắng. Một dân làng, áo dài khăn đóng trịnh trọng cầm cây lọng đứng che hòm Sắc. Phải làm trang trọng vậy, chớ vẫn để ánh nắng rọi xuống hòm Sắc cho mau khô.\nLê quân có nhắc lại câu nói của đức Từ Cung, mẹ cựu hoàng Bảo Đại, nói với bà Mộng Điệp khi bà nầy được Pháp giao trả ấn Hoàng Đế chi bửu bị thất lạc, để giữ cho cựu hoàng : «\n*Bà có phước lắm bà mới trông thấy ấn kiếm ấy. Tôi vào làm dâu nhà Nguyễn bao nhiêu năm mà tôi có được trông thấy bao giờ đâu ».* (Bài IV). Đúng như lời nói chí tình đó, đức Từ Cung là mẫu nghi thiên hạ mà còn không trông thấy ấn quí mới chứng tỏ cái ấn là uy quyền tượng trưng tuyệt đỉnh của Triều đình đâu dễ trông thấy.\nNhư Lê quân có viết : «\n*Người ta có thể nói một chiếc ấn có một đời sống, một số mệnh riêng tùy theo chủ nhân của nó… » *và như đức Từ Cung nói với bà Mộng Điệp : *« Bà có phước lắm mới được trông thấy ấn kiếm ấy… »*, bản thân tôi đã biết và tin tưởng từ lúc tôi còn nhỏ khi thấy Từ đường dòng họ Lê Công ở Châu Đốc bao nhiêu đời được mọi người trọng vọng và càng ngày càng sang giàu, theo lời người đời bàn tán, là nhờ nơi đây tôn trí Sắc Thần Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh. Nếu tin nơi linh thiêng của ấn vua trên Sắc Thần cũng được, mà theo tâm lý, dòng họ Lê Công được tin cậy bao nhiêu đời giữ hòm Sắc thì đương nhiên họ Lê Công càng giữ nếp sống cho xứng đáng của con cháu linh thần.\nTôi là nhà sưu tập tiền cổ, một hôm tôi được người bán giới thiệu : « Ông sẽ được thấy vật này, đảm bảo ông sẽ mê liền ». Quả nhiên khi tôi được cầm trên tay tờ giấy bản màu vàng nghệ đã có góc sờn rách, dài 1 thước rưởi, ngang 5 tấc, tôi lỏm bỏm đọc được vài chữ nhưng tôi đọc được giòng chữ niên hiệu vua Tự Đức và ngày tháng… với dấu ấn son đỏ : Sắc Mệnh Chi Bửu. Chữ viết tay nét rắn rỏi phải do ông quan viết chữ hay, trên nền giấy bản vàng có vẽ trang trí con rồng lượn trong mây bằng màu ngân nhũ. Và theo người đem lại chỉ tôi mới thấy dấu ấn phải đè đúng ngay đầu con rồng, hàng chữ niên hiệu nhà vua cùng ngày tháng viết lên trên đó (xem hình phụ bản). Tôi cầm tờ Sắc mà xúc động, tay run run. Chỉ là tờ giấy bản xưa cũ, chỉ là dấu son, chữ mực đen ánh với hình trang trí bằng ngân nhũ mà sao tôi cảm động ? Vì tôi biết rằng tờ Sắc này có dấu ấn Vua ban đã được tôn thờ hương khói mấy thập niên qua, đâu có ai được nhìn thỏa thích, để bây giờ vì thời cuộc nhiễu nhương phải lưu lạc nơi đây ?\nẤn kiếm, nếu khi nghĩ nó là một khối kim loại thì quá dễ nhưng chính thực nó là vật có hồn, biểu tượng cho triều đại, dù đã qua, thì chúng ta càng quí trọng. Trong chương\n*Bài học làm chư hầu*, Lê quân sưu tầm trong tài liệu đã mô tả ông J. Patenôtre, người của thực dân Pháp mà còn luyến tiếc cái ấn : Việt Nam quốc vương chi ấn do nhà Thanh bên Tàu sắc phong cho các vua nhà Nguyễn sắp bị hủy bỏ, vì lúc đó Triều đình Huế bị ép buộc phải nấu chảy ra. Dù chỉ là cái ấn phong cho chư hầu thôi, nhưng nó tượng trưng triều đình nước ta còn có chủ quyền, giờ đây thực dân Pháp đô hộ, họ muốn phá bỏ tàn tích cũ, đòi nấu chảy « biểu tượng » nầy trở thành kim loại. Patenôtre còn biết đó là vật biểu tượng để tiếc rẻ, sao ta lại thờ ơ ?\nMấy kí lô kim loại nấu ra có thể tìm mua được, nhưng cái ấn từ bao nhiêu đời lưu giữ làm sao tìm có ?\nĐể chấm dứt bài nầy, tôi xin cám ơn Lê quân đã cho chúng tôi cũng như độc giả đọc một tài liệu bổ ích để biết nhiều loại ấn và riêng tôi, tôi biết thêm tại sao có động từ\n*đóng mộc *và *áp triện…*\n(Calgary mùa tuyết năm 1997)\n\nVào ngày Chúa Nhật 5 tháng 10 năm nay 1997, tại chùa của Viện Phật Giáo Pháp trong khuôn viên Rừng Vincennes ở ngoại ô Paris, có tổ chức một lễ Cầu Siêu 49 ngày cho Cựu hoàng Bảo-Đại rất trọng thể với gần 1000 người Việt nam tham dự. Nhà thơ Hồ trọng Khôi đã làm bài điếu văn bằng thơ lục bát do bà Diệu Khánh diễn ngâm. Bà Minh Châu Thái Hạc Oanh cũng có một bài thơ khác cho buổi lễ này. Giáo sư Vũ-quốc Thúc nhắc lại các giai đoạn lịch sử mà Cựu Hoàng Bảo Đại đã can dự. Đến dự có cụ Ưng Thi vào hàng thúc bá của Cựu Hoàng, có bà chị ruột của Hoàng Hậu Nam Phương là bà bá tước Didelot, năm nay 92 tuổi ngồi xe lăn, Hoàng tử Vĩnh San, con của Vua Duy Tân, ông Bửu Phúc là nguyên Chủ tịch hội Nguyễn-Phước tộc cư ngụ tại Marseille. Thứ phi Monique không có mặt vì không được mời.\nTrong buổi lễ, có nghi thức cầu nguyện của các tôn giáo như Công giáo, Phật giáo, Hào Hảo, Cao Đài. Phần nghi thức Phật giáo là chính và dài nhất kéo dài khoảng ba tiếng rưỡi đồng hồ dưới sự chủ lễ của Hòa thượng Thích Huyền Vi cùng với khoảng 30 thượng tọa, tăng ni từ nhiều chùa đến tụng niệm.\nĐiểm đáng nói nhất là các hoàng tử và công chúa mặc đại tang màu trắng tiến vào trong đại sảnh và quì lạy trước bàn thờ rất thuần thục và đã « lạy trả » những người đến niệm hương.\nVà điều khiến nhiều người Việt tham dự ngạc nhiên và cảm động đến ứa lệ là Thái tử Bảo Long – mà người ta vẫn đồn đãi rằng đã tây hóa và quên tiếng Việt – cảm tạ quan khách bằng tiếng Việt chững chạc rõ ràng trên máy vi âm, chứ không phải bằng tiếng Pháp ! và nhất là sau buổi lễ, các hoàng tử và công chúa trong tang phục đứng chờ ở cửa để ân cần cảm tạ quan khách từng người theo đúng cổ tục.\nTheo báo giới, buổi lễ cầu siêu này đã khiến nhiều người trong hoàng tộc mát ruột vì thấy rằng con cái của vị Hoàng đế Việt nam cuối cùng tuy phải bất hạnh lưu vong từ lâu vẫn còn giữ truyền thống Việt nam.\nNgoài ra, buổi lễ có treo cờ vàng ba sọc đỏ, có cử quốc thiều, có cử bài « Đăng đàn cung » và giữ phút mặc niệm trang nghiêm. Điều này cũng gây cảm xúc đầy ý nghĩa cho những người tham dự về tinh thần quốc gia dân tộc.\nMột điều sau cùng nhất là theo một hai người thân tín nói riêng với nhau là có lần Cựu Hoàng Bảo Đại tỏ ra vui và rất kín đáo bảo họ rằng chiếc ấn « Hoàng đế chi bửu » đã truyền cho Thái tử Bảo Long ! Nếu… và nếu quả đúng như vậy… thì sợi giây truyền thống của giòng Nguyễn-Phước chưa dứt. Tuy nhiên, thời gian vẫn là câu giải đáp chính xác.\n\nCALGARY MÙA TUYẾT NĂM 1997\nKích thước to lớn của một Sắc Thần so với cô gái đang cầm tờ Sắc để chụp hình. (tài liệu của Phạm Thăng)\n\nInconnu(e) TỜ SẮC ĐỜI VUA TỰ ĐỨC (Nhìn kỹ dấu ấn trên đầu rồng) (tài liệu của Phạm Thăng)\n\nMỘT VĂN BẢN CỦA VUA BẢO ĐẠI CÓ DẤU ẤN SẮC MỆNH CHI BỬU\n(Bên dưới là dấu chứng thực của Tòa Khâm sứ) (tài liệu của Phạm Thăng)\n\nInconnu(e) PHẦN PHỤ BẢN VỚI HÌNH ẢNH RIÊNG CỦA CỰU HOÀNG\n\nInconnu(e) CỰU HOÀNG BẢO ĐẠI VÀ BÀ MONIQUE TẠI NHÀ MỘT NGƯỜI EM\n\nInconnu(e)\n\n*Điện Kiến Trung : Hàng đầu là Hoàng Đế Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long và Đức Từ Cung. Hàng sau từ trái qua mặt là các Thượng thư Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hoàng Trọng Phu, Tôn Thất Quảng. Đứng sau Hoàng Đế Bảo Đại là Tôn Nhơn Phủ Vụ Đại Thần Ưng Bàng*.\n\nMẶT TIỀN CHÙA QUỐC TẾ VINCENNES\n(Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương) (Nguyễn Cúc Dallas, Texas, USA)\n\nBàn thờ đặt linh vị Hoàng Đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu (Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương). Quang cảnh chung buổi lễ (Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương)\n\nHoàng Thái Tử Bảo Long, Hoàng tử Bảo Thắng, và các Công chúa Phương Mai, Phương Dung và Phương Liên (Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương)\n\nHoàng Thái Tử Bảo Long, chủ tế bên cạnh Hoàng thân Bảo Hưởng đang đọc văn tế (Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương)\n\nHoàng Thái Tử Bảo Long đọc chúc từ cảm tạ đồng hương và quan khách (Tài liệu riêng của tủ sách Tiếng Sông Hương)\n\n-\n**Bulletin de l’École Française D’Extrêm-Orient (BEFEO) 1925 & 1926.** Convention entre le Gouvernement Annamite et le Protectorat francais (signeé le 6 Novembre 1925). Intronisation du prince héritier et les funérailles de S.M. Khải-Định.\n-\n**L. Cadière**. Le Changement de costume sous Võ Vương ou une crise religieuse à Huế au XVIIIè siècle *(Bulletin des Amis du Vieux Huê).*\n- Collections Albert Kahn – Département des Hauts-de-Seine : Villages et Villageois au Tonkin 1915-1920.\n*Autochromes réalisés par Léon Busy pour les *« *Archives de la Planète ».*\n-\n**Pierre Daudin**. Sigillographie sino-Annamite *(Saigon Jan – Mars 1937).*\n-\n**P. Huard & M. Durand** Connaissance du Vietnam *(École Française d’Extrême-Orient, 1954).*\n-\n**C.A.S. Williams** Outlines of Chinese Symbolism & Art Motives. *Dover, 1976.*\n-\n**Bửu Phúc**. Nguyễn Triều Ngọc Điệp.\n-\n**Đoàn thị Tình**. Tìm hiểu Trang phục Việt nam (Dân tộc Việt) *(Nhà Xuất bản Văn Hóa).*\n-\n**Hoàng ngọc Thành & Thân thị Nhân-Đức**. Những ngày cuối cùng của Tổng thống Ngô-đình Diệm.\n-\n**Hoàng trọng Thược**. Hồ sơ Vua Duy Tân ; *Mõ Làng, 1993.*\n-\n**Lê quí Đôn**. Phủ biên tạp lục (Bản dịch của Lê xuân Giáo) *Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, 1973 *; Vân đài loại ngữ *(Tự lực xuất bản).*\n-\n**Nguyễn Cúc**. Đặc San Tiếng Sông Hương. *Dallas USA.* **- Nguyễn hữu Thông.** Huế, nghề và làng nghề thủ công truyền thống *(Nhà Xuất bản Thuận hóa).*\n-\n** Nguyễn Phước tộc lược biên.** **- Nhất Thanh Vũ văn Khiếu**. Đất lề Quê thói. **- Nguyễn Tuân**. Vang Bóng Một Thời. **- Phạm Mạnh Cương**. Bộ Ấn Kiếm cuối cùng của Triều Nguyễn *(Tập San « Huế, Một chút gì để nhớ » Montréal, Canada).* **- Phạm thế Ngũ**. Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên.\n-\n**Phạm trọng Chánh**. Đám tang Jean-Robert Vĩnh Thụy, vị vua cuối cùng Việt nam *(Báo Thế Kỷ 21 số 101, tháng 9-1997).* **- Phan kế Bính**. Việt Nam Phong tục.\n-\n**Phan Khoang.** Việt Nam Pháp thuộc sử 1884-1945.\n-\n**Phan phat Huồn**. Việt Nam Giáo sử.\n-\n**Thái văn Kiểm**. Cố đô Huế : Lịch sử – Cổ tích – Thắng Cảnh 1960. **- Tran trong Kim**. Việt Nam Sử lược. **- Trọng Kim**. Đám tang Cựu Hoàng như đám ma một ông Tây. Hoàng Đế Bảo đại đã thoái vị và trao quyền cho Việt Minh ra sao ? *(Báo Ngày Nay ngày 12 và ngày 15 tháng 8-1997).*\n-\n**Võ Hương An.** Chuyện Cung đình nghe kể lại *(Tiếng Sông Hương Dallas 1997).*\n-\n**Võ văn Triêm**. Đời tôi *(Nhật ký riêng của thân phụ bác sĩ Võ văn Tùng).*\n\nLÊ VĂN LÂN\nSinh năm Tân Mùi (1931).\nChứa trong người ba miền quê Bắc, Trung, Nam : tổ-quán ở\n*Bát-tràng* (Bắc-ninh), sinh ấu quán ở *Huế* (Thừa thiên), quê vợ ở *Cái nhum* (Vĩnh Long).\nHọc trường\n*Quốc học* (Huế).\nTốt nghiệp\n*trường Thuốc Saigòn* (1960).\nLàm\n*Lang lính*. *Chuyên nghiên cứu và biên khảo về đất lề quê thói Việt nam* (đã viết nhiều bài về món ăn, vị thuốc của quê hương, phong thủy, bùa chú… cho nhiều báo Việt ngữ ở năm châu hải ngoại).\nSách đầu tay : Bút khảo về Ăn.\nĐược mời thuyết trình về văn hóa Việt cổ truyền ở nhiều nơi (Mỹ, Canada, Pháp). Chủ trương nhóm Duyên Văn (gồm Phạm Cơ, Hà kỳ Lam, Trần Quán Niệm, Phạm Bách Hợp. Nhóm thành lập năm 1993 và đã bảo trợ, tổ chức nhiều buổi ra mắt tác phẩm thi văn và nghệ thuật)", "file": "books_text_final/ebooks.epub_19661.txt"} {"text": "*Sách, không hết lời,* *Lời, không hết ý. *\n書 不 盡 言\n言 不 盡 意。\n**Dịch Kinh**\n易 經\n*Có nơm là vì cá;* *Đặng cá hãy quên\nnơm* *Có dò là vì thỏ;* *Đặng thỏ hãy\nquên dò,* *Có lời là vì ý;* *Đặng ý hãy quên lời.\n* *Ta tìm đâu đặng\nngười biết quên lời,* *hầu cùng nhau đàm luận.\n*\n筌 者 所 以 在 魚\n得 魚 而 忘 筌。\n蹄 者 所 以 在 兔\n得 兔 而 忘 蹄。\n言 者 所 以 在 意\n得 意 而 忘 言。\n吾 安 得 夫 忘 言 之 人\n而 與 之 言 或。\n**Trang Tử**\n莊 子 (外物)\n\nDịch Trang Tử là một công việc không phải dễ. Là vì muốn dịch được Trang Tử ít ra phải có ba điều kiện sau đây: phải thâm Hán tự (nhất là về cổ ngữ); phải nắm được yếu chỉ của cái học Lão Trang; và, phải biết đọc Trang ngoài văn tự.\nNhư vậy, quyết chắc chưa có một ai dám tin tưởng rằng mình đã có đủ điều kiện để dịch Trang Tử. Nhất là với cái trình độ Hán học do công phu tự học của dịch giả, thì làm gì đảm nhiệm cái việc làm mà chỉ riêng có những bậc tinh thâm Hán học, hay khoa bảng xuất thần mới làm nổi mà thôi!\nNhưng, với lòng hiếu học, dịch giả đã tạm giải quyết được mọi trở ngại. Dịch Trang Tử, chẳng qua là một phương pháp tự học của dịch giả từ thuở nhỏ. Phàm đọc sách về Kinh, Truyện, hễ gặp đoạn nào hay mà khúc mắc, thường hay đem mà phiên dịch ra quốc văn. Là để tự bắt buộc phải đọc cho thật kỹ và thấu đáo, không cho sót một chữ nào mà ta còn hiểu mập mờ, chưa lột được tinh thần của nó. Những khi gặp trở ngại lớn lao, thì lại được cùng các bậc thâm nho bàn góp và gỡ rối, nhất là, được đấng từ thân chỉ dạy tận tường. Như thế, lâu ngày bản dịch thành hình.\nCũng như bản dịch\n*Lão Tử\nĐạo Đức Kinh*, bản dịch nầy\ncũng khởi thảo cùng một lúc vào khoảng 1935 và\nđã được đăng tải trong báo Nay\nkhoảng 1937.\nHôm nay, đem cho xuất bản cũng không ngoài mục đích cầu học, chân thành mong được các bậc cao minh Đạo học chỉ dạy thêm cho những chỗ sai lầm và thiếu sót mà dĩ nhiên không làm sao tránh khỏi.\n⸈⸈⸈\nCái khó nhất, trong khi dịch Trang Tử, là\nthường gặp những danh từ thuộc về\ncổ ngữ mà chỉ có Trang Tử riêng dùng với\nmột ý nghĩa đặc biệt theo ông. Trong khi phiên âm\ncũng như trong khi nghiên cứu về các danh từ\ncủa Trang Tử, dịch giả đã dựa vào công phu\nnghiên cứu rất danh tiếng của Chu Quế\nDiệu 朱 桂 曜 trong\n*Trang Tử Nội Thiên Chứng\nBổ *莊 子 内 篇 証 補, còn chánh văn thì căn cứ vào bản\ncủa Hướng Tú 向 秀, và Quách\nTượng 郭 象, tức là bản cổ\nnhất hiện thời còn sót lại.\nThời Ngụy Tấn cái học về Đạo gia rất là thịnh hành. Ở thời kỳ nầy, chú thích Trang Tử của Hướng Tú và Quách Tượng thật có một giá trị vô cùng quan trọng và đặc sắc. Lời chú thích của hai nhà chẳng những làm sáng tỏ tư tưởng trong sách Trang Tử, lại còn gợi cho ta thêm nhiều ý kiến mới lạ khác, làm giàu thêm cho Trang học không nhỏ.\nThời xưa, các ông đã làm nổi lên được phong trào Huyền học, và cho đến nay chưa có một học giả nào vượt qua nổi cái học và cái tài chú giải của hai ông.\nBản dịch nầy một phần căn cứ vào những chú giải của hai ông, nhưng có nhiều chỗ mà dịch giả không hẳn đồng ý và có khi chống đối là khác. Dĩ nhiên những khi chống đối đều có giải thích rõ ràng lập trường của mình.\n⸈⸈⸈\nBản dịch sẽ chia làm hai phần: Phần nhất gồm cả thảy là 6 thiên ở Nội thiên (Tiêu Diêu Du, Tề Vật Luận, Dưỡng Sinh Chủ, Đức Sung Phù, Đại Tông Sư và Ứng Đế Vương). Đó là phần chánh của cái học Trang Tử.\nPhần hai, gồm cả Ngoại và Tạp thiên,\ncả thảy là 26 thiên (và luôn thiên Nhơn Gian Thế mà\ndịch giả loại nó ra vì cho là ngụy thơ, nghĩa\nlà không phải chính tay Trang Tử viết ra). Trong 26 thiên\nNgoại và Tạp thiên, dịch giả cũng sẽ\nchỉ trích ra những chương hay nhất có thể\ntiêu biểu cho cái học của Trang Tử mà loại\nbỏ tất cả những chương xét ra quá thiển\nbạc và làm sai lạc chủ chỉ của Trang Tử\nđã biểu diễn ở 6 thiên đầu của\nNội thiên. Và như thế là tránh cho\n*Nam Hoa Kinh *những\nmâu thuẫn và xuyên tạc của nhiều đoạn\nvăn quá sức vụng về và nông nổi mà không\nhiểu sao các học giả như Quách Tượng\nlại tiếc gì không vứt đi trong khi san định,\ndi ngộ cho người đời sau không phải ít?\n⸈⸈⸈\nDịch giả không bao giờ dám có cao vọng là đã nắm được mọi yếu chỉ của cái học Trang Tử, và bản dịch này cũng chỉ là một bản dịch theo trình độ hiểu biết hiện thời của dịch giả mà thôi.”Dịch, là phản”, đó là việc hiển nhiên, không làm sao tránh khỏi đối với những tác phẩm về tư tưởng, nhất là những tác phẩm cổ điển mà tư tưởng cô đọng trong một lối hành văn vừa hàm súc, vừa kỳ ảo như văn của Trang Châu. Vì vậy, để cho độc giả thưởng thức được cái thú “uống nước tận nguồn”, dịch giả tự xem như có phận sự là cho đăng lại chánh văn, và phiên âm, để giúp các bạn có cơ hội kiểm soát và đồng thời thoát khỏi bản dịch mà trở về với nguồn gốc của nó là câu văn huyễn tướng của Trang Châu, mà chắc chắn không có một bản dịch nào lột được tất cả tinh thần của nó.\n⸈⸈⸈\nVề phần chú giải, thì dịch giả chỉ nhắm vào hạng độc giả có một trình độ Hán học khá cao, nhưng kém thời giờ nghiên cứu. Vì vậy, sẽ không rườm rà tỉ mỉ như ở các sách giáo khoa, và cũng là để cho bớt sự nặng nề không khí của nhà trường. Quan hệ là ở chỗ bình giải để độc giả nhận thấy rõ ràng trình độ hiểu biết của dịch giả trong khi phiên dịch và giải thích.\nLại còn thêm việc dịch âm, là vì cổ ngữ có nhiều giọng đọc mà ngày nay không giống với giọng đọc ngày xưa, tưởng cũng sẽ đỡ nhiều cho các bạn trẻ thiếu điều kiện để tra cứu.\n*Thu Giang NGUYỄN DUY CẦN* *22. 9. 1962*\n\n**1.\nLƯỢC SỬ TRANG TỬ**\nTrang Châu 莊 周, thường\ngọi là Trang Tử (sống trong khoảng 369-298\ntrước Tây lịch kỷ nguyên), có lẽ là một nhà\nLão học cao nhất trong các nhà Lão học cổ nhất\nở Trung Hoa, Tư Mã Thiên trong\n*Sử Ký, *chương\nTrang Tử liệt truyện 莊 子 列 傳 nói: “Trang Tử, người xứ Mông蒙, tên là Châu 周”; nhưng không thấy nói là\nngười nước nào.\nBùi Nhân 裴 駰 trong\n*Tập\nGiải *dẫn *Địa Lý Chí *ra mà nói:\nhuyện Mông, thuộc về nước Lương 梁. Còn Tư Mã Trinh 司 馬 貞 trong *Sách\nẨn *索 隱 dẫn lời của Lưu\nHướng 劉 向 trong *Biệt Lục *別 錄 lại nói: “Người xứ Mông 蒙, nước Tống 宋 ”.\nNhư vậy, Trang Tử là người nước nào? Lương hay Tống?\nMã Tự Luân 馬 敍 倫 trong\n*Trang Tử Tống Nhơn\nKhảo *莊 子 宋 人 考 nghiên cứu hai thuyết trên\nđây rất kỹ, quả quyết rằng Trang Tử là\nngười nước Tống.\nTheo họ Mã thì Trang Tử sống vào khoảng Lương Huệ Vương nguyên niên và Triệu Huệ Văn nguyên niên. Lương Huệ Vương nguyên niên thì thuộc về khoảng năm thứ 6 đời Châu Liệt Vương, còn Triệu Huệ Văn nguyên niên thì ném vào khoảng Châu Văn Vương năm thứ 17. Như vậy, chiếu theo Tây lịch kỷ nguyên, Trang Tử sống vào khoảng 370 và 298 trước Tây lịch kỷ nguyên, nghĩa là đồng thời với Mạnh Tử 孟 子, Huệ Tử 惠 子 bên Á, và Aristote, Zénon, Épicure bên Âu.\n⸈⸈⸈\nSự tích truyền lại về đời sống Trang Tử thật là mơ hồ, không có chi có thể tin là đích xác được. Nhưng, căn cứ vào sách Trang Tử, những câu chuyện thuật lại, có một giá trị đặc biệt về phương diện học thuật, tưởng cũng không nên không lưu ý.\n⸈⸈⸈\nĐời ông rất nghèo, gần như cơ hàn.\n*Trang Tử nghèo túng...sang Giám Hà Hầu vay lúa. * *Giám Hà Hầu nói: * *- * *Tôi có cái ấp sắp nộp tiền lúa. Tôi\nsẽ giúp ông trăm lượng. Có được không? * *Trang Tử giận: * *- * *Hôm qua, khi Châu đến đây, giữa\nđường nghe có tiếng kêu. Ngảnh lại trông, thì\nthấy một con cá đang vùng vẫy trong cái vết bánh\nxe. Châu tôi hỏi: “Cá đến đây để làm gì?”. Cá\nnói: “Tôi là thủy thần ở bể Đông, ông có thể\ngiúp tôi một chén nước mà cứu tôi không?”. Châu tôi nói:\n“Để tôi qua chơi bên phía Nam nước Ngô\nnước Việt, rồi khi về, tôi sẽ lấy\nnước Tây giang về đón ngươi. Có\nđược không?”. Cá giận nói: “Tôi đang cần\nnước, ông chỉ cho tôi được một ít là\nđủ sống. Nay nói như ông, đợi đến\nlúc ông về thì đến hàng cá khô, sẽ thấy tôi\nnơi đấy!” *\n(Ngoại Vật 外 物)\n⸈⸈⸈\nỞ thiên Sơn Mộc 山 木 cũng có nói:\n*Trang Tử bận áo vải mà vá, giày cột\nbằng dây gai...Gặp Ngụy Vương. Ngụy\nVương nói: * *- * *Tiên sinh khổ não thế ư? Trang Tử nói: * *- * *Nghèo, chứ không\nkhổ não. Kẻ sĩ có Đạo Đức, không bao\ngiờ khổ. Áo rách, giày hư là nghèo, không phải khổ.\nĐó chẳng qua vì không gặp thời mà thôi. Phàm con\nkhỉ con vượn nhảy nhót đặng thong thả\nlà nhờ gặp được rừng cây to cành dài,\ntrơn tru dai dẻo. Dù cho bậc thiện xạ như\nPhùng Mông cũng không sao hạ nó được. Nếu nó\nrủi gặp phải cây khô, gai góc, thì sự hoạt\nđộng ắt khó khăn chậm chạp. Cũng\nthời một con thú, mà sự cử động dễ khó\nkhác nhau, chẳng qua vì gặp phải hoàn cảnh không\nthuận làm cho nó không tự do dùng tận sở năng\ncủa nó. Nay, sanh không nhằm thời, trên thì hôn ám,\ndưới thì loạn tặc lại muốn không cực\nnhọc vất vả, có được không? *\n⸈⸈⸈\nTuy là nghèo, mà lòng vẫn luôn luôn thanh cao, không bao giờ chịu bó thân trong cảnh vinh hoa phú quý. Tài trí ấy, nếu muốn lợi danh, ắt hẳn đã có lợi danh lập tức. Nhưng, ông một mực chối từ...\nSở Uy Vương đã từng nghe danh tài của ông, đã từng vời ông ra làm khanh tướng.\n*Trang Tử câu trên sông Bộc. Sở Vương\nsai hai quan đại phu đem lễ vật mời ông ra\nlàm quan. Trang Tử cầm cần câu không nhúc nhích cũng\nkhông thèm nhìn lại, nói: “Tôi nghe vua Sở có con thần quy,\nchết đã ba nghìn năm. Vua Sở quý nó và cất trên\nmiếu đường. Con quy ấy, chịu chết\nđể lưu lại cái xương của mình cho\nngười sau quý trọng hay lại chịu thà sống mà\nkéo lê cái đuôi của mình trong bùn?”. Hai vị đại\nphu nói: “Thà sống mà kéo lê cái đuôi trong bùn còn hơn!” * *Trang Tử nói: “Thôi, về đi. Ta đây cũng\nchịu kéo lê cái đuôi của mình trong bùn. . .” *\n(Thu Thủy 秋 水)\n⸈⸈⸈\nỞ mục Lão Trang Thân Hàn Liệt Truyện 老 莊 申 韓 列 傳 trong\n*Sử\nKý*, Tư Mã Thiên 司 馬 遷 có đoạn bàn về nhân cách\ncủa ông: *Uy Vương nước Sở nghe nói Trang Châu là\nngười hiền trong thiên hạ, sai sứ đem\nhậu lễ đón, muốn mời ra làm tướng. Trang\nChâu cười, bảo với sứ giả: “Cái lợi\ncủa nghìn vàng quả trọng thật, cái địa\nvị khanh tướng quả cũng quý thật. Nhưng\nriêng ông chả thấy con bò tế hay sao? Được\nngười ta săn sóc, được mặc đồ\ntrang sức văn vẻ để đưa vào Thái\nmiếu. Lúc ấy dù có muốn được làm con\nlợn côi há còn được nữa hay không? Ông hãy đi\nđi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta rong chơi\nở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn thấy sung\nsướng hơn là để cho kẻ làm chủ một\nnước kia trói buộc được ta. . .” *\n⸈⸈⸈\n*Nước Tống có Tào Thương\nđược vua sai đi sứ nước Tần. Khi ra\nđi, số xe vừa đủ đi. Đi sứ\nnước Tần, đẹp lòng vua Tần,\nđược ban thêm trăm cỗ xe. * *Khi về Tống, gặp Trang Tử, nói: “Phàm\nsống trong chốn cùng lư, ngõ hẹp, áo giày xốc\nxếch, thiếu hụt, khốn đốn cùng khổ\nnhư ông, Thương nầy không thể chịu\nđược. Làm cho bậc chủ muôn xe vừa ý,\nđể hậu thưởng trăm xe, đó là chỗ\nsở trường của Thương nầy vậy”. * *Trang Tử nói: “Tôi nghe nói Tần Vương có\nbệnh, triệu thầy thuốc vào chữa. Nếu\nmổ được mụt ung của ông ta, thì\nthưởng được một xe. Còn ai liếm\nmụt ung, thì được thưởng năm xe. Cách\ntrị càng hạ tiện bao nhiêu,thì số xe ban\nthưởng càng được tăng thêm bấy nhiêu. Ông\nđã trị bệnh Tần Vương cách nào mà\nđược nhiều xe đến thế? *\n(Liệt Ngự Khấu 列 御 寇)\n⸈⸈⸈\n*Huệ Tử làm quan nước Lương. Trang\nTử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có\nkẻ nói với Huệ Tử: “Trang Tử mà qua đây, là\nđể cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ\nTử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba\nđêm, đợi Trang Tử đến thì bắt. Trang\nTử hay chuyện, không đi. * *Sau rồi lại đến. Gặp Huệ\nTử, Trang Tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là\nUyên sồ, ông có biết không? Uyên sồ từ biển Nam\nbay qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng\nthì không chịu đậu; nếu không gặp hột\nluyện thì không ăn; nếu không gặp nước\nsuối trong thì không uống. Có con chim ụt đang rỉa\nxác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên\nsồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên\nđể dọa Uyên sồ đừng đáp xuống. Nay,\nvì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở\nnước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi\nsao?” *\n(Thu Thủy 秋 水)\n⸈⸈⸈\nTheo truyền thuyết thì Trang Tử giao du\nrất thân mật với Huệ Tử\n*, *tên là\nThi 施, cũng là\nngười Tống, và thường hay biện nạn\nvới nhau luôn. Trong sách Trang Tử có rất nhiều\nsự tích về sự tranh luận của hai nhà, cho ta\nthấy nhân sinh quan, cũng như lập trường\ntư tưởng của đôi bên, khác nhau xa, mặc dù hai\nbên cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau. *Huệ Tử nói với Trang Tử: * *- * *Ngụy Vương thưởng tôi một\ngiống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng đến\nnăm thạch. Dùng nó đựng nước, nó nặng,\nkhông cất nhắc được. Bổ nó ra làm bầu,\nthì lại không còn dùng được chỗ nào. Đâu\nphải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô dụng nên tôi\nđập bỏ nó đi. *\n*Trang Tử nói: * *- * *Thế là ông vụng về chỗ đại\ndụng nó. Nước Tống có người khéo chế\nđược món thuốc chữa răn nứt da tay,\nđời đời chuyên làm nghề ươm tơ. Có\nngười hay biết, đến xin mua phương\nthuốc đó một trăm lượng vàng. Anh ta bèn nhóm\nthân tộc bàn rằng: “Nhà ta đời đời làm\nnghề ươm tơ, lợi không hơn số vàng\nấy, vậy xin để cho bán.” * *Người khách được phương\nthuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước Việt có\nnạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa Đông,\nthủy chiến với người nước Việt,\nngười Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt\nđất mà phong thưởng cho anh ta. Cũng thời\nmột phương thuốc trị răn nứt da tay, mà\nmột người được phong, một\nngười không ra khỏi cái nghề ươm tơ:\nđó là tại chỗ biết dùng hay không biết dùng mà\nkhác nhau vậy. * *Nay ông có trái dưa nặng đến năm\nthạch, sao không biết dùng nó làm trái nổi mà thả qua\nsông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ bầu tan, không có\nchỗ đắc dụng? Thì ra vì cái lòng của ông hẹp\nhòi chưa trực đạt đó. *\n(Tiêu Diêu Du 逍 遙 遊)\n⸈⸈⸈\n*Một khi khác, Huệ Tử nói với Trang\nTử: * *- * *Tôi có cội cây to, người ta gọi nó là cây\nVu. Gốc nó lồi lõm không đúng dây mực. Nhánh nhóc nó thì\ncong queo không đúng quy củ. Đem trồng nó ở\nđường cái, người thợ mộc cũng không\nthèm nhìn. Nay lời nói của ông to lớn mà vô dụng, nên\nngười người đều không thèm nghe. * *Trang Tử nói: * *- * *Ông riêng chẳng thấy con mèo rừng đó sao?\nCo mình đứng núp, nhìn vật đi rong, nhảy tây\nnhảy đông, không hiềm cao thấp, kẹt trong dò\nbẫy, chết nơi lưới rập. Đến\nnhư con thai ngưu, lớn như vầng mây che một\nphương trời, kể ra cũng là to thật, nhưng\nkhông thể bắt được chuột. Nay ông có cây to,\nlại sợ nó vô dụng. Sao không đem nó trồng nơi\ntịch mịch, giữa cánh đồng rộng bao la. Khách\nngao du không làm gì, ngồi nghỉ dưới gốc nó, khách\ntiêu diêu nằm nghỉ dưới bóng nó. Nó sẽ không\nchết yểu vì búa rìu, cũng không sợ vật nào làm\nhại. Không có chỗ nào có thể dùng được, thì\nkhốn khổ từ đâu mà đến được? *\n(Tiêu Diêu Du 逍 遙 遊 )\n⸈⸈⸈\n*Huệ Tử gọi Trang Tử mà nói: “Lời\ncủa ông vô dụng”. Trang Tử nói: “Biết cái chi sao là vô\ndụng, thì cũng đã biết nó sao là hữu dụng. Như\nđất rộng, người ta cho nó là hữu dụng,\nvì nhờ nó mà đi được. Nhưng, nếu\ntrật chân té chìm tận suối vàng, người ta còn\ngọi nó là hữu dụng nữa không?” * *Huệ Tử nói: “Vô dụng.” * *Trang Tử nói: “Vậy thì rõ vô dụng là hữu\ndụng đó.” *\n(Ngoại Vật 外 物)\n⸈⸈⸈\nỞ thiên Thu Thủy 秋 水 thuật rằng:\n*Trang Tử cùng Huệ Tử đứng chơi\ntrên cầu hào thành. Trang Tử nói: “Cá xanh, bơi lội\nthung dung. Cá vui đó”. Huệ Tử nói: “Ông không phải cá,\nsao biết cá vui?” * *Trang Tử nói: “Ông không phải tôi, sao biết tôi\nkhông biết!” * *Huệ Tử nói: “Tôi không phải ông, nên không\nthể biết được ông, còn ông không phải cá, ông\ncũng không sao biết được cái vui của cá.” * *Trang Tử nói: “Xin xét lại câu hỏi\nđầu. Ông hỏi tôi làm sao biết được cá\nvui? Đã biết là tôi biết, ông mới có hỏi ‘làm sao\nmà biết’...Thì đây, làm thế nầy: tôi\nđứng trên hào thành mà biết được.” *\n(Thu Thủy 秋 水)\n⸈⸈⸈\nVề sau, Huệ Tử mất. Một khi Trang\nTử đi qua mộ ông, tỏ ý thương tiếc: “\n*Từ\nkhi phu tử mất, tôi không còn cùng ai chất vấn, bàn\nbạc được nữa!” *\nGia đình ông như thế nào, sử không thấy nói. Chỉ biết ông có vợ, và vợ ông chết.\n*Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử\nđến điếu. Thấy Trang Tử ngồi,\nduỗi xoác hai chân, vừa vỗ bồn, vừa ca. * *Huệ Tử nói: * *- * *Cùng người ở tới già, có con lớn mà\nngười chết lại không khóc, cũng đã là quá\nlắm rồi, lại còn vỗ bồn ca, không phải thái\nquá sao? * *Trang Tử nói: * *- * *Không! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng\nđộng lòng. Nhưng nghĩ lại hồi\ntrước, nàng vốn là không sanh. Chẳng những là\nkhông sanh, mà đó vốn là không hình. Chẳng những không\nhình, mà đó vốn là không khí. Đó, chẳng qua là tạp\nchất ở trong hư không biến ra mà có khí, khí biến\nra mà có hình, hình biến ra mà có sanh, rồi lại biến ra\nnữa mà có tử. Sanh, hình, khí, tử có khác nào xuân, hạ,\nthu, đông, bốn mùa hành vận. Vả lại,\nngười ta nay đã nghỉ yên nơi Nhà Lớn, mà tôi\ncòn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mạnh\nư? Nên tôi không khóc. *\n(Chí Lạc 至 樂)\n⸈⸈⸈\nTrang Tử mất vào năm nào, thì không thấy có\nsách nào ghi chép. Chỉ biết rằng lúc\n*Trang Tử\ngần chết, các đệ tử muốn hậu táng,\nnhưng Trang Tử không cho. Trang Tử nói: * *- * *Ta có trời đất làm quan quách, nhật\nnguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn\nvật làm lễ tống. Đám táng của ta như\nvậy, không đủ sao? Mà còn thêm chi cho lắm việc! * *Đệ tử thưa: * *- * *Chúng con sợ diều quạ ăn xác Thầy!\nTrang Tử nói: * *- * *Trên thì diều quạ ăn, dưới thì dòi\nkiến ăn. Cướp đây mà cho riêng đó, sao\nlại có thiên lệch thế! *\n(Liệt Ngự Khấu 列 御 寇)\n⸈⸈⸈\n**II. UYÊN NGUYÊN CỦA HỌC THUYẾT\nTRANG TỬ**\nCái học của Trang Tử, tuy do Lão Tử mà ra,\nnhưng biệt lập ra một phái riêng: phái\n*Trang\nhọc. * *Sử Ký *cho rằng “ *cái học của ông\nkhông đâu là không bàn đến, nhưng gốc ở\nlời dạy của Lão Tử. . .” [1]*\nPhê bình học thuyết Trang Tử, thiên Thiên\nHạ 天下 trong sách Trang\nTử có nói: “\n*Đạo vẫn thâm mật, vô hình và\nbiến hóa vô thường. Chết, Sống cùng Trời\nĐất ngang nhau, cùng thần minh qua lại và lui tới\nmà thấy không thiết thực. Vạn vật bao la mà lúc\ntrở về, không thêm cho Đạo. Đó là chỗ nghiên\ncứu của người xưa. Chỗ đó Trang Châu\nnghe qua, đẹp ý. Muốn truyền bá nó ra, Trang Châu\nmượn câu chuyện mậu ngộ, tiếng nói hoang\nđường, lời văn không bến, thường\nphóng túng mung lung mà không cao dị...Trang Châu thấy\nđời chìm đắm trong ô trọc, không hiểu\nđược lời mình nên dùng “chi ngôn” mà gieo khắp,\ndùng “trùng ngôn” làm thực sự, dùng “ngụ ngôn” cho rộng\nhiểu. Rồi riêng một mình lại qua cùng trời\nđất tinh thần mà không ngạo nghễ vạn\nvật không hỏi tội thị phi, lại sống chung\ncùng thế tục. Sách của Trang Châu thì khôi vĩ mà\ndịu dàng, không hại. Lời tuy sân si, mà thấy\nđặng ý răn lòng khi trá. Chỗ sung thực của\nđó không dừng đặng. Trên thì dạo cùng tạo\nvật, dưới bạn cùng “ngoại tử sanh, vô chung\nthủy”. Bản nguyên của đó thì hoằng đại\nmà sáng sủa, sâu rộng và phóng túng. Tông chỉ của\nđó có thể thích hợp với bậc thượng trí.\n*\n*Tuy nhiên, tông chỉ và bản căn đó\nđều ứng theo tạo hóa mà đạt đến\nvạn vật. Lý của đó thì không cùng”. *\n(Thiên Hạ 天 下)\n⸈⸈⸈\nNhư vậy, ta thấy rằng học thuật\ncủa Lão và Trang\n*, *có chỗ không đồng nhau.\nLão Tử cho rằng\n*“cứng rắn thì\ndễ bị bể nát, nhọn bén thì dễ bị mòn\nlụt”; và “kiên cường giả, tử chi\nđồ” *堅 强 者 死 之 徒 (chương 76) *(cứng và mạnh là bạn\ncủa cái chết), *cho nên ông chỉ cho con\nngười con đường để mà tránh khỏi\nsự đổ nát mòn gẫy. . .” *Trì nhi doanh chi, bất như\nkỳ dĩ; sủy nhi chuyết chi, bất khả\ntrường bảo, kim ngọc mãn đường,\nmạc chi năng thủ; phú quý nhi kiêu, tự di kỳ\ncữu; công toại thân thối; thiên chi Đạo”*(持 而 盈 之,不 如 其 已,揣 而 梲 之,不 可 長 保,金 玉 滿 堂,莫 之 能 守,富 貴 而 驕,自 遺 其 咎,功 遂 身 退,天 之 道。) (Ôm giữ chậu đầy,\nchẳng bằng thôi đi. Dùng dao sắc bén, không bén\nđược lâu; vàng ngọc đầy nhà, khó mà giữ\nlâu; giàu sang mà kiêu, tự vời họa ưu; nên việc\nlui thân, đó là đạo Trời. ) ( *Đạo\nĐức Kinh, *chương 9).\nTrang Tử thì chủ trương sự\n*“vô\nchung thủy, ngoại tử sinh”*(無 終 始 外 死 生), cho nên chỗ mà Lão Tử\nthắc mắc chăm chú, thì Trang Tử lại nhìn với\ncặp mắt thản nhiên, lạnh lùng như không đáng\nkể.\n⸈⸈⸈\nTrong thời kỳ Tiền Hán[2], tư tưởng của Lão học được truyền bá, còn tư tưởng của Trang học thì mãi đến thời Hậu Hán[3] mới được đề cập đến và phổ biến.\nBuổi đầu nhà Hán, danh từ Hoàng Lão được xưng tụng và phổ thông, nhưng đến cuối nhà Hán[4] mới đổi ra thành danh từ Lão Trang.\nCác nhà chú giải Lão Tử, sống vào khoảng\nđầu nhà Hán, không hề nói đến tên Trang Tử,\ncòn các nhà chú giải Trang Tử thì thuộc về khoảng\nnhà Tấn (265-420) sau Tây lịch kỷ nguyên, tức là\ntriều đại nối liền với nhà Hán (Tam\nQuốc). Cho nên, các học giả đời Hán, khi nói\nđến Lão học là chỉ nghĩ đến Lão Tử\nmà thôi, nghĩa là chỉ quan tâm đến vấn\nđề đối phó với thời cuộc. Cho nên\ntrong\n*Nghệ Văn Chí *sở dĩ cho rằng\nLão học (tức là cái học của Lão Tử) là\n“phương pháp của các bậc vương đạo\ntại vị”, là vì thế. Thật vậy, Lão Tử\nsoạn quyển *Đạo Đức Kinh *là\ncho các nhà cầm quyền trị nước thời\nbấy giờ: ông đề xướng giải pháp “vô vi\nnhi trị”.\nTư Mã Thiên nói về cái học Lão Trang có viết:\n“\n*Triết lý của Trang Tử, khác với Lão Tử,\nlại muốn siêu thoát khỏi vấn đề nhân gian\nthế sự. Khi ông nói đến các vì vua đầu tiên\ncủa nhà Hán, cho rằng các bậc ấy lấy “vô vi nhi\ntrị” là có ý muốn nói rằng các bậc trị\nnước ấy áp dụng triết lý của Lão Tử. Chỉ\nđến cuối đời nhà Hán (220 sau Tây lịch) thì\nngười ta mới bắt đầu chú ý đến\nHuyền học *玄 學, *bấy\ngiờ sách của Lão Tử cũng được\nngười ta dùng cái học của Trang Tử mà giải\nthích. Như vậy ta thấy rằng, tuy khởi thủy\nhầu như lập trường triết lý của hai nhà\nđứng riêng nhau mà vẫn có sự liên hệ với nhau\nluôn.” *\nChỗ tương đồng của Lão Tử và Trang Tử là cả hai đều cùng một quan niệm về Đạo và Đức, và cả hai đều chống đối tư tưởng truyền thống và chế độ đương thời. Và, vì vậy mà Tư Mã Thiên đặt tên học phái nầy là Đạo Đức Gia道 德 家, vì ông cho rằng hai quan niệm Đạo và Đức là nền tảng chung của Lão học.\n⸈⸈⸈\nTrang Tử\nsống vào khoảng nửa thế kỷ thứ tư\nđến nửa thế kỷ thứ ba trước Tây\nlịch kỷ nguyên (369-298 trước Tây lịch kỷ\nnguyên) tức là thuộc về một thời kỳ\nhỗn loạn nhất của Trung Hoa: thời Chiến quốc\n*.\n*Bởi vậy, có người cho rằng “trước\nmột hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương mà\nphải trái rối bời, thật giả không phân, chúng ta\nhẳn không lấy chi làm lạ mà thấy Trang Tử\nchủ trương tư tưởng siêu nhiên, đem\ncặp mắt bình thản lạnh lùng mà nhìn xem xã hội\nsự vật”. Nói thế, không hẳn là không có lý do, vì\nnếu xét chung tư tưởng của Trang Tử, ta\nthấy ông cực lực phản đối hầu\nhết mọi học thuyết, chế độ của\nđương thời.\n⸈⸈⸈\nỞ thiên Tề Vật Luận, ông nói: “\n*Cố\nhữu Nho, mặc chi thị phi, dĩ thị kỳ sở\nphi, nhi phi kỳ sở thị” *故 有 儒 墨 之 是 非,以 是 其 所 非 而 非 其 所 是 *(Bởi vậy\nmới có cái phải quấy của Nho Mặc. Nho Mặc\nthì lấy phải làm quấy, lấy quấy làm\nphải). *\nĐại diện cho Nho học thời bấy giờ thì có Mạnh Tử 孟 子; còn đại diện cho Mặc học thì có Tống Hình 宋 鈃. Còn Huệ Thi 惠 施 và Công Tôn Long 公 孫 龍 thì đại diện cho nhóm Danh gia.\nỞ thiên Tề Vật Luận ông nói:\n*“Vị\nthành hồ tâm nhi hữu thị phi, thị kim nhật\nthích Việt nhi tích chí dã...Cố dĩ kiên bạch\nchi muội chung.” *未 成 乎 心 而 有 是 非,是 今 日 適 越 而 昔 至 也。。。故 以 堅 白 之 昧 終 – 齊 物 論 (Lòng mình vì chưa\nthành mà có phải quấy. Nên chi ngày hôm nay đi sang\nnước Việt mà từ bữa hôm qua đã tới\nđó rồi vậy...Cho nên, suốt đời cam chịu\ntối tăm vì thuyết “Kiên bạch”).\nCâu\n*“Kim nhật thích Việt nhi tích chí\ndã” *là ám chỉ biện thuyết của Huệ Thi;\ncòn câu *“dĩ kiên bạch chi muội chung”*(以 堅 白 之 昧 終)là nói về\nthuyết *“Kiên bạch” *của Công Tôn Long.\nĐó là những\nchỗ mà Trang Tử phê bình học thuyết của\nngười đồng thời, đem cái thuyết\n*“tề\nthị phi, đồng dị, tiểu đại” *của\nông ra mà châm đối các nhà thích dùng biện luận. Theo\nông thì *“đại biện bất ngôn”*(大 辯 不 言),còn những biện giả trên\nđây chỉ là những bọn người biện\nvặt (tiểu biện 小 辯 ).\n⸈⸈⸈\nThời ấy có Tử Hoa Tử 子 華 子 chủ trương sự “toàn sinh vi thượng”(全 生 為 上)[5] và Chiêm Hà 詹 何chủ trương “vị thân, bất vị quốc”(為 身 不 為 國),đều là những kẻ thừa hưởng cái học của Dương Chu 揚 朱. Trang Tử đem cái thuyết Tề Vật để đánh đổ lòng tư kỷ, chia phân nhĩ ngã của người đồng thời còn sống thiên trong giới nhị nguyên. Là vì, theo Trang Tử, hễ còn nói “vì mình” tức là còn thấy chỉ có mình mà không thấy có người, trong khi sự thật thì “vật ngã vi nhất”(物 我 為 一).\nỞ thiên Đại Tông Sư 大 宗 師 ông\nviết:\n*“Cổ chi chân nhân, bất tri duyệt sanh,\nbất tri ố tử...Bất tri sở dĩ sanh, bất\ntri sở dĩ tử, bất tri tựu tiên, bất tri\ntựu hậu*.”(古 之 真 人 不 知 悅 生,不 知 惡 死。。。不 知 所 以 生,不 知 所 以 死,不 知 就 先,不 知 就 後。) (Bậc chân nhân\nđời xưa, không tham sống, không ghét chết...Không\nbiết chỗ sở dĩ sống, không biết chỗ\nsở dĩ chết, không biết chỗ đến\ntrước, không biết chỗ đến sau)...Nghĩa\nlà người đạt Đạo phải là kẻ\nđứng trên vấn đề sanh tử, không vị\nkỷ, không quá chú trọng đến bản thân mà suy tính\nlợi hại quá đáng như các chủ trương nói\ntrên.\nPhản\nđối những tư tưởng vị kỷ,\ntức là phản đối lòng tham lam ích kỷ, ông\nlại cũng phản đối cả sự “xá kỷ\nthích nhơn”(舍 己 適 人), nghĩa là\nbỏ cái chân tánh của mình mà chạy theo kẻ khác. Ở\nthiên Đại Tông Sư 大 宗 師 ông nói: “\n*Hành danh thất\nkỷ, phi sĩ dã. Vong thân bất chân, phi dịch nhân dã.”*(行 名 失 己 非 士 也, 亡 身 不 真 非 役 人 也) (Làm theo danh, mà\nbỏ mất mình, không phải là kẻ sĩ. Làm mất\nthân mình, không rõ cái lẽ chân thật nơi mình, cũng\nchẳng phải là kẻ sai được người\nvậy). Ông cho rằng *“như Hồ Bất Giai,\nVụ Quang, Bá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tử Dư,\nKỷ Tha, Thân Đồ Địch đều là hạng\nlàm cái làm của kẻ khác, chiều theo cái thích của\nngười, mà chẳng biết chiều theo cái thích\ncủa mình.” *(Nhược Hồ Bất Giai, Vụ Quang,\nBá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tư Dư, Kỷ Tha, Thân\nĐồ Địch, thị dịch nhân chi dịch, thích\nnhân chi thích nhi bất tự thích kỳ thích giả dã. )若 狐 不 偕,務 光,伯 夷,叔 齊,箕 子,胥 餘, 紀 他,申 徒 狄,是 役 人 之 役,適 人 之 適,而 不 自 適 其 適 者 也。 (Đại Tông Sư 大 宗 市 *)*.\n⸈⸈⸈\nVà, như Lão Tử, ông cũng cực lực\nphản đối Nhân, Nghĩa của phái hữu vi\nthời ấy. Cái học “trục vật” và sự\n“cầu tri”, cũng bị ông đả phá:\n*“Ngô sinh dã\nhữu nhai, nhi tri dã vô nhai. Dĩ hữu nhai, tùy vô nhai, đãi\nhĩ!” *吾 生 也 有 涯 而 知 也 無 涯。以 有 涯 隨 無 涯,殆 矣! (Dưỡng Sinh Chủ 養 生 主 )\nTóm lại, đối với thời đại,\nông phản đối hầu hết các học thuyết\ncùng chế độ thời đó: phản đối Nho\nMặc\n*, *phản đối nhóm danh gia biện\nthuyết như Huệ Thi, Công Tôn Long, phản đối\nlòng vị kỷ *, *trọng tử sinh, sát lợi\nhại, phản đối cả nhân, nghĩa và cái thói\n“cầu tri”, “trục học”, “xá kỷ thích nhơn”,\nnhất là những hành động hữu vi của nhóm Pháp\ngia thời bấy giờ.\n⸈⸈⸈\nTuy nhiên sự phản đối ấy của Trang Tử không phải là lối phản đối công kích của người phẫn thế (ghét đời là vì bất mãn đối với đời) mà thực ra là lối lập ngôn đặc biệt của người đã “vượt qua bến bên kia”, “đáo bỉ ngạn”, theo danh từ nhà Phật, con người giải thoát “để trở về nguồn cội” của cái “Sống Một” mà ta sẽ thấy trình bày sau đây.\n⸈⸈⸈\n**III. SÁCH CỦA TRANG TỬ**\nSách\n*Trang Tử*, theo *Hán Thư\nNghệ Văn Chí *漢 書 藝 文 志, thì có\nđến năm mươi hai (52) thiên. Nay chỉ thấy\ncòn có ba mươi ba (33) thiên. Có phải vì người sau (Quách\nTượng) dồn lại và phân lại thiên chương,\nhay vì người ta đã làm lạc đi 19 thiên kia?\nBa mươi ba thiên, lại chia ra làm ba phần (theo\nbản của Quách Tượng 郭 象 là bản thông\nhành hiện thời): Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp\nthiên\n*. *\nNội thiên 内 篇 gồm có 7 thiên:\n**- ** *Tiêu Diêu Du *逍 遙 遊 **- ** *Tề Vật Luận *齊 物 論 **- ** *Dưỡng Sinh Chủ *養 生 主 **- ** *Nhơn Gian Thế *人 間 世 **- ** *Đức Sung Phù *德 充 符 **- ** *Đại Tông Sư *大 宗 師 **- ** *Ứng Đế Vương *應 帝 王\nNgoại thiên 外 篇 gồm có 15\nthiên:\n**- ** *Biền Mẫu *駢 拇 **- ** *Mã Đề *馬 蹄 **- ** *Khư Khiếp *胠 篋 **- ** *Tại Hựu *在 宥 **- ** *Thiên Địa *天 地 **- ** *Thiên Đạo *天道 **- ** *Thiên Vận *天 運 **- ** *Khắc Ý *刻 意 **- ** *Thiện Tánh *繕 性 **- ** *Thu Thủy *秋 水 **- ** *Chí Lạc *至 樂 **- ** *Đạt Sinh *達 生 **- ** *Sơn Mộc *山 木 **- ** *Điền Tử Phương *田 子 方 **- ** *Trí Bắc Du *知 北 游\nTạp thiên gồm có 11 thiên:\n**- **Canh Tang\nSở 庚 桑 楚 **- **Từ Vô Quỷ 徐 無 鬼 **- **Tắc Dương 則 陽 **- **Ngoại Vật 外 物 **- **Ngụ Ngôn 寓 言 **- **Nhượng Vương 讓 王 **- **Đạo Chích 盜 跖 **- **Duyệt Kiếm 說 劍 **- **Phụ Ngư 漁 父 **- **Liệt Ngự Khấu 列 禦 寇 **- **Thiên Hạ 天 下\n⸈⸈⸈\nSự phân biệt chương thứ như trên, phần đông các học giả đều cho rằng không phải do chính tay Trang Tử sắp đặt, mà do người sau an bài.\nTô Đông Pha, trong\n*Trang Tử Từ\nĐường Kỷ *cho rằng “phân biệt các\nchương, đặt tên các thiên là do nơi thế\ntục, không phải bản ý của Trang Tử”.\nCòn Đường Lan, trong\n*Lão Đam\nĐích Tánh Danh Hòa Niên Đại Khảo *và *Cổ\nSử Biện *thì cho rằng “sự phân biệt\nNội, Ngoại và Tạp thiên đều là do tay của\nLưu Hướng cả”.\n⸈⸈⸈\nCăn cứ vào văn thái và văn mạch mà xem, thì thấy chỉ có Nội thiên là biểu thị được chỗ trọng yếu của học thuyết Trang Tử mà thôi. Còn Ngoại thiên và Tạp thiên, thì phần nhiều rời rạc và chỉ bàn đi bàn lại những tư tưởng đã phô diễn ở Nội thiên mà thôi.\nPhàm nghiên cứu về một học thuyết nào, sự tìm tài liệu chính xác và phê bình tài liệu là vấn đề quan trọng nhất. Có được như thế thì sự nghiên cứu của ta mới được chính đính, khỏi sự xuyên tạc và bất công, mang tội vu oan cổ nhân.\nPhân biệt được sự chân ngụy\ntrong các thiên chương trong sách Trang Tử là việc\nrất gay go phiền phức. Trong quyển\n*Trang\nTử Tinh Hoa*, đã có dành riêng một chương khá\nđầy đủ cho vấn đề này, nên không\nlặp lại nơi đây làm gì nữa.\nNay chỉ tóm lại đại khái như sau: Nội thiên rất khác với Ngoại và Tạp thiên cả về văn nghệ, tư tưởng và thần thái trong câu văn. Nếu Nội thiên do Trang Tử viết ra, thì Ngoại và Tạp thiên chắc chắn do kẻ khác viết, không thể là cùng một người được. Tuy vậy, trong Ngoại và Tạp thiên thỉnh thoảng cũng có một vài chương mà thần văn lạ lùng hùng vĩ, đã chẳng những văn hay mà tứ cũng thâm, nếu không phải do những kẻ có một học lực uyên thâm như Trang Tử, chắc cũng khó lòng mà viết ra cho được.\nCho nên, một phần cũng có thể cho là chính tay Trang Tử viết ra, còn phần nhiều chắc chắn là do kẻ khác học Trang Tử mà viết ra.\nNhư ở Ngoại thiên, các thiên Biền Mẫu 駢 拇, Mã Đề馬 蹄, Khư Khiếp 胠 篋, Khắc Ý 刻 意, Thiện Tánh繕 性 thì văn khí bình diễn, lời nói rất tầm thường, thiển cận. Toàn thiên chỉ có một ý, nhưng mà cứ nói đi nói lại mà thôi, dường như là những bài sách luận của hậu học.\nThiên Thiên Vận 天 運 nói về\nviệc Khổng Tử viếng Lão Tử để\nhỏi Lễ thì lại giống với câu chuyện chép\nở\n*Sử Ký *của Tư Mã Thiên. So sánh\nvăn từ của thiên nầy với sách của Tư Mã\nThiên, ta lại thấy rằng văn trong Thiên Vận\nrất tạp nhạp, khí tượng tầm\nthường không sao theo kịp văn từ trong *Sử\nKý. *Mà như ta biết, thì văn Trang Tử đâu có kém\ngì văn *Sử Ký, *có khi còn cao hơn một\nbực là khác. Cho nên, chắc chắn thiên Thiên Vận ở\nNgoại thiên là ngụy thơ, do kẻ hậu học thêm\nvào.\nCác thiên Đạo Chích 盜 跖, Ngư Phụ 漁 父, Duyệt Kiếm 說 劍, Nhượng Vương 讓 王 thì văn từ thiển bạc, những chỗ chỉ trích Khổng Tử đầy ngạo nghễ, thóa mạ chỉ nói để cho hả hê lòng phẫn uất, không giống thần thái của Trang Tử ở Nội thiên.\nCòn như các thiên Thiên Đạo 天 道, Thiên Địa 天 地, Chí Lạc 至 樂, Sơn Mộc 山 木, Tại Hựu 在 宥thì tư tưởng tạp nhạp, người viết có khi chưa thật hiểu tinh thần tư tưởng của Trang Tử nên nhiều khi xuyên tạc, có khi dùng lời nói mồm mép của Nho gia mà giảng về Trang Tử.\nĐó đều là những bài do các học giả theo phái Lão Trang về sau viết ra cả.\n⸈⸈⸈\nĐối với Nội thiên\n*, *học\ngiả phần đông đều nhìn nhận rằng\nrất có thể đều do chính tay Trang Tử viết ra.\nNhưng, Đường Lan 唐 蘭 cho rằng, riêng chương Tử Tang\nHộ ở thiên Đại Tông Sư không giống với\nmấy chương trước mà gọi ngay Khổng\nTử. Riêng tôi, cũng hoài nghi chương nầy, là vì\ntrong thiên Đại Tông Sư, tư tưởng của\nTrang Tử rất thuần nhất đối với\nvấn đề sanh tử. Trang Tử cho rằng sanh\ntử là một. Nhưng riêng chương nầy lại\nthấy khác hẳn với toàn thiên về cái nghĩa\ncủa sanh tử.\n*Tử Tang Hộ chết, hai\nngười bạn đánh đàn và ca bên xác Tang Hộ:\n“Than ôi! Tang Hộ! Than ôi! Tang Hộ! Đó trở về cái\nchân, còn chúng ta còn là người! Ôi!”. *Thế là tự\ntiếng ca ấy, ta thấy những người nầy\nmừng cho Tang Hộ, mà riêng buồn cho mình còn phải\nsống làm người. Như vậy, ta thấy toàn\nchương biểu thị cái ý “vui chết buồn\nsống”, rất trái với ý tưởng của Trang\nTử ở Tề Vật cùng những chương khác\nở thiên Đại Tông Sư nữa.\nVậy, riêng một chương nầy, tôi tin rằng không phải của Trang Tử viết ra, và kẻ phân thiên chương vì xem xét không kỹ nên chép lầm vào đây. Ta nên bỏ hẳn chương này và sắp nó qua Ngoại hay Tạp thiên.\n⸈⸈⸈\nThiên Nhơn Gian Thế 人 間 世 cũng đáng hoài nghi là ngụy thơ nữa. Là vì thể tài chung của Nội thiên không giống với thiên nầy. Trong các thiên khác ở Nội thiên thì đều có luận, có dụ.\nNhư Ứng Đế Vương 應 帝 王 thì trước dụ, sau luận, Đại Tông Sư 大 宗 師 thì trước luận, sau dụ. Đức Sung Phù 德 充 符 thì trước dụ, sau luận; Dưỡng Sinh Chủ養 生 主 thì trước luận, sau dụ. Chí như hai thiên Tiêu Diêu Du 逍 遙 遊 và Tề Vật Luận 齊 物 論 thì dụ và luận giao lẫn nhau hồn nhiên như một thể. Như vậy ta thấy rằng ở Nội thiên, văn pháp tới lui có quy tắc lắm.\nDuy có Nhơn Gian Thế thì không phải vậy nữa:\n**- **Chương thứ nhất: nói về chuyện\nNhan Hồi muốn du thuyết Vệ Quân, hỏi ý nơi\nKhổng Tử. **- **Chương thứ hai: chuyện công tử Cao\nđi sứ nước Tề. **- **Chương thứ ba: chuyện giữa Nhan\nHạp và Cừ Bá Ngọc. **- **Chương thứ tư: chuyện người\nthợ mộc tên Thạch qua nước Tề gặp cây\nlịch xã. **- **Chương thứ năm: chuyện Nam Bá Tử\nKỳ thấy cây đại mộc. **- **Chương thứ sáu: chuyện một\nngười què ở nước Tề. **- **Chương thứ bảy: chuyện Khổng\nTử qua nước Sở gặp Cuồng Tiếp Dư.\nToàn thiên thuật ròng là cố sự, không giống bút pháp của sáu thiên kia. Như vậy, không phải là do một người viết ra.\nHơn nữa, ý nghĩa trong thiên Nhơn Gian Thế nầy cũng không liên quán: chương thứ 4, thứ 5, thứ 6 đều lấy tỉ dụ những vật nhờ bất tài mà được an toàn, không ăn chịu gì với tư tưởng của những chương trên. Chương 4 và 5 cùng đều là những ý tưởng trùng phục.\nChương 7 nói về chuyện Khổng Tử qua nước Sở gặp Cuồng Tiếp Dư, thì các đoạn lại không hợp nhau. Ở đoạn nhất và đoạn nhì ta thấy Khổng Tử là người sáng suốt về Đạo, thay lời Trang Tử mà bàn về Đạo Đức. Nhưng qua đoạn chót, hốt nhiên Khổng Tử lại biến thành người ám muội. Thế là trước sau, bút pháp không thông vậy.\nChương thứ 8, nói về việc Khổng\nTử qua Sở thì câu chuyện cũng như văn từ\ntrong bài ca đều lại giống hệt văn của\nsách\n*Luận Ngữ*. Trong *Luận\nNgữ, *Thiên Vi Tử nói: *Sở Cuồng Tiếp\nDư ca nhi quá Khổng Tử viết: “Phụng hề!\nPhụng hề! Hà đức chi suy, vãng giả bất\nkhả gián, lai giả du khả truy. Dĩ nhi! Dĩ nhi! Kim\nchi tùng chánh giả đãi nhi.” *楚 狂 接 輿 歌 而 過 孔 子 曰:鳳 兮!鳳 兮!何 德 之 衰,往 者 不 可 諫,來 者 猶 可 追。 已 而!已 而!今 之 從 政 者 殆 而。(論 語).\nTrong Nhơn Gian Thế thì viết:\n*Sở\nCuồng Tiếp Dư du kỳ môn viết: “Phụng\nhề! Phụng hề! Hà như đức chi suy dã! Lai\nthế bất khả đãi, vãng thế bất khả truy\ndã. Thiên hạ hữu đạo, thánh nhơn thành yên, thiên\nhạ vô đạo, thánh nhơn sanh yên. Dĩ hồ! Dĩ\nhồ! Lâm nhơn dĩ đức! * *Đãi hồ! Đãi hồ! Hoạch địa\nnhi xu.”*(楚 狂 接 輿 遊 其 門 曰:鳳 兮!鳳 兮!何 如 德 之 衰 也!來 世 不 可 待,往 世 不 可 追 也。天 下 有 道,聖 人 成 焉,天 下 無 道,聖 人 生 焉。已 乎!已 乎!臨 人 以 德!殆 乎!殆 乎!畫 地 而 趨。)Sách *Luận\nNgữ *có trước sách *Trang Tử, *thì\nđây quả là Nhơn Gian Thế chép văn *Luận\nNgữ*. Lẽ nào Trang Tử, một người khí\nphách phóng khoáng, lại đi bắt chước kẻ khác\nhay sao?\nHuống chi, tư tưởng Trang Tử ở\nTiêu Diêu Du và Tề Vật Luận thì thật là rộng rãi,\ncòn ở Nhơn Gian Thế thì lời lẽ lại rất\ncâu chấp tầm thường như hạng nhà Nho, không\ngiống tư tưởng ở Tiêu Diêu và Tề Vật: “\n*Dù\ngặp cảnh nào, dù đến thế nào, giữ một\nniềm thờ cha là chí hiếu, thờ vua là chí trung. . .”*\n(Nhơn Gian Thế). Phải chăng đó là mồm mép\ncủa nhà Nho?\nThế nên, thiên nầy cần phải loại ra khỏi Nội thiên.\n⸈⸈⸈\nTóm lại, chỉ có Nội thiên là dùng\nđược để nghiên cứu tư tưởng\ncủa Trang Tử mà thôi. Nhưng phải loại thiên\nNhơn Gian Thế, và chương thứ hai ở thiên\nĐại Tông Sư\n*,*tức là chương Tử Tang\nHộ 子 桑 戶 vì là ngụy thơ. Bản dịch nầy\ncũng loại Nhơn Gian Thế ra khỏi Nội thiên và\nsắp vào Ngoại thiên.\n⸈⸈⸈\n**IV. CÁC SÁCH CHÚ GIẢI TRANG TỬ: **\nTrang học rất thạnh về đời Ngụy Tấn (220-316), cho nên sách vở chú giải Trang Tử của thời ấy cũng rất nhiều. Hướng Tú 向 秀 tự là Tử Kỳ 子 期 (221-300), người đời Ngụy Tấn 魏 晉 có chú giải Trang Tử, tuy trước ông cũng đã có cả chục nhà chú giải, nhưng đều là thiển bạc không nắm được yếu chỉ, không xiển minh nổi cái học của Trang Châu. Tấn Thơ 晉 書 cho rằng chỉ có Hướng Tú là người đầu tiên thông được chỗ huyền chỉ của Trang học(大 暢 玄 旨).\nNhưng ông chỉ chú giải đến thiên Thu Thủy 秋 水 và Chí Lạc 至 樂 thì chết. Về sau, đến đời Huệ đế thì có Quách Tượng 郭 象[6] căn cứ vào chú giải của Hướng Tú mà diễn giải rộng thêm ra. Bởi vậy về sau người ta thấy hai bản Hướng Tú và Quách Tượng nghĩa lý tương đồng như của một người viết ra vậy.\nCòn bản cổ nhất của Tư Mã Bưu 司 馬 彪 (khoảng giữa nhà Tần 秦 - 221 trước Giáng Sinh), luôn cả bản chú giải của Thôi Tuyển 崔 譔 thì hiện thời mất cả. Qua thời Nam Bắc Triều các nhà chú giải Trang cũng đông, nhưng chỉ còn lại bản của Quách Tượng là cổ nhất thôi. Ngày nay sở dĩ người ta có thấy được một vài dấu vết của các nhà chú giải trên đây, là nhờ ở sách của Lục Đức Minh 陸 德 明 đời Đường 唐. Trong bài Tự Lục 叙 錄 của Thích Văn 釋 文, Lục Đức Minh cho biết rằng Tư Mã Bưu có chú giải 21 quyển, 52 thiên, còn Thôi Tuyển thì chú 10 quyển, 27 thiên, Hướng Tú chú 20 quyển, 26 thiên, Quách Tượng thì chú 33 quyển, 33 thiên.\nCác nhà chú giải về sau rất nhiều,\nnhưng một số đông thiên về phê bình văn\nchương hơn là tư tưởng. Đại khái như\nđời nhà Minh 明 có Châu Đắc Chi 朱 得 之 trong\n*Nam Hoa\nThông Nghĩa *南 華 通 義; đời Thanh 清 có Ngô Thế Thượng 吳 世 尚 trong *Trang\nTử Giải *莊 子 解; Tôn Gia Cầm 孫 嘉 洤 trong *Nam\nHoa Thông *南 華 通; Lâm Tây Trọng 林 西 仲 trong *Trang Tử Nhân*莊 子 因; Lục Thụ\nChi 陸 樹 芝 trong *Trang Tử Tuyết*莊 子 雪...đều là\nnhững tay sành về văn chương cả. Vì vậy,\nrất tiếc là các lời phê bình của các nhà ấy, yếu\ntrọng nơi sự thưởng thức các câu văn,\nnhưng về phần tư tưởng lại không phát\nminh được điều gì mới lạ cả, cho\nnên phần tư tưởng của họ rất là loạn\nchạc, rườm rà, mờ tối không phát huy\nđược cái yếu chỉ huyền diệu về\nphần tư tưởng của Trang Châu.\nHoặc họ là các học giả thiên về\nThần tiên phái\n*, *họ ghép Trang Tử vào cái\nhọc Trường sinh cửu thị. Như Chử Bá\nTú 褚 伯 秀, trong bộ *Nam Hoa Chân Kinh Nghĩa Hải\nSoán Vi *南 華 真 經 義 海 篡 微, tôn Trang Tử là Nam Hoa Lão\ntiên 南 華 老 仙.\nĐời Tống có Bích Hư Tử 碧 虛 子, đời Minh có La Miễn Đạo 羅 勉 道 đều lấy theo điển cố của Thần tiên phái mà giải Trang Tử.\nVà lấy Thần tiên học để mà giải\nTrang Tử là phần rất đông. Chính người\nviết về Trang Tử đây cũng đã gặp\nnhiều văn hữu hoặc học giả theo phái\nThần tiên cười nhạo và cho là chưa thấu\nđáo được ý nghĩa huyền diệu của\nTrang Tử vì đã không biết thể theo\n*Thần\nTiên Đạo Thư *(của Trương Đạo\nLăng và nhất là Bão Phác Tử) để giảng giải\nTrang Tử.\nCũng có nhiều nhà chú giải thiên về Nho hoặc Phật, lấy tư tưởng của Nho học hoặc Phật học mà giảng Trang Tử nữa. Như đời Tống 宋 có Lâm Hi Dật 林 希 逸, đời Thanh 清 có Lục Thụ Chi 陸 樹 芝, Lưu Hồng Điển 劉 鴻 典 cho Trang Tử là môn đồ cửa Khổng.\nĐời Đông Hán 東 漢, có Chi Độn 支 遁, Tuệ Lâm慧 琳, Tuệ Viễn 慧 遠 cũng rất sành Lão Trang, nên dùng cái học ấy mà làm sáng thêm cho Phật học. Qua đời Đường 唐 có Thành Huyền Anh 成 玄 英; đời Minh 明có Lục Tây Tinh 陸 西 星, Thích Đức Thanh 釋 德 清; đời Thanh 清 có Trương Thế Lạc 張 世 樂 và gần đây có Chương Thái Viêm 章 太 炎 đều lấy Phật điển mà giải Trang Tử.\n\n⸈⸈⸈\nTrang Tử là người văn học hoàn toàn. Kim Thánh Thán sắp ông vào hạng “đệ nhất tài tử” tưởng cũng không phải là quá đáng.\nLuận về ông, Tư Mã Thiên có nói: “\n*Sách Trang\nTử có hơn mười vạn chữ, đại\nđể đều là ngụ ngôn...Văn ông khéo viết,\nlời lẽ thứ lớp, chỉ việc, tả tình\nđể bài bác Nho Mặc*. *Tuy đương\nthời, những bậc túc học uyên thâm cũng không sao\ncãi để gỡ lấy mình cho nổi. Lời văn\ncủa ông thì phóng túng mênh mông, chỉ cầu lấy thích chí\nmà thôi. Cho nên từ các bậc vương công đều\nkhông ai biết được nổi ông là hạng\nngười thế nào.” *( *Sử Ký *史 記 ).\nTừ đời Đường 唐, Tống 宋 về sau, các bậc đại văn hào như Hàn Dũ 韓 愈, Liễu Tông Nguyên 柳 宗 元,Tô Thức 蘇 軾...đều sùng bái ca tụng không ngớt. Sách Trang Tử, về phương diện văn học, là một áng văn kiệt tác.\nTrang Tử là người biết hàm dưỡng\nchơn thần rất là đầy đủ, cho nên khí\nphách ngang tàng phóng dật. Văn ông rất hồn nhiên\nnhư hơi mây trong núi bay ra, như nước trong\nnguồn chảy...Bàn về một lẽ cao siêu tuyệt\nđích, có thể cảm mà không thể nói ra\nđược bằng những lời nói thông\nthường nhị nguyên, cho nên ông phải dùng đến\n*“ngụ\nngôn” *rồi mượn *“trùng ngôn” *mà làm\ncho sáng tỏ thêm. Trong đó sự tích tuy có thật mà câu\nchuyện giả thác lạ lùng. Đó là cách dùng cụ\nthể để mà giải thích trừu tượng. Khi\nlại dùng đến *“chi ngôn”*, tức là buột\nmiệng nói ra, bất kể là đúng hay không với\nlịch sử. Cho nên văn chương của ông\nhuyễn tướng như hoa gương, trăng\nnước: hư mà thực, thực mà hư...như\nlẽ Đạo muôn màu. Thật là rất khác xa với\nvăn từ của “bách gia chư tử”.\n⸈⸈⸈\n**V. HỌC THUYẾT CỦA TRANG\nTỬ** **A. Đạo **道 **và Đức **德\nTriết học của Trang Tử cùng với Lão Tử có nhiều điểm không đồng, nhưng rất đồng về quan niệm Đạo 道 và Đức德.\nBàn về Đạo 道, sách Trang Tử ở thiên Trí Bắc Du\n(知 北 遊)có giải rất rõ ràng:\n*Đông Quách Tử *東 郭 子 *hỏi Trang Tử: * *- * *Cái gọi là Đạo ở đâu? * *- * *Không có chỗ nào là không có Nó. * *- * *Xin chỉ ra mới được! * *- * *Trong con kiến. * *- * *Thấp hơn nữa! * *- * *Trong cọng cỏ. * *- * *Thấp hơn nữa! * *- * *Trong miếng sành vỡ. * *- * *Thấp hơn nữa! * *- * *Trong cục phẩn. * *Đông Quách Tử không hỏi nữa. * *Trang Tử nói: “Lời hỏi của ông, không\nđi đến đâu cả. Nó giống cách người\ngiám thị dùng để trị giá heo: mỗi lần\nđạp trên lưng heo là mỗi lần ấn mạnh\ncẳng xuống thêm. Ông đừng có chỉ hẳn vào một\nvật nào có Nó, vì không có vật nào là không có Nó. Đạo\ncả là thế, mà lời nói cao cả cũng thế. Như\nba tiếng nầy: ‘đều’, ‘cùng’, ‘cả thảy’ tuy\ndanh từ gọi có khác, mà tựu trung đều hàm cùng\nmột ý”. *\n⸈⸈⸈\nĐạo là nguyên lý tuyệt đối sinh ra\nTrời Đất vạn vật. Cho nên hễ có vật\n*, *tức\nlà có Đạo *, *nghĩa là *“không có chỗ nào\nlà không có Đạo”*(無 所 不 在).\n⸈⸈⸈\nThiên Đại Tông Sư nói\n*: “Kìa Đạo thì\ncó tình, có tín, không làm, không hiện, có thể truyền mà\nkhông thể thụ lãnh, có thể nhận được mà\nkhông thể thấy được. Đạo thì tự\nbản tự căn, khi chưa có Trời Đất\nvốn đã tồn tại từ xưa; Nó làm ra các\nđấng thiêng liêng quỷ thần, cùng Thượng\nđế; Nó sinh ra Trời, Đất; Nó ở\ntrước Thái Cực mà không xem là cao, ở dưới\nlục cực mà chẳng thấy là sâu; Nó sinh trước\nTrời Đất mà chẳng gọi là lâu, dài hơn\nThượng Cổ mà chẳng gọi là già”. *(夫 道 有 情 有 信 無 爲 無 形,可 傳 而 不 可 受,可 得 而 不 可 見,自 本 自 根,未 有 天 地,自 古 以 固 存,神 鬼 神 帝, 生 天 生 地,在 太 極 之 先 而 不 為 高,在 六 極 之 下 而 不 為 深,先 天 地 生 而 不 為 久,長 於 上 古 而 不 為 老。) * (Phù Đạo\nhữu tình, hữu tín, vô vi vô hình; khả truyền nhi\nbất khả thụ, khả đắc nhi bất khả\nkiến; tự bản tự căn, vị hữu thiên\nđịa, tự cổ dĩ cố tồn; thần\nquỉ thần đế, sinh thiên sinh địa, tại\nthái cực chi tiên nhi bất vi cao, tại lục cực chi\nhạ nhi bất vi thâm, tiên thiên địa sinh nhi\nbất vi cửu, trường ư thượng cổ nhi\nbất vi lão). *\nĐạo 道 là nguyên lý sinh ra Trời Đất vạn vật nên gọi là “tự bản tự căn” 自 本 自 根, nghĩa là tự mình là gốc, là rễ của mình, chứ không phải do một gốc hay một rễ nào khác ngoài mình tạo ra. Đạo cũng là “vô thủy vô chung”, “thường tồn bất biến” và vạn vật dựa vào Đó mà sinh sinh không dừng vậy.\n⸈⸈⸈\nĐạo, như ta đã thấy, biểu hiện nơi vạn sự vạn vật, bởi vậy, không sự vật nào là không có cái tính “tự sinh” 自 生, “tự trưởng” 自 長, “tự hủy” 自 毀, “tự diệt” 自 滅 của nó. Như thế, ta có thể nói rằng sự “tự sinh, tự trưởng, tự hủy, tự diệt” của vạn sự vạn vật chính là những hành động “tự vi, tự hóa” 自 為 自 化 của mỗi sự vật trong đời, mà ta cũng có thể gọi đó là “chỗ tác vi của Đạo”(道 之 所 為)mà không sai, vì “không có vật nào là không có Đạo”(無 所 不 在)ở trong cả. Hai chữ “tự hóa” 自 化 của Trang, chính là thuyết “vô vi nhi vô bất vi” 無 爲 而 無 不 為 của Lão Tử.\n⸈⸈⸈\nCòn quan niệm về chữ Đức 德 của Trang Tử như thế nào?\nThiên Thiên Địa 天 地 có nói:\n“Thuở thái sơ của Trời Đất thì đã có cái\nVô. Cái Vô ấy không có tên, và là nơi phát sinh ra cái Một,\nnhưng cái Một ấy cũng chưa có hình. Khi mà vạn\nvật được cái Một ấy[7] cái đó gọi là\nĐức.”(泰 初 有 無,無 有 無 名,一 之 所 起,有 一 而 未 形,物 得 以 生,謂 之 德)\n*“Thái sơ hữu Vô, Vô hữu vô danh.\nNhất chi sở khởi, hữu Nhất nhi vị hình. Vật\nđắc dĩ sinh, vị chi Đức.” *\nTrong câu\n*“thái sơ hữu Vô”, *chữ\nVô 無 đây là\nchỉ về Đạo 道. Câu *“nhất chi sở khởi”*(一 之 所 起)của Trang Tử: *“Vô là\nchỗ phát sinh ra cái Một” *thì đồng với\ncâu *“Đạo sinh Nhất”*(道 生 一)của Lão Tử trong *Đạo\nĐức Kinh*. Còn Đức 德 tức là chỗ mà “ *vật đắc\ndĩ sinh”* (vật nhận được mà sống). Cho\nnên mới nói: *“Đức, là chỗ ‘tự\nđắc’ của con người”*(德 者 人 之 所 自 得).” *Tự đắc” *là\ntự mình đã được của Tạo hóa, của\nTự nhiên, của Đạo[8]. Hay nói một cách\nkhác: Đức là cái Đạo biểu hiện nơi mỗi\nngười mỗi vật, là những năng khiếu\ntự nhiên, không vậy không được, của mọi\nsự vật trên đời.\nĐạo và Đức, tuy danh từ dùng để gọi có khác, nhưng vẫn là Một. Có kẻ đã ví Đạo như nước. Nước ở sông, biển, ao, hồ...cũng như ở bầu tròn, ống thẳng, dù có hình thức động tịnh khác nhau, nhưng đâu đâu cũng là nước cả (道 德 實 同 而 名 異).\n⸈⸈⸈\n**B. Thuyết Thiên Quân **天 鈞\nTrang Tử, trong thiên Tề Vật Luận, dùng\nhai chữ\n*Thiên Quân *天 鈞 để\nchỉ về cái tác dụng của Đạo, là có ý\nchỉ cho ta thấy nó là một thứ triết học\nbiến động(變 之 哲 學)nghĩa là *“vận hành bất tức”*(運 行 不 息).\nQuân 鈞 là cái bánh xe\nxoay tròn mà người thợ nung dùng để chế\ntạo những đồ vật có hình tròn. Chữ\n*Thiên\nQuân *lại có chỗ viết 天 均 là có ý nói về sự quân bình, tùy cái bánh xe\nlưu chuyển, vòng bán kính của bánh xe bao giờ cũng\nbằng nhau, tự nhiên luôn luôn vẫn quân bình. Ở thiên\nNgụ Ngôn 寓 言 có nói: *“Vạn vật đều là một giống\ncả, không cùng hình mà thay nhau, trước sau như cái vòng\ntròn, không thể phân biệt luân loại. Nên gọi là Thiên\nQuân. Thiên Quân, là Thiên Nghê.”*(萬 物 皆 种 也,以 不 同 形 相 禪 始 卒 若 環, 莫 得 其 倫,是 謂 天 均,天 均 者 天 倪 也。) *“Vạn vật giai chủng dã,\ndĩ bất đồng hình tương thiện thủy\ntốt nhược hoàn, mặc đắc kỳ luân. Thị\nvị Thiên Quân. Thiên Quân giả, Thiên Nghê dã”. *\nThiên Thiên Địa 天 地 lại\nnói:\n*“Trời Đất tuy lớn, mà sự biến\nhóa đều quân bình cả” (Thiên địa tuy\nđại, kỳ hóa* *quân dã *天 地 雖 大 其 化 均 也 *). *\nNhư thế thì,\n*Thiên Quân *của\nTrang Tử là nói về sự đắp đổi nhau\ncủa các giống vật mà biến hóa, “đồng hình”\nbiến làm “bất đồng hình”. Nhưng, ở đâu\nmà lại, rồi lại sẽ đi đến đâu,\nthời sau cùng cũng không biết đâu là mành mối. Sự\nbiến hóa giống như cái bánh xe quay tròn, nên gọi là *Thiên\nQuân *天 鈞.\n**C. Thuyết Vạn Hóa **萬 化\nCứ theo phép ấy thì sự biến thiên\ncủa các giống vật đều không có mục\nđích, không có phương hướng...Con\nđường đó của vạn sự vạn vật\nlà một cái vòng tròn:\n*“châu nhi phục thủy”, *chứ\nkhông phải là một con đường thẳng đi\nđến một mục tiêu nào. Trang Tử không chủ\ntrương tiến hóa, mà chủ trương *vạn\nhóa *萬 化, hay là *tự hóa *自 化.\nThiên Thu Thủy 秋 水 nói: “\n*Vạn\nvật sinh ra, như đuổi như chạy; hễ\nđộng là có biến, không lúc nào mà không xê dịch. Sao\nlại như thế, mà sao lại chẳng như thế?\nẤy là vì cái lẽ “tự hóa” vậy!*(物 之 生 者,若 驟 若 馳,無 動 而 不 變,無 時 而 不 移,何 為 乎,何 不 為 乎, 夫 固 將 自 化。) (Vật chi sinh\ngiả, nhược sậu nhược trì, vô động\nnhi bất biến, vô thời nhi bất di, hà vi hồ, hà bất\nvi hồ. Phù cố tương tự hóa. )\nThiên Tại Hựu 在 宥 nói:\n*“Anh\nhãy chỉ cứ ngồi đây, không cần làm gì cả mà\nvạn vật tự hóa...Vạn vật phồn thịnh,\ngiống nào cũng cùng trở lại nguồn gốc\ncủa mình. Vật nào cũng trở lại gốc của\nmình mà không biết” *(汝 從 處 無 爲 而 物 自 化。。。萬 物 云 云,各 復 其 根,各 復 其 根 而 不 知。) Trong câu\nvăn nầy, quan trọng nhất là ở chữ\nPhục 復.\nỞ thiên Thiên Thụy 天 瑞 trong sách\n*Liệt\nTử *cũng có câu nói: *“Tự sinh, tự hóa,\ntự có hình, tự có sắc, tự có trí, tự có\nlực, tự giảm, tự tăng”*(自 生 自 化 自 形 自 色 自智 自 力 自 消 自 息). Thế là\nđều *“tự nhiên nhi nhiên”*自 然 而 然 “ *bất kỳ nhiên nhi\nnhiên” *不 其 然 而 然, không có sự nhất\nđịnh phải bảo tồn những hình thức cá\nbiệt nào có ích, tiêu diệt những hình thức cá\nbiệt nào có hại như cách tác dụng của\nluật *Thiên trạch *có mục đích, có\nphương hướng của thuyết Tiến hóa Tây\nphương. [9]\nSở dĩ Trang Tử không chủ trương tiến hóa[10], mà lại chủ trương vạn hóa là vì theo sự nhận xét của ông, ông cho rằng không thể nào xét biết được lẽ chung thủy của Đạo, nghĩa là không thể nào biết được rằng Đạo bắt đầu như thế nào, và sự cùng tận của nó như thế nào. Như vậy, thì làm thế nào mà nhận thấy được cái phương hướng biến hóa của nó theo chiều nào mà chủ trương tiến hóa được? Tiến hóa chỉ là một ức thuyết của những kẻ chủ quan mong hợp lý hóa tất cả hành động của Tạo hóa, trong khi sự thật Trời Đất không thể biết đâu là khởi điểm, đâu là cùng tận, mà chỉ là một cái “vòng tròn” (Thiên Quân).\nThiên Tắc Dương 則 陽 nói:\n*“Vạn vật có sống mà không\nthấy đâu là cái gốc của nó, có chỗ xuất ra\nmà không thấy đâu là cái cửa của nó”*(萬 物 有 乎,生 而 莫 見 其 根,有 乎 出 而 莫 見 其 門). Lại nói: *“Người\nxét Đạo, không theo cho đến chỗ đã\nphế, cũng không suy cho đến chỗ chưa\nkhởi; hễ bàn đến nó là phải thôi đi. Ta xét\ncái gốc của nó, ta thấy nó đi đến vô cùng, ta\ncầu đến cái ngọn của nó, ta lại thấy\nnó không bao giờ dứt. Không cùng, không dứt, thì còn bàn nói\nvào đâu được nữa. Vật, thì cũng cùng\nmột lẽ đó.”*(覩 道 之 人,不 隨 其 所 廢,不 原 其 所 起,此 議 之 所 止。吾 觀 之 本 其 往 無 窮,吾 求 之 末,其 來 無 止。無 窮 無 止, 言 之 無 也,與 物 同 理。)Ở thiên Sơn\nMộc 山 木 cũng nói: “ *Hóa muôn vật mà\nkhông biết nó thay đổi như thế nào, thời\nbiết nó bắt đầu ra làm sao, mà cùng tận ra làm\nsao?” *化 其 萬 物 而不 知 其 禪 之 者。焉 知 其 始,焉 知 其终。\n⸈⸈⸈\nĐối với nhân sự cũng thế:\n*phải *biến\nthành *quấy*, *quấy *biến thành *phải...*không\nbiết đâu là khởi điểm, không biết đâu là\ncùng tận...như trên một cái “vòng tròn” 天鈞; lớn, nhỏ; sanh, tử; dài,\nngắn; có, không; cao, thấp; thành, hoại đều không\nsao phân biệt được[11], không sao biết\nđược đâu là chỗ khởi đầu của\nnó.\nThiên Thu Thủy 秋 水 nói:\n*“Lấy\nĐạo mà xem thì vật không có chi gọi là quý, là\ntiện, là ít, là nhiều cả. Chỉ có Một mà thôi. Lấy\nchỗ sai biệt mà xét, nhận thấy lớn mà cho là\nlớn, thì vạn vật không vật nào là không lớn,\nnhận thấy nhỏ mà cho là nhỏ, thì vạn vật\nkhông vật nào là không nhỏ...Lấy xu hướng mà xét,\nnhận cho phải là phải, thì vạn vật không\nvật gì là không phải, nhận cho quấy là quấy, thì\nvạn vật không vật gì là không quấy”. *\nThiên Đức Sung Phù nói:\n*“Lấy chỗ\nkhác nhau mà xét, thì gan và mật cách nhau như nước\nSở nước Việt, nhưng mà lấy chỗ\nđồng mà xét, thì vạn vật đều là Một\ncả.”*(自 其 異 者 視 之,肝 胆 楚 越 也,自 其 同 者 視 之,萬 物 皆 一 也). Cứ đem cái thuyết\nTương đối (relativisme) ngày nay mà xem, ta sẽ\nthấy cũng không xa gì những điều nhận xét\ntrên đây của Trang Tử. Theo Tương đối\nluận thì quyết không có gì là cao, là thấp tuyệt\nđối; không có gì là dài, là ngắn tuyệt đối;\nkhông có gì là lớn, là nhỏ tuyệt đối: những\ntiếng như thành, hủy, quý, tiện, thị, phi,\nhữu, vô toàn là những danh từ tương đối,\nquyết không phải là tuyệt đối. Cho nên cho\nrằng Trang Tử là tị tổ của thuyết\nTương đối không phải là quá đáng.\nCái luật Thiên Quân của Trang Tử lại bao\nhàm cả con người trong đó:\n*“Cho nên Thánh nhân\nhòa lẽ thị phi, và rốt cuộc ở trong Thiên Quân.” *(是 以 聖 人 和 之 以 是 非 而休 乎 天 均。)\nThiên Đại Tông Sư 大 宗 師 nói: “\n*Như\ncái hình của người ta, thật là biến hóa muôn\nlần, mà chưa thấy đâu là cùng tận vậy” *若 人 之 形 者,萬 化 而 末 始 有 極 也。). Lại cũng nói: “ *Giá như cánh\ntay trái tôi hóa làm con gà, thì tôi sẽ nhân đó mà gáy canh. Giá như\nlại hóa cánh tay phải tôi làm hòn đạn, tôi sẽ nhân\nđó mà kiếm chim quay; giá như lại hóa cái xương\ncùn của tôi làm bánh xe, lấy cái thần hồn tôi làm con\nngựa, thì tôi sẽ nhân đó mà cỡi lên, há còn phải\nđợi xe ngựa nào nữa! *(...) *Lớn lao\nthay! Tạo hóa muốn anh làm vật gì bây giờ? Muốn\nđi đến đâu bây giờ? Hay là biến anh làm gan\ncon chuột? Hay làm cánh trùng? *(...) *“Nay có người\nthợ đúc kim khí, kim khí nhảy lên đòi: tôi muốn\nđược làm thanh gươm Mạc Da, người\nthợ đúc tất cho đó là kim khí quái gở. Nay có\nkẻ ngẫu nhiên muốn được hình\nngười, nhảy lên nói: Tôi muốn làm người...Tạo\nhóa tất cho người ấy là người quái gở. Nay\nlấy Trời Đất làm lò lớn, Tạo hóa làm\nngười thợ đúc lớn, thời tha hồ\nmuốn biến hóa ra sao thì biến hóa, đâu mà chẳng\nđược.” *\nLoài người biến hóa vô cùng, nhưng không có phương hướng nào nhất định cả: Phàm vật, hễ “cùng tắc phản”(窮 則 反),“chung tắc thủy”(終 則 始)loay quay mãi theo cái “vòng tròn” vô tận.\nTuy Trang Tử chủ trương Tự hóa và\nVạn hóa\n*, *không chủ trương sự biến\nhóa có phương hướng như thuyết Luân hồi\ncủa Phật giáo Tiểu thừa, hay thuyết Thiên\ntrạch của Đạt Quynh (Darwin), nhưng lại nói\nđến sự biến hóa theo một cái “cơ” 機. Thiên Chí Lạc 至 樂 nói: “ *Các giống đều có cơ”*(种 有 機)và kết luận\nrằng: “ *Vạn vật đều ra nơi cơ, và vào\nnơi cơ”*(萬 物 皆 出 於 機,入 於 幾). Theo Trang Tử,\nthì “cơ” là cái nguồn gốc của sự biến hóa,\nvà rút lại, quy kết vào hai chữ “đức tính”(德 性).\nLấy theo thuyết Thiên quân mà xét việc đời thì thấy các sự vật đều chằng chịt dính líu với nhau, nhân rồi quả, quả rồi nhân tiếp tục nhau không biết đâu là khởi điểm, đâu là cùng tận, như trên một cái “vòng tròn”.\nĐể chỉ sự phức tạp trong các\nmối quan hệ, thiên Sơn Mộc 山 木 nói: “\n*Trang Châu đi chơi ở rừng\nĐiêu Lăng*, *thấy một con chim tước\nlạ ở phương Nam lại, cánh rộng bảy\nthước, mắt tròn một tấc, đụng ở\ntrán Châu mà đậu ở bụi cây lật. Trang Châu nói:\nChim này là chim gì vậy? Cánh to mà không bay, mắt lớn\nmà không nhìn. Bèn dùng dằng dừng bước, lấy\nđạn ra nhắm bắn. Bỗng thấy một con ve,\nvừa được bóng mát mà quên cả thân. Mộtcon\nbọ ngựa, lấy lá che thân, chờm đến\nmuốn bắt lấy mà quên cả thân. Còn phía sau, con\ntước đang vồ bắt nó mà quên cả thân mình...* *Trang Châu giựt mình: Ôi! Giống vật vốn\nlàm lụy nhau...Hai loài như gọi lẫn nhau. * *Rồi bỏ viên đạn mà chạy trở\nvề. . .” *\nXem đó, tuy là một câu chuyện ngụ ngôn, nhưng mà ý vị sâu sắc miêu tả được những mối quan hệ trong vũ trụ phức tạp là chừng nào, thật là điều khó thể tư nghị được.\nTrang Tử nói:\n*“Bớt, thêm; đầy,\nvơi; một tối, một sáng” *(消 息,滿虛,一 晦 一 明)là muốn bảo\nluật Thiên quân bao quát cả hai cõi tối, sáng ấy. Câu\nnói nầy của Liệt Tử: *“Một vật\nthể, khi đầy, khi vơi, khi thêm, khi bớt, khi sáng,\nkhi tối đều có cảm thông với Trời,\nĐất, ứng với vật loại”*(一 體 之 盈 虛 消 息 皆 通 於 天 地, 應 於 物 類)có thể bao quát và cai quản cả\ncái luật Thiên quân.\nTheo luật Tiến hóa, hay Thiên trạch thì các giống vật càng biến, càng không bình đẳng. Còn theo luật Thiên quân thì các giống vật càng biến lại càng theo về bình đẳng, dù cho hình chất không bình đẳng, địa vị không bình đẳng mà Tánh và Phận vẫn bình đẳng. (Xem Tiêu Diêu Du và Tề Vật Luận).\nĐó là sự phân biệt quan trọng nhất trong hai thuyết Tiến hóa và Vạn hóa.\nTóm lại, ta có thể lấy câu nầy của\nTrang Tử để chỉ luật Thiên quân:\n*“Trước\nsau như cái vòng”*(始 卒 若 環).\nVới hai chữ “tự hóa” 自 化, Trang Tử không thừa nhận có một\nĐấng Tạo hóa đứng ngoài và làm chúa tể\nvũ trụ vạn vật, mà lại cho rằng ngay ở\nmỗi vật, từ vật cực nhỏ đến\nvật cực lớn, đều có cái sức “tự sinh”,\n“tự hóa” ở bên trong\n*, *vì vạn vật, không có\nvật nào không có Đạo 道 ở trong cả. Hay nói một cách khác, con\nngười với sức “tự sinh”, “tự hóa” có\nthể được xem như một đấng\n“tiểu tạo hóa” hay “tiểu hóa công”. Cho nên trong thiên\nTề Vật Luận mới nói: *“Trời Đất\ncùng ta đồng sinh, vạn vật cùng ta đồng\nnhất”*(天 地 與 我 並 生,萬 物 與 我 同 一). *Vạn vật\nđồng nhất thể *đó là danh từ\ntổng quát để chỉ vũ trụ quan của Trang Tử.\nThuyết Vạn hóa Thiên quân của Trang Tử,\nnhư trên đây đã nói có thể tượng trưng\nbằng một cái\n*vòng ốc*(螺 環)không thể lẫn lộn với thuyết Luân\nhồi của nhà Phật (Tiểu thừa).\nThuyết Luân hồi của Phật giáo Tiểu thừa, tựu trung là một hình thức của thuyết Tiến hóa, cho nên người ta quan trọng về vấn đề quả vị cao thấp: một ảo vọng của Bản Ngã. Vì vậy, đứng về phương diện giải thoát, thì thuyết Luân hồi phải thua xa thuyết Vạn hóa Bình đẳng của Trang Tử.\nThật vậy, con người sở dĩ nô lệ, là vì còn bị cái sợ chi phối tinh thần. Sợ đủ thứ, nhưng cái đáng sợ của con người là sợ chết, và cái cảnh sau khi chết, thuyết Luân hồi của Tiểu thừa Phật giáo an ủi được lòng thắc mắc băn khoăn ấy, và bảo đảm được rằng loài người sẽ tiến mãi: hết loài thú, đến loài người, rồi đến loài tiên, loài Phật...Con người càng “tiến” chừng nào, thì lòng khao khát lên “cao” lại càng tăng, và lòng “nô lệ” ngôi vị đẳng cấp sẽ càng nặng chừng nấy, nghĩa là lòng giải thoát cái “sợ” sẽ không bao giờ giảm bớt và dứt được.\nTrái lại, với thuyết Bình đẳng\ncủa Trang Tử, căn cứ vào thuyết Vạn hóa\nThiên quân cho rằng người là Đạo, người\nmà thực hiện được cái Đạo nơi mình\nrồi, thì nó sẽ “tự sinh”, “tự hóa” như Trời\nĐất, nên “toàn mãn” mà không còn cái bụng đèo bòng tham\nmuốn những gì khác ngoài cái tánh phận của mình\nnữa:\n*“Vạn vật dữ ngã đồng\nnhất”*(萬 物 與 我 同 一). Miễn giữ gìn được thiên chân *, *ngoài\nra cuộc đời hãy nên xử như “Trang Châu hóa\nbướm” *. *Trang Châu chiêm bao thấy mình là\nbướm. Trong khi làm bướm, quên lửng mình là\nngười, và vui thích với phận làm bướm. Nếu\nđứng theo Trang Châu mà luận, và thử hỏi Trang\nChâu có chịu đổi cái kiếp người của\nmình để làm phận con bướm, thì Trang Châu ắt\nkhông khứng chịu. Nhưng, nếu đứng theo con\nbướm mà xem, và xin đem đổi cái kiếp con\nbướm làm phận con người như Trang Châu,\nắt con bướm cũng không muốn. Làm người\nchưa ắt là vui hơn làm vật, và như thế\nvật và ta là bình đẳng vậy.” *Giá cánh tay trái ta là\ncon gà, thì ta nhân đó mà gáy canh. . .”. *Mình là Đạo, thì\nĐạo nơi ta hóa ra cái gì thì hóa, sao mà phải lo\nsợ? Ta có thể tự nói với mình: “ *Lớn lao thay!\nTạo hóa nơi ta. Ngươi muốn ta đi đến\nđâu bây giờ? Hay là ngươi muốn biến ta làm gan\ncon chuột, hay làm cánh trùng?*” Với một nhân sinh quan\nnhư thế, thì làm gì còn nô lệ lấy những cái\nsợ hão huyền để mà tranh giành cao thấp, lớn\nnhỏ, vinh nhục...? Cho nên giải thoát tinh thần con\nngười khỏi cái sợ thiên niên giam hãm đời\nmình trong dục vọng và bóng tối, quả thuyết Luân\nhồi của Phật giáo Tiểu thừa phải kém xa thuyết\nThiên quân Vạn hóa của Trang Tử, nếu không nói\nrằng bất lực.\n**D. Hạnh phúc**(辛 福) **cá nhân và xã hội**\nTrang Tử cho rằng “\n*hết thảy vạn\nvật đều do Đạo *道 *mà ra, và mỗi vật đều có\ncái Đức *德 *của nó, nghĩa là, hết thảy\nvạn vật, mỗi vật đều có cái tánh tự\nnhiên của nó. Nếu biết thuận theo tánh tự nhiên\nmà sống, thì hạnh phúc có ngay trong lúc đó, không phải\ncầu cạnh đâu khác ở ngoài”. *\nĐược phát triển tự do bản tánh\nlà điều kiện đầu tiên đưa ta\nđến hạnh phúc, một thứ hạnh phúc\ntương đối dĩ nhiên. Muốn đạt\nđến hạnh phúc tuyệt đối, phải cần\nđến một thứ tri thức siêu nhiên huyền\ndiệu hơn, tức là cái mà Lão Tử gọi\n*“tri\nbất tri, thượng”*(知 不 知,上).\nThường thì, sở dĩ bản tánh con người không được tự do phát triển là do sự ràng buộc, uốn nắn của chế độ, giáo dục, luân lý giả tạo của xã hội bên ngoài. Bởi vậy Trang học, cũng như Lão học hết sức phản đối nhân tạo mà đề cao cái sống cận với thiên nhiên.\nỞ thiên Thu Thủy 秋 水 Trang Tử\nnói:\n*“Thiên tại nội, nhơn tại ngoại (...)\nngưu mã tứ túc thị vị Thiên; lạc mã thủ,\nxuyên ngưu tỉ, thị vi Nhơn” *天 在 內,人 在 外(。。。)牛 馬 四 足,是 謂 天 ; 落 馬 首,穿 牛 鼻,是 謂 人。 * (Trời ở bên\ntrong, người ở bên ngoài (...) Bò ngựa bốn chân,\nđó là Trời, khớp đầu ngựa, xỏ mũi\nbò, đó là Người). *Ông lại nói: *“Chớ lấy\nNgười mà giết Trời! Chớ lấy nhân tạo\nmà giết Thiên Mạng! Chớ lấy Được mà\nchết theo danh! Giữ cẩn thận, đừng làm\nmất Thiên chân! Đó là trở về cái Chân của mình!”*(無 以 人 滅 天,無 以 故 滅 命,無 以 得 殉 名,謹 守 而 勿 失,是 謂 反 其 真。)\n⸈⸈⸈\n*“Trở về cái Chân của mình!” (phản kỳ\nchân)*(反 其 真)hay là *phục kỳ bổn*(復 其 本)tức là\nĐạo giải thoát *: *trở về bản tánh như\nnhà Phật khuyên ta *“minh tâm, kiến tánh”*(明 心 見 性)vậy. Cho nên, không thể hiểu\nmột cách quá giản lược và sai ngoa rằng\nthuyết “ *thuận Thiên, an Mạng” *của ông là\nthái độ tiêu cực, nhu nhược, phó mặc cho\nsố phận mà xã hội đã an bày cho ta, ra sao hay vậy.” *Trở\nvề cái Chân của mình” *phải là một cuộc\nđại cách mạng mới thoát khỏi gọng kềm\nxã hội càng ngày càng phủ lấp và mai một Thiên Chân. Cho\nnên Trang Tử mới khuyên ta: *“Chớ có lấy cái Ta\nxã hội, cái Ta nhân tạo do luân lý, giáo dục, chế\nđộ cấu thành...mà giết chết Thiên tính!” *(Vô\ndĩ Nhơn diệt Thiên 無 以 人 滅 天 ).\n⸈⸈⸈\nVạn vật, vật nào cũng có cái tánh tự nhiên của nó, và nói về năng khiếu tự nhiên thì không vật nào giống vật nào cả. Có điều là, nếu mỗi vật, vật nào cũng được phát triển tự do năng khiếu tự nhiên của mình thì vật ấy được ngay hạnh phúc.\nTrong thiên Tiêu Diêu Du 逍 遙 遊, Trang Tử mượn cớ tạo ra một vật cực đại (là cá Côn, chim Bằng) và vật cực tiểu (con ve và con cưu) để chứng minh rằng năng khiếu tự nhiên của mỗi vật hoàn toàn khác nhau. Vật cực đại như chim Bằng, mỗi khi muốn đến biển Nam, phải “đập trên mặt nước ba nghìn dặm dài, lên theo gió trốt chín muôn dặm cao, và bay trọn sáu tháng không nghỉ” (...) “Con chim cưu và con ve, thấy vậy, cười nói: Ta thích bay vụt lên cây du, cây phương...nếu có lúc bay không tới mà có rớt xuống đất thì cũng không sao. Sao lại phải lên chi tới chín muôn dặm cao, bay qua biển Nam mà làm gì?”\nNếu mỗi vật đều biết đủ với tánh Trời của mình, thì tuy Đại Bằng, không xem mình là cao quý hơn chim nhỏ mà tự cao, mà chim nhỏ như chim cưu cũng không xem mình là thấp hèn mà đèo bòng ham muốn đến Ao Trời làm gì như chim Bằng! Lớn, nhỏ tuy khác nhau, nhưng mỗi vật nếu biết thuận theo cái tánh tự nhiên của mình, biết an theo cái phận của mình, thì đều được tiêu diêu (tự do) không sai cả.\nSự vật trên đời không đồng nhau,\nnhưng cũng không nên cầu cho hết thảy\nđều đồng với nhau. Là vì không thể nào\ncầu cho được. Sự bình đẳng tự\nnhiên không có và không bao giờ có trên đời nầy. Thiên\nBiền Mẫu 駢 拇 có nói: “\n*Cẳng\nvịt thì ngắn, cố mà nối dài, nó khổ. Giò\nhạc thì dài, cố mà làm cho ngắn, nó đau. Cho nên tánh mà\ndài, không phải cái nên chặt bớt; tánh mà ngắn, không\nphải cái nên kéo dài, thì sao có đau khổ!”*(故 鳧 脛 雖 短, 續 之 則 憂 ; 鶴 脛 雖 長,斷 之 則 悲。故 性 長 非 所 斷,性 短 非 所 續,無 所 去 憂 也。)\n**Đ. Quan niệm về xã hội và\nchính trị**\n“\n*Đừng mong kéo cẳng vịt cho dài, thu giò\nhạc ngắn lại”, *nhưng đó lại là công\nviệc làm của các nhà xã hội chính trị “hữu vi”\ntừ ngàn xưa vậy.\nMục tiêu chính của các nhà làm luật pháp, các\nluân lý gia, các chế độ chính trị...phải\nchăng đều có tham vọng san bằng mọi cá tính\nđặc biệt, bình đẳng hóa tất cả\nmọi bất bình đẳng tự nhiên trong thiên hạ...biến\nmỗi cá nhân thành một con người sống theo xã\nhội,\n*“thích theo cái thích của mọi người, mà\nkhông biết thích theo cái thích của mình” [12]*.\nTheo Trang Tử,\n*tánh *(tự nhiên) của\nvạn vật, thì không đồng nhau: mỗi vật\nđều có chỗ nhận cho là đẹp, là hay, là\nphải, riêng của vật ấy. Cho nên không cần\nphải cưỡng ép cho tất cả đều\nđồng nhau, mà cũng không sao cưỡng ép cho\nđồng được. Chỗ không đồng của\nvạn vật, ta phải biết nhận lãnh nó, biết\n“chịu” nó, đó tức là dùng chỗ “không đồng” mà\nlàm cho “đồng” vậy. Trái lại tất cả\nmọi chế độ, chính trị, xã hội theo hữu\nvi đều định ra “một cái tốt” để\nlàm tiêu chuẩn chung cho mọi tư tưởng hành vi,\nkhiến người người đều phải theo\nđó mà hành động. Đó là ép những chỗ “không\nđồng” phải “đồng” nhau. Yêu, mà yêu theo chỗ\nthích riêng của mình, là làm đau khổ cho vật mình yêu\nvậy. Cho nên các bậc “thánh nhân” lập ra “quy củ chuẩn\nthằng” cùng các thứ quy tắc chế độ\nđể định chế chính trị xã hội,\nkhiến cho người người trong thiên hạ\nđều phải phục tùng theo, chỗ dụng tâm, tuy\nchưa phải là không có lý do chánh đáng và tốt\nđẹp, và chỗ dụng ý tuy không phải là không\nthực yêu người...nhưng, kết quả thì lại\nnhư Lỗ Hầu nuôi chim... *“Xưa kia, có con chim biển đậu ở\ncửa thành nước Lỗ...Lỗ Hầu ngự ra\nnghinh tiếp, rước về chuốc rượu ở\nđền Thái miếu, cho tấu nhạc Cửu thiều\ncho nó vui, giết trâu bò mời nó ăn...Chim ấy ngó\ndớn dác, bộ sầu bi không dám ăn, dám uống. Cách ba\nhôm thì chết. Đó là dùng cách nuôi người mà nuôi chim. Nếu\nnhư muốn dùng cách nuôi chim mà nuôi chim, thì phải\nđể cho nó đậu ở rừng sâu, dạo ngoài gò\nđất, trôi nổi sông hồ, kiếm ăn lươn\ncá, đỗ theo hàng liệt, ung dung tự đắc, thích\nđâu ở đó. Cứ nghe người nói là nó không\nưa rồi, lựa là còn đem tiếng nhạc mà làm cho\nnó kinh tâm. Nếu đem nhạc Hàm trì, Cửu thiều mà\nđánh lên ở Động đình, thì chim nghe phải bay,\nthú nghe phải chạy, cá nghe phải lặn...Nhưng\nngười ta thì lại kéo nhau đến đó mà nghe. Cá\nở dưới nước thì sống, người\nở dưới nước thì chết. Đó và đây\nđã khác nhau, thì sự ưa ghét cũng khác nhau. Bởi\nvậy, bậc thánh ngày xưa không giống nhau về\nsở năng, nên không đồng nhau về sự\nnghiệp.” *\n(Chí Lạc 至 樂 )\nNhư vậy, ta thấy rằng không phải\nLỗ Hầu không có thiện ý, nhưng kết quả thì\nlại khác hẳn với ý muốn của mình: hại mà\nkhông có lợi\n*. *Đó cũng là hậu quả của\nnhững kẻ muốn dùng luật pháp, luân lý để mà\nđiển chế tư tưởng hành vi của thiên\nhạ.\nBởi thế, Trang học cực lực\nphản đối cái cách “lấy trị mà trị thiên\nhạ (dĩ trị, trị thiên hạ 以 治,治 天 下 ). Muốn\nkhiến cho thiên hạ được trị, không chi\nbằng “lấy sự không trị, mà trị thiên hạ” (dĩ\nbất trị, trị thiên hạ 以 不 治,治 天 下 ). Thiên Tại Hựu 在 宥 nói: “\n*Ta nghe phòng và giữ thiên hạ,\nchứ không nghe chuyện trị thiên hạ. *Phòng *, là\nsợ thiên hạ đắm đuối mà mất tánh; *Giữ, *là\nsợ thiên hạ dời đổi mà mất Đức. Thiên\nhạ mà không đắm đuối đến mất tánh,\nkhông dời đổi đến mất Đức, thì sao\nlại có chuyện trị thiên hạ?”. *Dù sao đi\nnữa, dù bất đắc dĩ mà phải dùng\nđến luật pháp, luân lý, chính trị, chế\nđộ...thì luật pháp, luân lý, chính trị, chế\nđộ cũng phải có mục đích duy nhất\nnầy là phụng sự cho cá nhân, chứ không\nđược đem *“Người mà giết\nTrời, đem nhân tạo mà giết thiên nhiên”*.\nLão Tử và Trang Tử đều chủ trương\n*“vô\nvi nhi trị”,*một chế độ không có chế\nđộ, một chánh thể không có chánh thể, nhưng\nmỗi người theo những lý do riêng.\nLão tử thì nhấn mạnh về Đạo, và vấn đề phản phục:\n*“Phản giả Đạo chi động” *反 者 道 之 動. Còn Trang Tử thì nhấn mạnh về sự\nphân biệt giữa thiên nhiên và nhân tạo: “Người\nkhông được giết Trời, nhân tạo không\nđược lấn thiên nhiên”, vì làm thế là làm cho nhân\ndân thống khổ: không phát triển được tự\ndo bản tánh của mình.\n⸈⸈⸈\n**E. Vấn đề hạnh phúc tương\nđối và tuyệt đối**\nCái hạnh phúc nói trên đây, chỉ là một thứ hạnh phúc tương đối, vì nó còn phải có điều kiện, nghĩa là còn phải tùy thuộc một cái gì. Thật vậy, người ta sở dĩ có được hạnh phúc là khi nào được tự do sống theo bản tánh của mình.\nNhư vậy, xã hội, chế độ...như đã nói trên, chỉ là một trong những điều kiện không thuận tiện cho sự phát triển tự do bản tánh con người trên con đường hạnh phúc.\nCũng có nhiều trở ngại khác không kém quan trọng khiến cho ta khó thực hiện được hạnh phúc, là vấn đề “lão”, “bệnh”, và “tử”. Như vậy, ta thấy rằng Phật giáo không phải là không có lý, khi họ đề xướng thuyết “sanh, lão, bệnh, tử: khổ” Người tự do không những không bị ràng buộc về pháp luật, luân lý, chế độ, xã hội bên ngoài, mà cũng là người không còn sợ già, sợ bệnh, sợ chết nữa.\nGià không đáng sợ. Đáng sợ là nên sợ\ncái già mà đầy bệnh tật. Vì vậy, người\nta muốn được hạnh phúc, cũng phải\nbiết lo đến phép dưỡng sinh\n*. *Người\nmạnh khỏe không sợ già, cũng không sợ chết\nnữa. Trong mọi tai họa, tai họa đáng sợ\nnhất của con người là tật bệnh. Người\nhay đau yếu, bệnh tật là người dễ sa\nvào ích kỷ: thường săn sóc săm soi đến\nthân thể nên dễ đem lòng quyến luyến và yêu thương.\nLão Tử cũng đã có nói: *“Ngô sở dĩ hữu\nđại hoạn giả, vi ngô hữu thân. Cập ngô vô\nthân, ngô hữu hà hoạn!” *(Chương 13 *Đạo\nĐức Kinh). *Cho nên, dưỡng sinh là thuật làm cho\nmình luôn luôn mạnh khỏe, để mà không có cơ\nhội thiết tha nghĩ đến thân thể của\nmình.\nNgười xưa có nói: “Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, đó là chân hạnh phúc của con người”. Có được một thân thể không đau, thì tinh thần mới không loạn; nhưng thường khi, nhờ có một tinh thần không loạn, mới có được một thân thể không đau. Đó là hai điều không thể rời nhau: ảnh hưởng của vật chất đối với tinh thần và ảnh hưởng của tinh thần đối với vật chất. Nhưng bàn về phần cao nhất của phép dưỡng sinh thì người Đông phương coi trọng phần ảnh hưởng của tinh thần hơn.\n*“Điềm đạm hư vô* * Chân khí tùng chi, * *Tinh thần nội thủ, * *Bệnh an tùng lai.” *恬 淡 虛 無\n真 氣 從 之\n精 神 內 守\n病 安 從 來。\n(Chương Đạo Sinh 道 生 )\n*Thượng Cổ Thiên chân luận *\n上 古 天 真 論\n(Hoàng Đế Nội Kinh)\n⸈⸈⸈\nỞ thiên Dưỡng Sinh Chủ 養 生 主, Trang Tử\nnói: “\n*Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai. Dĩ hữu nhai\ntùy vô nhai, đãi dĩ!” (Sinh lực của ta thì có hạn,\nmà nỗi lo nghĩ ưu lự thì vô hạn. Đem cái\nhữu hạn mà phụng sự cho cái vô hạn, là nguy\nvậy!). *Vì vậy mà phép dưỡng sinh chiếm\nđịa vị khá quan trọng trong học thuyết Trang\nTử và về sau phái Đạo gia lại khai thác nó\nlập ra thành một học phái đặc biệt là phái\n“trường sinh cửu thị”.\n⸈⸈⸈\nNhưng, mối băn khoăn lo sợ nhất\nlàm cho con người thương sinh[13]\nTa hãy nhìn kỹ chung quanh, xem sự bành trướng mạnh mẽ của tôn giáo thì đủ rõ vấn đề sinh tử là quan trọng đến bực nào! Người hoàn toàn tự do là người thoát khỏi cái tâm trạng “tham sinh úy tử”, người biết nhìn thấy sinh tử là một. Sự băn khoăn lo sợ sự sống chết sẽ giảm được hoặc dứt đi nếu ta hiểu rõ được cái lý của sống chết. Đó là cái phép “lấy lý mà hóa tình” của Trang Tử.\n⸈⸈⸈\nThiên Dưỡng Sinh Chủ nói: “\n*Lão Đam\nchết. Tần Thất đến điếu, khóc ba\ntiếng, rồi đi ra. Đệ tử hỏi: * *- * *Ông không phải là bạn của phu tử hay sao? * *- * *Phải. * *- * *Vậy thì, điều như thế là phải\nhay sao? * *- * *Phải. Trước kia, ta xem Lão Đam là bạn\nta. Nay xem lại đó, thì không phải nữa. Lúc ta vào\nđiếu, thấy có già khóc đó như cha khóc con;\ntrẻ khóc đó như con khóc mẹ. Đó là trốn thiên\ntánh, gia thêm tình và quên chỗ mình thọ lãnh của Tạo\nhóa. Cổ nhơn gọi đó là hình khổ của sự\ntrốn thiên tánh. Phu tử vui mà đến, là thời; vui\nmà đi, là thuận. An thời xử thuận thì buồn\nvui làm sao vào đặng cõi lòng. Cổ nhơn gọi đó\nlà huyền giải.” *\nTrong Trời Đất, chỉ có một cái\nsống, cái sống không sinh không tử. Sống chết\nchỉ là cái hình thức của một cuộc biến hóa\ncủa cơ đại hóa của Trời Đất. Cái\nsống ấy chính là cái mà Lão Tử gọi\n*“tử\nnhi bất vong giả thọ” *死 而 不 亡 者 壽 (chết mà không mất).\nHình thức nầy mà có mất đi, thì cái\nsống ấy lại đi về một chỗ khác. Cũng\nnhư trong một thân cây, lá nầy rụng, thì cái sống\ntrong lá cây “trở về” trong thân cây mà sanh ra lá khác, cùng hoa\ntrái khác...Cái mà ta gọi là sống chết đây, chỉ là\nmột sự “thành, hủy” của một trạng thái\ntrong vạn hóa của Trời Đất vạn vật mà\nthôi. Trang Tử đã ví sự sống chết như\nmột bó củi “cột lại” và “mở ra”.\n*Sinh *là *Huyền *縣, *tử *là *Giải *解(以 生 為 縣 以 死 為 解), *Huyền *縣 là cột lại; Giải 解 là tháo ra.\nSống chết chẳng qua là “một đi một lại”(死 生 一 去 一 來)nối tiếp nhau, còn cái sống, tức là chân thể của ta thì luôn luôn như thế mãi, không thay đổi.\nCái sống của chân thể, đối với hình thể của ta, ví như “lửa” mà đối với “củi”: từ hình thể này truyền qua hình thể kia như “lửa” truyền từ bó củi nầy sang bó củi kia, “không khác nào hỏa cứ truyền mãi mà không tắt, cái sống truyền mãi mà không bao giờ tuyệt”(火 傳 而 不 滅,命 續 而 不 絕).\nChết, là từ một cảnh nầy,\nđổi qua một cảnh khác...Từ cảnh nầy\nđổi qua cảnh khác mà lo sợ, thì là một việc\nlo sợ hão như cảnh nàng Lệ Cơ. . .”\n*Nàng Lệ\nCơ, con một vị quan trấn thủ phong cương\nxứ Ngại, gả về cho vua nước Tấn. Lúc\nxuất giá, rơi lụy dầm bâu. Khi tới hoàng cung,\ncùng vua đồng sàng, nếm mùi sô hoạn, rồi nàng\nlại hối hận giọt lệ ngày xưa” *(Tề\nVật Luận) *. *\nChết mà lo sợ thì có khác nào ta sợ trước cái cảnh mà mình chưa biết. Biết đâu rằng, sau nầy ta lại không như nàng Lệ Cơ, sau khi đến hoàng cung bấy giờ lại hối hận giọt lệ ngày xưa mà không chịu trở về quê cũ. Nếu ta cho hình thức hiện có đây là đáng vui, thì sau khi chết, chỗ ta đặng hình thức mới khác, sao lại biết là không có chỗ đáng vui như bây giờ? Nghĩ lại lúc mà ta chưa là người như ngày nay, có lẽ lúc sắp lìa cảnh đó để sang qua cảnh đây, biết đâu ta cũng đã “rơi lụy dầm bâu”, quyến luyến dùng dằng, và cho sự thay đổi hoàn cảnh là một tai họa. Và hiện nay, nghĩ lại cái “giọt lệ ngày trước” ta cũng sẽ lấy làm hối hận.”Trong muôn vàn hình thức của vạn vật, hình thức của người là một. Gặp được hình thức ấy, chưa đủ riêng vui với nó, bởi trong vô cực, chỗ “gặp mới” của vạn vật thì vô cùng.... Một chỗ “gặp mới” như đây mà còn biết vui, há chỉ có một chỗ nầy mà thôi sao?”. Lời chú đây của Quách Tượng thật rõ ràng hết sức.\nHình thức con người là một trong muôn vàn hình thức của vạn vật. Như vậy, gặp hình thức nào cũng đáng vui mừng cả, há chỉ có hình thức con người là đáng vui mừng mà thôi sao? “Giá như cánh tay trái ta biến làm con gà thì ta nhân đó mà gáy canh. Giá như cánh tay mặt ta hóa làm hòn đạn thì ta nhân đó mà kiếm chim quay. Giá như hóa cái xương cùng của ta làm bánh xe, hóa thần hồn ta làm con ngựa thì ta nhân đó mà cỡi, há còn đợi xe ngựa nào nữa? Vả “đắc” là thời, “thất” là thuận. An thời xử thuận thì buồn vui làm sao vào đặng cõi lòng!”. Vì vậy, bậc chân nhân xưa “không ham sống, không ghét chết, ra không vui, vào không sợ, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi. (Đại Tông Sư)(古 之 真 人 不 知 說 生 惡 死 其 出 不 訢 其 入 不 距 ; 悠 然 而 往,悠 然 而 來 而 已 矣。).\n*“Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là\nbướm, vui phận làm bướm: tự nhiên thích chí\nkhông còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là\nChâu. Không biết Châu, lúc chiêm bao là bướm, hay\nbướm lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt có\nphận định.” *(Tề Vật Luận) *. *\nBàn về vấn đề sinh tử mà lại dùng đến thực và mộng như chuyện Trang Châu mộng hồ điệp mà nói, thì thâm trầm sâu sắc không biết chừng nào! Thật là văn chương huyễn tướng lạ thường.\n⸈⸈⸈\nTheo Trang Tử, muốn trấn tĩnh lòng\ncảm xúc của con người trước vấn\nđề sinh tử, cũng như đối với\ntất cả mọi xúc cảm khác dễ làm cho ta\nthương sinh, thì phải dùng đến phép\n*“lấy\nlý mà hóa tình”. *Người trí thức, biết rõ\nđược chân tướng của vũ trụ,\nbiết được chỗ phát sinh của sự\nvật là việc tất nhiên...thì khi gặp việc sẽ\nkhông động cảm mà giữ được vẻ\nthản nhiên trầm tĩnh bên ngoài cũng như bên trong. Không\nđộng cảm, là không bị trói buộc, nghĩa là\nđược tự do và hạnh phúc vậy. Tỉ\nnhư gió thổi ngói bay, rớt nhằm một đứa\ntrẻ hoặc một kẻ lớn. Đứa trẻ\nnóng giận, nguyền rủa và quy tội cho miếng ngói\nvô tình; còn kẻ lớn, trái lại, biết là không lỗi\nnơi đâu cả, cho nên không động cảm, không\nbực tức và nhờ đó mà chỗ đau cũng\nbớt đau. Là vì, trí thức của người lớn\nbiết rõ cái lý do của miếng ngói rớt, nên “lấy lý\nmà hóa tình”, “buồn vui vì đó mà không vào đặng cõi lòng!”\nTrở lên là bàn đến hạnh phúc tương đối.\nCòn muốn bàn đến hạnh phúc tuyệt đối, thì phải bàn đến tự do tuyệt đối.\nMuốn đi đến hạnh phúc tuyệt đối, tức là tự do tuyệt đối, thì cần phải dùng đến một thứ tri thức siêu đẳng để mà đạt đến chỗ huyền đồng cùng vạn vật.\nThiên Tiêu Diêu Du\n*, *sau khi bàn về hạnh\nphúc tiêu diêu của chim Bằng, cũng như của chim\ncưu, có nói đến Liệt Tử cỡi gió mà đi. .\n.” *Liệt Tử cỡi gió mà đi, đi một cách êm ái\nnhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới\nvề. Đó sống trong chỗ chí phúc và người\nnhư ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi\nphải đi, nhưng còn phải chờ. . .”. *Chờ\ncái gì? Gió.\nNhư vậy, thì cái hạnh phúc của Liệt Tử cũng chưa gọi được là tuyệt đối, là vì còn phải tùy một điều kiện khác ở ngoài.\nChỉ có những ai\n*“thuận theo cái chánh\ncủa Trời Đất, nương theo cái biến\ncủa lục khí mà dong chơi trong cõi vô cùng: thì đó\nđâu còn phải đợi cái gì nữa. Cho nên nói\nrằng: bậc chí nhân không thấy có mình, bậc thần\nnhân không nhớ đến công trạng của mình, bậc\nthánh nhân không nghĩ đến tên tuổi của mình”. *(Tiêu\nDiêu Du)\nTrang Tử, trên đây, tả hạng người hoàn toàn giải thoát, tức là người đã đạt đến hạnh phúc tuyệt đối, bậc “chí nhân” đã huyền đồng cùng tạo vật, nên không còn thấy mình nữa. Họ là người đã vượt lên trên những cặp mâu thuẫn mà thế nhân thường nhận thấy: phải quấy, vinh nhục, trước sau, cao thấp, lớn nhỏ, sanh tử...Họ là người đã giải quyết được sự mâu thuẫn to tát nhất nơi họ: tình và lý, tâm và trí, nội và ngoại, nhĩ ngã. Không còn thấy có “nhĩ”, tức là không còn thấy có “ngã”, họ là người đã đạt đến trạng thái “vô ngã”.”Vô ngã”, nên cũng “vô công” và “vô danh”.\nĐã là “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh” nên họ đã là một với Đạo.”Đạo thì không làm mà không có gì là không làm”(道 常 無 爲 而 無 不 為). Và nhân đó mà hành động của họ không còn gọi là hành động của tư tâm tư dục nữa, mà là hành động của Đạo, của chân thể, của vô ngã. Hành động ấy là hành động vô vi của Đạo nơi ta vậy.\nĐể đi đến sự huyền\nđồng, bậc chân nhân phải\n*“biết quên\nthị phi” *(tri vong thị phi 知 忘 是 非 ).\nTheo nghĩa thông thường của thế nhân\nthì “biết” (知) là “biết”\nbằng sự phân biệt. Phải dứt bỏ lối\nnhận thức ấy để đi đến một\nthứ nhận thức siêu đẳng khác mà các nhà\nĐạo học gọi là\n*“tri bất tri,\nthượng”*(知 不 知,上)[14].\nPhùng Hữu Lan gọi đó là “kinh nghiệm\nthuần túy” tức là kinh nghiệm của vô tri thức, và\ncũng là chỗ mà nhà Phật gọi là\n*hiện\nlượng *現 量, *Thiền\nđịnh, Thiền tọa, *và về sau phái Thần\nTiên của Đạo giáo gọi là *Tĩnh tọa. *Thuần\ntúy kinh nghiệm, là sự thực nghiệm Đạo\nở bản thân, trong đó không còn cần đến suy\nluận, đối đãi...mà nhận thức trực\ntiếp thực tại không chủ khách, không nội ngoại\nvì những cặp đối đãi ấy đã\nđồng nhất, và đã biến mất trong tâm mình\nrồi.\nThiên Đại Tông Sư có đoạn văn này:\n*Nhan Hồi nói: * *- * *Hồi được thêm! Trọng Ni hỏi: * *- * *Là nghĩa gì? Nhan Hồi nói: * **- ** *Tôi quên nhân nghĩa. Trọng Ni nói: * **- ** *Được, nhưng mà chưa trọn. Một\nhôm khác, lại ra mắt và nói: * **- ** *Hồi được thêm. * **- ** *Là nghĩa gì thế? *\n-\n*Hồi quên lễ nhạc. * **- ** *Được, nhưng chưa trọn. * *Một hôm khác nữa, lại ra mắt mà rằng:\n* **- ** *Hồi được thêm. * **- ** *Là nghĩa gì? * **- ** *Hồi “ngồi mà quên” rồi. Trọng Ni\nngạc nhiên hỏi: * **- ** *Ngồi mà quên, là thế làm sao? Nhan Hồi nói: * *- * *Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí,\nđồng với Đạo lớn. Đó gọi là\n“ngồi mà quên” (tọa vong). * *Trọng Ni nói: * *- * *Đồng, thì không còn tham muốn nữa*; *hóa, thì không\nthường nữa. Quả Hồi là người hiền.\nKhưu nầy nguyện theo sau đó. *\n⸈⸈⸈\nChương đầu thiên Tề Vật Luận cũng có nói:\n*Quách Tử Kỳ ngồi dựa ghế, ngửa\nmặt hà hơi, bơ phờ như người mất\nbạn. * *Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước\nmặt, thấy vậy, hỏi: “Sao mà hình hài có thể\nkhiến được như cây khô, còn lòng thì có thể\nkhiến được như tro lạnh. Nay người\nngồi trên ghế có phải là người ngồi trên\nghế trước đây nữa không? * *Tử Kỳ nói: “ Yển, câu hỏi của\nngươi đâu phải là không đúng! Ta nay đã\nmất bản ngã rồi, ngươi có biết không?. . .” *\nĐây cũng là phép “tọa vong” để mà\nthực hiện sự huyền đồng với bản\nthể của Đạo và đó cũng là cứu cánh\ncủa Trang học: hễ “đồng” với cái sống\nchung của vũ trụ vạn vật thì sẽ không còn\nthương ghét riêng tư, sẽ không còn tham muốn\nđèo bòng những tánh phận ngoài mình nữa. Cho nên\nmới nói rằng:\n*“Đồng tắc vô hiếu dã”*(同 則 無 好 也)[15].\nĐạo học, theo Trang Tử, không phải\nchỉ là một lối triết lý suông của lý trí, mà là\nmột cuộc thực hiện hay thực nghiệm\nbản thân về chân lý. Lời nói của Nhan Hồi trong\ncâu chuyện “tọa vong” trên đây có nghĩa là Hồi\nđã được cái Đạo bên trong bằng phép\n*“truất\nphế thông minh*” (黜 聰 明)và *“bỏ lý trí”*(去 知). Nên để ý phân biệt điều này:\nbỏ sự hiểu biết không phải là khuyên ta\nđừng hiểu biết. Có hai trình độ hiểu\nbiết: biết cái biết thông thường, cái biết\ncủa giới nhị nguyên, cái biết trong vòng\ntương đối của thị phi, thiện ác và\nbiết về cái lẽ “bất khả tri” *, *biết\nvề bản thể *, *tức là cái biết về\ntuyệt đối *. *Cái biết thông thường\ncủa lý trí, của giới nhị nguyên về thị phi,\nthiện ác đâu phải là không cần, trong khi ta vẫn\ncòn hoạt động trong vòng “sắc tướng”,\nnhưng, khi muốn nắm được Đạo, ta\ncần phải vượt lên khỏi nó. Trang Tử\ngọi cái phép “vượt lên” ấy bằng một\nchữ “vong”(忘), nghĩa là\n“quên”. Ông nói: “ *Tri vong thị phi, tâm chi thích dã”*(知 忘 是 非,心 之 適 也). Người\nđược Đạo, không phải là người không\nbiết thị phi, mà là người đã vượt lên\ntrên cả thị phi. Không biết thị phi, với\nvượt lên thị phi là hai điều khác nhau xa. Cái\n“không biết” (bất tri不 知) của\nđứa hài nhi, với cái “không biết” của bậc\nđạt Đạo cũng khác nhau rất xa vậy. Cái\n“không biết” ấy, mà Lão Tử gọi là “xích tử chi\ntâm” đừng có hiểu lầm đó là tâm trạng\nhỗn độn của đứa trẻ sơ sinh. Cho\nnên không nên hiểu cho đó là cái học “ngu dân”.\nBởi không nhận thấy rõ ràng sự phân\nbiệt đó, mà phần đông học giả chuyên về\nTrang học mới đề xướng thuyết\n“phục cổ” như ở thiên Đạo Chích trong sách\nTrang Tử (Xem\n*Trang Tử Tinh Hoa*).\nCái tri thức thông thường về sắc giới không làm sao hiểu được chân lý tuyệt đối, vì vậy Trang Tử đề xướng sự “khứ tri”(去 知)và “phế bỏ thông minh” (黜聰明).\nỞ thiên Thiên Địa 天 地 có đoạn:\n*Hoàng đế đi\nchơi đến phía Bắc Xích Thủy, lên gò Côn Lôn, trông\nvề hướng Nam tìm đường trở về, thì\nbỏ rơi ngọc Huyền Châu*(玄 珠). *Sai Trí đi\ntìm, nhưng không tìm ra. Sai Ly Châu (rất tinh con mắt)\nđi tìm, nhưng cũng không tìm ra. Sai Khiết Cấu (người\ncó tài hùng biện) đi tìm, nhưng cũng tìm không ra. Bèn sai\nTượng Võng. Tượng Võng tìm ra. Hoàng đế nói:\n“Lạ thay, chỉ có Tượng Võng mới tìm ra\nđược ngọc Huyền Châu sao!” *\nTượng Võng là cái “có hình mà thực ra không có hình”(似 有 象 而 實 無)tức là ám chỉ cái “tâm hư không” trừu sượng siêu hình.\nCũng không thể dùng đến sách vở kinh điển mà tìm được Đạo, vì theo Trang Tử, đó cũng chỉ là những “cặn bã của cổ nhân”(古 人 之 糟 魄)[16], mà thôi.\nLý luận, biện thuyết đều vô ích cả, nó chỉ làm cho lòng ta thêm tăm tối, cho thần minh mờ ám:\n*Nhiễm Cầu hỏi Trọng Ni: *\n-\n*Có thể nào biết được cái có\ntrước Trời Đất không? Trọng Ni nói: * *- Được! Xưa cũng như bây giờ [17].\nNhiễm Cầu rút lui, không hỏi nữa. * *Qua ngày hôm sau, lại ra mắt mà rằng: *\n-\n*Hôm trước tôi hỏi: có thể nào\nbiết được cái có trước Trời\nĐất chăng? Thì Thầy dạy rằng:\n“Được. Xưa cũng như nay”. Trước kia,\ntôi tưởng là tôi đã hiểu, nhưng hôm nay thì\nlại cảm thấy mù mịt. Dám xin hỏi ý Thầy nói\nnhư thế nào? * *Trọng Ni nói: * *- Hôm trước ngươi hiểu rõ là vì đã\ndùng đến cái thần minh mà nghe. Nay lại cảm\nthấy mịt mù là vì đã dùng đến cái không\nphải thần minh mà cầu hiểu”*(昔 之 昭 然 也,神 者 先 受 之。今 之 昧 然 也,且 又 為 不 神 者 求 邪). (Trí Bắc Du 知 北 遊 )\nCái mà Trang Tử gọi “Thần” là ám chỉ cái\nkhiếu biết tự nhiên (một thứ trực giác phát\ntự cái tâm “hư”), cho nên mới hiểu rõ liền. Về\nsau, vì dùng cái lý luận giả tạo chấp nối\ncủa lý trí, nên lòng thông cảm tự nhiên của trực\ngiác mờ đi.”\n*Học giả, học kỳ sở\nbất năng học *(...), *biện giả,\nbiện kỳ sở bất năng biện*(學 者 學 其 所 不 能 學。。。辯 者 辯 其 所 不 能 辯)[18]. Cái học mà Trang\nTử khuyên ta là “cái học mà không sao học\nđược”; còn có biện luận thì “hãy biện\nluận cái không sao biện luận được”. Đó\nlà cái học về thuần túy siêu hình, một thứ Tâm\nhọc hoàn toàn.\nCho nên chỉ có thực hiện được cái đời sống tâm linh của ta, là mục đích tối cao của đời sống con người. Trong sách Trang Tử dẫy đầy những câu chuyện “thần hóa”(神 化)ấy.\n*Nhan Thành Tử Du nói với Nam Quách Tử Kỳ: *\n-\n*Từ ngày tôi nghe lời dạy của\nThầy được một năm, thì tôi thấy lòng tôi\ntrở về mộc mạc đơn thuần;\nđược hai năm, thì chạy theo Đạo;\nđược ba năm, thì thông lẽ Đạo;\nđược bốn năm, thì thấy tôi như một\nvật ngoại; được năm năm, thì tiến\nđến mực; được sáu năm, thì thấy\ndường như có thần minh nhập thể;\nđược bảy năm, thì được thần\nhóa (thiên thành); được tám năm, thì không biết mình\ncòn sống hay chết; được chín năm, thì đã\nđến chỗ đại huyền diệu” *(Ngụ\nNgôn 寓 言 ).\nĐó là những giai đoạn phải trải qua để đi đến một cuộc “thần hóa” hoàn toàn.\nMột đoạn khác ở thiên Đại Tông Sư lại nói rõ ràng hơn.\n*“Ba ngày, thì bỏ được việc thiên\nhạ ra ngoài; (...) bảy ngày, thì bỏ được\nsự thấy có ngoại vật bên ngoài; (...) chín ngày, thì\nbỏ được cái sống của mình ra ngoài [19].\nBỏ được cái sống của mình ra ngoài thì\nmới được triêu triệt[20].\nTriêu triệt rồi, mới nhận thấy\nđược cái một. Thấy được cái\nmột rồi, mới không còn thấy có xưa có nay. Không\ncòn thấy có xưa có nay rồi, mới vào được\ncõi không chết không sống”. *\nCái trạng thái\n*“hốt nhiên, đắc\nngộ” *ấy, có khi chỉ nhờ một lời\nnói mà được: “ *nhứt ngôn nhi năng ngộ”*(一 言 而 能 寤)[21]. Công phu dự\nbị thì lâu dài trong vô thức, nhưng lúc “đắc\nngộ” thì thật là mau lẹ như chớp nháng và làm\nbiến đổi hẳn tâm thần trí não con người.\n*“Nhan Hồi nói: Khi chưa thần hóa, thì rõ là có\nHồi thật. Nhưng khi đã được thần\nhóa rồi, thì thấy chưa hề có Hồi. Có thể\ngọi đó là “hư” chưa? *(Nhơn Gian Thế).\nCái thời kỳ “đắc ngộ” thì mau\nlẹ như thế, nhưng cần phải có một\nthời kỳ chuẩn bị, tức là tu luyện. Thời\nkỳ ấy, Trang Tử gọi là\n*“tâm trai”, *tức\nlà sự chay tịnh của lòng.\nỞ thiên Nhơn Gian Thế, Trang Tử miêu tả rất rõ lẽ ấy:\n*Hồi nói: Dám xin hỏi thế nào là “chay tịnh\ncủa lòng”? * *Trọng Ni đáp: Hãy chuyên tâm nhất chí. Đừng\nnghe bằng tai, mà nghe bằng lòng. Đừng nghe bằng\nlòng, mà nghe bằng khí. Điều gì mình nghe, thì hãy\nđể nó ở ngoài tai, còn lòng thì hợp nhất nó\nlại. Thần khí phải hư, hư mới nhận\nđược Đạo; hư tức là “chay lòng\nđấy!” *\nĐó là cả một chương trình “chay tịnh”: từ bỏ tất cả ngoại vật, sống giản dị, làm cho tâm trí đồng nhất với mọi sự mọi vật, “chuyên tâm bão nhất” cho lòng được trống không hư tịnh, không còn bị ảnh hưởng gì của vật ngoài nữa cả. Như vậy mới mong đạt đến trạng thái huyền đồng với chân thể tuyệt đối của mình. Cốt yếu là để cho lòng đạt đến “chân không” mới mong thần hóa được[22].\nVà, nhân thế mà phần đông những kẻ theo về với Đạo học, bao giờ cũng khởi đầu bằng cách lánh xa cuộc sống phồn hoa xã hội, thích ở những nơi tịch mịch thiên nhiên:\n“\n*Khổng Tử bèn từ biệt bè bạn,\ntừ bỏ học trò, trốn vào chầm lớn, mặc\náo cừu, áo vải, ăn hạt gắm, hạt dẻ. Chen\nvào đám muông mà không làm loạn đàn, chen vào đám chim mà\nkhông làm loạn hàng (tức là hòa đồng với vạn\nvật). Chim muông còn không ghét bỏ, huống chi là con\nngười”. *(Sơn Mộc 山 木 ).\nTuy nhiên, lánh đời có khi cũng chưa đủ để gọi là thoát khỏi được ảnh hưởng của đời. Ở trong đời mà không để cho thân tâm lụy vì đời, mới thật là người làm chủ được\nhoàn cảnh, mới thật là người tự do(不 以 外 物 動 其 心 也). Sự thản nhiên dứt bỏ đối với thế sự khởi nơi lòng giác ngộ của mình trước nhất: đâu cần phải xa lánh cuộc đời mới dứt được lòng nô lệ quyến luyến.\nỞ thiên Ứng Đế Vương 應 帝 王, Trang Tử có\nnói: “\n* (...) Liệt Tử ba năm không ra ngoài. Ở nhà\nnấu cơm cho vợ, nuôi heo cung kính như nuôi\nngười, và không thiết đến việc gì nữa\ncả *(để mà tiêu diệt cái lòng tự kiêu tự\nái của mình đi). *Phá bỏ tất cả mọi trang\nsức giả tạo để cho tấm lòng trở\nvề cõi thuần phác tự nhiên. Thành như cục\nđất, giữa cảnh náo nhiệt mà lòng vẫn không\nnáo động. Như thế đến trọn\nđời mình. . .” *\nTrong con đường “huyền học”, giai\nđoạn “tâm trai” nầy là khó khăn gay go nhất vì mình\nphải chịu đựng một cuộc tranh chấp\nkhổng lồ ở nội tâm giữa cái “ta xã hội” và\ncái “chân thể” của ta, nghĩa là giữa cái mà Trang\nTử gọi là\n*Thiên *天 và *Nhơn *人 (Trời và Người).\nCắt nghĩa chữ Thiên 天 và Nhơn 人, Trang Tử có nói:\n*“Bò ngựa\nbốn chân, đó là Trời (Thiên) [23]*.\n(Thu Thủy 秋 水 )\n*Nhơn, *tức là nhơn tạo, là ám\nchỉ những ước lệ giả tạo của xã\nhội để ràng buộc con người vào một\nkhuôn khổ, tức là những cái mà Khổng học\ngọi là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín...Luân lý, đạo\nđức, pháp độ, dù rất có lợi cho con người\ntrong giai đoạn *“tri thị phi, tri thiện\nác”, *nó trở lại thành một chướng\nngại vật cho giai đoạn giải thoát”, tức là\ngiai đoạn *“vong thị phi, vong thiện ác”*,\ngiai đoạn mà *“chân thể” *đã đến lúc\ntrưởng thành, đủ sức *“tự sinh,\ntự hóa”. *Vì thế Trang Tử mới có nói: “ *Tri vong\nthị phi, tâm chi thích dã”*(知 忘 是 非,心 之 適 也). Biết quên sự phải\nquấy, đó là cái tâm của mình thông suốt rồi\nvậy. Bảo rằng: Biết quên, tức là phải có\nBiết, rồi sau mới vượt lên trên sự\nhiểu biết mà quên đi. Muốn giải thoát, con\nngười trước hết phải trải qua giai\nđoạn nhận thức rõ ràng cái bản ngã của mình:\nkhông bao giờ đi đến giải thoát mà chưa\ntừng nhận thức và sống trong bản ngã một\ncách sâu xa. Bản ngã, là nguồn gốc của đau\nkhổ, vì nó cố gắng sống riêng ra ngoài cái sống\nmột của tâm hồn. Nhưng bản tánh của nó là\n“hữu thức”, vì có “hữu thức” mới có thể\nchia phân. Hữu thức phải đến trình độ\ncùng cực của nó, mới có thể đi vào cái sống\ncủa vô thức. Bản ngã là Âm, hễ Âm cực mới\nDương sinh. Dương là ám chỉ cái chân thể\ncủa mình. Như trên đã nói: Bản ngã là nguồn\ngốc của đau khổ. Muốn đi đến\ntrạng thái vô thức, phải làm cho tan vỡ cái vỏ\nbao ngoài, là bản ngã. Làm tan vỡ nó, sẽ phải đau\nkhổ để mà “thoát xác”.”Phải chết, rồi\nmới được phục sinh”, đó là ý nghĩa thâm\nsâu của câu chuyện Đấng Cứu Thế (Jésus)\nphải chịu chết đóng đinh trên cây Thập giá,\nđể rồi được phục sinh và lên Trời.\nVì vậy mới có câu khẩu hiệu này của các nhà\nhuyền học Thiên Chúa giáo: *“Chết trên cây thập\ngiá của mình”*. Triết học Đông phương\nbảo “vật cùng tắc biến, vật cực tắc\nphản”, “chết để mà sống lại” đó\nđều là ám chỉ đến việc làm cho *“chết” *bản\nngã đi, để phục hồi chân tính.\nNhà Đạo học Ấn Độ hiện\nđại là J. Krisnamurti cũng có nói rõ ràng hiện\ntrạng ấy:\n*“Tiếng nói của tôi là tiếng nói\ncủa sự hiểu biết thâm sâu, do một sự\nđau khổ tuyệt vời mà có.” [25]*\nBản ngã chưa chín muồi, chưa có thể\nrụng. Đau khổ chưa đến chỗ tuyệt\nvời, khó mà giác ngộ. [26]\nBản ngã (cả cái Bản ngã xã hội - moi social - un đúc nó) có thể ví như cái vỏ trứng gà, đối với con gà con đang thời kỳ chưa nở. Cái vỏ bao ngoài là cần thiết cho cái sống của con gà trong khi nó chưa thành hình đầy đủ, nhưng khi con gà con đã đến độ trưởng thành, có thể sống tiếp xúc ngay với ánh sáng và không khí bên ngoài, thì cái vỏ bao ngoài kia lại trở thành một chướng ngại vật mà nó phải phá vỡ ra, vì đó là tất cả vấn đề sanh tử của nó lúc bấy giờ.\nHột lúa chỉ làm xong sứ mạng của nó\nkhi nào nó trổ thành cây lúa, nghĩa là để có thể\ntrổ thành cây lúa, nó phải\n*“chết” *cái\nđời sống hột giống của nó đi, thì nó\nmới hoàn thành được sứ mạng của nó.\nBởi vậy, trước đây Trang Tử\nmới có bảo:\n*“Phá bỏ tất cả mọi\ntrang sức giả tạo bên ngoài để cho tấm lòng\ntrở về cõi thuần phác tự nhiên. *(Ứng\nĐế Vương). Và *“đừng lấy\nNgười mà giết Trời” *(Thu Thủy). “ *Người” *đây\nlà cái “ta xã hội” (moi social) tạo thành, còn “Trời”\ntức là chân thể.\nNhận rõ được như thế, ta sẽ\nkhông lấy gì làm lạ mà thấy rằng suốt bộ\nNam Hoa Kinh, Trang Tử bao giờ cũng cực lực\nphản đối cái học của Khổng, Mặc, và\nđề cao thiên nhiên mà đả kích nhân vi hay nhân tạo.\nCái học của Trang Tử, cũng như của Lão\ntử, là cái học giải thoát, tiêu diệt bản ngã\nđể thực hiện con người “vô kỷ, vô công\nvà vô danh”, tức là cái học thuộc về giai\nđoạn thứ hai trong cuộc thiên diễn của\nđời người để hoàn thành sứ mạng\ncon người của mình trong Trời Đất:\n*“Ta\nnay đã mất bản ngã rồi, ngươi có biết\nchăng?”*(今 者 吾 喪 我,汝 知 之 乎 ?) (Tề Vật Luận).\nTóm lại, sự chống đối, đả kích của Trang Tử chẳng qua là việc làm của “con gà con” đã đến thời kỳ nở: phá vỡ cái vỏ bọc ngoài của quả trứng để giải thoát. Chỉ có thế thôi.\n⸈⸈⸈\nĐi ra, rồi trở lại, đó là con\nđường của Đạo mà Lão Tử đã nói: “\n*Phản\ngiả, Đạo chi động” *(反 者 道 之 動). *Đi ra, *là con đường trong giai\nđoạn đầu để đi đến sự\ntạo thành một bản ngã đầy đủ *;\nđi về, *là con đường *“phục\nkỳ bản”*, “ *phản kỳ chân”*(復 其 本 反 其 真)tiêu diệt\nBản Ngã.\nCon đường trước là con đường sống chia phân của nội tâm: Tâm Trí, Nhĩ Ngã, Thị Phi, Thiện Ác...\nCon đường thứ hai, là con\nđường “trở về” nguồn\n*sống\nmột, *con đường hợp nhất lại\nnhững gì đã bị chia chẻ...Đó là con\nđường giải thoát. Hai con đường trên\nđây trong đời sống của con người là\ncả hai thế giới riêng biệt và nghịch hẳn\nnhau. Con đường trước người ta gọi\nlà con đường “tiến”, thì con đường sau\nphải gọi là con đường “thối”. Lão tử có\nnói: “Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn. .\n.”. Từ bên thế giới nầy sang qua thế giới\nbên kia, nhà Phật gọi là “đáo bỉ ngạn” (đến\nbờ bên kia) (paramita).\nHai thế giới đã khác nhau, thì sự\nhoạt động tri thức trên những vùng tinh thần\nấy cũng phải khác nhau: ở giới nhị nguyên\nthì phải dùng lý trí, nhưng khi bước chân vào\nngưỡng cửa của giới nhất nguyên thì không\nthể còn dùng đến dụng cụ tri thức kia, là lý\ntrí được nữa, mà phải dùng đến một\nnăng khiếu đặc biệt khác là trực giác[27]. Trang Tử gọi\nlà\n*“đại tri” *大 知 và nhà Phật\ngọi là trí “bát nhã” (Prajna), hay là Trí huệ bát nhã.\nNhư vậy, nhãn quang của người bước qua giai đoạn giải thoát là nhãn quang nghịch hẳn với nhãn quang của người còn sống trong giai đoạn chấp có một cái ta riêng biệt (nhị nguyên).\nGiai đoạn nầy (giai đoạn nhị nguyên) có hai thời kỳ: thời kỳ phôi thai của bản ngã (本我) và thời kỳ trưởng thành của bản ngã.\nTrong thời kỳ thứ nhất, con người còn sống theo quần đoàn, sống theo tạp quán, theo ảnh hưởng của người chung quanh, chưa có cá tánh đặc biệt. Họ chỉ biết bắt chước và không dám suy nghĩ khác hơn những giáo lý, tôn giáo hay chế độ giáo dục đương thời: họ hoàn toàn là sản phẩm của xã hội chung quanh.\nThời kỳ thứ hai là thời kỳ trưởng thành của bản ngã. Bắt đầu cá nhân có những tư cách chống đối xã hội, không chịu mù quáng thuận theo một cách nô lệ bất cứ một mạng lệnh nào, một lề lối cựu ước nào của chế độ luân lý, tôn giáo, xã hội đã qua hoặc đương thời chi phối. Họ có những tư tưởng cách mạng và độc đoán. Vách thành của truyền thống, của tạp tục bắt đầu rạn nứt. Họ dám suy nghĩ theo mình, bắt đầu hoài nghi, và can đảm đem tất cả mọi vấn đề mà đặt lại. Họ không thụ động nữa, trái lại đề cao đến tột độ chủ nghĩa cá nhân đủ mọi phương diện. Họ tìm đủ mọi cách để đề cao đời sống độc lập tinh thần, không chịu tôn thờ một quyền thế vật chất tinh thần nào cả ngoài mình. Độc lập, tân kỳ, sáng tạo, tự do, đó là bốn đặc điểm của con người tinh thần của họ.\nNhưng, một ngày kia, bản ngã của họ phát triển đến mức cùng tột, họ lại cảm thấy họ bị ràng buộc trong những công trình sáng tạo của họ, nghĩa là họ cảm thấy họ bị nô lệ lấy những giá trị giả tạo mà chính họ đã bày ra. Tất cả những giá trị của xã hội văn minh ngày nay, như những giá trị về luân lý, đạo đức, văn hóa, xã hội mà họ đã bày ra, phải chăng đều có công dụng là trói buộc họ vào những khuôn khổ quá chật hẹp của một ảo vọng đầu tiên vô cùng quan trọng: bản ngã. Bấy giờ, họ bắt đầu đi qua giai đoạn thứ ba, là vượt lên trên cái bản ngã ảo tưởng ấy, tức là họ bước qua con đường giải thoát.\nGiai đoạn nầy không phải là giai\nđoạn đi đến sự thực hiện siêu nhân,\nmà để thực hiện trạng thái tự nhiên\ncủa một con người “viên mãn”, một con\nngười “vô ngã”, hay nói theo Trang Tử, con người\n“chân nhân”\n*. *Giai đoạn nầy *“phản” *lại\ngiai đoạn trên: Cách nhận thức, suy luận\nđều nghịch hẳn với những cách nhận\nthức, suy luận nhị nguyên như trong giai đoạn\ntrước. Cách lập ngôn vì thế cũng khác hẳn. Cũng\nnhư bên Thiền tông Phật giáo, người ta dùng\nđến phép lập ngôn vô cùng đặc biệt nầy\nlà hay nói ngược lại tất cả những lối\nsuy nghĩ thông thường để mà “phá tan” cái *“*tập\nniệm nhị nguyên” *. *Phải có trải qua một\ncuộc đại cách mạng tư tưởng, xáo\ntrộn và lật ngược tất cả mọi vấn\nđề thường thức trong đời, mới mong\n“phá tan” được cái ác tập suy nghĩ theo nhị\nnguyên, mới nhận rõ được cái chân tướng\ncủa sự vật.\nNhư vậy, phần đông người ta, nếu sở dĩ còn trách cái giọng văn “khinh thế ngạo vật” của nhóm Trang học, cho rằng lời văn nhiều khi trịch thượng và quá bạo, không có vẻ dịu dàng hòa nhã và khiêm tốn đối với tư tưởng của Nho Mặc, đại diện tư tưởng nhị nguyên, là vì người ta chưa ý thức được phép lập ngôn của các nhà Đạo học Đông phương, của Lão Trang và nhất là của Thiền tông, thường vụ lấy chỗ làm cho thức tỉnh, chứ không còn phải vụ lấy sự ru ngủ cái bản ngã của con người nữa. Sự va chạm nặng nề đối với thành kiến là một trong những phương pháp để giúp cho người dễ tỉnh ngộ.\nTóm lại, ba mươi ba thiên của sách Trang Tử, tuy nghĩa lý sâu rộng, nhưng chỉ có sáu thiên đầu, là Tiêu Diêu Du, Tề Vật Luận, Dưỡng Sinh Chủ, Đức Sung Phù, Đại Tông Sư và Ứng Đế Vương của Nội thiên là bao quát được tất cả yếu chỉ của toàn thể bộ sách. Các thiên chương trong Ngoại và Tạp thiên rất có thể có một số ít do tay Trang Tử viết ra, kỳ dư đều do các bậc hậu học của phái Lão Trang thuật lại để diễn đạt thêm cái đại nghĩa của sáu thiên đầu.\nTiêu Diêu Du thì bàn về\n*tự do tuyệt\nđối; *còn Tề Vật Luận thì nói\nvề *bình đẳng tuyệt đối. *Thật\nra thì chỉ có hai thiên nầy là nền tảng của\ncả học thuyết Trang Tử mà thôi. Các thiên khác trong\nNội thiên cũng đều là những ý tưởng\nphụ thuộc dùng để diễn đạt cái\nđại ý của hai thiên nầy mà thôi.\n\nChưa xác định NAM HOA KINH NỘI THIÊN\n\n**A.** 北 冥 有 魚,其 名 為 鯤。鯤 之 大,不 知 其 幾 千 里 也。化 而 為 鳥,其 名 為 鵬。鵬 之 背, 不 知 其 幾 千 里 也。怒 而 飛,其 翼 若 垂 天 之 雲。是 鳥 也,海 運 則 將 徙 於 南 冥。南 冥 者, 天 池 也。齊 諧 者,志 怪 者 也。諧 之 言 曰:「鵬 之 徙 於 南 冥 也,水 擊 三 千 里,摶 扶 搖 而 上 者 九 萬 里,去 以 六 月 息 者 也。」\n野 馬 也,塵 埃 也,生 物 之 以 息 相 吹 也。天 之 蒼 蒼,其 正 色 邪 ? 其 遠 而 無 所 至 極 邪 ? 其 視 下 也,亦 若 是 則 已 矣。\n且 夫 水 之 積 也 不 厚,則 負 大 舟 也 無 力。 覆 杯 水 於 坳 堂 之 上,則 芥 為 之 舟 ; 置 杯 焉 則 膠,水 淺 而 舟 大 也。風 之 積 也 不 厚,則 其 負 大 翼 也 無 力。故 九 萬 里,則 風 斯 在 下 矣,而 後 乃 今 培 風 ; 背 負 青 天 而 莫 之 夭 閼 者,而 後 乃 今 將 圖 南。\n蜩 與 學 鳩 笑 之 曰:「我 決 起 而 飛,槍 榆 枋,時 則 不 至 而 控 於 地 而 已 矣,奚 以 之 九 萬 里 而 南 為。」 適 莽 蒼 者,三 餐 而 反,腹 猶 果 然 ; 適 百 里 者,宿 舂 糧,適 千 里 者,三 月 聚 糧。之 二 蟲 又 何 知 ? 小 知 不 及 大 知。 小 年 不 及 大 年。 奚 以 知 其 然 也 ?\n朝 菌 不 知 晦 朔,蟪 蛄 不 知 春 秋,此 小 年 也。楚 之 南 有 冥 靈 者,以 五 百 歲 為 春,五 百 歲 為 秋 ; 上 古 有 大 椿 者,以 八 千 歲 為 春, 八 千 歲 為 秋(此 大 年 也)。而 彭 祖 乃 今 以 久 特 聞,眾 人 匹 之,不 亦 悲 乎!\n**A.** Bắc minh 1 hữu\nngư, kỳ danh vi Côn 2. Côn chi đại, bất\ntri kỳ kỷ thiên lý dã. Hóa nhi vi điểu, kỳ danh vi\nBằng 3. Bằng chi bối, bất tri kỳ\nkỷ thiên lý dã. Nộ nhi phi, kỳ dực nhược\nthùy thiên chi vân. Thị điểu dã, hải vận tắc\ntương tỷ ư Nam minh. Nam minh giả, thiên trì dã. Tề\nHài 4giả, chí quái giả dã. Hài chi ngôn viết:\nBằng chi tỷ ư Nam Minh dã, thủy kích tam thiên lý,\nđoàn phù diêu 5 nhi thượng giả cửu\nvạn lý, khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã.\nDã mã\n6 dã, trần ai dã, sinh vật chi\ndĩ tức tương xuy dã. Thiên chi thương\nthương, kỳ chính sắc da, kỳ viễn nhi vô\nsở chí cực da? Kỳ thị hạ dã, diệc\nnhược thị tắc dĩ hĩ.\nThả phù thủy chi tích dã bất hậu,\ntắc phụ đại châu dã vô lực. Phúc bôi thủy\nư ao đường chi thượng, tắc giới vi\nchi châu, trí bôi yên tắc giao, thủy thiển nhi châu\nđại dã. Phong chi tích dã bất hậu, tắc kỳ\nphụ đại dực dã vô lực, cố cửu\nvạn lý, tắc phong tư tại hạ hĩ, nhi hậu\nnãi kim bồi\n7phong, bối phụ thanh thiên, nhi\nmạc chi yểu ứ 8 giả, nhi hậu nãi\nkim tương đồ Nam.\n⸈⸈⸈\nĐiêu\n9 dữ học cưu 10 tiếu\nchi viết:\nNgã quyết khởi nhi phi thương du\nphương, thời tắc bất chí, nhi khống ư\nđịa nhi dĩ hĩ. Hề dĩ chi cửu vạn lý\nnhi nam vi. Thích mãng thương\n11 giả, tam xan\nnhi phản, phúc du quả nhiên.\nThích bách lý giả, túc thung lương. Thích thiên lý giả, tam nguyệt tụ lương.\n⸈⸈⸈\n*Chi nhị trùng, hựu hà tri? Tiểu trí bất\ncập đại trí Tiểu niên bất cập đại\nniên Hề dĩ tri kỳ nhiên dã? *\nTriêu khuẩn\n12 bất tri hối sóc 13 huệ\ncô 14 bất tri xuân thu. Thử tiểu niên dã. Sở\nchi nam hữu minh linh 15 giả, dĩ ngũ bách\ntuế vi xuân, ngũ bách tuế vi thu. Thượng cổ\nhữu đại xuân 16 giả, dĩ bát thiên\ntuế vi xuân, bát thiên tuế vi thu. (Thử đại niên\ndã). Nhi Bành Tổ 17 nãi kim dĩ cửu\nđặc văn, chúng nhơn thất chi, bất diệc\nbi hồ!\n**CHÚ**\n1.\n*Bắc minh *北 冥, cũng viết là 北 溟 tức là\nbắc hải 北 海: biển Bắc.\n2.\n*Côn *鯤: gốc là tên một thứ cá\nnhỏ, nhưng Trang Tử lại dùng để chỉ\nmột thứ cá hết sức lớn.\n3.\n*Bằng *鵬: gốc là tên loài chim phụng, Trang\nTử lại dùng để chỉ một thứ chim\nrất lớn.\n4.\n*Tề Hài *齊 諧: Tên của một quyển sách, chép những\nviệc kỳ quái.\n5.\n*Phù dao (diêu) *扶 搖: một thứ gió rất mạnh từ\ndưới hốt lên trên không trung (gió trốt).\n6.\n*Dã mã *野 馬: là một thứ hơi đất ngoài\nđồng ruộng. Theo Thích Văn 釋 文: mùa xuân, hơi nước trên mặt ao\nđầm. Trên cao nhìn xuống, thấy như bầy ngựa\nrừng, nên gọi là *dã mã*. *Trần ai *塵 埃: *Trần*,\nlà bụi đất; *Ai*, là bụi nhỏ.\n7.\n*Bồi *培: cũng đọc là bằng 馮. Bằng 馮 tức là cỡi lên. Chim Bằng ở trên\nlớp gió lớn kia, nên gọi là cỡi gió 馮 風 (bằng phong).\n8.\n*Yểu ứ *夭 閼: *Yểu *夭 là gãy; *ứ *閼 là dừng lại, ngăn\nlại. *Yểu ứ *tức là trở ngại.\n9.\n*Điêu *蜩 là con *ve *蟬 (thiền) hay là *ve núi *山 蟬.\n10.\n*Học cưu *學 鳩: Theo Tư Mã Bưu 司 馬 彪, là một thứ chim nhỏ(小 鳥), nhỏ hơn con chim cưu 鳩.\n11.\n*Mãng thương *莽 蒼: cánh đồng kế cận.\n12.\n*Triêu khuẩn *朝 菌: một thứ nấm sớm nở chiều tàn(朝 生 莫 死).\n13.\n*Hối sóc *晦 朔: *Sóc *朔, là ngày đầu tháng; *hối *晦, là ngày cuối tháng. Ở\nđây *hối *晦 là buổi tối; *sóc *朔 là buổi mai.\n14.\n*Huệ cô *蟪 蛄 là con ve trên núi(山 蟬)mùa xuân sinh ra, mùa\nhạ chết, mùa hạ sinh ra, mùa thu chết.\n15.\n*Minh linh *冥 靈: cũng viết là 欞, tên một thứ cây mọc ở Giang Nam (Từ\nNguyên). Bản của Nhượng Tống lại dịch\nlà *“giống rùa Minh linh” *là sai.\n16.\n*Đại Xuân *大 椿: tên một thứ cây mọc ở Giang Nam.\n17. Tương\ntruyền\n*Bành Tổ*, tên là 鏗 (Khanh) tôi của vua Nghiêu 堯, sống từ đời Ngu\nHạ 虞 夏 đến đời\nThương商, và thọ 700 năm.\n**DỊCH NGHĨA**\nTIÊU DIÊU DU\n**A.** *Tại biển\nBắc có con cá Côn, lớn không biết mấy nghìn dặm. Cá\nnày hóa ra chim Bằng: lưng của chim Bằng lớn\ncũng không biết mấy nghìn dặm. Vỗ cánh mà bay,\ncánh nó sè ra như mây che rợp một phương trời.\nBiển động, Bằng bèn bay sang biển Nam: Biển\nNam là Ao Trời. * *Tề Hài, sách chép các việc kỳ quái nói: Chim\nBằng, lúc bay qua biển Nam, cánh đập làm cho sóng\nnước nổi lên ba nghìn dặm dài; nó nương theo\ngió trốt mà cất lên chín muôn dặm cao, và bay luôn sáu tháng\nmới nghỉ. * *Cái mà ta thấy trên không kia có phải là bầy\n“ngựa rừng” chăng, hay là bụi trần? Hay là cái\nhơi thở của muôn vật thổi lên? Còn màu trời\nxanh xanh kia có phải là màu thật của nó không, hay chỉ\nlà màu của vô cùng thăm thẳm? Thì cái thấy của con\nchim Bằng bay trên mây xanh dòm xuống cảnh dưới\nđây cũng chỉ như thế mà thôi. * *Vả lại, nước không sâu thì không sức\nchở thuyền lớn. Đổ một chung nước\nnhỏ vô một cái hủng nhỏ trong nhà, lấy một\ncọng cỏ thả lên làm thuyền, thì thuyền tự\nnổi; nếu lại lấy cái chung ấy làm thuyền mà\nthả lên, thì thuyền phải trịt. Là tại sao?\nTại nước không sâu mà thuyền thì lớn. Cũng\nnhư lớp gió không dầy thì không đủ sức\nchở nổi cánh lớn của chim Bằng. Bởi\nvậy, chim Bằng khi bay lên chín muôn dặm cao là cỡi lên\nlớp gió ở dưới nó. Chừng ấy, lưng vác\ntrời xanh, không gì ngăn trở, nó bay thẳng qua Nam. *\n⸈⸈⸈\n*Một con ve và một con chim cưu nhỏ\nthấy vậy, cười nói: “Ta quyết bay vụt\nlên cây du, cây phương. Như bay không tới mà có rơi\nxuống đất thì thôi, chứ không sao! Bay cao chín muôn\ndặm, sang qua Nam mà làm gì? Ta thích bay đến mấy cánh\nđồng gần đây, ăn ba miếng no bụng,\nrồi về. Nếu ta đến chỗ xa trăm\ndặm, thì ta có lương thực mỗi ngày. Còn\nnếu ta đến chỗ xa nghìn dặm, thì ta có ba tháng lương thực.”\n*\n⸈⸈⸈\n*Hai con vật ấy, mà biết gì? * *Kẻ tiểu trí sao kịp người\nđại trí. Kẻ tuổi nhỏ sao kịp\nngười tuổi lớn. Sao mà biết được\nthế? * *Nấm mai biết gì được hối sóc, ve\nsầu biết sao được xuân, thu! Đó đều\nlà hạng tuổi nhỏ cả. Phương Nam\nnước Sở có cây minh linh, sống một xuân là\nnăm trăm năm, một thu là năm trăm năm. Thượng\ncổ có cây đại xuân sống một xuân là tám nghìn\nnăm, một thu là tám nghìn năm. (Đó là hạng\ntuổi lớn). Lâu nay từng nghe danh sống lâu của\nBành Tổ. Hễ nói đến sống lâu, thì người\nđời thường đem đó mà so sánh, như\nthế không đáng buồn sao? *\n⸈⸈⸈\n**B.** 湯 之 問 棘 也 是 已。窮 髮 之 北 有 冥 海 者, 天 池 也。有 魚 焉,其 廣 數 千 里,未 有 知 其 修 者,其 名 為 鯤。有 鳥 焉,其 名 為 鵬,背 若 泰 山,翼 若 垂 天 之 雲,摶 扶 搖 羊 角 而 上 者 九 萬 里,絕 雲 氣,負 青 天,然 後 圖 南 且 適 南 冥 也。斥 鴳 笑 之 曰:「彼 且 奚 適 也 ? 我 騰 躍 而 上,不 過 數 仞 而 下,翱 翔 蓬 蒿 之 間, 此 亦 飛 之 至 也,而 彼 且 奚 適 也 ?」 此 小 大 之 辯 也。\n**B.** Thang chi vấn\nCấc dã thị dĩ. Cùng phát chi bắc, hữu minh\nhải giả, thiên trì dã. Hữu ngư yên, kỳ quảng\nsổ thiên lý, vị hữu tri kỳ tu giả, kỳ danh\nvi Côn. Hữu điểu yên, kỳ danh vi Bằng, bối\nnhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân,\nđoàn phù diêu dương giác 1 nhi thượng\ngiả cửu vạn lý, tuyệt vân khí, phụ thanh thiên,\nnhiên hậu đồ Nam thả thích Nam minh dã. Xích yển 2 tiếu\nchi viết: Bỉ thả hề thích dã. Ngã đằng\ndược nhi thượng bất quá sổ nhẫn nhi\nhạ, ngao tường bồng hao chi gian, thử diệc\nphi chi chí dã. Nhi bỉ thả hề thích dã. Thử tiểu\nđại chi biện 3 dã.\n**CHÚ**\n1.\n*Phù diêu dương\ngiác *扶 搖 羊 角: gió trốt lớn,\nxoáy tròn như hình cái sừng dê rừng(羊 角).\n2.\n*Xích yển *斥 鴳: *Xích *斥, là cái hồ nhỏ(小 澤); *yển *鴳, là loại chim sẻ(雀).\n3.\n*Biện *辯: Ở đây là sự phân biệt(辯 者 別 也). Quách Tượng chú đoạn\nnầy, cho rằng *không có lớn nhỏ*, vì\nnếu “mỗi vật đều biết yên với cái tánh\ncủa Trời phú cho mình, thì sao có buồn lo vì chỗ không\nđồng nhau”(各 安 其 天 性 不 悲 所 以 異). Đó là ông\ngiảng sai với bản ý của Trang Tử.\nXem kỹ văn mạch của chương nầy, ta thấy rằng chỗ mà Trang Tử bảo “con ve và con chim cưu nhỏ không làm sao hiểu được cái hành động của chim Bằng”, thì cũng như ở thiên Thu Thủy 秋 水 ông bảo “con ếch nằm đáy giếng làm gì thấy được cái rộng lớn của bể Đông”.\nMột đoạn văn sau trong thiên nầy, chỗ\nmà Kiên Ngô kể chuyện của Tiếp Dư bảo\nrằng\n*“đại nhi vô đương”*(大 而 無 當), chỗ mà Huệ Tử chê\nlời nói của Trang Tử *“đại nhi vô dụng”*(大 而 無 用), tức cũng là chỗ mà Lão\nTử trong *Đạo Đức Kinh *bảo “ *hạ\nsĩ văn Đạo, đại tiếu chi”*(下 士 聞 道 大 笑 之)vậy.\nHuống chi trước đây ông cũng đã\nnói “\n*tiểu trí bất cập đại trí; tiểu niên\nbất cập đại niên”, “triêu khuẩn bất tri\nhối sóc; huệ cô bất tri xuân thu”*, thì thật là\nchủ ý của ông rõ ràng hết sức. Cho nên, lời chú\ncủa Quách Tượng, thật là một sự sai\nlầm to tát vậy, vì đã giảng nghịch lại\nvới ý chánh của họ Trang. Câu nói nầy của Lão\nTử rất cần để cho ta tự nhắc nhở\nlấy khi cầm bút bình giảng tư tưởng\ntrong *Nam Hoa Kinh*: “Càng muốn làm cho thật sáng,\nlại càng làm cho ra tối”! Vì vậy, ít bình giảng\nchừng nào càng tốt, mà đừng bình giảng gì\ncả, càng hay! Đọc Trang Tử cần nhất là\nđọc ngay Trang Tử mà đừng đi qua các nhà bình\ngiảng trước, hoặc nếu đi qua các nhà bình\ngiảng trước, hãy quên phứt họ đi,\nđể đi ngay vào chánh văn của Trang Tử.\n**DỊCH NGHĨA**\n*B.* * Lời ông Thang\nhỏi ông Cấc, cũng thế. Miền bắc hoang\nlạnh có cái biển gọi là Minh Hải, tức là Ao\nTrời. Có con cá lớn tới mấy nghìn dặm, chưa\nai biết nó dài đến bao nhiêu, tên là Côn. Có con chim, tên là\nBằng, lưng như núi Thái, cánh tợ vừng mây che\nmột phương trời. Chim nầy theo gió trốt\ncuộn như sừng dê mà lên chín muôn dặm cao, tuyệt\nbóng mây mù, đội trời xanh biếc, bấy giờ nó\nmới bay về biển Nam. Một con chim ở hồ\nnhỏ cười nói: Đó bay chi cao xa lắm vậy? Ta\nbay nhảy bất quá vài chục thước cao, ngao du trong\nđám cỏ bồng cỏ hao. Bay đến thế\ncũng là đúng mực lắm rồi. Còn đó bay chi cao\nxa lắm vậy? * *Đó là chỗ phân biệt giữa lớn và nhỏ.\n*\n⸈⸈⸈\n**C.** 故 夫 知 效 一 官,行 比 一 鄉,德 合 一 君, 而 徵 一 國 者,其 自 視 也 亦 若 此 矣。而 宋 榮 子 猶 然 笑 之,且 舉 世 而 譽 之 而 不 加 勸,舉 世 而 非 之 而 不 加 沮,定 乎 內 外 之 分,辯 乎 榮 辱 之 竟,斯 已 矣。彼 其 於 世,未 數 數 然 也,雖 然,猶 有 未 樹 也。\n夫 列 子 御 風 而 行,冷 然 善 也,旬 有 五 日 而 後 反。彼 於 致 福 者,未 數 數 然 也。此 雖 免 乎 行 猶 有 所 待 者 也。\n若 夫 乘 天 地 之 正,而 御 六 氣 之 辯,以 遊 無 窮 者,彼 且 惡 乎 待 哉!故 曰:「至 人 無 己, 神 人 無 功,聖 人 無 名。」\n**C.** Cố phù trí\nhiệu nhất quan, hạnh tỉ nhất hương,\nđức hợp nhất quân năng trưng 1 nhất\nquốc giả, kỳ tự thị dã, diệc\nnhược thử hĩ. Nhi Tống Vinh Tử du nhiên\ntiếu chi, thả cử thế nhi dự chi, nhi bất\ngia khuyến, cử thế nhi phi chi, nhi bất gia thư,\nđịnh hồ nội ngoại chi phận 2 biện\nhồ vinh nhục chi cảnh 3 tư dĩ\nhĩ. Bỉ kỳ ư thế, vị sất sất nhiên\ndã, tuy nhiên du hữu vị thọ 4 dã.\nPhù Liệt Tử\n5 ngự phong nhi hành,\nlãnh nhiên 6 thiện dã, tuần hữu ngũ\nnhật nhi hậu phản. Bỉ ư trí phúc 7 giả,\nvị sất sất nhiên dã. Thử tuy miễn hồ hành\ndu hữu sở đãi giả dã 8.\nNhược phù thừa thiên địa chi chánh nhi\nngự lục khí chi biến\n9 dĩ du vô cùng\ngiả, bỉ thả ô hồ đãi tai. Cố viết: chí\nnhơn vô kỷ, thần nhơn vô công, thánh nhơn vô danh 10.\n**CHÚ**\n1.\n*Nhi *而 đọc là *năng *能: cổ tự hai chữ nầy dùng\nlẫn nhau. *Trưng *御: là tin cậy được, được tín nhiệm.\n2.\n*Nội ngoại chi\nphận *內 外 之 分: đây là chỉ\nvề cái Ta bên trong, và ngoại vật bên ngoài(内 我 而 外 物).\n3.\n*Vinh của ta,\nnhục của người*(榮 己 而 辱 人): Vinh cho ta, tức là\nnhục cho người.\n4.\n*Thọ *樹, là đứng vững(立): chỗ gọi là\n“chí đức cũng chưa được vững”(至 德 未 立). Đây là muốn nói rằng:\nngười như Vinh Tử chưa đủ cho ta\nngưỡng mộ vậy.\n5.\n*Liệt Tử *列 子: Người nước Trịnh 鄭, tên là Ngự Khấu 禦 寇.\n6.\n*Lãnh nhiên *冷 然: nhẹ nhàng êm ái(輕 妙).\n7.\n*Phúc *福: tức là không có gì trở ngại\ncả(無 所 不 順 之 謂 福). *Trí phúc *致 福, là muốn nói rằng Liệt Tử cỡi gió\nmà tuyệt không có vật nào trở ngại sự hoạt\nđộng của ông cả, ông tha hồ tới lui thong\nthả.\n8. Câu nầy\n*“thử\ntuy miễn hồ hành, du hữu sở đãi giả dã”*cùng\nvới câu trên *“tuy nhiên du hữu vị thọ dã” *đều\ncùng một dụng ý: chưa phải là đáng\nngưỡng mộ, là đã đến mức hoàn toàn.\n9.\n*Lục khí *六 氣: là khí âm, khí dương, gió, mưa, tối, sáng (âm,\ndương, phong, vũ, hối, minh). *Biện *辯 phải đọc là *Biến *變. Xưa hai chữ nầy dùng\nlẫn nhau. Chữ *Chánh *正đây, là ám chỉ Đạo 道, tức là phần chánh chủ\nchốt của âm, dương (thiên địa - càn khôn)\nđứng chỉ huy cái biến của lục khí...(nắm\ngiềng mối của tất cả hiện tướng\ntrong Trời Đất).\n10.\n*Vô kỷ, vô công, vô\ndanh: *Thôi Tuyển 崔 譔 cho rằng *“Vô\ncông, vô danh”*(無 功 無 名)là “không lập công,\nkhông lập danh”(不 立 功 不 立 名). Giảng giải như thế không ổn\nnếu không nói là sai. Nhân thế mới có người\nhiểu theo đó và cho rằng cái học của Trang\nTử là cái học yếm thế, hay xuất thế.\nNếu hiểu câu “vô công” là “không lập công”, thì\ncâu “vô kỷ” cũng phải có nghĩa là “không lập mình”\nhay sao và như thế nghĩa nó là gì? Khí văn phải\nnhất quán, và câu này phải hiểu là\n*“không có mình”,\n“không có công”, “không có danh”, *nghĩa là không nghĩ\nđến mình, không nghĩ đến công mình, không nghĩ\nđến danh mình. Bậc được Đạo, không\ncòn có thấy mình nữa (tức là cái tiểu ngã của\nmình); không còn thấy có mình nữa, thì làm sao còn nghĩ\nđến công mình, và danh mình.\nLão Tử cũng có nói\n*“công toại thân thoái”*, *“vi\nnhư bất thị”, “công thành phất cư”...*(nên\nviệc, lui thân, làm mà không cậy công, thành công rồi không\nở lại...tức là không nghĩ đến sự\nlưu danh).\nNhư vậy, không thể gọi Lão học là cái học yếm thế hay xuất thế...vì “không lập công”, “không lập danh”.\nNên biết rõ rằng chủ trương cứu\ncánh của hai học thuyết ấy là cái học\n*“huyền\nđồng vật ngã”*(玄 同 物 我),không còn thấy có trong có ngoài, có ta có người\nnữa. Cho nên không thể gọi người đắc\nĐạo là người xuất thế hay yếm\nthế, là vì đối với họ người với\nta là một, ngoại và nội là một, xã hội và cá nhân\nlà một. Cũng như cá và nước là một, không\nthể không có nước mà cá sống. Cho nên sở dĩ\ncon người phải lo cho xã hội là vì không có xã\nhội, cá nhân không sao phát triển được cái\nsống của mình. Lo cho xã hội không phải là phận\nsự mà là lẽ tất nhiên phải lo, không lo không\nđặng, hai lẽ ấy chằng chịt dính líu\nvới nhau, không sao rời nhau được. Cho nên có\nthể hiểu rằng: nói là lo cho đời, mà chính là lo\ncho mình; hoặc trái lại, nói là lo cho mình, mà chính là lo cho\nđời đó.\nCho nên, nói rằng cái học của Lão Trang là cái\nhọc yếm thế, tức là chưa hiểu rõ cái\nchủ trương\n*“huyền đồng vật\nngã” *của các ông, vậy chớ phản đối\nchế độ hiện hành của thời đại,\nphản đối Nho Mặc, phản đối cái\nđạo hữu vi đã làm thống khổ nhân dân...không\nphải đó là một cách tiêu cực lo khang kiện hóa xã\nhội là gì?\nVấn đề nhập thế xuất thế ở đây đã được đặt ra. Và dĩ nhiên, tương đối mà nói thì Lão cũng như Trang đều chủ trương sự thực hiện cái Đạo nơi mình trước hết, trước khi nghĩ đến việc ra lo giúp đời. Sự thực hiện bản thân là một vấn đề cần có sự cô lập và tĩnh tâm, cho nên dĩ nhiên là phải thiên về đời sống cá nhân nhiều hơn.”Tự giác nhi giác tha” của nhà Phật, cũng như “dĩ tu thân vi bổn” của Nho gia, phải nặng về sự yên tĩnh và lo về đời sống bản thân trước vấn đề xã hội.\nGiáo sư A. W. Watts, trong quyển\n*Le Bouddhisme\nZen (The Way of Zen) *lại cho rằng: “Đạo giáo là\ncông việc của những người lớn tuổi,\nđặc biệt là những kẻ đã từ bỏ cái\nđời hoạt động xã hội. Sự từ\nbỏ đời sống hoạt động xã hội\nấy chứng tỏ rằng họ đã có đi\nđến được một sự giải thoát\nnội tâm rồi đối với những lề lối\nsuy tư cùng hành động giả tạo của xã\nhội bên ngoài. Đạo giáo, vì vậy là một sự\nđeo đuổi theo một thứ hiểu biết\ntự nhiên, chứ không còn thuộc về cái hiểu\nbiết ước lệ giả tạo theo xã hội\nnữa, cái thông hiểu trực tiếp với lẽ\nsống thật, mà không phải trải qua sự trung gian\ncủa một ý tượng tinh thần theo nét gạch và\ntượng trưng”.\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Cho nên, kẻ có\ntài trí đủ làm nổi một tước quan, hạnh\nhơn cả một làng, (thì) đức (sẽ) không khác\nnào một vị vua được lòng tin của cả\nnước, (nếu biết) tự xem như đấng\nlàm vua kia vậy. * *Nhưng Vinh Tử nước Tống lại còn\ncười chê đó. * *Vả, đời có khen cũng không khích lệ,\nmà đời có chê cũng không ngăn đón\nđược: họ đã định rõ cái phận\ncủa trong ngoài, phân biệt cái cảnh của vinh nhục\nrồi đấy. Trong đời, hạng người\nnhư thế cũng dễ thường thấy có. Tuy\nvậy, đức của họ cũng chưa\nđược vững. * *Liệt Tử cỡi gió mà đi, đi một\ncách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm\nmới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và\nngười như ông dễ thường thấy có. Tuy\nkhỏi phải đi, nhưng còn có chỗ phải chờ.\n* *Đến như thuận theo cái chánh của\nTrời Đất, nương theo cái biến của\nlục khí mà rong chơi trong cõi vô cùng: thì đó đâu còn\nphải chờ đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng:\nbậc chí nhơn không thấy có mình, bậc thần\nnhơn không nhớ đến công mình, bậc thánh nhơn\nkhông nghĩ đến tên mình. *\n⸈⸈⸈\n**D.** 堯 讓 天 下 於 許 由,曰:「日 月 出 矣 而 爝 火 不 息,其 於 光 也,不 亦 難 乎!時 雨 降 矣 而 猶 浸 灌,其 於 澤 也,不 亦 勞 乎!夫 子 立 而 天 下 治,而 我 猶 尸 之,吾 自 視 缺 然。請 致 天 下。」\n許 由 曰:「子 治 天 下,天 下 既 已 治 也。 而 我 猶 代 子,吾 將 為 名 乎 ? 名 者,實 之 賓 也。吾 將 為 賓 乎 ? 鷦 鷯 巢 於 深 林,不 過 一 枝 。 偃 鼠 飲 河,不 過 滿 腹。歸 休 乎 君。予 無 所 用 天 下 為!庖 人 雖 不 治 庖,尸 祝 不 越 樽 俎 而 代 之 矣。」\n**D.** Nghiêu\nnhượng thiên hạ ư Hứa Do, viết: Nhật\nnguyệt xuất hĩ, nhi tước hỏa 1 bất\ntức, kỳ ư quang dã bất diệc nan hồ?\nThời vũ giáng hĩ nhi du tẩm quán, kỳ ư trạch\ndã bất diệc lao hồ? Phu tử lập nhi thiên hạ\ntrị, nhi ngã du thi 2 chi, ngô tự thị\nkhuyết nhiên. Thỉnh trí thiên hạ.\nHứa Do viết: Tử trị thiên hạ, thiên\nhạ ký dĩ trị dã, nhi ngã du đại\n3 tử,\nngô tương vi danh hồ? Danh giả, thật chi tân dã. Ngô\ntương vi tân hồ? Tiêu liêu 4 sào ư thâm\nlâm, bất quá nhất chi. Yển thử 5 ẩm\nhà, bất quá mãn phúc. Quy hưu hồ quân. Dư vô sở\ndụng thiên hạ vi. Bào nhơn tuy bất trị bào, thi\nchúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ.\n**CHÚ**\n1.\n*Tước\nhỏa *爝 火: cây đuốc(炬 火), một đóm lửa nhỏ.\n2.\n*Thi *尸: là làm chủ. Lại cũng có\nnghĩa là tượng thần, là người có chức\nnhiệm nhưng không làm gì cả. Ở đây, ta có thể\nhiểu là hư vị, một địa vị\ntượng trưng như một pho tượng thần\nvậy thôi.\n3.\n*Đại *代: thay thế.\n4.\n*Tiêu liêu *鷦 鷯: chim nhỏ(小 鳥).\n5.\n*Yển thử*(偃 鼠): chuột đồng.\n6.\n**DỊCH NGHĨA**\n**D.** *Vua Nghiêu\nmuốn nhường thiên hạ cho Hứa Do, nói: Mặt\ntrời mặt trăng đã mọc, mà không dụt\nđuốc, nhìn bóng đuốc há chẳng khó coi lắm\nsao? Mưa mùa đã đổ xuống, mà còn đi\ntưới nước, thế là chẳng lao công vô ích hay\nsao? Nay nếu phu tử lên ngôi, thiên hạ ắt\nđược trị. Tôi còn ngồi làm thần\ntượng chi nữa. Tôi tự thấy rất kém. Vậy,\nxin mời Ngài lên trị thiên hạ. Hứa Do nói: Ngài\ntrị thiên hạ, thì thiên hạ được trị. Tôi\ncòn thế Ngài làm chi, tôi cầu danh hay sao? Danh là khách của\nThật. Tôi muốn làm khách sao? Chim tiêu liêu đậu\nở rừng sâu, chẳng qua một nhánh là vừa. Chuột\nđồng uống nước sông dài, chẳng qua\nđầy bụng là đủ. Xin trả lại cho Ngài\nđó. Thiên hạ ấy, tôi không dùng đến làm gì cả.\nNgười đầu bếp dù không xong việc bếp,\nngười chủ tế cũng không vượt phận\nmà thế cho đó được. *\n⸈⸈⸈\n**E.** 肩 吾 問 於 連 叔 曰:「吾 聞 言 於 接 輿 大 而 無 當,往 而 不 反。吾 驚 怖 其 言,猶 河 漢 而 無 極 也,大 有 逕 庭,不 近 人 情 焉。」連 叔 曰:\n「其 言 謂 何 哉 ?」 曰 ︰ 「藐 姑 射 之 山,有 神 人 居 焉,肌 膚 若 冰 雪,淖 約 若 處 子。不 食 五 穀,吸 風 飲 露,乘 雲 氣,御 飛 龍 而 遊 乎,四 海 之 外,其 神 凝,使 物 不 疵 癘 而 年 穀 熟。吾 以 是 狂 而 不 信 也。」\n連 叔 曰:「然,瞽 者 無 以 與 乎 文 章 之 觀, 聾 者 無 以 與 乎 鐘 鼓 之 聲。豈 唯 形 骸 有 聾 盲 哉,夫 知 亦 有 之,是 其 言 也,猶 時 女 也。之 人 也,之 德 也,將 旁 礡 萬 物 以 為 一,世 蘄 乎 亂,孰 弊 弊 焉 以 天 下 為 事。之 人 也,物 莫 之 傷,大 浸 稽 天 而 不 溺。大 旱 金 石 流,土 山 焦 而 不 熱。是 其 塵 垢 秕 糠,將 猶 陶 鑄 堯 舜 者 也。孰 肯 以 物 為 事!\n宋 人 資 章 甫 而 適 諸 越。越 人 斷 髮 文 身, 無 所 用 之。堯 治 天 下 之 民,平 海 內 之 政, 往 見 四 子 藐 姑 射 之 山,汾 水 之 陽,窅 然 喪 其 天 下 焉。」\n**E.** Kiên Ngô vấn\nư Liên Thúc viết: “Ngô văn ngôn ư Tiếp Dư\nđại nhi vô đương 1, vãng nhi bất\nphản. Ngô kinh bố 2 kỳ ngôn, du Hà Hán nhi vô cực\ndã, đại hữu kính thính 3 bất cận\nnhơn tình yên”. Liên Thúc viết: “Kỳ ngôn vị hà tai”. Viết:\n“Diễu Cô Xạ chi sơn, hữu thần nhơn cư\nyên, cơ phu nhược băng tuyết, náo ước 4 nhược\nxử nữ 5 bất thực ngũ cốc,\nhấp phong ẩm lộ, thừa vân khí, ngự phi long nhi\ndu hồ, tứ hải chi ngoại, kỳ thần\nngưng, sử vật bất tì lệ, nhi niên cốc\nthục. Ngô dĩ thị cuồng nhi bất tín dã.”\nLiên Thúc viết: “Nhiên. Cổ giả vô dĩ\ndữ hồ văn chương chi quan, lung giả vô dĩ\ndữ hồ chung cổ chi thinh. Khởi duy hình hài hữu\nlung manh tai, phù tri diệc hữu chi, thị kỳ ngôn dã, du\nthời nhữ\n6 dã. Chi nhơn dã, chi đức\ndã, tương bàng bạc vạn vật dĩ vi nhất,\nthế ky hồ loạn, thục tệ tệ yên dĩ\nthiên hạ vi sự. Chi nhơn dã, vật mạc chi\nthương. Đại tẩm khể thiên nhi bất\nnịch. Đại hạn, kim thạch lưu, thổ\nsơn tiêu, nhi bất nhiệt. Thị, kỳ trần\ncấu tỉ khương 7 tương du\nđào chú Nghiêu Thuấn giả dã. Thục khẳng dĩ\nvật vi sự!\nTống nhơn tư chương phủ nhi thích\nchư Việt. Việt nhơn đoạn phát văn thân,\nvô sở dụng chi. Nghiêu tự thiên hạ chi dân, bình\nhải nội chi chánh, vãng kiến tứ tử Diễu Cô\nXạ chi sơn phần thủy chi dương, yểu\nnhiên\n8 táng kỳ thiên hạ yên”.\n**CHÚ**\n1.\n*Đại nhi vô\nđương *大 而 無 當: lớn mà không đúng với thực tế. *Đại\nngôn*(大 言), tức là lời nói khoác.\n2.\n*Kinh bố *驚 怖: *Bố *怖 nghĩa là sợ(懼); *kinh bố *là kinh\nsợ.\n3.\n*Kính thính *逕 庭: chữ đình 庭 ở đây, phải đọc là *thính*,\ncó nghĩa là xa xôi, diệu vợi.\n4.\n*Náo ước *淖 約: diện mạo đẹp đẽ, lại\ncũng có nghĩa là vẻ người yểu điệu,\nmềm mại, dịu dàng(好 貌 又 柔 弱 貌).\nChữ\n*náo *淖 cũng viết là *xước *綽(綽 約).\n5.\n*Xử tử *處 子: đọc là xử nữ 處 女 (tức là người con gái chưa chồng).\n6. Đọc là\n*nhữ *汝 (thay vì *nữ *女).\n7.\n*Tỉ\nkhương *粃 糠: bã lúa, trấu. Tức\nlà cặn bã.\n8.\n*Yểu nhiên *窅 然: phong thái sâu xa(湖 遠 貌). **DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Kiên Ngô nói\nvới Liên Thúc: “Tôi nghe Tiếp Dư nói chuyện lớn\nlác không tưởng, có lối đi mà không có lối về...khiến\ntôi kinh sợ, ông nói như sông Hà sông Hán không cùng tận,\nrất là xa xôi, không cận với nhân tình. . .”. Liên Thúc\nhỏi: “Nói những gì?”.”Nói rằng trên núi Diễu Cô\nXạ có thần nhơn ở, da thịt như băng\ntuyết, dáng điệu mềm yếu như người\ncon gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ\nhớp gió, uống sương, nương theo hơi mây,\ncỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng\nthần lại thì có thể làm cho vạn vật không\nđau ốm hư hoại, lúa thóc lại được\nmùa. Tôi cho đó là lời nói cuồng, nên không tin.” * *Liên Thúc nói: “Phải! Kẻ đui lấy gì\nđể xem thấy được cái đẹp của\nvăn hoa; kẻ điếc lấy gì để nghe\nđược tiếng chuông tiếng trống. Há chỉ\ncó hình hài mới có đui điếc đâu...Trí cũng có\nđui điếc. Theo lời nói ấy thì ngươi nay\ncũng thế. Kể như người\nấy, đức ấy cùng vạn vật hỗn\nhợp làm Một, thì đời dù có cầu ra trị\nloạn, họ cũng đâu chịu đi làm cái việc\ncủa thiên hạ. Người ấy không vật nào hại\nđặng. Nước cả đụng trời mà không\nlàm họ chết chìm được, nắng cả\nchảy mềm sắt đá, cháy núi thiêu đất cũng\nkhông làm cho họ chết nóng được. Đồ\nbụi bặm, cặn bã của thần nhơn ấy\ncũng đúc thành được hạng người\ncủa Nghiêu Thuấn. Ai đâu lại khứng đi làm\ncông việc cho ngoại vật! * *Người nước Tống buôn mũ\nChương phủ, sang nước Việt. Người\nnước Việt thì cắt tóc ngắn và xăm mình, không\ndùng mũ ấy làm gì. Nghiêu trị trăm họ trong thiên\nhạ, bình trị được trong nước, bèn sang\nqua núi Diễu Cô Xạ để ra mắt bốn Thầy.\nHọ có cái vẻ sâu xa làm sao mà Nghiêu quên mất thiên hạ\ncủa mình. *\n⸈⸈⸈\n**G.** 惠 子 謂 莊 子 曰:「魏 王 貽 我 大 瓠 之 種, 我 樹 之 成 而 實 五 石。以 盛 水 漿,其 堅 不 能 自 舉 也。剖 之 以 為 瓢,則 瓠 落 無 所 容。 非 不 呺 然 大 也。吾 為 其 無 用 而 掊 之。」 莊 子 曰:「夫 子 固 拙 於 用 大 矣。宋 人 有 善 為 不 龜 手 之 藥 者,世 世 以 洴 澼 絖 為 事。客 聞 之,請 買 其 方 百 金。聚 族 而 謀 曰:「我 世 世 為 洴 澼 絖,不 過 數 金,今 一 朝 而 鬻 技 百 金,請 與 之。」\n客 得 之,以 說 吳 王。越 有 難,吳 王 使 之 將。 冬,與 越 人 水 戰,大 敗 越 人,裂 地 而 封 之。\n能 不 龜 手 一 也。或 以 封,或 不 免 於 洴 澼 絖,則 所 用 之 異 也。今 子 有 五 石 之 瓠,何 不 慮 以 為 大 樽 而 浮 乎 江 湖,而 憂 其 瓠 落 無 所 容 ? 則 夫 子 猶 有 蓬 之 心 也 夫!」\n**G.** Huệ\nTử vị Trang Tử viết: “Ngụy vương di ngã\nđại hồ chi chủng, ngã thọ chi thành, nhi\nthực ngũ thạch. Dĩ thạnh thủy\ntương, kỳ kiên bất năng tự cử dã. Phẫu\nchi dĩ vi biều, tắc hồ lạc vô sở dung. Phi\nbất hiêu nhiên đại dã. Ngô vi kỳ vô dụng nhi\nphẫu chi”. Trang Tử viết: “Phu tử cố chuyết\nư dụng đại hĩ. Tống nhơn hữu\nthiện vi bất quy thủ 1chi dược\ngiả, thế thế dĩ bình tích khoáng vi sự. Khách\nvăn chi, thỉnh mãi kỳ phương bách kim. Tụ\ntộc nhi mưu viết: Ngã thế thế vi bình tích khoáng\nbất quá sổ kim, kim nhất triêu nhi chúc kỹ bách kim,\nthỉnh dữ chi.\nKhách đắc chi, dĩ thuyết Ngô vương. Việt hữu nạn, Ngô vương sử chi tướng...Đông dữ Việt nhơn thủy chiến, đại bại Việt nhơn, liệt địa nhi phong chi.\nNăng bất quy thủ nhất dã. Hoặc\ndĩ phong, hoặc bất miễn ư bình tích khoáng,\ntắc sở dụng chi dị dã. Kim tử hữu ngũ\nthạch chi hồ, hà bất lự dĩ vi đại tôn\nnhi phù hồ giang hồ, nhi ưu kỳ hồ lạc vô\nsở dung. Tắc phu tử du hữu bồng\n2 chi\ntâm dã phù.\n**CHÚ**\n1.\n*Bất quy\nthủ *不 龜 手: không làm răn nứt da tay.\n2.\n*Bồng *蓬: *Bồng chi tâm *là cái\nlòng hẹp hòi chưa thông đạt(短 之 暢).\n**DỊCH NGHĨA**\n**G.** *Huệ Tử\ngọi Trang Tử, nói: “Ngụy vương tặng tôi\nmột giống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng\nđến năm thạch. Dùng nó đựng nước,\nnó nặng, không cất nhắc được. Bổ nó ra\nlàm cái bầu, thì lại không còn dùng được chỗ\nnào. Đâu phải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô\ndụng nên tôi đập bỏ nó”. * *Trang Tử nói: “Thế là phu tử vụng về\nchỗ đại dụng nó. Nước Tống có\nngười khéo chế được môn thuốc chữa\nrăn nứt da tay, đời đời chuyên làm nghề\nươm tơ. Có người hay biết, đến xin\nmua phương thuốc đó một trăm lượng\nvàng. Anh ta bèn nhóm thân tộc bàn rằng: “Nhà ta đời\nđời làm nghề ươm tơ, lợi không hơn\nsố vàng đó. Nay một mai mà được trăm\nvàng, xin để cho bán”. Người khách được\nphương thuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước\nViệt có nạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa\nđông, thủy chiến với người Việt,\nngười Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt\nđất mà phong thưởng anh ta. * *Cũng thời cùng một phương thuốc\ntrị răn nứt da tay mà một người\nđược thưởng phong, một người không\nra khỏi cái nghề ươm tơ: đó là tại\nchỗ biết dùng mà khác nhau vậy. Nay phu tử có trái\ndưa nặng đến năm thạch, sao không tính dùng nó\nlàm trái nổi thả qua sông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ\nbầu tan, không có chỗ dùng? Thì ra vì cái lòng của phu\ntử hẹp hòi chưa thông đạt đó. *\n⸈⸈⸈\n**H. ** 惠 子 謂 莊 子 曰:「吾 有 大 樹,人 謂 之 樗。其 大 本 臃 腫 而 不 中 繩 墨。其 小 枝 卷 曲 而 不 中 規 矩。立 之 塗,匠 者 不 顧。今 子 之 言,大 而 無 用,眾 所 同 去 也。」\n莊 子 曰:「子 獨 不 見 狸 狌 乎,卑 身 而 伏, 以 候 敖 者,東 西 跳 梁,不 避 高 下 ; 中 於 機 辟,死 於 罔 罟。今 夫 斄 牛,其 大 若 垂 天 之 雲。此 能 為 大 矣,而 不 能 執 鼠。今 子 有 大 樹,患 其 無 用。何 不 樹 之 於 無 何 有 之 鄉, 廣 莫 之 野,彷 徨 乎 無 為 其 側,逍 遙 乎 寢 臥 其 下,不 夭 斤 斧,物 無 害 者。無 所 可 用,安 所 困 苦 哉!\nHuệ Tử vị Trang Tử viết: “Ngô\nhữu đại thọ, nhơn vị chi Vu. Kỳ\nđại bổn ủng thũng\n1 nhi bất\ntrúng thằng mặc. Kỳ tiểu chi quyện khúc, nhi\nbất trúng quy củ. Lập chi đồ, tượng\ngiả bất cố. Kim tử chi ngôn đại nhi vô\ndụng, chúng sở đồng khứ dã”.\nTrang Tử viết: “Tử độc bất\nkiến ly tinh\n2 hồ, ti thân nhi phục, dĩ\nhậu ngao giả, đông tây điệu lương,\nbất tị cao hạ, trúng ư cơ tịch, tử\nư võng cổ. Kim phù thai ngưu, kỳ đại\nnhược thùy thiên chi vân. Thử năng vi đại\nhĩ, nhi bất năng chấp thử. Kim tử hữu\nđại thọ, hoạn kỳ vô dụng. Hà bất\nthọ chi ư vô hà hữu chi hương 3,\nquảng mạc 4 chi dã, bàng hoàng 5 hồ\nvô vi kỳ trắc, tiêu diêu hồ tẩm ngọa 6 kỳ\nhạ, bất yểu cân phủ, vật vô hại giả. Vô\nsở khả dụng, an sở khốn khổ tai!\n**CHÚ**\n1.\n*Ủng thũng *臃 腫: lồi lõm, ghồ ghề, gút mắt(凹 凸).\n2.\n*Ly tinh *狸 狌: tức là một thứ mèo rừng(野 貓).\n3.\n*Vô hà hữu chi\nhương*(無 何 有 之 鄉): tức là chỗ tịch mịch(寂 滅).\n4.\n*Quảng mạc*(廣 莫): rộng lớn.\n5.\n*Bàng hoàng*(彷 徨): cùng nghĩa với *ngao tường *翱 翔 nghĩa\nlà *ngao du *敖 遊, đi chơi.\n6.\n*Tẩm ngọa *寢 臥: nằm ngủ.\n**DỊCH NGHĨA**\n**H. ** *Huệ Tử gọi Trang\nTử, nói: “Tôi có cội cây to, người ta gọi nó là\ncây Vu. Gốc nó lồi lõm không đúng dây mực. Nhánh nhóc nó\nthì cong queo không đúng quy củ. Đem trồng nó ở\nđường cái, người thợ mộc cũng không\nthèm nhìn. Nay lời nói của ông to lớn mà vô dụng, nên\nngười người đều không thèm nghe”. * *Trang Tử nói: “Ông riêng chẳng thấy con mèo\nrừng đó sao? Co mình đứng núp, rình vật đi\nrong, nhảy tây nhảy đông, không hiềm cao thấp,\nkẹt trong dò bẫy, chết nơi lưới rập. Đến\nnhư con thai ngưu, lớn như vầng mây che một\nphương trời, kể ra cũng là to thật, nhưng\ncũng không bắt được chuột. Nay ông có cây to,\nlại sợ nó vô dụng. Sao không đem nó trồng nơi\ntịch mịch, giữa cánh đồng rộng bao la. Khách\nngao du không làm gì, ngồi nghỉ dưới gốc nó, khách\ntiêu diêu nằm ngủ dưới bóng nó. Nó sẽ không\nchết yểu vì búa rìu, cũng không sợ vật nào làm\nhại. Không có chỗ nào có thể dùng được, thì\nkhốn khổ từ đâu mà đến được?”\n*\n⸈⸈⸈\n**TỔNG BÌNH**\nVề quan niệm Đạo 道 và Đức 德 thì Trang Tử và Lão tử đồng với nhau. Nhưng về quan niệm hạnh phúc, thì Trang Tử giản minh một cách rõ ràng khúc chiết hơn trong thiên Tiêu Diêu Du này.\nTrang Tử cho rằng tất cả muôn vật,\nvật nào cũng có cái Đức của nó, do cái\nĐạo nơi mình mà phát huy ra. Chữ Đức ở\nđây không có cái nghĩa thông thường về luân lý\nnhư phái Nho gia đã dùng, mà nó dùng để ám chỉ cái\ntánh tự nhiên của mỗi vật, tức là chỗ mà\nLão Tử gọi là\n*“kiến Tố”*(素)và nhà Phật\ngọi là *“kiến Tánh” [28]\n*(性).”Tánh tự nhiên”\nđây, tức là chỗ mà Quách Tượng bảo\nNếu biết thuận theo tánh tự nhiên ấy mà sống, thì hạnh phúc có ngay liền trước mắt, không cần cầu cạnh đâu khác ngoài mình.\nTiêu diêu, là “tự do tự tại”, là “tự do\nsống theo cái sống tự nhiên của mình” mà không\nphải mô phỏng theo ai khác, đèo bòng tham muốn cái ngoài\ntánh phận(性 分)của mình. Tiêu Diêu Du, là rong chơi\nvui thích theo mình, vì đã biết\n*“thích kỷ tự an”*,\nchứ không như người đời *“xá kỷ\nthích nhơn” [29]*(舍 己 適 人), điều mà Trang Tử\nrất cực lực phản đối ở thiên\nĐại Tông Sư[30].\nNhư vậy, ta thấy rằng, cái tự do mà Trang Tử đề xướng là một thứ tự do tuyệt đối, không lệ thuộc vào một điều kiện nào ngoài cái bản tánh của mình cả. Sống theo mình là tự do, là hạnh phúc; sống theo kẻ khác, là nô lệ, là đau khổ.\nĐại ý thiên Tiêu Diêu Du, có thể tạm chia làm năm điểm chánh như sau đây:\n**I. LỚN VÀ NHỎ KHÔNG THƯỜNG**(大 小 無 常):\nNghĩa là cái Lớn cái Nhỏ không phải là điều tuyệt đối, bất biến, mà thực ra, là một lẽ tương đối: lớn hơn cái nhỏ, nhỏ hơn cái lớn. Lớn và Nhỏ đều là những lẽ vô thường.\nNhư cá Côn, vốn là một thứ cá nhỏ mà\nTrang Tử cho nó là một giống cá lớn không biết\nmấy nghìn dặm; chim Bằng, vốn là chim phụng,\ncũng đâu phải là một vật cực đại,\nthế mà Trang Tử lại cho nó là một vật cực\nđại, có cái lưng lớn không biết mấy nghìn\ndặm, còn cánh của nó thì như vầng mây che khuất\nmột phương trời. Đó là chỗ dụng ý\nđặc biệt của Trang Tử dùng một bút pháp\ncực kỳ huyễn tướng, biến hóa bất\nthường để chỉ rõ\n*sự vô\nthường của cái Lớn và cái Nhỏ. *Đó là\nchỗ mà ở thiên Thu Thủy nói: *“Lấy chỗ bất\ntề mà xem, thì sẽ thấy vật nào cũng lớn\ncả (đối với vật nhỏ hơn nó) và\nvật nào cũng nhỏ cả (đối với vật\nlớn hơn nó); biết Trời Đất như một\nhột thóc, biết mảy lông là hòn núi”. *Như vậy,\nthì Nhỏ sao lại thường chẳng Lớn, mà\nLớn sao lại thường chẳng Nhỏ\nđược. Nhận thấy chỗ Nhỏ của mình,\nmà ham muốn đèo bòng mãi cái phận ngoài mình, sao bằng\nnhận thấy chỗ Lớn của mình và cho đó là\nđủ để mà *“thích kỷ tự an”*?\nBiết rõ được lẽ ấy, thì sẽ bỏ\nđược cái lòng tham dục của sự phân biệt\ntrong ngoài 內外之分, bỏ\nđược cái lòng tham muốn những gì ngoài mình và\nkhông tùng mình nữa. [31]\n**II. LỚN, THÌ HỢP VỚI CHỖ LỚN, NÊN\nKHÔNG THẤY MÌNH LÀ LỚN; NHỎ, THÌ HỢP VỚI\nCHỖ NHỎ, NÊN KHÔNG THẤY MÌNH LÀ NHỎ. **(大 者 所 順 大,而 不 自 知 其 大 小 者 所 順 小,而 不 自 知 其 小)\nTức như chim Bằng, một con vật\nrất lớn, tất phải dời sang biển Nam, bay\nlên cao chín muôn dặm và bay trọn sáu tháng trường không\nnghỉ...Trang Tử đã nói:\n*“Nước không sâu thì\nkhông sức chở thuyền lớn, đổ một chung\nnước xuống một cái lỗ nhỏ, lấy\nmột cọng cỏ mà làm thuyền thả lên thì\nthuyền tự nổi, nếu lại lấy cái chung\nnước ấy mà thả lên làm thuyền, thì thuyền\nấy phải mắc cạn. Là tại sao? Tại\nnước không sâu, mà thuyền thì lớn. * *Lớp gió không dầy, thì không sức chở\nnổi cánh lớn của chim Bằng.” *\nQuách Tử Huyền luận về điểm\nnầy có nói:\n*“Nếu không phải là Minh Hải thì\nkhông đủ chỗ cho thân con cá Côn day trở, nếu\nkhông có chín muôn dặm cao thì sao đủ chở cái cánh to\ntướng của chim Bằng. Há phải đó vì hiếu\nkỳ mà vẽ cho ra chuyện thêm đâu! Hễ vật\nlớn, phải sanh ra nơi chỗ lớn, và chỗ\nlớn tất nhiên cũng sanh ra vật lớn đó. Lý\ncố tự nhiên, đâu phải cần lo cho nó không\nđược như vậy!”. *Ông lại nói: *“Cánh\nlớn nên khó cử động trong chỗ hẹp, cho nên\nphải vượt trên chín muôn dặm cao, mới có\nđủ chỗ mà cử động. Đã có cánh ấy\nmà lại quyết ở dưới thấp, hay bay lên vài\nchục thước cao như con chim cưu, có\nđược không? Đó đều là chỗ bất\nđắc bất nhiên *(không vậy không\nđặng), *chứ đâu phải vui sướng gì\nmà làm ra như thế đâu!*”\nVậy, lớn thì thuận theo chỗ lớn, không tự xem là lớn mà sinh kiêu; nhỏ thì thuận theo chỗ nhỏ, không tự xem là nhỏ mà đèo bòng tham muốn, như “con chim cưu...bay vụt lên cây du cây phương, dù bay không tới thì rơi xuống đất” đâu cần phải ham muốn cái rộng lớn của chim Bằng. Nghĩa thật rõ ràng!\nQuách Tử Huyền nói:\n*“Nếu biết\nđủ với tánh phận của mình, thì tuy mình lớn\nnhư chim Bằng, cũng không tự cho là lớn mà cho mình\nquý hơn chim nhỏ kia, mà con chim nhỏ kia cũng không cho\nmình là nhỏ mà ham muốn bay đến Ao Trời *(thiên\ntrì) *làm gì. Nên chi nói đến cái vinh của chim\nBằng, hay nói đến cái thèm muốn của con chim\nnhỏ (để kịp với chim Bằng) đều là\nnói thừa cả. Lớn, Nhỏ tuy khác nhau, nhưng tâm\ntrạng tiêu du (nghĩa là tự do) vẫn một*(大 小 雖 殊,逍 遙 一 也).\nTóm lại: Chim Bằng ở thiên trì, thì chính\ncũng như chim cưu ở cây du, cây phương. . .”\n*đâu\nvừa với đó”*. Chim Bằng, không tự xem mình là\nlớn, chim cưu không tự xem mình là nhỏ, nên lớn\nkhông kiêu với nhỏ, nhỏ không đèo bòng ham muốn\ncái lớn. Tham dục nhờ đó, tự nhiên không còn\nnữa. Tham dục mà không còn có nữa, thì hạnh phúc có\nngay liền đó, vì hạnh phúc là sống được\ncái sống của mình, sống toại sinh trong cái tự\ntánh của mình vậy.\n**III. THỌ VÀ YỂU**\nĐiều mong ước lớn nhất của\nngười đời, là được sống lâu. Cho\nnên mới cho cái sống bảy tám trăm năm của\nBành Tổ là thọ, mà ao ước, thèm thuồng! Là\ntại sao? Là tại cái số kiếp của con\nngười, chỉ trăm năm là hạn, nên mới\nđèo bòng ham muốn sống được như Bành\nTổ và cho đó là\n*thọ*. Giả sử mà ai ai\ncũng đều sống được như Bành\nTổ, thì cái khoảng bảy trăm năm lại sẽ\nkhông còn đủ cho là *thọ *nữa. Như\nta đã thấy, lòng ham muốn con người sở\ndĩ có, là khi nào không biết an theo số phận của\nmình mà đem tâm đeo đuổi theo cái số phận\ncủa những vật ngoài mình và khác mình.\nThật vậy, vì không ai sống đến\nđược cái tuổi của Bành Tổ, nên mới cho\ncái sống ấy là thọ mà thèm muốn. Bành Tổ, trái\nlại, nếu cũng bắt chước như ta mà không\nbiết an với tánh phận của mình là sống bảy\ntrăm năm, lại đèo bòng muốn sống được\ncái sống của cây minh linh thì tất cũng sẽ cho cái\nhạn bảy trăm năm của mình không đủ cho\nlà thọ, mà sống được như cây minh linh\nmới là thọ. Cây minh linh, nếu lại bắt\nchước Bành Tổ, không tự xem mình là thọ, lại\nđèo bòng tham muốn sống theo cái sống của cây\nđại xuân; cây đại xuân lại muốn sống\nđược như cái sống của Trời\nĐất...thì ra\n*vật nào cũng không thọ\ncả, mà vật nào cũng đều yểu cả! *Cho\nnên nói rằng, nếu cứ tham muốn sống ngoài cái\ntánh phận của mình, thì cái sống của Bành Tổ\nđối với cây đại xuân, không khác nào *“cái sống\ncủa đứa trẻ chết trong nôi” *vậy.\nNếu lấy cái sống trăm năm là hạn\ncủa ta làm mực thước, thì “con ve sầu” mùa xuân\nsanh, mùa hạ chết, “tai nấm mai” sớm nở tối\ntàn...đều là vật\n*yểu *cả! Cái\nsống một mùa của con ve sầu, và cái sống có\nmột buổi của tai nấm mai, đối với ta\ntuy chỉ là cái sống trong khoảng khắc rất\nngắn ngủi, mà đối với nó, vẫn cũng là\nmột kiếp sống, như một kiếp sống\ntrăm năm của ta vậy. Đối với con\nngười, được sống trăm năm là *thọ; *thì\nđối với tai nấm mai, sống được\nmột buổi cũng là *thọ*, mà đối\nvới con ve sầu, sống được một mùa,\nđều là *thọ *cả: chúng nó\nđược sống đến cái mức cùng của\nkiếp sống của chúng. Còn như “cây đại xuân\nsống một xuân là tám nghìn năm, một thu là tám nghìn\nnăm”, giá như nó chỉ sống được có\nbốn mùa, nghĩa là ba muôn hai nghìn năm, thì đối\nvới ta, sao không cho đó là thọ được,\nnhưng đối với cái kiếp sống của nó thì\nnó chỉ sống được có một tuổi mà thôi,\nnghĩa là chỉ sống được có bốn mùa;\nsống được tám nghìn năm, phải chăng\nđối với ta, là rất thọ, nhưng đối\nvới chính cây đại xuân, thì nó chỉ sống\nđược có một mùa mà thôi, sống rất yểu\nvậy!\nThế thì căn cứ vào sự dài ngắn\ncủa thời gian không thể được xem là thọ\nhay yểu. Chẳng qua như vật lớn ở chỗ\nlớn, vật nhỏ ở chỗ nhỏ. Vậy,\n“thọ yểu” cũng như “lớn, nhỏ” chỉ là\nmột danh từ đối đãi, tự nó không có\nnghĩa gì là thật cả, thật một cách tuyệt\nđối. Không nhìn ra ngoài, mà chỉ nhìn vào trong, nghĩa là\nmỗi vật, nếu biết\n*“các an kỳ phận”,\n“thích kỷ tự an”, *thì vấn đề Lớn\nNhỏ, Thọ Yểu...sẽ không còn thành vấn\nđề và làm cho lòng mình thắc mắc nữa.\n**IV. HUYỀN NGHĨA CỦA TIÊU DIÊU: **\nMỗi vật, nếu đều biết tự\nđủ với cái tánh phận của mình, thì dù ở\ntrong xã hội, phải ở vào địa vị nào,\ncũng không tự xem là không đủ, để đèo\nbòng tham muốn cái tánh phận ngoài mình. Như\n*“kẻ\ncó tài trí đủ để làm nổi một tước\nquan, hạnh hơn cả một làng, thì đức sẽ\nkhông khác nào một vị vua được lòng tin của\ncả nước, nếu biết tự xem như\nđấng làm vua kia vậy”. *Tuy phận sự có\nlớn nhỏ, địa vị có cao thấp, nhưng\nĐức vẫn giống nhau, nếu mỗi người\nđều tròn với cái phận của mình. Chí và Hành\ncủa hai bên, bất quá như vật lớn nhỏ,\nthọ yểu mà thôi.\nKẻ biết nhận thấy Đức của mình ngang với bậc vua chúa như chức quan nhỏ kia, tuy là kẻ sáng suốt “thích kỷ tự an” hơn người đời một bậc, nhưng chỗ “lập đức” chưa vững. Là vì hãy còn thấy có “công”.\nVinh Tử nước Tống,\n*“đời\nkhen cũng không khích lệ, đời chê cũng không\nngăn đón được”*, tức là người\nvượt lên trên dư luận, không còn nô lệ\nđến thị phi bên ngoài nữa, thế mà chỗ\n“lập đức” của ông cũng chưa\nđược vững. Là vì tuy đã biết thản nhiên\nđối với dư luận, nhưng còn để cho\nđời biết được mà khen với chê. Đó\nlà hạng người còn để lại “danh”. Ấy là\nhạng người như vua Nghiêu, và Hứa Do.\nTrên hai hạng đó, lại còn một hạng\nnữa, là hạng người như Liệt Tử,\nhạng\n*“cỡi gió mà đi, đi một cách êm ái\nnhẹ nhàng”. *Ở đây Trang Tử muốn ám chỉ\nnhững bậc tu Đạo đã đạt đến\ntrạng thái huyền hóa (extase mystique) trong những lúc\nthiền tọa hay tĩnh tọa. Trong những lúc ấy,\nhọ đã đạt đến trạng thái *“tiêu\ndiêu” *vì đã huyền đồng cùng với cái\nsống thiêng liêng của họ, tức là Đạo. Nhưng,\nchỉ có một lúc thôi, nên mới nói *“tuy khỏi\nphải đi, nhưng còn phải có chỗ chờ”*. Liệt\nTử tuy *“cỡi gió mà bay, thong thả tự do”, *nhưng\ncòn phải đợi có gió mới bay được,\nnhư chim Bằng, đợi có gió trốt nổi lên,\nmới “ *nương theo đó mà bay lên chín muôn dặm cao”*.\nKẻ như Liệt Tử, được huyền\nđồng cùng Đạo, tuy “tiêu diêu” được, mà\ncũng phải đợi lúc huyền hóa mới\nđược “tiêu diêu”. Tự do (tiêu diêu) mà còn đợi\nlúc huyền hóa mới “tiêu diêu”, thì chưa phải thật\nlà người đã đạt đến cõi tiêu diêu tuyệt\nđối (tự do tuyệt đối). Là vì họ không\nphải luôn luôn “ *không còn thấy có mình” (vô kỷ) *nữa.\nChỉ có bậc *“chí nhơn vô kỷ, thần nhơn\nvô công, thánh nhơn vô danh” *mới thật là kẻ\nđã đạt đến cái trạng thái huyền\nđồng một cách vĩnh viễn mà không còn phải “chờ\nđợi” một điều kiện gì khác. Làm cách nào\nđể đạt đến trạng thái huyền hóa?\nPhải biết *“thuận theo cái chánh của Trời\nĐất, nương theo cái biến của lục khí mà\nlại qua trong cõi vô cùng”. *\nNghĩa là gì thế? Trời Đất là nói\nvề âm dương. Âm dương cọ xát nhau, tranh\nđấu nhau, nhưng khi được cái chánh của\nnó, tức là Đạo, thì nó sẽ được\nđiều hòa. Đạo, tức là cái chánh của\nTrời Đất, đứng trên âm dương, và bao\ngiờ cũng có cái phận sự điều chỉnh\nlại những gì thái quá do sự tranh chấp của\ncặp mâu thuẫn ấy gây nên, và không cho cái nào lấn cái\nnào cả. Thuận theo cái chánh của Trời Đất\nđược rồi, thì tha hồ “nương theo cái\nbiến của lục khí” nghĩa là biết\n*“dĩ\nbất biến” *(Đạo) để mà “ *ứng\nvạn biến”*trong cuộc *“vạn hóa” *của\nTrời Đất. Cái *chánh *(Đạo) ấy\nnơi ta, nhà Phật gọi là Tánh 性, Lão Tử gọi là Tố 素, và ở đây gọi là Tánh\ntự nhiên.\nQuách Tượng giải nghĩa câu này nói:\n*“Trời\nĐất, lấy vạn vật làm cái Thể, còn vạn\nvật lấy cái Tự Nhiên (tức là Đạo) làm cái\nChánh.”*(天 地 以 萬 物 為 體 而 萬 物 必 以 自 然 為 正。) *Không làm mà vẫn\nđược tự nhiên, mới gọi là Tự\nNhiên *(自 然 者 不 為 體 而 自 然 者 也。). *Tức như\nchim Bằng, bay cao là sở năng của nó; chim cưu, bay\nthấp là sở năng của nó; tai nấm mai, sống\ntrong một buổi mai, là sở năng của nó; cây đại\nxuân, sống dài dài dặc dặc, là sở năng của\nnó. Bấy nhiêu cái đó, đều là “sở năng”\ncủa tự nhiên, không phải “sở năng” của\nsự làm của mình*(人 爲); *không làm mà\ntự nhiên được cái “sở năng” ấy, đó\ngọi là “chánh”. Bởi vậy, “thuận theo cái chánh\ncủa Trời Đất”, tức là thuận theo cái tánh\ntự nhiên (Đạo) của vạn vật, thì đâu phải\ncần “chờ đợi” cái gì nữa mà huyền hóa\nvới tạo vật. Được như thế,\nmới gọi là người chí Đức, tức là\nngười đã được tiêu diêu trong sự\nhuyền đồng của Đây và Đó. Nếu còn\nnhờ (cái gì ở ngoài) nữa, rồi sau mới\nđược tiêu diêu, tức như Liệt Tử tuy\n“cỡi gió mà đi một cách êm ái dịu dàng” nhưng\ncòn phải đợi có gió mới bay đi\nđược, thì *Đức *chưa hoàn toàn. Huống\nchi là chim Bằng. Duy, cùng với vạn vật hỗn\nhợp làm một rồi, và nương theo cuộc\nđại biến của Trời Đất mà rong chơi\ntrong cõi vô cùng thì mới gọi được là bậc\n“thường thông”*(常 通) *hay là “đại\nthông”*(大 通).\nLời chú giải trên đây của Quách\nTượng, thật rõ ràng hết sức. Bậc chí nhân là\nkẻ đã huyền đồng cùng tạo vật\nrồi, cho nên bản ngã không còn nữa. Ở thiên Tề\nVật Luận, Trang Tử mượn lời của\nTử Kỳ để nói lên chân lý ấy: “\n*Ta đã\nmất bản ngã rồi!”. *Bản ngã mà không còn thì thiên\ntánh[32] *“chí nhơn\nvô kỷ”, *đó là được chỗ *“đại\nthuận”, *hay là *“được cái chánh của\ntánh mạng”*(各 正 性 命).\n“\n*Thuận theo cái chánh của Trời\nĐất”*, tức là *“thuận theo cái tánh tự\nnhiên của mình.” [33] *Quan\ntrọng nhất, là gìn giữ cái tánh ấy, đừng\nđể nó lu mờ vì tư dục, đừng\nđể cho hoàn cảnh huyễn hoặc, thay đổi...Một\ncái cây, từ lúc đâm mộng, nẩy chồi, trổ lá,\nđơm bông...những cuộc biến động tuy\nnhiều, nhưng cái Sống của cây vẫn luôn luôn có\nMột, và toàn mãn từ đầu chí cuối.\nBậc chí nhân vì đã thực hiện\nđược trạng thái “\n*vô kỷ”*nên *“thuận\nvới tánh tự nhiên của mình” *và dù lưu\nchuyển theo cuộc biến động bất tận\ncủa Trời Đất, vẫn không làm mất Bản\nTánh duy nhất của mình. [34]\nBởi vậy, nơi mình, thì lo mà thực\nhiện sự huyền đồng cùng tạo vật, không\nphân trong và ngoài, ta và người nữa, không thấy\nLớn Nhỏ, Thọ Yểu; còn nơi vật, thì\nbiết để cho vạn vật, vật nào cũng\nđược\n*“an theo chỗ đã an bài của chúng”*(各 安 其 所 安)nên không ép buộc ai phải theo mình, nghĩa là\nlấy mình mà đánh giá sự phải quấy của\nngười. Đó gọi là *“chí nhơn vô kỷ”*(至 人 無 己).\nTóm lại, ta có thể lấy câu nầy ở\nthiên Liệt Ngự Khấu trong sách Trang Tử để\nkết luận: “\n*Thánh nhơn thì biếtyên theo chỗ\nđã an bài của mình, và không yên chỗ không an bài của\nmình. Chúng nhơn thì không chịu yên theo chỗ đã an bài\ncủa mình, lại chịu yên nơi chỗ không an bài\ncủa mình.”*(聖 人 安 其 所 安,不 安 其 所 不 安, 眾 人 安 其 所 不 安,不 安 其 所 安。)\nBiết yên theo chỗ mà Tạo hóa đã an bài cho\nmình, tức là thừa nhận cái tánh phận của mình, và\nyên vui nơi đó mà không đèo bòng tham muốn gì ở\nngoài cái tánh phận của mình cả. Đó là hạnh\ncủa Thánh nhơn. Còn chúng nhơn thì trái lại, họ\nkhông chịu yên vui theo tánh phận của họ, lại mãi\ntham muốn đèo bòng theo những cái ở ngoài tánh\nphận của họ, viện đến sự “tiến\nbộ” bên ngoài để tranh đua và bóc lột lẫn\nnhau. Vì thế không bao giờ yên vui lạc phúc (tiêu diêu). Quách\nTượng bảo:\n*“túc ư thân, nhàn ư thế”*(足 於 身,閒 於 世)nghĩa là kẻ *“biết đủ nơi\nmình, mới được an nhàn nơi đời”. *\n**V. HỮU DỤNG VÀ VÔ DỤNG**\nTrời Đất sinh vạn vật, để cho mỗi vật sống cái sống của nó(各 生 其 生), chứ không phải sinh ra để cho người dùng nó. Dùng được thì dùng, không dùng được thì bỏ. Gọi là hữu dụng hay vô dụng là sai. Thực ra, tự nó, không có vật gì gọi là hữu dụng hay vô dụng cả.\nNhư mão Chương phủ, người\nnước Tống thì đại dụng, mà người\nnước Việt không dùng, bởi nó không đáp với\nnhu cầu. Hữu dụng hay vô dụng là việc không\nthường(無 常)cũng như Lớn Nhỏ vậy.”\n*Một\ntrái dưa to, nặng năm thạch” *mà *“bổ\nnó ra để làm cái bầu” *thì lại hỏng\ncả, không dùng gì được nữa (vô dụng); trái\nlại, nếu để nó như vậy mà làm phao, đeo\nlội qua sông, thì nó là hữu dụng.\nTa thấy rằng nếu biết dùng, thì không có\nvật gì là vô dụng, như cũng thời món thuốc\n“bất quy thủ” mà kẻ thì được phong hầu,\ncòn người thì suốt đời chỉ làm cái nghề\nquay tơ. Đó là Trang Tử trả lời cho Huệ\nTử (cùng những ai chê cái học của ông là vô dụng)\nrằng: nếu biết dùng thì không có cái học nào là vô\ndụng cả: “\n*là vì lòng của phu tử còn hẹp hòi\nchưa thông đạt”*!\nVật nào cũng có cái tánh tự nhiên của nó,\nkhông vật nào giống vật nào cả. Bởi vậy, ta\nphải biết “chịu” chỗ khác biệt nhau đó,\nnghĩa là phải biết\n*nhìn nhận *sự\n“bất bình đẳng tự nhiên” của sự vật mà\nđừng đem tư tâm mong bình đẳng nhất\nloại tất cả làm một. Biết nhận sự\n“bất bình đẳng tự nhiên” giữa vạn vật,\ntức phải biết kính trọng chỗ riêng biệt\ncủa mỗi vật, nghĩa là cái tánh tự nhiên của\nmỗi vật mà không xen vào làm trở ngại sự phát\ntriển tự nhiên của nó hay sửa đổi uốn\nnắn nó theo một công thức giả tạo nào khác. Không\nxen vào làm trở ngại hay làm hư hoại tánh tự nhiên\ncủa mỗi vật, là để cho mỗi vật\nđược sống “tiêu diêu” (tự do) theo cái sống\ncủa nó, tự do phát triển cái tánh tự nhiên của nó.\nTóm lại, tiêu diêu là tự do. Tự do là sống\nđược theo tánh tự nhiên, tức là theo bản tánh\ncủa mình. Một hành động được gọi\nlà hành động tự do, khi nào trong hành động\nấy, ta biểu lộ được cái Người thâm\nsâu, thành thực của ta, theo ta, chứ không phải theo\nkẻ khác, theo một giáo lý hay một mẫu người\nlý tưởng nào ngoài ta. Và nếu mỗi vật, vật\nnào cũng được sống theo mình, thì sẽ không còn\nlớn, nhỏ, quý, tiện nữa, mà thảy đều\ntiêu diêu như nhau cả(逍 遙 一 也). Tiêu diêu như nhau cả, đó là bình\nđẳng tuyệt đối, mà bình đẳng tuyệt\nđối là nhờ có tự do tuyệt đối. Thiên\nTề Vật Luận sẽ bàn về cái\n*bình\nđẳng tuyệt đối *ấy.\n\n**A.** 南 郭 子 綦 隱 机 而 坐,仰 天 而 噓,荅 焉 似 喪 其 耦。\n顏 成 子 游 立 侍 乎 前,曰:「何 居 乎 ? 形 固 可 使 如 槁 木,而 心 固 可 使 如 死 灰 乎 ? 今 之 隱 机 者,非 昔 之 隱 机 者 也。」\n子 綦 曰:「偃,不 亦 善 乎,而 問 之 也!今 者 吾 喪 我。汝 知 之 乎 ? 女 聞 人 籟 而 未 聞 地 籟,女 聞 地 籟 而 未 聞 天 籟 夫?」\n子 游 曰:「敢 問 其 方。」\n子 綦 曰:「夫 大 塊 噫 氣,其 名 為 風。是 唯 無 作. 作 則 萬 竅 怒 呺,而 獨 不 聞 之 翏 翏 乎! 山 林 之 畏 佳,大 木 百 圍 之 竅 穴,似 鼻,似 口,似 耳,似 枅,似 圈,似 臼,似 洼 者,似 污 者 ; 激 者,謞 者,叱 者,吸 者,叫 者,譹 者,宎 者,咬 者。\n前 者 唱 于\n而 隨 著 唱 喁。\n泠 風 則 小 和,\n飄 風 則 大 和。\n厲 風 濟 則 眾 竅 為 虛。而 獨 不 見 之 調 調, 之 刁 刁 乎 ?」\n子 游 曰:「地 籟 則 眾 竅 是 已。人 籟 則 比 竹 是 已。敢 問 天 籟?」\n**A.** Nam Quách Tử Kỳ 1 ẩn kỷ\nnhi tọa, ngưỡng thiên nhi hư 2, tháp yên 3 tợ\ntáng kỳ ngẫu 4.\nNhan Thành Tử Du\n5 lập thị\nhồ tiền, viết: “Hà cư hồ? Hình cố khả\nsử như kháo mộc, nhi tâm cố khả sử như\ntử khôi hồ? Kim chi ẩn kỷ giả, phi tích chi ẩn\nkỷ giả dã”.\nTử Kỳ viết: “Yển, bất diệc\nthiện hồ, nhữ\n6 vấn chi dã. Kim\ngiả ngô táng ngã. Nhữ tri chi hồ. Nhữ 7 văn\nnhơn lại 8 nhi vị văn địa lại,\nnhữ văn địa lại, nhi vị văn thiên\nlại phù?”\nTử Du viết: “Cảm vấn kỳ phương.”\nTử Kỳ viết: “Phù đại khối ái khí, kỳ danh vi phong. Thị duy vô tác. Tác, tắc vạn khiếu nộ ngạc, nhi độc bất văn chi liệu liệu hồ. Sơn lâm chi úy giai, đại mộc bách vi chi khiếu huyệt, tợ tị, tợ khẩu, tợ nhĩ, tợ kê, tợ quyện, tợ cựu; tợ oa giả, tợ ô giả, kích giả, hao giả, sắt giả, hấp giả, kiếu giả, hạo giả, yểu giả, giao giả.\n*Tiền giả xướng vu, * *Nhi tùy giả xướng ngu. * *Lãnh phong tắc tiểu hòa, * *Phiêu phong tắc đại hòa,*\nLệ phong tế tắc chúng khiếu vi hư. Nhữ độc bất kiến chi điều điều chi điêu điêu hồ?”\nTử Du viết: “Địa lại tắc chúng khiếu thị dĩ. Nhơn lại tắc tỉ trúc thị dĩ. Cảm vấn thiên lại?”\n⸈⸈⸈\n**B.** 子 綦 曰:「夫 吹 萬 不 同,而 使 其 自 己 也,咸 其 自 取,怒 者 其 誰 邪!」\n大 知 閑 閑,\n小 知 閒 閒 ;\n大 言 炎 炎,\n小 言 詹 詹。\n其 寐 也 魂 交,\n其 覺 也 形 開,\n與 接 為 搆,\n日 以 心 鬭,\n縵 者,窖 者,密 者 ;\n小 恐 惴 惴,\n大 恐 縵 縵。\n其 發 若 機 栝,其 司 是 非 之 謂 也。其 留 如 詛 盟,其 守 勝 之 謂 也 。 其 殺 如 秋 冬,以 言 其 日 消 也 ; 其 溺 之 所 為 之,不 可 使 復 之 也 ; 其 厭 也 如 緘,以 言 其 老 洫 也。 近 死 之 心, 莫 使 復 陽 也。喜 怒 哀 樂,慮 嘆 變 慹,姚 佚 啟 態。樂 出 虛 蒸 成 菌。日 夜 相 代 乎 前 而 莫 知 其 所 萌。已 乎!已 乎!旦 暮 得 此 其 所 由 以 生 乎!非 彼 無 我。非 我 無 所 取 是 亦 近 矣。而 不 知 其 所 為 使。若 有 真 宰,而 特 不 得 其 眹 可 行 己 信 而 不 見 其 形。有 情 而 無 形。百 骸 九 竅 六 藏。賅 而 存 焉,吾 誰 與 為 親 ? 汝 皆 說 之 乎 ? 其 有 私 焉 。 如 是 皆 有 為 臣 妾 乎 ? 其 臣 妾 不 足 以 相 治 乎 ? 其 遞 相 為 君 臣 乎? 其 有 真 君 存 焉 ? 如 求 得 其 情 與 不 得,無 益 損 乎 其 真。一 受 其 成 形,不 忘 以 待 盡,與 物 相 刃 相 靡,其 行 盡 如 馳,而 莫 之 能 止。不 亦 悲 乎 ? 終 身 役 役 而 不 見 其 成 功,苶 然 疲 役 而 不 知 其 所 歸,可 不 哀 邪!人 謂 之 不 死\n? 奚 益,其 形 化,其 心 與 之 然,可 不 謂 大 哀 乎 ? 人 之 生 也,固 若 是 芒 乎。其 我 獨 芒, 而 人 亦 有 不 芒 者 乎 ? 夫 隨 其 成 心 而 師 之,\n誰 獨 且 無 師 乎 ? 奚 必 知 代,而 心 自 取 者 有 之。愚 者 與 有 焉,未 成 乎 心 而 有 是 非。是 今 日 適 越 而 昔 至 也。是 以 無 有 為 有。無 有 為 有,雖 有 神 禹 且 不 能 知。吾 獨 且 奈 何 哉!\n**B.** Tử Kỳ\nviết: “Phù xuy vạn bất đồng, nhi sử kỳ\ntự kỷ dã, hàm kỳ tự thủ, nộ giả,\nkỳ thùy da? *Đại trí hàn hàn. * *Tiểu trí nhàn nhàn 9 * *Đại ngôn viêm viêm,* *Tiểu ngôn chiêm chiêm 10* *Kỳ mị dã, hồn giao 11.\n* *Kỳ giác dã, hình khai. * *Dữ tiếp vi cấu,* *Nhật dĩ tâm đấu 12. * *Mạn 13 giả, giáo14 giả,\nmật15 giả. * *Tiểu khủng chủy chủy. * *Đại khủng mạn mạn 16. *\nKỳ phát nhược cơ quát, kỳ tư\nthị phi chi vị dã. Kỳ lưu như trở minh,\nkỳ thủ thắng chi vị dã. Kỳ sát như thu\nđông, dĩ ngôn kỳ nhật tiêu dã. Kỳ nịch chi\nsở vi chi, bất khả sử phục chi dã. Kỳ\nyếm dã như giam, dĩ ngôn kỳ lão dật dã. Cận\ntử chi tâm, mạc sử phục dương dã. Hỉ\nnộ ai lạc lự thán biến nhiệt diêu dật\nkhải thái\n17. Nhạc xuất hư chưng thành\nkhuẩn. Nhật dạ tương đại hồ\ntiền nhi mạc tri kỳ sở manh. Dĩ hồ! Dĩ\nhồ! Đản mộ đắc thử kỳ sở do\ndĩ sinh hồ! Phi bỉ vô ngã. Phi ngã vô sở thủ\nthị diệc cận hĩ. Nhi bất tri kỳ sở vi\nsử. Nhược hữu chân tể nhi đặc bất\nđắc kỳ trẫm khả hành dĩ tín nhi bất\nkiến kỳ hình. Hữu tình nhi vô hình. Bách hài cửu\nkhiếu lục tạng, cai nhi tồn yên. Ngô thùy dữ vi\nthân? Nhữ giai thuyết chi hồ? Kỳ hữu tư yên.\nNhư thị giai hữu vi thần thiếp hồ? Kỳ\nthần thiếp bất túc dĩ tương trị\nhồ? Kỳ đái tương vi quân thần hồ?\nKỳ hữu chân quân tồn yên? Như cầu đắc\nkỳ tình dữ bất đắc, vô ích tổn hồ\nkỳ chơn. Nhất thụ kỳ thành hình, bất vong\ndĩ đãi tận, dữ vật tương nhẫn\ntương mỹ, kỳ hành tận như trì, nhi mạc\nchi năng chỉ. Bất diệc bi hồ? Chung thân\ndịch dịch nhi bất kiến kỳ thành công, niết\nnhiên bì dịch nhi bất tri kỳ sở quy, khả\nbất ai da? Nhơn vị chi bất tử hề ích,\nkỳ hình hóa, kỳ tâm dữ chi nhiên, khả bất\nvị đại ai hồ? Nhơn chi sinh dã, cố\nnhược thị mang hồ. Kỳ ngã độc mang, nhi\nnhơn diệc hữu bất mang giả hồ? Phù tùy\nkỳ thành tâm nhi sư chi, thùy độc thả vô sư\nhồ? Hề tất tri đại, nhi tâm tự thủ\ngiả hữu chi. Ngu giả dữ hữu yên, vị thành hồ\ntâm nhi hữu thị phi. Thị kim nhật thích Việt nhi\ntích chí dã. Thị dĩ vô hữu vi hữu. Vô hữu vi\nhữu, tuy hữu Thần Võ thả bất năng tri. Ngô\nđộc thả nại hà tai!\n**CHÚ**\n1.\n*Nam Quách Tử\nKỳ *南 郭 子 綦.\nChữ 綦 (Cơ) ở đây, phải đọc là Kỳ 其. Nam Quách là thành phía Nam, nhân lấy chỗ ở mà đặt hiệu.\n2.\n*Hư *噓: hơi thổi ra (bằng\nmiệng). Theo phép hô hấp của Đạo gia, thì hít vô\nbằng mũi*(吸), thở ra bằng\nmiệng(噓).\n3.\n*Tháp yên *荅 焉: viết là 嗒。 *Tháp yên *là hình dáng như kẻ mất hồn(失 意 喪 氣), bơ phờ, ngơ ngác. Sắc\nthái của người nhập định tham thiền (extase\nmystique), xuất thần giải thể\n(解 體).\n4.\n*Ngẫu *耦: Cũng viết là 偶. *Táng kỳ ngẫu: *mất bạn. Câu nầy, do câu “ *ngô\ntáng ngã”*(吾 喪 我)phần dưới mà suy ra. Bạn của xác, là\nhồn. Cho nên thay vì dịch là “mất bạn”,\ntưởng cần dịch là “mất hồn”.\n5.\n*Nhan Thành Tử\nDu *顏 成 子 游:\nHọ Nhan, tên là Yển 偃, thụy là Thành 成, tự là Tử Du子 游.\n6.\n*Nhi *而: đồng với chữ *Nhĩ *爾 (người, mi, anh). Đọc là\n“ *nhữ chi vấn” *(câu hỏi của anh).\n7.\n*Nữ *女: Ở đây, đọc là\nnhữ 汝 (anh).\n8.\n*Lại *籟: ống tiêu (gọi là sáo). Địa\nlại, là sáo đất. *Nhơn lại*人 籟: sáo người. Tiếng sáo tuy có dài có ngắn,\ncó cao có thấp...tựu trung chỉ do một hơi\nthở thổi vào ống trúc mà gây ra, tùy lỗ hổng\ngần xa mà sinh những âm thinh khác biệt và muôn\nđiệu.\n9.\n*Hàn hàn *閑 閑: rộng lớn, bao gồm, trùm lấp(寬). *Nhàn nhàn *閒 閒: phân tích đến\nchỗ nhỏ mọn, ưa chỗ tế nhị(好 伺 察).\n10.\n*Viêm viêm *炎 炎: đồng thấy thị phi là một(同 是 非 也). *Chiêm chiêm *詹 詹: phân biệt\nviệc nhỏ(小 辯 也).\n11.\n*Hồn giao *魂 交: lúc ngủ thì tinh thần hợp nhau làm một,\nvì không bị ngoại vật làm xao lãng, khi thức, thì\nbị ngoại cảnh kích động làm cho tinh thần\nbị xao lãng tán ra ngoài nên nhận thấy chia lìa “vật\nngã”, nghĩa là thấy sự chia phân trong vạn sự\nvạn vật.\n12.\n*Cấu *搆: là hợp lại(合 也). *Tâm đấu *心 鬭: lòng bị tranh\nchấp giữa vấn đề nội ngoại.\n13.\n*Mạn *縵: Lòng rộng rãi(寬 心 也).\n14.\n*Giáo *窖: âm là giáo, có nghĩa là sâu sắc,\nchỗ sâu thẳm của lòng(深 也 深 心 也).\n15.\n*Mật *密: dè dặt, cẩn thận(謹 也).\n16.\n*Mạn mạn *縵 縵: Nhìn tử như sanh, cả hai là một (齊 生 死 貌). *Chủy chủy *惴 惴: dáng cẩn thận tỉ mỉ, tế tâm, chú ý(小 心 貌).\nTiểu khủng chủy chủy, đại khủng mạn mạn: dè dặt cái nhỏ, là phân biệt sanh tử, dè dặt cái lớn là xem tử sanh là một.\nChữ 恐 cùng nghĩa với chữ 謹 và có nghĩa là dè dặt, lưu ý đến.\n17.\n*Lự *慮: lo nghĩ nhiều (多 思). *Thán *嘆 (cũng viết 歎 ): thương xót(多 悲). *Biến *變: hay phản phúc(多 反 覆). *Nhiệt *熱: kinh hãi(多 怖). *Diêu *婔: phù phiếm, khinh\nphù(輕 泛). *Dật *伕: phóng túng. *Khải *啟: tình dục mở rộng. *Thái *態: chỉ tánh tình dung mạo do trời phú cho.\n**DỊCH NGHĨA**\nTỀ VẬT LUẬN\n**A. ** *Nam Quách Tử\nKỳ ngồi dựa ghế, ngửa mặt hà hơi,\nbơ phờ như người mất hồn. * *Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước\nmặt, thấy vậy, hỏi: “Sao mà hình hài có thể\nkhiến được như cây khô, còn lòng thì có thể\nkhiến được như tro lạnh? Nay người\nngồi trên ghế có còn phải là người ngồi trên\nghế trước đây nữa không?” * *Tử Kỳ nói: “Yển! Câu hỏi của ngươi\nđâu phải là không đúng! Ta nay đã mất bản ngã\nrồi, ngươi có biết chăng? Ngươi chỉ\nnghe tiếng sáo của Người mà chưa nghe tiếng\nsáo của Đất. Ngươi chỉ nghe tiếng sáo\ncủa Đất mà chưa nghe tiếng sáo của Trời.”\n* *Tử Du nói: “Dám hỏi dùng phương chi nói\nđể cho tôi hiểu được?” * *Tử Kỳ nói: “Hơi thở của\nđại khối, gọi là gió. Nó không nổi lên thì thôi. Nó\nmà nổi lên thì muôn lỗ hổng gào thét lên, riêng\nngươi chẳng nghe nó ào ào đó hay sao? Mấy chỗ\nsâu hõm của núi rừng, những bọng của cây to\ntrăm vòng, như mũi, như miệng, như tai, như\nxà, như vành, như cối, như ao sâu, như vũng\ncạn...khi thì rập nhau la lối, nạt nộ, gầm\nthét, khi lại bỏ giọng rù rì, nỉ non, than thở. Tiếng\ntrước xướng lên, tiếng sau họa lại. Gió\nhiu hiu thì là tiểu hòa; gió vụt vụt thì là đại\nhòa. Đến khi gió lặng, thì các khiếu đều êm. Riêng\nngươi không thấy cành lá còn rung động đó hay\nsao?” * *Tử Du nói: “Tiếng sáo Đất là tiếng\nhòa của muôn khiếu. * *Tiếng sáo của Người là tiếng\nhòa của ống trúc. Dám xin hỏi thế nào là tiếng\nsáo của Trời?” *\n⸈⸈⸈\n**B.** *Tử Kỳ\nnói: “Kìa như gió thổi khiến muôn tiếng không\nđồng nhau vang lên, nhưng mà lại khiến cho nó\ntự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là gì\nđấy? Biết một cách bao trùm rộng rãi, đó là\nhạng đại trí; biết một cách chia lìa vụn\nvặt, đó là hạng tiểu trí. Lời nói tổng\nhợp thị phi, đó là đại ngôn, lời nói chi ly\nbiện biệt, đó là tiểu ngôn. Khi ngủ thì tinh\nthần giao nhau (làm một). Khi thức, thì tinh thần\nbị ly khai (vì chạy theo sự vật bên ngoài). Tiếp\nlẫn nhau, gọi là “cấu” (hợp nhau làm một); tán\nmạn ra, gọi là “tâm đấu” (lòng bị chia lìa\nchống đối nhau). Lòng phải rộng, sâu và dè\ndặt. Dè dặt cái nhỏ là phân biệt sanh, tử; dè\ndặt cái lớn là xem sanh tử bằng nhau. Người\nđời bày cuộc bắn bia mà định thị phi,\nbày tờ khế ước mà phân thắng bại. Lòng\nngười mãn tranh đấu cho thị phi lần lần\nhao mòn, bị giết như thu đông giết thảo\nmộc. Họ đắm đuối trong việc làm\nđó, không làm sao cho lòng họ phục nguyên lại\nđược. Đè nén như giam nhốt, như đè\nnén lời nói. [35] Cái\nlòng gần chết, không sao khiến nó nóng lại\nđược. * *Nhưng mà mừng giận, thương vui,\nphản phúc, kinh sợ, phù phiếm, phóng túng, tình dục\nmở rộng...đều như tiếng nhạc do\nchỗ hư không mà phát lên, như đám nấm trong\nchỗ ẩm ướt mà sanh ra. Ngày và đêm, tiếp nhau\nmà hiện ra trước mặt, ai biết được\nđầu mối nó nơi đâu? * *Ôi! Ôi! Một sớm một chiều, ai biết\nđược từ đâu mà sanh ra? * *Không có đó, không có đây. (Nhưng nếu) không\ncó đây thì biết lấy đâu làm chỗ căn cứ!\nLý ấy đâu có xa xôi gì! Nhưng mà không rõ ai xui như\nthế? Dường như có đấng chân tể, nhưng\nmà không thấy được dấu vết của đó.\nĐấng ấy có tình mà không có hình. Trăm xương\nchín khiếu, sáu tạng, riêng biệt ra thì không thành một\nthân thể; nên phải có cái “hiệp” nó lại kia mới\nthành một thân thể được. Thần thiếp\nriêng biệt ra, không đủ sức trị lẫn nhau nên\nkhông thể thành một môn hộ; nên phải có cái\n“hiệp” nó lại, mới thành một môn hộ, quân\nthần riêng biệt ra thì không thành một quốc gia, nên\nphải có cái “hiệp” cả hai lại mới thành một\nquốc gia. Cái mà “hiệp” đặng làm nên một thân\nthể, một môn hộ, một quốc gia, “cái đó” không\nbớt, cũng không thêm cho thân thể, cho môn hộ, cho\nquốc gia, ta gọi nó là “Tình”. Có kẻ nhận cái “hình” do\nđó gây ra, không quên cho đến ngày cùng tận của nó,\nrồi đâm chém nhau, hại lẫn nhau, mà không biết\ndừng, chẳng cũng đáng buồn sao? Có kẻ\ntrọn đời làm mãi mà không thấy thành công, mệt\nmỏi mà không biết đâu là chỗ về, cũng\nchẳng đáng thương xót sao? Người ta bảo\nnhư thế mà không chết có ích gì không? Hình nó hóa đi,\ntâm nó cũng một thế, cũng chẳng đáng xót xa\nlắm sao? * *Đời người mờ mệt, há phải\nriêng ta mờ mệt, còn kẻ khác không mờ mệt hay\nsao? Như biết lấy cái Tâm đã thành của mình làm\nThầy, thì ai là chẳng có Thầy? Cái Tâm “thành” đã\nsẵn có, sao còn tìm cái chi nữa mà thế nó? Kẻ ngu\ncũng có nó. Chưa thành được mà lòng đã có\nchứa thị phi, thì có khác nào hôm nay sang nước\nViệt mà đã đến từ hôm trước rồi!\nNhư vậy, tức là lấy cái không có làm cái có. Lấy\ncái không có làm cái có, thì tuy có Thần Võ cũng không biết\nđược, riêng ta có làm thế nào được!” *\n⸈⸈⸈\nC 夫 言 非 吹 也。言 者 有 言,其 所 言 者 特 未 定 也。果 有 言 邪 ? 其 未 嘗 有 言 邪 ? 其 以 為 異 於 鷇 音,亦 有 辯 乎 ? 其 無 辯 乎 ? 道 惡 乎 隱 而 有 真 偽 ? 言 惡 乎 隱 而 有 是 非 ? 道 惡 乎 往 而 不 存 ? 言 惡 乎 存 而 不 可 ?\n道 隱 於 小 成,言 隱 於 榮 華。故 有 儒 墨 之 是 非,以 是 其 所 非,而 非 其 所 是。欲 是 其 所 非,而 非 其 所 是,則 莫 若 以 明。物 無 非 彼, 物 無非 是。自 彼 則 不 見,自 知 則 知 之。故 曰 彼 出 於 是,是 亦 因 彼。彼 是,方 生 之 說 也。 雖 然,方 生 方 死,方 死 方 生。方 可 方 不 可, 方 不 可 方 可。因 是 因 非,因 非 因 是。\n是 以 聖 人 不 由 而 照 之 於 天,亦 因 是 也。 是 亦 彼 也。彼 亦 是 也。彼 亦 一 是 非。此 亦 一 是 非。果 且 有 彼 是 乎 哉 ? 果 且 無 彼 是 乎 哉 ? 彼 是 莫 得 其 偶,謂 之 道 樞。樞 始 得 其 環 中,以 應 無 窮。是 亦 一 無 窮,非 亦 一 無 窮 也。故 曰:莫 若 以 明。\n以 指 喻 指 之 非 指,不 若 以 非 指 喻 指 之 非 指 也。以 馬 喻 馬 之 非 馬,不 若 以 非 馬 喻 馬 之 非 馬 也。天 地 一 指 也,萬 物 一 馬 也。\n可 乎 可,不 可 乎 不 可。道 行 之 而 成,物 謂 之 而 然。惡 乎 然 ? 然 於 然。惡 乎 不 然 ? 不 然 於 不 然。物 固 有 所 然,物 固 有 所 可。無 物 不 然,無 物 不 可。故 為 是 舉 莛 與 楹,厲 與 西 施,恢 桅 憰 怪,道 通 為 一。\n其 分 也 成 也。其 成 也,毀 也。凡 物 無 成 與 毀,復 通 為 一。唯 達 者 知 通 為 一 . 為 是 不 用 而 寓 諸 庸。庸 也 者,用 也 ; 用 也 者,通 也 ; 通 也 者,得 也。適 得 而 幾 矣。因 是 已。已 而 不 知 其 然,謂 之 道。勞 神 明 為 一 而 不 知 其 同 也,謂 之 朝 三。\n何 謂 朝 三 ? 曰:狙 公 賦 茅,曰:「朝 三 而 暮 四」。眾 狙 皆 怒。曰:「然 則 朝 四 而 暮 三」. 眾 狙 皆 悅。名 實 未 虧,而 喜 怒 為 用, 亦 因 是 也。是 以 聖 人 和 之 以 是 非 ,而 休 乎 天 鈞,是 之 謂 兩 行。\n**C.** Phù ngôn phi xuy dã. Ngôn\ngiả hữu ngôn 1, kỳ sở ngôn giả,\nđặc vị định dã. Quả hữu ngôn da?\nKỳ vị thường hữu ngôn da? Kỳ dĩ vi\ndị ư khấu âm 2, diệc hữu biện\nhồ? Kỳ vô biện hồ? Đạo ô hồ ẩn\nnhi hữu chơn ngụy? Ngôn ô hồ ẩn nhi hữu\nthị phi 3? Đạo ô hồ vãng nhi bất\ntồn? Ngôn ô hồ tồn nhi bất khả 4?\nĐạo ẩn ư tiểu thành\n5; ngôn\nẩn ư vinh hoa 6. Cố hữu Nhu Mặc chi\nthị phi; dĩ thị kỳ sở phi, nhi phi kỳ\nsở thị. Dục thị kỳ sở phi, nhi phi kỳ\nsở thị, tắc mạc nhược dĩ minh. Vật\nvô phi bỉ, vật vô phi thị. Tự bỉ tắc\nbất kiến tự tri tắc tri chi. Cố viết:\nBỉ xuất ư thị, thị diệc nhơn bỉ. Bỉ\nthị, phương sinh chi thuyết dã. Tuy nhiên,\nphương sinh phương tử, phương tử\nphương sinh. Phương khả phương bất\nkhả, phương bất khả phương khả. Nhân\nthị nhân phi, nhân phi nhân thị.\nThị dĩ Thánh nhân bất do nhi chiếu chi vu\nthiên, diệc nhân thị dã. Thị diệc bỉ dã. Bỉ\ndiệc thị dã. Bỉ diệc nhất thị phi. Thử\ndiệc nhất thị phi. Quả thả hữu bỉ\nthị hồ tai? Quả thả vô bỉ thị hồ tai?\nBỉ thị, mặc đắc kỳ ngẫu\n7 vị\nchi Đạo Xu 8. Xu thủy đắc kỳ hoàn\ntrung 9, dĩ ứng vô cùng. Thị diệc nhất\nvô cùng, phi diệc nhất vô cùng dã. Cố viết: Mạc\nnhược dĩ minh.\nDĩ chỉ dụ chỉ chi phi chỉ, bất nhược dĩ phi chỉ dụ chỉ chi phi chỉ dã. Dĩ mã dụ mã chi phi mã, bất nhược dĩ phi mã dụ mã chi phi mã dã. Thiên địa nhất chỉ dã, vạn vật nhất mã dã.\nKhả hồ khả, bất khả hồ bất khả. Đạo hành chi nhi thành, vật vị chi nhi nhiên. Ô hồ nhiên? Nhiên ư nhiên. Ô hồ bất nhiên? Bất nhiên ư bất nhiên. Vật cố hữu sở nhiên, vật cố hữu sở khả. Vô vật bất nhiên, vô vật bất khả. Cố vi thị cử đình dữ dinh, lệ dữ Tây Thi, khôi nguy quyệt quái, Đạo thông vi nhất.\nKỳ phân dã thành dã. Kỳ thành dã, hủy dã. Phàm\nvật vô thành dữ hủy, phục thông vi nhất. Duy\nđạt giả tri thông vi nhất. Vi thị bất\ndụng nhi ngụ chư dung. Dung dã giả, dụng dã;\ndụng dã giả, thông dã; thông dã giả, đắc\n10 dã.\nThích đắc nhi cơ 11 hĩ. Nhân thị\ndĩ 12. Dĩ nhi bất tri kỳ nhiên, vị chi\nĐạo. Lao thần minh vi nhất nhi bất tri kỳ\nđồng dã, vị chi triêu tam.\nHà vị triêu tam? Viết: Thư công phú vu\n13 viết:\ntriêu tam nhi mộ 14 tứ. Chúng thư giai nộ.\nViết: nhiên tắc triêu tứ nhi mộ tam. Chúng thư\ngiai duyệt. Danh thật vị khuy, nhi hỉ nộ vi\ndụng, diệc nhơn thị dã. Thị dĩ Thánh nhân hòa\nchi dĩ thị phi, nhi hưu hồ thiên quân 15,\nthị chi vị lưỡng hành 16.\n**CHÚ**\n1.\n*Ngôn giả hữu\nngôn *言 者 有 言\nChữ 言 (ngôn) trước, là\n*lời\nnói*; chữ 言 (ngôn) sau là *nói lên\nmột cái gì*, tức là có một ý nghĩa.\nCó một ý nghĩa,\nthì dĩ nhiên lời nói đã bị hạn định, vì\ncó hạn định thì nghĩa nó mới rõ ràng. Và như\nvậy,\n*lời nói*không thể dùng để nói\nvề Đạo, cái mà không thể nào miêu tả\nđược: Đạo khả đạo, phi\nthường Đạo 道 可 道 非 常 道.\nChữ\n*xuy *吹 ở đây (trong câu 言 非 吹 也) là cùng một chữ dùng ở\nđoạn văn trên: *“xuy vạn bất\nđồng” *吹 萬 不 同. Gió thổi (như Đạo) thì không có\ntiếng, trỗi lên muôn tiếng khác nhau là vì gặp các\nlỗ hổng lớn nhỏ bất đồng mà sanh ra. Cho\nnên mới nói: “ *ngôn phi xuy dã” *言 非 吹 也.\n2.\n*Khấu âm *鷇 音: Tiếng kêu của con chim con vừa nở, ám\nchỉ lời nói vô nghĩa (言 而 無 義).\n3. Đạo thì\nchứa cả chân và ngụy; lời, cũng chứa\ncả thị phi. Như vậy, trong ngôn từ, nếu nói\nđến phải là có hàm chứa bên trong cái quấy. Thế\nthì dựa vào đâu mà biết rằng lời nói nào là\nthật phải (phải tuyệt đối), lời nói\nnào là thật quấy (quấy tuyệt đối)(何 所 依 據 而 有 是 非?). Bởi vậy\nmới nói: “\n*Đạo sao lại dựa vào chân hay\nngụy; lời, sao lại dựa vào thị với phi”*(道 惡 乎 隱 而 有 真 僞,言 惡 乎 隱 而 有 是 非).\n4.\n*Đạo ô hồ\nvãng nhi bất tồn *道 惡 乎 往 而 不 存 (Đạo sao qua mà không còn).\nQua mà không còn, là\nchỉ về cái biến động của Đạo\nrất mau lẹ, trong một cái chớp là đã biến\nmất không còn như trước nữa. Hạn chế\nĐạo vào một ngôn từ “tịnh” và “bất\nbiến” không thể được, vì vậy, Đạo\nkhông thể dùng lời mà nói được. Cho nên mới\nnói “\n*ngôn ô hồ tồn nhi bất khả” *言 惡 乎 存 而 不 可.” *Bất khả” *不 可 là không nói được (bất khả\nđạo 不 可 道). Lời hạn định biến thành một\nlẽ “tịnh”, một cái gì không biến được\nnữa, trong khi Đạo biến không ngừng.\n5.\n*Đạo ẩn\nư, tiểu thành *道 隱 於,小 成:\nChữ “ẩn” 隱 đây, có nghĩa là “\n*dựa\nvào” *(依 據).” *Tiểu thành” *小 成, là sự vật chưa được\nđầy đủ (未 得 其 全), như nhân, nghĩa...v. v...\nCâu nầy muốn nói: “Chân ngụy thì dựa vào chỗ chưa đầy đủ mà khởi phát”. Nếu sự vật mà đầy đủ, thì sao có sanh ra chân ngụy? Có chân có ngụy thì chỉ thấy được có một phần chân lý mà thôi.\n6.\n*Ngôn ẩn ư vinh\nhoa *言 隱 於 榮 華:\n“\n*Vinh\nhoa” *榮 華 tức là lời nói hoa mỹ,\nphù phiếm và biện biệt của nhị nguyên không\nthể dùng để miêu tả được chân lý. Lời\nnói “bất toàn” của giới nhị nguyên, không sao dùng\nđược để bàn đến Đạo. Cho nên\nmới nói: “Lời nói là dựa vào thị phi mà khởi”(是 非 依 據 榮 華 而 起). So sánh với câu: *“Mỹ ngôn bất tín; tín\nngôn bất mỹ”*(美 言 不 信,信 言 不 美)của Lão Tử.\n7.\n*Ngẫu *偶: là chỗ đối đãi của\nnó, như âm thì dương là “ngẫu” của nó,\ndương thì âm là “ngẫu” của nó.\n8.\n*Xu *樞: nơi cốt yếu.\n9.\n*Hoàn trung *環 中:\nHoàn 環: thị và phi “phản phúc”, thị\ndo phi mà có, phi do thị mà sanh, thị biến ra phi, phi\nbiến ra thị...tiếp nối nhau, tìm kiếm nhau không\nbiết đâu là cùng, như trên một cái vòng tròn, cho nên\nmới gọi là\n*“hoàn” *環 (vòng tròn).”Hoàn trung” là trung tâm của cái vòng tròn,\ncũng để ám chỉ luật Thiên quân 天 鈞.\n10.\n*Đắc *得: là “ *tự đắc” *自 得 nghĩa là tự mình nắm được\ncái Đạo và ung dung hạnh phúc, không cần gì\nđến ngoại vật nữa.\n11.\n*Cơ *幾: là đã đến được\ntới chỗ cùng lý(盡 理 也).\n12.\n*Nhân thị\ndĩ *因 是 已: là nói kẻ đạt Đạo, vô vi, vô tâm,\ncho nên nhân chỗ thị phi mà vượt lên, không còn\nthấy có thị phi nữa.\n13. Chữ 茅, tức là chữ Vu 芋 (khoai lang), theo Tư Mã 司 馬.\n14. Chữ 莫 ở đây đọc là\n*mộ *暮: 2 chữ nầy dùng lẫn nhau,\nnhư chữ 知 và 智 vậy.\n15.\n*Thiên Quân *天 鈞: Chữ “ *quân” *鈞 cũng viết là 均.\nTheo Thích Văn 釋 文, thì chữ 鈞 gốc là chữ 均.\nThôi Tuyển, thì nói: 鈞 陶 鈞 也。Quân 鈞 là cái bánh xe xoay tròn để người thợ bắt đồ sành. Lại có chỗ viết là 均 là có ý nói về sự quân bình, vòng bán kính của bánh xe bao giờ cũng bằng nhau, luôn luôn quân bình. Cũng gọi là Thiên Nghê 天 倪 (Ngụ Ngôn 寓 言).\nỞ thiên Thiên\nĐịa 天 地 viết:\n*“Thiên Địa\ntuy đại, kỳ hóa quân dã” *天地雖 大,其化均也。 (Trời Đất\ntuy lớn mà sự biến hóa đều quân bình cả). Đó\nlà ông giải cái nghĩa của Thiên Quân 天 均 và đây là yếu chỉ của toàn thiên\nTề Vật.\n16.\n*Lưỡng hành *兩 行: không lìa khỏi thị phi mà lại\nđược đến chỗ không có thị phi (不 離 是 非 而 得 無 是 非).\nSo sánh\ncâu\n*“tri vong thị phi” *知 忘 是 非 của Trang Tử: “vong thị phi” đâu\nphải là không biết (tri 知) thị phi, mà thật ra, là vượt lên\ntrên thị phi, sau khi thật biết rõ thế nào là thị\nphi.\nBậc\nđạt Đạo không phải là người không phân\nbiệt thị phi (như kẻ ngu) mà là kẻ đã rành\nlẽ thị phi, nhưng đã vượt lên cả\nthị phi để mà điều khiển nó. Cũng\nnhư Đạo gồm cả âm dương và\nvượt lên cả âm dương để điều\nkhiển cả âm dương. Cho nên mới nói “\n*Thánh nhân\nhòa chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên Quân”*(聖 人 和 之 以 是 非,而 休 乎 天 鈞).\nDaisetz T.\nSuzuki nói rằng: “Đây là một thứ nghịch\nthuyết về triết học sâu sắc nhất:\n*“biện\nbất biện, và bất biện biện. . .”*. D. T. Suzuki\nnói đây là nói về thuyết Bát nhã bình đẳng\ncủa Phật giáo, nhưng nó cũng đồng một\nnghĩa với thuyết Tề Vật của Trang Tử.\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Lời, không\nphải như gió thổi: Lời phải có nói lên một\ncái gì. Nếu chỗ nói của nó mà chưa định, thì\nlời nói ấy quả đã có nói không, hay là chưa có nói\ngì cả? Lời nói chưa định ấy, khác nào\ntiếng chim con: chưa có biết biện biệt hay không\nbiện biệt? Đạo, sao dựa vào chân hay ngụy;\nlời, sao dựa vào thị hay phi? Đạo, sao qua mà\nkhông còn; lời, sao còn mà chẳng nói được?\nĐạo ẩn trong tiểu thành; lời, ẩn nơi\nvinh hoa. Bởi vậy mới có cái phải, quấy của\nNhu Mặc. Nhu Mặc thì lấy phải làm quấy, lấy\nquấy làm phải. (Nhưng) nếu muốn thấy\nđược cái phải trong cái quấy, cái quấy trong\ncái phải, thì không gì bằng dùng đến ánh sáng (của\nĐạo). Vật, không vật nào là không phải “đó”;\nkhông vật nào là không phải “đây” [36].\nLấy chỗ nhận thấy của người\nmà thấy, thì không thấy; lấy chỗ biết\ncủa mình mà biết, thì mới biết. Nên mới có nói\nrằng: “Đó”, do “đây” mà ra; “đây”, nhân “đó” mà có.”Đó\nĐây”, ấy là thuốc của “phương sinh”. Nên\nmới có nói sống, nói chết, nói chết, nói sống,\nnói được, nói không được, nói không được,\nnói được. Nhân có phải, nhân có quấy; nhân có\nquấy, nhân có phải (mà cãi nhau). * *Thánh nhân thì không căn cứ vào\nphải quấy, mà căn cứ vào khiếu biết\ntự nhiên của mình để hiểu mọi vật. Và\ncũng do “Đây” trước.”Đây”, cũng là “Đó”; mà\n“Đó” cũng là “Đây”.”Đó” cũng có một lẽ\nphải quấy của “đó”; mà “Đây” cũng có một\ncái lẽ phải quấy của “đây”. Quả có “đó\nđây” chăng? Quả chẳng có “đó đây” chăng?\n“Đó” và “Đây” mà không gặp chỗ lứa đôi (đối\nđãi) của nó, thì gọi là Cốt Đạo (Đạo\nXu). Cốt ấy khởi đầu nơi trung tâm của\ncái vòng tròn (hoàn trung), và căn cứ vào đó để mà\nứng đối vô cùng (với thị phi). Phải,\ncũng là một cái lẽ vô cùng. Quấy, cũng là một\ncái lẽ vô cùng [37].\nBởi vậy mới nói: đâu bằng dùng lấy ánh sáng\ncủa Đạo. * *Lấy ngón tay mà thí dụ rằng ngón tay không\nphải là ngón tay, sao bằng lấy cái không phải là ngón\ntay để mà thí dụ rằng ngón tay không phải là ngón\ntay. * *Lấy con ngựa mà thí dụ rằng con ngựa\nkhông phải là con ngựa, sao bằng lấy cái không\nphải là con ngựa để mà thí dụ rằng con\nngựa không phải là con ngựa. Trời Đất khác\nnào ngón tay nói trên. Vạn vật khác nào con ngựa nói trên. * *Được là được. Không\nđược là không được. Con đường\ncó đi mới thành đường đi, vật có\ngọi được tên mới thành là vật. Sao là\nphải vậy? Phải vậy là vì phải vậy. Sao là\nkhông phải vậy? Không phải vậy, là vì không phải\nvậy. Vật, có chỗ là phải vậy. Vật, có\nchỗ là được vậy. Không vật nào là không\nphải vậy; không vật nào là không được\nvậy. Cho nên mới có so sánh cọng cỏ với cột\ntrụ, một người đàn bà xấu xí với Tây\nThi; khoan đại, kỳ biến, gian trá, quái dị,\nthảy đều là một. * *Có phân “nó” ra thì “nó” mới “thành”. Có “thành” thì\nmới có “hoại”. Phàm vật mà không “thành”, nên không\n“hoại” thì mới có thể “trở về” mà cùng thông\nvới lẽ Một (của Đạo). Chỉ có bậc\nđạt Đạo mới thông hiểu được\nlẽ Một ấy mà thôi: Họ dùng đỡ cái dung\nmạo (bên ngoài) để hòa với mọi người.”Dung”,\ntức là “dụng”; “dụng”, tức là “thông”. Mà “thông”,\ntức là “đắc” vậy. Vui trong chỗ “đắc”\nấy, ít ai được. Nhân tới đó mà “thôi đi”.”Thôi\nđi”, mà cũng không cần phải biết vì sao mà phải vậy,\nthì gọi là Đạo. Lao nhọc thần minh vì chấp\nnhất (trong một cái Phải hay cái Quấy nào) mà không\nbiết rằng thảy đều đồng nhau. Nên\nmới gọi là “sớm ba”. * *Sao gọi là “sớm ba”? Có lão nuôi khỉ, phát khoai\ncho khỉ, nói: “Sớm ba, mà chiều bốn”! Khỉ\nđều giận. Lão lại nói: “Thôi, sớm bốn mà\nchiều ba”! Khỉ đều mừng. Số cho không thay\nđổi, danh và thực không thiếu, vậy mà, cái\ndụng ý của nó lại có mừng có giận. Bởi\nvậy, bậc Thánh nhân, vì sự hòa mà phải nói\nđến thị hay phi, rồi đứng yên ở\ncốt trục của “bánh xe Trời” (thiên quân): đó\ngọi là “lưỡng hành”. *\n⸈⸈⸈\n**D.** 古 之 人,其 知 有 所 至 矣。\n惡 乎 至 ? 有 以 為 未 始 有 物 者至 矣,盡 矣, 不 可 以 加 矣。其 次 以 為 有 物 矣,而 未 始 有 封 也。其 次 以 為 有 封 焉,而 未 始 有 是 非 也。是 非 之 彰 也,道 之 所 以 虧 也。道 之 所 以 虧,愛 之 所 以 成。果 且 有 成 與 虧 乎 哉 ? 果 且 無 成 與 虧 乎 哉 ? 有 成 有 虧,故 昭 氏 之 鼓 琴 也,無 成 與 虧,故 昭 氏 之 不 鼓 琴 也。昭 文 之 鼓 琴 也,師 曠 之 枝 策 也,惠 子 之 據 梧 也,三 子 之 知 幾 乎 ?皆 其 盛 者 也,故 載 之 未 年。唯 其 好 之 也,以 異 於 彼,其 好 之 也。 欲 以 明 之。彼 非 所 明 而 明 之,故 以 堅 白 之 昧 終,而 其 子 又 以 文 之 綸 終,終 身 無 成。若 是 而 可 謂 成 乎 ? 雖 我 亦 成 也。若 是 而 不 可 謂 成 乎 ? 物 與 我 無 成 也。是 故 滑 疑 之 耀, 聖 人 之 所 圖 也。為 是 不 用,而 寓 諸 庸,此 之 謂 以 明。\n**D.** Cổ chi nhơn,\nkỳ tri hữu sở chí 1 hĩ.\nÔ hồ chí? Hữu dĩ vi vị thủy hữu\nvật giả chí hĩ, tận hĩ, bất khả dĩ\ngia hĩ. Kỳ thứ dĩ vi hữu vật hĩ, nhi\nvị thủy hữu phong\n2 dã. Kỳ thứ\ndĩ vi hữu phong yên, nhi vị thủy hữu thị phi\ndã. Thị phi chi chương dã, Đạo chi sở dĩ\nkhuy dã. Đạo chi sở dĩ khuy, ái chi sở dĩ\nthành 3. Quả thả hữu thành dữ khuy hồ\ntai? Quả thả vô thành dữ khuy hồ tai? Hữu thành\ndữ khuy, cố Chiêu thị 4 chi cổ cầm\ndã. Vô thành dữ khuy, cố Chiêu thị chi bất cổ\ncầm dã. Chiêu văn chi cổ cầm dã, Sư Khoáng 5 chi\nchi sách dã, Huệ Tử 6 chi cứ ngộ dã, tam\ntử chi tri cơ hồ? Giai kỳ thạnh giả dã,\ncố tải chi mạt niên. Duy kỳ háo chi dã, dĩ\ndị ư bỉ; kỳ háo chi dã, dục dĩ minh chi,\nbỉ phi sở minh nhi minh chi. Cố dĩ kiên bạch 7 chi\nmuội chung, nhi kỳ tử hựu dĩ văn chi luân\nchung, chung thân vô thành. Nhược thị nhi khả vị\nthành hồ? Tuy ngã diệc thành dã. Nhược thị nhi\nbất khả vị thành hồ? Vật dữ ngã vô thành dã.\nThị cố hoạt nghi chi diệu 8, Thánh nhơn\nchi sở đồ dã. Vi thị bất dụng, nhi ngụ\nchư dung 9, thử chi vị dĩ minh 10.\n**CHÚ**\n1.\n*Chí *至: đến nơi, đến\nchốn (cùng tận).\n2.\n*Phong *封: có cảnh giới. Tuy thấy là có\ncảnh giới, nhưng chưa bị phân đây đó(無 彼 此 之 分).\n3. Đạo, thì\ngồm cả thị phi và vượt lên trên cả thị\nvới phi. Nếu lại chia phân thị phi thì Đạo\nnhư giảm bớt (khuy 虧). Nhân thế người ta mới bày ra nhân,\nnghĩa, lễ...tức là “ái” nghĩa là lòng nhân ái (yêu\nthương) để hòa hợp lại những gì đã\nbị chia phân. Lão Tử cũng nói:\n*“Đại\nĐạo phế, hữu nhân nghĩa. . .”. *Theo Trang\nTử, cũng như Lão Tử, đó là công việc\nmiễn cưỡng giả tạo: không bao giờ nối\nlại vật ngã (hay nhĩ ngã) một khi đã bị chia\nphân. Cho nên mới nói: “ *Đạo chi sở dĩ khuy, ái\nchi sở dĩ thành”*(道 之 所 以 虧,愛 之 所 以 成。).\n4.\n*Chiêu thị *昭 氏: tức là Chiêu Văn 昭 文, tên người\nxưa đờn cầm rất giỏi(古 之 善 鼓 琴 者).\nDùng âm nhạc (lễ) để hòa lại những âm thinh đã bị chia phân, đó là dụng ý của Trang Tử trong thiên Tề Vật khi ông bàn đến “nhơn lại”(人 籟).\n5.\n*Sư Khoáng *師 曠: một nhạc công đời xưa, rất\nsành âm luật.\n6.\n*Huệ Tử *惠 子: một tay sành biện luận. Có nhà bình luận\ncho rằng Trang Tử ở đây khi nói đến Chiêu\nVăn, là muốn ám chỉ Hoàng đế; Sư Khoáng, ám\nchỉ Nghiêu Thuấn, và Huệ Tử, ám chỉ Khổng Tử.\n7.\n*Kiên bạch *堅 白: tức là nói về biện thuyết “ *kiên\nbạch”*(堅 白)và “ *bạch mã”*(白 馬)của Công Tôn Long (đời Chiến Quốc),\nmột thứ ngụy biện mà rốt cuộc mọi\nngười không ai hiểu gì được cả.\n8.\n*Hoạt nghi chi\ndiệu*(滑 疑 之 耀): Ánh sáng mập\nmờ. Trang tử muốn ám chỉ Đạo, bao gồm\nthị phi, không thiên hẳn bên thị hay bên phi: có âm mà\ncũng có dương, có dương mà cũng có âm (âm trung\nchi dương; dương trung chi âm), tức là cái nhãn quang\ncủa người nhận thấy cả thảy các\ncặp mâu thuẫn trên đời đều là một\ncả.\n9.\n*Dung *庸: “Ngụ chư dung” 寓 諸 庸, tức là dựa\ntheo cái lý thông thường của người đời. Xem\nlại đoạn trên: thuyết “ *triêu tam, mộ\ntứ” *của người nuôi khỉ. Bậc thánh\ntrí đối với mình thì dùng cái sáng mập mờ ( *hoạt\nnghi chi diệu*滑 疑 之 耀) tức là cái ánh\nsáng của Đạo mà đối xử; nhưng\nđối với đời, thì lại khác, lấy cái lý\nthông thường của mọi người mà đối xử,\nkhi thì bàn đến thị, khi thì luận đến phi\nđể mà hòa với mọi người, rồi *“đứng\nyên ở cốt trục của bánh xe Trời *( *thiên\nquân) đó gọi là lưỡng hành”*(聖 人 和 之 以 是 非 而 休 乎 天 鈞 是 之 謂 兩行。).” *Ngụ chư\ndung”*(寓 諸 庸), tức cùng một ý với “ *triêu tam nhi mộ\ntứ” *vậy.\n10.\n*Minh *明: “Dĩ minh” 以 明, tức là lấy cái ánh sáng phân biệt thị\nphi của người đời để mà xử\nsự với người đời.\n**DỊCH NGHĨA**\n**D.** *Người\nxưa, cái biết của họ có chỗ cùng cực. Sao\ngọi là cùng cực? Có kẻ cho rằng thuở ban\nđầu chưa hề có vật gì cả, đó là\nmột chủ trương cực đoan cùng tận, không\nthể còn nói gì thêm được nữa. Có kẻ thì cho\nrằng đã có vật rồi, nhưng vật ấy\nchưa từng chia phân. Lại cũng có kẻ cho rằng\nđã có vật rồi, nhưng vật ấy lại đã\ncó chia phân. Thị phi mà bị chia phân rõ rệt ra rồi,\nthì Đạo mới có chỗ khuyết. Đạo mà có\nchỗ “khuyết” (vì không đủ) mới có tạo thành\nra chữ “ái” (để mà hòa hợp lại). Quả có\n“khuyết” có “ái” chăng? Quả không có “khuyết”, không có\n“ái” chăng? Bởi thấy có “khuyết” có “ái”, họ Chiêu\nmới khảy cầm. Không có “khuyết” có “ái” thì họ\nChiêu có khảy cầm làm chi? * *Có Chiêu Văn khảy cầm, Sư Khoáng mới\nlập luật định ngũ âm, Huệ Tử mới\ngiảng âm luật. Chỗ biết của ba người\nnầy có là bao mà thiên hạ đều hoan nghênh cho\nđến đời cuối cùng nầy mà luật ấy\nhãy còn thạnh hành? Chỗ ưa thích của họ đâu\ncó giống với chỗ ưa thích của chúng nhơn. Muốn\nđem cái chỗ không sáng của mình mà soi sáng kẻ khác, nên\nsuốt đời cam chịu tối tăm vì câu chuyện\n“kiên bạch”. Họ thử đem ngón đờn hay\ncủa họ mà truyền dạy cho con họ, trọn\nđời biết có truyền dạy được không!\nNếu mà họ truyền dạy được, thì ta\nđây cũng truyền dạy được. Bằng\nhọ truyền dạy không đặng thì ta đây cũng\ntruyền dạy không được. Cho nên chỗ mà\nbậc Thánh nhân mong mỏi là được ở trong cái\nánh sáng mập mờ (của cái nhìn tổng quát hỗn\nhợp), không dùng phép tắc của ai cả, chỉ dùng cái\nlý thông thường của mọi người để\nxử sự với đời. Đó gọi là\nmượn lấy ánh sáng của người vậy. *\n⸈⸈⸈\n**Đ.** 今 且 有 言 於 此,不 知 其 與 是 類 乎,其 與 是 不 類 乎 ? 類 與 不 類,相 與 為 類,則 與 彼 無 以 異 矣。雖 然,請 嘗 言 之。有 始 也 者, 有 未 始 有 始 也 者,有 未 始 有 夫 未 始 有 始 也 者。有 有 也 者,有 無 也 者,有 未 始 有 無 也 者,有 未 始 有夫 未 始 有 無 也 者。俄 而 有 無 矣,而 未 知 有 無 之 果 孰 有 孰 無 也。今 我 則 已 有 謂 矣,而 未 知 吾 所 謂 之,其 果 有 謂 乎,其 果 有 無 謂 乎 ?\n天 下 莫 大 於 秋 豪 之 末,而 大 山 為 小。莫 壽 於 殤 子,而 彭 祖 為 夭。\n天 地 與 我 並 生,而 萬 物 與 我 為 一。既 已 為 一 矣,且 得 有 言 乎 ? 既 已 謂 之 一 矣,且 得 無 言 乎 ? 一 與 言 為 二,二 與 一 為 三。自 此 以 往,巧 歷 不 能 得,而 況 其 凡 乎 ? 故 自 無 適 有,以 至 於 三,而 況 自 有 適 有 乎 ? 無 適 焉,因 是 已。\n夫 道 未 始 有 封,言 未 始 有 常。為 是 而 有 畛 也。請 言 其 畛 : 有 左 有 右,有 倫 有 義,有 分 有 辯,有 競 有 爭,此 之 謂 八 德,六 合 之 外,聖 人 存 而 不 論。六 合 之 內,聖 人 論 而 不 議。春 秋 經 世 先 王 之 志,聖 人 議 而 不 辯。 故 分 也 者,有 不 分 也,辯 也 者,有 不 辯 也。\n曰:何 也 ? 聖 人 懷 之,眾 人 辯 之。以 相 示 也。故 曰:辯 也 者 有 不 見 也。夫 大 道 不 稱, 大 辯 不 言,大 仁 不 仁,大 廉 不 嗛,大 勇 不 忮。道 昭 而 不 道,言 辯 而 不 及,仁 常 而 不 成,廉 清 而 不 信,勇 忮 而 不 成,五 者 圓 而 幾 向 方 矣。故 知 止 其 所 不 知,至 矣。孰 知 不 言 之 辯,不 道 之 道 ? 若 有 能 知,此 之 謂 天 府。注 焉 而 不 滿,酌 焉 而 不 竭,而 不 知 其 所 由 來,此 之 謂 葆 光。\n故 昔 者 堯 問 於 舜 曰:「我 欲 代 宗,膾,胥 敖,南 面 而 不 釋 然,其 故 何 也 ?」 舜 曰:「 夫 三 子 者,猶 存 乎,蓬 艾 之 間。若 不 釋 然 何 哉 ? 昔 者 十 日 並 出,萬 物 皆 照,而 況 德 之 進 乎 日 者 乎!」\n**Đ.** Kim thả hữu\nngôn ư “thử”, bất tri kỳ dữ “thị” 1loại\nhồ, kỳ dữ thị bất loại hồ? Loại\ndữ bất loại, tương dữ vi loại, tắc\ndữ bỉ vô dĩ dị hĩ. Tuy nhiên, thỉnh\nthường ngôn chi: “hữu thủy” dã giả, “hữu\nvị thủy hữu thủy” dã giả, “hữu vị\nthủy hữu phù vị thủy hữu thủy” dã giả.”Hữu\nhữu” dã giả, “hữu vô” dã giả, “hữu vị\nthủy hữu vô” dã giả, “hữu vị thủy hữu\nphù vị thủy hữu vô” dã giả 2. Nga nhi\nhữu vô hĩ, nhi vị tri hữu vô chi quả, thục\nhữu thục vô dã? Kim ngã tắc dĩ hữu vị\nhĩ, nhi vị tri ngô sở vị chi, kỳ quả\nhữu vị hồ, kỳ quả hữu vô vị hồ?\nThiên hạ mạc đại ư thu hào chi mạt, nhi đại sơn vi tiểu. Mạc thọ ư thương tử nhi Bành tổ vi yểu.\nThiên địa dữ ngã tịnh sanh, nhi vạn\nvật dữ ngã vi nhất. Ký dĩ vi nhất hĩ,\nthả đắc hữu ngôn hồ? Ký dĩ vị chi\nnhất hĩ, thả đắc vô ngôn hồ? Nhất\ndữ ngôn vi nhị, nhị dữ nhất vi tam\n3. Tự\nthử dĩ vãng, xảo lịch bất năng đắc\nnhi huống kỳ phàm hồ? Cố tự vô thích hữu,\ndĩ chí ư tam, nhi huống tự hữu thích hữu\nhồ? Vô thích yên, nhân thị 4 dĩ.\nPhù Đạo vị thủy hữu phong\n5,\nngôn vị thủy hữu thường 6. Vi thị\nnhi hữu chân 7 dã. Thỉnh ngôn kỳ chân:\nHữu tả hữu hữu, hữu luân hữu nghĩa,\nhữu phân hữu biện, hữu cạnh hữu tranh,\nthử chi vị bát đức, lục hạp chi ngoại 8,\nThánh nhơn tồn nhi bất luận. Lục hạp chi\nnội, Thánh nhơn luận nhi bất nghị. Xuân thu kinh\nthế tiên vương chi chí, Thánh nhơn nghị nhi\nbất biện 9. Cố phân dã giả, hữu\nbất phân dã, biện dã giả, hữu bất biện dã 10.\nViết: Hà dã? Thánh nhơn hoài chi, chúng nhơn biện chi. Dĩ\ntương thị dã. Cố viết: Biện dã giả,\nhữu bất kiến dã 11. Phù đại\nĐạo bất xưng, đại biện bất ngôn,\nđại nhân bất nhân, đại liêm bất khiêm,\nđại dũng bất kỵ. Đạo chiêu nhi bất\nĐạo 12, ngôn biện nhi bất cập 13,\nnhân thường nhi bất thành, liêm thanh nhi bất tín,\ndũng kỵ nhi bất thành, ngũ giả viên nhi cơ\nhướng phương hĩ. Cố tri chỉ kỳ\nsở, bất tri, chí hĩ 14. Thục tri bất\nngôn chi biện, bất Đạo chi đạo?\nNhược hữu năng tri, thử chi vị thiên\nphủ, chú yên nhi bất mãn, chước yên nhi bất\nkiệt, nhi bất tri kỳ sở do lai, thử chi vị\nbảo quang 15.\nCố tích giả Nghiêu vấn ư Thuấn viết: ngã dục phạt Tông, Khoái, Tự Ngao; nam diện nhi bất thích nhiên, kỳ cố hà dã? Thuấn viết: Phù tam tử giả, du tồn hồ, bồng ngải chi gian? Nhược bất thích nhiên, hà tai? Tích giả thập nhật tịnh xuất, vạn vật giai chiếu nhi huống đức chi tiến hồ nhật giả hồ!\n**CHÚ**\n1.\n*Thử *此 và *Thị *是: có nghĩa là “đó” và “đây”,\nnghĩa là “vật” 物 và “ngã” 我.\n2.\n*Hữu thủy *有 始: nguồn gốc của cái “hữu” (có): Origine de\nl’Être. *Hữu vị thủy hữu thủy *有 未 始 有 始: cái *“hữu” *không nguồn gốc: l’Être\nsans origine. *Hữu vị thủy hữu phù vị thủy\nhữu thủy *有 未 始 有 夫 未 始 有 始: nguồn gốc của cái\n“hữu” không nguồn gốc: Origine de l’Être sans origine. *Hữu hữu *有 有: cái Có (hữu):\nl’Être. *Hữu vô *有 無: cái Không (vô): le Néant\n(Non-Être). *Hữu vị thủy hữu vô *有 未 始 有 無: cái “Có” có trước cái “Không” (l’Être avant le Néant).\n*Hữu vị thủy hữu phù vị thủy\nhữu vô *有 未 始 有 夫 未 始 有 無: cái “Không” có trước cái “Có” (le Néant avant l’Être).\n3.\n*Nhất dữ ngôn vi\nnhị *一 與 言 為 二: “Một” và “lời” là “hai việc\nkhác nhau”: Đạo không thể còn dùng được\nlời nói mà miêu tả được. Tức là cùng\nmột ý với Lão Tử khi ông nói: “Đạo khả\nđạo phi thường đạo. . .” và “tri giả\nbất ngôn, ngôn giả bất tri”. *Nhị dữ nhất\nvi Tam *二 與 一 為 三: *Nhị *二: ám chỉ âm dương tương\nđối; *một *一: ám chỉ Đạo. Cùng nghĩa với câu này\ncủa Lão Tử: Nhất sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh\nvạn vật(一 生 二, 二 生 三,三 生 萬 物). Nhất, là Đạo tịnh; Tam,\nlà Đạo động, Đạo sinh sinh hóa hóa, tức\nlà số một (Đạo) cộng với số hai (âm\ndương). Cho nên mới nói tới số ba là trở\nvề số một.\nThánh nhân thì biết “trở về” với số một; chúng nhân thì chạy mãi đi ra và lưu tán vô cùng.\n4.\n*Thị *是: Thị, là “đây”, là ám chỉ cái\nhiện tại tuyệt đối, bao gồm cả\nthời gian. Nhận thấy Đạo một rồi, thì\nkhông còn thấy Thời gian chia phân làm ba giai đoạn\ngiả tạo là quá khứ, hiện tại và vị lai\nnữa, mà thấy, bất cứ ở vào lúc nào, một cái\nhiện tại vô thủy vô chung.\n5.\n*Phong *封: là khu vực, là chia ranh. Đạo\nkhông hề có chia phân thành từng khu vực hạn\nđịnh của một cái thị hay phi, của một\ncái âm hay dương.\n6.\n*Thường *常: định thức 定 式. Lời dùng để bàn về lẽ\nĐạo cũng không thể hạn định theo\nmột định thức nào, là vì như thế dễ\nbị hạn chế trong một cái thị hay phi mà thành\nmất Đạo.\n7.\n*Vi thị *為 是: cũng như nói thị phi sanh ra(是 非 既 生 也). *Chân *畛: chia thành từng khu vực.\n8.\n*Lục hạp chi\nngoại *六 合 之 外: nói về bên ngoài\ntánh và phận của vạn vật. *Lục hạp chi nội *六 合 之 内: nói về bên trong tánh và phận\ncủa vạn vật.\n9.\n*Biện *辯: phân biệt thị phi mà để\nbình phẩm theo một chiều nào.\n10.\n*Phân dã giả,\nhữu bất phân dã *分 也 者,有 不 分 也: Phân, là phân biệt\nthị phi; bất phân, là không thiên hẳn bên nào, mà chỉ\ngìn giữ thế quân bình của thị hay phi. *Biện dã giả, hữu bất biện dã *辯 也 者,有 不 辨 也: Biện 辯 đây là biện bác (tranh\nluận). Tranh luận, là có phân thị phi; nhưng tranh\nluận mà không tranh luận, là tranh luận để làm\nsáng tỏ lập trường của mình chứ không\nphải để tranh phần phải cho mình. Người\nđạt Đạo không bao giờ tranh luận\nđể thuyết phục ai, hay dẫn dụ ai theo mình\ncả, vì theo Trang Tử người hiểu Đạo\nkhông bắt chước ai cả mà trở về sống\ncái sống của mình, sống yên với cái mà Tạo hóa\nđã an bài, không đèo bòng ham muốn cái ngoài tánh phận\ncủa mình.\n11.\n*Biện dã giả,\nhữu bất kiến dã *辯 也 者,有 不 見 也: Biện là phân\nbiệt thị phi để mà biện luận biện bác,\nvì vậy không thể nhận thấy được\nĐạo tuyệt đối là cái lẽ gồm nắm\nbao trùm và vượt lên trên thị phi, thiện ác. Nên\nmới nói: “ *Hay biện phân, thì có chỗ không thấy rõ\nđược”, *vì chỉ thấy có một bề:\nbề mặt hay bề trái của sự thật mà thôi.\n12.\n*Đạo chiêu nhi\nbất Đạo *道 昭 而 不 道: Đạo mà chói\nsáng, nghĩa là rõ ràng, thì là Đạo theo hẳn một bên\nnào rồi, thị hay phi. Cho nên Đạo mà như thế,\nkhông phải Đạo. Đạo, dường như\nmịt mờ, nửa tối nửa sáng, lẫn lộn âm\ndương, thị phi. Trang Tử đã dùng trước\nđây danh từ như *“hoạt nghi chi diệu”*(滑 疑 之 耀)và tiếp sau đây danh từ *“bảo\nquang”*(葆 光) để ám chỉ Đạo.\nSo sánh câu nầy của Lão Tử: “Tục nhơn chiêu chiêu;\nngã độc hôn hôn”(俗 人 昭 昭, 我 獨 昏 昏) (Chương\n20, *Đạo Đức Kinh*). *13. * *Ngôn biện nhi\nbất cập *言 辯 而 不 及: Cùng một ý\nvới câu trên *“Đạo chiêu nhi bất\nĐạo” *道 昭 而 不 道. *Biện *辯 đây là phân biệt thị phi.\n*Bất cập *不 及, là không đầy\nđủ, còn thiếu thốn, vì hễ nói thị thì\nlại còn thiếu phi, chỉ nói có cái bề mặt mà không\nnói đến bề trái của một sự vật nào,\ncho nên mới nói *“lời mà rõ ràng thì không tới chốn”.\n*\n14.\n*Tri chỉ kỳ\nsở bất tri *知 此 其 所 不 知: Tức là biết dừng lại\nchỗ mà lý trí và lời nói không làm sao hiểu và nói\nđược, đó mới thật khôn ngoan,\nthượng trí. Dừng lại, là không đi đâu\nnữa, ở lại đó. So sánh với câu: *“Tri\nbất tri, thượng”*(知 不 知 ,上)của Lão Tử (Chương 71).”\n15.\n*Chí hĩ” *至 矣 là đã đến nơi đến\nchốn, tức là đã đến chỗ cùng cực\ncủa sự hiểu biết vậy.\n16.\n*Bảo quang *葆 光: che đậy ánh sáng. Lại cũng có\nngười cho rằng *“bảo quang” *có\nnghĩa là “như có như không”(若 有 若 無). Thì cũng cùng một nghĩa như “che\nđậy ánh sáng”.\n17. So sánh câu “Bất ngôn chi biện”(不 言 之 辯)với câu “Bất ngôn chi giáo”(不 言 之 教)và “Thiện giả bất biện; biện giả bất thiện”(善 者 不 辨,辯 者 不 善) (Chương 51) của Lão Tử.\n\n**DỊCH NGHĨA**\n**Đ.** *Ví như nay có\nngười hỏi rằng: không rõ chữ “đó” có\ngiống với chữ “đây” chăng; hay không giống\nvới chữ “đây” chăng? Giống và không giống,\nhay cùng là một giống với nhau, thì là bên này không có gì\nkhác với bên kia nữa. Tuy vậy, còn có nhiều danh\ntừ thông thường mà ý nghĩa tương phản, ta\ncũng cho nó giống nhau được nữa chăng? Như\nnhững danh từ sau đây: “hữu thủy”, “hữu\nvị thủy hữu thủy”, “hữu vị thủy\nhữu phù vị thủy”, “hữu hữu”, “hữu vô”,\n“hữu vị thủy hữu vô”, “hữu vị thủy\nhữu phù vị thủy hữu vô”. Thoạt trông qua mà “có”\nlà đã “không” rồi, nhưng cũng chưa rõ là “có” hay\n“không”? Và quả có cái gì là “có”, có cái gì là “không” hay chăng?\nNay thì ta cũng đã có nói rồi, nhưng chưa biết\nrõ điều ta nói đó quả đã “có nói” không, hay\n“chưa có nói” không? * *Dưới trời không có gì lớn bằng\ncọng lông mùa thu, mà không có gì nhỏ bằng núi Thái; không có\ngì thọ bằng đứa bé chểt yểu, mà không có gì\nyểu bằng ông Bành Tổ. * *Trời Đất cùng Ta đồng sinh, và\nvạn vật cùng ta là một. Đã là một rồi, thì\nnói ra có được không? Đã gọi là một rồi,\nthì không nói ra có được không? Một và lời là hai. Hai\nvới một là ba. Từ ba trở lại một, bậc\ngọi là xảo lịch còn không hiểu được\nthay, huống chi là kẻ tầm thường! Cho nên,\ntừ chỗ “không” mà sang chỗ “có”, còn phải\nđến số ba, huống chi từ chỗ “có” mà sang\nchỗ “có”? Không phải sang qua đâu cả, chỉ nên theo\nchỗ “có” đây là đủ. * *Vả, Đạo chưa hề có khu vực;\nlời nói chưa hề có định thức. Có cho đây\nlà Thị, thì mới có sự chia phân Thị với Phi thành\ntừng khu vực. Vậy, xin bàn về khu vực ấy:\ncó mặt, có trái, có luận, có nghĩa, có phân, có biện, có\ncạnh, có tranh, đó gọi là “bát thức”. Phần ngoài\ncủa “lục hạp”, Thánh nhơn để yên mà không\nluận đến. Phần trong của “lục hạp”,\nthánh nhơn luận đến mà không bàn. Lịch sử\nđời Xuân Thu của các tiên vương, Thánh nhơn bàn\nđến mà không chê khen biện luận. Cho nên tuy có phân\nchia mà không phân chia; biện bác mà không biện bác. Sao vậy?\nLà vì Thánh nhơn thì ôm giữ, chúng nhân thì biện bác\nđể mà khoe khoang. Nên mới có lời nói nầy: “Hay\nbiện phân, thì có chỗ không thấy rõ được”. Vả,\n“đại Đạo” thì không xưng tên; “đại\nbiện” thì không có lời; “đại nhân” thì không\nthương ai, “đại liêm” thì không nhún thường;\n“đại dũng” thì không làm hại ai. Đạo mà sáng\nthì không phải Đạo; lời mà rõ ràng thì không tới\nchốn, nhân mà thường thì không nên việc; liêm mà thanh\nthì không thể tin; dũng mà hại người thì không nên\nviệc. Năm điều ấy tròn mà thành vuông. Cho nên,\nbiết dừng chỗ mà mình không thể biết, là\nđến chốn rồi vậy. Có ai biết\nđược cách biện biệt mà không dùng đến\nlời, nói mà không cần phải nói ra lời? Nếu có\nkẻ biết được, kẻ ấy gọi là “Thiên\nphủ” (kho Trời), đổ vô mãi mà không đầy, rót\nra mãi mà không cạn, nhưng không biết do đâu mà\nđến. Nên mới gọi là “che ánh sáng” (bảo quang). * *Cho nên ngày xưa Nghiêu hỏi Thuấn: * *- Ta muốn phạt Tôn, Khoái, Tư Ngao, ngảnh\nmặt sang Nam mà không thấy lòng khoan khoái. Như thế là\ncớ làm sao?. * *Thuấn nói: *\n-\n*Như ba người ấy (vua của ba\nnước ấy) khác nào sống ở giữa cỏ\nbồng cỏ ngải. Nhà vua sao lại không thấy lòng\nkhoan khoái? Xưa kia, mười mặt trời cùng mọc,\nmuôn vật đều được soi sáng, huống chi\ncái Đức của người còn hơn mặt trời!\n*\n⸈⸈⸈\n**E.** 齧 缺 問 乎 王 倪 曰:「子 知 物 之 所 同 是 乎 ?」\n曰:「吾 惡 乎 知 之!」\n「子 知 子 之 所 不 知 邪 ?」\n曰:「吾 惡 乎 知 之。」\n「然 則 物 無 知 邪 ?」\n曰:「吾 惡 乎 知 之。」\n雖 然,嘗 試 言 之。庸 詎 知 吾 所 謂 知 之 非 不 知 邪 ? 庸 詎 知 吾 所 謂 不 知 之 非 知 邪 ? 且 吾 嘗 試 問 乎 女:「民 溼 寢 則 腰 疾 偏 死, 鰌 然 乎 哉 ? 木 處 則 惴 慄 恂 懼,猨 猴 然 乎 哉? 三 者 孰 知 正 處 ? 民 食 芻 豢,麋 鹿 食 薦, 蝍 蛆 甘 帶,鴟 鴉 耆 鼠,四 者 孰 知 正 味 ? 猨 猵 狙 以 為 雌,麋 與 鹿 交,鰌 與 魚 游。毛 嬙, 麗 姬,人 之 所 美 也,魚 見 之 深 入,鳥 見 之 高 飛,麋 鹿 見 之 決 驟。四 者 孰 知 天 下 之 正 色 哉!\n自 我 觀 之,仁 義 之 端,是 非 之 塗,樊 然 殽 亂,吾 惡 能 知 其 辯!」\n齧 缺 曰:「子 不 知 利 害,則 至 人 固 不 知 利 害 乎 ?」\n王 倪 曰:「至 人 神 矣!大 澤 焚 而 不 能 熱, 河 漢 冱 而 不 能 寒。疾 雷 破 山,飄 風 振 海, 而 不 能 驚。若 然 者,乘 雲 氣,騎 日 月,而 遊 乎 四 海 之 外。死 生 無 變 於 己,而 況 利 害 之 端 乎 ?」\n**E.** Khiết Khuyết vấn hồ Vương Nghê 1 viết:\n“Tử tri vật chi sở đồng thị hồ?”\nViết: “Ngô ô hồ tri chi.”\n“Tử tri tử chi sở bất tri da?”\nViết: “Ngô ô hồ tri chi.”\n“Nhiên tắc vật vô tri da?”\nViết: “Ngô ô hồ tri chi.\nTuy nhiên, thường thí ngôn chi. Dung cự tri ngô\nsở vị tri chi phi bất tri da? Dung cự tri ngô sở\nvị bất tri chi phi tri da? Thả ngô thường thí vấn\nhồ nhữ\n2: dân thấp tẩm, tắc yêu\ntật thiên tử 3, thu nhiên hồ tai? Mộc\nxử tắc chủy lật tuân 4 cụ, viên\nhầu nhiên hồ tai? Tam giả thục tri chánh xử? Dân\nthực sô hoạn 5, mê lộc thực tiến 6,\nlương thư 7 cam đái, xi nha thị\nthử 8: tứ giả thục tri chánh vị? Viên\nbiên thư dĩ vi thư 9 mê dữ lộc giao,\nthu 10 dữ ngư du. Mao Tường Lệ\nCơ nhơn chi sở mỹ dã, ngư kiến chi thâm\nnhập, điểu kiến chi cao phi, mê lộc kiến chi\nquyết sậu 11. Tứ giả thục tri thiên\nhạ chi chánh sắc tai?”\nTự ngã quan chi, nhân nghĩa chi đoan, thị phi chi đồ, phiền nhiên hào loạn, ngô ô năng tri kỳ biện.\nKhiết Khuyết viết: “Tử bất tri lợi hại, tắc chí nhơn cố bất tri lợi hại hồ?”\nVương Nghê viết: “Chí nhơn thần hĩ! Đại trạch phần nhi bất năng nhiệt, hà hán hộ nhi bất năng hàn. Tật lôi phá sơn, phiêu phong chấn hải, nhi bất năng kinh. Nhược nhiên giả, thừa vân khí, kỵ nhật nguyệt, nhi du hồ tứ hải chi ngoại, tử sanh vô biến ư kỷ, nhi huống lợi hại chi đoan hồ?”\n**CHÚ**\n1.\n*Vương Nghê *王 倪: Một bậc hiền thời vua Nghiêu 堯. Ở thiên Thiên Địa 天 地 thì cho rằng ông là thầy của Khiết\nKhuyết 齧 缺.\n2. Đọc là “nhữ” 汝.\n3.\n*Thiên tử *偏 死: chết một bên thân mình (tê liệt).\n4.\n*Tuân *恂, viết là 眴 (âm là huyện 縣, cùng với huyền 眩 thông dụng).\n5.\n*Sô hoạn *芻 豢.\nSô 芻: Loài thú ăn cỏ.\nHoạn 豢: loài gia súc, ăn cùng món ăn với người ta. Nói chung là ăn thịt, cỗ bàn.\n6.\n*Tiến *薦: cỏ non(美 草).\n7.\n*Lương\nthư *螂 蛆: là con rết(蜈 公).\n8. Chữ “thị” 耆 cũng là 嗜.\n9.\n*Thư *雌: con cái, giống cái (đối\nvới chữ hùng 雄).\n10.\n*Thu *鰌: âm là “thu” *, *tức là “nê\nthu” 泥 鰍 một thứ cá có thể\nsống trong bùn, lúc nước cạn. Ta gọi là cá chạch\n(Từ Nguyên). Bản Nhượng Tống dịch là loài\nnhái, không đúng.\n11.\n*Quyết sậu *決 驟: cúi đầu mà chạy, không ngó lại sau.\n**DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Khiết\nKhuyết hỏi Vương Nghê: *\n-\n*Ông biết chỗ đồng phải\ncủa mọi vật không? * **- ** *Ta biết đâu việc đó. * **- ** *Ông biết chỗ mà ông không biết không? * **- ** *Ta biết đâu việc đó. * **- ** *Vậy thì, mọi vật, cũng không biết gì\ncả hay sao? * **- ** *Ta biết đâu việc đó. Tuy vậy, ta\nthử nói coi sao. Biết đâu cái mà ta gọi là biết,\nlại chẳng phải là cái mà ta không biết? Biết\nđâu cái mà ta gọi là không biết lại chẳng\nphải là cái mà ta biết? Vả, ta đã từng thử\nhỏi ngươi: Người nằm trong chỗ ẩm\nthấp thì sanh ra đau lưng và tê liệt một bên mình;\ncon cá chạch thì có sao không? Người ở trên cây run\nrẩy sợ sệt; còn loài khỉ vượn thì có sao\nkhông? Ba loài ấy, ai biết chỗ ở nào là chỗ\nở chánh? Con người thì ưa ăn thịt thà;\nhươu nai thì thích ăn cỏ non; rết thì cho rắn\ncon là ngon; chim mèo chim cú thì nghiện ăn chuột bọ. Bốn\nloài ấy, ai biết vị ăn nào là chánh vị?\nVượn và khỉ theo với nhau, nai và hươu cùng\nvới nhau, chạch và cá lội với nhau. Mao\nTường, Lệ Cơ, người thấy thì cho là\nđẹp, mà cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay\ncao, hươu nai thấy thì chạy dài. Bốn loài ấy,\nai biết sắc đẹp nào là chánh sắc trong thiên\nhạ? * *Tự ta mà xem, thì đầu mối của nhân\nnghĩa, đường nẻo của thị phi rối\nloạn lung tung, ta làm sao biết đâu mà phân biện. * *Khiết Khuyết nói: * *- Ông không biết lợi hại, còn bậc chí\nnhơn cũng không biết lợi hại nữa hay sao? * *Vương Nghê nói: *\n-\n*Chí nhơn là bậc Thần: chầm\nlớn cháy, không thể làm cho đó nóng, sông Hà sông Hán\nđặc mà không thể làm cho đó lạnh; sét đánh\nvỡ núi, gió dậy biển cả cũng không làm cho đó\nsợ. Người như thế thì theo hơi mây, cỡi\nmặt trời mặt trăng mà rong chơi ngoài bốn\nbiển, chết sống còn không làm cho người họ\nđiên đảo phương chi là mối lợi hại?\n*\n⸈⸈⸈\n**G.** 瞿 鵲 子 問 乎 長 梧 子 曰:「吾 聞 諸 夫 子 聖 人 不 從 事 於 務,不 就 利,不 違 害,不 喜 求, 不 緣 道,無 謂 有 謂,有 謂 無 謂,而 遊 乎 塵 垢 之 外。夫 子 以 為 孟 浪 之 言,而 我 以 為 妙 道 之 行 也。吾 子 以 為 奚 若 ?」\n長 梧 子 曰:「是 黃 帝 之 所 聽 熒 也,而 丘 也 何 足 以 知 之,且 女 亦 大 早 計,見 卵 而 求 時 夜,見 彈 而 求 鴞 炙。予 嘗 為 女 妄 言 之,女 以 妄 聽 之。奚 旁 日 月,挾 宇 宙 ? 為 其 脗 合,置 其 滑 涽,以 隸 相 尊。眾 人 役 役,聖 人 愚 芚, 參 萬 歲 而 一 成 純。」\n**G.** Cù Thước\nTử 1 vấn hồ Trường Ngô Tử viết:\n**- **Ngô văn chư 2 phu tử thánh\nnhơn bất tùng sự ư vụ, bất tựu\nlợi, bất vi hại, bất hỉ cầu, bất\nduyên đạo 3, vô vị hữu vị 4,\nhữu vị vô vị 5 nhi du hồ trần\ncấu chi ngoại 6. Phu tử 7 dĩ vi\nmạn lãng 8 chi ngôn, nhi ngã dĩ vi diệu\nđạo chi hạnh 9 dã. Ngô tử dĩ vi\nhề nhược?\nTrường Ngô Tử viết:\n**- **Thị Hoàng đế chi sở thính uỷnh dã,\nnhi Khưu 10 dã hà túc dĩ tri chi. Thả nhữ\ndiệc đại tảo kế, kiến noãn nhi cầu\nthời dạ 11, kiến đàn nhi cầu hiêu chích.\nDư thường vị nhữ võng ngôn chi, nhữ dĩ\nvõng thính chi. Hề 12 bàng 13 nhật\nnguyệt, hiệp vũ trụ, vi kỳ thần hợp 14 trí\nkỳ hoạt hôn 15 dĩ lệ tương tôn 16.\nChúng nhơn dịch dịch 17, thánh nhơn ngu xuân 18\ntham vạn tuế nhi nhất thành thuần 19.\n**CHÚ**\n1.\n*Cù Thước\nTử*: tên\nmột môn đệ của Khổng Tử. Giả thác,\nkhông có thật.\n2.\n*Chư *諸: đồng nghĩa với\nchữ *ư *於.\n3.\n*Duyên *緣: cột lại với nhau, ở\nđây có nghĩa là quyến luyến, ràng buộc, quấn\nquít. Câu “ *bất duyên đạo”*, ý muốn nói: Bậc\nThánh nhơn cũng còn phải đeo đuổi, quấn\nquít theo Đạo nữa, nghĩa là không còn chạy theo\nĐạo, còn mến Đạo, còn cầu Đạo\nnữa...vì như thế là còn chưa được\nĐạo, vì Người và Đạo còn là hai mà chưa\nlà một (thành thuần 成 純). Hợp nhất\nvới Đạo, thì không còn thấy có Đạo\nđể mà đeo đuổi, quấn quít nữa.\n4.\n*Vô vị hữu\nvị *無 謂 有 謂: Không nói (mà) đã\nnói. Cùng nghĩa với “vô vi nhi vô bất vi” 無 為 而 無 不 為: không làm mà không có gì\nlà không làm. Tức là nói về công dụng của chữ\như vô trong lời nói: tuy không dùng đến lời nói, nhưng\ný nghĩa lại nhiều hơn là đã nói nhiều;\ntức là “bất ngôn chi giáo”(不 言 之 教)của Lão Tử.\n5.\n*Hữu vị vô\nvị *有 謂 無 謂: Nói, mà như không có\nnói gì cả. Đồng nghĩa với câu “ *hữu ngôn vô\nngôn” *有 言 無 言. Cái điều mà\nThánh nhơn đắc Đạo nói, thường chỉ\nlà dùng đến lời nói của giới nhị nguyên, nên\nchỉ có giá trị “nửa chừng” (demi-vérité) mà thôi; trong\nkhi chân lý gồm cả hai mặt (trái và mặt, âm và\ndương). Cho nên dù là *có nói *mà dường\nnhư *chưa hề có nói, *vì không thể nói ra\nđược cái chân lý toàn diện với những danh\ntừ hạn định của nhị nguyên\n6.\n*Trần cấu chi\nngoại *塵 垢 之 外: Trần, là bụi;\ncấu, là bụi nhỏ. Ám chỉ sự vô thường\ncủa sự vật trên đời: rốt cuộc\nthảy đều trở thành tro bụi.”Trần cấu\nchi ngoại” là ngoài sự tiêu vong và bất thường\ncủa sự vật, tức ám chỉ cái lẽ\nthường tồn nơi ta là Đạo 道.\n7.\n*Phu tử *夫 子: ám chỉ Khổng Tử.\n8.\n*Mạnh lãng *孟 浪: âm là *mạn lãng *漫 浪, nghĩa là vu vơ không đúng với thực\ntế.\n9.\n*Hành *行: đọc là *hạnh, *tức\nlà tư cách.\n10.\n*Khưu *丘: tên của Khổng Tử. *Võng *妄: Võng nghĩa là bậy bạ, bướng.\n11.\n*Thời dạ *時 夜: ám chỉ con gà 雞 (thường gọi là tư dạ 司 夜).\n12.\n*Hề *奚: làm thế nào, làm sao(何 如).\n13.\n*Bàng *旁: dựa vào(依).\n14.\n*Thần hợp *脗 合: không phân biệt nhau(無 分 別).\n15.\n*Trí *置: phó mặc cho(任). *Hoạt *滑: lộn xộn, lẫn lộn, hỗn loạn. *Hôn *湣: không phân biệt, tối tăm, ngu độn,\nsâu kín.\n16.\n*Dĩ lệ\ntương tôn *以 隷 相 尊: Lệ 隷, là chỉ về sự thấp hèn; tôn 尊, là cao quý. Ý muốn nói: Quý tiện\ncùng xem như nhau.\n17.\n*Dịch dịch *役 役: bôn ba, chạy theo hấp tấp. Câu nầy\n“chúng nhơn dịch dịch” là ý nói người\nđời đua theo thị phi, ồ ạt chạy theo\nthị phi(馳 騖 於 是 非 之 境).\n18.\n*Ngu xuân *愚 芚: không nghiên cứu, không chia phân sự vật làm\nhai. Không nhận thấy sự khác nhau giữa các mâu\nthuẫn.\n19.\n*Tham vạn tuế\nnhi nhất thành thuần *參 萬 歲 而 一 成 純: Chen vào cuộc thiên biến vạn hóa của\nTrời Đất, mà luôn luôn ôm giữ được\ncái *Đạo Một *bất biến và thuần\nnhất(能 抱 一 而 成 精 純 也).\n**DỊCH NGHĨA**\n**G.** *Cù Thước\nhỏi Trường Ngô: * **- ** *Tôi nghe nơi ông rằng Thánh nhơn không bận\nđến việc đời; không tìm lợi; không lánh\nhại; không tha thiết đến việc gì; cũng không\nquấn quít với Đạo; có nói (mà như) không có nói;\nkhông nói (mà như) đã nói, tha hồ rong chơi ngoài\nbụi bặm (của cuộc đời). Thầy tôi cho\nđó là lời nói vu vơ, còn tôi, thì lại cho đó là cái\nhạnh của kẻ đã nhập diệu nơi\nĐạo rồi vậy. Ý ông như thế nào? * *Trường Ngô nói: * **- ** *Đó là điều mà Hoàng đế nghe còn nghi\nngờ thay, ông Khưu làm gì đủ để mà hiểu\nđược. Vả, ngươi cũng đoán hơi\nsớm lắm: vừa thấy trứng gà là đã mong\nđược nghe tiếng gà gáy, vừa thấy viên\nđạn là đã mong được ăn chim\nnướng. Nay ta thử vì ngươi nói bậy mà nghe,\ncòn ngươi cũng nghe bậy mà chơi. Làm thế nào\nđể dựa kề nhật nguyệt, nhập cùng\nvũ trụ, xáo trộn cả thị phi, quý tiện? Chúng\nnhơn thì bôn chôn, thánh nhơn thì ngu tối, vượt muôn\ntuổi mà ôm giữ cái chỗ thuần nhất bất\nbiến. *\n⸈⸈⸈\n**H. ** 萬 物 盡 然 而 以 是 相 蘊。予 惡 乎 知 說 生 之 非 惑 邪 ? 予 惡 乎 知 惡 死 之 非 弱 喪 而 不 知 歸 者 邪 ?\n麗 之 姬,艾 封 人 之 子 也。晉 國 之 始 得 之 也,涕 泣 沾 襟 ; 及 其 至 於 王 所,與 王 同 筐 床,食 芻 豢,而 後 悔 其 泣 也。\n予 惡 乎 知 夫 死 者 不 悔 其 始 之 蘄 生 乎 ?夢 飲 酒 者,旦 而 哭 泣。夢 哭 泣 者,旦 而 田 獵。 方 其 夢 也,不 知 其 夢 也。夢 之 中 又 占 其 夢 焉,覺 而 後 知 其 夢 也。且 有 大 覺 而 後 知 此 其 大 夢 也。而 愚 者 自 以 為 覺,竊 竊 然 知 之 君 乎 牧 乎 ?\n固 哉!丘 也 與 女,皆 夢 也。予 謂 女 夢,亦 夢 也。是 其 言 也,其 名 為 弔 詭。萬 世 之 後 而 一 遇 大 聖,知 其 解 者,是 旦 暮 遇 之 也。\n既 使 我 與 若 辯 矣,若 勝 我,我 不 若 勝。 若 果 是 也,我 果 非 也 邪 ? 我 勝 若,若 不 吾 勝,我 果 是 也,而 果 非 也 邪 ? 其 或 是 也,其 或 非 也 邪 ? 其 俱 是 也,其 俱 非 也 邪 ? 我 與 若,不 能 相 知 也,則 人 固 受 其 黮 闇,吾 誰 使 正 之 ? 使 同 乎 若 者 正 之,既 與 若 同 矣,惡 能 正 之 ? 使 同 乎 我 者 正 之,既 同 乎 我 矣, 惡 能 正 之 ? 使 異 乎 我 與 若 者 正 之,既 異 乎 我 與 若 矣,惡 能 正 之,使 同 乎 我 與 若 者 正 之,既 同 乎 我 與 若 矣,惡 能 正 之 ? 然 則, 我 與 若 與 人 俱 不 能 相 知 也,而 待 彼 也 邪 ? 何 謂 和 之 以 天 倪 ? 曰:是 不 是,然 不 然。\n是 若 果 是 也,則 是 之 異 乎 不 是 也,亦 無 辯。然 若 果 然 也,則 然 之 異 乎 不 然 也 ,亦 無 辯。化 聲 之 相 待,若 其 不 相 待,和 之 以 天 倪,因 之 以 曼 衍,所 以 窮 年 也。忘 年 忘 義, 振 於 無 竟,故 寓 諸 無 竟。\n**H. ** Vạn vật tận nhiên nhi\ndĩ thị tương uẩn 1. Dư ô hồ tri\nduyệt sinh chi phi hoặc da? Dư ô hồ tri ố tử\nchi phi nhược táng nhi bất tri qui giả da?\nLệ chi cơ, Ngại phong nhơn chi tử dã. Tấn\nquốc chi thủy đắc chi dã, thế khấp triêm\nkhâm. Cập kỳ chí ư vương sở, dữ\nvương đồng khuông sàng, thực sô hoạn\n2,\nnhi hậu hối kỳ khấp dã.\nDư ô hồ tri phù tử giả bất hối\nkỳ thủy chi kỳ sinh hồ? Mộng ẩm tửu\ngiả, đán nhi khốc khấp. Mộng khốc khấp\ngiả, đán nhi điền liệp\n3. Phương\nkỳ mộng dã, bất tri kỳ mộng dã. Mộng chi\ntrung, hựu chiêm kỳ mộng yên, giác nhi hậu tri kỳ\nmộng dã. Thả hữu đại giác, nhi hậu tri thử\nkỳ đại mộng dã. Nhi ngu giả tự dĩ vi\ngiác, thiết thiết nhiên tri chi quân hồ mục hồ?\nCố tai! Khưu dã dữ nhữ, giai mộng dã. Dư vị nhữ mộng diệc mộng dã. Thị kỳ ngôn dã, kỳ danh vi điếu quỷ. Vạn thế chi hậu nhi nhất ngộ đại thánh, tri kỳ giải giả, thị đán mộ ngộ chi dã.\nKý sử ngã dữ nhược biện hĩ\nnhược thắng ngã, ngã bất nhược thắng. Nhược\nquả thị dã, ngã quả phi dã da? Ngã thắng\nnhược, nhược bất ngô thắng, ngã quả\nthị dã, nhi\n4 quả phi dã da? Kỳ hoặc\nthị dã, kỳ hoặc phi dã da? Kỳ câu thị dã,\nkỳ câu phi dã da? Ngã dữ nhược, bất năng\ntương tri dã, tắc nhơn cố thọ kỳ\nđảm ám, ngô thùy sử chánh chi? Sử đồng\nhồ nhược giả chánh chi, ký dữ nhược\nđồng hĩ, ô năng chánh chi? Sử đồng\nhồ ngã giả chánh chi, ký đồng hồ ngã hĩ, ô\nnăng chánh chi? Sử dị hồ ngã dữ nhược\ngiả chánh chi, ký dị hồ ngã dữ nhược\nhĩ, ô năng chánh chi? Sử đồng hồ ngã dữ\nnhược giả chánh chi, ký đồng hồ ngã dữ\nnhược hĩ, ô năng chánh chi? Nhiên tắc ngã dữ\nnhược dữ nhơn câu bất năng tương tri\ndã, nhi đãi bỉ dã da? Hà vị hòa chi dĩ thiên nghê 5.\nViết: thị bất thị, nhiên bất nhiên.\nThị nhược quả thị dã, tắc\nthị chi dị hồ bất thị dã, diệc vô\nbiện. Nhiên nhược quả nhiên dã, tắc nhiên chi\ndị hồ bất nhiên dã, diệc vô biện. Hóa thinh chi\ntương đãi, nhược kỳ bất tương\nđãi, hòa chi dĩ thiên nghê, nhơn chi dĩ mạn\ndiễn, sở dĩ cùng niên dã. Vong niên vong nghĩa\n6 chấn 7 ư\nvô cảnh 8, cố ngụ chư vô cảnh.\n**CHÚ**\n1.\n*Uẩn *蘊: tích tụ lại, liên hợp\nlại. Chỉ sự không thể chia lìa giữa vạn\nvật.\n2.\n*Sô hoạn *芻 豢: *sô *芻 là thịt các con vật ăn cỏ; *hoạn\n*豢 là thịt các con\nvật nhà: món ăn cao lương, cỗ bàn...\n3.\n*Mộng ẩm\ntửu giả, đán nhi khốc khấp *夢 飲 酒 者, 旦 而 哭 泣: Chiêm bao vui vẻ (dự tiệc rượu) nên\nkhông muốn dứt; tỉnh dậy thì tiếc cảnh vui\nnên rầu buồn khóc lóc. Cũng như, chiêm bao buồn\nkhổ khóc lóc, tỉnh dậy là thoát được\ncảnh đau khổ nên vui mừng như được\nđi săn bắn 夢 哭 泣 者,旦 而 田 獵. Tóm lại, mộng mà vui thì\ntỉnh buồn; mộng mà buồn thì tỉnh vui. Được\ncái nầy thì mất cái kia.\n4. Chữ 若 và 而, đồng một nghĩa với chữ 汝.\n5.\n*Thiên nghê *天 倪: tức là Tự nhiên(自 然), Thiên quân天 均. *Vong niên, vong nghĩa *忘 年 忘 義.\n6.\n*Vong niên, *là muốn nói về\nsự đồng nhau của sống, chết. Chữ *niên *年 là chỉ về thời gian. Còn\nchữ *nghĩa *義 là chỉ về vấn đề giá trị,\nám chỉ vấn đề thị phi, thiện ác, nên *vong\nnghĩa, *là nói về sự đồng nhau của\nthị phi.\n7.\n*Mạn diễn *曼 衍: cái biến của vô cực (tức là của\nĐạo). *Chấn *振: là thông sướng(暢).\n8.\n*Vô cảnh *無 竟: ám chỉ cảnh của hư vô, hay là\nĐạo. Có nhà chú giải cho *vô cảnh*, tức\nlà *vô cực*(無 極), như thế\ncũng đồng một nghĩa như trên.\n**DỊCH NGHĨA**\n**H. ** *Hiểu tận vạn vật\nrồi, mới thấy nó thuần nhất. Ta sao biết\nham sống chẳng phải là lầm? Ta sao biết sợ\nchết lại chẳng là mê, mà không biết cho đó là con\nđường về? * *Lệ Cơ, con của một vị phong nhơn\nxứ Ngại, gả cho vua nước Tấn. Khi về\nnhà chồng, lụy ướt dầm bâu. Kịp khi\nđến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi sô\nhoạn, rồi lại hối hận giọt lệ ngày\nxưa. Ta biết đâu kẻ chết lại không hối\nhận vì mình đã mong được sống thêm? * *Có kẻ chiêm bao cười giữa tiệc,\ntỉnh giấc khóc trong lòng. Hoặc chiêm bao buồn khóc,\nkhi tỉnh giấc như vui săn. Lúc chiêm bao không biết\nchiêm bao, khi tỉnh giấc mới hay là mộng cả. Chỉ\ncó bậc đại giác mới biết cuộc đại\nmộng đó thôi. Nhưng mà kẻ ngu lại tự cho\nhọ là tỉnh, rồi họ cũng tin thật rằng\nhọ là bậc vua chúa, hay họ là kẻ chăn ngựa!\nGàn thay, ông Khưu cùng ngươi đều chiêm bao cả!\nMà gọi ngươi chiêm bao thì ta lại cũng chiêm bao\nluôn nữa! Lời nói ấy, gọi là lời “điếu\nquỷ” (quái gở)! Sau muôn đời, may mà gặp\nđược bậc đại thánh biết cách giải\ncái nghĩa của nó ra, thì trong một sớm một\nchiều sẽ ngộ nó được vậy. * *Nếu ta với ngươi, cùng tranh biện:\nngươi thắng được ta, ta không thắng\nđược ngươi, vậy ngươi hẳn\nđã là phải, mà ta hẳn đã là quấy chưa?\nNếu ta thắng được ngươi, ngươi\nkhông thắng được ta, vậy ta hẳn đã là phải,\nmà ngươi hẳn đã là quấy chưa? Hay là, khi thì\nphải, khi thì quấy hay sao? Hay là, cả hai chúng ta\nđều phải cả, hoặc cùng quấy cả hay sao?\nTa và ngươi không thể biết được nhau, thì\nngười người đành phải chịu tối\ntăm rồi! Ta phải nhờ ai chánh lại việc\nấy? Nhờ kẻ đồng với ngươi\nđể chánh lại việc đó ư? Nó đã\nđồng với ngươi thì làm sao chánh được\nviệc đó! Cậy người đồng với ta\nđể chánh lại việc đó ư? Nó đã\nđồng với ta thì làm sao chánh được việc\nđó? Cậy người khác với ta và khác với\nngươi, để chánh lại việc đó ư? Nó\nđã khác với ta và khác với ngươi, thì làm sao chánh\nđược việc đó? Cậy người\nđồng với ta và đồng với ngươi\nđể chánh lại việc đó ư? Nó đã\nđồng với ta và đồng với ngươi thì\nlàm sao chánh được việc đó? Vậy thì ta\nvới ngươi, cùng với người đó\nđều không thể biết nhau được, sao\nphải chờ người đó làm gì? * *Sao gọi là hòa hợp với Thiên Nghê? Là phải\nmà cũng là chẳng phải; phải vậy mà cũng là\nchẳng phải vậy. Cái phải của ngươi,\nnếu quả thực là phải, thì cái phải đó có\nkhác gì cái không phải, cho nên cũng không biện\nđược. Cái phải vậy của ngươi,\nnếu quả thực là phải vậy, thì cái phải\nvậy đó có khác nào cái không phải vậy, thành ra\ncũng không biện được. Hóa ra thảy\nđều là đối đãi, nếu muốn không\nđối đãi chi bằng hòa hợp với Tự Nhiên (Thiên\nNghê), nhân đó mà lời nói của ta đặng vĩnh\ncửu. Quên sống chết, quên phải quấy là suốt\nthông lẽ hư vô (vô cảnh), nên gởi mình vào cõi hư\nvô (vô cảnh). *\n⸈⸈⸈\n**I.** 罔 兩 問 景 曰:\n「曩 子 行,今 子 止。曩 子 坐,今 子 起。\n何 其 無 特 操 與 ?」\n景 曰:\n「吾 有 待 而 然 者 邪 ? 吾 所 待 又 有 待 而 然 者 邪 ? 吾 待 蛇 蚹 蜩 翼 邪 ? 惡 識 所 以 然,惡 識 所 以 不 然 ?」\n**I.** Võng lượng vấn cảnh viết: **- **Nãng tử hành, kim tử chỉ. Nãng tử\ntọa, kim tử khởi.\nHà kỳ vô, đặc tháo dư?\nCảnh viết:\n**- **Ngô hữu đãi nhi nhiên giả da? Ngô sở\nđãi hựu hữu đãi nhi nhiên giả da? Ngô đãi xà\nphù điêu dực da? Ô thức sở dĩ nhiên, ô thức\nsở dĩ bất nhiên?\n**DỊCH NGHĨA** **I.** *Bóng lu hỏi\nbóng tỏ: * *- * *Nãy anh đi, giờ anh đứng. Nãy anh\nngồi, giờ anh dậy. * *Sao anh không có nết riêng? * *Bóng tỏ nói: * *- * *Ta có phải nương chờ mà như thế\nchăng? Hay là chỗ ta nương chờ lại còn\nphải nương chờ nơi chỗ khác mà như\nthế chăng? Ta phải nương chờ, như\nvảy rắn cánh ve chăng? Sao biết sở dĩ nó là\nthế? Sao biết sở dĩ nó không phải là thế? *\n⸈⸈⸈\n**K.** 昔 者 莊 周 夢 為 胡 蝶,栩 栩 然 胡 蝶 也, 自 喻 適 志 與 不 知 周 也。俄 然 覺,則 蘧 蘧 然 周 也。不 知 周 之 夢 為 胡 蝶 與 ? 胡 蝶 之 夢 為 周 與 ? 周 與 胡 蝶,則 必 有 分 矣。此 之 謂 物 化。\n**K.** Tích giả Trang\nChâu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ\nđiệp dã, tự dụ thích chí dữ bất tri Châu dã.\nNga nhiên giác, tắc cừ cừ nhiên Châu dã. Bất tri Châu\nchi mộng vi hồ điệp dư? Hồ điệp\nchi mộng vi Châu dư? Châu dữ hồ điệp,\ntắc tất hữu phận hĩ. Thử chi vị\nvật hóa.\n**DỊCH NGHĨA**\n**K.** *Xưa Trang Châu\nchiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm\nbướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Châu\nnữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là\nChâu. Không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm\nchiêm bao là Châu? Châu và bướm ắt phải có tánh\nphận khác nhau. Đó gọi là vật hóa. *\n⸈⸈⸈\n**TỔNG BÌNH**\nNhư ta đã thấy ở thiên Tiêu Diêu Du, mục đích của học thuyết Trang Tử là tự do tuyệt đối.\nMuốn đạt đến tự do tuyệt đối, việc cần thiết đầu tiên là giải thoát tâm trí ra khỏi cái vòng nhận định sai lầm của nhãn thức nhị nguyên chia phân cái Sống Một làm hai phần rất phân biệt: tâm vật, thị phi, thiện ác, sanh tử, vinh nhục...\nTề Vật Luận là phương pháp luận của Trang Tử để đạt đến tiêu diêu tự tại. Tề Vật tức là “nhất thiết bình đẳng” nghĩa là vạn vật đều ngang bằng nhau cả, ngang nhau về phẩm, như ta đã thấy ở Tiêu Diêu Du.\nThật vậy, nếu không có được cái\nnhãn quang nhìn thấy sự “nhất thiết bình\nđẳng” trong các sự vật thì ắt phải có\nchỗ chọn lựa, nghĩa là còn có chỗ “lấy\nbỏ”[38];\ncó chỗ ưa ghét. Lấy cái gì, bỏ cái gì? Lấy cái\ntốt, bỏ cái xấu; ưa cái hay, ghét cái dở. Và nhân\nthế mới có sự thiên lệch và nô lệ theo một\nbảng giá trị chủ quan nào về sự vật. Có cái\n“phải” đối với ta ngày nay, nhưng qua ngày mai nó\nsẽ không còn “phải” nữa. Có món hạp với ta,\nnhưng lại không hạp với người khác. Có\nviệc hạp với người nầy, lại không\nhạp với người kia. Một vấn đề\ntương đối và tạm thời. Nhưng sai\nlầm và nguy hiểm là khi nào ta lại nhận nó là một\nchân lý tuyệt đối, nghĩa là một chân lý bất\ndi bất dịch và chung cho bất cứ ở thời gian\nhay không gian nào. Cho nên mới có nói rằng:\n*“có chỗ\nưa ghét, có chỗ lấy bỏ, thì không còn gọi là\ntự do tuyệt đối nữa”*(有 所 好 惡,有 所 去 就,則 不 能 絕 對 自 由 奚). [39]\nTóm lại, người thật là tự do,\nbiết trọng sự tiêu diêu tự tại trong bản\ntánh là người phải biết “xem bằng”[40]\n**A. Sự bình đẳng giữa\nPhải Quấy và Xấu Tốt**\nĐứng theo quan niệm nhị nguyên (chỉ thấy có một cái Ta riêng biệt) mà xem, thì sẽ thấy sự vật có phải, có quấy rõ ràng. Phải, là cái gì có lợi cho ta. Quấy là cái gì bất lợi cho ta.\nTrái lại, nếu không thiên chấp mà biết nhìn rộng ra sự vật khác bên ngoài Ta, thì biết đâu cái mà ta gọi là “phải” đối với ta đây, vị tất cũng còn là “phải” đối với kẻ khác? Ngay cùng một việc mà ta cho là “phải” đối với ta bây giờ, sẽ không còn là “phải” nữa đối với ta sau nầy! Như vậy phải và quấy là một việc cá nhân tương đối và chủ quan, hết sức bất thường. Nêu nó ra để mà nói với thiên hạ, để mà làm tiêu chuẩn chung và bắt cả thiên hạ phải cùng theo, thì còn nghĩa lý gì nữa!\n*“Người nằm trong chỗ ẩm thấp\nthì sanh ra đau lưng và tê liệt một bên mình; con cá\nchạch thì có sao không? Người ở trên cây thì run\nrẩy, sợ sệt; còn loài khỉ vượn có sao không?\nBa loài ấy, ai biết chỗ nào là chỗ ở\nchánh? Con người thì ưa ăn thịt thà;\nhươu nai thì thích ăn cỏ non; rết thì cho rắn\ncon là ngon; chim mèo chim cú thì nghiện ăn chuột bọ. Bốn\nloài ấy, ai biết món ăn nào là chánh vị? Mao\nTường Lệ Cơ, người thấy thì cho là\nđẹp mà cá thấy thì lặn sâu, hươu nai\nthấy thì chạy dài. Bốn loài ấy, ai biết\nsắc đẹp nào là chánh sắc trong thiên hạ?” *\nMỗi vật đều thuận theo chỗ hạp của mình: không có chỗ nào là chỗ hạp chung cho tất cả vạn vật. Mỗi vật đều biết ngon theo chỗ ngon riêng của mình: không có vị nào là ngon chung cho tất cả vạn vật. Mỗi vật đều có sự ưa thích theo một cái đẹp riêng theo mình: không có cái đẹp nào là cái đẹp chung cho tất cả vạn vật. Và như vậy, nếu đã không có cái đẹp nào là cái đẹp chung để làm cái gương tận mỹ chung cho tất cả mọi vật, thì cũng không có cái thiện nào có thể đem ra làm cái gương tận thiện chung cho tất cả mọi người.\n⸈⸈⸈\nQuan niệm về bình đẳng của Trang Tử không giống với quan niệm thông thường của người đời. Bình đẳng của người thường hiểu là một thứ bình đẳng hình thức máy móc, hiểu theo cái nghĩa nông cạn là san bằng mọi sự mọi vật, bất chấp cái luật “bất bình đẳng tự nhiên” trong vạn vật cũng như trong loài người: sang, hèn, trí, ngu, lớn, nhỏ, trai, gái...đều bắt buộc phải uốn mình sống theo một khuôn khổ luân lý, giáo dục, luật pháp giống nhau. Nơi trường học, kẻ sáng, người tối, gái, trai...đều chịu chung một lối giáo dục như nhau: người ta quên nghĩ đến cái cá tánh đặc biệt của mỗi người mỗi vật. Văn minh loài người sở dĩ không thể phát triển mau lẹ được cũng vì quan niệm lạc lầm nầy. Trong nhiều chế độ người ta còn đề cao vai trò của xã hội đến đỗi cá nhân không còn chỗ nào để thở được bằng cái mũi của mình, xem được theo cặp mắt của mình, nghĩ được theo đầu óc của mình, cảm được theo quả tim của mình nữa, mà suốt đời chỉ biết nhận những chỉ thị của bề trên, và sống rập theo một khuôn khổ đã ấn định chung cho tất cả mọi người.\nTheo Trang Tử, “tánh” của vật không đồng nhau, tức là chỗ mà nhà xã hội học ngày nay gọi là “những bất bình đẳng tự nhiên”. Vậy, chỗ “không đồng” (bất tề 不 齊) của vạn vật, ta phải biết “nhận lãnh”, biết “chịu” nó, và hãy để cho mỗi vật tự do sống theo cái sống của nó. Đó là nhân chỗ “bất đồng” mà làm cho vạn vật “đồng nhau” vì mỗi vật đã được tự do sống theo “bản tánh” của mình.\nTất cả mọi xã hội, luân lí từ xưa đến nay đều, ít hay nhiều, quy định một cái tận thiện mẫu để làm tiêu chuẩn chung cho tư tưởng hành vi con người và bắt buộc người người đều theo đó mà sống. Đó là cưỡng ép chỗ “không thể đồng” phải “đồng nhau”. Phải chăng là điều rất sái với tự nhiên, làm thống khổ cho con người vô cùng! Mỗi vật đều có cái tánh tự nhiên của nó: sự ưa ghét cũng vì đó mà không thể “đồng” nhau. Nay lại cưỡng ép người người đều phải thừa nhận một lẽ phải khác với cái lẽ phải của họ, khác với lòng hiếu ố riêng của họ, là làm cho họ mất tự do sống theo cái sống của họ. Cho nên, tự do và bình đẳng không thể đi đôi với nhau được: hễ được tự do thì không bình đẳng, mà theo bình đẳng, cái thứ bình đẳng san bằng mọi vật, thì mất tự do.\nTheo Trang Tử thì không phải vậy. Tự do và bình đẳng lại đi đôi với nhau như bóng với hình. Sở dĩ con người được bình đẳng là nhờ có tự do, mà được tự do là nhờ có bình đẳng. Nhận có tự do và quý trọng tự do thì mới có cầu mong cho vạn vật, mỗi vật đều được tự do sống cái sống của mình. Mà, nếu vạn vật, vật nào cũng sống được cái sống của mình, đó là vạn vật nhờ tự do mà được bình đẳng. Cũng như, nhận có bình đẳng thì mới chịu để cho vạn vật, vật nào cũng được sống theo mình thì vạn vật, vật nào cũng nhờ đó mà được tự do.\nTóm lại, phàm đã chủ trương tự do tuyệt đối, ắt cũng phải chủ trương bình đẳng tuyệt đối. Là vì nếu không thừa nhận bình đẳng tuyệt đối, mới có cho rằng giữa người và người, giữa vật và vật có cái nầy hay hơn cái kia, hoặc có cái kia hay hơn cái nầy. Đã nhận có cái nầy hay hơn cái kia, người này hay hơn người kia mới có cho rằng người hay phải lo cải tạo người không hay, để cho đó trở về đường hay theo quan niệm chủ quan tạm thời của mình. Như thế là ta không nhận có tự do của con người. Không nhìn nhận tự do của con người mới có sự cưỡng ép kẻ khác phải sống theo quan niệm về điều phải lẽ quấy theo ta, không được sống tự do theo cái sống của họ. Nếu đó không phải là chuyên chế, thì đâu mới là chuyên chế?\nNgười người đều được tự do sống theo mình, thì cái “phải” của mọi người đều được xem là “phải” cả, và cái “đẹp” của mọi người cũng đều được xem là “đẹp” cả. Vậy thì “mọi vật dưới trời không còn vật nào tự nó là không tốt đẹp; mọi ý kiến dưới trời không có ý kiến nào là “không ngang bằng”, nghĩa là bình đẳng như nhau tất cả.\nThị phi, thiện ác là một vấn đề tương đối. Nhưng, tiến thêm một bước sâu hơn, ta lại thấy: Thị cũng do Phi mà có, Phi cũng do Thị mà sinh, cũng như Thiện do Ác mà sinh, Ác do Thiện mà có.\nTrang Tử nói:\n*“ (...) Đó do Đây mà ra;\nĐây nhân Đó mà có (...)” * *Đó do Đây mà ra, Đây nhân Đó mà có*(比 出 於 是, 是 亦 因 彼), đó là muốn nói đến cái luật\nđối đãi, mà cũng vừa muốn nói đến\ncái luật “vật cùng tắc biến”, và hễ biến\nthì biến thành đối đích của nó.\nVà lên đến một tầng cao hơn nữa,\nta sẽ thấy thị phi chẳng những là một\nlẽ đối đãi, bổ khuyết cho nhau “nhất âm\nnhất dương chi vị Đạo”, mà Thị tức\nlà Phi, Phi tức là Thị: cả hai là đồng nhất.\nBởi vậy, Trang Tử mới nói: “\n*Vật, không\nvật nào là không phải Đây, không vật nào là không\nphải Đó (...) Đó cũng là Đây, mà Đây cũng\nlà Đó *(物 無 非 彼,物 無 非 是。。。是 亦 彼 也,彼 亦 是 也).\nĐó và Đây đã là một, thì Đó và Đây riêng ra, đâu có thật. Hay nói một cách khác: cái phải của Đây là cái quấy của Đó, mà Đó là Đây, Đây là Đó, thì chung quy phải và quấy là một vậy.\nĐây và Đó đã vô định, thì Phải và Quấy cũng vô định, vậy mà người đời lại muốn định phải quấy nên mới có sự tranh biện và giành phần phải cho mình. Nhưng, tranh biện nhau có đủ để rõ đặng đâu là phải, đâu là quấy chăng?\nThiên Tề Vật Luận nói: “\n*Ta với\nngươi cùng tranh biện: ngươi thắng\nđược ta, ta không thắng được\nngươi, vậy ngươi hẳn đã là phải, mà\nta hẳn đã là quấy chưa? Nếu ta thắng\nđược ngươi, ngươi không thắng\nđược ta, vậy ta hẳn đã là phải, mà\nngươi hẳn đã là quấy chưa? Hay là, khi thì\nphải, khi thì quấy hay sao? Hay là cả hai chúng ta\nđều phải cả, hoặc cùng quấy cả hay\nsao? Ta và ngươi không thể biết được\nnhau, thì người người đành phải chịu\ntối tăm rồi! Ta phải nhờ ai chánh lại\nviệc ấy? Nhờ kẻ đồng với\nngươi chăng để chánh lại việc ấy?\nNó đã đồng với ngươi thì làm sao chánh lại\nđược việc ấy. Cậy người\nđồng với ta để chánh lại việc ấy\nư? Nó đã đồng với ta thì làm sao chánh\nđược việc đó? Cậy người khác\nvới ta và khác với ngươi để chánh\nđược việc đó ư? Nó đã khác với ta và\nkhác với ngươi, thì làm sao chánh được\nviệc đó. Cậy người đồng với ta và\nđồng với ngươi để chánh lại\nviệc đó ư? Nó đã đồng với ta và\nđồng với ngươi, thì làm sao chánh\nđược việc đó? Vậy thì ta với\nngươi, cùng với người đó đều không\nthể biết nhau được, sao phải chờ\nngười đó làm gì?” *\nVậy thì, tuy tranh biện mà phải quấy\ncũng không sao định đặng. Là vì còn thấy có\nĐó, có Đây. Khi mà lòng mình không còn chia phân Nhĩ Ngã,\nsống được trong cái Sống Một của\nĐạo rồi, thì Đó là Đây, Đây là Đó,\nvấn đề Phải Quấy, Thiện Ác tự nhiên\ntheo đó cũng tiêu tan như một cơn mộng mị.\nMột nhà Đạo học Ấn Độ ngày nay, J. Krisnamurti,\nnói rất chí lý:\n*“Không có vấn đề nào\nđể giải quyết cả: chỉ có cái Sống\nđể sống mà thôi”*.\n⸈⸈⸈\n“Phải là một lẽ vô cùng; quấy cũng là\nmột lẽ vô cùng” (是 亦 一 無 窮,非 亦 一 無 窮)nghĩa là phải và quấy như\ntrên cái vòng tròn, không biết đâu là khởi điểm. Ta\ncần đứng ở trung tâm của cái vòng ấy (hoàn\ntrung) để chịu đây chịu đó. Chỗ trung\ntâm ấy, gọi là Đạo Xu (cốt của bánh xe\nĐạo).”\n*Thánh nhân vì chỗ hòa mà nói thị nói phi,\nrồi đứng yên nơi Thiên Quân: đó gọi là\nlưỡng hành” *(是 以 聖 人 和 之 以 是 非 而 休 乎 天 鈞,是 之 為 兩 行). Lưỡng hành là “không rời\nkhỏi thị phi, mà lại vượt thoát khỏi\nthị phi”.\nThánh nhân đối với thị phi có hai cách cư xử:\n**1) **Đối với mình, thì tâm trí hợp nhất,\nchỉ thấy có cái Sống Một mà không thấy có\nthị phi. **2) **Đối với người, thì biết\nphải quấy là hai lẽ tương đối\nnương nhau mà có, nên cứ đứng yên nơi\ntrục quân bình để mà hòa với mọi người,\ntức là chỗ mà Trang Tử gọi *“triêu tam mộ\ntứ”*(朝 三 暮 四).\n⸈⸈⸈\nNếu bảo rằng không có cái phải nào\nlà tuyệt đối, tại sao Trang Tử lại bài bác\nchế độ luân lý của người đương\nthời, há không phải đó là tự mâu thuẫn với\nmình sao? Không. Trang Tử có bao giờ cho rằng có một\ncái phải nào là cái phải tuyệt đối để\nlàm mẫu mực cho thiên hạ loài người đâu!\nSở dĩ có bài bác chăng là bài bác cái óc thiên tư\nđộc đoán cho rằng chỉ có mình là phải mà\nthiên hạ đều quấy, và cái phải hay cái quấy\nchỉ là một trạng thái tạm thời và luôn luôn\nphản biến bất thường, không thể dụng\ntư tâm đem cái quan niệm về điều phải\nlẽ quấy của riêng mình mà bắt cả thảy thiên\nhạ cùng theo, và nhân đó làm cho con người thống\nkhổ. Vậy chứ cái mà thiên hạ thường\ngọi là\n*lo đời *chẳng phải là lo\nđem thiên hạ vào cùng một khuôn tư tưởng\nnhư mình sao? Và “hễ đồng với ta, cho ta là\nphải, không đồng với ta, cho ta là quấy”, hay nói một\ncách khác, kẻ nào không cùng với ta, là nghịch với ta. Thiên\nhạ từ xưa đến nay sở dĩ mà loạn,\nlà vì phần nhiều ai ai cũng tưởng cái phải\ncủa mình là tuyệt đối, nghĩa là chỉ có mình\nlà phải. Không thế, thì sao có những chế độ\nđộc tài đã làm điêu linh thống khổ thiên\nhạ!\n⸈⸈⸈\n**B. Sự bình đẳng giữa Sống và\nChết**\nBình đẳng giữa thị phi...đưa ta đến một vấn đề không kém quan trọng hơn: vấn đề sống chết.\nTheo Trang Tử thì trong trời đất, chỉ có một cái sống mà thôi, tức là cái sống không sinh, không tử. Còn nói đến sống và chết, những hình thức đối đãi nhau mà có, thì đó chỉ là một sự “thành hoại” của một trạng thái trong cuộc đại hóa của Trời Đất thôi. Sống chết, theo Trang Tử là một “cột”, một “mở”(生 為 縣,死 為 解), một “đi” một “lại”(死 生 一 去 一 來)nối tiếp nhau như trên cái “vòng tròn”.\nCái sống của ta đối với hình\nthể ta, như “\n*lửa đối với củi”*. Cái\nsống ấy như lửa truyền từ bó củi này\nsang bó củi kia: “Hỏa truyền mãi mà không tắt, cái\nMạng quấn mãi mà không tuyệt”(火 傳 而 不 滅,命 綪 而 不 絕).\nChết, là từ hình thức của một\nvật hiện tại nầy chuyển qua một hình\nthức khác. Nếu từ cảnh nầy đổi qua\ncảnh khác mà sanh lòng lo sợ, thì có khác nào cảnh\ncủa\n*“nàng Lệ Cơ, con của một vị\nphong nhơn xứ Ngại, gả cho vua nước Tấn.\nKhi sắp về nhà chồng, lụy ướt dầm bâu.\nKịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng,\nnếm mùi sô hoạn, rồi lại hối hận giọt\nlệ ngày xưa” *mà không chịu trở về quê\ncũ. Như ta cho hình thức hiện đây là đáng vui\nmừng, thì sau khi chết, chỗ ta sẽ đặng hình\nthức mới, sao lại biết không có chỗ đáng vui\nmừng như bây giờ, hoặc hơn bây giờ?\nThiên Đại Tông Sư 大 宗 師 cũng có nói:\n“\n*Gặp hình người mà vui riêng với đó. Mà hình\nngười là gì? Hồi vị thủy trong vô cực, theo\nvạn hóa mà có nó ra. Vậy, vui với đó, nhận\nriêng nó (mà không nhận cái khác) có phải lẽ không?*(特 逢 人 之 形 而 猶 善 之。若 人 之 形 者,萬 化 而 未 始 有 極 也,其 為 樂 可 勝 計 邪 ?). Giải thích đoạn văn trên\nđây, Quách Tử Huyền viết: “ *Trong muôn vàn hình\nthức của vạn vật, hình thức của\nngười là một. Gặp được hình thức\nấy,chưa đủ riêng vui với nó mà thôi sao? Trong vô\ncực, chỗ gặp mới của vạn vật\nđều như con người, há chỉ riêng có con\nngười là biết vui với cái hình mới ấy mà\nthôi; còn bao nhiêu vật khác đều không biết vui với\nhình thức của chúng như con người sao?”. *Gốc\nta đâu phải là người mà biến thành con\nngười. Hóa làm người, đó là ta đã mất cái\nchỗ cũ kia, nhưng tuy mất cái cũ mà lại vui,\nlà vui chỗ “gặp mới” khác nầy đây. Mà cuộc\nbiến hóa thì vô cùng, thì chỗ “gặp mới” cũng\nsẽ vô tận.\nChúng ta đi trên con đường biến hóa vô cùng của trời đất, có khác nào một lữ khách: cảnh nào cũng mới, chỗ nào cũng đẹp. Nhưng đừng để cho cảnh nào trói buộc được mình, vì trên đời không còn biết bao cảnh lạ bất ngờ vui đẹp khác đang chờ đợi ta.\nTrang Tử cũng có nói: “\n*Giá như cánh tay trái\ntôi hóa làm con gà, thì tôi nhân đó mà gáy canh. Giá như cánh tay\nphải tôi hóa làm hòn đạn, tôi nhân đó mà kiếm chim\nquay. Giá như hóa cái xương cùng của tôi thành bánh xe,\nlấy cái thần hồn tôi làm con ngựa thì tôi sẽ nhân\nđó mà cỡi lên, há còn phải đợi xe ngựa nào\nnữa. Vả đắc là thời, thất là thuận. An\nthời xử thuận thì buồn vui làm sao vào đặng\ncõi lòng”. *\nTóm lại, bậc chân nhân ngày xưa “không ham sống, không ghét chết”, ra không vui, về không buồn, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi...luôn luôn “an thời xử thuận” vì vậy mới giải quyết được dứt khoát vấn đề sinh tử(古 之 真 人 不 知 說 生 而 惡 死,其 出 不 訢 其 入 不 距,悠 然 而 往,悠 然 而 來 而 已 奚).\n**C. TA VÀ VẬT BÌNH ĐẲNG**(物 我 為 一) *“Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là\nbướm, vui phận làm bướm, tự nhiên thích chí\nkhông còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là\nChâu. Không biết Châu chiêm bao là Bướm, hay Bướm\nchiêm bao thấy mình là Châu? Châu và Bướm ắt phải\ncó tánh phận khác nhau. Đó gọi là vật hóa”. *\n⸈⸈⸈\n*“Không biết Châu chiêm bao là Bướm, hay\nBướm chiêm bao là Châu?” *Một câu hỏi có\nthể bao trùm được cả vấn đề *“Vật\nNgã bình đẳng”. *Sự hỗn hợp giữa Ta (Trang\nChâu) và Vật (con bướm) hồn nhiên đến không\nthể biết đâu là thực, đâu là mộng. Và\nnhư vậy, mộng cũng là thực, thực cũng là\nmộng, và Ta cũng là Vật, Vật cũng là Ta. Ta và\nVật là Một.\nNgoài sự bình đẳng của thọ yểu, lớn nhỏ, nên hư, há chẳng phải đều do đây mà ra cả hay sao?\n⸈⸈⸈\nNgười ta thường bảo thiên Tề\nVật Luận là một thiên tinh thâm kỳ diệu. Nhưng\nchỗ tinh thâm nhất là ở đoạn đầu\ncủa thiên, tức là chỗ mà Tử Kỳ giảng cho\nNhan Thành Tử Du về cái ý nghĩa của\n*“Thiên\nlại”, “Địa lại” *và “ *Nhơn lại”. * *Nhơn lại*(人 籟)là “sáo\nngười”...Tiếng sáo tuy có cao thấp, dài ngắn khác\nnhau, mà tựu trung chỉ do một hơi thổi vào mà gây\nnên: tùy lỗ hổng lớn nhỏ gần xa mà phát ra\nđủ loại âm thinh khác biệt. Hơi thổi đó\n(mà Tử Kỳ gọi là *Gió *đối với *Địa\nlại*) tức là Đạo 道, động cơ duy nhất gây thành muôn\nđiệu âm thinh, cũng như vạn vật. *“Hơi thổi” *của nhạc công, cũng\nnhư *“gió thổi” *mà im bặt, thì cả\nthảy “sáo người”, “sáo đất” sẽ cùng im lặng,\nkhông còn có gì cả. Cho nên *“hơi thổi” *hay *“gió\nthổi” *là cái chánh, tuy không thấy, nhưng mà có. Trái\nlại, âm thinh muôn điệu ồn ào, tuy có mà kỳ\nthật, là không.\nChương Tề Vật, chung quy là để\ngiảng về một chữ\n*Hòa*和. Sáo, là nhạc; nhạc, là\nđiều hòa tất cả những gì mà riêng ra, không\nthể hòa nhau mà lại còn chống đối nhau là khác,\nnhư những giọng cao giọng thấp, tiếng thô\ntiếng trong, tiếng dài tiếng ngắn...Sự vật\ntuy khác nhau, chống đối nhau như Thị Phi,\nThiện Ác...thế mà lại hòa nhau, nên mới gọi là\nđồng nhau, và đặt tên là Tề Vật. Trang\nTử dùng *“nhơn lại” *để dẫn\nqua *“địa lại” *và nhân *“địa\nlại” *mà bàn qua *“thiên lại”*.” *Thiên\nlại” *là yếu điểm của toàn thiên: sự\nđiều hòa của tất cả mọi bất\nđồng mâu thuẫn trên đời.\nGiảng rộng thiên nầy, thiên Thu Thủy 秋 水 viết:\n*“Hải thần nói: ‘Cùng\nếch giếng không thể nói biển đặng: nó\nchỉ biết cái hang nó mà thôi. Cùng con trùng mùa hạ, không\nthể nói tuyết đặng: nó chỉ biết có một\nmùa của nó mà thôi. Cùng kẻ khúc sĩ hẹp hòi, không\nthể nói chuyện Đạo được: họ\nbị ràng buộc trong giáo lý của họ mà thôi (...). Dưới\ntrời, nước không đâu nhiều bằng biển. Đó\nlà nơi muôn sông chảy về, không bao giờ vơi. Rồi\nnước biển lại chảy qua ngả đông mà\nkhông hề lưng. Xuân, Thu, mưa nắng không đổi\nnó, mà nó cũng không hay. Hơn rạch sông không biết\nlượng số nào mà ta chưa từng cậy đó là\nnhiều, là vì tự xét, sánh với Trời Đất âm\ndương, ta chẳng khác nào một viên đá nhỏ,\nmột gốc cây nhỏ trong dãy núi to. Đã rằng là ít,\nsao thấy mình nhiều? Bốn biển, ở trong trời\nđất phải chăng chỉ như một cái hang\nnhỏ trong chầm lớn hay sao? Vạn vật, lấy\nsố muôn mà nói thì người được có số\nmột thôi. Lấy chín châu là nơi lúa thóc sanh sản thuyền\nxe thông hành mà sánh, thì người cũng không qua số\nmột. Người đối với vạn vật, khác\nnào một sợi lông trong mình ngựa. Chỗ liên tiếp\ncủa ngũ đế, chỗ tranh giành của tam hoàng,\nchỗ lo lắng của người nhân, chỗ nhọc\nnhằn của kẻ sĩ, rốt lại có chi: Bá Di\ntừ ngôi, lấy đó làm danh; Trọng Ni nói ra, cho vậy\nlà rộng. Mấy cái mà họ cho là nhiều đó, khác nào\nngươi trước khi thấy biển”. *\nĐó là thiên tương đối luận có lẽ hùng hồn nhất từ xưa đến nay ở Đông Phương nầy!\n\n**A.** 吾 生 也 有 涯,而 知 也 無 涯。以 有 涯 隨 無 涯,殆 已。\n已 而 為 知 者,殆 而 已 矣!為 善 無 近 名,為 惡 旡 近 刑 ; 緣 督 以 為 經,可 以 保 身,可 以 全 生,可 以 養 親,可 以 盡 年。\n**A.** Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri 1 dã vô nhai;\ndĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ! 2\nDĩ nhi vi tri giả, đãi nhi dĩ hĩ. Vi\nthiện vô cận danh, vi ác vô cận hình. Duyên đốc\n3 dĩ\nvi kinh, khả dĩ bảo thân, khả dĩ toàn sinh,\nkhả dĩ dưỡng thân, khả dĩ tận niên. 4\n**CHÚ**\n1.\n*Tri *知: ở đây có nghĩa là sự\nhiểu biết theo nhị nguyên; nhân đó mới có sự\nlo âu, nghĩ ngợi, do lòng đèo bòng tham muốn chạy\ntheo ngoại vật cũng như chạy theo cái học\ntrục vật. Lão Tử bảo: *“Vi học nhật\ních”*(為 學 日 益).\n2. Theo Trang Tử,\nở thiên Tề Vật\n*, *thì không có gì là thật\nphải, thật quấy, thật thiện, thật ác\nmột cách tuyệt đối. Có cái thiện không nên làm, có\ncái ác cần phải làm, để lập lại thế\nquân bình. Nhưng làm việc thiện không nên vì danh (tức\nlà vị ngã), làm việc ác không nên vì nó mà lụy thân: cả\nhai đều làm thương sinh cả.\n3.\n*Duyên đốc *緣 督. *Duyên *緣 có nghĩa thuận 順; *đốc *督là giữa(中). Muốn giữ được\nđạo dưỡng sinh, cần ăn ở mực\nthước, đừng có cái gì thái quá. No quá, đói quá\nkhông nên; vui quá, buồn quá cũng không nên.\n4. Nếu làm việc thiện (ám chỉ các việc phải, việc lành) thì coi chừng, đừng để sa vào cái bẫy của tấm lòng hiếu danh; còn làm việc chẳng phải (sái với phép nước, sái với luân lý đạo đức của xã hội mình đang sống) thì phải phòng người trong xã hội trừng phạt lên án. Tránh hai lẽ cực đoan ấy, mà dùng đến trung đạo và nên lấy đó làm phương châm xử thế thì suốt đời có lẽ sẽ giữ được mình, có thể toàn được sinh mạng, hưởng được hết tuổi trời.\nLàm sái với phép nước\nđể đến bị xã hội tru lục, đành\nrằng, đó là không biết cách phòng hoạn cho bản\nthân, nhưng làm việc thiện, làm việc phải\nđể được tên tuổi vang lừng trong thiên\nhạ, cũng chưa phải là biết cách phòng hoạn\nnữa. Bởi vậy, ở thiên Nhơn Gian Thế\nsách\n*Trang Tử *cũng có câu: *“Cây trên núi,\ntự nó là cừu địch của nó...Cây quế ăn\nđược, nên bị đốn. Cây sơn dùng\nđược, nên bị chặt”. *Con người mà có\ntài và để cho người người đều\nbiết mình là có tài, thì sẽ như cây sơn, cây quế...bị\nchặt, bị đốn.” *Người ta đều\nbiết cái lợi của hữu dụng, mà không biết\ncái lợi của vô dụng.” *\n**DỊCH NGHĨA**\n**DƯỠNG SINH\nCHỦ** **A. ** *Sinh lực của\nta thì có hạn, mà sự muốn biết của ta thì không\nbờ bến. Đem cái có hạn (như sinh lực\ncủa ta) để mà chạy theo cái không bờ bến (như\nlòng ham muốn của ta) là nguy vậy! Đã biết\nthế, lại không dừng, càng nguy hơn nữa. Làm\nviệc thiện mà không bị danh ràng buộc; làm việc\nác mà không bị hình phạt tru lục. Thuận theo con\nđường giữa mà đi, thì có thể giữ\nđược thân mình, có thể toàn được sinh\nmạng, có thể nuôi dưỡng mẹ cha và có thể\nhưởng được hết tuổi trời. *\n⸈⸈⸈\n**B.** 庖 丁 為 文 惠 君 解 牛,手 之 所 觸,肩 之 所 倚,足 之 所 履,膝 之 所 踦,砉 然 嚮 然 奏 刀 騞 然,莫 不 中 音,合 於 桑 林 之 舞,乃 中 經 首 之 會。\n文 惠 君 曰:「譆,善 哉!技 蓋 至 此 乎 ﹖」\n庖 丁 釋 刀 對 曰:「臣 之 所 好 者 道 也。進 乎 技 矣。始,臣 之 解 牛 之 時,所 見 無 非 牛 者,三 年 之 後,未 嘗 見 全 牛 也。方 今 之 時,臣 以 神 遇 而 不 以 目 視,官 知 止 而 神 欲 行,依 乎 天 理,批 大 卻,導 大 窾,因 其 固 然,技 經 肯 綮 之 未 嘗,而 況 大 軱 乎!良 庖 歲 更 刀, 割 也 ; 族 庖 月 更 刀,折 也 ; 今 臣 之 刀 十 九 年 矣,所 解 數 千 牛 矣,而 刀 刃 若 新 發 於 硎。彼 節 者 有 閒,而 刀 刃 者 無 厚 ; 以 無 厚 入 有 閒,恢 恢 乎 其 於 遊 刃 必 有 餘 地 矣。是 以 十 九 年 而 刀 刃 若 新 發 於 硎。雖 然,每 至 於 族,吾 見 其 難 為,怵 然 為 戒,視 為 止,行 為 遲。動 刀 甚 微,謋 然 以 解,如 土 委 地。提 刀 而 立,為 之 四 顧,為 之 躊 躇 滿 志,善 刀 而 藏 之。」\n文 惠 君 曰:「善 哉!吾 聞 庖 丁 之 言,得 養 生 焉。」\n**B.** Bào Đinh 1 vi\nVăn Huệ Quân 2 giải ngưu 3,\nthủ chi sở xúc, kiên chi sở ỷ, túc chi sở lý,\ntất chi sở kỳ, hoạch nhiên hướng nhiên\ntấu đao hao nhiên, mạc bất trúng âm, hợp ư\nTang Lâm chi vũ, nãi trúng Kinh Thủ chi hội.\nVăn Huệ Quân viết: “Hi, thiện tai! Kỹ khái chí thử hồ?”\nBào Đinh thích đao đối viết:\n“Thần chi sở háo giả, Đạo dã. Tiến hồ\nkỹ hĩ. Thủy, thần chi giải ngưu chi\nthời, sở kiến vô phi ngưu giả, tam niên chi\nhậu, vị thường kiến toàn ngưu dã. Phương\nkim chi thời, thần dĩ thần ngộ nhi bất\ndĩ mục thị, quan tri chỉ, nhi thần dục hành,\nỷ hồ thiên lý, phê đại khước, đạo\nđại khoản, nhân kỳ cố nhiên, kỹ kinh\nkhẳng khải chi vị thường, nhi huống\nđại qua hồ. Lương bào tuế cánh đao, cát\ndã tộc bào, nguyệt cánh đao, chiết dã. Kim thần\nchi đao thập cửu niên hĩ, sở giải sổ\nthiên ngưu hĩ, nhi đao nhẫn nhược tân phát\nư hình. Bỉ tiết giả hữu gian, nhi đao\nnhẫn giả vô hậu; dĩ vô hậu nhập hữu\ngian\n4, khôi khôi hồ kỳ ư du nhẫn tất\nhữu dư địa hĩ. Thị dĩ thập\ncửu niên nhi đao nhẫn nhược tân phát ư hình. Tuy\nnhiên mỗi chí ư tộc, ngô kiến kỳ nan vi,\ntruật nhiên vi giới, thị vi chỉ, hành vi trì,\nđộng đao tối vi, hoách nhiên, dĩ giải,\nnhư thổ ủy địa. Đề đao nhi\nlập, vi chi tứ cố, vi chi trừ mãn chí. Thiện\nđao nhi tàng chi.”\nVăn Huệ Quân viết:\n“Thiện tai! Ngô văn Bào Đinh chi ngôn, đắc dưỡng sinh yên.”\n**CHÚ**\n1.\n*Bào *庖: là người đầu bếp(庖 人). Ở đây lấy nghề làm họ. *Đinh *丁: là tên của người đầu bếp. Theo\nChu Quế\nDiệu\ndẫn\n*Thích Văn*(釋 文:庖 丁,丁 其 名 也).\n2.\n*Văn Huệ\nQuân *文 惠 君: tức là *Lương Huệ\nVương *梁 惠 君.\n3.\n*Ngưu *牛: là bò. (Ta thường nhận\nlầm chữ 牛 là trâu. Con trâu\ngọi là *thủy ngưu *水 牛).\n4. Ở đây,\nđọc là\n*gian*: hai chữ nầy cổ văn\ndùng lẫn nhau.\n**DỊCH NGHĨA**\n**B.** *Bào Đinh\nmổ bò cho Văn Huệ Quân. * *Lúc ra thịt, điệu bộ của tay\nđộng, của vai đưa, của chơn\nđạp, của gối chạm, tiếng da xương\nlìa nhau, tiếng dao cạo cắt đều trúng cung\nbực, hợp với điệu múa Tang Lâm, với bài\nnhạc Kinh Thủ. * *Văn Huệ Quân nói: “Hay thật! Nghệ\nthuật đến đó là cùng!” * *Bào Đinh buông dao, thưa rằng: “Cái chỗ\nưa thích của thần, là Đạo. Ban sơ, lúc ra\nthịt một con bò, chỗ mà thần chỉ có thấy mà\nthôi, là con bò. Về sau ba năm, thần không còn thấy con\nbò nữa. Bấy giờ, thần không dùng con mắt\nđể nhìn, mà dùng cái ‘thần’ để xem: ngũ quan\ndừng lại, mà ‘thần’ thì muốn đi, nương\ntheo thiên lý. Tách các gân lớn, lùa các khớp lớn, nhân chỗ\ncố nhiên của nó mà cắt. Bắp thịt còn không\nxắt qua, huống chi là khớp xương to. Người\nbếp thường mỗi tháng thay dao một lần, vì\nhọ chặt. Nay con dao của thần đã dùng\nmười chín năm; số bò đã mổ có trên nghìn con,\nvậy mà dao như mới mài xong. Các khớp xương\nkia có kẽ hở mà lưỡi dao nầy thì mỏng. Lấy\ncái bề mỏng của con dao mà đưa vào chỗ\nkẽ, thì rộng có thừa. Vì vậy mà lưỡi dao\nđã dùng mười chín năm nay vẫn còn sắc như\nmới mài. Tuy vậy, mỗi khi gặp những chỗ gân\nxương sát nhau quá cảm thấy khó làm, thì thần\nphải nhìn kỹ, hành động chậm lại; con dao\ncử động một cách rất nhẹ nhàng, thế mà\nthịt lại đứt và rơi xuống như bùn\nrơi xuống đất. Bấy giờ thần cầm\ndao đứng yên, ngảnh nhìn bốn phía, đắc ý vì\nđược con dao tốt, rồi đem cất nó đi.\n. .” * *Văn Huệ Quân nói: “Hay biết chừng nào! Ta\nnghe lời nói của Bào Đinh mà hiểu được\ncái đạo dưỡng sinh!” *\n⸈⸈⸈\n**C.** 公 文 軒 見 右 師 而 驚 曰:「是 何 人 也 ?惡 乎 介 也 ? 天 與,其 人 與 ?」\n曰:「天 也,非 人 也。天 之 生 是 使 獨 也, 人 之 貌 有 與 也。以 是 知 其 天 也,非 人 也。」\n澤 雉 十 步 一 啄,百 步 一 飲,不 蘄 畜 乎 樊 中。神 雖 王,不 善 也。\n**C.** Công Văn Hiên\nkiến Hữu Sư 1 nhi kinh viết: “Thị\nhà nhơn dã? Ô hồ giới 2 chi? Thiên dư,\nkỳ nhơn dư?”\nViết: “Thiên dã, phi nhơn dã. Thiên chi sinh thị\nsử độc dã. Nhơn chi mạo hữu dư\n3 dã;\ndĩ thị tri kỳ thiên dã, phi nhơn dã.”\nTrạch trĩ thập bộ nhứt trác bách\nbộ nhứt ẩm; bất kỳ súc hồ phàn\n4 trung,\nthần tuy vượng 5, bất thiện dã.\n**CHÚ**\n1.\n*Hữu Sư *右 師: một tước quan.\n2.\n*Giới *介: Một chơn. Người\nmột chơn.\n3.\n*Hữu dư *有 與: hai chơn cùng đi(兩 足 並 行 也).\n4.\n*Kỳ *蘄: cầu mong. *Phàn *樊: cái lồng.\n5. Đọc là\n*vượng *旺.\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Công Văn Hiên\nthấy vị quan Hữu Sư mà kinh ngạc: * **- ** *Ấy là ai đó vậy? Tại sao mà lại\nchỉ còn có một chơn? Trời làm ra thế chăng?\nHay người làm ra thế chăng? * *Hữu Sư đáp: * **- ** *Do Trời đấy, không phải do người\nđâu. Trời sinh ta, bắt phải một chơn. Hình\ndung của con người thì phải có hai chơn cùng\nđi mới được. Vì vậy, mới biết\nrằng, đó là do Trời, chứ không phải do\nngười làm ra. * *Con trĩ ở trong chầm, mười\nbước đi, một lần mổ, trăm\nbước đi, một lần uống, nhưng nào có mong\nđược nuôi dưỡng ở trong lồng. Thần\nthái tuy khỏe, nhưng ai đâu có ưa việc ấy. *\n⸈⸈⸈\n**D.** 老 聃 死,秦 失 弔 之,三 號 而 出。\n弟 子 曰:「非 夫 子 之 友 邪 ?」 曰:「然。」\n「然 則 弔 焉 若 此,可 乎 ?」\n曰:「然。始 也 吾 以 為 其 人 也,而 今 非 也。向 吾 入 而 弔 焉,有 老 者 哭 之,如 哭 其 子; 少 者 哭 之,如 哭 其 母。彼 其 所 以 會 之, 必 有 不 蘄 言 而 言,不 蘄 哭 而 哭 者,是 遁 天 倍 情,忘 其 所 受,古 者 謂 之 遁 天 之 刑。適 來,夫 子 時 也 ; 適 去,夫 子 順 也。安 時 而 處 順,哀 樂 不 能 入 也,古 者 謂 是 帝 之 縣 解。」\n指 窮 於 為 薪,火 傳 也,不 知 其 盡 也。\n**D.** Lão Đam tử. Tần\nThất điếu chi, tam hào nhi xuất. Đệ tử\nviết: “Phi Phu tử chi hữu da?”\nViết: “Nhiên.”\n“Nhiên tắc điếu yên nhược thử khả hồ?”\nViết: “Nhiên. Thủy dã ngô dĩ vi kỳ\nnhơn dã, nhi kim phi dã. Hướng ngô nhập nhi\nđiếu yên, hữu lão giả khốc chi như khốc\nkỳ tử, thiếu giả khốc chi như khốc\nkỳ mẫu. Bỉ kỳ sở dĩ hội chi, tất\nhữu bất ky ngôn nhi ngôn, bất kỳ khốc nhi\nkhốc giả, thị độn thiên bội tình\n1 vong\nkỳ sở thọ, cổ giả vị chi độn\nthiên chi hình. Thích lai, phu tử thời dã.\nThích khứ\n2, phu tử thuận dã. An\nthời nhi xử thuận, ai lạc bất năng\nnhập giả.”\n“Cổ giả, vị thị Đế\n3 chi\nhuyền giải 4.”\n“Chỉ cùng ư vi tân, hỏa truyền dã,\nbất tri kỳ tận\n5 dã.”\n**CHÚ**\n1.\n*Bội tình *倍 情: Tình, là tình cảm vui buồn (vui\nđược, buồn mất) của thường\nnhơn chưa huyền đồng với tạo vật(未 玄 同 之 物 我).\n2.\n*Thích lai *適 來 là chỉ về cái *sống; thích\nkhứ *適 去 là chỉ về cái *chết.\n*\n3. Chữ 帝 (đế) là ám chỉ Tạo hóa, Tự nhiên (không phải là Thượng đế theo quan niệm Thần quyền).\n4.\n*Huyền\ngiải *縣 解: *Huyền*, là cột\nlại; *giải*, là mở ra. Ở thiên Đại\nTông Sư cũng có nói: “ *Đắc giả thời dã, thất\ngiả thuận dã; an thời nhi xử thuận, ai lạc bất\nnăng nhập dã, thử cổ chi sở vị huyền\ngiải dã”*(得 者 時 也,失 者 順 也,安 時 而 處 順 哀 樂 不 能 入 也,此 古 之 所 謂 縣 解 也。). Bởi vậy,\nchỗ mà Trang Tử gọi là huyền giải, là ám\nchỉ cảnh giới mà sống chết bằng nhau, quên\ncả sự đắc thất(同 死 生 忘 得 失 之 境 界).\n5.\n*Cùng *窮, tức là hết(盡), ám chỉ *củi.\n*Củi là thân thể; lửa, là tinh thần. Củi tuy có\nchỗ tận, chỗ cùng, nhưng hết bó nầy\nđến bó kia (vô tận), thì lửa truyền từ bó\ncủi nầy sang bó củi kia cũng vô đây. Ở\nđây ta thấy chủ trương của Trang Tử là\ntinh thần và vật chất đều nương nhau mà\ncó, đều là một, và sinh tử cũng là một.\n**DỊCH NGHĨA**\n**D.** *Lão Đam\nchết. Tần Thất đến điếu, khóc gào ba\ntiếng rồi bước ra. * *Học trò hỏi: * *- Không phải bạn của Thầy sao? * **- ** *Phải. * **- ** *Vậy thì, điếu như vậy coi\nđược không? * **- ** *Được chứ! Trước kia, đó là\nbạn ta thật; nay thì không phải vậy nữa. Lúc nãy\nta vào điếu, thấy có người già khóc như khóc\ncon, có người trẻ khóc như khóc mẹ. Cái chỗ\nhợp lại đó (cái xác của ông ta), có cầu ai nói\nđến mà nói, có cầu ai khóc nó mà khóc. Thế là đã\ntrốn trời, thêm tình, quên chỗ mình thọ lãnh. Người\nxưa gọi đó là hình phạt của sự trốn\ntrời. Vui mà đến, là phu tử an thời; vui mà\nđi, là phu tử xử thuận. An thời xử\nthuận, thì buồn vui không sao xâm nhập cõi lòng. Người\nxưa cho rằng đó là tháo mở cái sợi dây mà Tạo\nhóa đã cột ta vào cõi sống. Thì cũng như việc\nlửa và củi, lửa truyền mãi không biết\nđến đâu là cùng. *\n⸈⸈⸈\n**TỔNG BÌNH**\nỞ thiên Tề Vật, Trang Tử cho rằng sinh tử là một. Vậy sao còn quý cái sống mà dưỡng nó?\nHỏi thế là hỏi sai. Không ham sống, không\nsợ chết, xem tử như sinh, sinh như tử, và\nsinh tử là một, đó là cái đạo của Tề\nVật. Nhưng\n*ở cảnh nào phải biết vui\nvới cảnh ấy [42]*.\nĐang sống mà không lo dưỡng nó, để phải\ntật bệnh đau khổ, không biết thuận theo\ntự nhiên của đó mà dưỡng đó, thì còn đâu\ngọi là vui với đó! Không dưỡng đó\nđể cho đó đau khổ, như vậy là cầu\ncái chết hay sao? Có biết bao kẻ quá đau khổ,\nđi cầu cái chết để thoát khổ của\ncảnh sống đầy tật bệnh, đó chẳng\nphải coi cái chết là quý sao? Như vậy đâu còn\nphải là cái đạo của Tề Vật nữa!\n⸈⸈⸈\n**A.** Những nguyên nhân\nlàm cho ta thương sinh rất nhiều, nhưng không có chi\nnguy hiểm bằng tham vọng. Sự đèo bòng tham\nmuốn chạy theo ngoại vật, cũng như chạy\ntheo cái hiểu biết của cái học trục vật,\nđeo đuổi theo những vật bất thường\nvà mộng ảo, là mối ưu tư không bờ bến\nlàm mòn mỏi sinh lực con người không sao cứu\nđược. Bởi vậy, ở đầu thiên\nDưỡng Sinh, Trang Tử nói: *“Sinh lực của ta\nthì có hạn, mà sự muốn biết của ta thì không\nbờ bến. Đem cái có hạn (như sinh lực\ncủa ta) để mà chạy theo cái không bờ bến (như\nlòng ham muốn) là nguy vậy! Đã biết thế mà còn\nkhông biết dừng, càng nguy hơn nữa.” *\nTiến thêm bước nữa, ông nói: “\n*Làm\nviệc thiện mà không bị danh ràng buộc; làm việc\nác mà không bị hình phạt tru lục. Thuận theo con\nđường giữa mà đi, thì có thể giữ\nđược thân mình, có thể toàn được sinh\nmạng (...) có thể hưởng được tận\ntuổi trời.” *\nỞ thiên Biền Mẫu 騙 拇 có đoạn giải rất rõ cái ý nghĩa\ntrên đây:\n*“Bá Di vì danh mà chết ở núi Thú\nDương, còn Đạo Chích thì vì lợi mà chết\nở gò Đông Lăng. Hai người ấy, tuy cái\nchỗ theo mà chết không giống nhau, nhưng đều\nlàm tàn hại cái sống, thương tổn cái tánh mình\ncả. Chắc gì Bá Di là phải, mà Đạo Chích là\nquấy? Người trong thiên hạ đều chết\ntheo như thế cả. Nếu mà cái mình chết theo\nấy là nhân, là nghĩa, thì tục gọi là cái chết\ncủa người quân tử. Nếu cái mình chết theo\nấy là tiền bạc, thì tục gọi là cái chết\ncủa tiểu nhân. Cái chỗ mà mình chết theo chỉ có\nmột, vậy mà cũng quân tử tiểu nhân ư?\nĐến như cái việc tàn cái sống, tổn cái tánh,\nthì Đạo Chích cũng như Bá Di, đâu có khác nhau\nchỗ nào!” *\nNgười đạt Đạo, không thiên\nvề lẽ phải hay lẽ quấy, hoặc nói cho\nđúng hơn, đã vượt lên trên phải quấy và\nđã\n*“thuận theo con đường giữa” *(duyên\nđốc dĩ vi kinh 緣 督 以 爲 經) nghĩa là gìn\ngiữ quân bình(天 鈞), nên không thiên hẳn bên nào\nđến phải *“chết vì một cái gì cả”*dù\nlà cho lẽ phải hay lẽ quấy nào. Đạo là quân\nbình, bao giờ cũng ở trên thiện ác, cho nên\nngười đạt Đạo biết rằng\nthiện ác nương nhau mà có, trong thiện có ẩn cái\nác, trong ác có ẩn cái thiện, cho nên không vì điều\nphải lẽ quấy nào cả, mà phải ràng buộc mình\nvà lo âu đến phải thương sinh vì nó cả. Nghĩa\nlà người đạt Đạo là kẻ hoàn toàn\ntự do, không còn nô lệ bất cứ một bảng giá\ntrị về điều phải lẽ quấy của\nmột thứ luân lý tịnh nào nữa cả, cổ\ncũng như kim.\n⸈⸈⸈\n**B.** Lưỡi dao\ncủa Bào Đinh đi giữa xương thịt mà không\nchạm gân xương nên đặng lâu dài mà không mòn\nmẻ. Đạo dưỡng sinh của người\ncũng một thế: cứ hoạt động trong\nchỗ hư không, thuận với lý tự nhiên, thì vật\nkhông thương tổn được.\nLòng tham muốn của ta về những vật\nngoài ta, khác nào như gân xương, còn sinh lực của\nta khác nào như lưỡi dao. Hễ còn lòng tham muốn,\nđèo bòng theo những vật ngoài mình, tức là “những\nvật không tùng mình”...thì mới có lo sợ:\n*lo *được, *sợ *mất.\nĐắc thất, doanh hư, thị phi, vinh nhục...đều\nlà những cớ để làm náo loạn tinh thần,\nthương tổn sinh mạng. Tranh đấu với\nnhững điều không thể tranh được,\nnhư thị phi, vinh nhục, với những lẽ doanh\như đắc thất trong đời, thì tranh ắt\nphải thất, đó là đem “lưỡi dao bén” mà\nchạm vào “gân xương”, thì dao mòn lưỡi mẻ. Vì\nvậy mà Lão Tử mới đề xướng thuyết\nBất tranh(不 爭): *“Vì ta không tranh nên thiên hạ không\nai tranh nổi với ta”*(夫 唯 不 爭 是 以 天 下 莫 能 與 之 爭).\nTranh với nhau, là vì còn cùng nhận một\nbảng giá trị như nhau, chứ đối với\nkẻ đã vượt lên trên mọi giá trị về\nthị phi, thiện ác...thì còn đi tranh với họ\nphải quấy làm gì được nữa. Có ai lại đi\ntranh giành phú quý với kẻ đã xem thường phú quý?\nCho nên mới nói:\n*“Vì ta không tranh, nên thiên hạ không ai\ntranh nổi với ta”. *\n⸈⸈⸈\n**D.** Lại còn một\nnguyên nhân nữa làm cho con người thành một con\nvật đau khổ nhất trên đời, là lòng ham sống,\nsợ chết *. *Lòng ham sống và sợ chết mà không\ncòn, thì tinh thần ta mới không náo loạn. Tinh thần mà\nkhông náo loạn, thì bệnh hoạn do đâu mà sinh ra?\n“\n*Lão Đam chết. Tần Thất đến\nđiếu, khóc gào ba tiếng rồi bước ra: * *Học trò hỏi: * *- Không phải bạn của Thầy sao? * **- ** *Phải. * **- ** *Vậy thì, điếu như thế coi\nđược không? * **- ** *Được chứ! Trước kia, đó là\nbạn ta thật; nay thì không phải vậy nữa. Lúc nãy\nta vào điếu thấy có người già khóc như khóc\ncon, có người trẻ khóc như khóc mẹ. Cái xác\nấy có cầu ai nói đến mà nói, có cầu ai khóc nó mà\nkhóc. Thế là đã trốn Trời, thêm tình, quên chỗ\nmình thọ lãnh. Người xưa gọi đó là cái hình\nkhổ của sự trốn Trời. Vui mà đến, là\nphu tử an thời, vui mà đi, là phu tử xử\nthuận. An thời xử thuận, thì buồn vui không sao\nxâm nhập được cõi lòng. Người xưa\ngọi đó là huyền giải. Thì cũng như việc\nlửa với củi; lửa truyền mãi không biết\nđến đâu là cùng.” *\nDùng lửa mà nhen củi, củi tận mà tưởng là lửa tận, đó là chỗ thấy của thường nhơn. Thật ra, củi có tận, mà lửa thì vô tận, truyền mãi từ bó củi nầy sang bó củi khác, không khác nào cái sống của ta truyền từ hình thể nầy qua hình thể kia(火 之 傳 於 新 猶 神 之 傳 於 形).\n⸈⸈⸈\nDưỡng sinh có hai phương diện!\nDưỡng cái sống “có sống có chết” (thân thể)\nvà dưỡng cái sống “không sống không chết” (chân\ntính). Trên đây, là bàn về cái đạo dưỡng cái\nsống “có sống có chết”. Đến khi bàn đến\ncái sống “không sống không chết”, Trang Tử kết\nluận bằng cái tỉ dụ “củi và lửa” như\nvầy:\n*“khi lửa cháy hết bó củi nầy, thì\ntruyền sang qua bó củi khác...không bao giờ tắt”. *Cái\nsống “không sống không chết” như lửa, không bao\ngiờ cùng. Hãy gìn giữ nó, và đừng bao giờ\nđể nó vì tư tâm tư dục mà đèo bòng tham\nmuốn những cái ngoài phận mình mà mờ tắt đi.\n⸈⸈⸈\nDưỡng sinh cũng phải vừa lo trong, vừa lo ngoài, không nên thái quá hay bất cập.\nThiên Đạt Sinh 達 生 giải\nvề cái đạo dưỡng sinh vừa bên trong bên ngoài\nnầy rất rõ: “\n*Điền Khai Chi yết kiến Châu\nUy Công. Uy Công nói: ‘Ta có nghe Thầy của khanh là Chúc Thận\ncó được cái đạo sống. Khanh cùng Chúc\nThận ở chung nhau, vậy khanh có nghe nói về đạo\nấy không?’* *Điền Khai Chi nói: ‘Tôi là đứa quét nhà, làm\ngì nghe đặng!’* *Uy Công nói: ‘Điền tử chớ khiêm\nnhượng. Quả nhân muốn nghe điều đó. ’* *Điền Khai Chi nói: ‘Nghe Thầy tôi nói:\nNgười khéo dưỡng sinh giống như\nngười chăn chiên. Thấy con nào lẻ bầy, thì\nquất nó (cho nó trở về với bầy). ’* *Uy Công nói: ‘Nghĩa là sao?’* *Điền Khai Chi nói: Tại nước Lỗ,\ncó tên Đơn Báo ởtrong non, uống nước\nsuối, không cùng người cộng lợi. Đã bảy\nmươi tuổi mà nhan sắc còn như đứa con nít.\nRủi bị cọp đói bắt ăn. Cũng có tên Trương\nNghị, không cửa cao nhà rộng nào mà y không chạy\nđến (để cầu thân). Được bốn\nmươi tuổi, bị bệnh nội nhiệt mà\nchết. Báo, thì dưỡng phần trong mà cọp ăn\nphần ngoài; Nghị, thì dưỡng phần ngoài mà bị\nbệnh giết phần trong. Hai người đó\nđều không biết quất con chiên lẻ bầy. ’” *\nTrong và ngoài, là hai điều không thể lìa nhau. Vật\nchất, tinh thần, đối với Trang Tử, không\nphải chỉ ảnh hưởng lẫn nhau rất\nmật thiết mà thôi, hơn nữa,\n*cả hai là\nmột. *Để cho lìa nhau, là sái với tự nhiên,\nkhông khác nào con chiên lạc bầy. Đánh cho nó trở\nvề, là hợp lại hai lẽ “trong” và “ngoài”:\nđạo dưỡng sinh đến đó mới là\nđầy đủ và toàn hảo.\n⸈⸈⸈\nĐến như cái hại về sinh lực do\nsự sắc dục ăn uống mà gây nên, người\ndưỡng sinh cũng không nên không để ý:\n*“Gặp\nnơi tử địa, anh em cha con còn biết lo sợ,\nrăn bảo nhau đừng bước vào. Còn như trên\nchăn chiếu, giữa cuộc uống ăn, cũng là\nnơi tử địa, sao không mấy kẻ biết lo\nsợ, không biết răn nhủ nhau, lại còn mạo hiểm\nlăn mình vào, thì là quá rồi!” *(Đạt Sinh)\nNhất là đừng để kẻ khác\nlợi dụng lòng háo danh của mình để bắt mình\nphụng sự cho tư dục họ: Trang Tử, cũng\ntrong thiên Đạt Sinh, có nói:\n*“Một vị quan lãnh\nviệc tế tự, nói với heo: ‘Sao bây ghét chết? Ta\nnuôi bây trọn ba tháng. Vì bây mà ta phải giữ ba ngày chay,\nmười ngày giới. Lúc tế, ta để bây trên\nchiếu trắng, trên mâm chạm. Bây còn phàn nàn nỗi gì\nnữa?’ Ôi! Nếu vị quan ấy, thật tình nuôi heo (vì\nnó), sao không để cho nó tự do ăn tấm cám, sao\ncũng được. Vị quan ấy thích sống theo áo\nmão, chết có quan quách, và cho vậy là vinh, rồi lại\ntưởng cho heo cũng như thế!” *\nNgười ta nói: “Nuôi quân ngàn thuở, nhờ có\nmột khi”...Và chỉ một khi thôi, nhưng có khi lại\nphải thương sinh tánh mạng là thường. . .”\n*Trang\nTử câu trên sông Bộc. Sở vương sai hai quan\nđại phu đem lễ vật mời ông ra làm quan. Trang\nTử cầm cần câu không nhúc nhích cũng không thèm nhìn\nlại, nói: ‘Tôi nghe vua Sở có con thần quy, chết\nđã ba nghìn năm. Vua Sở quý nó và cất trên miếu\nđường. Con quy ấy chịu chết để\nlưu lại cái xương của mình cho người sau\nquý trọng, hay chịu thà sống mà kéo lê cái đuôi\ncủa mình trong bùn?’. Hai vị đại phu nói: ‘Thà\nsống mà kéo lê cái đuôi trong bùn còn hơn!’. Trang Tử\nnói: ‘Thôi về đi! Ta đây cũng chịu kéo lê cái\nđuôi của mình trong bùn...’” *(Thu Thủy)\nNgười theo đạo dưỡng sinh có\nđâu lại lao đầu vào vòng “cân đai áo mão”, “cá\nchậu chim lồng” để phải bị chặt\nchơn, lại còn ngoan cố ngụy biện cho là số\ntrời[43]!\n*“Con\ntrĩ ở trong chầm, mười bước đi\nmột lần mổ, trăm bước đi một\nlần uống, nhưng nào có mong được nuôi\ndưỡng ở trong lồng. . .” *dù đó là\nmột cái lồng sơn son thếp vàng...\n\n**A.** 魯 有 兀 者 王 駘,從 之 遊 者 與 仲 尼 相 若。 常 季 問 於 仲 尼 曰:「王 駘,兀 者 也,從 之 遊 者 與 夫 子 中 分 魯。立 不 教,坐 不 議,虛 而 往,實 而 歸。固 有 不 言 之 教,無 形 而 心 成 者 邪 ? 是 何 人 也 ?」\n仲 尼 曰:「夫 子,聖 人 也。丘 也,直 後 而 未 往 耳。丘 將 以 為 師,而 況 不 若 丘 者 乎!奚 假 魯 國!丘 將 引 天 下 而 與 從 之。」\n常 季 曰:「彼 兀 者 也,而 王 先 生,其 與 庸 亦 遠 矣。若 然 者,其 用 心 也 獨 若 之 何 ?」\n仲 尼 曰:「死 生 亦 大 矣,而 不 得 與 之 變 ; 雖 天 地 覆 墜,亦 將 不 與 之 遺。審 乎 無 假 而 不 與 物 遷,命 物 之 化 而 守 其 宗 也。」\n常 季 曰:「何 謂 也 ?」\n仲 尼 曰:「白 其 異 者 視 之,肝 膽 楚 越 也 ; 自 其 同 者 視 之,萬 物 皆 一 也。夫 若 然 者, 且 不 知 耳 目 之 所 宜,而 遊 心 乎 德 之 和 ; 物 視 其 所 一 而 不 見 其 所 喪,視 喪 其 足 猶 遺 土 也。」\n常 季 曰:「彼 為 己,以 其 知 得 其 心,以 其 心 得 其 常 心,物 何 為 最 之 哉 ?」\n仲 尼 曰:「人 莫 鑒 於 流 水 而 鑒 於 止 水,唯 止 能 止 眾 止。受 命 於 地,唯 松 柏 獨 也 在 冬 夏 青 青 ; 受 命 於 天,唯 舜 獨 也 正,幸 能 正 生,以 正 眾 生。夫 保 始 之 徵,不 懼 之 實 ; 勇 士 一 人,雄 入 於 九 軍。將 求 名 而 能 自 要 者,而 猶 若 是,而 況 官 天 地,府 萬 物,直 寓 六 骸,象 耳 目,一 知 之 所 知,而 心 未 嘗 死 者 乎!彼 且 擇 日 而 登 假,人 則 從 是 也。彼 且 何 肯 以 物 為 事 乎!」\n**A.** Lỗ hữu\nngột giả Vương Đài, tùng chi du giả, dữ\nTrọng Ni tương nhược.\nThường Quý vấn ư Trọng Ni viết: “Vương Đài ngột giả dã, tùng chi du giả dữ phu tử trung phân Lỗ. Lập bất giáo, tọa bất nghị, hư nhi vãng, thực nhi quy; cố hữu bất ngôn chi giáo, vô hình nhi tâm thành giả da? Thị hà nhơn dã?”\nTrọng Ni viết: “Phu tử, thánh nhơn dã. Khưu dã trực hậu nhi vị vãng nhĩ! Khưu tương dĩ vi sư, nhi huống bất nhược Khưu giả hồ! Hề giả Lỗ quốc, Khưu tương dẫn thiên hạ nhi dữ tùng chi.”\nThường Quý viết: “Bỉ ngột giả dã, nhi Vương tiên sinh, kỳ dữ dung diệc viễn hĩ! Nhược nhiên giả, kỳ dụng tâm dã, độc nhược chi hà?”\nTrọng Ni viết: “Tử sinh diệc đại hĩ, nhi bất đắc dữ chi biến, tuy thiên địa phúc trụy, diệc tương bất dữ chi di. Thẩm hồ vô giả, nhi bất dữ vật thiên, mạng vật chi hóa, nhi thủ kỳ tông dã.”\nThường Quý viết: “Hà vị dã?”\nTrọng Ni viết: “Tự kỳ dị giả\nthị chi, can đảm Sở Việt\n1dã; tự\nkỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai\nnhất dã. Phù nhược nhiên giả, thả bất tri\nnhĩ mục chi sở nghi 2, nhi du tâm hồ\nđức chi hòa 3. Vật thị kỳ sở\nnhất nhi bất kiến kỳ sở táng, thị táng\nkỳ túc, do di thổ dã.”\nThường Quý viết: “Bỉ vị kỷ,\ndĩ kỳ tri\n4, đắc kỳ tâm, dĩ kỳ\ntâm, đắc kỳ thường tâm 5, vật hà vi\ntối 6 chi tai?”\nTrọng Ni viết: “Nhơn mạc giám ư\nlưu thủy, nhi giám ư chỉ thủy, duy năng\nchỉ, năng chỉ chúng chỉ\n7. Thụ\nmạng ư địa, duy tùng bá độc dã tại. Đông\nhạ thanh thanh, thụ mạng ư thiên, duy Thuấn\nđộc dã chính. Hạnh năng chính sinh 8, dĩ\nchính chúng sinh. Phù bão thủy chi trưng, bất cụ chi\nthực; dũng sĩ nhất nhơn, hùng nhập ư\ncửu quân, tương cầu danh nhi năng tự yếu\ngiả, nhi do nhược thị; nhi huống quan thiên\nđịa, phủ vạn vật, trực ngụ lục\nhài, tượng nhĩ mục, nhất tri chi sở tri, nhi\ntâm vị thường tử giả hồ? Bỉ thả\ntrạch nhật nhi đăng giả, nhơn tắc tùng\nthị dã; bỉ thả hà khẳng dĩ vật vi sự\nhồ? 9”\n**CHÚ**\n1. Với nhãn quang nhị nguyên, thì ngay trong thân thể của ta sẽ thấy các tạng phủ như là nghịch với nhau cả (như nước Sở nước Việt cách biệt nhau vậy).\n2. Tức là quên mất cả thinh sắc thị phi, mỹ ác...\n3. 德 之 和 (đức chi hòa),\ntức là “hòa” của Đạo và Đức, tức là\nchỗ mà Lão tử gọi\n*“thượng đức\nbất đức”*(上 德 不 德)cái Đức siêu việt của Đạo\ngồm nắm cả thị phi, thiện ác...\n4. Cái “biết” 知 đây, là ám chỉ “chân trí”(真 智) (cái biết thật).\n5. Tâm thường 常 心: tức là cái tâm thường trụ, bất biến đồng với Đạo thường (常 道)nơi mình. Chữ “tâm” 心trước, là ám chỉ cái tâm bất thường, còn vọng động của mình.\n6. Chữ 最 ở đây có nghĩa là “tụ” 聚: hợp lại, tựu lại. Ý nói, tại sao chúng nhơn lại tựu về theo ông ta (Vương Đài).\n7. Không ai lại đi cầu học nơi một kẻ mà lòng còn vọng động (náo loạn vì ngoại vật). Chỉ có sự điềm đạm hư vô là đặc tánh của bậc Thánh nhơn sống giữa sự náo động không dừng của thiên hạ. Cũng như mọi thứ cây cối đều thụ mạng nơi đất, thế mà chỉ riêng có cây tùng cây bách thì cành lá bốn mùa vẫn xanh tươi không thay đổi...vì nó còn giữ được đặc tính trường xuân của nó.\n8. Chữ\n*chính *正 đây, là *chính kỷ *正 己. Chữ *sinh *生 đây, nguyên là chữ *tánh *性, hay là *bản tánh*本 性 (theo Quách Tượng).\n9. Chống lại\nvới tư cách\n*“khuyến dụ” *người\ntheo đạo của phần đông các tôn giáo.\n**DỊCH NGHĨA**\nĐỨC SUNG PHÙ\n**A.** *Nước Lỗ, có\nngười cụt chơn, tên là Vương Đài. Số\nngười theo học ngang với Trọng Ni. * *Thường Quý hỏi Trọng Ni: “Vương\nĐài là kẻ cụt chơn, lại cùng Thầy chia hai\nhọc trò nước Lỗ. Người ấy,\nđứng thì không dạy điều chi; ngồi thì không\nnghị luận việcgì. Thế mà, người học\nđến thì không có gì cả, mà khi ra về thấy mình\nđầy đủ. Vậy thì, có lối dạy mà không\ncần đến lời, mặc nhiên mà cảm hóa\nđược lòng người hay sao? Người ấy\nlà người gì vậy?” * *Trọng Ni đáp: “Phu tử là bậc Thánh\nnhơn đấy! Khưu nầy đi sau, chưa thể\ntheo kịp đó. Khưu còn muốn tôn đó làm Thầy,\nhuồng hồ là những kẻ không bằng Khưu! Nói\nchi là một nước Lỗ, Khưu nầy còn muốn\ndẫn cả thiên hạ mà cùng theo đó.” * *Thường Quý nói: “Đó là kẻ cụt\nchơn, vậy mà được Phu tử gọi là\nbậc Thầy họ Vương, tất nhiên người\nấy phải có cái gì khác xa với kẻ tầm\nthường! Như vậy thì, riêng ông ta đã sử dụng\ncái Tâm như thế nào?” * *Trọng Ni đáp: “Chết sống là việc\nlớn còn không làm cho đó biến đổi; Trời\nĐất dù sụp đổ, cũng không làm cho đó xao\nđộng. Xét rõ Tánh Mạng, mà không để cho vật\nngoài dời đổi. Khiến vật hóa sinh, mà giữ\nlấy phần chủ của vật hóa.” * *Thường Quý nói: “Như thế nghĩa là gì?” * *Trọng Ni đáp: “Có hai cách nhận thức\nsự vật, nếu đứng chỗ khác biệt nhau mà\nxem, thì dù như gan với mật cũng thấy cách nhau xa\nnhư Sở với Việt; nhưng, nếu đứng\nchỗ đồng nhau mà xem, thì sẽ thấy vạn\nvật đều là một cả. Và nếu\nđược vậy (tức là biết đứng\nchỗ đồng nhau mà xem vạn vật) thì đâu\ncần gì đến sự nhận thức của tai\nmắt nữa mà để cho lòng mình rong chơi nơi\nchỗ ‘hòa’ của Đức. Vì vậy mà coi sự\nmất một chơn của mình như một hòn\nđất bị đánh rơi thôi!” * *Thường Quý nói: “Ông ấy tu kỷ, lấy\ncái biết của mình mà xét được cái tâm của\nmình; lấy cái tâm của mình mà xét được cái tâm\nthường của mình. Nhưng rồi, tại sao\nngười người lại chạy về với ông\nấy?” * *Trọng Ni nói: “Người ta, không ai lại soi\nmình ở làn nước chảy, mà soi mình ở làn\nnước đứng. Chỉ có cái ‘lặng đứng’\nmới dừng lại được cái lòng mong lặng\nđứng của người người. Cùng thụ\nMạng nơi Đất mà riêng chỉ có cây tùng cây bách là\nluôn luôn tồn tại: một màu xanh xanh, bất cứ\nở mùa nào, mùa hạ hay mùa đông. Cùng thụ Mạng\nnơi Trời mà riêng chỉ có ông Thuấn là giữ\nđược cái Chánh của mình. Cầm đầu thiên\nhạ mà chính được cái Tánh của mình, thì chính\nđược mọi người. Hạng người mà\ngiữ được Bản Tánh, thì bên ngoài rất\nđiềm tĩnh, chẳng biết sợ gì cả,\nnhư người dũng sĩ một mình xông vào chín vòng\nquân. Vì hiếu danh mà họ còn dám làm việc ấy,\nhuống hồ hạng người chủ được\nTrời Đất, chứa được vạn vật\nthì đối với cái thân nầy chẳng qua là gởi\nvào sáu hài, nương vào tai mắt, còn sự hiểu\nbiết của họ thì bao la mà cái tâm họ chưa\ntừng có chết? Con người ấy chọn ngày\nđể trút bỏ cái giả. Người ta tự\nchạy theo đấy thôi, chứ tự người\nấy đâu có chịu đem mình mà phụng sự cho thiên\nhạ?” *\n⸈⸈⸈\n**B.** 申 徒 嘉,兀 者 也,而 與 鄭 子 產 同 師 於 伯 昏 無 人。子 產 謂 申 徒 嘉 曰:「我 先 出 則 子 止,子 先 出 則 我 止。」\n其 明 日,又 與 合 堂 同 席 而 坐。子 產 謂 申 徒 嘉 曰:「我 先 出 則 子 止,子 先 出 則 我 止。今 我 將 出,子 可 以 止 乎,其 未 邪 ?且 子 見 執 政 而 不 違,子 齊 執 政 乎 ?」\n申 徒 嘉 曰:「先 生 之 門,固 有 執 政 焉 如 此 哉!子 而 說 子 之 執 政 而 後 人 者 也!\n聞 之 曰:『 鑒 明 則 塵 垢 不 止,止 則 不 明 也。久 與 賢 人 處 則 無 過。』 子 今之 所 取 大 者,先 生 也,而 猶 出 言 若 是,不 亦 過 乎 ?」\n子 產 曰:「子 既 若 是 矣,猶 與 堯 爭 善,計 子 之 德 不 足 以 自 反 邪 ?」\n申 徒 嘉 曰:「自 狀 其 過 以 不 當 亡 者 眾,不 狀 其 過 以 不 當 存 者 寡。知 不 可 奈 何 而 安 之 若 命,唯 有 德 者 能 之 ; 遊 於 羿 之 彀 中,中 央 者,中 地 也 ; 然 而 不 中 者,命 也。人 以 其 全 足 笑 吾 不 全 足 者 眾 矣,我 怫 然 而 怒 ; 而 適 先 生 之 所,則 廢 然 而 反。不 知 先 生 之 洗 我 以 善 邪!吾 與 夫 子 遊 十 九 年 矣,而 未 嘗 知 吾 兀 者 也。今 子 我 遊 於 形 骸 之 內,而 子 索 我 於 形 骸 之 外,不 亦 過 乎 ?」\n子 產 蹴 然 改 容 更 貌 曰:「子 無 乃 稱!」\n**B.** Thân Đồ Gia ngột giả dã, nhi dữ\nTrịnh Tử Sản 1 đồng sư ư\nBá Hôn Vô Nhơn. Tử Sản vị Thân Đồ Gia\nviết: “Ngã tiên xuất, tắc tử chỉ, tử tiên\nxuất tắc ngã chỉ.”\nKỳ minh nhật hựu dữ hợp đường đồng tịch nhi tọa. Tử Sản vị Thân Đồ Gia viết: “Ngã tiên xuất, tắc tử chỉ, tử tiên xuất, tắc ngã chỉ. Kim ngã tương xuất, tử khả dĩ chỉ hồ? Kỳ vị da? Thả tử kiến chấp chính nhi bất vi, tử tề chấp chánh hồ?”\nThân Đồ Gia viết: “Tiên sinh chi môn cố\nhữu chấp chính yên như thử tai? Tử nhi duyệt\n2 tử\nchi chấp chính nhi hậu nhơn giả dã!”\nVăn chi viết: Giám minh tắc trần cấu bất chỉ, chỉ tắc bất minh dã. Cửu dữ hiền nhân xử tắc vô quá. Tử kim chi sở thủ đại giả, tiên sinh dã, nhi do xuất ngôn nhược thị bất diệc quá hồ?”\nTử Sản viết: “Tử ký nhược thị hĩ, do dữ Nghiêu tranh thiện, kế tử chi đức, bất túc dĩ tự phản da?”\nThân Đồ Gia viết: “Tự trạng kỳ\nquá dĩ bất đương vong giả chúng; bất\ntrạng kỳ quá dĩ bất đương tồn\ngiả quả. Tri bất khả nại hà nhi an chi\nnhược mạng, duy hữu đức giả năng\nchi. Du ư Nghệ\n3 chi cốc trung, trung\nương giả, trung địa dã, nhiên nhi bất trúng\ngiả, Mạng dã. Nhơn dĩ kỳ toàn túc tiếu ngô\nbất toàn túc giả, chúng hĩ. Ngã phất nhiên nhi nộ,\nnhi thích tiên sinh chi sở, tắc phế nhiên nhi phản\nbất tri tiên sinh chi tẩy ngã dĩ thiện da? Ngô dữ\nphu tử du thập cửu niên hĩ, nhi vị\nthường tri ngô ngột giả dã. Kim tử ngã du ư\nhình hài chi nội, nhi tử sách ngã ư hình hài chi ngoại,\nbất diệc quá hồ?”\nTử Sản thác nhiên cải dung canh mạo, viết: “Tử vô nãi xưng”.\n**CHÚ**\n1. Tử Sản đang là tướng quốc nước Trịnh.\n2. Chữ 說 cùng với chữ 悅 đồng nhau. Trong Kinh Truyện thường viết là 說 thay vì 悅 (Từ Nguyên).\n3. 羿, tên của một người xưa có biệt tài bắn cung không ai bì kịp.\n**DỊCH NGHĨA**\n**B.** *Thân Đồ\nGia là người cụt chơn, cùng với Tử Sản\nnước Trịnh đồng học với Bá Hôn Vô Nhân.\nTử Sản bảo với Thân Đồ Gia: “Ta ra\ntrước thì ngươi ở lại. Ngươi ra\ntrước thì ta ở lại”. * *Ngày hôm sau, lại cùng một chỗ học, cùng\nngồi một chiếu. Tử Sản bảo với Thân\nĐồ Gia: “Ta ra trước thì ngươi ở\nlại. Ngươi ra trước thì ta ở lại. Nay ta\nsắp đi ra, vậy ngươi có thể ở lại\nchăng, hay là chưa có thể được? Vả\nngươi thấy kẻ cầm chính quyền sao không\nbiết tránh qua một bên? Ngươi ngang hàng với\nkẻ cầm chính quyền ư?” * *Thân Đồ Gia nói: “Ở cửa Thầy đây\nsao lại có kẻ gọi là cầm chính quyền?\nNgươi thích thú với cái việc cầm chính quyền\ncủa ngươi mà xem mọi người đều\nđứng sau ngươi cả! Ta nghe Thầy nói\nrằng: Gương sáng là vì bụi bặm không\nvướng, bụi bặm mà vướng lên thì mặt\ngương sẽ lu mờ! Ở lâu với bậc\nhiền giả thì ắt không lỗi lầm. Nay\nngươi ở trong cửa Thầy để cầu\nhọc cái đại thức, thế sao lại còn thốt\nra được những lời như vậy, há\nchẳng cũng lầm lỗi hay sao? * *Tử Sản nói: *“ *Ngươi đã là người\n(tàn tật) như thế, lại còn mong cùng với Nghiêu mà\ntranh thiện hay sao? Kể về đức của\nngươi, không đủ để mà xét lại\nmình ư?” * *Thân Đồ Gia nói: “Tự che đậy lỗi\ncủa mình, cho là không đáng bị hình chặt chơn, thì\nnhiều! Không che đậy lỗi của mình, cho là không\nđáng còn chơn, thì ít. Biết là không thể làm thế\nnào khác được mà yên lòng chịu nó và cho là số\nmạng, thì chỉ có người có Đức mới có\nthể làm nổi. Ở ngay trung tâm lằn tên của\nNghệ mà lại thoát khỏi bị tên, đó là Mạng\nvậy. Những kẻ cậy mình có đủ hai chơn\nđể chế nhạo người không đủ hai\nchơn như ta, thì nhiều lắm! Ta nghĩ cũng\ntức giận, nhưng khi đến học với\nThầy thì lại bâng khuâng mà trở về, không rõ Thầy\nđã đem cái hay gì mà rửa ráy được lòng ta? Ta\nở cùng Thầy đã mười chín năm thế mà\nThầy chưa thường thấy ta là đứa\ncụt chơn! Nay ngươi chơi với ta ở\nchỗ bên trong của hình hài, mà ngươi lại còn\nkhắt khe với cái hình hài bên ngoài của ta, chẳng\ncũng lầm lỗi hay sao?” * *Tử Sản áy náy, đổi sắc mặt mà\nnói: “Thôi, đừng nói đến chuyện ấy nữa!”\n*\n⸈⸈⸈\n**C.** 魯 有 兀 者 叔 山 無 趾,踵 見 仲 尼。仲 尼 曰:「子 不 謹,前 既 犯 患 若 是 矣。雖 今 來, 何 及 矣!」\n無 趾 曰: 「吾 唯 不 知 務 而 輕 用 吾 身,吾 是 以 亡 足。今 吾 來 也,猶 有 尊 足 者 存,吾 是 以 務 全 之 也。夫 天 無 不 覆,地 無 不 載,吾 以 夫 子 為 天 地,安 知 夫 子 之 猶 若 是 也!」\n孔 子 曰:「丘 則 陋 矣!夫 子 胡 不 入 乎,請 講 以 所 聞!」\n無 趾 出。孔 子 曰:「弟 子 勉 之!夫 無 趾, 兀 者 也,猶 務 學 以 復 補 前 行 之 惡,而 況 全 德 之 人 乎!」\n無 趾 語 老 聃 曰:「孔 丘 之 於 至 人,其 未 邪\n? 彼 何 賓 賓 以 學 子 為 ? 彼 且 蘄 以 諔 詭 幻 怪 之 名 聞,不 知 至 人 之 以 是 為 己 桎 梏 邪 ?」\n老 聃 曰:「胡 不 直 使 彼 以 死 生 為 一 條,以 可 不 可 為 一 貫 者,解 其 桎 梏,其 可 乎 ?」\n無 趾 曰:「天 刑 之,安 可 解!」\n**C.** Lỗ hữu\nngột giả Thúc Sơn Vô Chỉ, chủng kiến\nTrọng Ni. Trọng Ni viết:\n“Tử bất cẩn, tiền ký phạm hoạn nhược thị hĩ, tuy kim lai hà cập hĩ!”\nVô Chỉ viết: “Ngô duy bất tri vụ nhi khinh dụng ngô thân, ngô thị dĩ vong túc. Kim ngô lai dã, do hữu tôn túc giả tồn. Ngô thị dĩ vụ toàn chi dã. Phù thiên vô bất phú, địa vô bất tái, ngô dĩ phu tử vi thiên địa; an tri phu tử chi do nhược thị dã!”\nKhổng Tử viết: “Khưu tắc lậu hĩ! Phu tử hồ bất nhập hồ? Thỉnh giảng dĩ sở văn.”\nVô Chỉ xuất. Khổng Tử viết:“Đệ tử miễn chi! Phù Vô Chỉ ngột giả dã, do vụ học dĩ phục bổ tiền hành chi ác, nhi huống toàn đức chi nhơn hồ?”\nVô Chỉ ngữ Lão Đam viết: “Khổng\nKhưu chi ư chí nhơn, kỳ vị da? Bỉ hà tân tân\ndĩ học tử vi! Bỉ thả kỳ dĩ xúc\nquỷ[44]\nLão Đam viết:“Hồ bất trực sử bỉ dĩ tử sinh vi nhất điều, dĩ khả bất khả vi nhất quán giả, giải kỳ chất cốc, kỳ khả hồ?\nVô Chỉ viết:“Thiên hình chi, an khả giải.”\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Nước\nLỗ, có người cụt chơn, tên là Thúc Sơn Vô\nChỉ, khập khễnh đến ra mắt Trọng Ni. Trọng\nNi nói: *\n-\n*Ngươi trước đây không\ncẩn thận nên phải bị tai họa như thế,\nnay dù có đến đây cũng không sao kịp nữa! * *Vô Chỉ nói: “Tôi vì không biết việc nên khinh\ndụng tấm thân nầy mà phải bị mất hết\nmột chơn. Nay tôi đến đây, còn lại có\nmột chơn quý nầy, thời tôi mong giữ cho nó vẹn\ntoàn. Trời, không gì là không che; Đất không gì là không\nchở, tôi mong xem phu tử như Trời Đất. Nào\nngờ Phu tử lại xử với tôi như thế!” * *Khổng Tử nói: “Khưu nầy quả hẹp\nhòi! Sao ông không vào trong chơi, tôi xin đem những gì đã\nnghe được mà giảng cho ông nghe!” * *Vô Chỉ ra đi. Khổng Tử nói: * **- ** *Các đệ tử hãy cố gắng lên! Kìa\nnhư Vô Chỉ là kẻ cụt chơn mà còn biết mong\nhọc để bù lại cái việc làm sai lầm\nbuổi trước, huống chi kẻ mà đức\nvẫn còn vẹn toàn! * *Vô Chỉ nói chuyện với Lão Đam: * **- ** *Khổng Khưu hình như chưa phải là\nbậc chí nhơn! Ông ta dạy làm gì mà đông học trò\nthế? Ông lại còn mong được tăm tiếng\nvề những cái học kỳ dị huyễn hoặc, vậy\nchứ ông không biết rằng đối với bậc\nchí nhơn, đó toàn là những gông cùm cho mình ư? * *Lão Đam nói: * **- ** *Sao ông không bảo thẳng cho ông ta biết\nrằng sống và chết đều là cùng một lẽ,\nnên và chẳng nên đều cùng là một việc, hầu\nmở gông cùm cho ông ta có được không? * *Vô Chỉ nói: * **- ** *Trời đã hành tội ông ta, gỡ ra sao\nđược! *\n⸈⸈⸈\n**D.** 魯 哀 公 問 於 仲 尼 曰:「衛 有 惡 人 焉,曰 哀 駘 它。丈 夫 與 之 處 者,思 而 不 能 去 也。 婦 人 見 之,請 於 父 母 曰:與 人 為 妻 寧 為 夫 子 妾 者,十 數 而 未 止 也。未 嘗 有 聞 其 唱 者 也,常 和 人 而 已 矣。無 君 入 之 位 以 濟 乎 人 之 死,無 聚 祿 以 望 人 之 腹 ;又 以 惡 駭 天 下,和 而 不 唱,知 不 出 乎 四 域,且 而 雌 雄 合 乎 前,是 必 有 異 乎 人 者 也。寡 人 召 而 觀 之,果 以 惡 駭 天 下,與 寡 人 處,不 至 以 月 數,而 寡 人 有 意 乎 其 為 人 也 ; 不 至 乎 期 年,而 寡 人 信 之。國 無 宰,而寡 人 傳 國 焉。 悶 然 而 後 應,氾 而 若 辭。寡 人 醜 乎,卒 授 之 國。無 幾 何 也,去 寡 人 而 行,寡 人 卹 焉 若 有 亡 也,若 無 與 樂 是 國 也。是 何 人 者 也 ?」\n仲 尼 曰:「丘 也 嘗 使 於 楚 矣,適 見 子 食 於 其 死 母 者,少 焉 眴 若 皆 棄 之 而 走。不 見 己 焉 爾,不 得 類 焉 爾。所 愛 其 母 者,非 愛 其 形 也,愛 使 其 形 者 也。戰 而 死 者,其 人 之 葬 也 不 以 翣 資;則 者 之 屨,無 為 愛 之 ; 皆 無 其 本 矣。今 哀 駘 它 未 言 而 信,無 功 而 親,使 人 授 己 國,唯 恐 其 不 受 也,是 必 才 全 而 德 不 形 者 也。」\n哀 公 曰:「何 謂 才 全 ?」\n仲 尼 曰:「死 生 存 亡,窮 達 貧 富,賢 與 不 肖 毀 譽,飢 渴 寒 暑,是 事 之 變,命 之 行 也。 日 夜 相 代 乎 前,而 知 不 能 規 乎 其 始 者 也。 故 不 足 以 滑 和,不 可 入 於 靈 府。使 之 和 豫,通 而 不 失 於 兌 ; 使 日 夜 無 卻,而 與 物 為 春,是 接 而 生 時 於 心 者 也。是 之 謂 才 全。」\n「何 謂 德 不 形 ?」\n曰:「平 者,水 停 之 盛 也。其 可 以 為 法 也,內 保 之 而 外 不 蕩 也。德 者,成 和 之 脩 也。德 不 形 者,物 不 能 離 也。」\n哀 公 異 日 以 告 閔 子 曰:「始 也 吾 以 南 面 而 君 天 下,執 民 之 紀 而 憂 其 死,吾 自 以 為 至 通 矣。今 吾 聞 至 人 之 言,恐 吾 無 其 實,輕 用 吾 身 而 亡 吾 國。吾 與 孔 丘,非 君 臣 也,德 友 而 已 矣!」\n**D.** Lỗ Ai Công vấn ư Trọng Ni viết:\n“Vệ hữu ác nhơn yên, viết Ai Đài Đà,\ntrượng phu dữ chi xử giả, tư nhi bất\nnăng khứ dã, phụ nhơn kiến chi, thỉnh ư\nphụ mẫu, viết: “Dữ nhơn vi thê, ninh vi phu\ntử thiếp giả, sổ thập nhi vị chỉ dã. Vị\nthường hữu văn kỳ xướng giả dã,\nthường họa nhơn nhi dĩ hĩ. Vô quân tử chi\nvị, dĩ tế hồ nhơn chi tử, vô tụ\nlộc dĩ vọng nhơn chi phúc, hựu dĩ ác hãi thiên\nhạ, họa nhi bất xướng, tri bất xuất hồ,\ntứ vực, thả nhi thư hùng hợp hồ tiền,\nthị tất hữu dị hồ nhơn giả dã. Quả\nnhân triệu nhi quan chi, quả dĩ ác hãi thiên hạ,\ndữ Quả nhân xử, bất chí dĩ ngoạt số,\nnhi Quả nhân hữu ý hồ kỳ vi nhơn dã; bất chí\nhồ cơ niên, nhi Quả nhân tín chi. Quốc vô tể, nhi\nQuả nhân truyền quốc yên. Muộn nhiên nhi hậu\nứng. Tỵ nhược nhi từ, Quả nhân xú hồ\ntốt thụ chi quốc, vô kỷ hà dã, khứ Quả nhân\nnhi hành. Quả nhân tuất yên, nhược hữu vong dã,\nnhược vô dữ lạc thị quốc dã. Thị hà\nnhơn giả dã?”\nTrọng Ni viết:“Khưu dã thường sứ ư Sở hĩ, thích kiến đồn tử thực ư kỳ tử mẫu giả; thiểu yên tuần nhược giai khí chi nhi tẩu; bất kiến kỷ yên nhĩ, bất đắc loại yên nhĩ! Sở ái kỳ mẫu giả, phi ái kỳ hình dã, ái sử kỳ hình giả dã. Chiến nhi tử giả, kỳ nhơn chi táng dã, bất dĩ sáp tư, tắc giả chi lũ, vô vi ái chi, giai vô kỳ bản hĩ. Kim Ai Đài Đà vị ngôn nhi tín, vô công nhi thân, sử nhơn thụ kỷ quốc, duy khủng kỳ bất thụ dã, thị tất tài toàn nhi đức bất hình giả dã.\nAi Công viết: “Hà vị tài toàn?”\nTrọng Ni viết: “Tử sinh, tồn vong, cùng\nđạt, bần phú, hiền dữ bất tiếu,\nhủy dự, cơ khát hàn thử: thị sự chi\nbiến, mạng chi hành dã. Nhật dạ tương\nđại hồ tiền, nhi tri bất năng quy hồ\nkỳ thủy giả dã; cố bất túc dĩ hoạt\nhòa, bất khả nhập ư linh phủ\n1 sử\nchi hòa dự, thông nhi bất thất ư duyệt; sử\nnhật dạ vô khước nhi dữ vật vi xuân\nthị tiếp nhi sinh thời ư tâm giả dã, thị chi\nvị tài toàn.”\n“Hà vị đức bất hình?”\nViết: “Bình giả thủy đình chi thịnh dã kỳ khả dĩ vi pháp dã, nội bảo chi nhi ngoại bất đãng dã. Đức giả thành hòa chi tu dã, đức bất hình giả, vật bất năng ly dã.”\nAi Công dị nhật dĩ cáo Mẫn Tử viết:\n“Thủy dã ngô dĩ nam diện nhi quân thiên hạ, chấp dân chi kỷ, nhi ưu kỳ tử, ngô tự dĩ vi chí thông hĩ. Kim ngô văn chí nhơn chi ngôn khủng ngô vô kỳ thực, khinh dụng ngô thân, nhi vong ngô quốc. Ngô dữ Khổng Khưu, phi quân thần dã, đức hữu nhi dĩ hĩ.”\n**CHÚ**\n1.\n*Linh phủ *靈 府: chỗ ở của tinh thần(精 神 之 所 宅 也), ám chỉ cái tâm\ncủa mình. Ý nói những vấn đề thuộc về\nviệc sống chết, cùng thông, hiền ngu, phải\nquấy v. v...chỉ là những sự bất\nthường, không nên để cho nó làm điên đảo\nsự yên tĩnh của tâm hồn(吾 之 太 和).\n2.\n*Linh phủ, *đồng một\nnghĩa với *linh đài *靈 臺 mà Trang Tử thường dùng ở Canh Tang\nSở 庚 桑 楚 trong câu“不 可 内 於 靈 臺”. Ở đây Quách Tượng\ngiải chữ *linh đài *là ám chỉ cái tâm(靈 臺 者 心 也).\n**DỊCH NGHĨA**\n**D.** *Lỗ Ai Công\nhỏi Trọng Ni: *\n-\n*Nước Vệ có một người\nxấu xí, tên là Ai Đài Đà. Đàn ông nào ở với\nnó, nhớ không thể bỏ đặng. Đàn bà nào\nthấy nó, về xin cha mẹ rằng: thà làm vợ bé\ncủa nó hơn làm vợ lớn kẻ khác. Số\nngười ấy có đến mười mấy\nrồi, thế mà cũng chưa hết. Chưa\nthường nghe nó xướng lên ý gì, chỉ có họa theo\ný người mà thôi. Không có địa vị quyền\nthế gì để cứu người khỏi chết;\nkhông có tiền bạc của cải gì để nuôi ai no\nbụng, lại còn hình thù xấu xí dễ làm thiên hạ\nphải sợ. Chỉ có họa mà không có xướng. Trí\nnó không ra ngoài bốn vách rào làng. Thế mà giống đực\ngiống cái lại xúm xít trước mặt, ấy là\nkẻ tất phải có cái gì khác lạ hơn người.\nQuả nhân triệu nó đến xem, thì quả là hình thù\nxấu xí làm cho thiên hạ đều phải sợ. Ở\nvới quả nhân không đầy một tháng, mà quả\nnhân đã để ý đến cách ăn ở của nó. Không\nđầy một năm, quả nhân tin nó. Nước không\ncó kẻ cầm quyền chính, quả nhân giao việc\nnước cho nó. Nó buồn buồn, thờ ơ ra vẻ\nchối từ làm cho quả nhân hổ thẹn. Sau cùng nó\nnhận, nhưng rồi, không bao lâu lại bỏ quả\nnhân mà đi. Quả nhân buồn bực như mất\nmột vật gì, như không còn có người để\ncùng vui trong nước nữa! Vậy người ấy\nlà người thế nào? * *Trọng Ni nói: “Khưu nầy, từng sang sứ\nbên nước Sở. Thấy đàn heo con đang bú\nmẹ, mà mẹ chúng đã chết rồi. * *Một lúc, chúng ngơ ngác chạy tứ\ntán cả vì chúng thấy mẹ không nhìn đến chúng\nnữa. Chúng sở dĩ yêu mẹ, không phải là yêu cái xác\nkia, mà yêu cái sai khiến xác kia của mẹ chúng! Ra trận\nmà chết, đâu cần phải yên ngựa để\nbọc thây. Cho kẻ cụt chơn giày dép, họ đâu có\nưa thích! Họ đều không có gốc! (...) Nay Ai\nĐài Đà chưa nói gì mà người lại tin; không công\ngì mà người lại thân, khiến có người\nmuốn trao cho quốc chính mà lại còn sợ không chịu\nnhận, như vậy ắt phải là kẻ toàn\nđược cái Tài, và không để lộ ra cái\nĐức.” * *Ai Công nói: “Sao gọi là toàn được cái Tài?”\n* *Trọng Ninói: “Sống chết, còn mất, cùng\nđạt, giàu nghèo, hiền và bất tiếu, khen chê, nóng\nlạnh...là những cái biến của sự vật, cái\nchuyển của mạng (cũng như) ngày đêm thay phiên\ntiếp nối nhau trước mặt ta mà trí thông minh\ncủa con người cũng không sao nhận thấy\nđược chỗ khởi đầu. Như vậy,\nđâu có đáng gì để cho nó lọt vào “linh phủ”,\nlàm loạn lòng mình. Ngay cả sự hân hoan vui mừng\ncũng đừng để cho lòng mình dấy động.\nĐối với tất cả mọi việc, hòa nhã vui\ntươi như tiếp đón bốn mùa...Đó gọi\nlà “toàn được cái Tài”. * **- ** *Thế nào là Đức không lộ ra? * **- ** *Là bình thản như mặt nước\nđứng im lìm, có thể lấy đó làm khuôn phép: bên\ntrong giữ được thật trong sáng mà bên ngoài\nnhư bất động không bị lôi cuốn theo\nngoại vật. Đức là thành được việc\nmình mà vẫn giữ được sự hòa với\nmọi người. Đức không lộ ra nên mọi\nvật không rời bỏ được mình [45].\n*\n⸈⸈⸈\n*Ai Công ngày khác nói chuyện với Mẫn Tử: *\n-\n*Trước kia tôi cho việc day mặt\nvề phía Nam làm vua thiên hạ, cầm quyền trị dân,\nlo cho chúng được an ninh, tôi tự cho\nđược như thế là thông đạt lắm rồi.\nNhưng từ khi nghe bậc chí nhơn [46] nói,\ntôi sợ không có thực tài, khinh dụng thân mình mà làm\nmất cả nước. Từ đây, tôi và Khổng\nKhưu sẽ không còn phải là đạo vua tôi nữa, mà\nlà bạn với nhau về đạo đức mà thôi\nvậy. *\n⸈⸈⸈\n**E.** 闉 跂 支 離 無 脤 說 衛 靈 公,靈 公 說 之,而 視 全 人,其 脰 肩 肩。\n甕 (上 是 “央 ”,下 是 “瓦 ”) 大 癭 說 齊 桓 公,桓 公 說 之,而 視 全 人,其 脰 肩 肩。\n故 德 有 所 長 而 形 有 所 忘,人 不 忘 其 所 忘,而 忘 其 所 不 忘,此 謂 誠 忘。故 聖 人 有 所 遊,而 知 為 孽,約 為 膠,德 為 接,工 為 商。聖 人 不 謀,惡 用 知 ? 不 斲,惡 用 膠 ? 無 喪,惡 用 德 ? 不 貨,惡 用 商 ? 四 者,天 鬻 也。天 鬻 者,天 鬻 者 也,天 食 也。既 受 食 於 天,又 惡 用 人!有 人 之 形,無 人 之 情。有 人 之 形,故 群 於 人,無 人 之 情,故 是 非 不 得 於 身,眇 乎 小 哉,所 以 屬 於 人 也!謷 乎 大 哉, 獨 成 其 天!\n**E.** Nhân kỳ Chi Ly Vô\nThần 1 thuyết Vệ Linh Công. Linh Công\nduyệt chi nhi thị toàn nhơn, kỳ đậu kiên kiên.\nÚng Ánh Đại Anh\n2 thuyết Tề\nHoàn Công. Hoàn Công duyệt chi, nhi thị toàn nhơn, kỳ\nđậu kiên kiên.\nCố đức hữu sở trường nhi\nhình hữu sở vong; nhơn bất vong kỳ sở vong,\nnhi vong kỳ sở bất vong thử vị thành vong\n3.\nCố thánh nhơn hữu sở du 4 nhi trí vi\nnghiệt 5, ước vi giao đức 6 vi\nán, công vi thương. Thánh nhơn bất mưu, ố\ndụng trí? Bất trác ố dụng giao? Vô táng, ố\ndụng đức? Bất hóa, ố dụng thương?\nTứ giả, Thiên Dục 7 dã, Thiên Dục dã\ngiả, thiên thực dã. Ký thụ thực ư thiên, hựu\nố dụng nhơn? Hữu nhơn chi hình, vô nhơn chi\ntình. Hữu nhơn chi hình, cố quần ư nhơn; vô\nnhơn chi tình, cố thị phi bất đắc ư thân.\nDiểu hồ tiểu tai, sở dĩ thuộc ư\nnhơn dã, ngao hồ đại tai, độc thành kỳ\nthiên.\n**CHÚ**\n1.\n*Chi Ly Vô Thần*, là người có\nhình thể chia lìa như què chân và sứt môi (xấu xí,\nkỳ dị).\n2.\n*Úng Ánh Đại Anh*, tức là người\ncổ bướu dị hình. Nhân đấy mà gọi tên.\nThích cái đẹp bên trong, đến quên cả sự xấu xí của hình hài bên ngoài: đó là cái thích đến tột độ.\nTrong Tình sử Trung Hoa có chép câu chuyện một chàng trai si tình một người đàn bà một mắt, bấy giờ trong thiên hạ anh ta nhìn lại tất cả mọi người đàn bà khác trong nước đều có thừa một mắt cả.\nHình thì nên quên; mà Đức, thì không nên quên (形 宜 忘 德 不 宜 忘).\n3. Du 遊: là rong chơi trong cõi hư không. Chữ\n*du *遊, nghĩa đen là rong chơi, mà\nnghĩa bóng, là tiêu diêu tự đắc, để cho cái\ntâm ung dung linh hoạt trong cõi hư vô(遊 心 於 虛), tức là đã đến cõi “toàn\nđức” rồi vậy.\n4. Hoặc viết là\n“yêu nghiệt” 妖 孽.\n*Nghiệt*, tức là yêu\nnghiệt, là tội ác. Tư Mã 司馬 bàn rằng: *“Trí tuệ sinh yêu\nnghiệt”*(智慧生妖孽).\n5.\n*Đức *德 ở đây, là ám chỉ lễ\nnghĩa. So sánh với câu “Đại Đạo phế,\nhữu nhân nghĩa.” *(Lão tử Đạo Đức Kinh)*.\n6. Chữ 鬻 đây phải âm là dục 育 (chứ không đọc là\n*chúc*)\ntức là nuôi dưỡng(養 也).\n**DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Chi Ly Vô Thần\nvào thuyết Vệ Linh Công. Linh Công ưa thích đến\nnỗi nhìn lại những kẻ thân hình toàn vẹn\nđều có cái cổ bé nhỏ khẳng khiu! * *Úng Ánh Đại Anh vào thuyết Tề Hoàn Công. Hoàn\nCông ưa thích đến đỗi nhìn lại những\nkẻ thân hình toàn vẹn đều có cái cổ bé nhỏ\nkhẳng khiu! * *Cho nên Đức mà hơn người có thể\nlàm cho quên hẳn được hình hài. Người ta (trái\nlại) không biết quên cái nên quên (hình hài) mà lại hay quên\ncái không nên quên (Đức), đó mới là thật quên. Bởi\nvậy, Thánh nhơn có chỗ để mà tự tại;\nhiểu rằng Trí là mầm của tội ác thệ\nước là keo sơn, Đức là nối tiếp, công là\nbuôn bán. Thánh nhơn không mưu tính, thì dùng chi đến Trí?\nKhông đẽo gọt thì dùng chi đến keo? Không mất\nTánh thì dùng chi đến Đức? Không bán chác thì dùng chi\nđến buôn? Bốn cái đó là “Trời nuôi”. Trời\nnuôi, tức là trời cho hấp thụ (cái món ăn\ncủa Trời). Đã được Trời nuôi, cần\ngì dùng đến nhân tạo nữa! Thánh nhơn có cái hình\ncủa người mà không có cái tình của người. Có\ncái hình của người nên mới cùng một đàn\nvới người. Không có tình của người, nên\nthị phi mới không động được lòng. Cùng\nmột đàn với người là việc nhỏ, mà riêng\ncùng làm một với Trời là việc lớn vậy! *\n⸈⸈⸈\n**G.** 惠 子 謂 莊 子 曰:「人 故 無 情 乎 ?」 莊 子 曰:「然。」\n惠 子 曰:「人 而 無 情,何 以 謂 之 人 ?」 莊 子 曰:「道 與 之 貌,天 與 之 形,惡 得 不\n謂 之 人 ?」\n惠 子 曰:「既 謂 之 人,惡 得 無 情 ?」\n莊 子 曰:「是 非 吾 所 謂 情 也。吾 所 謂 無 情 者,言 人 之 不 以 好 惡 內 傷 其 身,常 因 自 然 而 不 益 生 也。」\n惠 子 曰:「不 益 生,何 以 有 其 身 ?」\n莊 子 曰:「道 與 之 貌,天 與 之 形,無 以 好 惡 內 傷 其 身。今 子 外 乎 子 之 神,勞 乎 子 之 精,倚 樹 而 吟,據 槁 梧 而 暝,天 選 子 之 形, 子 以 堅 白 鳴!」\n**G.** Huệ Tử\nvị Trang Tử viết: “Nhơn cố vô tình hồ?”\nTrang Tử viết: “Nhiên!”\nHuệ Tử viết: “Nhơn nhi vô tình, hà dĩ vị chi nhơn?”\nTrang Tử viết: “Đạo dữ chi mạo, thiên dữ chi hình, ô đắc bất vị chi nhơn?”\nHuệ Tử viết: “Ký vị chi nhơn ô đắc vô tình?”\nTrang Tử viết: “Thị phi ngô sở vị tình dã, ngô sở vị vô tình giả, ngôn nhơn chi bất dĩ hảo ác nội thương kỳ thân, thường nhân tự nhiên nhi bất ích sinh dã.”\nHuệ Tử viết: “Bất ích sinh\n1, hà\ndĩ hữu kỳ thân?”\nTrang Tử viết: Đạo dữ chi mạo\nthiên dữ chi hình, vô dĩ hảo ác nội thương\nkỳ thân. Kim tử ngoại hồ tử chi thần, lao\nhồ tử chi tinh, ỷ thụ nhi ngâm, cứ cảo ngô\nnhi minh, thiên tuyển tử chi hình, tử dĩ kiên bạch\n2\nminh.”\n**CHÚ**\n1.\n*Sinh *生, ở đây cùng nghĩa với\nchữ *tính *性.\n2.\n*Kiên bạch *堅 白: là thuyết biện luận của Công Tôn Long公 孫 龍, tức là\nthuyết *“bạch mã kiên thạch” *白 馬 堅 石. Trang Tử chê Huệ Thi không\nbiết thiện dưỡng Thiên Chân, suốt đời biện\nluận để tiêu hao sinh lực trong những cái\nhọc tranh biện vô ích cho con đường giải\nthoát.\n**DỊCH NGHĨA**\n**G.** *Huệ Tử\ngọi Trang Tử, bảo: * **- ** *Người ta không có tình hay sao? Trang Tử nói: * **- ** *Phải! * *Huệ Tử nói: * **- ** *Người mà không có tình, thì lấy gì gọi là người\nđược? Trang Tử nói: * **- ** *Đạo ban cho nó dung mạo, Trời ban cho nó\nhình hài, sao không gọi được là người? * *Huệ Tử nói: * **- ** *Đã gọi là người, mà không có tình,\nđược không? Trang Tử nói: * **- ** *Đó không phải là cái mà tôi gọi là *tình *đâu?\nChỗ mà tôi gọi là *không tình *, chính là chỗ tôi\nmuốn nói rằng con người, bên trong, đừng\nđể cho cái tình cảm yêu ghét làm hại đến\nthân, thường nên theo lẽ tự nhiên mà đừng thêm\ngì cho thiên tính. * *Huệ Tử nói: * **- ** *Không thêm cho thiên tính, sao có được thân? Trang\nTử nói: * **- ** *Đạo cho nó dung mạo; Trời cho nó hình hài\nbên trong, không để cho sự ưa ghét làm hại thân. Nay\nông vụ cái bên ngoài của thần minh của ông,\nđể hao tổn tinh lực của ông, ngồi dựa\ncội mà ngâm vang, bám vào gốc ngô cằn, nhắm mắt\nlàm thinh! Trời đã chọn cho ông một cái hình hài\nnầy, đem chi thuyết “kiên bạch” mà nhọc thân. *\n⸈⸈⸈\n**TỔNG BÌNH**\nThiên Đức Sung Phù là để mà giải cái\nnghĩa của thuyết\n*“bất ngôn chi giáo” *不 言 之 教 của Lão Tử.\nThuyết nầy gốc ở chương\nthứ II sách\n*Đạo Đức Kinh*: *“Thị\ndĩ Thánh nhơn, xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi\ngiáo” *是 以 聖 人,處 無 爲 之 事,行 不 言 之 教 *(Thánh nhân dùng “vô vi” mà xử sự, dùng “bất\nngôn” mà dạy dỗ. )*\nSở dĩ Trang Tử, cũng như Lão Tử, chủ trương thuyết “bất ngôn” là căn cứ vào ba điểm nầy:\nĐạo mà nói ra được, không còn phải là Đạo thường nữa. Nghĩa là Đạo là một lẽ siêu hình, không thể dùng lời nói mà truyền dạy được. Đức mà đầy đủ nơi trong thì người hóa nơi ngoài, tự nhiên cảm hóa được chung quanh, không đợi dùng đến lời mới dạy dỗ được. Nhân theo tự nhiên mà không cần phải nói mới là dạy.\n⸈⸈⸈\n**1.** Bậc Thánh\nnhơn không dùng lời nói mà dạy người, là vì bàn\nvề lẽ Đạo, tức là “cái điều chỉ\ncó thể cảm mà không thể nói” không sao có thể\nđược, nhất là phải dùng đến lời\nnói của giới tương đối nhị nguyên.\nCho nên Lão Tử mới nói:\n*“Tri giả\nbất ngôn, ngôn giả bất tri”*(知 者 不 言,言 者 不 知) (Biết, thì không nói; nói, là không\nbiết), là vì *“Đạo khả đạo, phi\nthường Đạo”*. Kẻ nào tự cho là đã\nhiểu Đạo và đem cái Đạo ấy mà dạy\nta, là kẻ dối ta, nếu không phải họ tự\ndối với lòng.\nThiên Trí Bắc Du giải đoạn nầy có\nnói:\n*“Trí, đi phương Bắc, tới Huyền\nThủy, lên núi Ẩn Phần, gặp Vô Vi Vị. * *Trí gọi Vô Vi Vị bảo: “Tôi muốn hỏi\nông vài lời. Lo làm sao, liệu làm sao mà biết\nđược Đạo? Xử cách nào, làm cách nào mà\nhiểu Đạo? Theo ngả nào, đi đường\nnào mà đặng Đạo?” * *Hỏi ba lời, Vô Vi Vị không đáp lại\nlời nào. * *Hỏi không đặng, Trí đi xuống\nBạch Thủy, ở phương Nam, lên núi Hồ\nQuyết, thấy Cuồng Khuất. Trí đem ba câu hỏi\ntrước, hỏi Cuồng Khuất. * *Cuồng Khuất nói: “À! Tôi biết, để tôi\nnói”. Nhưng vừa muốn nói, thì lại quên chỗ mình\nmuốn nói. * *Trí không hỏi đặng, trở lại\nđế cung hỏi Hoàng đế. Hoàng đế nói:\n“Không lo, không liệu, mới biết Đạo. Không\nxử, không làm, mới biết Đạo. Không theo, không\nđi, mới được Đạo.” * *Trí hỏi Hoàng đế: “Ông cùng tôi biết\nĐạo, còn như hai người kia (Vô Vi Vị và\nCuồng Khuất) không biết Đạo. Vậy ai là\nphải?” * *Hoàng đế nói: “Vô Vi Vị là thật phải.\nCuồng Khuất thì cùng giống như Vô Vi Vị. Chỉ\nrốt lại có ngươi cùng ta là không cận\nĐạo. Vả, kẻ biết thì không nói, kẻ nói là\nkhông biết. Nên bậc Thánh nhơn mới thực hành cái\nthuyết bất ngôn!” *\nẤy, Đạo chẳng thể nói ra\nđặng; nói ra đặng chẳng phải còn là cái\nĐạo “thường” nữa. Cho nên Trang Tử mới\nnói:\n*“Kẻ hỏi Đạo cũng như người\nđáp lại đều là những kẻ không hiểu\nĐạo!” *\n⸈⸈⸈\n**2.** Thánh nhơn\nbiết rằng mỗi vật trong đời đều\ncó cái Đức của nó, và phận sự duy nhất\ncủa mỗi vật là phải biết gìn giữ cái\nĐức ấy nơi mình cho đầy đủ,\nnghĩa là lo sống cái sống ấy một cách triệt\nđể và nuôi dưỡng nó được luôn luôn đầy\nđủ nơi trong. Đức mà đầy đủ\nbên trong thì tự nhiên ứng hiện ra ngoài, thiên hạ\nnhờ đó mà tự hóa, đâu cần phải dùng lời\nnói mà hóa ai. Nên mới gọi là “đức sung phù”, nghĩa\nlà “đức mà đầy đủ nơi trong, thì\nngười ở ngoài nhờ đó mà tự hóa; tự\nnhiên cảm hóa, không phải cần dùng đến lời\nmà dạy”(德 充 於 内,而 人 化 於 外,自 然 感 化,不 待 教 言 者 也).\n⸈⸈⸈\n*Tại nước Lỗ, có người cụt\nchơn, tên là Vương Đài. Số người theo\nhọc ngang với Trọng Ni. * *Thường Quý hỏi Trọng Ni: “Vương\nĐài là kẻ cụt chơn lại cùng với Thầy\nchia hai học trò nước Lỗ. Người ấy,\nđứng thì không dạy điều chi, ngồi thì không\nnghị luận việc gì. Thế mà người\nhọc, đến thì không có gì cả, mà khi ra về,\nthấy mình đầy đủ. Vậy thì, có lối\ndạy mà không cần đến lời, mặc nhiên mà\ncảm hóa được lòng người ư?” *\n⸈⸈⸈\n*Nước Vệ có một người xấu\nxí tên là Ai Đài Đà. Đàn ông nào ở với nó, nhớ\nmà không thể rời bỏ đặng. Đàn bà nào\nthấy nó, về xin cha mẹ rằng: thà làm bé nó hơn làm\nvợ lớn kẻ khác (...) Chưa thường nghe nó\nxướng lên ý gì, chỉ có họa theo ý người thôi*. Thế mà Lỗ\nAi Công phong cho nó chức Tướng quốc, nó nhận\nrồi từ bỏ mà đi, Ai Công buồn bã đến\ntự thấy không làm sao an ủi được khi\nmất nó.\n⸈⸈⸈\nChi Ly Vô Thần, cũng như Úng Ánh Đại Anh, người thì què chơn, sứt môi, người thì cổ bướu dị hình...thế mà khiến cho Vệ Linh Công và Tề Hoàn Công ưa thích đến nỗi nhìn thấy kẻ thân hình toàn vẹn đều xấu xí cả.\nCho nên “đức mà hơn người có thể làm cho ta quên hẳn cả hình hài xấu xí”.\nTrên đây, một Vương Đài tàn tật, không nói gì cả mà thiên hạ tự hóa; một Ai Đài Đà hình thù xấu xa, không nói gì cả mà thiên hạ đều quên cái xấu xí của hình thù, đủ thấy rằng Đức mà đủ nơi trong thì người sẽ hạp với mọi người, đâu đợi cần phải nhiều lời mới cảm hóa.\n⸈⸈⸈\nĐiểm thứ ba của thuyết\n*“bất\nngôn chi giáo” *là căn cứ vào lý tự nhiên. Thiên\nBiền Mẫu giải rất rõ về điều\nnầy: *“Thiên hạ có vật thường tự\nnhiên như vậy! Có vật tự nhiên cong, đâu cần\nphải dùng đến câu móc! Có vật tự nhiên ngay,\nđâu cần phải dùng đến dây mực! Có vật\ntự nhiên tròn, đâu cần phải dùng đến cái\nkhuynh! Có vật tự nhiên vuông, đâu cần phải dùng\nđến thước nách! Vạn vật tự nhiên\nchằng chịt dính líu nhau, đâu cần phải dùng\nđến keo sơn. Vạn vật sống, đâu cần\ngì phải biết vì cớ gì mà sống; đặng,\ncũng không cần biết vì làm sao mà đặng. Nguyên lý\ncủa cái sống và cái đặng kia là việc cố\nhữu, xưa nay không hai. Nó là cái luật bất di bất\ndịch. Vậy thì, vì cớ gì lại đòi đem\nnhững thứ nhân, nghĩa, lễ, nhạc những sợi\ndây nhơn tạo để mà trói buộc thiên hạ,\nkhiến cho thiên hạ lầm lạc!” *\nĐó gọi là lẽ thường nhiên, tức là lẽ tự nhiên. Tự nhiên là cái lẽ phải như vậy, vì nó phải như vậy, không vậy không đặng[47]. Đã nhận theo lẽ tự nhiên, thì hãy để cho vạn vật tự nhiên sống theo cái sống của nó, cần gì phải dùng đến lời nói mà làm chi?\n\n**A.** 知 天 之 所 為,知 人 之 所 為 者,至 矣。知 天 之 所 為 者,天 而 生 也 ; 知 人 之 所 為 者, 以 其 知 之 所 知,以 養 其 知 之 所 不 知,終 其 天 年 而 不 中 道 夭 者,是 知 之 盛 也。雖 然, 有 患。夫 知 有 所 待 而 後 當,其 所 待 者,特 未 定 也。\n庸 詎 知 吾 所 謂 天 之 非 人 乎 ? 所 謂 人 之 非 天 乎。且 有 真 人,而 後 有 真 知。\n**A.** Tri thiên chi sở\nvi, tri nhơn chi sở vi giả, chí hĩ. Tri thiên chi\nsở vi giả, thiên 1 nhi sinh dã. Tri nhơn chi\nsở vi giả, dĩ kỳ tri chi sở tri, dĩ\ndưỡng kỳ tri chi sở bất tri, chung kỳ thiên\nniên nhi bất trung Đạo yểu giả 2,\nthị tri chi thịnh dã. Tuy nhiên, hữu hoạn, phù tri\nhữu sở đãi nhi hậu đương. Kỳ\nsở đãi giả, đặc vị định dã.\nDung cự tri ngô sở vị thiên chi phi nhơn hồ. Sở vị nhơn chi phi thiên hồ. Thả hữu chân nhơn nhi hậu hữu chân tri.\n**CHÚ**\n1.\n*Thiên *天: tức là thiên nhiên, là tự\nnhiên 自 然. Bản của Thôi Tuyển,\nchữ *thiên *天 đây lại viết là 失 (thất). Vô nghĩa! *“Thiên nhi sinh\ndã” *天 而 生 也: tức là thuận theo\nthiên nhiên (hay tự nhiên) mà sống.\n2. Cái mà ta thọ lãnh\ncủa Tạo hóa lúc sanh ra, cái đó gọi là\n*Thiên *天. Cái vai trò của người là tìm\nmà hiểu cái mà mình không biết căn cứ nơi cái mà\nmình đã biết, tìm cách để mà dưỡng nuôi cái\nsống của mình cho đến ngày cùng tận mà Tạo\nhóa đã an bài, không để phải chết giữa\nchừng, như trái rụng trước ngày nó chín muồi.\nCăn cứ vào đâu để phân biệt đâu là hành\nđộng của Trời, đâu là hành động\ncủa Người?...Căn cứ vào giáo lý của các\nbậc chân nhơn, vì chỉ có bậc chân nhơn mới\ngồm nắm được cái biết (chân tri 真 知) mà thôi. Chương nầy dọn\nđường cho chương dưới: “Thế nào là\nchân nhơn...?”\n**DỊCH NGHĨA**\n**A.** *Biết\nđược cái chỗ làm của Trời, biết\nđược cái chỗ làm của Người, đó là\nbiết đến chỗ cùng tột rồi vậy. Biết\nđược cái chỗ làm của Trời, là biết\nthuận theo cái lẽ tự nhiên của Trời\nĐất mà sống. Biết được cái chỗ làm\ncủa Người, là biết lấy cái mà trí mình biết\nđược để dưỡng nuôi cái mà mình không\nthể biết được, hầu hưởng\ntrọn tuổi trời mà không giữa đường\nchết yểu. Ấy là sự biết đến cùng\ncực rồi. * *Tuy nhiên, cũng có điều lo: sự hiểu\nbiết cần phải có chỗ căn cứ, nhiên hậu\nmới có thể thích đương được. Nếu\nchỗ căn cứ ấy mà chưa định\nđược, thì lấy đâu phân biệt Trời và\nNgười? Chả lẽ cái mà ta gọi là Trời\nlại chẳng phải là Người, và cái mà ta gọi là\nNgười lại chẳng phải là Trời. * *Vả, chỉ có chân nhơn, mới có\nđược chân tri. *\n⸈⸈⸈\n**B.** 何 謂 真 人 ?\n古 之 真 人,不 逆 寡,不 雄 成,不 謨 士。若 然 者,過 而 弗 悔,當 而 不 自 得 也。若 然 者, 登 高 不 慄,入 水 不 濡,入 火 不 熱。是 知 之 能 登 假 於 道 也 若 此。\n古 之 真 人,其 寢 不 夢,其 覺 無 憂,其 食 不 甘,其 息 深 深。真 人 之 息 以 踵,眾 人 之 息 以 喉。屈 服 者,其 嗌 言 若 哇 ; 其 耆 欲 深 者, 其 天 機 淺。\n古 之 真 人,不 知 說 生,不 知 惡 死 ; 其 出 不 訢,其 入 不 距。\n翛 然 而 往,翛 然 而 來 而 已 矣。不 忘 其 所 始,不 求 其 所 終 ; 受 而 喜 之,忘 而 復 之。 是 之 謂 不 以 心 捐 道,不 以 人 助 天,是 之 謂 真 人。\n若 然 者,其 心 志,其 容 寂,其 顙 頯 ; 淒 然 似 秋,煖 然 似 春,喜 怒 通 四 時,與 物 有 宜 而 莫 知 其 極。故 聖 人 之 用 兵 也,亡 國 而 不 失 人 心;利 澤 施 乎 萬 世,不 為 愛 人。故 樂 通 物,非 聖 人 也;有 親,非 仁 也;天 時,非 賢 也;利 害 不 通,非 君 子 也;行 名 失 己,非 士 也;亡 身 不 真,非 役 人 也。若 狐 不 偕,務 光 , 伯 夷,叔 齊,箕 子,胥 餘,紀 他,申 徒 狄,是 役 人 之 役,適 人 之 適,而 不 自 適 其 適 者 也。\n古 之 真 人,其 狀 義 而 不 朋,若 不 足 而 不 承,與 乎 其 觚 而 不 堅 也,張 乎 其 虛 而 不 華 也。\n邴 邴 乎 其 似 喜 乎。崔 乎 其 不 得 已 乎。滀 乎 進 我 色 也,與 乎 止 我 德 也 ; 厲 乎 其 似 世 乎。\n謷 乎 其 未 可 制 也 ; 連 乎 其 似 好 閉 也,悗 乎 忘 其 言 也。以 刑 為 體,以 禮 為 翼,以 知 為 時,以 德 為 循。以 刑 為 體 者,綽 乎 其 殺 也,以 禮 為 翼 者,所 以 行 於 世 也,以 知 為 時 者,不 得 已 於 事 也 ; 以 德 為 循 者,言 其 與 有 足 者 至 於 丘 也 ; 而 人 真 以 為 勤 行 者 也。故 其 好 之 也 一,其 弗 好 之 也 一。其 一 也 一,其 不 一 也 一。其 一 與 天 為 徒,其 不 一 與 人 為 徒,天 與 人 不 相 勝 也,是 之 謂 真 人。\n**B.** Hà vị chân\nnhơn?\nCổ chi chân nhơn, bất nghịch quả, bất hùng thành, bất mộ sĩ. Nhược nhiên giả, quá nhi phất hối, đương nhi bất tự đắc dã. Nhược nhiên giả, đăng cao bất lật, nhập thủy bất nhu, nhập hỏa bất thục. Thị tri chi năng đăng giả ư Đạo dã nhược thử.\nCổ chi chân nhơn, kỳ tẩm bất mộng, kỳ giác vô ưu, kỳ thực bất cam, kỳ tức thâm thâm. Chân nhơn chi tức dĩ chủng, chúng nhơn chi tức dĩ hầu. Khuất phục giả kỳ ích ngôn nhược oa, kỳ kỳ dục thâm giả, kỳ thiên cơ thiển.\nCổ chi chân nhơn, bất tri duyệt\n1 sanh,\nbất tri ố tử, kỳ xuất bất hân, kỳ\nnhập bất cự 2.\nTiêu nhiên nhi vãng, tiêu nhiên\n3 nhi lai nhi\ndĩ hĩ. Bất vong kỳ sở thủy, bất\ncầu kỳ sở chung, thụ nhi hỉ chi, vong nhi\nphục chi. Thị chi vị bất dĩ tâm tổn\nĐạo, bất dĩ nhơn trợ thiên. Thị chi\nvị chân nhơn.\nNhược nhiên giả, kỳ tâm chí, kỳ dung tịch, kỳ tảng quỳ, thê nhiên tợ thu, noãn nhiên tợ xuân. Hỉ nộ thông tứ thời dữ vật hữu nghi nhi mạc tri kỳ cực. Cố Thánh nhơn chi dụng binh dã, vong quốc nhi bất thất nhơn tâm. Lợi trạch thí hồ vạn thế bất vi ái nhơn. Cố lạc thông vật, phi Thánh nhơn dã. Hữu thân, phi nhơn dã. Thiên thời, phi hiền dã. Lợi hại bất thông, phi quân tử dã. Hành danh thất kỷ, phi sĩ dã. Vong thân bất chân, phi dịch nhơn dã. Nhược Hồ Bất Giai, Vụ Quang, Bá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tử Dư, Kỷ Tha, Thân Đồ Địch, thị dịch nhơn chi dịch, thích nhơn chi thích, nhi bất tự thích kỳ thích giả dã.\nCổ chi chân nhơn, kỳ trạng nghĩa nhi\nbất bằng; nhược bất túc nhi bất thừa\n4,\ndữ hồ kỳ cô nhi bất kiên dã, trương hồ\nkỳ hư nhi bất hoa dã.\nBỉnh bỉnh hồ kỳ tợ hỉ hồ.\nThôi hồ kỳ bất đắc dĩ hồ. Súc hồ\ntiến ngã sắc dã. Dữ hồ chỉ\n5 ngã\nđức dã. Lệ hồ kỳ tợ thế hồ.\nNgao hồ kỳ vị khả chế dã. Liên\nhồ kỳ tợ hiếu bế dã. Vãn hồ vong kỳ\nngôn dã. Dĩ hình vi thể, dĩ lễ vi dực, dĩ tri\nvi thời. Dĩ đức vi tuần. Dĩ hình vi thể\ngiả, xước hồ kỳ sát dã. Dĩ Lễ vi\ndực giả, sở dĩ hành ư thế dã. Dĩ tri vi\nthời giả, bất đắc dĩ ư sự dã. Dĩ\nđức vi tuần giả, ngôn kỳ dữ hữu túc\ngiả chí ư khưu dã, nhi nhơn chân dĩ cần hành\ngiả dã. Cố kỳ hiếu chi dã nhất, kỳ\nphất hiếu chi dã nhất, kỳ nhất dã nhất,\nkỳ bất nhất dã nhất. Kỳ nhất dữ thiên\nvi đồ. Kỳ bất nhất dữ nhơn\n6 vi\nđồ, thiên dữ nhơn bất tương thắng\ndã. Thị chi vị chân nhơn.\n⸈⸈⸈\n**CHÚ**\n1. 說, gốc là 悅 (duyệt): Hai chữ nầy dùng lẫn nhau.\n2. 距, gốc là 拒 (âm là “cự”).\n3. Tiêu nhiên: vô tâm tự nhiên, tức là thái độ thản nhiên bất động(自 然 無 心)\n4. Theo\n*Thuyết\nVăn *說 文 *, *chữ thừa 乘 có nghĩa là *thụ lãnh*(乘受也). Nghĩa là bậc\nchân nhơn không chạy theo cái ngoài (dù là cái học trục vật).\n5. Chữ 止 (chỉ) có nghĩa là làm dừng lại những cử chỉ thân mật sỗ sàng của kẻ khác.\n6. Họ có được vừa cái nhìn tổng quát, vừa cái nhìn phân tích nghĩa là họ thấy được chỗ chia phân của sự vật, cũng như chỗ hợp nhất của sự vật. Nói một cách khác: họ rất rành về cái lẽ thị phi, lại còn biết vượt lên trên thị phi mà xét đoán.\n**DỊCH NGHĨA**\n**B.** *Thế nào là\nbậc chân nhơn? * *Bậc chân nhơn ngày xưa không nghịch\nvới ai, dù là thiểu số, không cầu công, không cầu\ndanh. Người như vậy, mất không tiếc,\nđược không mừng; lên cao không biết sợ,\nxuống nước không bị ướt, vào lửa không\nbị cháy. Là vì sự biết của họ đã lên\nđến Đạo rồi! * *Bậc chân nhơn ngày xưa ngủ không mộng\nmị, thức chẳng lo âu, ăn không cầu ngon, thở\nhít thì thâm sâu. Hơi thở của chân nhơn thì thấm\nđến gót chơn, còn hơi thở của người\nthường thì dừng nơi cổ họng; kẻ\nmuốn khuất phục người (ham biện bác) thì\nlời nghẹn nơi cuống họng. Lòng tham dục mà\ncàng sâu, thì cái máy trời nơi ta càng nông. * *Bậc chân nhơn ngày xưa không ưa sống\nkhông ghét chết; lúc ra không hăm hở, lúc vào không do\ndự; thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi;\nkhông quên lúc bắt đầu, không cầu lúc sau chót. Nhận\nlãnh thì vui với đó, mà quên đi khi phải trở\nvề. Đó gọi là không lấy cái tình người mà\nchống với lẽ Đạo nơi mình, không lấy\ncái “người” nơi mình mà làm trở ngại lẽ\n“trời” nơi mình. Thế gọi là chân nhơn. Nhờ\nđược thế mà lòng của họ luôn luôn vững\nvàng, cử chỉ điềm đạm, gương\nmặt bình thản; lạnh như mùa thu, mà ấm như\nmùa xuân: mừng giận luân chuyển như bốn mùa, nên\ncùng vạn vật hợp nhau, không biết đến\nđâu là cùng. Bởi vậy, bậc chân nhơn dụng\nbinh, làm mất nước mà không làm mất lòng\nngười; làm lợi và ban bố ân trạch đến\nmuôn đời mà không phải vì yêu người. * *Nên chi, kẻ nào còn vui thích trong việc cầu\nthân và thông cảm với người đời, kẻ\nấy chẳng phải là bậc Thánh; kẻ nào còn\nngười thân, chẳng phải là bậc Nhân; kẻ nào\ncòn tính toán đến thời cơ, chẳng phải là\nbậc Hiền; kẻ nào không thông suốt được\nđiều lợi hại, chẳng phải là người\nquân tử; kẻ nào làm theo danh mà bỏ mất mình\nchẳng phải là kẻ sĩ; kẻ nào làm mất\nmạng, không rõ cái lẽ chân thật nơi mình, cũng\nchẳng phải là kẻ để sai khiến được\nngười vậy. Như Hồ Bất Giai, Vụ Quang,\nBá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tử Dư, Kỷ Tha, Thân\nĐồ Địch đều chỉ là hạng làm cái\nviệc của người khác, theo cái thích của\nngười khác mà không biết tự thích với cái thích\ncủa mình. * *Bậc chân nhơn ngày xưa, thấy như là\nngười có nghĩa mà không bè đảng; thấy như\nkhông đủ mà không thọ của bên ngoài. Họ khuôn\nthước mà không cứng rắn, lòng họ thì rộng\nrãi hư không và không thích việc phù hoa. Họ hớn\nhở như có vẻ vui sướng, nhưng bình tĩnh. Hành\nđộng thì tự nhiên, gây được lòng cảm\nmến bằng sắc mặt hiền hòa, và làm cho\nngười người kính nể vì cái đức của\nhọ. Bề ngoài thì có vẻ hòa nhã với mọi người,\nmà kỳ thực, lòng họ cách xa với thế nhân. Họ\nthích sống một mình, không nói gì với ai, như quên\ncả lời nói. Hình phạt theo họ là cần, nhưng\nhọ áp dụng hình phạt một cách khoan hậu. Lễ,\ntheo họ là phụ thuộc, chỉ dùng để\nđừng đụng chạm với đời thôi. Họ\nthuận theo thời, theo việc. Đối với\nhọ, ưa ghét là một, nghĩa là họ không yêu mà\ncũng không ghét ai; họ xem cả thảy là một,\nnhư Trời, nhưng cũng phân biệt những gì\nbị phân chia giả tạo như Người. Và như\nvậy Trời và Người (nơi họ) không nghịch\nnhau. Bởi vậy, mới gọi họ là chân nhơn. *\n⸈⸈⸈\n**C.** 死 生,命 也,其 有 夜 旦 之 常,天 也。人 之 有 所 不 得 與,皆 物 之 情 也。彼 特 以 天 為 父,而 身 猶 愛 之,而 況 其 卓 乎!人 特 以 有 君 為 愈 乎 己,而 身 猶 死 之,而 況 其 真 乎。\n泉 涸,魚 相 與 處 於 陸,相 呴 以 濕,相 濡 以 沫,不 如 相 忘 於 江 湖。\n與 其 譽 堯 而 非 桀 也,不 如 兩 忘 而 化 其 道。夫 大 塊 載 我 以 形,勞 我 以 生,佚 我 以 老,息 我 以 死。故 善 吾 生 者,乃 所 以 善 吾 死 也。夫 藏 舟 於 壑,藏 山 於 澤,謂 之 固 矣! 然 而 夜 半 有 力 者 負 之 而 走,昧 者 不 知 也。\n藏 小 大 有 宜,猶 有 所 遯。若 夫 藏 天 下 於 天 下 而 不 得 所 遯,是 恆 物 之 大 情 也。特 犯 人 之 形 而 猶 喜 之。若 人 之 形 者,萬 化 而 未 始 有 極 也,其 為 樂 可 勝 計 邪 ? 故 聖 人 將 遊 於 物 之 所 不 得 遯 而 皆 存。善 妖 善 老,善 始 善 終,人 猶 效 之,又 況 萬 物 之 所 係,而 一 化 之 所 待 乎。\n**C.** Tử sinh\nMạng 1 dã. Kỳ hữu dạ đán chi\nthường. Thiên 2 dã. Nhơn chi hữu sở\nbất đắc dữ, giai vật chi tình 3 dã.\nBỉ trì dĩ thiên vi phụ, nhi thân do ái chi. Nhi huống\nkỳ trác hồ. Nhơn đặc dĩ hữu quân vi\ndũ hồ dĩ, nhi thân do tử chi nhi huống kỳ\nchân hồ.\nTuyền hạc ngư tương dữ xử\nư lục, tương hú dĩ thấp, tương nhu\ndĩ mạt, bất tri như tương vong ư giang\nhồ\n4.\nDữ kỳ dự Nghiêu nhi phi Kiệt dã, bất như lưỡng vong nhi hóa kỳ đạo. Phù đại khối tái ngã dĩ hình, lao ngã dĩ sinh, dật ngã dĩ lão, tức ngã dĩ tử. Cố thiện ngô sinh giả, nãi sở dĩ thiện ngô tử dã. Phù tàng chu ư hác, tàng sơn ư trạch, vị chi cố hĩ, nhiên nhi dạ bán hữu lực giả, phụ chi nhi tẩu, muội giả bất tri giả.\nTàng tiểu đại hữu nghi, do hữu sở độn. Nhược phù tàng thiên hạ ư thiên hạ, nhi bất đắc sở độn, thị hằng vật chi đại tình dã. Đặc phạm nhơn chi hình nhi do hỉ chi. Nhược nhơn chi hình giả, vạn hóa nhi vị thủy hữu cực dã. Kỳ vi lạc khả thắng kế da. Cố thánh nhơn tương du ư vật chi sở bất đắc độn nhi giai tồn, thiện yểu, thiện lão, thiện thủy, thiện chung, nhơn do hiệu chi. Hựu huống vạn vật chi sở hệ, nhi nhất hóa chi sở đãi hồ.\n**CHÚ**\n1. Tức là\n*định\nmạng*.\n2. Chữ\n*Thiên *天 đây là ám chỉ *Lẽ\nTrời*, không ám chỉ đấng tối cao như\nThượng Đế.\n3.\n*Bất đắc\ndữ *不 得 與: Chữ 與 có nghĩa là cùng nhau thuận hòa, vui vẻ.”Bất\nđắc dữ”: không được thỏa lòng, tức\nlà sở dĩ có điều đau đớn,\nthương tổn...là vì đã có thương yêu vật\nnầy vật nọ...Có luyến ái là bị ràng buộc và\nvì đó bị đau khổ.\nChữ\n*Tình *情 là chỉ sự quyến\nluyến, yêu thương nhau. Không yêu thương gì cả,\nthì sẽ là người không gì làm đau khổ\nđược nữa. Trên nữa, còn có nhiều tình\ncảm cao hơn là thương yêu sự vật và làm tôi\nmọi cho nó.\n4. Đem chỗ\ntương thân tương ái mà thương nhau lúc họa\nhoạn, sao bằng phòng hoạn, cùng nhau sống với\nnhau ở sông hồ, không cần phải thương nhau\nchi! Cá ở trong nước như ở sông, ở hồ,\nví như người cùng sống với nhau trong Đạo,\nthì có cần gì đến nhân nghĩa, thương yêu giúp\nđỡ nhau...để mà đề cao chữ nhân,\nchữ nghĩa...Đạo mà mất rồi, mới có nhân\nnghĩa. . .”\n*Đại Đạo phế, hữu nhân\nnghĩa.” *( *Đạo Đức Kinh*)\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Chết\nsống là Mạng. Cũng như có đêm có ngày: lẽ\nthường là vậy! Đều là do Trời. Người\nta, nếu có chỗ không được vừa lòng,\nđều là vì cái chỗ lưu luyến với vật. Lấy\nTrời (làm cha) mà còn đem thân hiến dâng cho Đó,\nhuống chi là đối với cái cao hơn! Có vua và cho\nđó là cao nên đem thân mà chết vì đó, huống chi là\nđối với chân lý! Suối cạn, cá cùng bị\nmắc cạn với nhau trên đất, bèn cùng nhau lấy\nướt mà đắp nhau, lấy nước dãi mà\nthấm cho nhau, sao bằng cùng ở sông hồ mà quên nhau!\nCùng nhau khen vua Nghiêu, chê vua Kiệt, sao bằng quên cả hai\nngười ấy đi, để mà hóa theo cái Đạo\ncủa mình! * *Kìa Đại Khối dùng hình mà chở ta, dùng cái\nsống mà lao nhọc ta, lấy tuổi già mà nhàn hạ ta,\nlấy cái chết mà cho ta nghỉ. Cho nên, khéo nuôi cái\nsống của ta là khéo lo liệu cho cái chết của ta. * *Kìa như giấu thuyền vào trong khe, giấu\ntrái núi vào trong chầm sâu, cho thế là vững chắc\nrồi ư. Nhưng mà nửa đêm có kẻ sức\nlực vác nó mà chạy: Kẻ ngu muội mới không\nbiết thế! Bất luận là cất giấu những\nvật nhỏ lớn gì đều cũng có thể bị\nbiến mất được. Nếu đem thiên hạ mà\ngiấu vào trong thiên hạ thì không có cách gì làm cho nó biến\nmất được. Đó là cái Tình lớn của\nvật không thay đổi. Lần nầy tôi\nđược đúc thành hình người thì là việc\nđáng mừng rồi! Nếu có được hình\nngười, rồi lại hóa ra muôn cách khác mà chưa\nbiết đâu là cùng, thì cái vui sẽ không biết đâu là\ntận! Cho nên Thánh nhơn sẽ tự do rong chơi ở\nchỗ mà mọi vật không trốn tránh được mà\nthảy đều được trường tồn [48],\nhọ vui trong cái chết, vui trong cái già, vui trong khi khởi\nđầu, vui trong khi chấm dứt và muốn cho mọi\nngười cùng vui như họ đối với mọi\nbiến cố trên đời, huống chi họ còn\nđợi gì trong khi tất cả vạn vật\nđều cùng nhất tề biến hóa. *\n⸈⸈⸈\n**D.** 夫 道,有 情 有 信,無 為 無 形 ; 可 傳 而 不 可 受,可 得 而 不 可 見 ; 自 本 自 根,未 有 天 地,自 古 以 固 存 ; 神 鬼 神 帝,生 天 生 地 ; 在 太 極 之 先 而 不 為 高,在 六 極 之 下 而 不 為 深,先 天 地 生 而 不 為 久,長 於 上 古 而 不 為 老。\n狶 韋 氏 得 之,以 挈 天 地 ; 伏 戲 得 之,以 襲 氣 母 ; 維 斗 得 之,終 古 不 忒 ; 日 月 得 之, 終 古 不 息 ; 堪 壞 得 之,以 襲 崑 崙,馮 夷 得 之,以 遊 大 川 ; 肩 吾 得 之,以 處 太 山。\n黃 帝 得 之,以 登 雲 天 ; 顓 頊 得 之,以 處 玄 官 ; 禺 強 得 之,立 乎 北 極 ; 西 王 母 得 之, 坐 乎 少 廣,莫 知 其 始,莫 知 其 終,彭 祖 得 之,上 及 有 虞,下 及 五 伯 ; 傅 說 得 之,以 相 武 丁 奄 有 天 下,乘 東 維,騎 箕 尾,而 比 於 列 星。\n**D.** Phù Đạo\nhữu tình hữu tín, vô vi vô hình, khả truyền nhi\nbất khả thụ, khả đắc nhi bất khả\nkiến. Tự bản tự căn vị hữu thiên\nđịa tự cổ dĩ cố tồn, thần\nquỷ thần đế, sinh thiên sinh địa. Tại\nthái cực chi tiên nhi bất vi cao, tại lục cực chi\nhạ nhi bất vi thâm. Tiên thiên địa sinh nhi bất vi\ncửu, trường ư thượng cổ nhi bất vi\nlão.\nHi Vi thị đắc chi dĩ khiết thiên địa. Phục Hy đắc chi dĩ tập khí mẫu. Duy đẩu đắc chi chung cổ bất thắc. Nhật nguyệt đắc chi chung cổ bất tức. Kham Phi đắc chi dĩ tập Côn lôn. Phùng Di đắc chi dĩ du đại xuyên. Kiên Ngô đắc chi dĩ xử Thái Sơn.\nHoàng đế đắc chi dĩ chứng vân thiên. Chuyên Húc đắc chi dĩ xử huyền cung. Ngung Cường đắc chi lập hồ Bắc cực. Tây Vương Mẫu đắc chi tọa hồ thiếu quảng. Mạc tri kỳ thủy, mạc tri kỳ chung. Bành Tổ đắc chi, thượng cập Hữu Ngu, hạ cập ngũ bá. Phó Duyệt đắc chi dĩ tương Vũ Đinh Yêm hữu thiên hạ thừa đông duy kỵ cơ vĩ, nhi tỉ ư liệt tinh.\n**DỊCH NGHĨA**\n**D.** *Đạo thì\ncó tình, có tính, vô vi, vô hình; có thể trao cho mà không thể\nthụ lãnh; có thể hiểu được mà không thể\nthấy được. Đạo thì tự bản tự\ncăn. Hồi chưa có Trời Đất, Đạo\nđã có rồi. Đạo sinh ra quỷ, sinh ra Đế;\nsinh ra Trời, sinh ra Đất. Ở trước Thái\ncực mà chẳng gọi là cao; ở dưới lục\ncực mà không gọi là sâu; sinh ra trước Trời\nĐất, mà chẳng gọi là lâu; dài hơn thượng\ncổ mà chẳng gọi là già. * *Hi Vi được Nó mà nắm được\nyếu chỉ của Trời Đất. Phục Hy\nđược nó mà đoạt được cái nguồn\ngốc của nguyên khí. Bắc Đẩu được\nNó mà chiếm được địa vị không thay\nđổi của mình. Mặt trời mặt trăng\nđược Nó mà vận chuyển không ngừng. Kham Phi\nđược Nó mà làm được thần núi Côn Lôn. Phùng\nDi được Nó mà rong chơi ở các sông to. Kiên Ngô\nđược Nó mà ở Thái Sơn. Hoàng Đế\nđược Nó mà lên đến chốn trời mây. Chuyên\nHúc được nó mà ngự đến cung Huyền. Ngung\nCường được Nó mà đứng ngay Bắc\nCực. Tây Vương Mẫu được Nó mà ngồi\nở ngôi đền Thiếu Quảng, không ai biết sinh\nNó từ bao giờ, không ai biết bao giờ Nó mới\nchết. Bành Tổ được Nó mà sống từ\nđời Hữu Ngu đến đời Ngũ Bá. Phó\nDuyệt được Nó mà giúp Vũ Đinh, gồm thâu\nthiên hạ, lên tận cõi Đông, cỡi sao Cơ, sao Vĩ\nmà sánh vai với các vì tinh tú. *\n⸈⸈⸈\n**E.** 南 伯 子 葵 問 乎 女 偊 曰:「子 之 年 長 矣, 而 色 若 孺 子 何 也 ?」 曰:「吾 聞 道 矣。」\n南 伯 子 葵 曰:「道 可 得 學 邪 ?」 曰:「惡!惡 可!子 非 其 人 也。夫 卜 梁 倚 有 聖 人 之 才 而 無 聖 人 之 道,我 有 聖 人 之 道 而 無 聖 人 之 才。吾 欲 以 教 之,庶 幾 其 果 為 聖 人 乎!不 然,以 聖 人 之 道,告 聖 人 之 才, 亦 易 矣。吾 猶 守 而 告 之,參 日 而 後 能 外 天 下 ; 已 外 天 下 矣,吾 又 守 之,七 日 而 後 能 外 物 ; 已 外 物 矣,吾 又 守 之,九 日,而 後 能 外 生 ; 已 外 生 矣,而 後 能 朝 徹 ; 朝 徹, 而 後 能 見 獨 ; 見 獨,而 後 能 無 古 今 ; 無 古 今,而 後 能 入 於 不 死 不 生。殺 生 者 不 死,生 生 者 不 生。其 為 物,無 不 將 也,無 不 迎 也 ; 無 不 毀 也,無 不 成 也。其 名 為 攖 寧。攖 寧 也 者,攖 而 後 成 者 也。」\n南 伯 子 葵 曰:「子 獨 惡 乎 聞 之 ?」 曰:「 聞 諸 副 墨 之 子,副 墨 之 子 聞 諸 洛 誦 之 孫, 洛 誦 之 孫 聞 之 瞻 明,瞻 明 聞 之 聶 許,聶 許 聞 之 需 役,需 役 聞 之 於 謳,於 謳 聞 之 玄 冥,玄 冥 聞 之 參 寥,參 寥 聞 之 疑 始。」\n**E.** Nam Bá Tử\nQuỳ vấn hồ Nhữ Vũ viết: “Tử chi niên\ntrưởng hĩ, nhi sắc nhược nhụ tử hà\ndã?” Viết: “Ngô văn Đạo 1 hĩ.”\nNam Bá Tử Quỳ viết: “Đạo khả đắc học da.”\nViết: “Ô! Ô khả! Tử phi kỳ nhơn dã. Phù\nBốc Lương Ỷ\n2hữu thánh nhơn chi tài,\nnhi vô thánh nhơn chi Đạo. Ngã hữu thánh nhơn chi\nĐạo, nhi vô thánh nhơn chi tài. Ngô dục dĩ giáo chi,\nthứ cơ kỳ quả vi thánh nhơn hồ? Bất nhiên,\ndĩ thánh nhơn chi Đạo, cáo thánh nhơn chi tài,\ndiệc dị hĩ. Ngô do thủ nhi cáo chi. Tham nhật nhi\nhậu năng ngoại thiên hạ. Dĩ ngoại thiên\nhạ hĩ, ngô hựu thủ chi, thất nhật nhi\nhậu năng ngoại 3 vật. Dĩ ngoại\nvật hĩ, ngô hựu thủ chi cửu nhật, nhi\nhậu năng ngoại sinh 4. Dĩ ngoại sinh\nhĩ, nhi hậu năng triêu triệt. Triêu triệt 5 nhi\nhậu năng kiến độc 6. Kiến\nđộc nhi hậu năng vô cổ kim. Vô cổ kim nhi\nhậu năng nhập ư bất tử bất sinh. Sát\nsinh 7 giả bất tử. Sinh sinh giả\nbất sinh. Kỳ vi vật vô bất tương dã, vô\nbất nghinh 8 dã, vô bất hủy dã, vô bất\nthành 9 dã. Kỳ danh vi oanh ninh 10. Oanh ninh\ndã giả, oanh nhi hậu thành giả dã.”\nNam Bá Tử Quỳ viết: “Tử độc ô\nhồ văn chi”. Viết: “Văn chư Phó Mặc chi\ntử. Phó Mặc chi tử văn chư Lạc Tụng chi\ntôn. Lạc Tụng chi tôn văn chi Chiêm Minh. Chiêm Minh văn\nchi Nhiếp Hứa. Nhiếp Hứa văn chi Nhu Dịch. Nhu\nDịch văn chi ư Âu, ư Âu văn chi Huyền Minh. Huyền\nMinh văn chi Tham Liêu. Tham Liêu văn chi Nghi Thủy.”\n11\n⸈⸈⸈\n**CHÚ**\n1.\n*Văn Đạo*聞道, tức là đã hiểu Đạo.\nHiểu Đạo, tức là đã hành Đạo, thì\nđược chỗ tự sinh của nó, mà sắc\ndiện được toàn.\nChữ\n*Văn *聞đây, không phải có nghĩa\nlà *nghe *ngoài tai, mà *nghe *được\nbên trong. Có hiểu biết thì mới nghe được vào\ntâm, cho nên *Văn Đạo *聞道 ở đây lại có nghĩa\nlà người đã được Đạo(得道).\n2. Đọc là “y”, không đọc là “ỷ”.\n3.\n*Ngoại *外: là gạt bỏ ra ngoài tâm trí. Không\nbận đến ngoại vật nữa, tức là\nnhững vật không tùng mình, như danh, lợi, thị,\nphi, vinh nhục v. v...\n4.\n*Cái sống *外生 (ngoại sinh). Cái “sống” đây,\nlà sự hiện sinh, hiện hữu của “cái ta” (hữu\nngã).”Ngoại sinh” 外生, là quên mất rằng “ta” đây là có, hay nói theo\ndanh từ triết học ngày nay: quên mất sự\nhiện sinh của mình.\n5.\n*Triêu triệt *朝 徹: một sớm mà suốt lẽ. Tức là\nsự *“hoát nhiên đại ngộ” *豁然大語 mà nhà Phật\ngọi là “đốn ngộ”頓悟.\n6.\n*Kiến\nđộc *見獨: thấy\nđược cái Một (tức là Đạo). Độc\n獨 là “độc\nnhất vô nhị”(獨一無二).\n7.\n*Sát sinh *殺生: là diệt cái lòng ham sống,\ntrừ được cái lòng ham sống cho cái “ta” của\nmình, tức là cái sống theo tư dục...thì mới\nsống được trong cái mà Lão Tử gọi là *“tử\nnhi bất vong giá thọ” *死而不亡者壽 ám chỉ chân\ntánh. Cho nên mới gọi là “bất tử”(除其管 生為殺).\n8.\n*Sinh sinh *生生là sống theo cái sống của\ntư dục. Chữ 生trước là sống, Chữ 生sau có nghĩa là *“tự sinh ”*自 生 (sống cho mình). *Đưa, đón *là chỉ cái *sau*, cái *trước*,\ncái *đuôi*, cái *đầu*, cái *chung*,\ncái *thủy*...\n9.\n*Hủy, thành *là nói cái chết, cái\nsống...\n10. Chữ 攖 (anh), phải đọc là 縈 (oanh).”Oanh ninh” có nghĩa là bình thản điềm đạm, mặc dù bị ngoại vật kích động. Sanh tử, thành hoại,...tất cả đều không còn làm rối loạn lòng ta. Ninh 寧 là yên lặng; oanh 攖 là kích động, khêu khích.\n11. Phó Mặc, Lạc Tụng, Chiêm Minh v. v...phải chăng là tên người? Nhưng có nhà chú giải cho là “những danh từ có ý nghĩa trừu tượng. Phó Mặc, ám chỉ sách vở, văn tự (Phó Mặc có nghĩa là bút mực). Lạc Tụng, có nghĩa là học hành. Chiêm Minh, là xem xét. Nhiếp Hứa là ngẫm nghĩ. Nhu Dịch là chăm chỉ. Âu là ca ngợi. Huyền Minh là hư vô mà không là hư vô (Vô nhi phi vô 無而非無). Tham Liêu, là bao la, man mác. Nghi Thủy, là ngờ không có đầu mối. Có người cho rằng đây là đoạn thuyết minh thứ tự của sự học Đạo: do đọc văn tự mà hiểu biết, do hiểu biết mà lĩnh hội, do lĩnh hội mà thực hành, do thực hành mà vui vẻ ca xang, do vui vẻ mà tĩnh mạc, do tĩnh mạc mà đến chỗ hư vô, do hư vô mà được Đạo.\n**DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Nam Bá Tử\nQuỳ hỏi Nhữ Vũ: * **- ** *Tuổi của ông đã cao rồi, mà sắc\ndiện như đứa trẻ thơ, sao vậy? * **- ** *Ta đã nghe được Đạo! Nam Bá\nTử Quỳ hỏi: * **- ** *Đạo có thể học được\nchăng? * **- ** *Ồ! Sao được! Ngươi đâu\nphải hạng người ấy! Kìa như Bốc\nLương Y có cái tài của Thánh nhơn mà không có cái\nĐạo của Thánh nhơn. Ta, thì có cái Đạo\ncủa Thánh nhơn, mà không có cái tài của Thánh nhơn. Ta\nmuốn đem cái Đạo ấy mà dạy hắn, may ra\nhắn có thể trở thành Thánh nhơn chăng? Nếu\nkhông được như thế, thì đem cái Đạo của\nThánh nhơn mà bảo cho kẻ có cái tài của Thánh nhơn\ncũng là dễ rồi. Vậy mà ta còn phải giữ\nhắn lại, rồimới dạy bảo hắn! Ba ngày,\nhắn mới bỏ được thiên hạ ra ngoài!\nĐã bỏ thiên hạ ra ngoài, vậy mà ta còn phải\ngiữ hắn lại nữa. Bảy ngày, hắn mới\nbiết bỏ vật ra ngoài. Đã bỏ vật ra ngoài,\nvậy mà còn phải giữ hắn lại nữa. Chín ngày,\nhắn mới bỏ được cái sống ra ngoài. Bỏ\nđược cái sống ra ngoài, thì mới có thể “triêu\ntriệt”. Có “triêu triệt” mới có thể “kiến\nđộc”. Có “kiến độc” mới không còn thấy\ncó xưa có nay nữa. Không còn thấy có xưa có nay,\nmới đi vào cõi không sống không chết. Giết\nđược cái lòng ham sống cho mình thì sẽ không\nchết. Sống cái sống cho mình thì không sống. Đã là\nvật, thì không lúc nào là không có đưa, không lúc nào là không\ncó đón, không lúc nào là không có hủy, không lúc nào là không có\nthành. Tên nó gọi là “oanh ninh”. Oanh ninh, có nghĩa là kích thích,\nrồi sau mới có thành. * *Nam Bá Tử Quỳ hỏi: * **- ** *Riêng ông đã nghe được cái Đạo\nấy nơi đâu? Rằng: * **- ** *Nghe nó ở con của ông Phó Mặc. Con của ông\nPhó Mặc nghe ở cháu ông Lạc Tụng. Cháu ông Lạc\nTụng nghe ở ông Chiêm Minh. Ông Chiêm Minh nghe ở ông\nNhiếp Hứa. Ông Nhiếp Hứa nghe ở ông Nhu\nDịch. Ông Nhu Dịch nghe ở ông Âu. Ông Âu nghe ở ông\nHuyền Minh. Ông Huyền Minh nghe ở ông Tham Liêu. Ông Tham Liêu\nnghe ở ông Nghi Thủy. *\n⸈⸈⸈\n**F.** 子 祀 , 子 輿 , 子 犁 , 子 來 四 人 相 與 語,曰:「孰 能 以 無 為 首,以 生 為 脊,以 死 為 尻。孰 知 生 死 存 亡 之 一 體 者,吾 與 之 友 矣。」 四 人 相 視 而 笑,莫 逆 於 心,遂 相 與 為 友。\n俄 而 子 輿 有 病,子 祀 往 問 之 曰:「偉 哉, 夫 造 物 者 將 以 予 為 此 拘 拘 也。曲 僂 發 背, 上 有 五 管,頤 隱 於 齊,肩 高 於 頂。句 贅 指 天,陰 陽 之 氣 有 沴。」其 心 閒 而 無 事,跰 (足 鮮) 而 鑑 於 井,曰:\n「嗟 乎!夫 造 物 者 又 將 以 予 為 此 拘 拘 也。」 子 祀 曰:「女 惡 之 乎 ?」 曰:「亡,予 何 惡!浸 假 而 化 予 之,左 臂 以 為 雞,予 因 以 求 時 夜 ; 浸 假 而 化 予 之 右 臂 以 為 彈,予 因 以 求 鴞 炙 ; 浸 假 而 化 予 之 尻 以 為 輪,以 神 為 馬,予 因 以 乘 之,豈 更 駕 哉!且 夫 得 者, 時 也 ; 失 者,順 也。安 時 而 處 順,哀 樂 不 能 入 也,此 古 之 所 謂 縣 解 也,縣 而 不 能 自 解 者,物 有 結 之。且 夫 物 不 勝 天 久 矣,吾 又 何 惡 焉!」\n俄 而 子 來 有 病,喘 喘 然 將 死。其 妻 子 環 而 泣 之。子 犁 往 問 之,曰:「叱 避 無 怛 化!」 倚 其 戶 與 之 語 曰:「偉 哉 造 化!又 將 奚 以 汝 為,將 奚 以 汝 適 ? 以 汝 為 鼠 肝 乎 ? 以 汝 為 蟲 臂 乎 ?」\n子 來 曰:「父 母 於 子,東 西 南 北,唯 命 之 從。陰 陽 於 人,不 翅 於 父 母 ; 彼 近 吾 死 而 我 不 聽,我 則 悍 矣,彼 何 罪 焉 ? 夫 大 塊 載 我 以 形,勞 我 以 生,佚 我 以 老,息 我 以 死。 故 善 吾 生 者,乃 所 以 善 吾 死 也。今 大 冶 鑄 金,金 踴 躍 曰:『 我 且 必 為 鏌 邪!』 大 冶 必 以 為 不 祥 之 金。今 一 犯 人 之 形 而 曰:『 人 耳!人 耳!』 夫 速 化 者 必 以 為 不 祥 之 人。 今 一 以 天 地 為 大 爐,以 造 化 為 大 冶,惡 乎 往 而 不 可 哉!」成 然 寐,遽 然 覺。\n**F.** Tử Tự,\nTử Dư, Tử Lê, Tử Lai, tứ nhơn tương\ndữ ngứ viết: Thục năng dĩ vô, vị\nthủ, dĩ sinh vi tích, dĩ tử vi khao. Thục tri\ntử sinh tồn vong chi nhất thể giả, ngô dữ\nchi hữu chi. Tứ nhơn tương thị nhi tiếu,\nmạc nghịch ư tâm, toại tương dữ vi\nhữu.\nNga nhi Tử Dư hữu bệnh. Tử Tự\nvãng vấn chi viết: “Vĩ tai, phù tạo vật giả\ntương dĩ dư vi thử câu câu dã, khúc lũ phát\nbối, thượng hữu ngũ quản, di ẩn ư\ntề kiên cao ư đỉnh. Cú chuế chỉ thiên, âm\ndương chi khí hữu điển”. Kỳ tâm, nhàn nhi vô\nsự, nghiễn tiên nhi giám vu tỉnh viết: “Ta hồ!\nPhù tạo vật giả hựu tương dĩ dư vi\nthử câu câu dã”. Tử Tự viết: “Nhữ\n1 ố\nchi hồ!”. Viết: “Vong. Dư hà ố. Tẩm giả 2 nhi\nhóa dư chi. Tả tỵ dĩ vi kê, dư nhân dĩ\ncầu thời dạ. Tẩm giả nhi hóa dư chi\nhữu tỵ dĩ vi đàn, dư nhân dĩ cầu hào\nchích. Tẩm giả nhi hóa dư chi khao 3 dĩ vi\nluân, dĩ thần vi mã, dư nhân nhi thừa chi, khởi\ncánh giá tai. Thả phù đắc giả, thời dã. Thất\ngiả thuận dã. An thời nhi xử thuận, ai lạc\nbất năng nhập dã. Thử cổ chi sở vị\nhuyền giải. Huyền nhi bất năng tự giải\ngiả, vật hữu kết chi. Thả phù vật bất\nthắng thiên cửu hĩ. Ngô hựu hà ố yên.”\nNga nhi Tử Lai hữu bệnh, suyển suyển nhiên tương tử. Kỳ thê tử hoàn nhi khấp chi. Tử Lê vãng vấn chi. Viết: “Sất tỵ, vô đát hóa”. Ỷ kỳ hộ dữ chi ngứ viết: “Vĩ tai tạo hóa hựu tương hề dĩ nhữ vi. Tương hề dĩ nhữ thích, dĩ nhữ vi thử can hồ. Dĩ nhữ vi trùng tỵ hồ”.\nTử Lai viết: “Phụ mẫu ư tử, đông tây nam bắc, duy mạng chi tùng. Âm dương ư nhơn. Bất sí ư phụ mẫu. Bỉ cận ngô tử nhi ngã bất thính. Ngã tắc hãn hĩ. Bỉ hà tội yên, phù đại khối tái ngã dĩ hình, lao ngã dĩ sinh, dật ngã dĩ lão, tức ngã dĩ tử. Cố thiện ngô sinh giả, nãi sở dĩ thiện ngô tử dã”. Kim đại dã chú kim, kim dõng dược viết: “Ngã thả tất vi Mạc Da. Đại dã tất dĩ vi bất tường chi kim. Kim nhất phạm nhơn chi hình, nhi viết nhơn nhĩ nhơn nhĩ. Phù tốc hóa giả, tất dĩ vi bất tường chi nhơn. Kim nhất dĩ thiên địa vi đại lô dĩ tạo hóa vi đại dã. Ô hồ vãng nhi bất khả tai. Thành nhiên mị, cự nhiên giác”.\n**CHÚ**\n1. Đọc là “nhữ” 汝.\n2.\n*Tẩm giả *浸 假: ví như, giả thử...\n3.\n*Khao *尻: xương cùng của xương\nsống.\n**DỊCH NGHĨA**\n**F.** *Tử Tự,\nTử Dư, Tử Lê, Tử Lai, bốn người nói\nvới nhau: * **- ** *Ai có thể lấy cái Vô làm đầu, lấy cái\nSống làm xương sống, lấy cái Chết làm\nxương cùng? Ai biết Chết Sống Còn Mất là\nmột, *- *thì ta sẽ cùng họ kết bạn. * *Bốn người nhìn nhau mà cười, không ai\nthấy nghịch với lòng mình, nên cùng làm bạn với\nnhau. * *Chẳng bao lâu, Tử Dư [49] lâm\nbệnh. Tử Tự qua thăm Tử Dư, nói: * **- ** *Lớn lao thay! Tạo vật bắt tôi như\nthế nầy: lưng thì gù, năm tạng thì ở trên,\nmồm, mép thì sát rốn, vai thì cao hơn đỉnh\nđầu, núm tóc thì dựng lên! Khí âm dương chừng\nnhư sai đảo! Nhưng mà lòng nầy nhàn rỗi vô\nsự, lom khom ra bờ giếng mà soi mình: Than ôi! Tạo\nvật lại muốn bắt ta làm cái hạng người\ngù như thế nầy nữa ư? * *Tử Tự nói: * *- * *Anh ghét cái đó sao? Tử Dư nói: * *- * *Không, tôi sao lại ghét? Giá như hóa cánh tay trái tôi\nthành con gà, thì tôi nhân đó mà gáy canh; giá như hóa cánh tay\nmặt tôi thành hòn đạn, thì tôi nhân đó mà kiếm\nchim quay. Giá như hóa cái xương cùng của tôi thành\nbánh xe, hóa cái thần hồn tôi thành con ngựa, thì tôi nhân\nđó mà cỡi, há còn đợi xe ngựa nào nữa!\nVả, được là thời, mất là thuận. An\nthời xử thuận thì buồn vui làm sao vào\nđược cõi lòng. Đó là chỗ mà người\nxưa gọi là huyền giải [50].\nHuyền mà không tự mở ra được là vì vật\ncó chỗ trói buộc của nó. Vậy mà từ lâu vật\nvẫn không thắng nổi Trời. Tôi sao lại ghét mà làm\nchi! * *Chẳng bao lâu, Tử Lai cũng lâm bệnh\nnặng, hổn hển gần chết. Vợ con\nđứng bao quanh mà khóc. Tử Lê qua thăm. Thấy\nvậy, bèn nói: “Tránh ra xa! Đừng làm rộn\nngười sắp hóa [51]”.\n* *Rồi đứng dựa cửa, nói với\nTử Lai: * *- * *Lớn lao thay! Tạo hóa lại sắp làm gì anh\nđây? Lại sắp đem anh đi đâu? Lại\nsắp biến anh thành gan chuột, hay hóa anh thành cánh trùng? * *Tử Lai nói: * *- Con mà đối với cha mẹ, thì sai bảo\nđi đâu cũng phải nghe theo, dù là Đông, Tây, Nam,\nBắc. Âm dương cũng như cha mẹ, chẳng\nphải như thế ư? Đó xô ta gần đến\nchỗ chết, mà ta không tuân theo, là ta ngỗ nghịch,\nchứ Đó có tội gì đâu! Kìa như Đại\nkhối [52] dùng\nhình mà chở ta, dùng cái sống mà lao nhọc ta, lấy\ntuổi già mà nhàn hạ ta, lấy cái chết để ta\nnghỉ ngơi. Bởi vậy, khéo nuôi cái sống của\nta, là khéo lo liệu cho cái chết của ta[53].\nNay có người thợ đúc kim khí. Kim khí lại\nnhảy dựng lên mà đòi: “Ta muốn là thanh gươm\nMạc Da”, thì người thợ đúc, tất cho đó\nlà thứ kim khí bất thường! Nay lại có kẻ sắp\nđược đem đúc ra hình người, lại\ncũng đòi: “Người mà thôi! Người mà thôi!” thì\nTạo hóa tất cũng cho người đó là\nngười quái gở! Nay Trời Đất là cái lò\nlớn, Tạo hóa là người thợ đúc. Vậy thì\nsao mà chẳng được? Yên lặng để mà\nngủ, hốt nhiên để mà thức![54]*\n⸈⸈⸈\n**H. ** 顏 回 問 仲 尼 曰:「孟 孫 才,其 母 死,哭 泣 無 涕,中 心 不 戚,居 喪 不 哀。無 是 三 者,以 善 喪 蓋 魯 國。固 有 無 其 實 而 得 其 名 者 乎 ? 回 壹 怪 之。」\n仲 尼 曰:「夫 孟 孫 氏 盡 之 矣,進 於 知 矣。唯 簡 之 而 不 得,夫 巳 有 所 簡 矣。孟 孫 氏 不 知 所 以 生,不 知 所 以 死 ; 不 知 就 先,不 知 就 後 ; 若 化 為 物,以 待 其 所 不 知 之 化 巳 乎!且 方 將 化,惡 知 不 化 哉 ? 方 將 不 化,惡 知 已 化 哉 ? 吾 特 與 汝 其 夢 未 始 覺 者 邪!且 彼 有 駭 形 而 無 損 心,有 旦 宅 而 無 情 死。孟 孫 氏 特 覺,人 哭 亦 哭,是 自 其 所 以 乃。且 也 相 與 吾 之 耳 矣,庸 詎 知 吾 所 謂 吾 之 乎 ? 且 汝 夢 為 鳥 而 厲 乎 天,夢 為 魚 而 沒 於 淵。不 識 今 之 言 者,其 覺 者 乎 ? 其 夢 者 乎 ? 造 適 不 及 笑,獻 笑 不 及 排,安 排 而 去 化,乃 入 於 寥 天 一。」\n**H. ** Nhan Hồi vấn Trọng Ni\nviết:\n“Mạnh Tôn Tài kỳ mẫu tử, khốc khấp vô thể, trung tâm bất thích cư tang bất ai. Vô thị tam giả, dĩ thiện tang cái Lỗ Quốc, cố hữu vô kỳ thực nhi đắc, kỳ danh giả hồ! Hồi nhất quái chi.”\nTrọng Ni viết: “Phù Mạnh Tôn thị tận chi hĩ! Tiến ư tri hĩ. Duy giản chi nhi bất đắc. Phù dĩ hữu sở giản hĩ. Mạnh Tôn thị bất tri sở dĩ sinh, bất tri sở dĩ tử, bất tri tựu tiên, bất tri tựu hậu. Nhược hóa vi vật, dĩ đãi kỳ sở bất tri chi hóa dĩ hồ. Thả phương tương hóa. Ô tri bất hóa tai. Phương tương bất hóa, ô tri dĩ hóa tai. Ngô đặc dữ nhữ kỳ mộng, vị thủy giác giả da. Thả bỉ hữu hãi hình nhi vô tổn tâm, hữu đán trạch nhi vô tình tử. Mạnh Tôn thị đặc giác, nhơn khốc diệc khốc, thị tự kỳ sở dĩ nãi. Thả dã, tương dữ ngô chi nhĩ hĩ. Dung cự tri ngô sở vị ngô chi hồ. Thả nhữ mộng vi điểu nhi lệ hồ thiên, mộng vi ngư nhi một ư uyên. Bất thức kim chi ngôn giả, kỳ giác giả hồ. Kỳ mộng giả hồ. Tạo thích bất cập tiếu, hiến tiếu bất cập bài. An bài nhi khứ hóa, nãi nhập ư liêu thiên nhất.”\nDỊCH NGHĨA\n:\n**H. ** *Nhan Hồi hỏi Trọng Ni: * **- ** *Mạnh Tôn Tài, mẹ chết, kêu khóc mà không có\nnước mắt. Trong lòng không xót xa, để tang mà không\ntỏ ra bi thảm. Không có ba điều ấy, vậy mà\nđược tiếng là người khéo để tang\nnhất ở nước Lỗ. Anh ta vốn chẳng có\ncái thực bên trong mà sao lại được danh như\nthế? Hồi cho thế là lạ thật! * *Trọng Ni nói: * **- ** *Ông Mạnh Tôn đã hiểu đến chỗ\ntận cùng rồi, đã tiến đến bậc Trí\nrồi! Ông không bỏ cái mà người đời không\nbỏ được, nhưng ông bỏ được\nnhững tình cảm bên trong của người đời [55].\nĐối với ông, sống chết là một, ông cũng\nkhông phân biệt giữa hai trạng thái ấy cái nào là trước,\ncái nào là sau...[56] Nếu\nhóa làm một vật khác, là để đợi một cái\nhóa sắp đến cho mình mà mình không biết. Đang\nsắp sẽ hóa, biết đâu rồi lại không hóa!\nĐang sẽ không hóa, biết đâu mình đã hóa rồi!\nRiêng ta và ngươi là những người trong mộng mà\nchưa tỉnh đó chăng? Vả, sống chết,\nđối với ông Mạnh Tôn chỉ là một cuộc\nthay hình đổi tướng, có gì mà phải bận lòng;\ncũng chẳng hơn gì cái cảnh đổi nhà (cái nhà\ntrọ mà mình chỉ ở một ngày)...Ông Mạnh Tôn\nchỉ riêng biết rằng người khóc thì mình cũng\nkhóc, nhưng trong lòng thì không khóc. (Như vậy, không\nđộng chạm đến thế nhân, mà cũng\nđược thành thực với cõi lòng). Vả lại,\nai cũng tưởng cái hình thức nầy là của ta,\nđâu biết rằng cái mà mình cho rằng là của ta,\nquả thật có là của ta chăng? Hay không phải là của\nta? Như ngươi nằm mộng thấy mình là chim mà\nbay lên trời, rồi lại thấy mình là cá mà lặn\ndưới vực sâu. Chẳng rõ lời nói ta hôm nay là nói\ntrong khi thức, hay là lời nói trong lúc mộng?[57] Thích\nchí mà không kịp cười. Cười mà không kịp\nsắp đặt. Sắp đặt sẵn sàng rồi nên\nquên mất sự sinh hóa, thì mới vào được cõi\ntrời vắng lặng[58].\n*\n⸈⸈⸈\n**I.** 意 而 子 見 許 由,許 由 曰:「堯 何 以 資 汝\n?」\n意 而 子 曰:「堯 謂 我:『 汝 必 躬 服 仁 義 而 明 言 是 非。』」\n許 由 曰:「而 奚 來 為 軹 ? 夫 堯 既 已 黥 汝 以 仁 義,而 劓 汝 以 是 非 矣,汝 將 何 以 遊 夫 遙 蕩 恣 睢 轉 徙 之 塗 乎 ?」\n意 而 子 曰:「雖 然,吾 願 遊 於 其 藩。」 許 由 曰:「不 然。夫 盲 者 無 以 與 乎 眉 目 顏\n色 之 好,瞽 者 無 以 與 乎 青 黃 黼 黻 之 觀。」\n意 而 子 曰:「夫 無 莊 之 失 其 美,據 梁 之 失 其 力,黃 帝 之 亡 其 知,皆 在 鑪 捶 之 間 耳。 庸 詎 知 夫 造 物 者 之 不 息 我 黥 而 補 我 劓,使 我 乘 成 以 隨 先 生 邪 ?」\n許 由 曰:「噫!未 可 知 也。我 為 汝 言 其 大 略,吾 師 乎!吾 師 乎! 萬 物 而 不 為 義,澤 及 萬 世 而 不 為 仁,長 於 上 古 而 不 為 老,覆 載 天 地 刻 雕 眾 形 而 不 為 巧。此 所 遊 已。」\n**I.** Ý Nhi Tử\nkiến Hứa Do. Hứa Do viết: **- **Nghiêu hà dĩ tư nhữ? Ý Nhi Tử viết: **- **Nghiêu vị ngã, nhữ tất cung phục nhân\nnghĩa, nhi minh ngôn thị phi.\nHứa Do viết:\n**- **Nhi hề lai vi chỉ. Phù Nghiêu ký dĩ kình\nnhữ dĩ nhân nghĩa nhi tỉ nhữ dĩ thị phi\nhĩ. Nhữ tương hà dĩ du phù, diêu thang tứ\ntụy chuyển tỷ chi đồ hồ!\nÝ Nhi Tử viết:\n**- **Tuy nhiên ngô nguyện du ư kỳ phiên. Hứa Do\nviết: **- **Bất nhiên phù manh giả vô dĩ dữ hồ mi\nmục nhan sắc chi hảo, cổ giả vô dĩ dữ\nhồ thanh hoàng phất chi quan.\nÝ Nhi Tử viết:\n**- **Phù vô Trang chi thất kỳ mỹ. Cứ\nLương chi thất kỳ lực, Hoàng Đế chi vong\nkỳ tri, giai tại lự chủy chi gian nhĩ. Dung\ncự tri phù tạo vật giả chi bất tức ngã kình\nnhi bổ ngã tỉ, sử ngã thừa thành dĩ tùy tiên sinh\nda.\nHứa Do viết:\n**- **Y, vị khả tri dã. Ngã vi nhữ ngôn kỳ\nđại lược. Ngô sư hồ. Ngô sư hồ. Tê[59]\n**DỊCH NGHĨA**\n**I. ** *Ý Nhi Tử ra\nmắt Hứa Do. Hứa Do hỏi: * **- ** *Nghiêu đã giúp được anh việc gì? Ý Nhi\nTử nói: * **- ** *Ông Nghiêu bảo tôi trau dồi nhân nghĩa,\nbiện biệt thị phi. * *Hứa Do nói: * **- ** *Vậy thì anh còn đến đây làm gì nữa?\nNghiêu đã đem nhân nghĩa mà làm rỗ mặt anh, đem\nthị phi mà cắt mũi anh, thì anh làm sao còn vào\nđược cõi tiêu dao, không câu thúc và biến hóa vô cùng! * **- ** *Nhưng mà tôi muốn vào chốn ấy! Hứa Do\nnói: * **- ** *Không thể được! Người mù không\nlàm sao có thể dự biết được cái\nđẹp của mày, mắt, mặt, mũi; người\nlòa không làm sao có thể dự biết được cái màu\ncủa xiêm y bào mãng xanh vàng...* *Ý Nhi Tử nói: * **- ** *Kìa như Vô Trang đã làm hỏng sắc\nđẹp của mình; Cứ Lương đã làm mất\nsức mạnh của mình; Hoàng Đế đã làm mất\ntrí huệ của mình, đều là bị rèn luyện mà ra.\nBiết đâu Tạo hóa, rồi chẳng xóa lốt rỗ\nmặt của tôi, vá lại chỗ mũi tôi bị\ncắt, để tôi có thể lại theo Thầy! * *Hứa Do nói: * **- ** *Ôi! Cũng chưa biết được không! Nay\nthì ta cũng thử vì anh mà nói đại lược thôi. Thầy\nta à! Thầy ta à! Sắp đặt cho cả vạn\nvật, mà đâu phải là vì Nghĩa! Ân huệ truyền\nkhắp muôn đời, mà đâu phải là vì Nhân! Lâu dài\nđến thượng cổ mà chẳng phải là già! Che\nchở trời đất, chạm trổ các hình hài mà không\ngọi là khéo. Đó là chỗ rong chơi của Thầy ta\nvậy. *\n⸈⸈⸈\nJ. 顏 回 曰:「回 益 矣。」 仲 尼 曰:「何 謂 也 ?」 曰:「回 忘 仁 義 矣。」 曰:「可 矣,猶 未 也。」\n他 日,復 見,曰:「回 益 矣。」 曰:「何 謂 也 ?」\n曰:「回 忘 禮 樂 矣。」 曰:「可 矣,猶 未 也。」\n他 日,復 見,曰:「回 益 矣。」 曰:「何 謂 也 ?」\n曰:「回 坐 忘 矣。」\n仲 尼 蹴 然 曰:「何 謂 坐 忘 ?」\n顏 回 曰:「墮 肢 體,黜 聰 明,離 形,去 知, 同 於 大 通,此 謂 坐 忘。」\n仲 尼 曰:「同 則 無 好 也,化 則 無 常 也。而 果 其 賢 乎!丘 也 請 從 而 後 也。」\n**J.** Nhan Hồi viết: “Hồi ích hĩ.” Trọng\nNi viết: “Hà vị dã?”\nViết: “Hồi vong nhân nghĩa hĩ.” Viết: “Khả hĩ. Du vị dã.”\nTha nhật; phục kiến, viết: “Hồi ích hĩ.” Viết: “Hà vị dã?”\nViết: “Hồi vong lễ nhạc hĩ.” Viết: “Khả hĩ. Du vị dã.”\nTha nhật, phục kiến, viết: “Hồi ích hĩ.” Viết: “Hà vị dã?”\nHồi viết: “Hồi tọa vong hĩ.”\nTrọng Ni xúc nhiên viết: “Hà vị tọa vong?”\nNhan Hồi viết: “Đọa chi thể, truất thông minh, ly hình, khứ tri, đồng ư đại thông, thử vị tọa vong.”\nTrọng Ni viết: “Đồng tắc vô háo\n1 dã;\nhóa tắc vô thường 2 dã. Nhi quả kỳ\nhiền hồ! Khưu dã thỉnh tùng nhi hậu dã.”\n**CHÚ**\n1.\n*Vô háo *無 好: không ham muốn gì nữa cả.\n2.\n*Vô thường *無 常: biến đổi không dừng. *Vô háo*, chỉ về lẽ tịnh; *vô\nthường*, chỉ lẽ động.\n**DỊCH NGHĨA** **J.** * Nhan Hồi nói:\n“Hồi được thêm.” * *Trọng Ni nói: “Là nghĩa gì?” * *Hồi nói: “Tôi quên nhân nghĩa.” * *Trọng Ni nói: “Được, nhưng mà chưa\ntrọn.” * *Một hôm khác, lại ra mắt và nói: * **- ** *Hồi được thêm. * **- ** *Là nghĩa gì thế? * **- ** *Hồi quên lễ nhạc. * **- ** *Được, nhưng chưa trọn. * *Một hôm khác nữa, lại ra mắt mà rằng:\n* **- ** *Hồi được thêm. * **- ** *Là nghĩa gì thế? * **- ** *Hồi “ngồi mà quên” rồi. Trọng Ni\nngạc nhiên hỏi: * **- ** *Ngồi mà quên, là thế làm sao? Nhan Hồi nói: * *- * *Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình bỏ trí,\nđồng với Đạo lớn. Đó gọi là\n“ngồi mà quên” vậy. * *Trọng Ni nói: * *- * *Đồng (với Đạo lớn) thì không còn\ntham muốn nữa; hóa (cùng vạn vật) thì không khư\nkhư chấp nhất [60] nữa.\nQuả Hồi là người hiền. Khưu nầy\nnguyện theo sau đó. *\n⸈⸈⸈\n**K.** 子 輿 與 子 桑 友,而 霖 雨 十 日,子 輿 曰:\n「子 桑 殆 病 矣!」 裹 飯 而 往 食 之。至 子 桑 之 門,則 若 歌 若 哭,鼓 琴 曰:「父 邪!母 邪!天 乎!人 乎!」 有 不 任 其 聲 而 趨 舉 其 詩 焉。」\n子 輿 入,曰:「子 之 歌 詩,何 故 若 是 ?」 曰:「吾 思 夫 使 我 至 此 極 者 而 弗 得 也。父\n母 豈 欲 吾 貧 哉 ? 天 無 私 覆,地 無 私 載,天\n地 豈 私 貧 我 哉 ? 求 其 為 之 者 而 不 得 也。然 而 至 此 極 者,命 也 夫!」\n**K.** Tử Dư\ndữ Tử Tang hữu. Nhi lâm vũ thập nhật. Tử\nDư viết: Tử Tang đãi bệnh hĩ. Lý phạn\nnhi vãng thực chi. Chí Tử Tang chi môn, tắc nhược\nca nhược khốc, cổ cầm viết: “Phụ da,\nmẫu da! Thiên hồ, nhơn hồ! Hữu bất\nnhiệm kỳ thinh nhi sô cử kỳ thi yên.”\nTử Dư nhập viết: “Tử chi ca thi, hà cố nhược thị?”\nViết: “Ngô tư phù sử ngã chí thử cực giả nhi phất đắc dã. Phụ mẫu khởi dục ngô bần tai! Thiên vô tư phú, địa vô tư tái. Thiên địa khởi tư bần ngã tai! Cầu kỳ vi chi giả nhi bất đắc dã. Nhiên nhi chí thử cực giả, mạng dã phù!”\n⸈⸈⸈\n**DỊCH NGHĨA** **K.** *Tử Dư\ncùng Tử Tang là bạn với nhau. Một khi mưa\ndầm suốt cả mười ngày. * *Tử Dư nói: Tử Tang có lẽ đau. Bèn gói\ncơm sang cho bạn. Khi đến cửa Tử Tang, thì\nlại nghe như vừa ca vừa khóc, vừa khảy\nđàn mà rằng: “Cha ôi, mẹ ôi! Trời chăng,\nĐất chăng?”. Dường như nói không ra\ntiếng, hát phải nghẹn lời. * *Tử Dư bước vào nói: “Thơ của anh\nhát, cớ sao lại thế?” * *Tử Tang nói: “Tôi nghĩ không ra vì cớ gì đã\nlàm cho tôi ra nông nỗi nầy! Cha mẹ há lại muốn\ncho tôi nghèo như thế nầy ư? Trời không riêng che\ncho ai! Đất không riêng chở cho ai! Trời Đất\nhá lại muốn riêng làm cho tôi nghèo ư? Tìm xem mãi mà không\nnghĩ ra cái gì đã làm cho tôi ra nông nỗi nầy! Vậy\nmà lại đến nỗi này, là do Mạng ư?” [61]*\n⸈⸈⸈\n**TỔNG BÌNH**\nPhàm sự vật trong đời, hễ có\nsống ắt có chết. Chỉ có cái gì không có\n*sinh\nra *là sẽ không *chết đi *mà thôi. Nói\nđến “bất tử” (không chết) là muốn nói\nđến cái Nguồn gốc Sống “không có sống có\nchết” 不 生 不 死, tức là cái\nmà Lão Tử bảo *“tử nhi bất vong” *(chết\nmà không mất). Đó là cái mà ta thọ lãnh của\nĐạo, tức là cái Chân thể, mà Trang tử gọi là *“thiên” *hay\nlà *“thiên tánh” *天 性. Ở\nchương 7, sách Lão Tử có nói: *“Thiên trường\nđịa cửu. Thiên địa sở dĩ năng\ntrường thả cửu giả, dĩ kỳ bất\ntự sinh, cố năng trường sinh.” *天 長 地 久。天 地 所 以 能 長 且 久 者 以 其 不 自 生 故 能 長 生。 (Trời dài đất lâu. Trời Đất\nsở dĩ dài lâu, là vì không sống cho mình, nên mới\nđặng trường sinh). Không sống cho mình mà\nđược trường sinh, tức là nói đến\ncái Gốc Sống của cái không sống không chết. Thiên\nĐại Tông Sư nầy bàn về cái đạo\n“sống mà không chết”(不 死 之 道)đó.\nThiên nầy có hai ý chánh:\nÝ thứ nhất, được miêu tả\nở đoạn văn sau đây:\n*“Đạo thì có\ntình, có tín, vô vi, vô hình; có thể trao cho mà không thể\nthụ lãnh; có thể hiểu được mà không thể\nthấy được. Đạo thì tự bản,\ntự căn. Hồi chưa có Trời Đất,\nĐạo đã có rồi. Đạo sinh ra Quỷ, sinh ra\nĐế, sinh ra Trời, sinh ra Đất. Ở\ntrước Thái cực mà chẳng gọi là cao; ở\ndưới lục cực mà không gọi là sâu; sinh\ntrước Trời Đất mà chẳng gọi là lâu; dài\nhơn thượng cổ mà chẳng gọi là già.” *Ở\nmột đoạn khác: *“Không còn thấy có xưa có\nnay, mới đi vào cõi không sống không chết. Giết\nđược cái lòng ham sống cho mình, thì không chết. Sống\ncái sống cho mình mới là không sống. . .”*(無 古 今 而 後 能 入 於 不 死 不 生,殺 生 者 不 死 生,生 者 不 生。)\nXem hai đoạn văn trên đây, ta thấy\nphần trên thì gọi là Đạo, phần dưới\nlại gọi là vật, tức là chỉ về nguồn\nsống của vũ trụ vạn vật vậy. Cái\nĐó không có sống, không có chết, hay nói một cách khác,\ncái Đó không có chỗ khởi điểm, không có chỗ\ncùng tận(無 始 無 終). Tạo hóa dùng cái\nSống ấy mà tạo ra vạn vật khác nhau, khác nào\nngười thợ đúc dùng loài kim mà đúc ra đồ\nvật đủ mọi hình thức khác nhau. Hoặc phá\nhình nầy đúc ra hình khác. Đứng theo phương\ndiện hình thức đồ rèn, thì có sinh, có tử có\nthành, có hủy. Cho nên Trang Tử mới nói:\n*“Đã là\nvật, thì không lúc nào là không có đưa, không lúc nào là không\ncó đón, không lúc nào là không có hủy, không lúc nào là không có\nthành”. *Nghĩa là đã có hình thức (nên gọi là\nvật) thì tất phải có chung, có thủy, có chết, có\nsống, có thành, có hủy. Nhưng, nếu đứng\nvề phương diện bản thể mà xem, thì loại\nkim, trước sau vẫn một, không có thành có hủy, có\nthêm có bớt. Làm thành đồ vật cũng vẫn là\nloài kim, mà bị phá hủy cũng vẫn là loài kim. Vật\ncó khác nhau về hình thức, nhưng về *“bản\nthể” *vẫn trước sau là một.\nÝ thứ hai, được giải rõ ở\nđoạn Tử Lai lâm bệnh, sau đây:\n*“Con mà đối\nvới cha mẹ thì sai bảo đi đâu cũng phải\nnghe theo, dù là Đông, Tây, Nam, Bắc. Âm dương cũng\nnhư cha mẹ, chẳng phải như thế ư? *(...) *Nay\ncó người thợ đúc kim khí, kim khí lại nhảy\ndựng lên mà đòi: “Ta muốn là thanh gươm Mạc\nDa”, thì người thợ đúc, tất cho đó là\nthứ kim khí bất tường! Nay lại có kẻ\nsắp được đem đúc ra hình người,\nlại cũng đòi: “Người mà thôi! Người mà\nthôi”, thì Tạo hóa tất cũng cho người đó là\nngười quái gở! Nay Trời Đất là cái lò\nlớn, Tạo hóa là người thợ đúc. Vậy thì\nsao mà chẳng được?” *\nLàm người hay làm vật, chỉ là hình thức khác nhau, chứ đều cùng chung một nguồn sống mà ra cả. Vậy sao lại có việc trọng người mà khinh vật? Lại sao có việc vui buồn trong đó? Trang Tử mượn người thợ đúc để ví Tạo hóa. Người thợ đúc dùng ròng một loại kim để đúc ra đồ vật khác nhau, vậy bất tất phải bày thêm quý tiện để phân chia cao thấp vinh nhục. Nguồn sống đã là một thì bất tất người là quý mà vật là tiện! Nên nhớ rằng chỗ mà Trang Tử gọi là tạo vật, không phải là ông ám chỉ một đấng Thượng đế, chủ tể trời đất có nhơn cách, mà để chỉ Tự Nhiên.\nSự biến đổi hình thức bên ngoài là\nviệc mà không vật nào có thể tránh được. Sở\ndĩ nay ta quý cái hình người và cho nó là hơn tất\ncả mọi hình thể khác là vì ta đang là người. Giá\nthử ta là chim, thì chắc chắn không có hình thể nào quý\nđối với ta bằng hình thể chim. Nếu\nhiện thời, ta là cá, ắt không có hình thể nào quý\nđối với ta bằng hình thể cá. Cho nên, ở vào\ncảnh nào nên vui với cảnh ấy, không nên bận lòng\nđến sự biến hóa bất thường sẽ\nđến mà làm gì:\n*“Giá như hóa cánh tay trái tôi thành con gà,\nthì tôi nhân đó mà gáy canh. Giá như hóa cánh tay mặt tôi thành\nhòn đạn, thì tôi nhân đó mà kiếm chim quay. . .” (...) An\nthời, xử thuận, thì buồn vui làm sao vào\nđược cõi lòng.” *\nMỗi một cuộc biến hóa, là một lần gặp được cái mới. Mỗi lần gặp được cái mới, là mỗi lần vui. Mà cuộc vạn hóa là vô tận, thì cái vui cũng sẽ nhân đó, mà vô cùng. Đó là yếu chỉ của Tiêu Diêu Du, mà cũng là yếu nghĩa của Tề Vật Luận.\nLão Tử nói:\n*“Ta riêng khác người là vì ta\nquý thực mẫu”*(我 獨 異 於 人 而 貴 食 母) (chương 20).” *Thực\nmẫu” *đây, tức là *“cái sống không\nsống không chết”*(不 死 不 生)nguồn gốc của vạn vật. Ta phải\nbiết tôn trọng nó như bậc “tông sư” của mình\nvậy, nên gọi thiên nầy là Đại Tông Sư. Còn\nnhững cuộc biến đổi bất thường\nnhư khi sống khi chết, chẳng khác nào lúc thức lúc\nngủ, hai trạng thái không thể biết được\nlúc nào là mộng lúc nào là thực, vì cả hai đều là\nmột! *“Vả lại, ai cũng tưởng cái hình\nthức nầy là của ta, đâu biết rằng cái mà\nmình cho rằng là của ta quả thật có là của ta\nchăng, hay không phải là của ta! Như ngươi\nnằm mộng thấy mình là chim mà bay lên trời,\nrồi lại thấy mình là cá mà lặn dưới\nvực sâu. Chẳng rõ lời ta nói hôm nay là nói trong khi\nthức, hay là lời ta nói trong lúc mộng?”*. Sống là\nthức, chết là mộng, hay sống là mộng, mà\nchết là thức? Đó, cũng là tùy vị trí mình đang\nở.\nTóm lại, Đại Tông Sư là thiên bàn về\ncái\n*“chân tri”*(真 知)của\nbậc *“chân nhơn”*(真 人).” *Chân tri” *là\n“biết được cái chỗ làm của Trời,\nbiết được cái chỗ làm của người”[62], nghĩa là biết\nrõ thế nào là Tự Nhiên, thế nào là Nhân vi. Còn chân\nnhơn là người đã *“triêu triệt”*và *“kiến\nđộc”*. Và chỉ có bậc *“chân nhơn\nmới có được chân tri” [63] *mà\nthôi.\nVậy thế nào là\n*chân nhơn*? *Chân\nnhơn *là người đã đắc Đạo. Bởi\nđã đắc Đạo vì đã *“kiến\nđộc” [64] *nên\nChết, chẳng qua như một\n*“cảnh\nđổi nhà” *một *“cuộc thay hình\nđổi tướng, có gì mà phải bận lòng”*...Trước\nđây đã có ví *sống chết *như\nlửa với củi. Củi hết thì lửa truyền\nđi nơi khác...Người ta như một lữ khách\nđi trên một con đường vô tận, ghé vào quán\ntrọ nghỉ chân, chả lẽ mỗi lúc ra đi\nlại bận lòng quyến luyến. Bậc chân nhơn *“thản\nnhiên mà đến, thản nhiên mà đi” *không như\ntình cảm thường của thế nhơn là thiết\ntha quyến luyến với cái hiện hữu mà chống\nlại với cái biến đổi lạnh lùng của Tạo\nhóa. Cho nên mới nói rằng “không lấy cái tình\nngười mà chống lại với lẽ Đạo nơi\nmình, không lấy cái Người nơi mình mà làm trở\nngại lẽ Trời nơi mình”. Và nhờ thế, mà lòng\nhọ luôn luôn điềm đạm, vẻ mặt luôn luôn\nbình thản, đối với việc đời tuy lòng\nhọ “lạnh như mùa thu, mà cũng ấm như mùa xuân”.\nBề ngoài của họ thì có vẻ\n*“hòa nhã\nvới mọi người, mà kỳ thực, lòng họ\ncách xa với thế nhân”*. Nghĩa là họ *“hòa” *和 mà *“không đồng” *不 同. Thái độ ấy đã được Trang\nTử miêu tả rõ ràng trong câu chuyện Mạnh Tôn Tài. . .” *Mạnh\nTôn Tài, mẹ chết, kêu khóc mà không có nước mắt...,\nđể tang mà tỏ ra không bi thảm (...) Vậy mà\nđược tiếng là người khéo để tang\nnhất ở nước Lỗ (...)” *\nBởi người cư tang “kêu khóc nên ông\ncũng kêu khóc, nhưng trong lòng không kêu khóc”, người\nngười cư tang thì ông cũng cư tang mà lòng\nchẳng bi ai...Như vậy là vừa không đụng\nchạm với đời mà cũng vừa được\nthành thực với lòng mình.”\n*Hình phạt, theo họ là\ncần, nhưng họ áp dụng hình phạt một cách\nkhoan hậu. Lễ, theo họ, là phụ thuộc, chỉ\ndùng để đừng đụng chạm với\nđời. Họ thuận* *theo thời” (...).”Và như vậy, Trời và\nNgười (nơi họ) không nghịch nhau”*, nghĩa là họ\nđã giải quyết được sự xung\nđột giữa cá nhân và xã hội, giữa tự nhiên và\nxã ước, giữa tự do và nô lệ. Đó là cách\nxử thế *“triêu tam mộ tứ”*mà trước\nđây Trang Tử gọi là *“lưỡng hành” *ở\nthiên Tề Vật Luận.\n⸈⸈⸈\nLại còn một điểm nữa mà ta cần lưu ý:\nBậc chân nhơn là kẻ\n*“làm lợi và ban\nbố ân trạch đến muôn đời mà không phải\nvì yêu người”*.\nỞ thiên Thiên Đạo 天 道 cũng có nói:\n*“Trạch cập vạn\nthế nhi bất vi nhân”*(澤 及 萬 世 而 不 為 仁) (Ân huệ\nnhuần thấm đến muôn đời mà không phải\nvì lòng thương người). Thiên Thiên Vận 天 運 cũng nói *“Chí nhân vô thân”*(至 人 無 親). Bậc chí nhân không thân ai cả.\nLà tại sao? Là vì họ là Đạo, họ là\ncái Sống Một, họ là người đã “kiến\nđộc”. Cho nên mới có nói\n*“kẻ nào còn có\nngười thân, chưa phải là bậc nhân”*. *Nhân *đây\nlà *chí nhân *vậy. Phàm hễ có *thân*,\ntức có *sơ*, mà bậc *chí nhân*không yêu\nriêng ai, cũng không ghét riêng ai. Chỉ có người đã\nmất Đạo nơi lòng rồi, mới còn bàn\nđến nhân, đến nghĩa: *“Đại\nĐạo phế, hữu nhân, nghĩa”*(大 道 廢 有 仁 義). Bậc chí nhân,\nnhư mặt trời mặt trăng soi sáng thiên hạ,\nkhông riêng gì cho kẻ lành hay người dữ: họ\nchiếu sáng vì không thể không chiếu sáng, họ làm\nmột cách vô tâm, vì họ không thể không làm vậy cho được.\n\n**A.** 齧 缺 問 於 王 倪,四 問 而 四 不 知。齧 缺 因 躍 而 大 喜,行 以 告 蒲 衣 子。\n蒲 衣 子 曰:「而 乃 今 知 之 乎 ? 有 虞 氏 不 及 泰 氏。有 虞 氏 其 猶 藏 仁 以 要 人 ; 亦 得 人 矣,而 未 始 出 於 非 人。泰 氏,其 臥 徐 徐,其 覺 于 于 ; 一 以 己 為 馬,一 以 己 為 牛 ; 其 知 情 信,其 德 甚 真,而 未 始 人 於 非 人。」\n**A.** Khiết Khuyết vấn ư Vương Nghê 1,\ntứ vấn nhi tứ bất tri. Khiết Khuyết nhân\ndược nhi đại hỉ, hành dĩ cáo Bồ Y\nTử.\nBồ Y Tử\n2 viết:\n“Nhi nãi kim tri chi hồ? Hữu Ngu Thị bất\ncập Thái Thị\n3, Hữu Ngu Thị kỳ do tàng\nnhân dĩ yếu nhơn, diệc đắc nhơn hĩ,\nnhi vị thủy 4 xuất ư phi nhơn. Thái\nThị kỳ ngọa từ từ, kỳ giác vu vu,\nnhất dĩ kỷ vi mã, nhất dĩ kỷ vi ngưu,\nkỳ tri tình tín, kỳ đức thậm chân, nhi vị\nthủy nhập ư phi nhơn 5.” **CHÚ**\n1. Xem lại Tề Vật Luận.\n2.\n*Bồ Y Tử *蒲 衣 子: bậc hiền tài\nmà vua Thuấn đem thiên hạ nhường cho lúc ông\nchỉ mới tám tuổi.\n3.\n*Hữu Ngu\nThị *有 虞 氏: tức là vua Thuấn. *Thái Thị *泰 氏: tức là *Thái\nHạo Phục Hy *太 昊 伏 羲.\n4.\n*Vị thủy *未 始: tức là cái chân thể (l’Être sans Origine). *Hữu Ngu Thị *thì chưa huyền đồng\nvật ngã; *Thái Thị *thì huyền đồng\nvật ngã rồi (đắc Đạo).\n5. Ở thiên Thiên Đạo cũng nói: “Người ta có gọi là ngựa thì ta cũng tự nhận là ngựa; gọi ta là bò thì ta cũng tự nhận là bò”. Đó là muốn nói rằng không còn phân biệt giữa người và vật nữa.\n**DỊCH NGHĨA**\n**A.** *Khiết\nKhuyết hỏi Vương Nghê, hỏi bốn câu không\ntrả lời được câu nào. Vương Nghê cả\nmừng, nhảy nhót, qua cho Bồ Y Tử hay. * *Bồ Y Tử nói: *\n-\n*Nay anh mới biết thế sao? Hữu\nNgu Thị không bằng Thái Thị. Hữu Ngu Thị thì\nchứa “nhân” để mà cầu người và\nđược người theo, nhưng cái “vị\nthủy” lại đứng ngoài sự vật. Thái Thị\nngủ thì khoan thai, thức thì lừng khừng, khi thì xem\nmình ngang như ngựa, khi thì xem mình ngang như bò, hiểu\nbiết thì suốt lẽ, đức thì chân thật [65],\ncòn cái “vị thủy” thì nhập làm một cùng sự\nvật. *\n⸈⸈⸈\n**B.** 肩 吾 見 狂 接 輿。狂 接 輿 曰:「日 中 始 何 以 語 女 ?」\n肩 吾 曰:「告 我 君 人 者 以 己 出 經 式 義 度, 人 孰 敢 不 聽 而 化 諸!」\n狂 接 輿 曰:「是 欺 德 也。其 於 治 天 下 也, 猶 涉 海 鑿 河 而 使 蚉 負 山 也。夫 聖 人 之 治 也,治 外 乎 ? 正 而 後 行,確 乎 能 其 事 者 而 已 矣,且 鳥 高 飛 以 避 矰 弋 之 害,鼷 鼠 深 穴 乎 神 丘 之 下 以 避 熏 鑿 之 患,而 曾 二 蟲 之 無 知!」\n**B.** Kiên Ngô kiến Cuồng Tiếp Dư. Cuồng\nTiếp Dư viết: **- **Nhật Trọng Thủy 1 hà dĩ\nngứ nhữ? Kiên Ngô viết: **- **Cáo ngã: Quân nhơn giả, dĩ kỷ xuất\nkinh thức nghi 2 độ, nhơn chấp\ncảm bất thính nhi hóa chư.\nCuồng Tiếp Dư viết:\n**- **Thị khi đức dã. Kỳ ư trị thiên\nhạ dã, do thiệp hải tạc hà, nhi sử văn\nphụ sơn dã. Phù thánh nhơn chi trị dã, trị\nngoại 3hồ? Chánh nhi hậu hành xác hồ\nnăng kỳ sự giả, nhi dĩ hĩ. Thả\nđiểu cao phi dĩ tị tằng dực chi hại,\nhề thử thâm huyệt hồ thần khưu chi hạ,\ndĩ tị huân tạc chi hoạn, nhi tăng nhị trùng\nchi vô tri.\n⸈⸈⸈\n**CHÚ**\n1. Theo\n*Thích\nVăn *釋 文 thì chữ 中 gốc là chữ 仲, âm là “trọng ”, mà không đọc\nlà “trung ”.\nTheo\nbản của Thôi Tuyển thì không có chữ “nhật 日, mà chỉ có Trọng Thủy 仲 始. Chữ “nhật” 日 ở đây có nghĩa là ngày\ntrước 往 日.\n*Sư cổ *師 古 nói: “Nhật, vị vãng nhật”(日 為 往 日).\n2. Chữ 義 chính là chữ 儀 (nên đọc là “nghi”), tức là phép tắc (luật pháp).\n3. Chữ “ngoại” 外 đây là ám chỉ “pháp độ”, tức là “kinh thức nghi độ”(經 式 儀 度).\n4.\n**DỊCH NGHĨA**\n**B.** *Kiên Ngô viếng\nCuồng Tiếp Dư. Cuồng Tiếp Dư hỏi: * **- ** *Ngày trước Trọng Thủy nói gì với ông?\nKiên Ngô nói: * **- ** *Nói rằng: Kẻ làm vua chúa mà biết lấy mình\nlàm phép tắc, thì thiên hạ ai dám chẳng nghe mà hóa. * *Tiếp Dư nói: * **- ** *Đó là đức giả dối. Đem nó mà\ntrị thiên hạ thì khác nào lội biển, đào sông,\nbắt muỗi mòng vác núi! Cách trị của Thánh nhơn có\nlo trị bằng cái ngoài đâu! Trước lo chánh kỷ\nrồi sau mới hành sự. Chỉ có bao nhiêu thôi. Vả,\ncon chim cũng biết bay cao để tránh lằn tên dò\nbẫy, chuột cống cũng biết khoét đất\nđào sâu hang ngách dưới gò thờ thần để\nlánh họa un khói, đào bắt. Hai con vật ấy, há\nlại chẳng hiểu biết gì cả hay sao! *\n⸈⸈⸈\n**C.** 天 根 遊 於 殷 陽,至 蓼 水 之 上,適 遭 無 名 人 而 問 焉,曰:「請 問 為 天 下。」\n無 名 人 曰:「去!汝 鄙 人 也!何 問 之 不 豫 也 ? 予 方 將 與 造 物 者 為 人,厭,則 又 乘 夫 莽 眇 之 鳥,以 出 六 極 之 外,而 遊 無 何 有 之 鄉,以 處 壙 垠 之 野。汝 又 何 帠 以 治 天 下 感 予 之 心 為 ?」\n又 復 問。無 名 人 曰:「汝 遊 心 於 淡,合 氣 於 漠,順 物 自 然 而 無 容 私 焉,而 天 下 治 矣。」\n**C.** Thiên Căn du\nư Ân Dương, chí Liễu thủy chi thượng,\nthích tao Vô Danh Nhơn nhi vấn yên, viết: **- **Thỉnh vấn vi thiên hạ. Vô Danh Nhơn\nviết: **- **Khứ! Nhữ bỉ nhơn dã. Hà vấn chi\nbất dự dã! Dư phương tương dữ\ntạo vật giả vi nhơn 1, yếm tắc\nhựu thừa phù mãng diêu chi điểu 2, dĩ\nxuất lục cực chi ngoại, nhi du vô hà hữu chi\nhương, dĩ xứ khoáng lạng chi dã. Nhữ hựu\nhà vị dĩ trị thiên hạ cảm dư chi tâm vi?\nHựu phục vấn. Vô Danh Nhơn viết:\n**- **Nhữ du tâm ư đạm, hợp khí ư\nmạc, thuận vật tự nhiên nhi vô dung tư yên, nhi\nthiên hạ trị hĩ.\n**CHÚ**\n1.\n*Nhơn *人 ở đây chính là chữ 偶 (ngẫu) nghĩa là bạn.\n2. Ám chỉ “khí thanh hư” ở từng không khí trên lớp không khí của trái đất.\n**DỊCH NGHĨA** **C.** *Thiên Căn\nđi chơi núi Ân Dương, đến sông Liễu,\ngặp Vô Danh Nhơn, mới hỏi: * *- Xin hỏi cách trị thiên hạ? Vô Danh Nhơn\nnói: * **- ** *Đi đi, anh là người quê dốt! Sao không\ndự trước lời hỏi? Ta sắp làm bạn\ncùng tạo vật mà có chán, thì cỡi chim khinh hư ra ngoài\nlục cực, ngao du làng “Vô hà hữu”, giữa cánh\nđồng nội mênh mông! Tại sao anh lại lấy\nviệc trị thiên hạ để làm rộn lòng ta? * *Nhưng lại hỏi nữa. Vô Danh Nhơn nói: * **- ** *Giữ tâm cho điềm đạm, khí cho\nđiềm tịnh, thuận theo tánh tự nhiên của\nmọi vật mà không theo ý riêng của mình, thì thiên hạ\ntrị vậy. *\n⸈⸈⸈\n**D.** 陽 子 居 見 老 聃,曰:「有 人 於 此,嚮 疾 強 梁,物 徹 疏 明,學 道 不 勌。如 是 者,可 比 明 王 乎 ?」\n老 聃 曰:「是 於 聖 人 也,胥 易 技 係,勞 形 怵 心 者 也。且 也,虎 豹 之 文 來 田,猨 狙 之 便 執 斄 之 狗 來 藉。如 是 者,可 比 明 王 乎 ?」\n陽 子 居 蹵 然 曰:「敢 問 明 王 之 治。」\n老 聃 曰:「明 王 之 治:功 蓋 天 下 而 似 不 自 己,化 貸 萬 物 而 民 弗 恃 ; 有 莫 舉 名,使 物 自 喜 ; 立 乎 不 測,而 遊 於 無 有 者 也。」\n**D.** Dương\nTử Cư 1 kiến Lão Đam, viết: **- **Hữu nhơn ư thử, hương tật\ncường lương, vật triệt sơ minh, học\nđạo bất quyện; như thị giả khả\ntỉ minh vương hồ? 2\nLão Đam viết:\n**- **Thị ư thánh nhơn dã, tứ dịch chi\nhệ, lao hình truất tâm giả dã. Thả dã hổ báo chi\nvăn lai điền viên thư chi tiện chấp lại\nchi cẩu lai tạ. Như thị giả khả tỉ\nminh vương hồ?\nDương Tử Cư xúc nhiên viết:\n**- **Cảm vấn minh vương chi trị. Lão\nĐam viết: **- **Minh vương chi trị, công cái thiên hạ nhi\ntợ bất tự kỷ, hóa thải vạn vật nhi\ndân phất thị, hữu mạc cử danh, sử vật\ntự hỉ *, lập hồ bất trắc,\nnhi du ư vô hữu 3*\n**CHÚ**\n1.\n*Dương Tử\nCư*: *Dương *là\nhọ. *Cư*, là tên người. Có nhà chú giải cho\nrằng đây cũng chính là *Dương Chu *陽 朱. Không chắc.\n2. Chính là chỗ\ngiản minh thêm cái thuyết\n*“vô dụng chí\ndụng” *ở thiên Tiêu Diêu Du.\n3. Chính đây là\nthuyết\n*“chí nhơn vô kỷ, thần nhơn vô công,\nthánh nhơn vô danh” *ở thiên Tiêu Diêu Du.\n4. ”Vô hữu”, cùng\nmột nghĩa với\n*“Vô hà hữu chi hương” *ở\nthiên Tiêu Diêu Du, đều là để ám chỉ Đạo.\n**DỊCH NGHĨA** **D.** *Dương\nTử Cư ra mắt Lão Đam, hỏi: * **- ** *Ở đây có người mẫn cán, quả\nquyết, việc đời thông suốt minh bạch,\nhọc Đạo không mỏi, người như thế\ncó thể sánh với đấng minh vương không? * *Lão Đam nói: * **- ** *Hạng ấy mà sánh với Thánh nhơn chỉ là\nnhững kẻ nô dịch, lao tâm nhọc xác. Sở dĩ\nhùm beo mà bị bắt là vì bộ lông tốt đẹp\ncủa chúng. Vượn và chó mà bị xiềng nhốt là\nvì cái tài hay của chúng. * *Sao lại có thể sánh họ với đấng\nminh vương? Dương Tử Cư ngạc nhiên\nhỏi: * **- ** *Dám xin hỏi phép trị nước của minh\nvương là thế nào? Lão Đam nói: * **- ** *Phép trị của minh vương là công trùm thiên\nhạ mà làm như không phải tự của mình làm. Hóa\ncả vạn vật mà không đợi người dân\ncậy đến. Làm mà không ai biết được tên,\nkhiến cho mọi vật, vật nào cũng tự vui. Đứng\nở chỗ không thể đo lường mà vui chơi\nnơi “vô hữu”. *\n⸈⸈⸈\n**E.** 鄭 有 神 巫 曰 季 咸,知 人 之 死 生,存 亡, 禍 褔,壽 夭,期 以 歲 月 旬 日,若 神。鄭 人 見 之,皆 棄 而 走。\n列 子 見 之 而 心 醉,歸,以 告 壺 子,曰:\n「始 吾 以 夫 子 之 道 為 至 矣,則 又 有 至 焉 者 矣。」\n壺 子 曰:「吾 與 汝 既 其 文,未 既 其 實,而 固 得 道 與 ? 眾 雌 而 無 雄,而 又 奚 卵 焉?而 以 道 與 世 亢,必 信,夫 故 使 人 得 而 相 汝。 嘗 試 與 來,以 予 示 之。」\n明 日,列 子 與 之 見 壺 子。\n出 而 謂 列 子 曰:「嘻!子 之 先 生 死 矣!弗 活 矣!不 以 旬 數 矣!吾 見 怪 焉!見 濕 灰 焉。」\n列 子 入,泣 涕 沾 襟 以 告 壺 子。\n壺 子 曰:「鄉 吾 示 之 以 地 文,萌 乎 不 震 不 正。是 殆 見 吾 杜 德 機 也。嘗 又 與 來。」\n明 日,又 與 之 見 壺 子。出 而 謂 列 子 曰:\n「幸 矣!子 之 先 生 遇 我 也!有 瘳 矣!全 然 有 生 矣!吾 見 其 杜 權 矣!」\n列 子 入,以 告 壺 子。\n壺 子 曰:「鄉 吾 示 之 以 天 壤,名 實 不 入, 而 機 發 於 踵。是 殆 見 吾 善 者 機 也。嘗 又 與 來。」\n明 日,又 與 之 見 壺 子。出 而 謂 列 子 曰:\n「子 之 先 生 不 齊,吾 無 得 而 相 焉。試 齊,且 復 相 之。」\n列 子 入,以 告 壺 子。壺 子 曰:「吾 鄉 示 之 以 太 沖 莫 勝,是 殆 見 吾 衡 氣 機 也。鯢 桓 之 審 為 淵,止 水 之 審 為 淵,流 水 之 審 為 淵。淵 有 九 名,此 處 三 焉。嘗 又 與 來。」\n明 日,又 與 之 見 壺 子。立 未 定,自 失 而 走。壺 子 曰:「追 之。」\n列 子 追 之 不 及。反,以 報 壺 子 曰:「已 滅 矣,已 失 矣,吾 弗 及 已。」\n壼 子 曰:「鄉 吾 示 之 以 未 始 出 吾 宗。吾 與\n之 虛 而 委 蛇,不 知 其 誰 何,因 以 為 弟 靡, 因 以 為 波 流,故 逃 也。」\n然 後 列 子 自 以 為 未 始 學 而 歸。三 年 不 出,為 其 妻 爨,食 豕 如 食 人,於 事 無 與 親。 雕 琢 復 朴,塊 然 獨 以 其 形 立。紛 而 封 哉, 一 以 是 終。\n**E.** Trịnh hữu thần vu, viết Quý Hàm, tri\nnhơn chi tử sinh, tồn vong, họa phúc, thọ\nyểu, kỳ dĩ tuế nguyệt tuần nhật,\nnhược thần. Trịnh nhơn kiến chi, giai khí nhi\ntẩu.\nLiệt Tử kiến chi nhi tâm túy qui dĩ cáo Hồ Tử, viết:\n**- **Thủy ngô dĩ phu tử chi Đạo vi chí\nhĩ, tắc hựu hữu chí yên giả hĩ.\nHồ Tử viết:\n**- **Ngô dữ nhữ, ký kỳ văn vị ký kỳ\nthực 1, nhi cố đắc Đạo dư?\nChúng thư nhi vô hùng, nhi hựu hề noãn yên 2? Nhi\ndĩ Đạo dữ thế kháng tất tín, phù cố\nsử nhơn đắc nhi tướng nhữ. Thường\nthí dữ lai, dĩ dư thị chi.\nMinh nhật, Liệt Tử dữ chi kiến Hồ Tử. Xuất nhi vị Liệt Tử viết:\n**- **Hi, tử chi tiên sinh tử hĩ, phất hoạt\nhĩ, bất dĩ tuần số hĩ! Ngô kiến quái yên.\nKiến thấp khôi yên.\nLiệt Tử nhập, khấp thế triêm khâm, dĩ cáo Hồ Tử. Hồ Tử viết:\n**- **Hương ngô thị chi dĩ địa văn 3.\nManh hồ bất chấn, bất chánh 4. Thị\nđãi kiến ngô đỗ đức cơ dã. Thường\nhựu dữ lai.\nMinh nhật, hựu dữ chi kiến Hồ Tử. Xuất nhi vị Liệt Tử viết: “Hạnh hĩ, tử chi tiên sinh ngộ ngã dã! Hữu liêu hĩ, toàn nhiên hữu sinh hĩ; ngô kiến kỳ đỗ quyền hĩ!\nLiệt Tử nhập dĩ cáo Hồ Tử. Hồ Tử viết:\n**- **Hương ngô thị chi dĩ thiên nhưỡng 5.\nDanh thực 6 bất nhập, nhi cơ phát ư\nchủng 7. Thị đãi kiến ngô thiện 8 giả\ncơ dã. Thường hựu dữ lai.\nMinh nhật hựu dữ chi kiến Hồ Tử. Xuất nhi vị Liệt Tử, viết:\n**- **Tử chi tiên sinh bất tề, ngô vô đắc\nnhi tương yên. Thí tề, thả phục tương chi.\nLiệt Tử nhập dĩ cáo Hồ Tử. Hồ Tử viết:\n**- **Ngô hương thị chi dĩ thái xung mạc\nthắng 9. Thị đãi kiến ngô hoành khí 10 cơ\ndã. Nghê hoàn chi thẩm 11 vi uyên, chỉ thủy\nchi thẩm vi uyên, lưu thủy chi thẩm vi uyên; uyên\nhữu cửu danh, thử xứ tam yên. Thường\nhựu dữ lai.\nMinh nhật hữu dữ chi kiến Hồ Tử: lập vị định, tự thất nhi tẩu. Hồ Tử viết: “Truy chi”.\nLiệt Tử truy chi, bất cập, phản dĩ báo Hồ Tử viết:\n**- **Dĩ diệt hĩ! Dĩ thất hĩ! Ngô\nphất cập dĩ! Hồ Tử viết: **- **Hương ngô thị chi dĩ vị thủy\nxuất ngô tông. Ngô dữ chi hư nhi ủy di 12,\nbất tri kỳ thùy hà, nhân dĩ vi đệ mị, nhân\ndĩ vi ba lưu, cố đào dã.\nNhiên hậu Liệt Tử tự dĩ vi vị\nthủy học\n13 nhi quy. Tam niên bất xuất,\nvi kỳ thê thoán, thực thỉ như thực nhơn;\nư sự vô dữ thân, điêu trác phúc phác, khối nhiên\nđộc dĩ kỳ hình lập, phân nhi phong tai, nhất\ndĩ thị chung.\n**CHÚ**\n1.\n*Văn *文: dáng bên ngoài, về hình thức (tức\nlà chỗ mà ta thường gọi là “hình nhi hạ\nhọc”). *Thực *實: phần chân thực bên trong (tức là chỗ mà\nta thường gọi là “hình nhi thượng học” (phần\ntâm đắc, tâm truyền tâm). *Dữ *與: Chữ nầy trong câu nầy, không có nghĩa là\n“và”, “với” như Nhượng Tống đã dịch; mà\ncó nghĩa là “thụ”(授)tức là *trao cho, dạy\ndỗ, truyền cho*. *Ký*(即): Chữ “ký” ở\nđây có nghĩa là cùng tận 盡, đến mức.\n2. Hồ Tử chê Liệt Tử chưa hoài bão được Đạo bên trong, khác nào lũ gà mái chưa chịu trống nên trứng đẻ ra không có “ngòi”, làm gì nở con ra được. Cái học cần chứa đựng cả trong lẫn ngoài, tức là “nhất âm nhất dương chi vị Đạo”.\n3.\n*Địa\nvăn *地 文: như một khối đất.\n4. Như non núi, không động(不 動 不 止 如 山 也). Chữ 正 (chánh) ở đây, gốc là chữ “chỉ” 止. Tất cả nghị lực đều ngưng đọng lại cả, nên Quý Hàm mới thấy như là trạng thái của sự chết.\n5.\n*Thiên\nnhưỡng *天 壤: đất mềm\nmà được ánh Thái dương rọi sáng, đầy\nsinh khí.\nNhưỡng 壤: đất mềm; thiên 天: ánh sáng mặt trời, ám chỉ Trời và Đất hợp nhau, âm dương điều hòa.\n6.\n*Danh thực *名 實: Hướng Tú và Quách Tượng, đều\ncho hai chữ *“danh thực” *nầy đồng\nnghĩa với *“danh lợi” *名 利.\n7. 踵 (chủng): gót chân, tức là ám chỉ “nguồn sống” phát động ngay từ gốc dưới (của quẻ Phục Kinh Dịch), âm cực thì dương sinh.\n8. Chữ “thiện” 善 ở đây có nghĩa là “nguồn sống”(生).\n9. Chữ “thắng” 勝 đây, gốc là chữ “trẫm” 朕, tức là lộ điểm ra cho người ta thấy trước. Chữ “mạc” 莫 có nghĩa là không(無). 太 沖 莫 勝 (thái xung mạc thắng) là tình trạng hỗn độn của Đạo lúc chưa phân Trời Đất (Grand Chaos).\n10.\n*Hoành khí *衡 氣: khí âm dương còn hỗn độn, quân bình.\n11.\n*Thẩm *審: gốc là chữ 漩, đọc là “phiên”: tức là sóng\nto(大波也). *Hoàn *桓: tức là *bàn hoàn*(盤桓): tinh thần bất định. *Ủy di *委 蛇: vẻ nhàn nhã, khoan\nthai, thản nhiên bất động cảm.\n未始學 (Vị Thủy học): cái học về vị thủy nghĩa là cái học về cái chưa từng có cái ban đầu (không có nguồn gốc).\n**DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Nước\nTrịnh có một người đồng bóng rất tài\ntên là Quý Hàm, biết được cả sự sống\nchết, còn mất, may rủi, thọ yểu, lại\nhẹn được từng năm, từng tháng,\ntừng tuần, từng ngày, đoán trúng như thần. * *Người nước Trịnh thấy anh\nđều bỏ chạy. * *Liệt Tử thấy anh ta thì mê say. Về,\nđem việc ấy thưa lại với thầy là\nHồ Tử: * **- ** *Trước đây tôi cho đạo của\nthầy là đã đến mực rồi! Nhưng nay\nlại có kẻ còn tài giỏi hơn! * *Hồ Tử nói: * **- ** *Ta dạy ngươi chỉ mới đến\nchỗ cùng của phần văn, chưa từng dạy\nđến chỗ cùng của phần thực. Ngươi\ncho thế là được đến Đạo rồi\nư? Lũ gà mái không chịu trống mà lại đẻ,\nthì trứng làm gì nở được? Ngươi đem Đạo\nchống với đời, tất phải tỏ nó ra\nngoài, nhân thế mới để cho anh ta xem tướng\nđược. Ngươi hãy thử cùng nó đến\nđây, đưa ta cho nó xem! * *Ngày mai, Liệt Tử cùng hắn vào ra mắt\nHồ Tử. Ra ngoài, gọi Liệt Tử mà bảo: * **- ** *Ôi! Thầy của tiên sinh chết rồi! Không\nsống được nữa! Cũng chẳng\nđược vài tuần đâu! Ta thấy lạ quá:\nthấy như là tro ẩm? * *Liệt Tử vào, nước mắt ướt\ndầm cả áo, đem nói lại với Hồ Tử. Hồ\nTử nói: * **- ** *Khi nãy, ta hiển vẻ *“địa\nvăn” *cho nó xem mầm sống không động, không\ndừng. Chắc là anh ta nhìn thấy cái nền tảng\nvững chắc của cái Đức của ta. Lại\nngươi thử cùng hắn tới đây lần nữa!\n* *Ngày mai, Liệt Tử cùng hắn vào ra mắt\nHồ Tử. Bước ra về, gọi Liệt Tử,\nnói: * **- ** *May thay! Thầy của tiên sinh gặp\nđược ta, có phần thuyên giảm nhiều,\nchắc là sống được. Ta thấy cái máy\nquyền biến đã phát động rồi! * *Liệt Tử trở vào, đem thưa lại\nvới Hồ Tử. Hồ Tử nói: * **- ** *Khi nãy, ta hiện vẻ *“thiên\nnhưỡng” *cho hắn ta xem: danh lợi không cảm\nđược lòng nhưng quyền cơ của mầm\nsống phát động ngay từ gốc. Chắc là ông ta\nthấy được cái cơ phát động của\nnguồn sống nơi ta. Vậy, ngươi thử cùng\nanh ta tới đây! * *Ngày mai, Liệt Tử cùng ông ấy vào ra mắt\nHồ Tử. Ra về, gọi Liệt Tử mà bảo: * **- ** *Thầy của tiên sinh trạng thái không quân bình,\ncho nên không định, ta không thể xem được. Vậy,\nthử chờ cho đồng đều lại rồi\nsẽ trở lại xem cho. * *Liệt Tử trở vào, đem thuật lại\nHồ Tử. Hồ Tử nói: * **- ** *Khi nãy ta hiện vẻ “thái xung” mờ mệt cho\nhắn xem. Chắc là anh ta thấy cái khí quân bình của ta,\nnên không nhận rõ gì cả. Rõ là một cái vực sâu,\nchỗ mà cá nghê vùng vẫy, nơi mà nước tụ,\nnơi mà nước chảy dồn vào, thật là một\ncái gì hỗn độn, cho nên cái vực sâu ấy có\nđến chín tên, trên đây đã là ba rồi. Ngươi\nthử cùng hắn đến đây! * *Ngày mai, Liệt Tử cùng hắn vào ra mắt\nHồ Tử. Đứng chưa yên chỗ, hết hồn\nbỏ chạy. * *Hồ Tử bảo: “Đuổi theo hắn\nđi!” * *Liệt Tử đuổi theo mà không kịp,\ntrở về thưa với Hồ Tử: “Để\nmất dạng rồi! Đã thất lạc rồi! Tôi\nkhông theo kịp!” * *Hồ Tử nói: *\n-\n*Khi nãy, ta hiện cho hắn xem cái bản\nthể vừa mới xuất tự nguồn gốc. Ta cho\nhắn thấy cái hư không mà thản nhiên, nên hắn không\nnhận biết là gì, nhân thế mà ta làm ra vẻ uể\noải, làm ra vẻ sóng tan, cho nên hắn mới chạy\ntrốn. *\n⸈⸈⸈\n*Về sau Liệt Tử tự trở về\nvới cái học về “vị thủy”. Ba năm không ra\nkhỏi cửa, nấu cơm cho vợ, nuôi heo như nuôi\nngười (không phân biệt vật và người), không\ntha thiết đến việc gì cả. Phá bỏ tất\ncả mọi trang sức giả tạo để cho lòng\ntrở về cõi thuần phác tự nhiên. Thành như\ncục đất, giữa cảnh náo nhiệt mà lòng\nvẫn không xao động. Như thế, cho đến\ntrọn đời mình. *\n⸈⸈⸈\n**F.** 無 為 名 尸,無 為 謀 府,無 為 事 任,無 為 知 主。體 盡 無 窮,而 遊 無 朕 ; 盡 其 所 受 乎 天,而 無 見 得,亦 虛 而 已。至 人 之 用 心 若 鏡,不 將 不 逆,應 而 不 藏,故 能 勝 物 而 不 傷。\n**F.** Vô vi danh thi, vô vi\nmưu phủ, vô vi sự nhiệm, vô vi tri chủ; thể\ntận vô cùng, nhi du vô trẫm. Tận kỳ sở thụ\nhồ thiên, nhi vô kiến đắc, diệc hư nhi\ndĩ! Chí nhơn chi dụng tâm nhược kính; bất\ntương bất nghịch 1, ứng nhi bất\ntàng, cố năng thắng vật nhi bất thương.\n⸈⸈⸈\n**CHÚ**\n1.\n*Tương *相: có nghĩa là đi theo(送). *Nghịch*(逆): bỏ mà trở lại. Hai chữ\n“tương” và “nghịch” đều có nghĩa là “ưa”\nvà “ghét”.\n**DỊCH NGHĨA**\n**F.** *Lấy vô vi làm\ndanh vọng chánh của mình, làm mưu vọng chánh của\nmình, làm việc làm chánh của mình, làm sự hiểu\nbiết chánh của mình; vô vi dùng mãi không cùng, còn cách sinh\nhoạt của nó thì không để dấu vết gì cả.\nNhận tất cả những gì đã thụ ở\ntrời mà không giữ lại cái gì cho mình cả: cũng vì\nnó là hư không mà thôi! Bậc chí nhơn dùng cái tâm mình như\ntấm gương: không đi theo, không từ bỏ,\nứng mà không chấp chứa, vì vậy hay thắng\nđược mọi vật mà không làm hại nó. *\n⸈⸈⸈\n**G.** 南 海 之 帝 為 儵,北 海 之 帝 為 忽,中 央 之 帝 為 渾 沌。儵 與 忽 時 相 與 遇 於 渾 沌 之 地, 渾 沌 待 之 甚 善。儵 與 忽 謀 報 渾 沌 之 德, 曰:「人 皆 有 七 竅,以 視 聽 食 息,此 獨 無 有,嘗 試 鑿 之。」\n日 鑿 一 竅,七 日 而 渾 沌 死。\n**G.** Nam Hải chi đế vi Thúc. Bắc Hải chi\nđế vi Hốt. Trung ương chi đế vi Hỗn\nĐộn.\nThúc dữ Hốt thời tương dữ ngộ ư Hỗn Độn chi địa, Hỗn Độn đãi chi thậm thiện. Thúc dữ Hốt mưu báo Hỗn Độn chi đức, viết: “Nhơn giai hữu thất khiếu, dĩ thị thính thực tức, thử độc vô hữu, thường thí tạc chi”.\nNhật tác nhất khiếu, thất nhật nhi Hỗn Độn tử.\n**DỊCH NGHĨA**\n**G.** *Vua biển Nam\nlà Thúc. Vua biển Bắc là Hốt. Vua khu giữa là Hỗn\nĐộn. * *Thúc và Hốt thường gặp nhau trên\nđất của Hỗn Độn. Hỗn Độn\ntiếp đãi họ rất tốt. Thúc cùng với Hốt\ntính trả ơn Hỗn Độn, bàn với nhau:\n“Người ta, ai cũng có bảy khiếu để nhìn,\nđể nghe, để ăn, để thở. Chỉ\nriêng có ông bạn chúng ta đây là không có. Vậy, ta thử\nđục ông ta xem nào.” * *Mỗi ngày đục một khiếu, bảy\nngày Hỗn Độn chết [66].\n*\n**TỔNG BÌNH**\nỨng Đế Vương là thiên cuối cùng\nnói về cái Đạo của các bậc Thánh nhơn, dùng\nđến phép vô vi mà trị nước( 無 為 而 治)gốc ở\n*Lão Tử Đạo\nĐức Kinh, *chương 57: *“Ngã vô vi nhi dân\ntự hóa”*(我 無 為 而 民 自 化)mà ra. Tự\nhóa 自 化 là tự mình hóa lấy mình, mà\nkhông phải do kẻ ngoài, vật ngoài hóa mình. Quan trọng\nnhất là hai chữ *“tự hóa” *nầy.\n⸈⸈⸈\nNhư ta đã thấy ở các thiên Tiêu Diêu Du và Tề Vật Luận, phàm xã hội nào mà không biết để cho thiên hạ yên theo tánh phận của mình, đều làm cho chúng ta đau khổ cả.\nTánh của vật, không đồng nhau. Mỗi\nvật đều có chỗ nhận là\n*tốt*,\nlà *phải*, riêng theo vật ấy. Vậy, ta không\nnên cưỡng ép phải đồng. Mà thật sự, ta\ncũng không làm sao cưỡng ép cho đồng\nđược. Chỗ *không thể đồng *của\nvạn vật, ta phải biết nhận nó, biết\nchịu nó: đó là ta dùng chỗ *không thể\nđồng *mà làm cho *đồng *vậy.\n(Xem lại chương Tổng bình thiên Tề Vật\nLuận). Thật thế, nếu biết để cho\nmỗi người trong thiên hạ đều “yên theo cái\ntự tánh của mình” 各 安 其 性 thì tuy nhận thấy có sự “bất\ntề” 不 齊 trong vạn vật, mà kỳ\nthật thì vật nào cũng được *đồng*nhau,\nnghĩa là đồng được sống tự do theo\ncái sống của mình. Tự do và bình đẳng là\nđiều không thể lìa nhau đặng. Hễ làm\nmất tự do thì không có bình đẳng, mà làm mất bình\nđẳng thì không có tự do.\nNhư vậy thì, bất cứ xã hội nào mà\nđịnh ra một cái\n*tận thiện mẫu *để\nlàm tiêu chuẩn chung cho mọi tư tưởng và hành vi,\nkhiến cho cả thiên hạ đều phải theo đó\nmà hành động, là sái với tự nhiên, là ép chỗ *không\nthể đồng *phải *đồng *với\nnhau tất cả.\nThánh nhơn của phái “hữu vi” lập ra pháp\nđộ (quy củ chuẩn thằng 規 矩 準 繩) cùng các thứ chế\nđộ phiền phức để mà định chế\nchính trị xã hội và khiến cho người\nngười đều phải phục tùng, tuy chỗ\ndụng ý chưa phải là không yêu người, nhưng\nkết quả thì lại như Lỗ hầu yêu chim:\n*“Xưa\ncó một con chim biển đậu ở nền Lỗ giao.\nLỗ hầu ngự đến, rước về\nđền tông miếu, dạy trỗi nhạc Cửu\nthiều, dọn yến thái lao. Chim ta ngó dớn dác, bộ\nsầu bi, không dám ăn dám uống. Cách ba hôm thì chết. Đó\nlà dùng cách nuôi người mà nuôi chim. Nếu dùng cách nuôi chim\nmà nuôi chim, thì phải để cho nó đậu nơi\nrừng sâu, dạo ngoài gò đất, trôi nổi giang\nhồ, kiếm ăn lươn cá, đỗ theo hàng liệt,\nung dung tự đắc, thích đâu ở đó. Nó nghe\ntiếng người cũng đủ nao nao lòng dạ\nrồi, phương chi là tiếng nhạc. . .” [67] *Đó\nlà yêu theo chỗ thích riêng của mình, chứ không yêu theo\nchỗ thích riêng của mọi vật, và như thế là\nlàm hại cho vật mà mình yêu vậy. Đó là mong giúp\nđời mà hại đời, mong cứu người mà giết\nngười vậy.\nNhư vậy, ta thấy Trang Tử rất\nphản đối cái phép\n*“lấy trị mà trị\nthiên hạ”*(以 治 治 天 下). Muốn thiên hạ được\ntrị, thì không chi bằng lấy cái phép “không trị mà\ntrị thiên hạ”(以 無 治 治 天 下). Đó gọi là phép “vô vi nhi trị”(無 為 而 治).\n⸈⸈⸈\nVô vi là gì?\nVô vi có ba nghĩa:\n**1. **Mỗi vật đều có cái tánh tự nhiên\ncủa nó, đâu có cần đến người phải\nnhúng tay chen vào giúp nó! *“Kiên Ngô viếng Cuồng Tiếp Dư. Cuồng\nTiếp Dư hỏi: * **- ** *Ngày trước, Trọng Thủy nói gì với\nông? Kiên Ngô nói: * **- ** *Nói rằng: kẻ làm vua chúa mà biết lấy mình\nlàm phép tắc thì thiên hạ ai dám chẳng nghe theo mà hóa! * *Tiếp Dư nói: *\n-\n*Đó là đức giả dối. Đem\nnó mà trị thiên hạ thì khác nào lội biển, đào\nsông, bắt muỗi mòng vác núi! Cách trị của Thánh\nnhơn có lo trị bằng cái ngoài đâu! Trước lo\nchánh kỷ, rồi sau mới hành sự. Chỉ có bao nhiêu\nthôi. Vả, con chim cũng biết bay cao để tránh\nlằn tên dò bẫy, chuột cống cũng biết khoét\nđất sâu hang ngách dưới gò thờ thần\nđể lánh họa un khói, đào bắt. Hai con vật\nấy, há lại chẳng hiểu biết gì cả hay sao!” *\nCái trị của hữu vi là lấy mình làm phép\ntắc, làm khuôn mẫu cho tất cả thiên hạ\nđều phải theo. Đó là làm loạn thiên hạ. Cái\nviệc mà người ta thường gọi là\n*lo\nđời *từ xưa đến nay, phải\nchăng phần nhiều là lo đem thiên hạ về cùng\nmột quan niệm lý tưởng của mình về\nđiều phải lẽ quấy. Đem thiên hạ\nvề cùng một quan niệm lý tưởng của mình,\nhoặc bằng sự khuyến dụ, tuyên truyền hay\nbằng sự bắt buộc cưỡng ép đều là\ncông việc “lội biển đào sông, bắt muỗi mòng\nvác núi”!\nÔi!\n*“Con chim bay để tránh lằn tên, con\nchuột đào hang sâu để lánh họa”...*nào\nphải cần có ai dạy bảo mới biết. Huống\nchi con người: lánh nguy cầu an là lẽ tự nhiên, có\ncần phải ai dạy ai mới biết được.\nMuốn đem nhân nghĩa mà dạy người...há không\nphải là đa sự hay sao? Bởi vậy, Thánh nhơn mà\ntrị nước để cho thiên hạ yên theo tánh\ntự nhiên của mọi vật mà không cần nhúng tay vào\nsửa dạy.\nĐó là nghĩa thứ nhất của vô vi.\n**2. **Thuận theo\ntự nhiên của mình mà làm, đó là làm mà không phải là\nmình làm.\nCũng như lửa thì nóng và sáng. Có lửa nào mà\nkhông nóng và không sáng hay không? Nóng và sáng là cái “đức”\ntự nhiên của lửa: nó sở dĩ như thế là\nvì không như thế không đặng. Cho nên, đó không còn\ngọi là\n*làm *nữa, mà phải gọi là *không\nlàm *無 為, vì đó không còn phải là\nchỗ dụng của tư tâm mình nữa.\nNếu ta dụng tư tâm mà làm, đem cái mà ta gọi là “hay” là “đẹp”...mà cưỡng ép người người đều phải nghe theo, đó là ta làm cho thiên hạ mất cả tự do và bình đẳng. Buộc lửa không được nóng, giá không được lạnh...có tự nhiên không? Làm như thế là làm cho thiên hạ thống khổ, không phải là cái đạo trị quốc của Thánh nhơn.\n*“Thiên Căn đi chơi núi Ân Dương,\nđến sông Liễu, gặp Vô Danh Nhơn, mới\nhỏi: * **- ** *Xin hỏi cách trị thiên hạ? Vô Danh Nhơn nói:\n* **- ** *Đi đi, anh là người quê dốt! Sao không\ndự trước lời hỏi? Ta sắp làm bạn\ncùng tạo vật, mà có chán thì cỡi chim khinh hư ra ngoài\nlục cực, ngao du làng “Vô hà hữu”, giữa cánh\nđồng nội mênh mông! Tại sao anh lại lấy\nviệc trị thiên hạ để làm rộn lòng ta? * *Nhưng lại hỏi nữa. Vô Danh Nhơn nói: * **- ** *Giữ tâm cho điềm đạm, khí cho\nđiềm tịnh, thuận theo tánh tự nhiên của\nmọi vật mà không theo ý riêng của mình, thì thiên hạ\ntrị vậy.” * *Điềm đạm, điềm tịnh *đều có\nnghĩa là *không để cho ngoại vật\nđộng đến lòng mình”*(不 以 外 物 動 其 心). Sống theo cái sống đầy đủ\ncủa mình mà không tham muốn đèo bòng những chi ngoài\nmình thì còn có vật ngoài nào động đến tâm mình\nđược nữa.\nTự mình được như thế rồi, bấy giờ mới thuận theo lẽ tự nhiên để cho mọi vật đều được “điềm đạm, điềm tịnh” như mình, nghĩa là để cho mỗi vật sống tự do theo cái tánh tự nhiên của nó, không ép buộc ai phải thể theo ý riêng của mình cả.\nĐó là cái đạo “vô vi nhi trị” của Thánh nhơn: thuận theo tánh tự nhiên của mỗi vật mà hóa, nên tuy làm, mà là làm theo tự nhiên chứ không làm theo ý riêng của mình. Cho nên cái làm ấy không được gọi là của mình làm. Ấy là cái nghĩa thứ hai của vô vi vậy.\n**3. **Nếu trị\nthiên hạ mà làm được như trên, thì tuy có làm, dân\nkhông hay là mình có làm. *“Dương Tử Cư ra mắt Lão Đam,\nhỏi: * **- ** *Ở đây có người mẫn cán, quả\nquyết, việc đời thông suốt minh bạch,\nhọc Đạo không mỏi, người như thế\ncó thể sánh với minh vương không? * *Lão Đam nói: * **- ** *Hạng ấy mà sánh với Thánh nhơn chỉ là\nnhững kẻ nô dịch, lao tâm nhọc xác. Vả, hùm beo\nmà bị bắt là vì bộ lông tốt đẹp của\nchúng; vượn và chó mà bị xiềng bị nhốt là vì\ncái tài hay của chúng. Sao lại có thể sánh với minh\nvương? * *Dương Tử Cư ngạc nhiên hỏi: * **- ** *Dám xin hỏi phép trị nước của minh\nvương là thế nào? Lão Đam nói: * **- ** *Phép trị của minh vương là công trùm thiên\nhạ mà làm như không phải tự của mình làm. Hóa\ncả vạn vật mà không đợi người dân\ncậy nhờ. Làm mà không ai biết được tên,\nkhiến cho mọi vật, vật nào cũng tự vui. Đứng\nở nơi không thể đo lường (vạn hóa) mà\nvui chơi nơi “vô hữu”. *\nMặt trời chiếu sáng và đem sự sống cho khắp cả vạn vật, giúp cho mỗi vật đều được sống cái sống của mình mà không vật nào dè đến cái công ân của mình, và tự mình cũng không hay mình có làm vì không thể không làm vậy cho đặng. Đó là nghĩa thứ ba của vô vi.\n⸈⸈⸈\nTrở lên là vô vi theo cái nghĩa tiêu cực. Còn\ntheo cái nghĩa tích cực, thì vô vi chỉ là\n*phá\nhoại tất cả những điều gì có thể\ntrở ngại cho sự tự do bình đẳng của\nnhân loại. *Bởi vậy, Trang Tử rất cực\nlực phải đối tất cả mọi luân lý, giáo\nthuyết...những cái mà ta gọi chung là “văn minh\ntiến bộ” căn cứ trên quan niệm lạc lầm\ncủa bản ngã, lấy sự “người bóc lột\nngười” làm tôn chỉ. Chính là chỗ mà ở thiên\nTừ Vô Quỷ 徐 無 鬼 nói: *“Cái đạo trị\nthiên hạ không khác nào việc chăn ngựa, chỉ lo\ntrừ khử những cái gì có hại cho ngựa mà thôi”*(夫 為 天 下 者,亦 奚 以 異 乎 ` 牧 馬 者 哉,亦 去 其 害 馬 者 而 已 矣).\n⸈⸈⸈\nTóm lại, bậc trị nước, cần phải để ý đến hai điều nầy:\n** 1.** Làm cách nào cho tất cả mọi người\ntrong thiên hạ đều được tự do sống\ncái sống của mình(各 生 其 生), hay nói một cách khác, làm cho sống lại cái\n“Đức” của mọi người(欲 同 乎 德 而 心 居 矣). ** 2.** Bài trừ\nhoặc phòng ngừa cho thiên hạ những gì làm trở\nngại đến sự phát triển cái sống tự do\ncủa mọi người(去 其 害 馬 而 已 矣). Thiên Tại Hựu 在 宥 có nói: *“Nghe\nphòng giữ thiên hạ, không nghe có việc trị thiên\nhạ. Phòng, nghĩa là sợ thiên hạ đắm\nđuối mà mất tánh. Giữ, là sợ thiên hạ\ndời đổi mà mất Đức. Thiên hạ mà không\nđắm đuối để mất tánh, dời\nđổi để mất Đức thì sao\nlại cần đến kẻ trị thiên hạ!”*(聞 在 宥 天 下,不 聞 治 天 下 也。在 之 也 者 恐 天 下 之 淫 其 性 也。 宥 之 也 者 恐 天 下 之 遷 其 德 也。天 下 不 淫 其 性 不 遷 其 德,有 治 天 下 者 哉).\n⸈⸈⸈\n\nChưa xác định NAM HOA KINH NGOẠI THIÊN TẠP THIÊN TRÍCH YẾU\n\nNhư trước đây có nói, phần\nthứ hai của bản dịch nầy, sẽ không\ndịch tất cả các thiên chương trong phần\nNgoại thiên và Tạp thiên, mà chỉ trích ra những\nchương hay nhất có thể tiêu biểu cho cái học\ncủa Trang Tử, loại bỏ những chương xét\nra quá thiển lậu và làm sai lạc tôn chỉ của Trang\nTử đã biểu diễn ở thiên đầu của\nNội thiên. Và như thế là để tránh cho\n*Nam\nHoa Kinh *những mâu thuẫn và xuyên tạc của\nnhiều đoạn văn quá nông nổi, vụng về mà\nkhông hiểu tại sao các học giả như Quách\nTượng lại tiếc gì không vứt bớt đi,\nđể di ngộ cho người sau không phải ít.\n⸈⸈⸈\nNhư chúng tôi đã trình bày trước đây,\nnhất là ở trong quyển\n*Trang Tử Tinh Hoa*,\nthì tư tưởng căn bản của Trang Tử\nchỉ gồm trong hai thiên đầu của Nội thiên là\nTiêu Diêu Du và Tề Vật Luận. Các thiên khác trong Nội\nthiên thực ra cũng chỉ để trình bày thêm\nđủ mọi phương diện hai thiên đầu\nấy mà thôi.\nNgoại và Tạp thiên, xét về văn lý thì thường loạn chạc, vụng về, nông nổi, mâu thuẫn lại hay dùng cái giọng ngạo mạn của người phẫn thế, ít có được cái thần thái thâm trầm sâu sắc như ở Nội thiên.\n⸈⸈⸈\nCác thiên Đạt Sinh 大 生, Sơn Mộc 山 木, Nhơn Gia Thế 人 間 世, Trí Bắc Du 知 北 遊, Thu Thủy 秋 水,Tắc Dương 則 陽, Điền Tử Phương 田 子 方 đều do các bậc hậu học viết ra vào khoảng sau Chiến Quốc nghĩa là đầu nhà Tần và nhà Hán.\nĐạt Sinh thì giảng rộng ý nghĩa của thiên Dưỡng Sinh Chủ.\nThiên Sơn Mộc và Nhơn Gian Thế thì đại để diễn rộng cái thuyết “vô dụng chi dụng” 無 用 之 用 ở Tiêu Diêu Du.\n⸈⸈⸈\nThiên Thu Thủy thì thuyết vấn đề “tề thị phi” và “phản bổn hoàn nguyên” của các thiên Tề Vật và Tiêu Diêu.\nTrí Bắc Du, diễn rộng chủ trương “bất ngôn chi giáo” của thiên Đức Sung Phù.\nTắc Dương thì giảng về thuyết “Thiên Quân” và “Hoàn Trung” của Trang Tử đã đề xướng ở thiên Tề Vật, còn Điền Tử Phương thì giảng rộng thêm ý nghĩa “bảo toàn thiên chân” ở thiên Dưỡng Sinh Chủ.\nTrái lại, các thiên Canh Tang Sở 庚 桑 楚, Chí Lạc至 樂, Từ Vô Quỷ 徐 無 鬼, Ngoại Vật 外 物, Liệt Ngự Khấu 列 禦 寇, tuy ý là để diễn rộng tư tưởng của Trang Tử ở Nội thiên, nhưng phần nhiều thuyết minh lầm lạc, người viết chưa nắm được yếu chỉ của cái học của Trang Tử, lại còn dùng toàn giọng văn của người phẫn thế, pha lẫn với mồm mép của Nho gia. Diệp Quốc Khánh 葉 國 慶 nói rất đúng rằng, do Ngoại thiên mới có đẻ ra thuyết thần tiên, và trường sinh cửu thị(外 篇 直 把 神 仙 記 出,欲 求 長 生 久 視 與 內 篇 不 同). Nhất là trong các thiên Tại Hựu 在 宥 và Thiên Địa 天 地,tư tưởng thần tiên đầy dẫy.\nTrong thiên Chí Lạc 至 樂, lại còn bàn đến thuyết “duyệt sinh nhi ố tử”(悅 生 而 惡 死), thật rất khác xa với tư tưởng “sinh tử vi nhất” (生 死 為 一)của Trang Tử ở thiên Tề Vật.\nThiên Mã Đề 罵 蹄 thì giảng về thuyết “vô vi tự chính” 無 為 自 正 của Lão Tử; Biền Mẫu 駢 拇 thì giảng câu “Vi thiện vô cận danh, vi ác vô cận hình”(為 善 無 近 名,爲 惡 無 近 刑)của Trang Tử ở thiên Dưỡng Sinh, nhưng ý tưởng tạp nhạp, tầm thường, chưa thông đến huyền nghĩa của đạo dưỡng sinh.\nCác cố sự trong thiên Nhượng\nVương thì lại giống với những cố\nsự trong các sách\n*Lữ Giám *呂 監, *Hoài Nam Tử *淮 南 子, *Hàn Thi\nNgoại Truyện *韓 詩 外 傳. Còn Duyệt Kiếm 說 劍 thì giọng\nvăn lại giống với *Chiến Quốc\nSách *戰 國 策.\nHai thiên Ngụ Ngôn 寓 言 và Thiên Hạ 天 下 có lẽ là đặc biệt nhất và lẽ ra nên để một thiên ở đầu, và một thiên sau chót, vì trong Ngụ Ngôn người sau thuật lại phép cấu tạo văn chương trong sách Trang Tử, còn ở Thiên Hạ, bình giả đời sau luận về cái học của bách gia ở thời Xuân thu Chiến quốc trong đó có Lão Tử, Trang Tử, Huệ Thi, Mặc Địch...Thiên Hạ là một tài liệu rất quý cho sự khảo cứu về lịch sử tư tưởng của Trung Hoa cổ đại, và dĩ nhiên không phải của Trang Tử viết ra.\n⸈⸈⸈\n\n**A.** 秋 水 時 至,百 川 灌 河。涇 流 之 大,兩 涘 渚 崖 之 間,不 辯 牛 馬。於 是 焉 河 伯 欣 然 自 喜,以 天 下 之 美 為 盡 在 己。順 流 而 東 行, 至 於 北 海,東 面 而 視,不 見 水 端。於 是 焉 河 伯 始 旋 其 面 目,望 洋 向 若 而 嘆 曰:「野 語 有 之 曰:『 聞 道 百 以 為 莫 己 若 者 』,我 之 謂 也。且 夫 我 嘗 聞 少 仲 尼 之 聞 而 輕 伯 夷 之 義 者,始 吾 弗 信。今 我 睹 子 之 難 窮 也, 吾 非 至 於 子 之 門 則 殆 矣,吾 長 見 笑 於 大 方 之 家。」\n北 海 若 曰:「井 蛙 不 可 以 語 於 海 者,拘 於 虛 也 ﹔ 夏 蟲 不 可 以 語 於 冰 者,篤 於 時 也 ﹔ 曲 士 不 可 以 語 於 道 者,束 於 教 也。今 爾 出 於 崖 涘,觀 於 大 海,乃 知 爾 醜,爾 將 可 與 語 大 理 矣。天 下 之 水,莫 大 於 海,萬 川 歸 之, 不 知 何 時 止 而 不 盈 ﹔ 尾 閭 泄 之,不 知 何 時 已 而 不 虛 ﹔ 春 秋 不 變,水 旱 不 知。此 其 過 江 河 之 流,不 可 為 量 數。而 吾 未 嘗 以 此 自 多 者,自 以 比 形 於 天 地,而 受 氣 於 陰 陽,吾 在 於 天 地 之 間,猶 小 石 小 木 之 在 大 山 也。 方 存 乎 見 少,又 奚 以 自 多!計 四 海 之 在 天 地 之 間 也,不 似 礨 空 之 在 大 澤 乎 ? 計 中 國 之 在 海 內,不 似 稊 米 之 在 大 倉 乎 ? 號 物 之 數 謂 之 萬,人 處 一 焉 ﹔ 人 卒 九 州,穀 食 之 所 生,舟 車 之 所 通,人 處 一 焉。此 其 比 萬 物 也,不 似 豪 末 之 在 於 馬 體 乎 ? 五 帝 之 所 連,三 王 之 所 爭,仁 人 之 所 憂,任 士 之 所 勞,盡 此 矣!伯 夷 辭 之 以 為 名,仲 尼 語 之 所 以 為 博。此 其 自 多 也,不 似 爾 向 之 自 多 於 水 乎 ?」\n**A.** Thu thủy\nthời chí, bách xuyên quán hà; kinh lưu chi đại mãn\nsĩ chữ nhai chi gian, bất biện ngưu mã. Ư\nthị yên, Hà Bá 1 hân nhiên tự hỉ, dĩ\nthiên hạ chi mỹ vi tận tại kỷ; thuận\nlưu nhi đông hành, chí ư Bắc Hải. Đông\ndiện nhi thị bất kiến thủy đoan, ư\nthị yên Hà Bá thủy tuyến kỳ diện mục,\nvọng dương hướng nhược nhi thán\nviết: “Dã ngữ hữu chi viết: Văn Đạo\nbách, dĩ vi mạc kỷ nhược giả, ngã chi\nvị dã. Thả phù ngã thường văn thiểu\nTrọng Ni văn nhi khinh Bá Di chi nghĩa giả. Thủy\nngô phất tín, kim ngã đổ tử chi nan cùng dã, ngô phi chí\nư tử chi môn, tắc đãi hĩ, ngô trường\nkiến tiếu ư đại phương 2 chi\ngia”.\nBắc Hải nhược viết: “Tỉnh oa\nbất khả dĩ ngứ ư hải giả câu ư\như dã; hạ trùng bất khả dĩ ngứ ư\nbăng giả, đốc ư thời dã; khúc sĩ\n3 bất\nkhả dĩ ngứ ư Đạo giả, thúc ư giáo\ndã. Kim nhĩ xuất ư nhai sĩ, quan ư đại\nhải, nãi tri, nhĩ xú nhĩ tương khả dữ\nngứ đại lý hĩ. Thiên hạ chi thủy, mạc\nđại ư hải, vạn xuyên quy chi bất tri hà\nthời chỉ, nhi bất doanh, vĩ lư tiết chi\nbất tri hà thời dĩ, nhi bất hư; xuân thu bất\nbiến, thủy hạn bất tri, thử kỳ quá giang hà\nchi lưu, bất khả vi lượng số nhi ngô vị\nthường dĩ thử tự đa giả, tự\ndĩ tỉ hình ư thiên địa nhi thụ khí ư âm\ndương, ngô tại ư thiên địa chi gian, do\ntiểu thạch tiểu mộc chi tại đại\nsơn dã. Phương tồn hồ kiến thiểu\nhựu hề dĩ tự đa? Kế tứ hải chi\ntại thiên địa chi gian dã, bất tợ lũy không\nchi tại đại trạch hồ; kế Trung Quốc\nchi tại hải nội, bất tợ đề mễ\nchi tại đại thương hồ? Hiệu vật chi\nsố vị chi vạn nhơn xử nhất yên; nhơn\ntốt 4 cửu châu cốc thực chi sở\nsinh châu xa chi sở thông, nhơn xử nhất yên; thử\nkỳ tỉ vạn vật dã, bất tợ hào mạt chi\ntại ư mã thể hồ? Ngũ đế chi sở\nliên 5, tam vương chi sở tranh, nhân nhơn chi\nsở ưu, nhiệm sĩ chi sở lao, tận thử\nhĩ! Bá Di từ chi dĩ vi danh, Trọng Ni ngứ chi\nsở dĩ vi bác; thử kỳ tự đa dã, bất\ntợ nhĩ hướng chi tự đa ư thủy\nhồ?”\n**CHÚ**\n1.\n*Hà Bá *河 伯: Theo *Thích Văn *釋 文, Hà Bá tên là Di 夷, họ Phùng 馮. Đại diện tư tưởng của\nKhổng Tử.\n2.\n*Đại\nphương *大 方: Theo Tư Mã 司 馬, *đại phương *đây là ám\nchỉ các nhà Đạo học hay đại Đạo.\nChữ 方 (phương) ở đây,\nthiết nghĩ là do chữ\n*phương\nthuật *方 術 mà ra. *Phương\nthuật *là dùng để đối chiếu\nvới *Đạo thuật *道 術. Nói đến 方 (phương) là đủ thấy rõ rằng\nkhông phải cái thuật toàn diện của Đạo\nhọc, cho nên không thể giải nó là cái phương\ncủa Đạo học. *Phương thuật*, thì có lớn, có nhỏ để\nphân chia, còn *Đạo thuật *sao lại còn\nlớn, nhỏ?(方 術,有 大 小,道 術,無 大 小。) *Phương\nthuật*, thì nhãn quang chia phân, có những cái nhìn chi ly, riêng\nbiệt, những phương tiện chuyên môn, khác xa\nvới *Đạo thuật*, là cái nhìn tổng\nhợp đủ mọi khía cạnh, cả bề mặt\nvà bề trái của cuộc đời.\nHà Bá\nchưa ngộ Đạo, còn sợ tiếng chê khen của\nnhóm người phương thuật. Thiên Thiên Hạ có\ncâu:\n*“Thiên hạ chi trị, phương thuật\ngiả đa hĩ”*(天 下 之 治 方 術 者 多 矣).\n3.\n*Khúc sĩ *曲 士: là bọn học thức hẹp hòi, không\nbiết gì ngoài cái vòng hương khúc (làng mạc) của\nhọ(鄉 曲 之 士).\n4. 卒: có nghĩa là tận cùng(盡 也).\n5. 連 có nghĩa là liên tục, nối tiếp nhau.\n**DỊCH NGHĨA**\nNƯỚC THU\n**A.** *Lúc nước thu dưng, trăm\nrạch đổ vào sông to. Lòng sông rộng cho đến\nđứng bờ nọ ngó bờ kia không sao phân biệt\nđược bò với ngựa. * *Thấy vậy, Hà Bá đắc ý cho cái\nđẹp trong thiên hạ chưa còn ai hơn mình. Thuận\ndòng theo hướng Đông đi tới biển Bắc,\nngoảnh lại hướng Đông, không thấy mé. * *Hà Bá mới than với Hải Thần: “Tục\nngữ có câu: Kẻ biết ít, cho không ai bằng mình. Lời\nnói ấy, để nói tôi là phải. Tôi thường nghe\nchê chỗ thiếu học của Trọng Ni, nghe khinh cái\nlòng nghĩa của Bá Di mà tôi không tin. Nay thấy chỗ\nkhông cùng của Ngài, nếu tôi không đến cửa Ngài mà\nthụ giáo, các nhà đại phương ắt sẽ chê\ncười tôi”. * *Thần Bắc Hải nói: “Cùng ếch giếng\nkhông thể nói biển đặng: nó chỉ biết có cái\nhang nó mà thôi. Cùng con trùng mùa hạ, không thể nói băng\ntuyết đặng: nó chỉ biết có cái mùa của nó mà\nthôi! Cùng bọn khúc sĩ không thể nói Đạo đặng:\nhọ bị trói buộc trong giáo lý của họ. Nay\nngươi ra khỏi lòng sông, thấy biển cả mà\nbiết xấu hổ. Vậy thì, nói đại lý với\nngươi được. * *Dưới trời, nước không đâu\nnhiều hơn biển. Đó là nơi muôn sông chảy\nvề, không biết bao giờ thôi, mà không hề\nđầy; rồi nước biển lại chảy vào\ncác sông không biết bao giờ ngưng, mà không hề vơi.\nXuân, Thu chẳng biến đổi nó, mà thủy hạn nó\ncũng chẳng cần biết đến làm gì. Hơn\nrạch sông không biết lượng số nào kể, mà ta\nchưa từng cậy đó là nhiều, là vì tự sánh\nvới Trời Đất, âm dương, thì ta có khác nào\nmột viên đá nhỏ, một gốc cây gầy trong dãy\nnúi to! Đã rằng là ít, sao thấy mình nhiều? Bốn\nbiển ở trong Trời Đất phải chăng\ncũng chỉ là những hang nhỏ ở trong chầm\nlớn hay sao? Trung Quốc nằm trong bốn biển\ncũng chẳng giống hạt lúa ở trong kho lớn hay\nsao? Vạn vật, lấy số muôn mà nói, thì người\nchỉ được số một mà thôi! Lấy chín châu,\nnơi lúa thóc sinh sản thoàn xe thông hành, thì người\ncũng không qua số một. Vậy, người\nđối với vạn vật, khác nào một sợi lông\ntrên mình ngựa. Chỗ liên hiệp của Ngũ\nĐế, chỗ tranh giành của Tam Hoàng, chỗ lo\nlắng của người nhân, chỗ nhọc nhằn\ncủa kẻ sĩ, rốt lại có gì! Bá Di từ ngôi,\nlấy đó làm danh; Trọng Ni nói ra, gọi đó là\nrộng. Những cái mà họ cho rằng nhiều đó, thì\ncó khác nào ngươi trước khi thấy biển, cho\nrằng nước của mình là nhiều vậy.” *\n⸈⸈⸈\n**B.** 河 伯 曰:「然 則 吾 大 天 地 而 小 豪 末,可 乎 ?」\n北 海 若 曰:「否。夫 物,量 無 窮,時 無 止, 分 無 常,終 始 無 故。是 故 大 知 觀 於 遠 近, 故 小 而 不 寡,大 而 不 多:知 量 無 窮。證 曏 今 故,故 遙 而 不 悶,掇 而 不 跂:知 時 無 止。 察 乎 盈 虛,故 得 而 不 喜,失 而 不 憂,知 分 之 無 常 也。明 乎 坦 塗,故 生 而 不 說,死 而 不 禍:知 終 始 之 不 可 故 也。計 人 之 所 知, 不 若 其 所 不 知 ﹔ 其 生 之 時,不 若 未 生 之 時﹔ 以 其 至 小 求 窮 其 至 大 之 域,是 故 迷 亂 而 不 能 自 得 也!由 此 觀 之,又 何 以 知 毫 末 之 足 以 定 至 細 之 倪,又 何 以 知 天 地 之 足 以 窮 至 大 之 域!」\n**B.** Hà Bá viết:\n“Nhiên tắc ngô đại thiên địa nhi tiểu hào\nmạt khả hồ?”\nBắc Hải nhược viết: “Phủ. Phù\nvật lượng\n1 vô cùng, thời vô chỉ,\nphận 2 vô thường, chung thủy vô cố.\nThị cố đại tri 3quan ư viễn\ncận, cố tiểu nhi bất quả đại nhi\nbất đa 4, tri lượng vô cùng. Chứng\nhưởng kim cố, cố diêu nhi bất muộn 5,\nđoạt nhi bất kỳ; tri thời vô chỉ, sát\nhồ doanh hư, cố đắc nhi bất hỉ\nthất nhi bất ưu; tri phận chi vô thường dã. Minh\nhồ thản đồ, cố sinh nhi bất duyệt 6,\ntử nhi bất quá; tri chung thủy chi bất khả\ncố dã. Kế nhơn chi sở tri, bất nhược\nkỳ sở bất tri; kỳ sinh chi thời, bất\nnhược vị sinh chi thời; dĩ kỳ chí tiểu\ncầu cùng kỳ chí đại chi vực, kỳ cố mê\nloạn nhi bất năng tự đắc dã! Do thử quan\nchi, hựu hà dĩ tri hào mạt chi túc dĩ định chí\ntế chi nghê, hựu hà dĩ tri thiên địa chi túc\ndĩ cùng chí đại chi vực?”\n**CHÚ**\n1. 物量 (vật lượng): Chữ\n*lượng *đây,\ncó nghĩa là số nhiều do sự biến hóa liên miên làm\ncho ta thấy dường như vạn vật càng ngày càng tăng\nsố, không biết đâu là cùng. Trong khi thực sự\nkhông có gì tăng, hay giảm cả.\n2.\n*Phận *分: là chỉ vào sự\nđược, mất 得 失. *Phận vô thường*, là muốn nói về sự không\nthể định được chỗ nên hư,\nđắc thất.\n3. 知 đồng nghĩa với 智 (trí). Bậc đại trí thì xem trùm vạn vật, không nhìn riêng ở một bề mặt hay bề trái nào của sự vật mà thôi.\n4. 小 而 不 寡 (tiểu nhi bất quả): là muốn nói vật, vật nào cũng có chỗ “tự túc” 自 足 của nó, dù là nhỏ đến đâu, cho nên tuy ít cũng không được gọi là thiếu.\n大 而 不 多 (đại nhi bất đa) cũng như dù là lớn đến đâu cũng không gọi là nhiều (tức là có dư). Nghĩa là dù nhỏ hay lớn, thảy đều “tự túc” cả, vì đều là Đạo cả.\n5. Cùng một nghĩa\nvới chữ 悶 trong câu nầy\ncủa Lão Tử:\n*“Kỳ chính muộn muộn” *其 政 悶 悶 (chính lệnh mờ mờ).\n6. 說 ở đây đọc là\n*duyệt *悅.\n**DỊCH NGHĨA**\n**B.** *Hà Bá nói:\n“Vậy, tôi cho Trời Đất là cực đại,\nmảy lông là cực tiểu, được không?” * *Thần Bắc Hải nói: “Không được!\nKìa như muôn vật biến hóa không cùng, thời gian đi\nmãi không dừng, số phận dời đổi không\nthường, trước sau liên tiếp không thôi. Ấy nên,\nbậc đại trí xét việc xa gần, thấy nhỏ\nkhông cho là ít, thấy lớn không cho là nhiều, đó là\nbiết được chỗ biến vô cùng. Luận qua\nkim cổ, thì việc đã qua không ưu tư, việc\nđương thời không bận lòng: đó là biết\nđược chỗ không dừng của thời giờ.\nXét việc lưng vơi, thì được không vui,\nmất không buồn: đó là biết được\nchỗ không thường của số phận. Thấy\nđặng như vậy thì sống không mừng, chết\nkhông lo: đó là biết được chỗ trước\nsau liên tiếp không ngừng vậy. Chỗ biết của\nngười, không bằng chỗ họ không biết. Thuở\nsanh ra không bằng thuở chưa sanh. Muốn lấy\nchỗ cực tiểu của mình mà cầu hiểu tận\nchỗ cực đại, là mê loạn, là ngu xuẩn. Như\nthế, làm sao biết được cái lông đủ\nđể làm mẫu của cái cực tiểu, làm sao\nbiết Trời Đất đủ để làm mẫu\ncủa cái cực đại?” *\n⸈⸈⸈\n**C.** 河 伯 曰:「世 之 議 者 皆 曰:『 至 精 無 形,至 大 不 可 圍。』 是 信 情 乎 ?」\n北 海 若 曰:「夫 自 細 視 大 者 不 盡,自 大 視 細 者 不 明。夫 精,小 之 微 也 ﹔ 垺,大 之 殷 也,故 異 便。此 勢 之 有 也。夫 精 粗 者,期 於 有 形 者 也 ﹔ 無 形 者,數 之 所 不 能 分 也 ﹔ 不 可 圍 者,數 之 所 不 能 窮 也。可 以 言 論 者,物 之 粗 也 ﹔ 可 以 意 致 者,物 之 精 也 ﹔ 言 之 所 不 能 論,意 之 所 不 能 察 致 者,不 期 精 粗 焉。\n是 故 大 人 之 行,不 出 乎 害 人,不 多 仁 恩﹔ 動 不 為 利,不 賤 門 隸 ﹔ 貨 財 弗 爭,不 多 辭 讓 ﹔焉 不 借 人,不 多 食 乎 力,不 賤 貪 污﹔ 行 殊 乎 俗,不 多 辟 異 ﹔ 為 在 從 眾,不 賤 佞 諂 ﹔ 世 之 爵 祿 不 足 以 為 勸,戮 恥 不 足 以 為 辱 ﹔ 知 是 非 之 不 可 為 分,細 大 之 不 可 為 倪。聞 曰:『 道 人 不 聞,至 德 不 得,大 人 無 己。』 約 分 之 至 也。」\n**C.** Hà Bá viết:\n“Thế chi nghị giả, giai viết: Chí tinh vô hình, chí\nđại bất khả vi, thị tín, tình hồ?”\nBắc Hải nhược viết: Phù tự\ntế thị đại giả bất tận, tự\nđại thị tế giả bất minh. Phù tinh,\ntiểu chi vi dã, phù\n1, đại chi ân dã, cố\ndị tiện; thử thế chi hữu dã. Phù tinh thô\ngiả, kỳ ư hữu hình giả dã, vô hình giả,\nsố chi sở bất năng phân dã; bất khả vi\ngiả, số chi sở bất năng cùng dã. Khả dĩ\nngôn luận giả, vật chi thô dã, khả dĩ ý trí\ngiả, vật chi tinh dã; ngôn chi sở bất năng\nluận ý chi sở bất năng sát trí giả, bất\nkỳ tinh thô yên.\nThị cố đại nhơn chi hành: bất\nxuất hồ hại nhơn, bất đa nhân ân,\nđộng bất vi lợi, bất tiện môn lệ; hóa\ntài phất tranh bất đa từ nhượng; yên\nbất tá nhơn, bất đa thực hồ lực,\nbất tiện tham ố; hạnh thù hồ tục, bất\nđa tỵ dị; vi tại tùng chúng, bất tiện\nnịnh siểm; thế chi tước lộc bất túc\ndĩ vi khuyến lục sỉ bất túc dĩ vi nhục;\ntri thị phi chi bất khả vi phân tế đại chi\nbất khả vi nghê. Văn viết: Đạo nhơn\nbất văn, chí đức bất đắc, đại\nnhơn vô kỷ\n2: ước phân chi chí dã.”\n**CHÚ**\n1. Đọc là phù 孚.\n2.\n*Vô kỷ: *không thấy có mình. Chữ *đại *ở\nđây, không có nghĩa là *lớn*, mà là để\nphân biệt con người đã được\nđại Đạo. Được Đạo, thì không\ncòn thấy phân chia Đây và Đó, Ta và Vật nữa, nên\ngọi là “không thấy có Ta”.\n**DỊCH NGHĨA**\n**C.** *Hà Bá hỏi:\n“Luận giả trong đời đều nói: một\nvật rất tinh, thì vô hình; một vật thật\nlớn, thì không thể bao gồm được. Có\nphải thực vậy không?” * *Thần Bắc Hải nói: “Tự nhỏ mà xem\nlớn, làm sao thấy hết được! Tự\nlớn mà nhìn nhỏ, làm sao thấy rõ rệt\nđược! Tinh, là cái nhỏ thật nhỏ, thô là cái\nlớn rất lớn vậy. Cho nên, phương tiện\ndùng phải khác nhau. Tinh và thô là để nói về\nnhững vật hữu hình; còn vật vô hình thì con số\nkhông phân chia được nữa. Không thể bao gồm\nđược, là vật vô cùng mà con số không hạn\nđịnh được. Cái mà còn luận được,\nnói được, là cái thô của vật. Cái mà ý xét\nđược, là cái tinh của vật. Nhưng còn cái mà\nlời không thể luận, ý không thể xét, là bởi nó\nkhông phải tinh mà cũng không phải thô. * *Thế nên, bậc đại nhơn hành\nđộng không gây hại cho ai mà cũng không ân huệ cho\nai. Động không vì lợi, không coi kẻ canh cửa là\nhèn. Không vì tiền của mà tranh, cũng không lấy sự\ntự nhượng làm quý. Công việc thì không nhờ\nvả vào ai, cũng không khinh kẻ tham lam. Hạnh thì khác\nngười thế tục, nhưng chẳng chuộng\nsự khác lạ, và làm theo đám đông, không khinh\nngười siểm nịnh. Tước lộc của\nđời không đủ khuyến, hình phạt không\nđủ nhục, bởi họ biết phải trái không\nchỗ phân, lớn nhỏ không chỗ định. Nghe nói\nrằng: Người có Đạo thì lặng lẽ,\nbậc chí đức thì không mong được gì cả,\ncòn người đại nhơn thì không có mình: họ\nđã hợp tất cả làm một.” *\n⸈⸈⸈\n**D.** 河 伯 曰:「若 物 之 外,若 物 之 內,惡 至 而 倪 貴 賤 ? 惡 至 而 倪 小 大 ?」\n北 海 若 曰:「以 道 觀 之,物 無 貴 賤 ﹔ 以 物 觀 之,自 貴 而 相 賤 ﹔ 以 俗 觀 之,貴 賤 不 在 己。以 差 觀 之,因 其 所 大 而 大 之,則 萬 物 莫 不 大 ﹔ 因 其 所 小 而 小 之,則 萬 物 莫 不 小。知 天 地 之 為 稊 米 也,知 毫 末 之 為 丘 山 也,則 差 數 覩 矣。以 功 觀 之,因 其 所 有 而 有 之,則 萬 物 莫 不 有 ﹔因 其 所 無 而 無 之, 則 萬 物 莫 不 無。知 東 西 之 相 反 而 不 可 以 相 無,則 功 分 定 矣。以 趣 觀 之,因 其 所 然 而 然 之,而 萬 物 莫 不 然 ﹔ 因 其 所 非 而 非 之,則 萬 物 莫 不 非。知 堯 、 桀 之 自 然 而 相 非,則 趣 操 覩 矣。昔 者 堯 舜 讓 而 帝,之 噲 讓 而 絕\n﹔ 湯 武 爭 而 王,白 公 爭 而 滅。由 此 觀 之,爭 讓 之 禮,堯 桀 之 行,貴 賤 有 時,未 可 以 為 常 也。梁 麗 可 以 衝 城,而 不 可 以 窒 穴,言 殊 器 也 ﹔ 騏 驥 驊 騮,一 日 而 馳 千 里,捕 鼠 不 如 狸 狌,言 殊 技 也 ﹔ 鴟 鵂 夜 撮 蚤,察 毫 末, 晝 出 瞋 目 而 不 見 丘 山,言 殊 性 也。故 曰,蓋 師 是 而 無 非,師 治 而 無 亂 乎 ? 是 未 明 天 地 之 理,萬 物 之 情 者 也。是 猶 師 天 而 無 地, 師 陰 而 無 陽,其 不 可 行 明 矣。然 且 語 而 不 舍,非 愚 則 誣 也。帝 王 殊 禪,三 代 殊 繼。差 其 時,逆 其 俗 者,謂 之 篡 夫 ﹔ 當 其 時,順 其 俗 者,謂 之 義 之 徒。默 默 乎 河 伯,女 惡 知 貴 賤 之 門,小 大 之 家!」\n**D.** Hà Bá viết: “Nhược vật chi ngoại,\nnhược vật chi nội, ô chí nhi nghê quý tiện, ô chí\nnhi nghê tiểu đại?”\nBắc Hải nhược viết: “Dĩ\nĐạo quan chi, vật vô quý tiện; dĩ vật quan\nchi, tự quý nhi tương tiện; dĩ tục quan chi,\nquý tiện bất tại dĩ. Dĩ sai quan chi, nhân kỳ\nsở đại nhi đại chi, tắc vạn vật\nmạc bất đại, nhân kỳ sở tiểu nhi\ntiểu chi, tắc vạn vật mạc bất tiểu;\ntri thiên địa chi vi đề mễ dã, tri hào mạt\nchi vi khưu sơn dã, tắc sai số đổ hĩ. Dĩ\ncông quan chi nhân kỳ sở hữu nhi hữu chi tắc\nvạn vật mạc bất hữu, nhân kỳ sở vô\nnhi vô chi, tắc vạn vật mạc bất vô. Tri đông\ntây chi tương phản nhi bất khả dĩ\ntương vô, tắc công phân định hĩ. Dĩ thú\nquan chi, nhân kỳ sở nhiên nhi nhiên chi, tắc vạn\nvật mạc bất nhiên, nhân kỳ sở phi nhi phi chi\ntắc vạn vật mạc bất phi; tri Nghiêu Thuấn\nchi tự nhiên nhi tương phi, nhi thú thao đổ hĩ.\nTích giả Nghiêu Thuấn nhượng nhi đế, Chi\nKhoái nhượng nhi tuyệt, Thang Vũ tranh nhi\nvương, Bạch Công tranh nhi diệt. Do thử quan chi\ntranh nhượng chi lễ, Nghiêu Thuấn chi hành, quý\ntiện hữu thời vị khả dĩ vi đế dã.\nLương lê khả dĩ xung thành, nhi bất khả\ndĩ thất huyệt, ngôn thù khí dã. Kỳ Ký Hoa Lưu\n1 nhất\nnhật nhi trì thiên lý, bổ thử bất như ly tinh,\nngôn thù chi dã. Xi hưu dạ toát tảo, sát hào mạt, trú\nxuất xân mục nhi bất kiến khưu sơn, ngôn thù\ntính dã. Cố viết: Cái sư thị nhi vô phi, sư\ntrị nhi vô loạn hồ? Thị vị minh thiên\nđịa chi lý, vạn vật chi tình giả dã. Thị do\nsư thiên nhi vô địa, sư âm nhi vô dương,\nkỳ bất khả hành minh hĩ. Nhiên thả ngứ nhi\nbất xá, phi ngu tắc vu dã! Đế vương thù\nthiện, tam đại thù kế. Sai kỳ thời,\nnghịch kỳ tục giả, vị chi soán phù. Đương\nkỳ thời, thuận kỳ tục giả, vị chi\nnghĩa chi đồ. Mặc mặc hồ Hà Bá! Nhữ ô\ntri quý tiện chi môn, tiểu đại chi gia! 2”\n**CHÚ**\n1. Kỳ, Ký, Hoa, Lưu: tên các ngựa hay chạy khỏe.\n2. Thế tục thường căn cứ những vật bên ngoài để phân quý, tiện. Phân có cao có thấp, mới có phân ra quý, tiện khác nhau. Nhưng đứng trong Đạo mà xem, thì không đâu là quý tiện cả, mà cũng không đâu lớn nhỏ cả, là vì “không ở đâu là không có Đạo”. Cái cực tiểu là hình ảnh cái cực đại: khoa học nguyên tử ngày nay cũng không nói khác hơn được.\n**DỊCH NGHĨA** **D. ** *Hà Bá lại hỏi: “Nhờ đâu\nmà phân biệt được chỗ trong ngoài, chỗ quý\ntiện, chỗ lớn nhỏ của vật?” * *Thần Bắc Hải nói: “Lấy con mắt\nĐạo mà xem, thì vật không có quý, tiện. Lấy\nvật mà xem, thì vật có quý có tiện, vì bởi vật\nnào cũng tự xem là quý, nên khi sánh lại với vật\nkhác, thường cho đó là tiện. Lấy con mắt\ncủa thế tục mà xem thì sự phân quý tiện lại\nkhông phải ở nơi mình. Lấy con mắt sai biệt\nmà xem, thì nhân cái lớn của nó mà cho là lớn thì vạn\nvật không có cái gì là không lớn; nhân cái nhỏ của nó\nmà cho là nhỏ thì vạn vật không có cái gì là không nhỏ.\nBiết Trời Đất như hột thóc, biết\nmảy lông như hòn núi là biết rõ chỗ sai biệt\nrồi vậy. Lấy theo chỗ công ích mà xem, nhân cái có\ncủa nó mà cho là có thì vạn vật không gì là không có; nhân\ncái không của nó mà cho là không, thì vạn vật không gì là\nkhông không. Biết Đông Tây là nghịch nhau mà không có nhau\nkhông được, thì là biết phân định\nđược sự công dụng rồi. Lấy chỗ\nưa thích mà xem, nhân cái phải vậy của vật\nnầy mà cho nó là phải, thì vạn vật không vật gì\nlà không phải; nhân cái không phải vậy của vật\nnầy mà cho nó là không phải, thì vạn vật không\nvật nào là không phải. Biết Nghiêu và Kiệt\nđều tự cho rằng mình là phải mà cho nhau là\nquấy, đó là rõ được cái cốt của sự\nưa thích rồi! Xưa kia Nghiêu Thuấn nhường ngôi\nnhau mà làm vua, còn Chi và Khoái cũng nhường nhau mà\nphải mất. Thang Vũ tranh nhau mà được\nnước; Bạch Công tranh nhau mà phải chết. Do\nđó mà xem, trong lễ tranh nhượng, trong hành\nđộng của Nghiêu Kiệt, quý tiện tùy thời,\nchưa lấy đâu làm mực thường\nđược. Cái lương lê dùng phá thành, không dùng mà\nlấp hang được: khí cụ khác nhau. Kỳ, Ký, Hoa,\nLưu một ngày chạy nghìn dặm mà không bắt\nchuột như mèo: tài năng khác nhau. Chim cú ban đêm\nmắt tỏ đến bắt rận được, mà\nban ngày gò núi sờ sờ không thấy: tánh khác nhau. Nên chi,\nmuốn có phải mà không có quấy, muốn có trị mà\nkhông có loạn là chưa rõ cái lý của Trời Đất,\ncái tình của vạn vật. Ấy là mơ Trời mà không\ncó Đất, mơ âm mà không có dương đó. * *Vậy mà cứ bàn mãi mà không thôi, thì rõ nếu\nkhông phải là ngu; thì là vu khống vậy! Đế\nVương tranh nhượng, hễ sái thời nghịch\ntục thì gọi là *soán *, còn nhằm thời thuận\ntục, thì gọi là *nghĩa. *Hà thần này! Hãy\nlẳng lặng mà xét lại, sẽ thấy rõ đâu là cái\ngốc của quý tiện, của lớn nhỏ.” *\n⸈⸈⸈\n**E.** 河 伯 曰:「然 則 我 何 為 乎 ? 何 不 為 乎 ? 吾 辭 受 趣 舍,吾 終 奈 何 ?」\n北 海 若 曰:「以 道 觀 之,何 貴 何 賤,是 謂 反 衍 ﹔ 無 拘 而 志,與 道 大 蹇。何 少 何 多,是 謂 謝 施 ﹔ 無 一 而 行,與 道 參 差。嚴 乎 若 國 之 有 君,其 無 私 德 ﹔ 繇 繇 乎 若 祭 之 有 社, 其 無 私 福 ﹔ 泛 泛 乎 其 若 四 方 之 無 窮,其 無 所 畛 域。兼 懷 萬 物,其 孰 承 翼,是 謂 無 方。 萬 物 一 齊,孰 短 孰 長 ?道 無 終 始,物 有 死 生,不 恃 其 成。一 虛 一 滿,不 位 乎 其 形。年 不 可 舉,時 不 可 止。消 息 盈 虛,終 則 有 始。 是 所 以 語 大 義 之 方,論 萬 物 之 理 也。物 之 生 也,若 驟 若 馳。無 動 而 不 變,無 時 而 不 移。何 為 乎,何 不 為 乎 ? 夫 固 將 自 化。」\n**E.** Hà Bá viết: “Nhiên tắc ngã hà vi hồ, hà\nbất vi hồ? Ngô từ thụ thú xá, ngô chung nại hà?”\nBắc Hải nhược viết: “Dĩ\nĐạo quan chi hà quý hà tiện, thị vị phản\ndiễn\n1; vô câu nhi chí, dữ đạo đại\nkiển hà thiểu hà đa, thị vị tạ thí; vô\nnhất nhi hành, dữ đạo tham sai nghiêm hồ\nnhược quốc chi hữu quân, kỳ vô tư\nđức 2, dao dao hồ nhược tế chi\nhữu xã kỳ vô tư phúc 3 phiếm phiếm\nhồ kỳ nhược tứ phương chi vô cùng,\nkỳ vô sở chẩn vực; kiêm hoài vạn vật,\nkỳ thục thừa dực, thị vị vô\nphương. Vạn vật nhất tề thục\nđoản thục trường? Đạo vô chung\nthủy, vật hữu tử sinh, bất thị kỳ\nthành. Nhất hư nhất mãn, bất vị hồ kỳ\nhình 4. Niên bất khả cử, thời bất\nkhả chỉ, tiêu tức 5 doanh hư 6,\nchung tắc hữu thủy. Thị sở dĩ ngứ\nđại nghĩa chi phương, luận vạn vật\nchi lý dã. Vật chi sinh dã, nhược sậu nhược\ntrì, vô động nhi bất biến, vô thời nhi bất\ndi 7. Hà vi hồ? Hà bất vi hồ? Phù cố\ntương tự hóa.”\n**CHÚ**\n1. 反 衍: quý tiện chỉ là sự\n*“phản phúc\ntìm nhau”*(反 覆 相 尋): cái quý gọi cái\ntiện đến, cái tiện gọi cái quý đến. So\nsánh với câu nầy trong *Đạo Đức Kinh*:\n“Tương dục phế chi, tất cố hưng chi.” 相 欲 廢 之, 必 固 興 之 (chương 36): sự phế hưng gọi\nlẫn nhau, cũng như vinh nhục, quý tiện. .\n2.\n*Tư\nđức *私 德: đức riêng tư, tây vị.\n3.\n*Tư phúc *私 福: phúc ban riêng, tây vị.\n4. Vật thì vô thường 無 常, luôn luôn biến đổi.\n5.\n*Tiêu tức *消 息: *Tiêu*, là giảm; *tức*, là\ntăng. Thời gian vận chuyển tuần hoàn, tăng\ngiảm không ngừng, đó gọi là *“tiêu\ntức” *消 謂 減,息 謂 增,時 運 循 環,增 減 不 息,謂 之 消 息 (Tiêu, vị\ngiảm; tức, vị tăng. Thời vận tuần\nhoàn, tăng giảm bất tức, vị chi tiêu tức) (Dịch 易 ).\n6.\n*Doanh *盈 là đầy; *Hư *虛 là *vơi *(lưng). *Doanh\như*, tức là khi đầy khi vơi (chỉ sự\nbất thường). Cùng một nghĩa với “doanh\như tiêu trưởng”. Bản của Nhượng\nTống lại dịch câu *“Doanh hư tiêu\ntức” *là *“thăm dò tin tức đầy\nvơi”*, đó là dịch sai vì đã lẫn lộn\nvới cái nghĩa “tiêu tức” là âm tín.\n7. Tức là phải biết theo con đường biến chuyển của sự vật, không nên khư khư chịu chết trong một khuôn khổ nào, của một nền luân lý, giáo phái hay chế độ nào cả. Tùy cảnh mà biến mãi cho hợp với hoàn cảnh mà đừng làm mất Thiên chân.\n**DỊCH NGHĨA**\n**E.** *Hà Bá hỏi:\n“Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ, phải đừng\nlàm gì bây giờ? Tôi phải từ, phải nhận,\nphải ưa, phải bỏ cái gì, tôi phải làm sao\nđây?” * *Thần Bắc Hải nói: “Lấy con mắt\nĐạo mà xem thì có gì là quý, là tiện, đó chỉ là\nchuyện phản phúc biến thiên, đắp qua\nđổi lại, đừng bận lòng câu chấp\nđến. Lấy Đạo lớn mà xem thì có gì là ít, là\nnhiều, đó chỉ là chuyện cho ra lấy vào, cũng\nđừng phải bận lòng. Cùng với đạo sai\nbiệt, thì nghiêm nghị như một quốc quân không\ntư đức, tự nhiên như tế thần xã mà\nđừng cầu phúc riêng tư. Lòng mênh mông như cái vô\ncùng của bốn phương, không phân bờ cõi. Ôm\nchầm tất cả vạn vật, không thiên về\nphương nào! Muôn vật đều là nhất tề, cho\nnên có gì đâu là dài, là ngắn. Đạo thì không sau, không\ntrước, vật thì có chết có sống, đừng\ntrông cậy nó ở lúc thành tựu. Một vơi, một\nđầy: không hình thức nào đứng vững mãi. Không\nai thêm được tuổi, không ai chận\nđược thời. Khi tăng khi giảm,\nkhi đầy, khi vơi nối tiếp nhau luôn: có sau\nắt có trước. Đó là lấy cái phương\ncủa đại nghĩa mà nói, lấy cái lý của\nvạn vật mà luận. Mạng sống của vạn\nvật như ngựa chạy mau lẹ: không có cái\nđộng nào mà không có biến, không phút nào mà không dời\nđổi. Phải làm đi gì? Phải không làm đi gì? Hãy\nđể cho vạn vật tự nhiên tự hóa!” *\n⸈⸈⸈\n**F.** 河 伯 曰:「然 則 何 貴 於 道 邪 ?」\n北 海 若 曰:「知 道 者 必 達 於 理,達 於 理 者 必 明 於 權,明 於 權 者 不 以 物 害 己。至 德 者, 火 弗 能 熱,水 弗 能 溺,寒 暑 弗 能 害,禽 獸 弗 能 賊。非 謂 其 薄 之 也,言 察 乎 安 危,寧 於 禍 福,謹 於 去 就,莫 之 能 害 也。故 曰,天 在 內,人 在 外,德 在 乎 天。知 天 人 之 行,本 乎 天,位 乎 得,蹢 躅 而 屈 伸,反 要 而 語 極。」\n**F.** Hà Bá viết:\n“Nhiên tắc hà quý ư Đạo da?”\nBắc Hải nhược viết: “Tri\nĐạo giả tất, đạt ư lý; đạt\nư lý giả tất minh ư quyền; minh ư quyền\ngiả bất dĩ vật hại kỷ. Chí đức\ngiả hỏa phất năng nhiệt, thủy phất\nnăng nịch, hàn thử phất năng hại, cầm\nthú phất năng tặc; phi vị kỳ bạc chi dã,\nngôn sát hồ an nguy, ninh ư họa phúc, cẩn ư\nkhứ tựu, mạc chi năng hại dã. Cố viết:\nThiên tại nội, nhơn tại ngoại\n1,\nđức tại hồ thiên; tri thiên nhơn chi hành,\nbổn hồ thiên, vị hồ đắc, trích trục\nnhi khuất thân, phản yếu 2 nhi ngứ\ncực”.\n**CHÚ**\n1.\n*Nhơn tại\nngoại*: ám chỉ cái con người giả tạo\nđược uốn nắn theo những ước\nlệ xã hội. *Thiên tại nội*: Chữ *Thiên *đây là\nám chỉ Thiên chân, đồng với Đạo.\nCòn cái\nta gọi là\n*Đức*, là cái chỗ ứng\ncủa Đạo.\n2.\n*Phản kỳ chân*: Tất cả thiên\nThu Thủy nói riêng, và cả hệ thống tư\ntưởng của Trang Tử nói chung đều gồm\ntrong ba chữ nầy.\n**DỊCH NGHĨA**\n**F.** *Hà Bá hỏi:\n“Vậy, Đạo quý ở chỗ nào?” * *Bắc Hải thần nói: “Người biết\nĐạo, thì thông Lý. Thông Lý thì rõ quyền. Rõ Quyền thì\nkhông vật nào hại đặng. Người chí\nđức vô lửa không nóng, xuống nước không chìm,\nlạnh nóng không thể hại, cầm thú không thể\nphạm. Nói vậy chẳng phải là nói người chí\nđức không sợ các điều ấy, mà là muốn\nnói: người chí đức xét rõ sự an nguy, nên mới\nyên nơi họa phúc; cẩn thận lúc tới lui, nên không\ncó gì hại được. * *Cho nên mới nói rằng: Trời ở trong,\nNgười ở ngoài, Đức ở nơi trời. Biết\nđược cái hành vi của Trời và của\nNgười, gốc ở nơi Trời, vững ở chỗ\nđược, tới lui co duỗi, trở về chỗ\ncốt yếu mà nói đến chuyện vô cùng.” *\n⸈⸈⸈\n**G.** 曰:「何 謂 天 ? 何 謂 人 ?」\n北 海 若 曰:「牛 馬 四 足,是 謂 天 ﹔ 落 馬 首,穿 牛 鼻,是 謂 人。故 曰,無 以 人 滅 天, 無 以 故 滅 命,無 以 得 殉 名。謹 守 而 勿 失, 是 謂 反 其 真。」\n**G.** Viết: “Hà\nvị thiên? Hà vị Nhơn?”\nBắc Hải nhược viết: “Ngưu mã\ntứ túc, thị vị thiên; lạc mã thủ, xuyên ngưu\ntỉ, thị vị nhơn. Cố viết: Vô dĩ\nnhơn diệt thiên, vô dĩ cố\n1 diệt\nMạng 2, vô dĩ đắc 3 tuẩn\ndanh. Cẩn thủ nhi vật thất, thị vị\nphản kỳ chân.”\n**CHÚ**\n3. Chữ\n*Cố *故, có nghĩa là “tạo tác”, sự\nchế tạo do con người bày ra, tức là nhân vi, nhân\ntạo(故,謂 造 作).\n4. Mạng 命: tức là Tự Nhiên (hay thiên nhiên).\n5. Chữ\n*đắc *得: tức là được cái ngoài\nmình làm đắc ý, chết theo ngoại vật như danh\nvọng, tiền bạc (So sánh với câu “bất dục\nđắc” của Lão Tử).\n**DỊCH NGHĨA** **G.** *Hà Bá hỏi:\n“Sao gọi là Trời? Sao gọi là Người?” * *Bắc Hải thần nói: “Ngựa bò bốn\ncẳng, đó là Trời; ràng đầu ngựa, xỏ\nmũi bò, đó là Người. Bởi vậy mới nói:\nđừng lấy Người giết Trời;\nđừng lấy nhân tạo mà giết Mạng,\nđừng lấy được mất mà chết theo\ndanh. Cẩn thận mà giữ gìn đừng làm mất,\nđó gọi là trở về cái Chân của mình.” *\n**TỔNG BÌNH**\nĐây là một chương có thể xem là đặc sắc vào bậc nhất nhì của Ngoại thiên, cốt xiển minh thêm cái ý “tề thị phi, thiện ác” của thiên Tề Vật.\nHà thần đại diện cho tư tưởng nhị nguyên của Nho gia, còn Hải thần là đại diện cho tư tưởng của Trang và Lão. Ngoài ra, cũng không có ý kiến nào mới lạ.\nNhư đã thấy trước đây, Tự do và Bình đẳng, tức là Tiêu Diêu và Tề Vật là tất cả then chốt cái học của Trang Châu, vậy nên để Thu Thủy ở đầu thiên nầy có lẽ là hợp lý hơn.\n⸈⸈⸈\n\n孔 子 遊 於 匡,宋 人 圍 之 數 帀,而 絃 歌 不 惙。\n子 路 入 見,曰:「何 夫 子 之 娛 也 ?」 孔 子 曰:「來,吾 語 女。我 諱 窮 久 矣,而 不 免, 命 也 ﹔ 求 通 久 矣,而 不 得,時 也。當 堯 舜 而 天 下 旡 窮 人,非 知 得 也 ﹔ 當 桀 紂 而 天 下 無 通 人,非 知 失 也,時 勢 適 然。夫 水 行 不 避 蛟 龍 者,漁 父 之 勇 也 ﹔陸 行 不 避 兕 虎 者, 獵 夫 之 勇 也 ﹔ 白 刃 交 於 前,視 死 若 生 者, 烈 士 之 勇 也 ﹔ 知 窮 之 有 命,知 通 之 有 時, 臨 大 難 而 不 懼 者,聖 人 之 勇 也。由 處 矣! 吾 命 有 所 制 矣!」\n無 幾 何,將 甲 者 進,辭 曰:「以 為 陽 虎 也,故 圍 之。今 非 也,請 辭 而 退。」\nKhổng Tử du ư Khuông. Tống nhơn vi chi\nsố táp, nhi huyền ca bất chuyết\n1.\nTử Lộ nhập kiến viết: “Hà phu\ntử chi ngu\n2 dã?” Khổng Tử viết: “Lai,\nngô ngứ nhữ. Ngã húy cùng cửu hĩ, nhi bất\nmiễn, mạng dã; cầu thông cửu hĩ, nhi bất\nđắc, thời dã. Đương Nghiêu Thuấn nhi\nthiên hạ vô cùng nhơn, phi trí đắc dã,\nđương Kiệt Trụ nhi thiên hạ vô thông\nnhơn, phi trí thất dã, thời thế thích nhiên. Phù\nthủy hành bất tỵ giao long giả, ngư phụ chi\ndũng dã. Lục hành bất tỵ tỉ hổ giả,\nliệp phu chi dũng dã. Bạch nhẫn giao ư tiền\nthị tử nhược sinh giả, liệt sĩ chi\ndũng dã. Tri cùng chi hữu Mạng, tri thông chi hữu\nthời, lâm đại nạn nhi bất cụ giả,\nthánh nhơn chi dũng dã. Do, xử hĩ! Ngô mạng\nhữu sở chế hĩ.”\nVô kỷ hà, tướng giáp giả tiến từ viết: “Dĩ vi Dương Hổ dã, cố vi chi; kim phi dã, thỉnh từ nhi thối.”\n**CHÚ**\n1. Gốc là chữ 輟 (chuyết), nghĩa là ngưng, thôi(止 也).\n2. 娛 ngu: là vui.\n**DỊCH NGHĨA**\nDŨNG CỦA THÁNH NHƠN\n*Khổng Tử đi chơi nơi đất\nKhuông, bị người nước Tống bao vây. Vậy\nmà ông vẫn đàn hát không ngưng. * *Tử Lộ vào ra mắt, thưa: “Sao Phu tử\nlại vui được thế?” * *Khổng Tử nói: “Lại đây! Ta bảo cho mà\nnghe: ta vốn rất kiêng tránh sự cùng khốn đã lâu\nrồi, thế mà nay không chạy khỏi được,\nđó là Mạng. Ta cầu được thông đã lâu\nrồi, thế mà nay cũng không được, đó là\nthời. Đời Nghiêu Thuấn, thiên hạ không ai\nkhốn cùng, đâu phải vì họ khôn cả đâu;\nđời Kiệt Trụ thiên hạ không ai thông, đâu\nphải vì họ ngu cả đâu! Chỉ vì thời thế\nxui ra như thế! Kìa xuống nước mà chẳng\nbiết sợ giao long, đó là cái dũng của bọn chài\nlưới! Đi trên bộ mà chẳng biết sợ hùm\nbeo, đó là cái dũng của bọn thợ săn! Vào\nnơi gươm giáo, mà xem tử như sinh, đó là cái\ndũng của người liệt sĩ! Biết cùng thông\nlà Mạng, là thời, lâm nạn lớn mà không biết kinh\nsợ, đó là cái dũng của bậc thánh nhơn. Do,\nngươi hãy yên trí đi! Mạng ta đã có chỗ\nđịnh rồi!” * *Chẳng bao lâu, người cầm đầu\ntoán quân vây khốn Khổng Tử đến thưa:\n“Tưởng lầm Ngài là Dương Hổ, cho nên mới\nbao vây. Nay biết là không phải, vậy xin từ biệt\nNgài để rút lui.” *\n⸈⸈⸈\n\n莊 子 釣 於 濮 水,楚 王 使 大 夫 二 人 往 先 焉,曰:「願 以 境 內 累 矣!」\n莊 子 持 竿 不 顧,曰:「吾 聞 楚 有 神 龜,死 已 三 千 歲 矣。王 巾 笥 而 藏 於 廟 堂 之 上。此 龜 者,寧 其 死 為 留 骨 而 貴 乎 ? 寧 其 生 而 曳 尾 於 塗 中 乎 ?」\n二 大 夫 曰:「寧 生 而 曳 尾 塗 中。」\n莊 子 曰:「往 矣!吾 將 曳 尾 於 塗 中。」\nTrang Tử điếu ư Bộc thủy, Sở vương sử đại phu nhị nhơn vãng tiên yên, viết: “Nguyện dĩ cảnh nội lụy hĩ.”\nTrang Tử trì cán bất cố viết: “Ngô văn sở hữu thần qui, tử dĩ tam thiên tuế hĩ, vương bố tứ nhi tàng ư miếu đường chi thượng. Thử qui giả, ninh kỳ tử vi lưu cốt nhi quý hồ? Ninh kỳ sinh nhi duệ vĩ ư nê trung hồ?”\nNhị đại phu viết: “Ninh sinh nhi duệ vĩ nê trung.” Trang Tử viết: “Vãng hĩ! Ngô tương duệ vĩ ư nê trung.”\n**DỊCH NGHĨA**\nCON THẦN QUI\n*Trang Tử câu trên sông Bộc. Vua Sở sai hai quan\nđại phu đến cho hay trước rằng: xin\nđem đất nước để làm phiền rộn\nông [68].\n* *Trang Tử cầm cần câu, cũng chẳng thèm\nnhìn lại, nói: “Tôi nghe nước Sở có con thần qui\nchết đã ba ngàn năm. Nhà vua đựng vào\nrương vải, cất trên miếu đường. Con\nqui ấy, chịu chết để lưu lại cái\nxương của mình cho người ta thờ, hay\nchịu thà sống mà kéo lê cái đuôi của mình trong bùn?” * *Hai vị đại phu nói: “Thà sống lê cái\nđuôi trong bùn còn hơn.” * *Trang Tử nói: “Thôi, về đi. Ta đây cũng\nchịu kéo lê cái đuôi của mình trong bùn.” *\n⸈⸈⸈\n\n惠 子 相 梁,莊 子 往 見 之。或 謂 惠 子 曰:「 莊 子 來,欲 代 子 相。」 於 是 惠 子 恐,搜 於 國 中 三 日 三 夜。\n莊 子 往 見 之,曰:「南 方 有 鳥,其 名 鵷 鶵,子 知 之 乎 ? 夫 鵷 鶵,發 於 南 海 而 飛 於 北 海,非 梧 桐 不 止,非 練 實 不 食,非 醴 泉 不 飲。於 是 鴟 得 腐 鼠,鵷 鶵 過 之,仰 而 視 之 曰:『 嚇!』 今 子 欲 以 子 之 梁 國 而 嚇 我 邪 ?」\nHuệ Tử tướng\n1 Lương,\nTrang Tử vãng kiến chi. Hoặc vị Huệ Tử\nviết: “Trang tử lai dục đại tử tướng”.\nƯ thị Huệ Tử khủng, sưu ư quốc\ntrung, tam nhật tam dạ.\nTrang Tử vãng kiến chi viết: “Nam phương hữu điểu, kỳ danh Uyên Sồ; tử tri chi hồ? Phù Uyên Sồ phát ư Nam hải, nhi phi ư Bắc hải, phi ngô đồng bất chỉ, phi luyện thực bất thực, phi lễ tuyền bất ẩm; ư thị xi đắc hủ thử Uyên Sồ quá chi, ngưỡng nhi thị chi viết: hách! Kim tử dục dĩ tử chi Lương quốc nhi hách ngã da?”\n**CHÚ**\n1. Tướng 相 ở đây là bậc Tể tướng 宰 相 hay Tướng quốc 相 國, tức là người giúp vua mà tể chế cả nước.\n**DỊCH NGHĨA**\nUYÊN SỒ\n**C.** *Huệ Tử\nlàm tướng quốc nước Lương, Trang Tử\nđịnh qua đó thăm. Nhưng, có kẻ nói với\nHuệ Tử rằng Trang Tử mà qua đây là\nđể cùng ông tranh ngôi Tướng quốc. Huệ\nTử sợ, cho kẻ lùng xét trong nước ba ngày\nba đêm. * *Sau, gặp Huệ Tử, Trang Tử bảo:\n“Phương Nam có con chim, tên là Uyên Sồ, ông có biết\nkhông? Uyên Sồ từ biển Nam bay qua biển Bắc,\nnếu không gặp hột luyện thì không ăn, nếu\nkhông gặp nước suối ngọt thì không uống. Có\ncon chim cú đang rỉa xác chuột chù, thấy Uyên Sồ\nbay ngang, sợ nó giành miếng ăn, bèn kêu to lên để\ndọa Uyên Sồ đừng đáp xuống. Nay, vì sợ\ncái ngôi Tướng quốc của ông ở nước\nLương, nên ông kêu lên để dọa tôi sao?” *\n⸈⸈⸈\n\n莊 子 與 惠 子 遊 於 濠 梁 之 上。莊 子 曰:「儵 魚 出 遊 從 容,是 魚 之 樂 也。」\n惠 子 曰 ︰ 「子 非 魚,安 知 魚 之 樂 ?」\n莊 子 曰:「子 非 我,安 知 我 不 知 魚 之 樂 ?」 惠 子 曰:「我 非 子,固 不 知 子 矣 ﹔ 子 固 非\n魚 也,子 之 不 知 魚 之 樂,全 矣!」\n莊 子 曰:「請 循 其 本。子 曰 『 汝 安 知 魚 樂\n』 云 者,既 已 知 吾 知 之 而 問 我。我 知 之 濠 上 也。」\nTrang Tử dữ Huệ Tử du ư hào\nlương\n1 chi thượng.\nTrang Tử viết: “Du ngư\n*xuất\ndu thung dung, thị ngư chi lạc dã.” 2 *\nHuệ Tử viết: “Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?”\nTrang Tử viết: “Tử phi ngã, an tri ngã bất tri ngư chi lạc.”\nHuệ Tử viết: “Ngã phi tử, cố bất tri tử hĩ; tử cố phi ngư dã, tử chi bất tri ngư chi lạc toàn hĩ.”\nTrang Tử viết: “Thỉnh tuần kỳ\nbổn. Tử viết: Nhữ an tri ngư lạc, vân\ngiả, ký dĩ tri ngô tri chi nhi vấn ngã. Ngã tri chi hào\nthượng dã.”\n3\n**CHÚ VÀ BÌNH**\n2.\n*Hào*: tên một con sông(水 名). *Lương *梁: cái cầu bắc ngang sông.\n3.\n*Du ngư *儵 魚: có chỗ cho là một thứ cá bạc 白 魚, nhưng lội trong nước xanh, thấy lóng\nlánh như màu xanh bạc.\n4. Câu nói của Trang\nChâu, muốn chứng tỏ rằng cảnh vật vui\nbuồn bên ngoài là một trạng thái của nội tâm, mà\nmột thi hào người Pháp đã có nói: Le paysage est un état\nd’âme. Có lẽ Trang Tử tự nghĩ: “Ta rong chơi trên\ncầu sông Hào mà lòng vui vẻ, nên biết rằng cá lội\nnhởn nhơ dưới sông cũng vui vẻ như ta”(我 遊 濠 上 而 樂 則 知 魚 遊 濠 下 亦 樂 也). Tức là\n*“vật\nngã đồng nhất”*(物 我 同 一). Huệ Tử hỏi, là đứng ở\nlập trường nhị nguyên mà nói, còn Trang Tử thì\nđứng ở lập trường nhất nguyên mà\ntrả lời.\nBài Ngư lạc trên đây lại cũng muốn nói với ta rằng: nếu ta nhìn đời với cặp mắt yêu thương thì đời đối với ta cũng yêu thương, trái lại, nếu ta nhìn nó với một tấm lòng hằn học thì nó sẽ đối với ta cũng hằn học. Đời như mảnh gương trong, ta cười thì nó cười với ta, mà ta khóc thì nó cũng khóc với ta. Người mà mang theo mình cặp mắt bi quan yếm thế, một tâm hồn ích kỷ, đầy tư dục thì dù sống giữa cảnh đẹp nhất trần gian, giữa cảnh giàu sang tuyệt thế, cũng vẫn đau khổ luôn luôn vì đã mang một cõi địa ngục trong lòng. Hoán cải xã hội chung quanh, tuy là cần, nhưng phải lo hoán cải tâm hồn mình, nghĩa là phải lo hoán cải nhãn quang mình về cuộc đời trước hết.\nCho hay người thi sĩ dễ sống gần Đạo hơn các triết gia nhị nguyên thường hay chẻ tư sợi tóc. Và người thoát tục là người có một nhãn quang khác tục, một nhãn quang “tề vật” hay “huyền đồng”.\n**DỊCH NGHĨA**\nCÁ VUI\n*Trang Tử cùng Huệ Tử đứng chơi\ntrên cầu sông Hào. Trang Tử nói: “Đàn cá xanh bơi\nlội thung dung. Cá vui đó.” * *Huệ Tử nói: “Ông không phải cá, sao biết cá\nvui?” * *Trang Tử nói: “Ông không phải tôi, sao biết tôi\nkhông biết?” * *Huệ Tử nói: “Tôi không phải ông, nên không\nthể biết được ông, còn ông không phải cá, ông\ncũng hẳn không sao biết được cái vui của\ncá!” * *Trang Tử nói: “Xin hãy xét lại câu hỏi\nđầu. Ông đã hỏi tôi làm sao biết\nđược cá vui? Đã biết là tôi biết, ông\nmới có hỏi “làm sao mà biết”...Thì đây, làm thế\nnày: tôi đứng trên cầu sông Hào mà biết\nđược.” *\n⸈⸈⸈\n\n孔 子 西 遊 於 衛,顏 淵 問 師 金 曰:「以 夫 子 之 行 為 奚 如 ?」\n師 金 曰:「惜 乎!而 夫 子 其 窮 哉!」 顏 淵 曰:「何 也 ?」\n師 金 曰:「夫 芻 狗 之 未 陳 也,盛 以 篋 衍, 巾 以 文 繡,尸 祝 齋 戒 以 將 之。及 其 已 陳 也,行 者 踐 其 首 脊,蘇 者 取 而 爨 之 而 已。將 復 取 而 盛 以 篋 衍,巾 以 文 繡,遊 居 寢 臥 其 下,彼 不 得 夢,必 且 數 眯 焉。今 而 夫 子,亦 取 先 王 已 陳 芻 狗,取 弟 子 游 居 寢 臥 其 下。 故 伐 樹 於 宋,削 迹 於 衛,窮 於 商 周,見 非 其 夢 邪 ? 圍 於 陳 蔡 之 間,七 日 不 火 食,死 生 相 與 鄰,是 非 其 眯 邪 ?\n夫 水 行 莫 如 用 舟,而 陸 行 莫 如 用 車。以 舟 之 可 行 於 水 也 而 求 推 之 於 陸,則 沒 世 不 行 尋 常。古 今 非 水 陸 與 , 周 魯 非 舟 車 與 ? 今 蘄 行 周 於 魯,是 猶 推 舟 於 陸 也,勞 而 無 功,身 必 有 殃。彼 未 知 夫 之 無 方 傳,應 物 而 不 窮 者 也。\n。。。故 夫 三 皇 五 帝 之 禮 義 法 度,不 矜 於 同 而 矜 於 治。\n故 譬 三 皇 五 帝 之 禮 義 法 度,其 猶 柤 梨 橘 柚 邪!其 味 相 反 而 皆 可 於 口。故 禮 義 法 度 者,應 時 而 變 者 也。今 取 猨 狙 而 衣 以 周 公 之 服,彼 必 齕 齧 挽 裂,盡 去 而 後 慊 觀 古 今 之 異,猶 猨 狙 之 異 乎 周 公 也。故 西 施 病 心 而 矉 其 里,其 里 之 醜 人。見 而 美 之,歸 亦 捧 心 而 矉 其 里。其 里 之 富 人 見 之,堅 閉 門 而 不 出 ﹔ 貧 人 見 之,挈 妻 子 而 去 之 走。彼 知 美 矉 而 不 知 矉 之 所 以 美。惜 乎,而 夫 子 其 窮 哉!」\n(天 運)\nKhổng Tử tây du ư Vệ. Nhan Uyên vấn\nSư Kim viết: “Dĩ phu tử chi hành vi hề như?”\nSư Kim viết: “Tích hồ nhi phu tử kỳ cùng tai”. Nhan\nUyên viết: “Hà dã?” Sư Kim viết: “Phù sô cẩu chi\nvị trần dã. Thạnh dĩ hiệp diễn, cân dĩ\nvăn tú, thi chúc trai\n1 giới dĩ tương\nchi. Cập kỳ dĩ trần dã, hành giả tiễn\nkỳ thủ tích, tô giả thủ nhi thoạn chi nhi dĩ.\nTương phục thủ nhi thạnh dĩ hiệp\ndiễn. Cân dĩ văn tú du cư tẩm ngọa kỳ\nhạ, bỉ bất đắc mộng tất thả\nsổ mế yên. Kim nhi phu tử diệc thủ tiên\nvương dĩ trần sô cẩu, thủ đệ\ntử du cư tẩm ngọa kỳ hạ. Cố phạt\nthọ ư Tống, tước tích ư Vệ, cùng ư\nThương Châu, kiến phi kỳ mộng da. Vi ư\nTrần Thái chi gian, thất nhật bất hỏa thực,\ntử sinh tương dữ lân, thị phi kỳ mế da?\nPhù thủy hành mạc như dụng chu, nhi\nlục hành mạc như dụng xa. Dĩ chu chi khả hành\nư thủy dã, nhi cầu thôi chi ư lục, tắc\nmột thế bất hành tầm thường\n2. Cổ\nkim phi thủy lục dư, Châu Lỗ phi chu xa dư? Kim ky\nhành Châu ư Lỗ, thị du thôi chu ư lục dã, lao nhi\nvô công, thân tất hữu ương. Bỉ vị tri phù chi\nvô phương truyền ứng vật nhi bất cùng\ngiả dã.\n(...) Cố phù tam hoàng ngũ đế chi lễ nghĩa pháp độ, bất căng ư đồng nhi căng ư trị.\nCố tỉ tam hoàng ngũ đế chi lễ\nnghĩa pháp độ, kỳ du lê quật hữu do da. Kỳ\nvị tương phản nhi giai khả ư khẩu. Cố\nlễ nghĩa pháp độ giả, ứng thời nhi\nbiến giả dã. Kim thủ viên\n3 thư nhi y\ndĩ Châu công chi phục, bỉ tất hột niết vãn\nliệt. Tận khứ nhi hậu khiểm quán cổ kim chi\ndị, du viên thư chi dị hồ Châu công dã. Cố Tây Thi\nbệnh tâm nhi tân kỳ lý, kỳ lý chi xú nhơn. Kiến nhi\nmỹ chi qui diệc bổng tâm nhi tân kỳ lý. Kỳ lý chi\nphú nhơn kiến chi, kiên bế môn nhi bất xuất,\nbần nhơn kiến chi khiết thê tử nhi khứ chi\ntẩu. Bỉ tri mỹ tân nhi bất tri tân chi sở dĩ\nmỹ. Tích hồ nhi phu tử kỳ cùng tai.”\n(Thiên Vận)\n**CHÚ**\n1. Gốc là chữ trai 齋, nhiều bản viết là tề 齊.\n2. Tầm 尋 là tám thước; thường 常 là hai thước. Tức là mười thước.\n3. Hoặc viết 猿 (viên).\n**DỊCH NGHĨA**\nCHÓ RƠM\n*Khổng Tử sang chơi miền tây nước\nVệ. Nhan Uyên hỏi Sư Kim: * **- ** *Ông cho thầy tôi đi chuyến nầy như\nthế nào? Sư Kim nói: * **- ** *Thầy của ông đi chuyến nầy chắc\nsẽ khốn cùng! Nhan Uyên hỏi: * **- ** *Sao vậy? Sư Kim nói: * **- ** *Con chó rơm lúc chưa bày ra để cúng tế,\nthì được cất kỹ trong rương, bọc\nbằng gấm vóc; thầy cúng chay tịnh rồi mới\ndám đem nó ra. Kịp khi bày ra và cúng tế xong thì lại\nđem quăng nó ra ngoài đường cho kẻ đi\nđường đạp lên trên lưng nó, kẻ\nlượm củi hốt về để chụm. Nếu\nlại còn tiếc, lượm nó cất giữ trong\nrương, bọc bằng gấm vóc và ngồi nằm\nở dưới thì nếu nó không làm cho ta bị ác\nmộng, cũng đến làm cho ta bị bóng đè. Nay\nThầy của ông cũng chỉ là kẻ lượm\nlại những con chó rơm đã dùng rồi của các\nbậc tiên vương đời trước, bắt\nđệ tử ngồi nằm ở dưới...Bởi\nvậy mà phải bị chặt cây chận\nđường ở Tống, phải lẩn trốn\ndấu vết ở Vệ, bị cùng khốn ở\nThương, Châu. Đó chẳng phải là những ác\nmộng của Thầy ông ư? Bị vây ở giữa\nTrần Thái, bảy ngày không thể ăn đồ\nnấu, chết sống kề bên nhau. Đó chẳng\nphải là những bóng đè Thầy ông ư? * *Đi trên mặt nước thì không chi bằng\ndùng thuyền mà đi trên bộ thì không gì bằng dùng xe. Lấy\nthuyền chuyên đi trên mặt nước để mà\nđẩy nó trên bộ, thì suốt đời không đi\nđược mười thước. Xưa và nay không\nphải là mặt nước và trên bộ sao? Pháp\nđộ nhà Châu và tình trạng xã hội nước\nLỗ ngày nay chẳng phải là thuyền là xe sao? Nay\ncố lấy pháp độ ở nhà Châu mà truyền vào\nnước Lỗ thì có khác nào đem thuyền mà\nđẩy trên mặt đất, nhọc mà không thành công,\nthân ắt mang hại. Đó chưa biết\nđược chỗ truyền dạy của phép không\nphương ứng với vật không cùng...*\n* (...) Cho nên, lễ\nnghĩa pháp độ của Tam Hoàng Ngũ Đế\nđâu cần ở chỗ giống nhau mà cần ở\nchỗ trị được thiên hạ, cũng như\ncam, lê, quýt, bưởi, tuy mùi vị khác nhau, nhưng ăn\nđều ngon cả! Bởi vậy, lễ nghĩa pháp\nđộ phải biết đáp ứng với thời\nbuổi mà thay đổi. Nay bắt vượn khỉ mà\ncho mặc áo của ông Châu, ắt nó cắn bứt, cào xé,\nvứt bỏ hết, thế mới vừa lòng cho. Xã\nhội, chế độ xưa và nay khác nhau xa, (cố mà\nđem cái xưa tròng vào cái nay) thì cũng như cho\nvượn khỉ mặc áo của ông Châu vậy. Cho nên\nTây Thi đau tim, nhăn mặt mà thiên hạ cho là\nđẹp, có người đàn bà xấu xí kia thấy\nthế, về bắt chước ôm tim mà nhăn mặt,\nnhững kẻ giàu trong làng thì đóng chặt cửa không\ndám ra; kẻ nghèo thấy nó, dẫn vợ con bỏ\nchạy. Mụ ấy chỉ biết Tây Thi nhăn mặt\nlà đẹp mà không biết cái chỗ phải sao nhăn\nmặt mới đẹp. Rất đáng tiếc, Thầy\ncủa ông ắt phải cùng khốn!” *\n**LỜI BÌNH**\nLão Tử, cũng như Trang Tử, không bao\ngiờ quan niệm cuộc đời như một cái gì\nbất động, mà trái lại, là một cuộc thiên\ndiễn động biến không ngừng. Thế sao ở\nchương 80 sách Lão Tử lại có đoạn\nbảo:\n*“khiến cho dân trở lại cái lối ‘thắt\nnút dây’ *mà dùng. . .”(使 人 復 結 繩 而 用 之). Sách Trang Tử\nở thiên Mã Đề cũng nói: *“Kìa, dân vốn có\ntánh thường: cày để ăn, dệt để\nmặc, đó gọi là đức chung. Cùng nhau sống\nchung mà không bè đảng, gọi là mặt trời. Cho nên,\nhọ đi rất chắc chắn trên con đường\nđạo đức. . .” (...) “Về thời vua Hách\nTư, dân ở không biết là làm gì! Đi, không biết là\nđi đâu! Ngậm cơm mà vui! Vỗ bụng mà chơi!\nDân dã được thế rồi. Kịp đến\nđời các vị Thánh nhơn bắt bẻ lễ\nnhạc để bó buộc hình người đời;\ntreo cao nhân nghĩa để yên ủi lòng người nên\ndân mới bắt đầu cạnh khóe, thích khôn, tranh nhau\nvề việc lợi, không thể không ngăn\nđược nữa. Đó cũng là lỗi của Thánh\nnhơn”. *Thiên Đạo Chích thì viết: *“Xưa\nkia, dân không biết vận xiêm áo. Mùa hè chứa nhiều\ncủi; mùa đông thì đốt nó để hơ...Cho nên\ngọi họ là dân biết sống. Về đời\nThần Nông, nằm thì uể oải, dậy thì lăng\nxăng. Dân biết có mẹ, không biết có cha. Cùng ở\nvới hươu nai...Cày mà ăn...Dệt mà mặc...Không\ncó lòng hại nhau. Đó là những lúc đức đang\nthịnh. Thế nhưng Hoàng Đế không gây\nđược đức đến nơi, đến\nđỗi cùng Si Vưu đánh nhau ở Trác Lộc, máu\nchảy hàng trăm dặm. Nghiêu Thuấn lên, lập quan\nviên...Thang Vũ đến giờ đều là bọn làm\ncho thiên hạ loạn cả. . .” *\nVịn vào những đoạn văn trên đây, các học giả về sau, phần đông cho Trang Lão là cái học thoái hóa, hay là phản tiến hóa, muốn kéo nhân loại trở về đời sống lạc hậu của các bộ lạc dã man...\nBảo thế, là hiểu sai thâm ý của cái học Lão Trang về vấn đề xã hội.\nSự\n*“trở về” *(phục kỳ\nbản 復 其 本) hoặc trở về với cái sống\ngiản dị (kiến tố bão phác 見 素 抱 樸) không có nghĩa là “phục\ncổ” 復 古 mà là khuyên ta trở về\nvới một đời sống tự nhiên, chất phác,\nkhông có những phiền phức đa đoan của\nnhững thứ văn minh giả tạo dùng trí mưu\nđể mà trị nước.\nLão Tử, cũng như Trang Tử, đều\ncực lực bài bác những chế độ cổ là vì,\ntheo các ông, tất cả mọi chế độ\nđều tùy thời mà dùng, không có chế độ xã\nhội nào có thể làm khuôn mẫu cho thiên hạ cổ kim\nđược. Lão Tử bảo:\n*“Thiên Địa\nbất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhơn\nbất nhân, dĩ bách tánh vi sô cẩu” *(chương 5) *.\n*Trang Tử cũng bảo: *“Kìa như chó rơm, khi chưa dùng thì\nđựng trong rương kín, cho mặc gấm vóc;\nthầy cúng chay tịnh rồi mới dám đem nó ra. Kịp\nkhi cúng tế xong, thì lại đem quăng nó ra ngoài\nđường cho kẻ đi đường đạp\nlên trên lưng nó, kẻ lượm củi hốt về\nđể chụm, thế thôi! Nếu lại còn\nlượm nó cất giữ trong rương, mặc cho\ngấm vóc, thì nếu nó không làm cho ta bị chiêm bao, cũng\nđến làm cho ta bị bóng đè. . .” *(...) *“cho\nnên, pháp độ, lễ, chế của Tam Hoàng Ngũ\nĐế không cần ở chỗ giống nhau mà cần\nở chỗ trị được thiên hạ, như cam,\nlê, bưởi, quít: tuy mùi vị nó khác nhau, nhưng ăn\nđều ngon cả! Bởi vậy, lễ nghĩa, pháp\nđộ là cái mà ta phải biết tùy thời thay đổi\ncho thích hợp. Nay lấy ngay như vượn, khỉ mà\ncho mặc bộ áo của ông Châu, ắt nó cắn rứt,\ncào xé, vứt bỏ hết, thế mới vừa lòng cho. Xã\nhội chế độ xưa và nay khác nhau xa, (cố mà\nđem cái xưa tròng vào cái nay) thì cũng như cho khỉ\nvượn mặc áo của ông Châu vậy. Cho nên Tây Thi\nđau tim, nhăn mặt mà thiên hạ cho là đẹp. Có\nngười đàn bà rất xấu kia, thấy thế,\nvề bắt chước ôm tim mà nhăn mặt, những\nkẻ giàu trong làng thì đóng chặt cửa không dám ra,\nkẻ nghèo thấy nó, dẫn vợ con bỏ chạy. . .”*\n(Thiên Vận 天 運 ). Thật là rõ ràng đến\nmực.\nTrần Trụ bình giảng câu\n*“Thiên\nĐịa bất nhân” *của Lão Tử trên đây có\nnói rất chí lý: *“Trời Đất sinh vạn\nvật, như sinh cây cỏ. Xuân thì đâm chồi, thu thì\nrụng lá. Đang sinh thì quý, đang rụng thì bỏ\nđi. Xuân tới sinh lại, nhưng không còn là cây cỏ\nngày xưa. Thánh nhơn đối với trăm họ\ncũng thế. Trăm họ, tức là trăm quan lãnh\nphần thi hành chánh giáo. Trăm quan ngày nay không còn là trăm\nquan ngày xưa, thì chánh giáo ngày xưa cũng không dùng cho ngày\nnay được nữa...Như thế, ta thấy Lão\nTử phản đối thuyết Phục cổ, như\nTrang Tử thường bài bác Nho gia nói nhân nghĩa\nđể tâng bốc tiên vương. . .” *\nXem thế, Lão Trang có bao giờ khuyên ta trở về xã hội cổ sơ và bộ lạc. Sở dĩ các ông ca tụng xã hội cổ là vì xã hội văn minh ấy đã đạt tới cái mục đích của nó, là làm cho người người trong xã hội ấy sống được an vui lạc phúc.\nTự nó, không có một xã hội văn minh nào là cao quý hơn một xã hội văn minh nào cả. Cũng như không có một cái lẽ phải nào là lẽ phải chung cho tất cả mọi người. Có thể có nhiều thứ văn minh khác nhau, nhưng giá trị vẫn bằng nhau. Văn minh của một dân tộc, nếu nó hạp với trình độ dân tộc ấy, hạp với những điều kiện sinh lý, kinh tế của dân tộc ấy là thứ văn minh hay, dù là văn minh của dân bán khai. Trái lại, nếu văn minh của một dân tộc mà không hạp với trình độ dân tộc ấy, chỉ làm cho nhân dân đó bị lầm than điêu đứng, khốn khổ đau thương, thì là văn minh dở, dù đó là những thứ văn minh tối cao và tế nhị. Tôn chỉ của một xã hội văn minh nào cũng đều quy vào một điểm quan trọng duy nhất nầy: mưu được hạnh phúc cho mỗi cá nhân trong đó. Nếu thiên hạ trong xã hội ấy đều được an vui hạnh phúc thì văn minh của xã hội ấy đã đạt đến cái sứ mạng của nó rồi! Trái lại, nếu thiên hạ điêu linh thống khổ, thì văn minh của xã hội ấy đã đi sai với sứ mạng của nó. Văn minh xã hội là để phụng sự con người, chứ không phải con người để mà phụng sự cho văn minh. Như văn minh cơ giới ngày nay mà chúng ta đều cho là văn minh cao nhất nhân loại, theo Trang Tử chắc chắn sẽ không được gọi là văn minh cao. Là vì, thiên hạ sống trong đó đã không đủ Đức để làm chủ nó; trái lại, bị nó làm chủ, và vì thế mà thiên hạ loạn ly không ngớt. Đó là thứ văn minh không thích ứng với trình độ người bấy giờ. Kể về tài trí thì có thừa, nhưng kể về tâm đức thì rất thiếu nên chi không đủ sức để làm chủ những ngoại vật mà mình đã tạo ra.\nXã hội của trẻ con, đâu phải thua gì\nxã hội của người lớn. Người lớn\nkhông thể sống trong xã hội của trẻ con,\nnhưng mà trẻ con cũng đâu có thể sống thích\nứng kịp với xã hội của người lớn.\nĐâu phải vừa với đó. Không được\nvậy là sái với lẽ tự nhiên. Người xưa,\nvăn minh của họ có thể ví như xã hội\ncủa trẻ con. Nhưng ở vào buổi ấy, văn\nminh của họ rất thích hợp với trình độ\ncủa họ, nên họ được hạnh phúc. Trái\nlại, văn minh ngày nay, là văn minh của những\nngười lớn, văn minh của những con\nngười tự do, của những kẻ đã làm\nchủ được tư tâm, tư dục, làm chủ ngoại\nvật mà mình tạo ra...nhưng thực sự, phần\nđại đa số thiên hạ ngày nay chưa\nđược trưởng thành về đức\nđộ, chưa làm chủ được tư tâm tư\ndục, chưa làm chủ được ngoại vật...còn\ntham lam ích kỷ vô cùng, như vậy, chẳng khác nào,\nnhư Trang Tử đã nói, con khỉ mà cho mặc áo ông\nChâu, chưa phải Tây Thi mà bắt chước nhăn\nmặt. Tóm lại, họ chỉ là con người còn\nở tâm trạng cổ sơ đầy thú tính và tham\nvọng. Cũng như những cơ khí của\nngười lớn, mà để cho trẻ con sử\ndụng trong khi họ chưa đủ đức\nđể trị nó, làm chủ nó, dĩ nhiên sẽ bị\nnó hại lại. Các bậc thức giả Tây phương\nngày nay như\n**G.** Duhamel, Albert\nEinstein, René Guénon, Daniel Ropps (trong quyển *Le Monde Sans\nÂme*), Branly, **A.** Carrel,\ncũng đều nhận thấy như thế, và đã\nlên tiếng cảnh cáo...\nCon gà con, lúc chưa tới thời kỳ nở, thì cái vỏ bao ngoài là cần thiết, rất ích lợi cho nó. Đến khi tới thời kỳ nở, thì cái vỏ bao ngoài bấy giờ trở lại là một trở ngại cho sự sống của nó. Nó phải tự phá cái vỏ ấy đi. Lúc nó chưa tới thời kỳ nở, nếu mình dụng tâm phá cái vỏ bao ngoài đi, là làm hại nó...Xã hội văn minh của mỗi thời, đều có cái giá trị riêng của nó. Hễ hạp thời thuận cảnh, là hay; mà sái thời nghịch cảnh là dở[69].\nNhư vậy, Trang Tử ca tụng đời\nsống cổ sơ, đâu phải bảo ta “phản\ntiến hóa”, cũng như khi Lão Tử khuyên ta\n*“hàm\nđức chi hậu, tỉ ư xích tử”*, lấy cái\ntâm của đứa trẻ sơ sinh làm chỗ tận\nthiện của con người theo Đạo, đâu\nphải là khuyên ta nhỏ lại và sống như\nđứa trẻ thơ...Lão và Trang muốn chỉ cho ta\nthấy, không phải xã hội văn minh mà ta đang\nsống đây (dĩ nhiên là ám chỉ đời của hai\nông ấy đang sống) là cao hơn xã hội văn minh\nđời thái cổ, nếu nó không mưu được\ncho mình hạnh phúc như người xưa trong xã hội\nvăn minh họ. Không cần đến lượng, quý là\nnơi cái phẩm. Cũng như không cần để ý\nđến sự giàu nghèo, nếu giàu mà đau khổ, sao\nbằng nghèo mà vui vẻ. Nhưng bảo thế, đâu\nphải bảo ta đừng giàu, vì nếu giàu mà biết\nvui, nghèo mà đau khổ thì sao lại cố chấp\nđến giàu nghèo mà làm gì! Cốt yếu là có được\nhạnh phúc cùng không có hạnh phúc hay không mà thôi. Cũng\nnhư cần gì phải câu chấp đến văn minh\nnào là cao, văn minh nào là thấp. Sống theo văn minh Âu\nMỹ mà đau khổ ly loạn thì tất nhiên sao bằng\nsống trong văn minh thấp kém hơn mà được\nan vui lạc phúc. Còn như, nếu sống trong văn minh\nÂu Mỹ mà được hạnh phúc hoàn toàn, thì sao ngu\ndại gì không cầu sống trong văn minh ấy, mà\nlại mong trở về với những xã hội cổ\nsơ! Đành rằng chế độ nâng cao dân trí, mà dân\ntrí cũng rất cần để giữ gìn chế\nđộ, nhưng cả hai không được quá chênh\nlệch nhau. Xã hội văn minh đời Trang Tử\nđang sống là xã hội văn minh cao hơn đời\nThượng cổ nhiều, thế nhưng thiên hạ\nthời bấy giờ lầm than khốn khổ\nđến cực điểm (Chiến Quốc), dĩ\nnhiên sánh với nền văn minh cổ sơ trong đó\nthiên hạ đương thời sống an vui hạnh\nphúc, thì chưa ắt văn minh đương thời\ncủa Trang Tử được gọi là hay! Bởi\nvậy ông cực lực bài bác xã hội đương\nthời và ca tụng đời sống chất phác của\nxã hội cổ sơ: chỗ dụng ý thật rất rõ\nràng, nhưng rất tiếc phần đông sau nầy không\nchịu tế tâm suy nghĩ nên mới có những lời\nphê bình xuyên tạc bất công như thế.\n\n東 郭 子 問 於 莊 子 曰:「所 謂 道,惡 乎 在 ?」\n莊 子 曰:「無 所 不 在。」 東 郭 子 曰:「期 而 後 可。」 莊 子 曰:「在 螻 蟻。」 曰:「何 其 下 邪 ?」 曰:「在 稊 稗。」\n曰:「何 其 愈 下 邪 ?」 曰:「在 瓦 甓。」 曰:「何 其 愈 甚 邪 ?」 曰:「在 屎 溺。」\n東 郭 子 不 應。\n莊 子 曰:「夫 子 之 問 也,固 不 及 質。正 獲 之 問 於 監 市 履 狶 也,每 下 愈 況。汝 唯 莫 必,無 乎 逃 物。至 道 若 是,大 言 亦 然。周 徧 咸 三 者,異 名 同 實,其 指 一 也。」\n(知 北 遊)\nĐông Quách Tử vấn ư Trang Tử viết: “Sử vị Đạo, ô hồ tại?”\nTrang Tử viết: “Vô sở bất tại.”\nĐông Quách Tử viết: “Kỳ nhi hậu khả.” Trang Tử viết: “Tại lâu nghĩ.”\nViết: “Hà kỳ hạ da?” Viết: “Tại đề bại.”\nViết: “Hà kỳ dụ hạ da?” Viết: “Tại ngõa bích.” Viết: “Hà kỳ dụ thậm da?” Viết: “Tại thỉ nịch.”\nĐông Quách Tử bất ứng.\nTrang Tử viết: “Phu tử chi vấn dã,\ncố bất cập chất\n1. Chánh hoạch chi\nvấn ư giám thị 2 lý thỉ 3 dã,\nmỗi hạ dụ huống. Nhữ duy mạc tất vô\nhồ đào vật. Chí Đạo nhược thị\nđại ngôn diệc nhiên. Châu biến hàm tam giả:\ndị danh đồng thực, kỳ chỉ nhất dã.\n**CHÚ**\n1. 質 có nghĩa là “thực” 實, là “chân” 真. Ý Trang Tử bảo rằng câu hỏi của Đông Quách Tử không đưa đến thực chất của câu hỏi, không phải cố đi tìm cho tới chân lý.\n2.\n*Giám thị: *chức người\nkiểm xét chợ để đánh thuế hàng.\n3. Âm là thỉ 豕: một thứ heo lớn 大 豕.\n**DỊCH NGHĨA**\nĐÔNG QUÁCH TỬ\n*Đông Quách Tử hỏi Trang Tử: * **- ** *Cái gọi là Đạo ở đâu? * *Trang Tử nói: * **- ** *Không có chỗ nào là không có Nó. * *Đông Quách Tử hỏi: * **- ** *Xin chỉ ra mới được. * *Trang Tử nói: * **- ** *Trong con kiến. * *Hỏi: Thấp hơn nữa! * **- ** *Trong cọng\ncỏ. * *Hỏi: Thấp hơn nữa! * **- ** *Trong miếng sành\nvỡ. * *Hỏi: Rất thấp hơn nữa! * **- ** *Trong cục\nphẩn. * *Đông Quách Tử không hỏi nữa. * *Trang Tử nói: * **- ** *Lời hỏi của ông không đi đến cái\nthực chất của nó. Nó giống như cách\nngười xét thuế heo dùng để đánh giá heo:\nmỗi lần đạp trên lưng heo là mỗi lần\nấn mạnh cẳng xuống thêm. Ông đừng chỉ\nhẳn vào một vật nào, vì không có một vật nào là\nkhông có Nó. Đạo cả là thế, mà lời nói cao\ncả cũng thế. Như ba tiếng nầy:\n“đều”, “cùng”, “cả thảy” tuy danh từ\ngọi có khác mà tựu trung đều cùng một ý. *\n(Trí Bắc Du)\n\n知 北 遊 於 玄 水 之 上,登 隱 弅 之 丘,而 適 遭 無 為 謂 焉。\n知 謂 無 為 謂 曰:「予 欲 有 問 乎 若:何 思 何 慮 則 知 道 ? 何 處 何 服 則 安 道 ? 何 從 何 道 則 得 道 ?」\n三 問 而 無 為 謂 不 答 也。非 不 答,不 知 答 也。\n知 不 得 問,反 於 白 水 之 南,登 狐 闋 之 上, 而 睹 狂 屈 焉。知 以 之 言 也 問 乎 狂 屈。\n狂 屈 曰:「唉!予 知 之,將 語 若。」 中 欲 言 而 忘 其 所 欲 言。\n知 不 得 問,反 於 帝 宮,見 黃 帝 而 問 焉。 黃 帝 曰:「無 思 無 慮 始 知 道,無 處 無 服 始\n安 道,無 從 無 道 始 得 道。」\n知 問 黃 帝 曰:「我 與 若 知 之,彼 與 彼 不 知 也,其 孰 是 邪 ?」\n黃 帝 曰:「彼 無 為 謂 真 是 也,狂 屈 似 之, 我 與 汝 終 不 近 也。夫 知 者 不 言,言 者 不 知。」\n故 聖 人 行 不 言 之 教。\n道 不 可 致, 德 不 可 至。 仁 可 為 也, 義 可 虧 也, 禮 相 偽 也。\n故 曰:失 道 而 後 德, 失 德 而 後 仁,\n失 仁 而 後 義, 失 義 而 後 禮。\n禮 者 道 之 華 而 亂 之 首 也。\n故 曰:『 為 道 者 日 損,損 之 又 損 之,以 至 於 無 為。無 為 而 無 不 為 也。\n今 已 為 物 也,欲 復 歸 根,不 亦 難 乎!其 易 也,其 唯 大 人 乎!\n生 也 死 之 徙, 死 也 生 之 始, 孰 知 其 紀!\n人 之 生,氣 之 聚 也。聚 則 為 生,散 則 為 死。若 死 生 為 徙,吾 又 何 患!故 萬 物 一 也。\nTrí\n1 Bắc du ư Huyền thủy\nchi thượng, đăng Ẩn phần chi khưu, nhi\nthích tao Vô Vi Vị yên.\nTrí vị Vô Vi Vị viết: “Dư dục hữu vấn hồ nhược. Hà tư hà lự tắc tri Đạo, hà xứ hà phục tắc an Đạo, hà tùng hà Đạo tắc đắc Đạo.”\nTam vấn nhi Vô Vi Vị bất đáp dã. Phi bất đáp, bất tri đáp dã.\nTrí bất đắc vấn, phản ư Bạch thủy chi Nam, đăng Hồ Quyết chi thượng, nhi đổ Cuồng Khuất yên. Trí dĩ chi ngôn dã vấn hồ Cuồng Khuất.\nCuồng Khuất viết: “Ai, dư tri chi, tương ngứ nhược, trung dục ngôn, nhi vong kỳ sở dục ngôn.”\nTrí bất đắc vấn, phản ư Đế cung, kiến Hoàng đế nhi vấn yên.\nHoàng đế viết: “Vô tư vô lự, thủy tri Đạo. Vô xứ vô phục, thủy an Đạo, vô tùng vô đạo, thủy đắc Đạo.”\nTrí vấn Hoàng đế viết: “Ngã dữ nhược tri chi? Bỉ dữ bỉ bất tri dã. Kỳ thục thị da?”\nHoàng đế viết: “Bỉ Vô Vi Vị chân\nthị dã. Cuồng Khuất tợ chi, ngã dữ nhữ\nchung bất cận dã. Phù tri giả bất ngôn, ngôn giả\nbất tri\n2”.\nCố Thánh nhơn hành bất ngôn chi giáo\n3.\nĐạo bất khả trí.\nĐức bất khả chí. Nhân khả vi dã. Nghĩa\nkhả khuy\n4 dã. Lễ tương ngụy dã.\nCố viết: “Thất Đạo nhi hậu đức. Thất đức nhi hậu nhân.\nThất nhân nhi hậu nghĩa. Thất nghĩa nhi hậu lễ.\nLễ giả Đạo chi hoa nhi loạn chi\nthủ\n5 dã.”\nCố viết: “Vi Đạo giả nhật\ntổn, tổn chi hựu tổn chi, dĩ chí ư vô vi, vô\nvi nhi vô bất vi dã\n6.\nKim dĩ vi vật dã, dục phục quy căn, bất diệc nan hồ! Kỳ dị dã, duy đại nhơn hồ!”\nSinh dã tử chi đồ. Tử dã sinh chi thủy. Thục tri kỳ kỷ.\nNhơn chi sinh, khí chi tụ dã. Tụ tắc vi sinh, tán tắc vi tử. Nhược tử sinh vi đồ, ngô hựu hà hoạn. Cố vạn vật nhất dã.\n**CHÚ**\n1. Đọc là Trí 智.\n*2. *Chính là lời\ncủa Lão Tử ở chương 56 sách *Đạo\nĐức Kinh. * *3. * *Lão Tử Đạo\nĐức Kinh*, chương 2: *“Thị dĩ Thánh nhơn\nxứ vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo”. *\n4. Gốc là\nchữ 窺 trong chữ\n*“khuy\nkiến” *窺 見 có nghĩa là dòm ngó bằng tinh\nthần, chứ không phải dùng con mắt thường. *5. *Câu nầy lấy\ntrong *Lão Tử Đạo Đức Kinh *chương\n38: *“Thất Đạo nhi hậu Đức, thất\nĐức nhi hậu Nhân, thất Nhân nhi hậu Nghĩa,\nthất Nghĩa nhi hậu Lễ...Phù Lễ giả trung tín\nchi bạc, nhi loạn chi thủ.” *\n6.\n*Đạo\nĐức Kinh *chương 48: *“Vi học nhật ích, vi\nĐạo nhật tổn; tổn chi hựu tổn, dĩ\nchí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi.” *\n**DỊCH NGHĨA**\nTRÍ CHƠI PHƯƠNG BẮC\n*Trí đi chơi phương Bắc, tới\nHuyền Thủy, lên núi Ẩn Phần, gặp Vô Vi Vị. * *Trí gọi Vô Vi Vị, bảo: “Tôi muốn hỏi\nông ít điều. Nghĩ làm sao, lo làm sao mà biết\nđược Đạo? Dựa vào đâu, làm cách nào mà\nhiểu được Đạo? Theo đâu và đi\nđường nào mà tìm được Đạo?” * *Hỏi ba lời, Vô Vi Vị không đáp. Chẳng\nphải không đáp, mà là không biết phải đáp làm sao. * *Hỏi không được, Trí trở lại\nBạch Thủy, ở phương Nam, lên núi Hồ\nQuyết, gặp Cuồng Khuất. Trí cũng đem ba câu\nhỏi trước, hỏi Cuồng Khuất. * *Cuồng Khuất nói: “À! Tôi biết, để tôi\nnói cho”. Nhưng, vừa muốn nói, thì lại quên mất\nchỗ mình muốn nói. * *Trí không hỏi ai được, bèn trở\nlại đế cung ra mắt Hoàng đế để\nhỏi. * *Hoàng đế nói: “Không nghĩ, không lo mới\nbiết Đạo. Không dựa vào đâu, không làm gì mới\nrõ Đạo. Không theo đâu, không đi đường nào\ncả mới được Đạo.” * *Trí hỏi Hoàng đế: “Tôi cùng ông biết\nĐạo chăng? Còn hai người kia không biết\nĐạo chăng? Ai phải?” * *Hoàng đế nói: “Vô Vi Vị mới thật là\nphải. Cuồng Khuất cũng giống như Vô Vi\nVị. Rốt lại, chỉ có Ta và Ngươi là không\ngần Đạo mà thôi. Vả, kẻ biết thì không nói,\nkẻ nói là không biết. Nên chi, bậc Thánh nhơn mới\nthực hành cái lối dạy mà không cần đến\nlời. Đạo thì không thể nhận được,\nĐức thì không thể hiểu được. Còn\nnhư Nhân, Nghĩa (là cái đạo hữu vi) có thể làm\nđược, có thể dòm thấy được. (Chí\nnhư) Lễ là để mà lừa dối nhau, cho nên\nmới có nói: Mất Đạo, rồi mới có\nĐức; mất Đức rồi mới có Nhân; mất\nNhân, rồi mới có Nghĩa; mất Nghĩa, rồi\nmới có Lễ. Lễ là cái phù hoa của Đạo, là\nđầu mối của hỗn loạn. Lại cũng có\nnói: Theo Đạo thì càng ngày càng bớt. Bớt rồi\nlại bớt mãi, cho đến chỗ “vô vi”. Không làm, mà\nkhông có gì là không làm. * *Nay đã là vật mà muốn trở về\ncội, chẳng cũng khó lắm sao! Dễ chăng,\nchỉ có bậc đại nhơn mà thôi ư!” * *Sống, là bạn của chết; Chết là\nđầu mối của sống. * *Ai biết được đường lối\ncủa đó? * *Cái sống của con người là sự tụ\nhợp của khí. * *Tụ lại thì sống, tan ra thì chết. Nếu\nxem sống chết là bạn của ta, thì sao lại có lo âu.\nBởi vậy, vạn vật là một...*\n**LỜI BÌNH**\nChương nầy giảng rộng về cái nghĩa của thuyết Bất ngôn chi giáo của thiên Đức Sung Phù ở Nội thiên.\nTrí, cái Trí la tập nhị nguyên mà đi tìm\nhiểu Đạo, thì chẳng làm thế nào hiểu\nđược. Vô Vi Vị (tượng trưng tiếng\nnói Vô Vi) không thể đáp lại với những câu\nhỏi của Trí, không phải là vì không hiểu\nĐạo, mà là vì Đạo không thể dùng lời nói\ncủa giới nhị nguyên mà miêu tả được. Nên\nlàm thinh. Đó là để chứng minh câu:\n*“Tri\ngiả bất ngôn, ngôn giả bất tri” *của Lão\nTử.\nChỉ có ở Ngoại và Tạp thiên mới thấy có sự dẫn chứng lời nói của Lão Tử. Ở Nội thiên không bao giờ có đá động đến Lão, đó là một trong những đặc điểm của Nội thiên.\nĐiều đáng chú ý nhất trong\nchương nầy là câu trả lời của Hoàng\nđế:\n*“Không nghĩ không lo mới biết\nĐạo. Không dựa vào đâu, không làm gì cả mới\nrõ Đạo. Không theo đâu, không đi đường nào\ncả mới được Đạo”*(無 思 無 慮,始 知 道,無處 無 服 始 安 道,無 從 無 道 始 得 道。). *“Biết Đạo”*, *“rõ Đạo”*, *“được\nĐạo” *đều cùng một nghĩa,\nđều nhờ một chữ “Vô” 無 mà thực hiện\nđược.\nCòn lo, còn nghĩ được, thì không còn\nphải là Đạo nữa. Đạo thì tịnh,\nnghĩa là bản thể thì không bao giờ thay đổi,\nnhưng Đức của nó thì vô cùng biến động (vạn\nhóa 萬 花)hoặc mau hoặc chậm, nên\nchi\n*“sự vật vô thường”*, không thể bao\ngiờ có một hình thức nào có thể chứa\nđựng được nó mãi mãi. Vì vậy, Đạo\nkhông thể chứa đựng được ở trong\nhình thức nào, bất cứ là một hệ thống\ntư tưởng nào, một chế độ hay luân lý\nnào, một tôn giáo hay triết thuyết nào...Hay nói tắt\nmột lời, Đạo không thể thực hiện\nđược ở trong một lề lối cố\nđịnh của một nếp suy tư nào cả. Bởi\nvậy, trở ngại to tát và nguy hiểm nhất của\nngười tìm Đạo là tư tưởng theo thành\nkiến bất cứ là thành kiến nào, nghĩa là theo\nbất cứ một thói quen nào. Cho nên mới nói: *“Không\ndựa vào đâu...Không theo đâu, không đi\nđường nào cả. . .”. *Tìm Đạo, không\nthể đi theo một con đường nào, dù là của\nThích Ca hay của Jésus...Và vì thế mà trước đây,\ntôi đã nói: học thuyết Lão Trang là một học\nthuyết không có học thuyết, một giáo lý không có giáo\nlý...Nhân đó về sau, phái Thiền tông của Phật Giáo\nĐại thừa mới chủ trương: *“Bất\nlập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”*.\nNgười tìm Đạo, vì vậy, cần\nphải giải thoát đầu tiên tâm trí của mình ra\nkhỏi sự nô lệ tinh thần đối với\nmọi tập quán tư tưởng theo truyền thống\nnhị nguyên, đối với mọi khuôn sáo tư\ntưởng lệ thuộc theo một đường\nlối sẵn có nào. Đó là điểm đặc biệt\nquan trọng nhất của chương nầy, và đó là\nđiểm chính để giản minh cái đại\nnghĩa của thuyết\n*“các sinh kỳ sinh”*(各 生 其 生)ở thiên Tiêu Diêu Du vậy.\nĐối với Đạo, với chân lý, nô\nlệ với những thói quen suy tư của mình hay\nbắt chước theo lề lối suy tư của một\nkẻ khác hay của một hệ thống tư\ntưởng nào đều là lầm lạc cả và\nnhất định không thể\n*“hiểu Đạo,\nrõ Đạo, đắc Đạo”*như lời\ncủa Hoàng đế đã nói.\n⸈⸈⸈\n\n商 大 宰 蕩 問 仁 於 莊 子。 莊 子 曰:「虎 狼,仁 也。」 曰:「何 謂 也 ?」\n莊 子 曰:「父 子 相 親,何 為 不 仁!」 曰:「請 問 至 仁。」\n莊 子 曰:「至 仁 無 親。」\n大 宰 曰:「蕩 聞 之,無 親 則 不 愛,不 愛 則 不 孝。謂 至 仁 不 孝,可 乎 ?」\n莊 子 曰:「不 然,夫 至 仁 尚 矣,孝 固 不 足 以 言 之。此 非 過 孝 之 言 也,不 及 孝 之 言 也。夫 南 行 者 至 於 郢,北 面 而 不 見 冥 山,是 何 也 ? 則 去 之 遠 也。故 曰:以 敬 孝 易,以 愛 孝 難 ﹔ 以 愛 孝 易,而 忘 親 難 ﹔忘 親 易,使 親 忘 我 難 ﹔ 使 親 忘 我 易,兼 忘 天 下 難 ﹔ 兼 忘 天 下 易,使 天 下 兼 忘 我 難。夫 德 遺 堯 舜 而 不 為 也,利 澤 施 於 萬 世,天 下 莫 知 也, 豈 直 大 息 而 言 仁 孝 乎 哉!夫 孝 悌 仁 義,忠 信 貞 廉,此 皆 自 勉 以 役 其 德 者 也,不 足 多 也。故 曰,至 貴,國 爵 幷 焉 ﹔ 至 富,國 財 幷 焉 ﹔ 至 願,名 譽 幷 焉。是 以 道 不 渝。」\n(天 運)\nThương đại tể Đãng vấn nhân ư Trang Tử. Trang Tử viết: “Hổ lang, nhân dã.”\nViết: “Hà vị dã?”\nTrang Tử viết: “Phụ tử tương thân, hà vị bất nhân.” Viết: “Thỉnh vấn chí nhân.”\nTrang Tử viết: “Chí nhân vô thân.”\nĐại tể viết: “Đãng văn chi, vô thân tắc bất ái, bất ái tắc bất hiếu, vị chí nhân bất hiếu khả hồ?”\nTrang Tử viết: “Bất nhiên. Phù chí nhân thượng hĩ. Hiếu cố bất túc dĩ ngôn chi. Thử phi quá hiếu chi ngôn dã. Bất cập hiếu chi ngôn dã. Phù Nam hành giả chí ư Dĩnh, bắc diện nhi bất kiến minh san, thị hà dã? Tắc khứ chi viễn dã. Cố viết: Dĩ kính hiếu dị dĩ ái hiếu nan, dĩ ái hiếu dị, nhi vong thân nan. Vong thân dị, sử thân vong ngã nan. Sử thân vong ngã dị, kiêm vong thiên hạ nan. Kiêm vong thiên hạ dị, sử thiên hạ kiêm vong ngã nan. Phù đức di Nghiêu Thuấn nhi bất vi dã. Lợi trạch thi ư vạn thế, thiên hạ mạc tri dã. Khởi trực thái tức nhi ngôn nhân hiếu hồ tai. Phù hiếu đễ nhân nghĩa trung tín trinh liêm, thử giai tự miễn dĩ dịch kỳ đức giả dã, bất túc đa dã. Cố viết: Chí quý quốc tước tinh yên, chí phú quốc tài tinh yên, chí nguyện danh dự tinh yên, thị dĩ đạo bất du.”\n(Thiên Vận)\n**DỊCH NGHĨA**\nCHÍ NHÂN\n*Thái tể Đãng hỏi Trang Tử về\nchữ Nhân. Trang Tử nói: “Hùm sói là Nhân đấy!” * *Hỏi: “Sao gọi thế?” * *Trang Tử nói: “Cha con nó thân nhau, sao gọi là\nbất nhân?” * *“Xin hỏi, còn bậc chí Nhân?” * *Trang Tử nói: “Chí Nhân thì không thân với ai\ncả!” * *Thái tể hỏi: “Đãng tôi nghe rằng: Không\nthân thì không thương, không thương thì không thảo. Gọi\nngười chí Nhân không thảo được không?” * *Trang Tử nói: “Không phải vậy. Chí Nhân cao\nlắm! Cho nên hiếu thảo đâu đủ để\nmà nói đến họ: Đó đâu phải là chuyện\nthái quá của hiếu, mà là chuyện không kịp của\nhiếu. Kìa như có kẻ sang Nam, đến ấp\nDĩnh, ngó qua hướng Bắc không thấy núi Minh San. Là\ntại sao? Tại xa quá! Bởi vậy mới nói rằng:\nHiếu mà kính, dễ; hiếu mà thương, mới khó. Hiếu\nmà thương (cũng còn) dễ, hiếu mà quên kẻ thân\ncủa mình đi mới khó. Quên kẻ thân của mình (cũng\ncòn) dễ, khiến kẻ thân của mình quên mình đi\nmới khó. Khiến kẻ thân của mình quên mình đi còn\ndễ, quên luôn cả thiên hạ mới khó. Quên luôn cả\nthiên hạ còn dễ, mà khiến cho cả thiên hạ\nđều quên mình đi mới còn khó hơn nữa. * *Kìa như đức hơn xa Nghiêu Thuấn mà\nchưa từng có làm, ân huệ nhuần thấm khắp\nmọi người đến muôn đời mà thiên hạ\nchẳng ai hay, há lại còn đem chữ Nhân, chữ\nHiếu mà nói được với họ nữa hay sao?\nPhàm hiếu, đễ, nhân, nghĩa, liêm, trinh đều là\nđể mà phục dịch đức mình, có đủ gì\nđể mà ca ngợi quá lời. Bởi vậy mới nói\nrằng: Tước của cả một nước có\nđủ đâu để thêm giá cho người chí quý, tài\nsản của một nước có đủ đâu\nđể thêm giá cho người chí phú; tất cả danh\ndự đủ đâu thỏa mãn người chí\nnguyện. Bởi vậy Đạo không có gì đổi\nđược.” *\n**LỜI BÌNH**\nChương này để trả lời cho những ai gán cho Trang học (cũng như Lão học) cái danh từ là vô luân lý. Thật sự không phải là vô luân lý, theo cái nghĩa thông thường, mà phải hiểu cho đó là một nền học thuật có tánh cách siêu luân lý, một nền luân lý không có luân lý, nghĩa là cái luân lý của con người giải thoát, của con người “vô kỷ, vô công và vô danh”.\n*“Hiếu mà kính, dễ; hiếu mà thương,\nmới khó. Hiếumà thương, cũng còn dễ,\nhiếu mà quên kẻ thân của mình đi mới khó. Quên\nkẻ thân của mình cũng còn dễ, khiến kẻ thân\ncủa mình quên mình đi mới khó. Khiến kẻ thân\ncủa mình quên đi còn dễ, quên luôn cả thiên hạ\nmới khó. Quên luôn cả thiên hạ còn dễ, mà khiến\ncho cả thiên hạ đều quên mình mới còn khó hơn\nnữa”. *Đó mới thật là đến mức cùng\ncực của tình thương: yêu người, chứ\nkhông phải là yêu mình. Thế nhân chỉ lo sợ có một\nđiều là người của mình thương, không\nthương mình hay là yêu mình. Và vì thế mà đời\nmới đa đoan lắm sự. *“Quên luôn cả thiên hạ”*, là làm lợi cho\ncả thiên hạ mà không phải vì lòng Nhân. Hành động\ncủa bậc chí Nhân là hành động tự nhiên, không\nthể không vậy cho đặng, như ánh sáng mặt\ntrời rọi chiếu vạn vật, nên mới gọi\nlà *“quên luôn cả thiên hạ”*. Còn *“khiến\ncho thiên hạ đều quên mình” *là làm lợi cho\nthiên hạ mà thiên hạ không hay: *“ân huệ thấm\nnhuần khắp mọi người đến muôn\nđời mà thiên hạ chẳng ai hay”*, đó là hành\nđộng *“vô vi”*, nhưng *“vô vi nhi vô bất\nvi” *của Lão Tử.\n⸈⸈⸈\n- Sao gọi\n*“hùm sói là Nhân đấy”*? *“Cha con nó thân nhau, sao gọi là bất nhân?” *\nThật vậy, đó là cái Nhân của thế\ntục. Kìa những kẻ thương yêu gia đình mình,\nthương yêu quốc gia mình, thương yêu dân tộc\nmình...nhưng đối với gia đình khác, quốc gia\nkhác, dân tộc khác thì lại đối xử một cách\nbất nhân tàn ác, có khác nào những giống hùm sói nó đâu\ncó bao giờ giết hại người thân của nó mà\nhết sức là bạo ngược đối với các\ngiống loại khác. Cho nên mới nói:\n*“bậc chí Nhân thì\nvô thân”*, và bởi không *thân *mới không *sơ *đối\nvới tất cả mọi người.\nChương này đã nêu lên được\nvấn đề luân lý, và người ta thấy rằng\ncái mà thiên hạ thường gọi là luân lý đạo\nđức phần nhiều chỉ là những bảng giá\ntrị về luân lý đạo đức có bổn\nphận duy trì và ủng hộ lòng tư kỷ và tư\nhữu của con người, điều mà chúng ta cần\nphải lưu ý và nhận thức rõ. Lão Tử có nói:\n*“Thất\nĐạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi\nhậu Nhân, thất Nhân nhi hậu Nghĩa, thất Nghĩa\nnhi hậu Lễ. . .” *\n⸈⸈⸈\n\n荃 者 所 以 在 魚,得 魚 而 忘 荃 ﹔ 蹄 者 所 以 在 兔,得 兔 而 忘 蹄 ﹔ 言 者 所 以 在 意,得 意 而 忘 言。\n吾 安 得 夫 忘 言 之 人 而 與 之 言 哉!\n(外 物)\n*Thuyên giả sở dĩ tại ngư,\nđắc ngư nhi vong thuyên. Đề giả sở\ndĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. * *Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi\nvong ngôn. Ngô an đắc phù vong,* *ngôn chi nhơn nhi dữ chi ngôn tai. * * (Ngoại Vật)*\n**DỊCH NGHĨA**\nQUÊN LỜI\n*Có nơm là vì cá,* *Đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ,* *Đặng thỏ hãy quên dò. * *Có lời là vì ý,* *Đặng ý hãy quên lời. * *Ta sao tìm đặng người biết quên\nlời, hầu cùng nhau bàn luận. *\n**LỜI BÌNH**\nĐoạn văn này lẽ ra là đoạn\nđầu của thiên Ngụ Ngôn sau đây mà người\nxưa đã sắp lộn. Chính ở chỗ mà\n*Dịch\nKinh *gọi là *“ý tại ngôn ngoại”*(意 在 言 外)và *“thư, bất tận ngôn;\nngôn, bất tận ý”*(書 不 盡 言,言 不 盡 意).\nLão Tử cũng bảo:\n*“Tri giả bất\nngôn, ngôn giả bất tri”*知 者 不 言,言 者 不 知 (Biết, thì không nói. Nói là không\nbiết). Đạo là một cái gì không thể biết,\nkhông thể nói, vì nói thì phải dùng lời, mà lời thì\nbị hạn định trong một hình thức nào; không\nlàm sao miêu tả được cái chân lý toàn diện gồm\nđủ bề mặt bề trái, bề cao bề\nthấp...Cho nên bất đắc dĩ mà nói ra,\nngười nghe phải biết vượt lên trên danh\ntừ hạn định để hiểu cái không thể\nhạn định. Cho nên mới bảo phải biết\nquên lời. Bên Đạo học, phải thoát khỏi hình\nthức của câu văn và biết đọc văn\n“giữa hai dòng chữ”. Những ai chỉ khư khư\nhiểu theo hình thức của văn từ, là\nngười không đủ điều kiện để\nbàn luận về lẽ Đạo.\nCâu chuyện Hoàn Công đọc sách ở thiên Thiên\nĐạo là một bài ngụ ngôn ý vị để\nchứng minh cái thuyết\n*“bất ngôn chi giáo” *của\nLão Trang, và *“bất lập văn tự” *của\nThiền tông.\nMột ngày kia, Phật chỉ trăng, bảo các\nđệ tử:\n*“Kìa mặt trăng; cứ ngó theo\nngón tay ta thì thấy; nhưng nên nhớ: ngón tay ta không\nphải là trăng. Những lời ta giảng về\nĐạo cũng vậy: các con cứ nghe theo lời ta mà\ntìm Đạo. Nhưng, nên nhớ: lời giảng của\nta không phải Đạo.” *\nCho nên, người Đông Phương bàn về Đạo, hay dùng đến ngụ ngôn, mà Trang Tử đã tỏ ra rất sành trong nghệ thuật ấy.\n⸈⸈⸈\n\n寓 言 十 九,重 言 十 七。 巵 言 日 出,和 以 天 倪。 寓 言 十 九,藉 外 論 之。\n親 父 不 為 其 子 媒。親 父 譽 之,不 若 非 其 父 者 也。非 吾 罪 也,人 之 罪 也。與 己 同 則 應,不 與 己 同 則 反。同 於 己 為 是 之,異 於 己 為 非 之。\n重 言 十 七,所 以 己 言 也。是 為 耆 艾,年 先 矣,而 無 經 緯 本 末 以 期 年 耆 者,是 非 先 也。人 而 無 以 先 人,無 人 道 也。人 而 無 人 道,是 之 謂 陳 人。\n巵 言 日 出,和 以 天 倪,因 以 曼 衍,所 以 窮 年。不 言 則 齊,齊 與 言 不 齊,言 與 齊 不 齊 也,故 曰 無 言。言 無 言,終 身 言,未 嘗 言 ﹔ 終 身 不 言,未 嘗 不 言。\n有 自 也 而 可,有 自 也 而 不 可 ﹔ 有 自 也 而 然,有 自 也 而 不 然。惡 乎 然 ? 然 於 然, 惡 乎 不 然 ? 不 然 於 不 然。惡 乎 可 ? 可 於 可 ﹔ 惡 乎 不 可 ? 不 可 於 不 可。物 固 有 所 然,物 固 有 所 可。無 物 不 然,無 物 不 可。 非 巵 言 日 出,和 以 天 倪,孰 得 其 久!\n萬 物 皆 種 也,以 不 同 形 相 禪,始 卒 若 環, 莫 得 其 倫,是 謂 天 均。天 均 者,天 倪 也。\n(寓 言)\n*Ngụ ngôn thập cửu, trùng ngôn thập\nthất. Chi ngôn nhật xuất, hòa dĩ Thiên Nghê. *\n⸈⸈⸈\nNgụ ngôn thập cửu, tịch ngoại luận chi.\nThân phụ bất vi kỳ tử môi. Thân phụ dự chi bất nhược phi kỳ phụ giả dã. Phi ngô tội dã, nhơn chi tội dã. Dữ kỷ đồng tắc ứng, bất dữ kỷ đồng tắc phản. Đồng ư kỷ vi thị chi, dị ư kỷ vi phi chi.\nTrùng ngôn thập thất sở dĩ kỷ ngôn dã, thị vi kỳ ngại, niên tiên hĩ. Nhi vô kinh vĩ bổn mạt, dĩ cơ niên kỳ giả, thị phi tiên dã. Nhơn nhi vô dĩ tiên nhơn vô nhơn đạo dã. Nhơn nhi vô nhơn đạo thị chi vị trần nhơn.\nChi ngôn nhật xuất hòa dĩ Thiên Nghê. Nhân\ndĩ man diễn sở dĩ cùng niên. Bất ngôn tắc\ntề. Tề dữ ngôn bất tề, ngôn dữ tề\nbất tề dã. Cố viết: “Vô ngôn. Ngôn vô ngôn, chung thân\nngôn, vị thường ngôn. Chung thân bất ngôn vị\nthường bất ngôn”.\n1\nHữu tự dã nhi khả, hữu tự dã nhi\nbất khả. Hữu tự dã nhi nhiên, hữu tự dã nhi\nbất nhiên. Ô hồ nhiên. Nhiên ư nhiên. Ô hồ bất\nnhiên, bất nhiên ư bất nhiên. Ô hồ khả. Khả\nư khả. Ô hồ bất khả. Bất khả ư\nbất khả. Vật cố hữu sở nhiên. Vật\ncố hữu sở khả. Vô vật bất nhiên, vô\nvật bất khả. Phi chi ngôn nhật xuất hòa dĩ\nThiên Nghê. Thục đắc kỳ cửu.\n2\nVạn vật giai chủng dã, dĩ bất đồng hình tương thiện thủy tốt nhược hoàn, mạc đắc kỳ luân, thị vị Thiên Quân, Thiên Quân giả Thiên Nghê dã.\n(Ngụ Ngôn)\n**CHÚ**\n1. Suốt đời nói, mà chỉ nói về những chuyện thị phi, thiện ác...thì dù là có nói, cũng kể như là không có nói gì cả. Còn nói đến Đạo, thì dù Đạo không thể nói ra được, tuy không nói vẫn là có nói.\n*2. *Đây là giảng\nvề cái nghĩa của câu *“bất đắc\nbất nhiên” *(不 得 不 然).\n**DỊCH NGHĨA**\nNGỤ NGÔN\n*Ngụ ngôn mười chín, Trùng ngôn mười\nbảy. Chí ngôn, thì hằng ngày, hòa với Thiên Nghê mà nói ra. *\n⸈⸈⸈\n*Ngụ ngôn mười chín, là mượn vật\nngoài mà luận biện. Cha không khen con mình. Cha mà khen con, sao\nbằng để cho người không phải là cha mà khen.\n(Nếu ai) không đồng với ta, lỗi ấy về\nai, chứ không phải về ta. Ai đồng với ta thì\nứng; không đồng với ta thì phản. Đồng\nvới ta, cho ta là phải; khác với ta, cho ta là quấy. * *Trùng ngôn mười bảy, là mượn\nlời kẻ khác mà nói. Kẻ ấy là những bậc\ntrước ta, (nhưng nếu) không kinh vĩ, không thông\ngốc ngọn thì ta cũng không xem là bậc trên\ntrước của ta được. Ai không hiểu\nđược cái đạo của chân nhơn, không\nđược kể là kẻ đi trước ta, mà\nhọ chỉ là hạng trần nhơn (tức là\nngười thuật chuyện xưa tích cũ mà thôi). * *Chi ngôn, hằng ngày hòa với lý của Thiên Nghê mà\nnói ra, nhân đó mà lời nói được lâu dài. Chưa\nnói ra, là đã đồng (với lẽ Đạo),\nnhưng nói ra thì đã không đồng nữa rồi. Nên có\ncâu: Không có lời nói. * *Nói cái không thể dùng đến lời nói. Suốt\nđời nói mà chưa từng có nói. Suốt đời\nkhông nói, mà chưa từng là không có nói. * *Có cái tự nhiên hạp, có cái tự nhiên không\nhạp. Có cái tự nhiên phải như vậy, có cái tự\nnhiên không phải như vậy. Sao là phải như\nvậy? Phải như vậy là vì phải như vậy. Sao\nlà không phải như vậy? Không phải như vậy là\nvì không phải như vậy. Sao là hạp? Hạp là vì\nhạp. Sao là không hạp? Không hạp là vì không hạp. * *Mỗi vật đều có cái tánh chịu cái chi\nlà phải với mình, cái chi là hạp với mình. Không\nvật nào là không có tánh đó. Nếu hằng ngày, lời ta\nnói ra hòa với lẽ Thiên Nghê (lý Trời nơi ta) mà không\nđược lâu dài, thì cái chi mới lâu dài? * *Vạn vật đều là một giống\ncả, không cùng hình mà thay đổi, trước sau như\ntrên cái vòng tròn, không thể phân biệt luân loại. Nên\ngọi là Thiên Quân. Thiên Quân là Thiên Nghê. *\n⸈⸈⸈\n\n世 之 所 貴 道 者,書 也。 書 不 過 語,語 有 貴 也。\n語 之 所 貴 者,意 也,意 有 所 隨。意 之 所 隨 者,不 可 以 言 傳 也,而 世 因 貴 言 傳 書。世 雖 貴 之哉,猶 不 足 貴 也,為 其 貴 非 其 貴 也。故 視 而 可 見 者,形 與 色 也 ﹔ 聽 而 可 聞 者,名 與 聲 也。悲 夫!世 人 以 形 色 名 聲 為 足 以 得 彼 之 情。夫 形 色 名 聲 果 不 足 以 得 彼 之 情, 則 知 者 不 言,言 者 不 知,而 世 豈 識 之 哉!\n(天 道)\n*Thế chi sở quý đạo giả, thư dã. * *Thư bất quá ngữ. Ngữ hữu quý dã. *\nNgữ chi sở quý giả ý dã. Ý hữu sở\ntùy. Ý chi sở tùy giả, bất khả dĩ ngôn\ntruyền dã, nhi thế nhân quý ngôn truyền thư. Thế\ntuy quý chi tai. Du bất túc quý dã, vi kỳ quý, phi kỳ quý dã.\nCố thị nhi khả kiến giả, hình dữ sắc\ndã; thính nhi khả văn giả, danh dữ thinh dã. Bi phù,\nthế nhơn dĩ hình sắc danh thinh vi túc dĩ\nđắc bỉ\n1 chi tình 2. Phù hình\nsắc danh thinh quả bất túc dĩ đắc bỉ\nchi tình. Tắc tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri,\nnhi thế khởi thức chi tai.\n(Thiên Đạo)\n**CHÚ**\n1.\n*Bỉ *彼: đối lại với Ngã 我, tức là sự vật bên ngoài (外 物), hay là tha nhân(他 人)nghĩa là\nngười khác.\n2.\n*Tình *情: gốc là chữ 性 (Tánh). Tức là bản tánh của\nsự vật.\n**DỊCH NGHĨA**\nSÁCH\n*Cái mà người đời quý trọng và hay nói\nđến là sách. Sách, bất quá chỉ là lời. * *Lời mà quý là nhờ nơi ý. Ý, phải căn\ncứ theo chỗ không thể dùng lời mà truyền. Vậy\nmà người đời lại quý lời truyền trong\nsách vở. * *Người đời tuy quý nó, nhưng lại\nquý cái không đủ để mà quý. Vì cái mà họ quý,\nchẳng phải là cái quý. * *Nhìn mà thấy được là hình và sắc. Lóng\nmà nghe được là danh từ và tiếng nói. Thương\nthay, người đời lại cho rằng hình và\nsắc, danh từ và tiếng nói đủ để\ntả được cái chân tánh của sự vật. Mà\nhình và sắc, danh từ và tiếng nói làm sao để\ntả được chân tánh của sự vật. Nên\nkẻ biết thì không nói, kẻ nói là không biết,\nngười đời há biết được như\nthế ư? *\n⸈⸈⸈\n\n桓 公 讀 書 於 堂 上。 輪 扁 斲 輪 於 堂 下。\n釋 椎 鑿 而 上,問 桓 公 曰:「敢 問:公 之 所 讀 爲 何 言 邪 ?」\n公 曰:「聖 人 之 言 也。」 曰:「聖 人 在 乎 ?」\n公 曰:「已 死 矣。」\n曰:「然 則 君 之 所 讀 者,古 人 之 糟 魄 已 夫!」\n桓 公 曰:「寡 人 讀 書,輪 人 安 得 議 乎!有 說 則 可,無 說 則 死!」\n輪 扁 曰:「臣 也 以 臣 之 事 觀 之。斲 輪,徐 則 甘 而 不 固,疾 則 苦 而 不 入,不 徐 不 疾,得 之 於 手 而 應 於 心,口 不 能 言,有 數 存 焉 於 其 間。臣 不 能 以 喻 臣 之 子,臣 之 子 亦 不 能 受 之 於 臣,是 以 行 年 七 十 而 老 斲 輪。古 之 人 與 其 不 可 傳 也 死 矣,然 則 君 之 所 讀 者, 古 人 之 糟 魄 已 夫!」\n(天 道)\nHoàn Công độc thư ư đường thượng. Luân biển trác luân ư đường hạ,\nThích chùy tạc nhi thượng, vấn Hoàn Công viết: “Cảm vấn Công chi sở độc vi hà ngôn da?”\nCông viết: “Thánh nhơn chi ngôn dã.” Viết: “Thánh nhơn tại hồ?”\nCông viết: “Dĩ tử hĩ.”\nViết: “Nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ nhơn chi tao phách dĩ phù!”\nHoàn Công viết: “Quả nhơn độc thư. Luân nhơn an đắc nghị hồ? Hữu thuyết tắc khả, vô thuyết tắc tử.”\nLuân biển viết: “Thần dã dĩ thần chi sự quan chi. Trác luân từ tắc cam nhi bất cố. Tật tắc khổ nhi bất nhập. Bất từ bất tật, đắc chi ư thủ nhi ứng ư tâm. Khẩu bất năng ngôn. Hữu sổ tồn yên ư kỳ gian. Thần bất năng dĩ dụ thần chi tử. Thần chi tử diệc bất năng thụ chi ư thần. Thị dĩ hành niên thất thập nhi lão trác luân. Cổ chi nhơn dữ kỳ bất khả truyền dã. Tử hĩ. Nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ nhơn chi tao phách dĩ phù.”\n(Thiên Đạo)\n**DỊCH NGHĨA**\nĐỌC SÁCH\n*Hoàn Công đọc sách ở nhà trên. * *Người thợ đẽo bánh xe ở nhà\ndưới, bỏ dùi, đục, bước lên hỏi\nHoàn Công: * *- Dám hỏi nhà vua đọc lời gì thế? * *Hoàn Công nói: *\n-\n*Lời nói của Thánh nhơn. Hỏi: * *- Thánh nhơn còn sống chăng? Hoàn Công nói: *\n-\n*Đã chết cả rồi! Hỏi: * *- Như thế thì cái mà nhà vua đọc đó\nchỉ là cặn bã của người xưa đấy\nthôi! Hoàn Công nói: * **- ** *Quả nhân đọc sách. Kẻ đẽo bánh\nxe sao dám luận bàn? Nói nghe thông, thì thôi. Không thông, thì\nchết. * *Người thợ đẽo bánh xe thưa: * **- ** *Thần xin lấy việc mình mà nói: Đẽo\nchậm thì êm mà không bền; đẽo mau thì cứng mà\nkhông vô. Không chậm, không mau, tay làm mà ứng\nđược với lòng mong muốn. Miệng không sao nói\nra được việc ấy. Trong chỗ đó, còn\nlại biết bao điều không thể nói ra. Thần\nkhông sao đem đó mà dạy bảo được con\ncủa thần. Con của thần cũng không sao học\nđược nơi thần. Cho nên, nay đã bảy\nmươi tuổi đầu mà vẫn còn làm nghề\nđẽo bánh xe. Người xưa với những gì\nkhông thể truyền dạy đều chết cả\nrồi. Cho nên cái mà nhà vua đọc đó, chỉ là\ncặn bã của người xưa mà thôi. *\n⸈⸈⸈\n\n惠 子 謂 莊 子 曰:「子 言 無 用。」\n莊 子 曰:「知 無 用 而 始 可 與 言 用 矣。夫 地 非 不 廣 且 大 也,人 之 所 用 容 足 耳,然 則 廁 足 而 墊 之 致 黃 泉,人 尚 有 用 乎 ?」\n惠 子 曰:「無 用。」\n莊 子 曰:「然 則 無 用 之 為 用 也 亦 明 矣。」\n(外 物)\nHuệ Tử vị Trang Tử viết: “Tử ngôn vô dụng.”\nTrang Tử viết: “Tri vô dụng nhi thủy khả dữ ngôn dụng hĩ. Phù địa phi bất quảng thả đại dã, nhơn chi sở dụng dung túc nhĩ. Nhiên tắc sắc túc nhi điếm chi trí huỳnh tuyền, nhơn thượng hữu dụng hồ.”\nHuệ Tử viết: “Vô dụng.”\nTrang Tử viết: “Nhiên tắc vô dụng chi vi dụng dã diệc minh hĩ.”\n(Ngoại Vật)\n**DỊCH NGHĨA**\nVÔ DỤNG\n*Huệ Tử gọi Trang Tử mà nói: *\n-\n*Lời của ông vô dụng! Trang Tử\nnói: * *- * *Biết cái chi sao là vô dụng, thì cũng biết\nnó sao là hữu dụng. Như đất rộng,\nngười ta cho là hữu dụng, vì nhờ nó mà đi\nđược. Nhưng, nếu trật chơn té chìm\ntận suối vàng, người ta còn gọi nó là hữu\ndụng nữa không? * *Huệ tử nói: * *- * *Vô dụng. Trang Tử nói: * *- * *Vậy thì rõ vô dụng là hữu dụng đó. *\n**LỜI BÌNH**\nVừa cho là hữu dụng, thì đã lại cho là vô dụng, mà tựu trung cũng đều là đất cả. Thế thì hữu dụng và vô dụng là một vậy.\nHuệ Tử thì lập trường là nhị nguyên, còn Trang Tử, lập trường là nhất nguyên. Vì vậy mà hai nhà gặp nhau là có biện luận. Biện luận không phải để tranh phải quấy, mà biện luận để minh xác lập trường và ý thức nó một cách rõ ràng hơn.\n⸈⸈⸈\n\n莊 周 家 貧,故 往 貸 粟 於 監 河 侯。監 河 侯 曰:「諾。我 將 得 邑 金,將 貸 子 三 百 金,可 乎 ?」\n莊 周 忿 然 作 色 曰:「周 昨 來,有 中 道 而 呼 者,周 顧 視 車 轍,中 有 鮒 魚 焉。周 問 之 曰:\n『 鮒 魚 來,子 何 為 者 耶 ? 』 對 曰:『 我, 東 海 之 波 臣 也。君 豈 有 斗 升 之 水 而 活 我 哉!』 周 曰:『 諾,我 且 南 遊 吳 越 之 王,激 西 江 之 水 而 迎 子,可 乎 ? 』鮒 魚 忿 然 作 色 曰:『 吾 失 我 常 與 我 無 所 處。吾 得 斗 升 之 水 然 活 耳。君 乃 言 此,曾 不 如 早 索 我 於 枯 魚 之 肆。』」\nTrang Châu gia bần, cố vãng thải túc ư Giám Hà Hầu. Giám Hà Hầu viết: Nặc, ngã tương đắc ấp kim, tương thải tử tam bách kim, khả hồ?”. Trang Châu phẫn nhiên tác sắc viết: “Châu tạc lai, hữu trung đạo nhi hồ giả. Châu cổ thị xa triệt trung hữu phụ ngư yên. Châu vấn chi viết: phụ ngư lai tử hà vi giả da? Đối viết: Ngã đông hải chi ba thần dã. Quân khởi hữu đẩu thăng chi thủy nhi hoạt ngã tai! Châu viết: Nặc, ngã thả Nam du Ngô Việt chi vương, kích tây giang chi thủy nhi nghinh tử, khả hồ? Phụ ngư phẫn nhiên tác sắc viết: Ngô thất ngã thường dữ ngã vô sở xử. Ngô đắc đẩu thăng chi thủy, nhiên hoạt nhĩ. Quân nãi ngôn thử, tăng bất tri tảo tác ngã ư khô ngư chi tứ.”\n**DỊCH NGHĨA**\nCÁ NHỎ\n*Trang Tử nhà nghèo, sang vay lúa Giám Hà Hầu. Giám Hà\nHầu nói: “Tôi có cái ấp sắp nộp tiền lúa. Tôi\nsẽ giúp ông ba trăm lượng. Có được không?”\n* *Trang Châu giận ra mặt nói: “Hôm qua, khi Châu\nđến đây, giữa đường nghe có\ntiếng kêu. Ngảnh lại trông thì thấy một con cá\nnhỏ đang vùng vẫy trong cái vết bánh xe. Châu tôi\nhỏi: ‘Cá nhỏ đến đây làm gì?’ Cá nói: ‘Tôi là\nthủy thần ở bể Đông, ông có thể giúp tôi\nmột ít nước để cứu tôi không?’ Châu tôi nói:\n‘Được, để ta sang phía Nam, chơi với các\nvua Ngô Việt, rồi khi về, sẽ ngăn nước\nsông Tây giang về đón ngươi. Có được\nkhông?’ Cá giận ra mặt nói: ‘Tôi đang cần\nnước, ông chỉ cho tôi được một ít là\nđủ sống. Nay nói như ông, đợi đến\nlúc ông về, thì mời ông đến hàng cá khô, sẽ\nthấy tôi nơi đấy!’” *\n⸈⸈⸈\n\n韓 魏 相 與 爭 侵 地。\n子 華 子 見 昭 僖 侯,昭 僖 侯 有 憂 色。\n子 華 子 曰:「今 使 天 下 書 銘 於 君 之 前,書 之 言 曰:『 左 手 攫 之 則 右 手 廢,右 手 攫 之 則 左 手 廢。然 而 攫 之 者 必 有 天 下。』 君 能 攫 之 乎 ?」\n昭 僖 侯 曰:「寡 人 不 攫 也。」\n子 華 子 曰:「甚 善!自 是 觀 之,兩 臂 重 於 天 下 也,身 亦 重 於 兩 臂。韓 之 輕 於 天 下 亦 遠 矣!今 之 所 爭 者,其 輕 於 韓 又 遠。君 固 愁 身 傷 生 以 憂 戚 不 得 也。」\n僖 侯 曰:「善 哉!教 寡 人 者 眾 矣,未 嘗 得 聞 此 言 也。」 子 華 子 可 謂 知 輕 重 矣!\n(讓 王)\nHàn Ngụy tương dữ tranh xâm địa.\nTử Hoa Tử kiến Chiêu Hy Hầu. Chiêu Hy Hầu hữu ưu sắc.\nTử Hoa Tử viết:\n**- **Kim sử thiên hạ thư minh ư quân chi\ntiền, thư chi ngôn viết: Tả thủ hoắc chi\ntắc hữu thủ phế. Hữu thủ hoắc chi\ntắc tả thủ phế, nhiên nhi hoắc chi giả\ntất hữu thiên hạ, quân năng hoắc chi hồ?\nChiêu Hy Hầu viết:\n**- **Quả nhơn bất hoắc dã. Tử Hoa Tử\nviết: **- **Thậm thiện, tự thị quan chi\nlưỡng tí trọng ư thiên hạ dã. Thân diệc\ntrọng ư lưỡng tí. Hàn chi khinh ư thiên hạ\ndiệc viễn hĩ. Kim chi sở tranh giả kỳ khinh\nư Hàn hựu viễn. Quân cố sầu thân thương\nsinh dĩ ưu thích bất đắc dã.\nHy Hầu viết:\n**- **Thiện tai! Giáo quả nhơn giả chúng hĩ,\nvị thường đắc văn thử ngôn dã. Tử\nHoa Tử khả vị tri khinh trọng hĩ.\n**DỊCH NGHĨA**\nKHINH VÀ TRỌNG\n*Hàn và Ngụy cùng nhau tranh lấn đất. Tử\nHoa Tử ra mắt vua Chiêu Hy nước Hàn, thấy\nsắc vua có vẻ lo, bèn nói: * **- ** *Nếu nay bảo thiên hạ viết ra,\ntrước mặt vua, lời thề rằng: Ai mó tay trái\nvào, thì mất tay mặt; mó tay mặt vào, thì mất tay trái.\nNhưng mó tay vào đó rồi thì được cả thiên\nhạ. Nhà vua có chịu mó tay vào đó không? * *Vua Chiêu Hy nói: * **- ** *Quả nhân không chịu. Tử Hoa Tử nói: * **- ** *Hay lắm! Rõ là tự nhà vua thấy hai tay là\ntrọng hơn thiên hạ. Mà thân lại càng trọng\nhơn hai tay. Nước Hàn khinh hơn thiên hạ nhiều.\nNay cuộc tranh nhau phần đất lại còn khinh\nhơn nước Hàn rất nhiều. Sao nhà vua lại\ncố sầu thân thương sinh, lo sợ không lấn\nđược đất? * *Vua Chiêu Hy nói: * **- ** *Hay! Đã nhiều kẻ dạy quả nhân, mà\nquả nhân chưa từng nghe được lời\nnầy! Tử Hoa Tử mới được gọi là\nngười biết điều khinh trọng. *\n(Nhượng Vương)\n\n醉 者 之 墜 車,雖 疾 不 死。骨 節 與 人 同 而 犯 害 與 人 異,其 神 全 也。乘 亦 不 知 也,墜 亦 不 知 也,死 生 驚 懼 不 人 乎 其 胸 中,是 故 遻 物 而 不 慴。彼 得 全 於 酒 而 猶 若 是,而 況 得 全 於 天 乎 ? 聖 人 藏 於 天,故 莫 之 能 傷 也。復 讎 者 不 折 鏌 干,雖 有 忮 心 者 不 怨 飄 瓦,是 以 天 下 平 均。故 無 攻 戰 之 亂,無 殺 戮 之 刑 者,由 此 道 也。不 開 人 之 天,而 開 天 之 天。 開 天 者 德 生,開 人 者 賊 生。不 厭 其 天,不 忽 於 人,民 幾 乎 以 其 真。」\nTúy giả chi trụy xa, tuy tật bất tử. Cốt tiết dữ nhơn đồng nhi phạm hại dữ nhơn dị. Kỳ thần toàn dã. Thừa diệc bất tri dã, trụy diệc bất tri dã. Tử sinh kinh cụ bất nhơn hồ kỳ hung trung, thị cố ngạc vật nhi bất tập. Bỉ đắc toàn ư tửu nhi du nhược thị, nhi huống đắc toàn ư thiên hồ! Thánh nhơn tàng ư Thiên, cố mạc chi năng thương dã. Phục thù giả bất chi mạc can, tuy hữu kỵ tâm giả bất oán phiêu ngõa. Thị dĩ thiên hạ bình quân, cố vô công chiến chi loạn vô sát lục chi hình giả. Do thử đạo dã, bất khai nhơn chi thiên nhi khai thiên chi thiên. Khai thiên giả đức sinh, khai nhơn giả tặc sinh. Bất yểm kỳ thiên, bất hốt ư nhơn, dân cơ hồ dĩ kỳ chân.\n**DỊCH NGHĨA**\nTÉ XE\n*Người say rượu té xe, tuy mang tật mà\nkhông chết. Gân cốt thì giống với mọi\nngười, mà bị hại thì sao lại khác với\nmọi người? Là vì nó giữ toàn được cái\nthần của nó. Lên xe cũng không biết, té xe cũng\nkhông hay: tử, sinh, kinh, cụ không sao vào được\ntrong lòng. Cho nên, dù có chống lại với vật mà không\nbiết sợ. Đó là kẻ đã hòa với rượu\nmà còn được như thế, huống chi là kẻ\nđã hòa được với Đạo. Bậc Thánh\nnhơn ẩn mình nơi Trời [70],\nnên không có gì hại nổi. Mình bị thương, chả\nlẽ lại bẻ gươm mà trả thù. Dù là kẻ có\ntính nóng cũng không đi oán miếng ngói rớt trên\nđầu mình. * *Bởi vậy, thiên hạ hòa bình, nên không có cái\nloạn của giặc giã, không có cái khổ của sự\nchém giết nhau nữa. Do theo con đường ấy mà\nđi, thì không nên mở cái tánh của người mà hãy\nmở cái tánh của Trời. Mở Thiên tánh thì đức\nsinh; mở Nhơn tánh thì giặc sinh. Đừng ém Thiên\ntánh, đừng diệt nó nơi người, thì\nngười dân, họa chăng mới trở lại\nsống theo cái đời sống chân thật của chúng. *\n**LỜI BÌNH**\nHòa mình với Đạo, không thấy mình và vật khác nhau, đó là cái thuật cao nhất của phép dưỡng sinh. Người say rượu sống trong tâm trạng “hỗn độn”, không phân biệt vật ngã, cho nên tuy bị té xe, mà vì không hay là bị té xe, nên vô tâm mà không chống lại với mặt đất, vì vậy mà không đến phải chết.\nNgười “hữu tâm” phân biệt vật ngã thì hay chống lại với vật ngoài, nên thường gây ra tranh chấp, dùng ý chí mà thắng vật. Hành động thành ra gượng gạo, mất tự nhiên. Cũng như người thợ lặn giỏi, lội trong nước như cá, là vì họ đã “hòa làm một” với nước mà không cần để ý đến nó và chống lại với nó. Té mà gượng lại, chống lại thì té nặng và dễ bị thương nặng. Ai đã từng tập luyện Nhu đạo (Judo) sẽ hiểu một cách sâu sắc hơn thế nào là té mà không đau và bị thương. Đó cũng là một trong nhiều nghĩa của câu “nhu nhược thắng cương cường” của Lão Tử, mà cũng là một trong những mật pháp quan trọng nhất của Nhu đạo và Nhu thuật.\nTa thường thấy, trong đạo tranh\nđấu, hễ thấy có địch, và sợ\nđịch, là đã thất thế nhiều rồi. Lão\nTử có nói:\n*“Thiện thắng giả bất dữ”*(善 勝 者 不 與).\nNgười say đã hòa cùng rượu mà được “vô tâm” và “vô vi” như thế...huống hồ kẻ đã hòa cùng Đạo thì còn vật gì hại nổi. Sự vật bên ngoài không làm xúc động được lòng, thì đạo dưỡng sinh đã thành công rồi vậy. Không thấy có vật, thì “thần toàn”: tử, sinh, kinh, cụ mà không vào được trong lòng, thì làm sao mà phải thương sinh! Ví kẻ “hòa cùng Đạo”, giống như kẻ “hòa cùng rượu” thật là khéo léo và thâm viễn, nhưng cũng rất khó cho những ai chỉ hiểu theo văn tự mà chẳng biết “quên lời” (忘 言)nghĩa là hiểu ngoài văn tự.\n⸈⸈⸈\n\n紀 渻 子 為 王 養 鬭 雞。十 日 而 問:「雞 已 乎 ?」\n曰:「未 也,方 虛 憍 而 恃 氣。」 十 日 又 問。\n曰:「未 也,猶 應 嚮 景。」 十 日 又 問。\n曰:「未 也,猶 疾 視 而 盛 氣。」 十 日 又 問。\n曰:「幾 矣,雞 雖 有 鳴 者,已 無 變 矣,望 之 似 木 雞 矣,其 德 全 矣。異 雞 無 敢 應 者, 反 走 矣。」\n(達 生)\nKỷ Tỉnh Tử vi vương dưỡng đấu kê. Thập nhật nhi vấn kê dĩ hồ?\nViết: “Vị dã. Phương hư kiêu nhi thị khí.” Thập nhật hựu vấn.\nViết: “Vị dã. Du ứng hướng cảnh”. Thập nhật hựu vấn.\nViết: “Vị dã. Du tật thị nhi thạnh khí.” Thập nhật hựu vấn.\nViết: “Cơ hĩ. Kê tuy hữu minh giả, dĩ vô biến hĩ. Vọng chi tợ mộc kê hĩ. Kỳ đức toàn hĩ. Dị kê vô cảm ứng giả, phản tẩu hĩ.”\n(Đạt Sinh)\n⸈⸈⸈\n**CHÚ**\nChương nầy giống hệt với\nmột chương trong sách\n*Liệt Tử*, ở\nthiên Hoàng Đế 黃 帝, xin chép sau\nđây để so sánh:\n(紀 渻 子 為(周 宣)王 養 鬭 雞。十 日 而 問 雞(可 鬭)已 乎 ? 曰:未 也。方 虛 驕 而 恃 氣。十 日 又 問,曰:未 也,猶 應(影 響)。十 日 又 問,曰:未 也,猶 疾 視 而 盛 氣。十 日 又 問,曰:幾 矣,雞 雖 有 鳴 者,已 無 變 矣,望 之 似 木 雞 矣,其 德 全 矣。異 雞 無 敵 應 者, 反 走 耳。)\nNên để\ný: nhiều chương ở Ngoại thiên và Tạp thiên\nsách\n*Trang Tử*, trùng với sách *Liệt\nTử *như trên đây.\n**DỊCH NGHĨA**\nGÀ ĐÁ ĐỘ\n*Kỷ Tỉnh Tử lãnh phần tập gà đá\ncho vua. * *Được mười ngày, hỏi thăm,\nđã xong chưa? * *Đáp: “Chưa! Hãy còn kiêu khí.” Mười ngày\nnữa, lại hỏi thăm. * *Đáp: “Chưa! Còn đáp lại với vang,\nvới bóng.” Mười ngày nữa, lại hỏi thăm.\n* *Đáp: “Chưa! Mắt nhìn còn hăng và khí còn\nthịnh lắm.” Mười ngày nữa, lại hỏi\nthăm. * *Đáp: “Sắp được rồi. Nghe\ntiếng gà khác mà lòng nó không chao động. Nhìn nó như\nmột con gà bằng gỗ. Đức của nó toàn bị\nrồi! Gà lạ không con nào dám đối đầu\nvới nó, trông nó là đã quay đầu chạy mất\nrồi!” *\n**LỜI BÌNH**\nĐức mà toàn bị rồi, là không còn để cho ngoại vật động được lòng mình nữa(不 以 外 物 動 其 心 也).\nĐây là bàn đến mức tận thiện\ncủa đạo dưỡng sinh: tu tập đến\ntinh thần điềm đạm chí cực. Ở thiên\nĐạo Sinh của\n*Hoàng Đế Nội Kinh *có\nviết: *“Điềm đạm hư vô, Chân khí tùng chi,\nTinh thần nội thủ, Bệnh an tùng lai.” * *“Điềm đạm hư vô” *là nói về\nchỗ chí cực điềm tĩnh.” *Tinh thần nội\nthủ” *là giữ bên trong bình thản, không cho\nngoại vật làm xao xuyến, động cảm. Được\nthế thì đạo dưỡng sinh sẽ thành công và tránh\nđược bệnh tật. (Xem lại phần Tổng\nbình thiên Dưỡng Sinh Chủ).\n⸈⸈⸈\n\n莊 子 妻 死,惠 子 弔 之,莊 子 則 方 箕 踞 鼓 盆 而 歌。\n惠 子 曰:「與 人 居,長 子 老 身,死 不 哭 亦 足 矣,又 鼓 盆 而 歌,不 亦 甚 乎!」\n莊 子 曰:「不 然。是 其 始 死 也,我 獨 何 能 無 概 然!察 其 始 而 本 無 生,非 徒 無 生 也, 而 本 無 形 ﹔ 非 徙 無 形 也,而 本 無 氣。雜 乎 芒 芴 之 間,變 而 有 氣,氣 變 而 有 形,形 變 而 有 生。今 又 變 而 之 死。是 相 與 為 春 秋 冬 夏 四 時 行 也。人 且 偃 然 寢 於 巨 室,而 我 噭 噭 然 隨 而 哭 之,自 以 為 不 通 乎 命,故 止 也。」\n(至樂)\nTrang Tử thê tử, Huệ Tử điếu chi, Trang Tử tắc phương ky cứ cổ bồn nhi ca.\nHuệ Tử viết: “Dữ nhơn cư, trưởng tử lão thân tử bất khốc diệc túc hĩ. Hựu cổ bồn nhi ca, bất diệc thậm hồ?”\nTrang Tử viết: “Bất nhiên. Thị kỳ thủy tử dã, ngã độc hà năng vô khái. Nhiên sát kỳ thủy nhi bổn vô sinh, phi đồ vô sinh dã, nhi bổn vô hình, phi đồ vô hình dã, nhi bổn vô khí. Tạp hồ hoảng hốt chi gian, biến nhi hữu khí, khí biến nhi hữu hình; hình biến nhi hữu sinh; kim hựu biến nhi chi tử, thị tương dữ vi xuân thu đông hạ tứ thời hành dã. Nhơn thả yển nhiên tẩm ư cự thất, nhi ngã kiếu kiếu nhiên tùy nhi khốc chi, tự dĩ vi bất thông hồ mạng, cố chỉ dã.”\n(Chí Lạc)\n**DỊCH NGHĨA**\nVỖ BỒN\n*Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử\nđến điếu, thấy Trang Tử ngồi duỗi\nchân, vỗ bồn mà ca. * *Huệ Tử nói: “Cùng người ở tới\ngià, có con lớn mà người chết lại không khóc,\ncũng đã là quá rồi, lại còn vỗ bồn ca, không\nphải thái quá sao?” * *Trang Tử nói: “Không. Lúc nàng mới chết, tôi sao\nchẳng động lòng. Nhưng nghĩ lại hồi\ntrước, đó vốn là không sinh. Chẳng những là\nkhông sinh, mà đó vốn là không hình. Chẳng những là\nkhông hình, mà đó vốn là không khí. Đó chẳng qua là\ntạp chất ở trong hư không biến ra mà có khí, khí\nbiến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại\nbiến ra nữa mà có tử. Sinh, hình, khí, tử có khác nào\nxuân, hạ, thu, đông, bốn mùa hành vận. Vả\nlại, người ta nay đã nghỉ yên nơi Nhà\nLớn mà tôi cứ than khóc chẳng là tự tôi không thông\nMạng ư? Nên tôi không khóc.” *\n⸈⸈⸈\n\n昔 者 海 鳥 止 於 魯 郊,魯 侯 御 而 觴 之 于 廟,奏 九 韶 以 為 樂,具 太 牢 以 為 膳。鳥 乃 眩 視 憂 悲,不 敢 食 一 臠,不 敢 飲 一 杯,三 日 而 死。\n此 以 己 養 養 鳥 也,非 以 鳥 養 養 鳥 也。夫 以 鳥 養 養 鳥 者,宜 栖 之 深 林,遊 之 壇 陸,浮 之 江 湖,食 之 鰌 鰷,隨 行 列 而 止,委 蛇 而 處。 彼 唯 人 言 之 惡 聞,奚 以 夫 譊 譊 為 乎!\n咸 池 九 韶 之 樂,張 之 洞 庭 之 野,鳥 聞 之 而 飛,獸 聞 之 而 走,魚 聞 之 而 下 入,人 卒 聞 之,相 與 還 而 觀 之。魚 處 水 而 生,人 處 水 而 死。彼 必 相 與 異,其 好 惡 故 異 也。故 先 聖 不 一 其 能,不 同 其 事。名 止 於 實,義 設 於 適, 是 之 謂 條 達 而 福 持。\n(至 樂)\nTích giả hải điểu chỉ ư Lỗ\ngiao\n1, Lỗ hầu ngự nhi thương chi vu\nmiếu, tấu cửu thiều dĩ vi nhạc, cụ\nthái lao dĩ vi thiện. Điểu nãi huyễn thị\nưu bi, bất cảm thực nhất luyến, bất\ncảm ẩm nhất bôi, tam nhật nhi tử.\nThử dĩ kỷ dưỡng dưỡng điểu dã, phi dĩ điểu dưỡng dưỡng điểu dã. Phù dĩ điểu dưỡng dưỡng điểu giả, nghi tây chi thâm lâm du chi đàn lục, phù chi giang hồ, thực chi thu du, tùy hàng liệt nhi chỉ, ủy xà nhi xử. Bỉ duy nhơn ngôn chi ô văn, hề dĩ phù nao nao vi hồ!\nHàm Trì Cửu thiều chi nhạc, trương chi\nĐộng đình chi dã, điểu văn nhi phi, thú\nvăn chi nhi tẩu, ngư văn chi nhi hạ nhập;\nnhơn tốt văn chi, tương dữ hoàn nhi quan chi. Ngư\nxử thủy nhi sinh, nhơn xử thủy nhi tử. Bỉ\n2 tất\ntương dữ dị, kỳ hiếu ố cố\ndị dã. Cố tiên thánh bất nhất kỳ năng,\nbất đồng kỳ sự. Danh chỉ ư thực,\nnghĩa thuyết ư thích, thị chi vị điều\nđạt nhi phúc trì.\n(Chí Lạc)\n**CHÚ**\n1.\n*Giao *郊: Ngoài thành, gọi là *giao*.\n2. Có bản chép là 故.\n**DỊCH NGHĨA**\nCHIM BIỂN\n*Xưa, có con chim biển đậu ở ngoài\nthành nước Lỗ. Lỗ hầu ngự ra nghinh\ntiếp, rước về chuốc rượu ở\nđền Thái miếu, cho tấu nhạc Cửu thiều\ncho nó vui, giết trâu bò mời nó ăn. Chim ấy ngó\ndớn dác, bộ sầu bi, không dám ăn, dám uống. Cách\nba hôm thì chết. Đó là dùng cách nuôi người mà nuôi chim,\nchứ không phải dùng cách nuôi chim mà nuôi chim. Nếu dùng\ncách nuôi chim mà nuôi chim, thì phải để nó ở rừng\nsâu, dạo ngoài gò đất, trôi nổi sông hồ,\nkiếm ăn lươn cá, đỗ theo hàng liệt, ung\ndung tự thích...Cứ nghe người nói là nó không ưa\nrồi, lựa là còn đem tiếng nhạc mà làm nó kinh tâm.\nNếu đem nhạc Hàm trì, Cửu thiều mà đánh lên\nở Động Đình, thì chim nghe phải bay, thú nghe\nphải chạy, cá nghe phải lặn. Nhưng\nngười ta thì lại kéo nhau đến đó mà nghe. Cá\nở dưới nước thì sống, người\nở dưới nước thì chết. Đó và đây\nđã khác nhau, thì sự ưa ghét cũng khác nhau. Bởi\nvậy, bậc thánh ngày xưa không giống nhau về\nsở năng, nên không đồng nhau về sự\nnghiệp. Danh cốt nơi thực, nghĩa cốt ở\nchỗ vừa. Đó gọi là điều lý thông\nđạt và nắm giữ được hạnh phúc. *\n\n陽 子 之 宋,宿 於 逆 旅。逆 旅 人 有 妾 二 人, 其 一 人 美,其 一 人 惡。惡 者 貴 而 美 者 賤。 陽 子 問 其 故,逆 旅 小 子 對 曰:「其 美 者 自 美,吾 不 知 其 美 也 ﹔ 其 惡 者 自 惡,吾 不 知 其 惡 也。」\n陽 子 曰:「弟 子 記 之:行 賢 而 去 自 賢 之 行,安 往 而 不 愛 哉!」\n(山 木)\nDương Tử chi Tống, túc ư nghịch lữ. Nghịch lữ nhơn hữu thiếp nhị nhơn, kỳ nhất nhơn mỹ, kỳ nhất nhơn ác. Ác giả quý nhi mỹ giả tiện. Dương Tử vấn kỳ cố. Nghịch lữ tiểu tử đối, viết: “Kỳ mỹ giả tự mỹ ngô bất tri kỳ mỹ dã; kỳ ác giả tự ác, ngô bất tri kỳ ác dã”.\nDương Tử viết: “Đệ tử ký chi: Hành hiền nhi khứ tự hiền chi hạnh, an vãng nhi bất ái tai!”\n(Sơn Mộc)\n**DỊCH NGHĨA**\nDƯƠNG TỬ\n*Dương Tử sang nước Tống,\nnghỉ đêm tại quán khách. Chủ quán có hai\nngười thiếp, một người đẹp\nmột người xấu. Người xấu ai cũng\nquý, người đẹp ai cũng khinh. Dương\nTử hỏi duyên cớ, đứa nhỏ trong quán nói:\n“Người đẹp tự cho mình là đẹp, nên chúng\ntôi không biết là đẹp. Người xấu tự\nbiết là xấu, nên chúng tôi không thấy là xấu”. * *Dương Tử nói: “Các đệ tử hãy ghi\nlấy: Tài giỏi mà không khoe tài giỏi của mình, thì\nđến đâu mà không người thương!” *\n⸈⸈⸈\n\n黃 帝 遊 乎 赤 水 之 北,登 乎 崑 崙 之 丘,而 南 望 還 歸,遺 其 玄 珠。\n使 知 索 之 而 不 得, 使 離 朱 索 之 而 不 得,\n使 喫 詬 索 之 而 不 得 也。 乃 使 象 罔,象 罔 得 之。\n黃 帝 曰:「異 哉,象 罔 乃 可 以 得 之 乎 ?」\n(天 地)\nHoàng đế du hồ xích thủy chi bắc,\nđăng hồ Côn Lôn chi khưu, nhi nam vọng hoàn quy, di\nkỳ huyền châu\n1.\nSử Trí\n2 sách chi nhi bất đắc.\nSử Ly Châu\n3 sách chi nhi bất đắc.\nSử Khiết Cấu\n4 sách chi nhi bất\nđắc dã. Nãi sử Tượng Võng 5. Tượng\nVõng đắc chi.\nHoàng đế viết: “Dị tai, Tượng Võng nãi khả dĩ đắc chi hồ?”\n(Thiên Địa)\n**CHÚ**\n1.\n*Huyền châu *玄珠: (ngọc đen), ám chỉ\nĐạo.\nDo chữ “Huyền hựu huyền. . .” 玄又玄, tức là cái Đức Huyền.\n2.\n*Tri *知, đọc là Trí 智, ngày xưa dùng lẫn nhau.\n3.\n*Ly Châu *離朱: là người có cặp mắt\nrất tinh ngoài trăm thước, có thể nhận rõ\nđược cái lông mùa thu.\n4.\n*Khiết Cấu *喫詬: người có sức rất\nmạnh, tượng trưng sức mạnh.\n5.\n*Tượng Võng *: tức là cái\ntâm 心, tựa như có\nhình mà thực là không (似有象而實無), chỉ sự\ntrừu tượng siêu hình.\n**DỊCH NGHĨA**\nNGỌC HUYỀN\n*Hoàng đế đi chơi miền Bắc sông\nXích, lên gò Côn Lôn, trông lại hướng Nam mà trở\nvề, làm rơi mất ngọc huyền. * *Sai Trí đi tìm mà tìm không được. Sai Ly Châu\nđi tìm mà không được. * *Sai Khiết Cấu đi tìm, cũng không\nđược. Bèn sai Tượng Võng. Tượng Võng tìm\nđược. * *Hoàng đế nói: “Lạ thay! Tượng Võng\nmới có thể tìm được nó ư?” *\n(Thiên Địa)\n⸈⸈⸈\n\n顏 回 見 仲 尼,請 行。 曰:「奚 之 ?」 曰:「將 之 衛。」 曰:「奚 為 焉 ?」\n曰:「回 聞 衛 君,其 年 壯,其 行 獨,輕 用 其 國,而 不 見 其 過,輕 用 民 死,死 者 以 國 量 乎 澤 若 蕉,民 其 無 如 矣。回 嘗 聞 之 夫 子 曰:『 治 國 去 之,亂 國 就 之,醫 門 多 疾 』。 願 以 所 聞 思 其 則,庶 幾 其 國 有 瘳 乎!」\n仲 尼 曰:「譆,若 殆 往 而 刑 耳!夫 道 不 欲 雜,雜 則 多,多 則 擾,擾 則 憂,憂 而 不 救。 古 之 至 人,先 存 諸 己 而 後 存 諸 人。所 存 於 己 者 未 定,何 暇 至 於 暴 人 之 所 行!」\n且 若 亦 知 夫 德 之 所 蕩 而 知 之 所 為 出 乎 哉 ? 德 蕩 乎 名,知 出 乎 爭。名 也 者,相 札 也 ; 知 也 者,爭 之 器 也。二 者 凶 器,非 所 以 盡 行 也。\n且 德 厚 信 矼,未 達 人 氣 ; 名 聞 不 爭,未 達 人 心。而 強 以 仁 義 繩 墨 之 言 術 暴 人 之 前 者 也,是 以 人 惡 有 其 美 也。\n命 之 曰 菑 人。菑 人 者,人 必 反 菑 之,若 殆 為 人 菑 夫!且 苟 為 悅 賢 而 惡 不 肖,惡 用 而 求 有 以 異 ? 若 唯 無 詔,王 公 必 將 乘 人 而 鬪 其 捷。而 目 將 熒 之,而 色 將 平 之,口 將 營 之,容 將 形 之,心 且 成 之。是 以 火 救 火,以 水 救 水,名 之 曰 益 多。順 始 無 窮,若 殆 以 不 信 厚 言,必 死 於 暴 人 之 前 矣!\n且 昔 者 桀 殺 關 龍 逢,紂 殺 王 子 比 干,是 皆 修 其 身 以 下 傴 拊 人 之 民,以 下 拂 其 上 者 也。\n故 其 君 因 其 修 以 擠 之。是 好 名 者 也。昔 者 堯 攻 叢 枝,胥 敖,禹 攻 有 扈,國 為 虛 厲, 身 為 刑 戮,其 用 兵 不 止,其 求 實 無 已,是 皆 求 名 實 者 也,而 獨 不 聞 之 乎!名 實 者,聖 人 之 所 不 能 勝 也,而 況 若 乎!雖 有 若 必 有 以 也,嘗 以 語 我 來!\n顏 回 曰:「端 而 虛,勉 而 一,則 可 乎 ?」 曰:「惡!惡 可!夫 以 陽 為 充 孔 揚,采 色\n不 定,常 人 之 所 不 違,因 案 人 之 所 感,以\n求 容 與 其 心。名 之 曰 日 漸 之 德 不 成,而 況 大 德 乎!將 執 而 不 化,外 合 而 內 不 訾,其 庸 詎 可 乎!」\n曰:「然 則 我 內 直 而 外 曲,成 而 上 比。內 直 者,與 天 為 徒。與 天 為 徒 者,知 天 子 之 與 己 皆 天 之 所 子,而 獨 以 己 言 蘄 乎 而 人 善 之,蘄 乎 而 人 不 善 之 邪 ? 若 然 者,人 謂 之 童 子。是 之 謂 與 天 為 徒。外 曲 者,與 人 之 為 徒 也。擎 跽 曲 拳,人 臣 之 禮 也,人 皆 為 之,吾 敢 不 為 邪 ? 為 人 之 所 為 者,人 亦 無 疵 焉。是 之 謂 與 人 為 徒。成 而 上 比 者,與 古 為 徒。其 言 雖 教,讁 之 實 也。古 之 有 也,非\n吾 有 也。若 然 者,雖 直 不 為 病。是 之 謂 與 古 為 徒。若 是 則 可 乎 ?」\n仲 尼 曰:「惡!惡 可!太 多 政 法 而 不 諜, 雖 固 亦 無 罪。雖 然,止 是 耳 矣,夫 胡 可 以 及 化,猶 師 心 者 也。」\n顏 回 曰:「吾 無 以 進 矣,敢 問 其 方。」 仲 尼 曰:「齋,吾 將 語 若。有 而 為 之,其\n易 邪 ? 易 之 者,皞 天 不 宜。」\n顏 回 曰:「回 之 家 貧,唯 不 飲 酒,不 茹 葷 者 數 月 矣。如 此,則 可 以 為 齋 乎 ?」\n曰:「是 祭 祀 之 齋,非 心 齋 也。」 回 曰:「敢 問 心 齋。」\n仲 尼 曰:「若 一 志,無 聽 之 以 耳 而 聽 之 以 心,無 聽 之 以 心 而 聽 之 以 氣!聽 止 於 耳, 心 止 於 符。氣 也 者,虛 而 待 物 者 也。唯 道 集 虛。虛 者,心 齋 也。」\n顏 回 曰:「回 之 未 始 得 使,實 自 回 也:得 使 之 也,未 始 有 回 也 ; 可 謂 虛 乎 ?」\n夫 子 曰:「盡 矣。吾 語 若!若 能 入 遊 其 樊 而 無 感 其 名,入 則 嗚,不 入 則 止。無 門 無 毒。一 宅 而 寓 於 不 得 已,則 幾 矣。絕 迹 易, 無 行 地 難。為 人 使,易 以 偽 為 天 使,難 以 偽。聞 以 有 翼 飛 者 矣,未 聞 以 無 翼 飛 者 也\n; 聞 以 有 知 知 者 矣,未 聞 以 無 知 知 者 也。 瞻 彼 闋 者,虛 室 生 白,吉 祥 止 止。夫 且 不 止,是 之 謂 坐 馳。夫 徇 耳 目 內 通 而 外 於 心 知,鬼 神 將 來 舍,而 況 人 乎!是 萬 物 之 化 也,禹 舜 之 所 紐 也,伏 戲 几 蘧 之 所 行 終, 而 況 散 焉 者 乎!」\n(人 間 世)\nNhan Hồi kiến Trọng Ni, thỉnh hành. Viết: “Hề chi?”\nViết: “Tương chi Vệ.” Viết: “Hề vi yên.”\nViết: “Hồi văn vệ quân kỳ niên tráng, kỳ hành độc, khinh dụng kỳ quốc nhi bất kiến kỳ quá, khinh dụng dân tử. Tử giả dĩ quốc lượng hồ trạch nhược tiêu dân kỳ vô như hĩ”. Hồi thường văn chi phu tử viết: “Trị quốc khứ chi, loạn quốc tựu chi”. Y môn đa tật nguyện dĩ sở văn tư kỳ tắc thứ cơ kỳ quốc hữu sưu hồ.”\nTrọng Ni viết: “Hi, nhược đãi vãng nhi hình nhĩ. Phù Đạo bất dục tạp, tạp tắc đa, đa tắc nhiễu, nhiễu tắc ưu, ưu nhi bất cứu. Cổ chi chí nhơn, tiên tồn chư kỷ nhi hậu tồn chư nhơn. Sở tồn ư kỷ giả vị định, hà hạ chí ư bạo nhơn chi sở hành.”\n⸈⸈⸈\nThả nhược diệc tri phù đức chi sở đảng nhi trí chi sở vi xuất hồ tai. Đức đảng hồ danh, trí xuất hồ tranh. Danh dã giả tương trát dã. Trí dã giả tranh chi khí dã, nhị giả hung khí, phi sở dĩ tận hành dã.\nThả đức hậu tín không, vị đạt nhơn khí. Danh văn bất tranh, vị đạt nhơn tâm. Nhi cưỡng dĩ nhân nghĩa thằng mặc chi ngôn, thuật bạo nhơn chi tiền giả dã, thị dĩ nhơn ố hữu kỳ mỹ dã.\nMạng chi viết tri nhơn. Tri nhơn giả, nhơn tất phản tri chi. Nhược đãi vi nhơn tri phù. Thả cẩu vi duyệt hiền nhi ố bất tiếu, ô dụng nhi cầu hữu dĩ dị. Nhược duy vô chiếu, vương công tất tương thừa nhơn, nhi đấu kỳ thiệp, nhi mục tương huynh chi, nhi sắc tương bình chi, khẩu tương doanh chi, dung tương hình chi, tâm thả thành chi. Thị dĩ hỏa cứu hỏa, dĩ thủy cứu thủy. Danh chi viết ích đa, thuận thủy vô cùng. Nhược đãi dĩ bất tín hậu ngôn, tất tử ư bạo nhơn chi tiền hĩ.\nThả tích giả Kiệt Sát Quan Long Bồng, Trụ sát vương tử Tỷ Can, thị giai tu kỳ thân, dĩ hạ ứ, phủ nhơn chi dân, dĩ hạ phất kỳ thượng giả dã.\nCố kỳ quân nhân kỳ tu dĩ tế chi, thị hiếu danh giả dã. Tích giả Nghiêu công Tùng Chi, Tư ngao, Vũ công Hữu Hộ, quốc vi hư lệ, thân vi hình lục, kỳ dụng binh bất chỉ kỳ cầu thực vô dĩ. Thị giai cầu danh thực giả dã. Nhi độc bất văn chi hồ. Danh thực giả thánh nhơn chi sở bất năng thắng dã, nhi huống nhược hồ! Tuy hữu nhược tất hữu dĩ dã, thường dĩ ngữ ngã lai.\nNhan Hồi viết: “Đoan nhi hư, miễn nhi nhất, tắc khả hồ.”\nViết: “Ô, ô khả? Phù dĩ dương vi sung khổng dương, thể sắc bất định thường nhơn chi sở bất vi. Nhân án nhơn chi sở cảm dĩ cầu dung dữ kỳ tâm”. Danh chi viết: “Nhật tiệm chi đức. Bất thành nhi huống đại đức hồ. Tương chấp nhi bất hóa, ngoại hợp nhi nội bất ti kỳ dung cự khả hồ?”\nViết: “Nhiên tắc ngã nội trực nhi ngoại khúc, thành nhi thượng tỉ. Nội trực giả, dữ thiên vi đồ. Dữ thiên vi đồ giả, tri thiên tử chi dữ kỷ. Giai thiên chi sở tử, nhi độc dĩ kỷ ngôn, kỳ hồ nhi nhơn thiện chi, kỳ hồ nhi nhơn bất thiện chi da? Nhược nhiên giả, nhơn vị chi đồng tử thị chi vị dữ thiên vi đồ. Ngoại khúc giả, dữ nhơn chi vi đồ dã. Kình kỵ khúc quyên nhơn thần chi lễ dã. Nhơn giai vị chi ngô cảm bất vi da? Vi nhơn chi sở vi giả nhơn diệc vô tì yên thị chi vị dữ nhơn vi đồ. Thành nhi thượng tỉ giả dữ cổ vi đồ. Kỳ ngôn tuy giáo trích chi, thực dã cổ chi hữu dã, phi ngô hữu dã. Nhược nhiên giả tuy trực bất vi bệnh, thị chi vị dữ cổ vi đồ. Nhược thị tắc khả hồ?”\nTrọng Ni viết: “Ô, ô khả, thái đa chính pháp nhi bất điệp, tuy cố diệc vô tội. Tuy nhiên, chỉ thị nhĩ hĩ. Phù hồ khả dĩ cập hóa, du sư tâm giả dã.”\nNhan Hồi viết: “Ngô vô dĩ tiến hĩ. Cảm vấn kỳ phương.”\nTrọng Ni viết: “Trai. Ngô tương ngứ nhược, hữu nhi vi chi, kỳ dị da. Dị chi giả hạo thiên bất nghi.”\nNhan Hồi viết: “Hồi chi gia bần, duy bất ẩm tửu bất nhữ huân giả sổ nguyệt hĩ. Nhược thử tắc khả dĩ vi trai hồ?”\nViết: “Thị tế tự chi trai, phi tâm trai dã.” Hồi viết: “Cảm vấn tâm trai.”\nTrọng Ni viết: “Nhược nhất chí, vô thính chi dĩ nhĩ, nhi thính chi dĩ tâm. Vô thính chi dĩ tâm, nhi thính chi dĩ khí. Thính chỉ ư nhĩ, tâm chỉ ư phù. Khí dã giả, hư nhi đãi vật giả dã. Duy Đạo tập hư, hư giả tâm trai dã.”\nNhan Hồi viết: “Hồi chi vị thủy đắc sử, thực tự Hồi dã.\nĐắc sử chi dã, vị thủy hữu Hồi dã. Khả vị hư hồ?”\nPhu tử viết: “Tận hĩ. Ngô ngứ nhược. Nhược năng nhập du kỳ phàn nhi vô cảm kỳ danh, nhập tắc minh bất nhập tắc chỉ, vô môn vô độc, nhất trạch nhi ngụ ư bất đắc dĩ, tắc cơ hĩ. Tuyệt tích dị, vô hành địa nan. Vi nhơn sử, dị dĩ ngụy vi thiên sử. Nan dĩ ngụy, văn dĩ hữu dực phi giả hĩ, vị văn dĩ vô dực phi giả dã. Văn dĩ hữu trí tri giả hĩ, vị văn dĩ vô trí tri giả dã. Chiêm bỉ khuyết giả, hư thất sinh bạch. Kiết tường chỉ chỉ, phù thả bất chỉ, thị chi vị tọa trì. Phù tuần nhĩ mục nội thông nhi ngoại ư tâm tri, quỉ thần tương lai xá, nhi huống nhơn hồ. Thị vạn vật chi hóa dã, Vũ Thuấn chi sở nựu dã. Phục Hi Kỷ Cừ chi sở hành chung nhi huống tán yên giả hồ.”\n(Nhơn Gian Thế)\n**DỊCH NGHĨA**\nCHAY LÒNG\n*Nhan Hồi ra mắt Trọng Ni, xin ra đi. Hỏi:\n“Đi đâu?” * *Thưa: “Đi qua nước Vệ.” Hỏi: “Qua\nđó làm gì?” * *Thưa: “Hồi tôi nghe vua nước Vệ,\ntuổi còn niên tráng, hành động độc tài, khinh\nthường người trong nước, không chịu ai\nchỉ lỗi của mình và lại xem nhẹ cái chết\ncủa nhân dân. Cho nên kẻ chết ngổn ngang...người\ndân chắc là không chịu nổi. Hồi tôi thường\nnghe Thầy bảo: Nước mà trị, thì bỏ mà\nđi; nước mà loạn, thì tìm mà đến. Chính vì\nngười bệnh mà người lương y tìm\nđến. Tôi muốn đem chỗ học\nđược của tôi ở Thầy mà nghĩ ra phép\ncứu nước, may ra có đỡ được\nphần nào chăng?” * *Trọng Ni nói: “Ôi! Ngươi đi đây là\nđể chuốc họa vào thân. Đạo thì không\nmuốn có sự phức tạp, phức tạp\nthì đa đoan, đa đoan thì phiền nhiễu,\nphiền nhiễu thì lo âu, lo âu thì không phương cứu\nchữa. Bậc chí nhơn ngày xưa, trước lo cho\nmình, rồi sau mới lo cho người. Lo cho mình mà chưa\nxong, rảnh đâu lo cho kẻ bạongược. * *Vả chăng, ngươi có biết chỗ mà\nĐức sẽ đưa đẩy đến không?\nChỗ mà Trí nẩy sinh không? Đức, thì sẽ\nđưa đến danh; Trí, thì nẩy sinh nơi chỗ\ntranh giành. Danh là cái để mà khuynh đảo nhau. Trí là\ncái khí cụ để mà tranh giành với nhau. Hai cái đó\nlà những món đồ nguy hiểm, không phải là\nnhững món đưa ta đến chỗ hoàn thiện (...)*\n⸈⸈⸈\n* (...) Xưa, vua\nKiệt giết Quan Long Bồng, vua Trụ giết\nVương tử là Tỷ Can. Hai người ấy\nđều là kẻ vì dân mà làm trái ý kẻ bề trên. Đó\nlà hạng người tham danh. Còn như vua Nghiêu đánh\nTùng Chi, Tư Ngao; vua Vũ đánh Hữu Hộ cũng\nkhông làm sao cải hoán được những kẻ\nbạo ngược ấy đừng tham danh tham lợi. Ngươi\nriêng chẳng nghe biết việc ấy sao? Danh lợi là\nnhững thứ mà Thánh nhơn cũng không trừ diệt\nđược huống chi là người! Tuy nhiên có lẽ\nngươi cũng có phương thế nào khác, thử nói\nta nghe.” * *Nhan Hồi nói: “Lời thì đoan chính, mà bụng\nthì hư không, cố mà khuyên can, nhưng lòng thì chuyên\nnhất. Như thế, có được không?” * *Trọng Ni nói: “Ôi! Sao được mà\nđược! Cái khí kiêu căng của người\nấy đầy bên trong, lộ cả bên ngoài, sắc\ndiện mỗi lúc mỗi thay, thời thường không ai\ndám trái ý. Hắn xem thường lời can ngăn, chỉ\ncần được thỏa ý vừa lòng. Hạng\nngười như thế, dù hằng ngày dùng tiểu\nđức để mà hóa còn chưa xong, huống hồ là\ndùng đại đức. * *Còn nếu có chiều ta mà nghe, thì nghe mà không\nchịu: ngoài thì làm như hợp mà bên trong không bao giờ\ntin.” * *Nhan Hồi nói: “Vậy thì, trong ngay thẳng mà\nngoài mềm dẻo, thành thực mà hợp ý với bề\ntrên, có thể cảm được ông ta chăng, vì ông ta\ncũng như tôi, đều là con của Trời cả. Hoặc\nkhông tìm cách làm cho đẹp lòng, tôi sẽ đem\nĐạo Trời mà nói, một cách ngây thơ như\nđứa trẻ. Bề ngoài tôi sẽ mềm dẻo cung\nkính đem cái đạo của người xưa mà bàn\nkhéo, như thế ông ta không thể giận tôi, vì đâu\nphải của tôi. Làm như vậy, có được\nkhông?” * *Trọng Ni nói: “Ồ! Sao được mà\nđược! Nhiều chínhpháp quá. Dù không mắc tội,\ncũng không làm sao cảm hóa kẻ ấy được.” * *Nhan Hồi nói: “Vậy thì tôi không còn cách nào hơn\nđược nữa. Dám hỏi Thầy có phương\npháp nào?” * *Trọng Ni nói: “Có phép *chay tịnh *. Ta\nsẽ nói cho mà biết, nhưng đâu phải là dễ. Kẻ\nnào bảo là dễ, lại không hợp với lẽ\nTrời!” * *Nhan Hồi nói: “Nhà của Hồi thì nghèo, không\nuống rượu, không ăn hành, tỏi có cả mấy\ntháng nay rồi. Có thể gọi là chay tịnh\nđược chăng?” * *Trọng Ni nói: “Đó là cách chay tịnh để\ncúng tế, không phải là tâm trai.” * *Nhan Hồi nói: “Dám xin hỏi, sao là tâm trai?” * *Trọng Ni nói: “Hãy chuyên tâm nhất chí. Đừng\nnghe bằng tai, mà nghe bằng lòng. Đừng nghe bằng\nlòng, mà nghe bằng khí. Điều gì mình nghe, hãy để\nnó dừng ở ngoài tai, còn lòng thì hợp nhất nó lại.\nKhí, là cái hư không để mà tiếp vật. Chỉ có\nHư mới nhận được Đạo Hư không,\ntức là tâm trai đấy!” * *Nhan Hồi nói: “Lúc Hồi chưa được\nnó, thì rõ là thấy có Hồi. Nhưng khi được nó\nrồi, thì lại thấy là chưa từng có Hồi. Nhưng\nthế có thể gọi đó là Hư không chưa?” * *Trọng Ni nói: “Đúng lắm! Để ta nói cho\nngươi rõhơn: ngươi đừng để\nnhập vào trong những gì cảm được mà có tên. Phàm\nđể cho nó nhập vào được, thì nó dấy lên\nkhông dễ gì bắt nó dừng lại; cũng như thà\nđừng có đi, chứ đã đi thì khó mà bôi bỏ\nđược những dấu bước của mình. Cái\ngì thuộc về nhơn vi là giả tạo, là vô hiệu. Chỉ\ncó thiên nhiên là chân thật, là hữu hiệu thôi: nghe\nrằng có cánh mới bay được, chưa từng\nnghe không cánh mà bay; nghe rằng có trí mới biết, chưa\ntừng nghe không trí mà biết. Kìa xem, nhờ nơi lỗ\nhở nhà trống mà ánh sáng dọi vào khoảng không và\nđọng lại đó. Nếu lại không đọng\nlại, thì gọi là “tọa trì”. Lòng mà hư không, biết\nbỏ cả ngoại vật ra ngoài không cho theo tai mắt\nmà nhập vào trong, thì quỷ thần cũng cùng\nđến, huống chi là con người. Đó gọi là\nphép hóa vạn vật, phép mà Thuấn Vũ đã nắm\ngiữ, Phục Hy, Kỷ Cù làm theo suốt đời,\nhuống chi là kẻ khác.” *\n(Nhơn Gian Thế)\n**LỜI BÌNH**\nChương nầy đồng một ý với\nnhà Phật trong câu:\n*“Tự giác nhi giác tha”*.\nTrang Tử bày ra câu chuyện Nhan Hồi, một\ncao đồ của Khổng Tử, mong đi du thuyết\nvua nước Vệ để cải ác tùng thiện\nbạo chúa. Nhưng Khổng Tử can ngăn (dĩ nhiên\nđây là Khổng Tử đứng theo lập\ntrường của Trang Tử để giảng về\nĐạo học).”\n*Bậc chí nhơn ngày xưa,\ntrước lo cho mình, rồi sau mới lo cho người. Lo\ncho người mà chưa xong, rảnh đâu lo cho kẻ\nbạo ngược”. *Ông cực lực bài bác cái\nphương thuật dùng trí mưu mà khuynh đảo trí\nmưu: *“Danh là cái để mà khuynh đảo nhau. Trí là\ncái khí cụ để mà tranh giành nhau. Hai cái đó là\nnhững món đồ nguy hiểm, không phải là những\nmón đưa ta đến hoàn thiện.” *\n\n山 木 自 寇 也, 膏 火 自 煎 也。\n桂 可 食,故 伐 之 ; 漆 可 用,故 割 之。\n人 皆 知 有 用 之 用,而 莫 知 無 用 之 用 也。\n(人 間 世)\n*Sơn mộc 1 tự khấu dã; Cao\nhỏa tự tiên dã. * *Quế 2 khả thực, cố\nphạt chi; Tất khả dụng, cố cát chi. * *Nhơn giai tri hữu dụng chi dụng, nhi\nmạc tri vô dụng chi dụng dã. *\n(Nhơn Gian Thế)\n**CHÚ**\n1.\n*Sơn mộc *山 木: có người\ndịch là “cây trong núi” (gỗ núi) (bản dịch của\nNhượng Tống). Nhưng, theo thiển ý, cần\nphải dịch là “núi chứa cây” để cho ý văn trên\ndưới được nhất trí: *Sơn mộc tự khấu dã*; *Cao hỏa tự tiên dã. *\nCao 膏, tức là mỡ. Mỡ, tự nó có chứa chất dẫn hỏa, nên tự nó làm cho nó bị thiêu đốt, cũng như núi tự nó chứa gỗ quý, nên tự nó vời cái họa bị người ta đến đốn phá. Bản của Nhượng Tống dịch câu nầy là:\n*“Dầu lửa tự làm cho đốt mình”*: Dầu lửa\ntự nó có chứa chất dẫn hỏa. Nhưng, theo\nchánh văn, thì chữ “cao” có nghĩa là *mỡ*. Ở\nđây Nhượng Tống dịch ý chứ không chấp\nvăn, tuy vậy, cũng không sai ý chính của Trang Tử. Như\nthế, thì câu trên cũng nên dịch “núi có cây”, để\ncho *núi *làm chủ từ của câu văn cũng\nnhư câu dưới, *mỡ *dùng làm chủ\ntừ cho câu văn.\n2. Quế, là cây quế: vỏ nó có chứa chất dầu dùng để làm món gia vị, và cũng là một chất thuốc quý. Cùng một nghĩa với hai câu trên vì nó tự chứa một thứ chất quý nên mới tự vời cái họa bị người chặt đốn. Cây sơn cũng thế.\n**DỊCH NGHĨA**\nSƠN MỘC\n*Núi chứa cây là tự vời người\nđến đốn phá. Mỡ chứa lửa là tự\nlàm cho mình bị thiêu đốt. Cây quế ăn\nđược, nên bị chặt. * *Cây sơn dùng được, nên bị cắt. * *Người ta đều biết dùng cái dùng\nđược, mà không ai biết dùng cái không dùng\nđược. *\n(Nhơn Gian Thế)\n**LỜI BÌNH**\nVì núi có chứa gỗ quý nên mới bị người ta kéo đến tàn phá. Thịt mỡ treo trên ngọn lửa, thì chính mấy giọt mỡ của nó châm cho lửa cháy lên mà thiêu đốt lại nó. Cây quế sở dĩ bị chặt, bị đốn là vì da nó ăn ngon. Cây sơn bị cắt, bị khứa là vì cái nhựa của nó dùng làm nước sơn rất tốt.\nThiên hạ phần đông tưởng lầm rằng được người người biết đến tài hay sắc đẹp của mình là điều đại phúc trong đời! Nhưng người ta đâu có dè, đó lại là cái đại họa cho đời mình! Thế mà thiên hạ phần đông chỉ nơm nớp lo sợ không ai biết được tài hay sắc đẹp của mình! Người ta thường chỉ biết cái hay của cái hữu dụng, mà không biết để ý đến cái hay của cái vô dụng! Có tài mà để cho người người thấy được cái tài của mình là nguy.\n⸈⸈⸈\n\n莊 子 行 於 山 中,見 大 木,枝 葉 盛 茂。伐 木 者 止 其 旁 而 不 取 也。問 其 故,曰:「無 所 可 用。」\n莊 子 曰:「此 木 以 不 材 得 終 其 天 年。」 夫 子 出 於 山,舍 於 故 人 之 家。故 人 喜,命\n豎 子 殺 雁 而 烹 之。豎 子 請 曰:「其 一 能 鳴,\n其 一 不 能 鳴,請 奚 殺 ?」\n主 人 曰:「殺 不 能 鳴 者。」 明 日,弟 子 問 於 莊 子 曰:「昨 日 山 中 之 木,以 不 材 得 終 其 天 年 ﹔ 今 主 人 之 雁,以 不 材 死。先 生 將 何 處 ?」\n莊 子 笑 曰:「周 將 處 夫 材 與 不 材 之 間。材 與 不 材 之 間,似 之 而 非 也,故 未 免 乎 累。若 夫 乘 道 德 而 浮 遊 則 不 然,無 譽 無 訾,一 龍 一 蛇,與 時 俱 化,而 無 肯 專 為,一 上 一 下, 以 和 為 量,浮 遊 乎 萬 物 之 祖。物 物 而 不 物 於 物,則 胡 可 得 而 累 邪!此 神 農 黃 帝 之 法 則 也。若 夫 萬 物 之 情,人 倫 之 傳,則 不 然。 合 則 離,成 則 毀,廉 則 挫,尊 則 議,有 為 則 虧,賢 則 謀,不 肖 則 欺。胡 可 得 而 必 乎 哉! 悲 夫,弟 子 志 之,其 唯 道 德 之 鄉 乎!」\n(山 木)\nTrang Tử hành ư sơn trung, kiến đại mộc, chi diệp thạnh mậu. Phạt mộc giả chỉ kỳ bàng, nhi bất thủ dã. Vấn kỳ cố, viết: “Vô sở khả dụng.”\nTrang Tử viết: “Thử mộc dĩ bất tài, đắc chung kỳ thiên niên.”\nPhu tử xuất ư sơn, xá ư cố nhơn chi gia. Cố nhơn hỉ, mạng thụ tử sát nhạn nhi phanh chi. Thụ tử thỉnh viết: “Kỳ nhất năng minh, kỳ nhất bất năng minh, thỉnh hề sát?”\nChủ nhơn viết: “Sát bất năng minh giả. Minh nhật đệ tử vấn ư Trang Tử viết: “Tạc nhật sơn trung chi mộc, dĩ bất tài, đắc chung kỳ thiên niên. Kim chủ nhơn chi nhạn, dĩ bất tài tử. Tiên sinh tương hà xử.”\nTrang Tử tiếu viết: “Châu tương xử phù tài dữ bất tài chi gian. Tài dữ bất tài chi gian, tợ chi nhi phi dã. Cố vị miễn hồ lụy. Nhược phù thừa đạo đức nhi phù du, tắc bất nhiên, vô dự vô tỉ, nhất long nhất xà, dữ thời câu hóa nhi vô khẳng chuyên vi nhất thượng nhất hạ dĩ hòa vi lượng. Phù du hồ vạn vật chi tổ, vật vật nhi bất vật ư vật, tắc hồ khả đắc nhi lụy da. Thử Thần Nông Hoàng Đế chi pháp tắc dã. Nhược phù vạn vật chi tình, nhơn luân chi truyền tắc bất nhiên. Hợp tắc ly, thành tắc hủy, liêm tắc tỏa, tôn tắc nghị, hữu vi tắc khuy, hiền tắc mưu, bất tiếu tắc khi. Hồ khả đắc nhi tất hồ tai. Bi phù. Đệ tử chí chi, kỳ duy đạo đức chi hương hồ.”\n(Sơn Mộc)\n**DỊCH NGHĨA**\nCÂY TRÊN NÚI\n*Trang Tử đi trên núi, thấy một cây\nlớn, cành lá rậm rà. Người thợ đốn cây,\nđứng một bên mà không đốn. Hỏi duyên\ncớ, thì thưa rằng: “Không dùng đặng chỗ nào\nhết.” * *Trang Tử nói: “Cây nầy vì bất tài mà\nđược hưởng tận tuổi trời.” * *Ra khỏi núi, Trang Tử ghé nghỉ nơi nhà\nngười quen. Người quen mừng rỡ, hối\ntrẻ giết nhạn để đãi khách. Trẻ\nthưa: “Một con biết gáy, một con không biết gáy. Giết\ncon nào?” * *Chủ nhơn nói: “Giết con không biết gáy.”\nBữa sau, đệ tử hỏi Trang Tử: * **- ** *Hôm qua, cái cây trong núi nhờ bất tài mà sống\ntận được tuổi trời. Nay con nhạn\ncủa chủ nhơn, thì vì bất tài mà chết. Như\nthế, ở vào địa vị của tiên sinh, phải\nxử như thế nào? * *Trang Tử cười nói: * **- ** *Châu nầy thì lại xử vào khoảng giữa\ncủa tài và bất tài. Tài và bất tài cũng như nhau,\nđều không phải cả, nên sao khỏi phải\nlụy thân. Nếu lại biết cỡi trên Đạo và\nĐức mà ngao du thì đâu còn phải lụy như\nthế: không màng khen, không sợ chê, khi lên như rồng,\nkhi bò như rắn, cùng hóa với chữ “thời” mà không\nchịu khư khư theo một thái độ nào nhất\nđịnh. Khi lên cao, khi xuống thấp, lấy chữ\n“hòa” làm cân lượng, ngao du nơi tổ của vạn\nvật, xem vật là vật, mà không để cho vật xem\nmình là vật, thì sao mà có thể bị lụy? Đó là phép\ntắc của Thần Nông, Hoàng Đế. Đến\nnhư lấy cái tình của vạn vật mà truyền dạy\nvề nhơn luân, thì không thế. Hễ có hợp, phải\ncó tan; hễ có thành, phải có hủy; hễ ngay thẳng\nthì bị chống đối; được tôn quý thì\nbị chê bai; có làm thì có sót; giỏi thì bị mưu lật\nmà dở thì bị khinh khi, có thể nào quyết hẳn\nđược bên nào? Thương thay! Các đệ tử\nhãy ghi lấy: chỉ có Đạo và Đức là nền\ntảng vững vàng để theo đó mà hành động\nthôi!” *\n⸈⸈⸈\n**LỜI BÌNH**\nNgười chưa hiểu Đạo thì cố\nchấp trong một cái tài, hay bất tài để\nđối xử với đời. Tài và bất tài,\ncũng như thị phi, thiện ác...đâu có thể thiên\nhẳn bên nào. Có tài mà cho người ta thấy rõ cái tài\ncủa mình, chưa ắt là cái lợi cho mình...Cho nên xử\nsự phải tùy thời tùy lúc,\n*“khi thì như\nrồng, vượt trên mây xanh”*, nhưng có khi cũng\nphải biết làm như *“con rắn bò sát\nđất”*, len lỏi trong lùm cây bụi cỏ.\nCho nên, trong đạo xử thế, không cứ\nlà phải có tài hay không có tài, mà cốt yếu là lúc nào nên\nthi thố cái tài của mình, lúc nào không nên đem cái tài\ncủa mình ra cho người ta thấy. Biết lúc khôn,\nbiết lúc dại...nghĩa là phải biết thời\nbiết thế. Chung quy chẳng qua biết rõ một\nchữ “thời”. Lão Tử nói:\n*“Thông minh duệ trí,\nthủ chi dĩ ngu; dũng lực chấn thế, thủ\nchi dĩ khiếp”*. Mình là bậc thông minh, tri thức\nhơn người, hãy biết làm như kẻ ngu khờ. Mình\nlà bậc dũng lực kinh người, hãy biết làm\nnhư kẻ nhút nhát...Và như thế, đâu phải\nbảo mình phải là kẻ ngu hay bất tài, mà sự\nthật, mình phải là bậc tuyệt thế thông minh và\ntài ba lỗi lạc hơn người mới có thể\nbiết rõ được lúc nào phải làm như kẻ ngu\nhay bất tài...mà thôi. *Dịch Kinh *cũng có nói: *“Tri tiến nhi\nbất tri thoái; tri tồn nhi bất tri vong; tri đắc\nnhi bất tri táng...sở dĩ động nhi hữu\nhối”*...(Thượng Kinh - Kiền quái) (Biết\ntiến mà không biết thối; chỉ biết lấy cho\nkỳ được mà không biết bỏ đi..., nên hành\nđộng chắc chắn sẽ không khỏi có\nđiều hối hận. )\nNhững kẻ sống chỉ khư khư câu chấp trong một cái phải hay một cái quấy, một cái thiện hay một cái ác...nào, thì không tài nào hiểu được ý nghĩa thâm sâu trên đây của Trang Tử.\nChính Mạnh Tử còn nói:\n*“Sở ố\nchấp nhất giả, vị kỳ tặc đạo:\ncử nhất nhi phế bách” *(Cái đáng ghét trong\nviệc câu chấp là làm hại Đạo: làm\nđược một việc, mà hư cả trăm\nviệc). Cho nên kẻ mà thực hiện được cái\nđạo xử thế trên đây, phải là người\nđứng trong Đạo, vượt lên trên vấn\nđề thị phi, thiện ác...mới có thể làm\nnổi. Vì vậy mới nói: “Chỉ có Đạo và\nĐức là nền tảng vững vàng để theo\nđó mà hành động thôi!”\n⸈⸈⸈\n\n百 年 之 木,破 為 犧 尊,青 黃 而 文 之 其 斷 在 溝 中。比 犧 尊 於 溝 中 之 斷,則 明 美 惡 有 間 矣,其 於 失 性,一 也。跖 與 曾 史 行 義 有 間 矣。然 其 失 性 均 也。\n且 夫 失 性 有 五:一 曰 五 色 亂 目,使 目 不 明\n﹔ 二 曰 五 聲 亂 耳,使 耳 不 聰 ﹔ 三 曰 五 臭 薰 鼻,困 惾 中 顙 ﹔ 四 曰 五 味 濁 口,使 口 厲 爽\n﹔ 五 曰 趣 舍 滑 心,使 性 飛 揚。此 五 者,皆 生 之 害 也。而 楊 墨 乃 始 離 跂 自 以 為 得,非 吾 所 謂 得 也。夫 得 者 困,可 以 為 得 乎 ? 則 鳩 鴞 之 在 於 籠 也,亦 可 以 為 得 矣。且 夫 趣 舍 聲 色 以 柴 其 內,皮 弁 鷸 冠 搢 笏 紳 修 以 約 其 外。內 支 盈 於 柴 柵,外 重 纆 繳睆 睆,然 在 纆 繳 之 中 而 自 以 為 得,則 是 罪 人 交 臂 歷 指 而 虎 豹 在 於 囊 檻,亦 可 以 為 得 矣!\n(天 地)\nBách niên chi mộc, phá vi hy tôn, thanh hoàng nhi văn chi kỳ đoạn tại câu trung. Tỉ hy tôn ư câu trung chi đoạn, tắc minh mỹ ác hữu gian hĩ. Kỳ ư thất tánh, nhất dã. Chích dữ Tăng Sử hạnh nghĩa hữu gian hĩ. Nhiên kỳ thất tánh quân dã.\nThả phù thất tánh hữu ngũ; nhất\nviết ngũ sắc loạn mục, sử mục\nbất minh. Nhị viết: Ngũ thinh loạn nhĩ,\nsử nhĩ bất thông. Tam viết: Ngũ xú huân tị,\nkhổn thấu trung tảng. Tứ viết: Ngũ vị\ntrọc khẩu, sử khẩu lệ sảng. Ngũ\nviết: Thú xá hoạt tâm, sử tánh phi dương. Thử\nngũ giả, giai sinh\n1 chi hại dã. Nhi\nDương Mặc nãi thủy ly kỳ tự dĩ vi\nđắc 2, phi ngô sở vị đắc dã. Phù\nđắc giả khổn khả dĩ vi đắc\nhồ! Tắc cưu hiêu chi tại ư lung dã, diệc\nkhả dĩ vi đắc hĩ. Thả phù thú xá 3 thinh\nsắc dĩ sài kỳ nội. Bì biền duật quan\ntấn hốt thân tu dĩ ước kỳ ngoại. Nội\nchi doanh ư sài sách, ngoại trọng mặc chước\nhoản hoản, nhiên tại mặc chước chi trung nhi\ntự dĩ vi đắc, tắc thị tội nhơn\ngiao tý lịch chỉ nhi hổ báo tại ư nang hạm,\ndiệc khả dĩ vi đắc hĩ.\n(Thiên Địa)\n**CHÚ**\n1. Tức là chữ tánh 性\n2. Chữ 得 (đắc) đây là “đắc ý”, được hạnh phúc.\n3. Ám chỉ những phương thuật tạo nên những lời lẽ tốt đẹp như văn chương, như văn nghệ...\n**DỊCH NGHĨA**\nMẤT TÁNH\n*Một thứ gỗ trăm năm, một\nphần phá ra để làm cái bình cúng, chạm vẽ xanh,\nvàng, còn phần gỗ dư, đem ném xuống vũng hào. * *Nếu so sánh cái bình chạm với gỗ nát\nbị vứt kia, thì có tốt xấu khác nhau. Nhưng\nvề chỗ mất tánh (tự nhiên) thì cả hai\nđều là một. Chích với Tăng Sử (tuy về\ncái) hạnh và cái nghĩa có khác nhau, mà chỗ mất tánh\nđều giống nhau. * *Vả lại, làm mất tánh có năm cách: một\nlà, năm màu làm loạn mắt, làm cho mắt không nhận\nthấy rõ (sự thật). Hai là, năm thinh làm loạn tai,\nlàm cho tai không nghe rõ được (sự thật). Ba là\nnăm mùi làm nực mũi, nghẹt đến óc. Bốn\nlà năm vị làm cho cứng lưỡi, miệng tê đi.\nNăm là văn nghệ làm điên đảo lòng và sai\nlạc bản tánh. Năm món ấy đều làm hại\nbản tánh, mà Dương Mặc lại cho đó là chỗ\nhạnh phúc. Ta thì không cho như thế. Cho là hạnh phúc,\nmà còn phải khốn thân, thì có thể gọi là hạnh\nphúc nữa chăng? Thì như con chim cưu, con chim hiêu\nở trong lồng, có đặng gọi là hạnh phúc\nchăng? Vả lại văn nghệ cùng thinh sắc\nnhư lửa đốt bên trong; mũ da, mũ lông,\nthẻ đeo, dải thắt như dây buộc bên ngoài. Trong\nthì cắm nọc chõi rào làm cũi, ngoài thì dây to ràng buộc...mà\ncho là được hạnh phúc, thì ra hạng tù tội\nbị xiềng xích, hùm beo bị nhốt trong chuồng,\ncũng có thể cho là hạnh phúc ư!” *\n**LỜI BÌNH**\nBài nầy giải rộng cái nghĩa của\nchương 12 sách\n*Đạo Đức Kinh *của\nLão Tử: *“Ngũ sắc lịnh nhơn mục manh,\nngũ âm lịnh nhơn nhĩ lung, ngũ vị lịnh\nnhơn khẩu sảng.” (Năm màu khiến người\ntối mắt, năm giọng khiến người\nđiếc tai, năm mùi khiến người tê\nlưỡi...)*\nTheo Trang Tử, văn chương nghệ thuật đều là những trang sức giả tạo làm sai lạc sự nhận thức của ngũ quan, của óc xét đoán của con người. Văn chương hay nghệ thuật đều có một khuôn mẫu phải theo mà sản xuất văn nghệ phẩm, đó là làm méo mó bản tánh, không khác nào “kẻ tù tội bị xiềng, xích” “beo hùm bị nhốt cũi”, phạm vi hoạt động bị cưỡng bức trong những công lệ nhân tạo.\nTheo Lão Tử:\n*“Tín ngôn bất mỹ, mỹ\nngôn bất tín”*. Lời nói văn hoa thường là\nlời nói để đẹp lòng, không phải lời nói\nthẳng thắn của lòng, của chân lý. Cái hạnh phúc\nlý tưởng của con chim đâu phải là\nđược sống trong một cái lồng, dù là một\ncái lồng sơn son thiếp vàng, mà là được\nsống trong khoảng mênh mông của trời xanh mây bạc.\nThan ôi! Những lý thuyết rườm rà phiền phức của các lý thuyết gia về văn nghệ cùng các học thuyết phải chăng là ngọn lửa thiêu đốt bên trong, còn lễ nhạc phải chăng là những buộc trói bên ngoài làm trở ngại mọi hành động tự nhiên của bản tánh! Cho nên mới có ví nó như gông cùm, như lồng cây, như cũi sắt. . .”\n⸈⸈⸈\n\n方 舟 而 濟 於 河,有 虛 船 來 觸 舟,雖 有 惼 心 之 人 不 怒。有 一 人 在 其 上,則 呼 張 歙 之。 一 呼 而 不 聞,再 呼 而 不 聞,於 是 三 呼 邪, 則 必 以 惡 聲 隨 之。向 也 不 怒 而 今 也 怒,向 也 虛 而 今 也 實。人 能 虛 己 以 遊 世,其 孰 能 害 之!\n(山 木)\nPhương châu nhi tế ư hà, hữu hư thuyền lai xúc chu, tuy hữu biển tâm chi nhơn bất nộ. Hữu nhất nhơn tại kỳ thượng tắc hô trương hấp chi. Nhất hô nhi bất văn, tái hô nhi bất văn, ư thị tam hô da, tắc tất dĩ ác thinh tùy chi. Hướng dã bất nộ, nhi kim dã nộ. Hướng dã hư nhi kim dã thật. Nhơn năng hư kỷ dĩ du thế, kỳ thục năng hại chi.\n(Sơn Mộc)\n**DỊCH NGHĨA**\nCHIẾC THUYỀN KHÔNG\n*Chiếc đò qua sông, bị phải chiếc\nthuyền không trôi đụng. Dù người có hẹp lòng\nđến đâu, cũng không giận. * *Nếu có người trên thuyền, thì\nđã thấy chủ đò giận dữ, phùng trợn. La\nlối một lần mà bên thuyền chẳng ai nghe,\ntất la lối đến hai lần. Hai lần mà cũng\nchẳng ai nghe, tất la lối đến ba lần,\nrồi buông lời chửi mắng. * *Trước không giận mà nay lại giận là\nvì sao? Vì trước thì không có người mà nay thì lại\ncó người. Nếu biết đem cái lòng trống không\nmà đối xử với đời, thì ai mà hại mình? *\n**LỜI BÌNH**\nĐem cái lòng trống không, tức là cái vô ngã mà xử sự thì việc đời sao lại phải đa đoan? Tại sao lại không biết cách xử của người chủ đò, bị chiếc thuyền không đụng phải? Thì nó vô tâm mà đụng, nào phải có ai cố ý đâm vào chiếc đò của mình. Biết thế, thì lấy cây mà đẩy nó ra ngoài, dù lòng có hẹp lượng đến đâu cũng không đến phải bực tức giận dữ.\nTại sao gặp phải người điên đánh ta, ta chạy mà không giận, mà nếu ta biết người đánh ta là người tỉnh thì ta lại giận? Là vì trước tưởng là vô tâm, mà sau thì tin là hữu tâm.\nXét kỹ, thì ở đời vị tất người người đều thật hữu tâm trong các hành vi tư tưởng của mình cả đâu! Ai đã dám quả quyết mình là người hoàn toàn tự do trong mọi hành động hằng ngày của mình? Những kẻ làm hại ta, dĩ nhiên là những kẻ còn u ơ về lợi hại, mờ mệt về phải quấy mà phần đông hành động như người trong cơn mê mộng...\nCon người đâu phải là một sinh\nvật sống độc lập trong hoàn vũ, mà thực\nsự là một vật ăn chịu rất mật\nthiết với vũ trụ vạn vật. Như vậy\nthì hành động của ta biết đâu lại không\nphải là hành động vô tâm của “chiếc thuyền\nkhông”? Mà người cũng là “chiếc đò không”? Thì sao\nlại phải giận dữ bực tức làm gì khi\nbị kẻ khác chạm vào cái bản ngã của mình? Hai\nchữ\n*“hư kỷ”*(虛 己)thật là nòng\ncốt của cái đạo xử thế vậy.\n⸈⸈⸈\n\n鳧 脛 雖 短,續 之 則 憂 ﹔ 鶴 脛 雖 長,斷 之 則 悲。故 性 長 非 所 斷,性 短 非 所 續,無 所 去 憂 也。\n(...) 自 三 代 以 下 者,天 下 莫 不 以 物 易 其 性 矣。小 人 則 以 身 殉 利 ﹔ 士 則 以 身 殉 名 ﹔ 大 夫 則 以 身 殉 家 ﹔ 聖 人 則 以 身 殉 天 下。故 此 數 子 者,事 業 不 同,名 聲 異 號。其 於 傷 性 以 身 為 殉,一 也。\n臧 與 穀 二 人 相 與 牧 羊,而 俱 亡 其 羊。問 臧 奚 事,則 挾 筴 讀 書 ﹔ 問 穀 奚 事,則 博 塞 以 遊。二 人 者,事 業 不 同,其 於 亡 羊,均 也。\n伯 夷 死 名 於 首 陽 之 下,盜 跖 死 利 於 東 陵 之 上。二 人 者 所 死 不 同,其 於 殘 生 傷 性 均 也。奚 以 伯 夷 之 是 而 盜 跖 之 非 乎 !天 下 盡 殉 也。彼 其 所 殉 仁 義 也,則 俗 謂 之 君 子\n﹔ 其 所 殉 貨 財 也,則 俗 謂 之 小 人。其 殉 一 也,則 有 君 子 焉,有 小 人 焉。若 莫 殘 生 損 性,則 盜 跖 亦 伯 夷 已,又 惡 取 君 子 小 人 於 其 間 哉!\n(駢 母)\nPhù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu. Hạc hĩnh tuy trường, đoạn chi tắc bi. Cố tánh trường phi sở đoạn, tánh đoản phi sở tục, vô sở khứ ưu dã.\nTự Tam Đại dĩ hạ giả, thiên hạ mạc bất dĩ vật dị kỳ tánh hĩ. Tiểu nhơn tắc dĩ thân tuận lợi sĩ tắc dĩ thân tuận danh. Đại phu tắc dĩ thân tuận gia, thánh nhơn tắc dĩ thân tuận thiên hạ. Cố thử số tử giả, sự nghiệp bất đồng, danh thanh dị hiệu. Kỳ ư thương tánh, dĩ thân vi tuận, nhất dã.\nTang dữ Cốc nhị nhơn tương\ndữ mục dương, nhi câu vong kỳ dương. Vấn\nTang hề sự, tắc hiếp giáp\n1 độc\nthư. Vấn Cốc hề sự, tắc bác tái 2 dĩ\ndu. Nhị nhơn giả sự nghiệp bất\nđồng, kỳ ư vong dương, quân dã.\nBá Di tử danh ư Thú Dương chi hạ, Đạo Chích tử lợi ư Đông Lăng chi thượng. Nhị nhơn giả sở tử bất đồng, kỳ ư tàn sinh thương tánh quân dã. Hề dĩ Bá Di chi thị nhi Đạo Chích chi phi hồ! Thiên hạ tận tuận dã. Bỉ kỳ sở tuận nhân nghĩa dã tắc tục vị chi quân tử, kỳ sở tuận hóa tài dã, tắc tục vị chi tiểu nhơn. Kỳ tuận nhất dã, tắc hữu quân tử yên, hữu tiểu nhơn yên. Nhược mạc tàn sinh tổn tánh tắc Đạo Chích diệc Bá Di dĩ, hựu ô cảm quân tử tiểu nhơn ư kỳ gian tai!\n(Biền Mẫu)\n**CHÚ**\n1. Chữ “giáp” đây, có nghĩa là đũa, là thẻ: ngày xưa sách vở người ta ghi chép trên thẻ tre.\n2. Đọc là tái, và có nghĩa là chơi rong ngoài khu vực của đoàn dê cho ăn cỏ.\n**DỊCH NGHĨA** * (...) Chân vịt thì\nngắn, cố mà nối dài, nó khổ. Giò hạc thì dài,\ncố mà làm cho nó ngắn, nó đau. Cho nên tánh mà dài, không\nphải cái nên chặt bớt; tánh mà ngắn, không phải\ncái nên kéo dài: thì không có chỗ gì còn phải đau khổ\ncả. (...) Từ Tam Đại trở xuống, thiên\nhạ không một ai là không bị vật ngoài mà thay\nđổi tánh mình. Tiểu nhơn thì đem thân mà chết\ntheo lợi. Kẻ sĩ thì đem thân mà chết theo danh. Bậc\nđại phu thì đem thân mà chết theo gia đình. Thánh\nnhơn thì đem thân mà chết theo thiên hạ. Mấy\nngười ấy, sự nghiệp tuy khác nhau, nhưng\nvề chỗ làm thương tổn cái tánh, đem thân mà\nchết theo, thì vẫn một. Tang cùng Cốc, hai\nngười cùng chăn dê, mà đều làm mất dê. Hỏi\nTang đã làm gì, thì vì cặp thẻ mà đọc sách. Hỏi\nCốc đã làm gì, thì vì cờ bạc chơi rong. Hai\nngười ấy, việc làm tuy không giống, nhưng\nđều để cho mất dê cả. * *Bá Di chết vì danh dưới núi Thú Dương;\nĐạo Chích chết vì lợi ở trên gò Đông\nLăng, tuy cách chết của hai người không giống\nnhau, nhưng đều là tàn hại cái sống, tổn\nthương cái tánh cả! Sao cho rằng Bá Di là phải, mà\nĐạo Chích là quấy được! Thiên hạ\nđều chết theo như thế cả. Cái mà họ\nchết theo là nhân nghĩa, thì thế tục cho là quân\ntử, còn cái mà họ chết theo là tiền của, thì\nthế tục gọi đó là tiểu nhơn. Cái chết chỉ\ncó một, vậy mà cũng có quân tử, có tiểu nhơn!\nĐến như cái việc mà họ đã làm tàn hại\ncái sống, tổn thương cái tánh thì Đạo Chích\nnhư Bá Di, sao lại còn nghĩ chi đến quân tử\ntiểu nhơn mà làm gì! *\n**LỜI BÌNH**\nChương nầy cùng một ý nghĩa với\nđoạn văn Mất Tánh trước đây: chạy\ntheo những ước lệ giả tạo bên ngoài\ncủa xã hội dễ làm sai lạc Thiên chân. Con\nđường giải thoát là trở về bản\ntánh:\n*“Quy căn, phản phác”*.\nChết theo danh, hay chết theo lợi, chết\ntheo lẽ phải hay lẽ quấy cũng đều là\nsai lầm cả. Cái chết về thân thể không đáng\nlo bằng cái chết của tâm hồn. Có cái gì là thật\nphải, phải một cách tuyệt đối đâu; có\ncái gì là thật quấy, quấy một cách tuyệt\nđối đâu! Phải, quấy chỉ là những trạng\nthái tạm thời, biến thiên phản phúc bất\nthường, không thể cố chấp hẳn một bên\nnào, đến phải chết vì nó cả. Ở đây\nTrang Tử khuyên ta, nếu muốn giải thoát, cần\nphải vượt lên trên thị phi, thiện ác...đừng\nnô lệ lấy một bảng giá trị tạm thời\nnào của điều phải lẽ quấy theo một\nnền luân lý đạo đức nào cả, mà phải biết\nsống theo bản tánh của mình, đừng mô phỏng\ntheo ai tất cả:\n*“Kẻ mà ta gọi là tinh tai,\nkhông phải là kẻ tinh nghe cái ngoài đâu, mà là kẻ\nbiết tinh nghe cái tiếng nói của lòng mình! Kẻ mà ta\ngọi là sáng mắt, không phải là kẻ thấy rõ cái\nngoài đâu, mà là kẻ thấy rõ cái trong của mình” [71]*(吾 所 謂 聰 者,非 謂 其 聞 彼 也。自聞 而已矣。吾 所 謂 明 者,非 謂 其 見 彼 也。自 見 而 已 奚).”\nTrở lên đều là để giải rộng cái nghĩa của hai chữ “tiêu diêu”, tức là tự do mà Trang Tử đã đề xướng ở thiên đầu Nội thiên: “Các sinh kỳ sinh”(各 生 其 生)vậy.\nCâu\n*“bất tự đắc nhi đắc\nbỉ giả, thị đắc nhơn chi đắc nhi\nbất tự đắc kỳ đắc giả dã” *(chẳng\ntự được cái “đắc” của mình, mà lại\nđược cái “đắc” của kẻ khác, đó là\nđược cái “đắc” của người, mà\nchẳng được cái “đắc” của mình) quan\ntrọng nhất là ở những chữ “đắc”. Chữ\n“đắc” trước, có nghĩa là *được*,\nlà *thọ lãnh; *còn chữ “đắc” sau, có\nnghĩa là *“đắc ngộ”, “đắc\nĐạo”*, tức là được hoàn toàn nhập\nvới Đạo, đã được “chuyển mê\nkhải ngộ”. Thâm ý của câu này là khuyên ta nên tự mình\ntìm chân lý, mà đừng lấy cái chân lý của\nngười làm chân lý của mình. Tự tu thì tự\nngộ, hay nói một cách khác chỉ có cái biết nào tự\nmình tìm ra mới thật là biết. Vì vậy, kẻ nô\nlệ sách vở, học thuyết, đạo đức\ncủa kẻ khác, không bao giờ hiểu Đạo, và\nhơn nữa, thực hiện được Đạo.\n⸈⸈⸈\n**NÊN LƯU Ý**\nNhững chữ sau đây, cổ văn thường dùng lẫn nhau, tùy vị trí trong câu văn mà có nghĩa khác nhau:\n莫 và 暮\n知 và 智\n而 và 能\n女 và 汝\n若 và 汝\n而và 爾\n悅 và 說\n齊 và 齋\n大 và 太\n間 và 閒\n諸 và於\n[1]\n*“Kỳ học vô sở bất khuy, nhiên kỳ\nyếu bản quy vu Lão Tử chi ngôn”... (Sử Ký)*\n其學無所不 窺,然 其要本歸于老子之 言(史 記).\n[2] Tiền Hán\n*(206 trước Tây lịch kỷ\nnguyên) đến năm thứ 9 sau kỷ nguyên Tây lịch.\n*\n[3] Hậu Hán\n*(25-220 sau Tây lịch kỷ nguyên)*.\n[4]\n*Đầu nhà Hán, khởi vào năm 206\ntrước Tây lịch kỷ nguyên; cuối đời nhà\nHán, khởi vào khoảng 220 sau Tây lịch kỷ nguyên,\nnghĩa là cách nhau khoảng trên 400 năm. *\n[5] Bảo toàn sinh mạng của mình làm trên hết.\n[6] Tự là Tử Huyền 子 玄 (mất vào khoảng 312 Tây lịch kỷ nguyên).\n[7] Đắc Nhất: 得 一\n[8] Chứ không phải của mình thụ lãnh nơi xã hội, luân lý, chế độ, nơi văn minh giả tạo của con người bày ra.\n[9] Thiên trạch 天 擇 là chọn lọc thiên nhiên. Thuyết của Darwin trong bộ Vật Chủng Nguyên Thủy.\n[10] Tiến hóa 進 化: Là một sự biến, một sự động, và thêm vào một thực trạng ấy một ý kiến chủ quan là đi theo một khuynh hướng nào.\n[11] Thiên Đức Sung Phù có câu: “Sanh tử, tồn vong, cùng đạt, bần phú, hiền dữ bất tiếu, hủy dự cơ khát, hàn thử: thị sự vi biến, mạng chi hinh dã. Nhật dạ tương đại hồ tiền, nhi tri bất năng quí hồ kỳ thủy giả dã”. Chết sống, còn hết, cùng đạt, nghèo giàu, hiền và bất tiếu, chê khen, đói khát, nóng lạnh: đó là cái biến của vật, cái chuyển của Mạng. Ngày đêm thay phiên tiếp nối trước mặt ta mà trí thông minh của ta không sao nhận thấy được đâu là chỗ khởi đầu.\n[12] Thích nhơn chi thích, nhi bất tự thích kỳ thích dã ( 適 人 之 適 而 不 自 適 其 適 也): chạy theo cái thích của người, mà không tự mình chạy theo cái thích của mình.\n[13]\n*Thương sinh *傷 生: làm tổn\nhại đến sinh mạng.\n[14] Tri bất tri, thượng(知 不 知,上): Biết cái không thể biết được (bất khả tri) tức là Đạo. (Đạo Đức Kinh)\n[15] Đồng với Đạo, nên không còn tham muốn nữa.\n[16] Trang Tử: Thiên Thiên Đạo 天 道 (cổ nhơn chi tao phách).\n[17]古 猶 今 也 (cổ du kim dã):\nCái xưa, thì cũng như cái bây giờ (ám chỉ\nĐạo vĩnh viễn, bất biến...\n[18] Canh Tang Sở 庚 桑 楚.\n[19] Nghĩa là không còn biết có mình nữa.\n[20] Triêu triệt(朝徹): một sự thông hiểu thấu triệt sự vật như ánh sáng buổi ban mai, tức là một thứ “trực quan kiến độc” nhận thấy được cái chân thể (sống một).\n[21] Liệt Tử(列子), thiên Lực Mạng(力命).\n[22] Xem\n*Cái Dũng Của Thánh Nhân *(cùng một\ntác giả): Phép tĩnh tọa của Cương\nĐiền (phụ lục).\n[23] Thiên: thiên nhiên.\n[24] Nhơn: nhơn tạo, là của người bày ra.\n[25] Le Chant De La Vie, p. 11 (Les Éditions de l’Étoile, 1931), Trad. Carlo Suarèz.\n[26] Dịch Kinh:\n*“Vật cùng tắc biến,\nvật cực tắc phản” *vì Liệt Tử\nở thiên Trọng Ni cũng nói: *“Vật bất chí\ngiả, tắc bất phản”*(物 不 至 者 則 不 反). Vật mà không đến mức cùng của nó\nthì không biến trở lại. Hai câu cùng đồng\nmột ý nghĩa. Muốn “trở về” (phản 反) phải để cho bản ngã phát triển\nđến cực độ của nó, thì nó mới\n“phản biến” mà mất đi (Âm cực Dương sinh\nở quẻ Phục).\n[27] Trực giác 直 覺: là dùng theo danh từ ngày nay, nó không phải là một thứ giác quan như người ta thường gọi là “giác quan thứ sáu”, hay thứ trực giác theo Bergson. Thứ trực giác theo Bergson cũng chỉ hoạt động trong “dòng” sắc tướng (nói theo danh từ nhà Phật) chưa thật là cái trực giác của Đại Tri, của Bát Nhã.\n[28] Lão Tử nói: “kiến Tố, bão Phác”; Phật gia bảo: “kiến Tánh, thành Phật” (見 素,抱 樸,見 性 成 佛)\n[29]\n*“Xá kỷ thích\nnhơn” *là bỏ mình mà theo người.\n[30] Đại Tông\nSư: “Hành danh thất kỷ, phi sĩ dã; vong thân bất\nchân, phi dịch nhơn dã. Nhược Hồ Bất Giai,\nVụ Quang, Bá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tử Dư,\nKỷ Tha, Thân Đồ Địch, thị dịch\nnhơn chi dịch, thích nhơn chi thích, nhi bất tự\nthích kỳ thích giả dã”(行 名 失 己,非 士 也 ; 亡 身 不 真,非 役 人 也。若 狐 不 偕,務 光,伯 夷,叔 齊, 箕 子,胥 余,紀 他,申 徒 狄,是 役 人 之 役,適 人 之 適 而 不 自 適 其 適 者 也。)\n*Làm theo danh, mà\nbỏ mất cái của mình, không phải là kẻ sĩ;\nlàm cho mất mạng mình, không rõ chân lý, đó chẳng\nphải là kẻ sai khiến được người. Như\nHồ Bất Giai, Vụ Quang, Bá Di, Thúc Tề, Cơ\nTử, Tử Dư, Kỷ Tha, Thân Đồ Địch,\nlà hạng làm cái làm của kẻ khác, theo cái phải\ncủa kẻ khác mà không biết theo cái phải của mình.\n*\n[31] Nên so sánh với\ncâu nói nầy của hiền giả Épictète (Hy Lạp):\n*“Phàm\nsự vật, có cái thuộc ta, có cái không thuộc ta. Thuộc\nta là những sự phán đoán, những khuynh hướng,\nnhững dục vọng, những ưa ghét của ta, tóm\nlại là mọi tác dụng của linh tính ta. Không thuộc\nta, là thân thể ta, của cải, danh vọng, tước\nphận, nói tóm lại là mọi sự không còn phải là tác\ndụng của linh tính ta. Cái thuộc ta thời bản tánh\nnó tự do, không gì ngăn trở, không gì trái nghịch\nlại được; cái không thuộc ta thời không\nđược chắc chắn, không được tự\ndo, thường bị ngăn trở, là cái ở ngoài ta\nmà thôi. Vậy, ta phải nhớ rằng cái gì vốn nó\nkhông được tự do mà cho là tự do, cái gì của\nngười ngoài, vật ngoài mà cho là của mình, thời\nsẽ phải phiền lòng, sẽ phải buồn\nbực, sẽ phải bối rối, sẽ đem lòng oán\nTrời, trách người, nhưng nếu cái gì thật\ncủa ta mới coi của ta, cái gì của người coi\nlà của người, thời không ai ép uổng mình\nđược nữa, không ai ngăn cấm mình\nđược nữa, không phải oán ai, không phải trách\nai, không phải miễn cưỡng làm việc gì, không ai\nhại mình, không có kẻ thù, vì không phải chịu sự\ngì thiệt hại.” *(Bản dịch của Phạm\nQuỳnh, 1929).\n[32] Đừng\nlẫn lộn thiên tánh với tánh tình của bản ngã,\nnhư những tánh nóng, tánh keo kiệt, tánh thích xa hoa, tánh\nham vui, thích buồn của con người. Đó là chỗ\nmà Lão tử gọi\n*“thượng đức bất\nđức, thị dĩ hữu đức. . .”*(上 德 不 德 是 以 有 德)Chương 38 * (Đạo\nĐức Kinh)*.\n[33] Các chánh giả, đắc ư hữu sanh chi sơ, bảo hợp giả, toàn ư dĩ sanh chi hậu(各正者,得於有生之初,保合者,全於一生之後) (Dịch Kinh易經).”Các chánh” là nhận được từ khi mới sanh: “bảo hợp” là giữ được trọn vẹn sau khi đã sanh. Cái mà ta gọi là Chánh đó, tức là chỗ mà Lão Tử gọi “tử nhi bất vong”(死而不亡).\n[34] Đồng một nghĩa với câu này trong Dịch Kinh: “Tri tiến thoái tồn vong nhi bất thất kỳ chánh, kỳ duy thánh nhơn hồ?”(知進退存亡而不失其 正,其唯聖人乎?) (Biết tiến biết thối, biết giữ cho còn, biết làm cho mất, mà không làm mất cái Chánh của mình, chỉ có bậc Thánh nhơn 聖人mà thôi ư?). Chữ Chánh 正 đây, tức là Tánh Tự Nhiên mà ta đã thọ lãnh của Trời Đất.\n[35] Không cho Thiên Tánh xuất hiện.\n[36] Tức là thuyết Huyền đồng vật ngã 玄 同 物 我 của Lão Tử.\n[37] Đó là phép “\n*dĩ\nbất biến ứng vạn biến”*: thị phi\nnối đuôi nhau mà sinh ra, không biết đâu là\nđầu mối, như trên một cái vòng tròn. Nhân thị\nmà sanh phi, nhân phi mà sanh thị, miên miên bất tuyệt.\n[38]\n*Khứ,\ntựu: *tức là có sự bỏ lấy, nghĩa là\nchọn lựa.\n[39] “Hữu sở hiếu ố, hữu sở khứ tựu, tắc bất năng tuyệt đối tự do hĩ.”\n[40] “Nhất thiết bình đẳng” 一 切 平 等: cả thảy vạn vật bằng nhau cả.\n[41] Chí nhơn vô kỷ, thần nhơn vô công, thánh nhơn vô danh(至 人 無 己,神 人 無 功,聖 人 無 名).\n[42] Đây là chỗ mà\ncái học Lão Trang sở dĩ có khác với cái học\ncủa nhà Phật Tiểu thừa “xem đời là bể\nkhổ”, “sinh, lão, bệnh, tử, khổ”, nhìn cuộc đời\nhiện tại đều phủ một màu đen tối...\n[43] Ngụy biện như quan chủ tế ngụy biện với đám heo tế đã kể trên đây vậy.\n[44]諔 鬼 xúc quỷ: là kỳ dị 奇 異.\n[45] Đại ý là nói về đức Điềm Đạm, không để cho ngoại vật động được tâm mình(不以外物動其心).\n[46] Tức là Khổng Tử (thay lời Trang Tử mà giảng về lẽ Đạo cho Ai Công).\n[47] Bất đắc bất nhiên 不 得 不 然.\n[48] Tức là Đạo.\n[49] Tử Dư là\nmột người gù, kỳ quái...\n[50] Huyền, là treo,\ncột...\n[51] Người sắp chết, như người sắp ngủ: cần sự yên tịnh để mà hóa chuyển.\n[52] Tức là vũ\ntrụ, Trời Đất...\n[53] Đoạn văn nầy trùng với một đoạn ở chương C trước đây (cũng cùng một thiên Đại Tông Sư nầy).\n[54] Đời\nngười chấm dứt bằng một giấc\nngủ, để rồi tỉnh dậy trong một\nđời sống mới...\n[55] Nghi lễ bên ngoài, ông không thể bỏ được là vì sợ chạm phải thói tục, nhưng về tình cảm thật sự bên trong, thì ông có quyền không phải bắt chước thế nhơn, vì ông không nhận cho như thế là phải. Bậc chân nhơn cũng làm như thế nhơn, nhưng lòng không giống với thế nhơn.\n[56] Sống có trước,\nchết có sau, hay là sống có sau, chết có trước?\nSống chết, chết sống là những trạng thái\nkhông biết do đâu mà khởi điểm như trên cái\nvòng tròn (thiên quân) 天 鈞 cũng như\nvấn đề thị phi, thiện ác...\n[57] So sánh với đoạn văn “Trang Châu mộng hồ điệp” ở thiên Tề Vật Luận. Có phải chim kia, cá nọ sống trong mộng, hay là người nằm mộng thấy mình là chim, là cá? Sống chết như thực và mộng. Mộng và thực, cả hai đều là một.\n[58] Hư vô, ám chỉ Đạo.\n[59] Cũng viết\nlà 虀 (đọc là tê),\ncó nghĩa là sắp đặt có trật tự, hay tổ\nchức có thứ lớp, điều hòa...\n[60] Chấp nhất\ntrong cái có trong, có ngoài, có nhĩ có ngã, có thị, có phi, có\nthiện, có ác...\n[61] Phần đông các\nnhà chú giải đều ngờ chương nầy là\nngụy thơ, không phải của Trang Tử viết. Tư\ntưởng trên dưới không nhất quán, lại\nloạng choạng, tầm thường, không phải khí\ntượng của Trang Châu ở Tiêu Diêu, Tề Vật...\nTheo thiển ý, thì chữ Mạng 命 ở đây tức là ám chỉ cái mà mình đã thọ lãnh nơi Đạo (Đạo nơi ta), chứ không phải do ngoài chi phối. Con người sở dĩ sinh ra được phú quý hay bị nghèo khổ đều là tại mình cả. Kẻ sinh ra có một tâm hồn khinh phú quý, mà bảo giàu sang tột bực, thì làm sao mà giàu sang? Muốn được phú quý, phải biết ham phú quý. Câu nói của Tử Tang, thấy rõ ông rất phân biệt cái Mạng do ngoài chi phối, và cái Mạng của mình (tức là cái Đạo nơi mình) chi phối.\n[62] “Tri thiên chi sở vi, tri nhơn chi sở vi” 知 天 之 所 為,知 人 之 所 為.\n[63] “Thả hữu chân nhơn nhi hậu hữu chân tri” 且有真人而後有真知.\n[64]\n*“Kiến\nđộc” *見獨 là thấy\nđược cái một (độc nhất vô nhị)\ntức là Đạo không chia phân.\n[65] Ba chữ “tình” 情, “tín”, “chân” 真 đều đồng một nghĩa. (Đã nói rõ ở thiên Tề Vật Luận. )\n[66] Hỗn độn, bản tánh nó là mập mờ, không phân biệt. Ám chỉ Đạo. Đạo mà bị phá ra. . . thì Đạo mất. Cái biết là bao trùm: cái biết mà chi ly, phân chẻ, thì thành cái biết chi ly của lý trí, mất cái biết bao trùm của trực giác.\nNhớ lại câu:\n*“Đại Đạo\nphế, hữu nhân nghĩa”*(大道廢有仁義): Đạo\nlớn mà mất rồi là vì bị chia phân.\n[67] Thiên Chí Lạc.\n[68] Tức là mời ông ra chấp chánh.\n[69] Văn sĩ hiện đại Philippe Lamour cũng có một nhận xét tương tợ như trên: “Không có một thứ văn minh nào có thể tự xem là cao hơn các thứ văn minh khác nó. Giá trị của một thứ văn minh không phải ở nơi cái số dụng cụ và công việc làm sản xuất của nó, mà sở dĩ nó có giá trị hay không là do nơi sự thích ứng của nó với những điều kiện trong đó nó luân chuyển (...) Bởi vậy, đứng trong tuyệt đối mà xét, ta có thể tạm cho rằng dân rợ mọi ngay trong tình trạng bây giờ, chúng có một nền văn minh cao hơn của chúng ta, vì nó thích ứng với nhu cầu trong thời buổi nầy của chúng.\nSự xâm nhập của một thứ văn minh nầy vào một thứ văn minh khác đâu phải là một sự tiến bộ cho cái văn minh đi văn minh người và cả cho cái văn minh bị người ta xâm nhập kia.\nMuốn đem cái văn minh Âu châu mà bắt buộc dân rợ mọi noi theo là phi lý, không khác nào đem nó mà bắt buộc loài ong, kiến hay loài mối phải noi theo...vì chúng là những con vật văn minh rất khác với ta...Bắt dân rợ mọi mặc áo quần là một quan niệm ngu xuẩn, không khác nào bắt dân Esquimaux ở trần (...) Đem văn minh Tây Âu vào văn minh của dân rợ mọi là công việc làm đáng thương hại, không khác nào đem cái văn minh dân rợ mọi vào xã hội văn minh người Tây phương vậy.\n[70] Tức là Thiên Nhiên hay Tự nhiên.\n[71] Ngô sở vị thông giả, phi vị kỳ văn bỉ dã, tự văn nhi dĩ hĩ. Ngô sở vị minh giả, phi vị kỳ kiến bỉ dã, tự kiến nhi dĩ hĩ.\n[72] Phù bất tự kiến nhi kiến bỉ, bất tự đắc nhi đắc bỉ giả, thị đắc nhơn chi đắc nhi bất tự đắc kỳ đắc giả dã, thích nhơn chi thích nhi bất tự thích kỳ thích giả dã. Phù thích nhơn chi thích nhi bất tự thích kỳ thích, tuy Đạo Chích dữ Bá Di, thị đồng vi dâm tịch dã.\n\nTable of Contents\nLỜI NÓI ĐẦU\nTIỂU DẪN\nNAM HOA KINH\nNỘI THIÊN\nTIÊU DIÊU DU\n逍 遙 遊\nTỀ VẬT LUẬN\n齊 物 論\nDƯỠNG SINH CHỦ\n養 生 主\nĐỨC SUNG PHÙ\n德 充 符\nĐẠI TÔNG SƯ\n大 宗 師\nỨNG ĐẾ VƯƠNG\n應 帝 王\nNGOẠI THIÊN\nTẠP THIÊN\nTRÍCH YẾU\nTHU THỦY\n秋 水\nTHÁNH NHÂN CHI DŨNG\n聖 人 之 勇\nTHẦN QUI\n神 龜\nUYÊN SỒ\n鵷 鶵\nNGƯ LẠC\n魚 樂\nSÔ CẨU\n芻 狗\nĐÔNG QUÁCH TỬ\n東 郭 子\nTRÍ BẮC DU\n知 北 遊\nCHÍ NHÂN\n至 仁\nVONG NGÔN\n忘 言\nNGỤ NGÔN\n寓 言\nTHƯ\n書\nĐỘC THƯ\n讀 書\nVÔ DỤNG\n無 用\nPHỤ NGƯ\n鮒 魚\nKHINH TRỌNG\n輕 重\nTRỤY XA\n墜 車\nĐẤU KÊ\n鬭 雞\nCỔ BỒN\n鼓 盆\nHẢI ĐIỂU\n海 鳥\nDƯƠNG TỬ\n陽 子\nHUYỀN CHÂU\n玄 珠\nTÂM TRAI\n心 齋\nSƠN MỘC\n山 木\nTÀI BẤT TÀI\n材 不 材\nTHẤT TÁNH\n失 性\nHƯ THUYỀN\n虛 船\nTÀN SINH TỔN TÁNH\n殘 生 損 性", "file": "books_text_final/ebooks.epub_18721.txt"} {"text": "Ông Tản-Đà sinh ngày 29 tháng tư năm Thành-thái nguyên-niên (1888), quán làng Khê-Thượng, huyện Bất-Bạt, Sơn-Tây.\nÔng là con cụ Nguyễn danh-Kế.\nÔng vốn giòng giõi quyền-quí, tổ-tiên xưa đã làm quan dưới triều Lê. Đến khi nhà Lê suy nhà Nguyễn lên ngôi trị-vì các ngài đã thề với nhau rằng sẽ không bao giờ ra làm quan nữa. Nhưng đến đời thân-sinh của ông, cụ Nguyễn danh-Kế, sự bần hàn trong gia-đình đã bắt cụ ra thi chịu ấn phong của triều Nguyễn. Cụ giỏi chữ lại hay thơ, làm đến án-sát, đã giữ chức ngự-sự trong Kinh.\n“Tục truyền văn án tiên-sinh dùng để gỡ tội cho bị-cáo-nhân bao giờ cũng đanh thép, nhiều lần vua Tự-Đức đã phải khen. Muốn chứng thực tài văn-án của tiên-sinh, tôi tưởng không gì bằng thuật lại ở đây một vụ truy tố ly-kỳ sẩy ra dưới triều Tự-Đức mà trong đó tiên-sinh đóng vai ngự-sử.\nNguyên hồi ấy trong cung vua Tự-Đức có nuôi một con hạc rất đẹp. Vua yêu nó lắm đã phong tước Vương cho nó. Ở cổ hạc lủng lẳng một cái bài ngà. Một buổi chiều kia, hạc ta ngất-nghểu ngao du ra ngoài cửa thành và bị cắn chết bởi một con chó của người chủ quán bán hàng cơm gần đấy; tức thời chủ quán bị bắt giam và truy-tố. Tiên-sinh ở địa vị ngự-sử, làm trạng-sư cãi cho bị-cáo-nhân. Bản cãi rất hùng hồn và nhiễm một cách trào phúng rất sâu-sắc. Trong đó có bốn câu dưới đây, lý thú nhất:\nHạc hữu kim bài\nKhuyển bất thực tự\nXúc vật tương thương\nHà phương nhân sự.\n• Dịch nghĩa: Con hạc có đeo kim bài thật nhưng con chó không biết chữ. Đó là việc loài vật hại lẫn nhau. Việc chi đến người bị tội.”\nVua Tự-Đức mến phục tài tiên-sinh liền truyền tha bổng người chủ-quán”\n[1].\nNHỚ BẠN\nAi lên Bất-bạt nhắn nhe cùng\nNhắn hỏi ai rằng : có nhớ không\nNửa bước xa-xa bằng mấy dậm\nMột ngày đằng đẵng ví ba đông\nGiọng thơ tri-kỷ say mê mệt\nNgọn lửa trứng tri đốt cháy nồng\nKhắc khoải năm canh lòng luống những\nThơ tình mơ mở lại phung phung.\nTrên đây là một bài thơ xướng-họa ấy.\nTheo quan-niệm của chúng ta, thì thơ không được xuất-sắc lắm nhưng, với cái thi tài của Nguyễn danh-Kế tiên-sinh, nó cũng đủ chứng thực một di-truyền trong cái nghiệp “ngâm vịnh” của thi-sĩ Tản-Đà.\nThuở nhỏ, cậu ấm Nguyễn khắc-Hiếu cũng như các con quan khác, đúc chuốt ở cái khuôn học vấn Khổng-Mạnh.\nLên năm tuổi ở Nam-Định học vỡ lòng chữ Hán, cậu ấm, học Tam-tự-kinh, Ấu-học-ngôn-ngữ-thi. Cái mộng thi đỗ lấy vợ đẹp, cậu ấm có từ bây giờ:\nHoa cù hồng phấn nữ\nTranh khán lục y lang.\nNăm lên bảy, về Sơn-Tây. Trong ba bốn năm giời, cậu ấm dự bị để sau này giật giải tranh lèo cũng có mà dự bị để sau này có một cuộc đời lãng-mạn giang-hồ cũng có. Thường ngày cùng trẻ con hàng xóm, cậu ấm tập hát chèo. Có lần cậu ấm đóng vài Từ-thức, mặc áo mà không mặc quần; đến lúc cởi áo cẩm-bào để tha cho người tiên-nữ thì cả chúng bạn cũng cười. (Giấc Mộng Lớn)\nTừ năm 11 đến 18 tuổi, theo ông anh là Nguyễn tái-Tích, một người hay chữ; nay Sơn-tây mai Nam-định, Vĩnh-yên học, chuyên tâm về sự học khoa-cử.\nNăm 19 tuổi, ông anh được về làm ở Hà-nội, cậu ấm cũng về Hà-nội học. Câu chuyện tình với cô hàng tạp-hóa ở Hàng-Bồ bắt đầu từ đấy.\nNăm sau cậu ấm đi thi trường Nam mong đem cái cử-nhân về làm lễ-vật vấn-danh với người mộng-tưởng. Nhưng hỏng trường Nam, trở về thì ý-trung-nhân đã sắp sửa bước lên chiếc xe song-mã để về làm dâu một nhà quan Huyện.\nTuyệt-vọng, cậu ấm ra đi, lang-thang lên đến Hòa-bình; bài thơ “gánh tình nặng lắm em ơi” làm vào hồi đó.\nỞ Hòa-bình về Sơn-tây, cái buồn thêm vào cái buồn, cậu ấm gần như loạn trí, làm hịch đọc để đuổi đức Thánh-Tản khỏi núi Ba-Vì, ban ngày cầm quắm chém lung tung, ban đêm thắp nến ăn đầu heo… Tiếc rằng nhiều văn thơ làm vào hồi ấy, qua cơn khủng-hoảng về tinh-thần của thi-sĩ, không được in thành sách…\nSau hồi ấy, lại có truyện tế nàng Chiêu-Quân ở Non-tiên (có chép trong Giấc Mộng Lớn). Ở một ngôi chùa thờ tiên mà cậu ấm đem bày ra tế nàng Chiêu-Quân, mới nghe ta tưởng không hợp lý; nhưng không, đó chỉ là một việc có liên-can đến mối tình dang-dở. Nàng Chiêu-Quân xưa kia đi cống Hồ lấy phải người “man-phương”. Cô gái Hàng-Bồ là một người đẹp lấy phải một người không xứng đáng.\n“Cô ơi cô đẹp nhất đời!”\nLời khóc Chiêu-Quân hay là lời khóc nàng tiên của thi-sĩ Nguyễn khắc-Hiếu!\nKhi còn là một học-sinh trường Qui-thức, ông Nguyễn khắc-Hiếu đã tỏ là một người thông-minh và có tài về văn chương. Hôm ấy trong lớp phải làm một bài luận về hiện-trạng của hai châu Âu-Á. Ông làm thành một bài văn với những lời lẽ rất sác-đáng. Ông nhận thấy bây giờ châu Á kém châu Âu; như vậy chỉ vì cái tinh thần của văn-minh cổ, nhưng nếu người châu Á sớm biết tỉnh-ngộ thì ngày sau có thể hơn người châu Âu. Ông kết-luận rằng sau này hay dở là ở thanh-niên chúng ta.\nBài văn ấy được nhất; sau này lại được một tờ báo ở Thương-Hải lục đăng, và những tờ như Đông-dương tạp-chí ở ta cũng không bỏ qua.\nCũng vì đã được quốc dân để ý đến nên ông được một nhà đại tư-bản ở Nam-Định triệu về sưu-tập văn thơ cổ, dịch sách Tàu in thành sách. “Cái duyên báo-chí phát đoan từ đấy“.\nNhưng chẳng được bao lâu, ông lại theo mệnh-lệnh của gia-đình về Khê-thượng rồi Vĩnh-yên. Sang năm Duy-Tân thứ mười, ông anh hấp hối nhà thơ đa tình của ta, dầu mối tình ở Hàng-Bồ chưa quên hẳn cũng phải nhắm mắt lập gia-đình. Ông anh tạ thế.“ Cái cảnh bi-thương trong gia đình, hợp với cái cảnh ngộ bần hàng của thân-thế, khiến cho kẻ chán đời chẳng được lại phải tùy thế mà sinh nhai lối học đường ngang.” (Giấc Mộng Lớn)\nCái danh dự của ông đã làm cho nhiều người phải ghen ghét ông. Tuy vậy sự eo hẹp và cuộc đời vật-chất hợp với cái trí phiêu-lãng của ông không để cho ông ở một chỗ thực-hành cái chương-trình văn-chương của ông. Ông đi, đi để mà đi… vào Trung kỳ cùng một nhà tư-bản, và để lại trở về Khê-thượng. Tiểu thuyết Thề Non Nước viết vào hồi bấy giờ.\nĐến năm 1921, ông đứng lên làm chủ bút tạp-chí Hữu-Thanh. Trước khi nhận cái chức-vụ ấy, ông diễn-thuyết ở hội-quán hội Trí-Tri Hà-nội về chủ-nghĩa chán đời. Ông được đồng-bào hoan nghênh lắm.\nLàm chủ-bút Hữu-Thanh được sáu tháng, vẫn cái trí phiêu-lãng nó gọi ông đi, ông từ giã báo Hữu-Thanh:\nMới nửa năm giời báo Hữu thanh\nBiệt-ly lai láng xiết bao tình\nChút tình hữu ái không ly biệt\nTiếng gọi đàn xa núi Tản xanh.\nRa mở Tản-Đà như điếm, Tản-Đà thư-cục dịch Đại-Học, Kinh-Thi. Nhưng hình như hai chữ thất bại đã in rõ vào số mệnh của ông, thư điếm, thư-cục chẳng đứng được bao lâu.\nÔng đứng xin xuất bản tạp-chí An-nam (1925-1926). Một ngọn cờ vàng, một số báo xuất-bản chẳng đem lại cho ông được cái gì khác là mấy vết nhăn trên trán, mấy mớ tóc bạc trên đầu và một món nợ to chẳng kém chồng báo ế.\nÔng lại đi.\nTính từng độ đường, ông vào Nghệ-An, Hà-Tính, Huế, Nha-trang, Qui-nhơn, Bình-định:\nPhân-vân xã hội gia-đình.\nHơi men nớp dạ, giọt tình thấm khăn.\nTrở ra Bắc, nghĩ rằng :\nHơn mười năm bút sắt, bút lông, hao giấy mực chẳng ích gì, cho xã-hội.\nTrải ba xứ, đường xe đường bể, chụi râu mày còn thẹn mãi với giang-sơn.\nThôi hãy đành tạm ly-dán với văn-chương, ông về Yên-lập. Vĩnh-yên ở một cái ấp. Với cái trí ngang tàng của ông, lại vào thời-kỳ loạn lạc, người ta không để cho ông làm chủ cái giang-sơn nhỏ ấy của ông.\nÔng xuống Hải-phòng tìm kế sinh-nhai, lên Nam-định, Hà-nội tái bản An-nam tạp-chí.\nVào Sài-gòn ra Bắc…\nNhưng mỗi lần ra vật lộn là lại một lần thất bại, một lần nữa ra đi…\nCách đây mấy năm, ông mới đem gia-đình về ở Khê-thượng, Sơn-tây, tính việc dịch văn cho mấy nhà xuất bản và in dần những văn thơ đã làm từ trước. Nhưng công việc chẳng ra sao, ông ra Quảng Yên, cuộc đời của ông cũng không hơn trước; ông phải về ở Hà-Đông, để tiện việc giao dịch với các báo, trở lại làm ăn bằng cán bút. Ông dịch thơ cổ, Liêu Trai Chí Dị, chú-thích quyển Vương-Thúy-Kiều.\nCái đời lãng-sĩ của thi-nhân đến đây là hết. Ông đã từ trần ngày mồng bảy tháng sáu năm 1939 tại Ngã-Tư-Sở, Hà-Đông.\n\nBao giờ tôi quên được cái buổi gặp-gỡ cuối cùng của tôi và ông bạn Thiếu-Sơn với thi-sĩ Tản-Đà.\nHôm ấy vào trung tuần tháng Avil năm 1939. Ông bạn Thiếu-Sơn ở trong Nam ra Bắc có việc nhà, đến chơi tôi rồi rủ tôi đi thăm ông Nguyễn khắc-Hiếu, hồi đó đang sống những ngày tàn của một thi-sĩ bị đời quên, ở dưới xóm Bạch-Mai bằng cái nghề đoán vận-mệnh cho người.\nChúng tôi xuống tới nơi, gõ cửa đến một khắc đồng hồ, chẳng thấy một ai thưa, vẫn tưởng giờ này, ông còn ngủ. Hồi lâu mới có một đồng-bào của Tôn-Trung-Sơn hé cửa ra. Thì ra căn nhà của ông trên tường còn hai chữ “TẢN-ĐÀ” kẻ dở hơi đã bị những ông Tàu lánh nạn chiếm mất và nhà thi-sĩ thân yêu của ta đã bị nạn chiến-tranh Trung-Nhật đuổi xuống tận Ngã-tư-Sở được mấy hôm nay rồi.\nChúng tôi lại tìm xuống chỗ ở mới của ông. Ông vui-vẻ tiếp chúng tôi theo thói quen nhưng vẫn còn khách-sáo mà xin lỗi về sự nhà cửa mới dọn còn luộm-thuộm.\nTrong cuộc đàm-đạo, ông vẫn tỏ ra một người vui đời, ham sống, thích làm việc, thế mà hơn một tháng sau, ông đã là người thiên-cổ!\n“Tôi chẳng còn sống được bao nhiêu nữa, nên bây giờ tôi muốn làm gấp. Thơ văn của tôi rải-rác các nơi còn nhiều, giờ tôi muốn sưu tập lại rồi đem xuất-bản. Tôi có ngỏ ý với các ông ở báo “Ngày nay”, nhưng các ông ấy muốn đem thơ văn của tôi in thành những sách đẹp đắt tiền để người ta bầy làm đồ chơi trong các tủ sách. Cái đó tôi không thích vì tôi muốn thơ văn của tôi được phổ-thông trong đám bình-dân. Sách của tôi sẽ bán rất rẻ cho những ông hàng xén để các ông này đem bán rong phố hay ở các chợ quê như những chuyện Kiều, Nhị-độ-Mai, Phạm-Công Cúc-Hoa, Trê-Cóc chẳng hạn, thế thì mới có ích cho đồng bào chứ. Tôi còn một bồ thơ văn ở trong kia. Chẳng cần nhiều, dá bây giờ tôi chỉ có độ hai trăm bạc thì tháng nào tôi cũng có sách xuất bản. Biết đâu rằng công việc này chẳng làm cho tôi một ngày kia cũng mặc âu-phục như các ông, và cái mộng đi tầu bay lên Bắc-băng-dương chẳng thành ra thực.”\nNói đoạn ông cười ròn-rã rồi vào buồng trong xách ra một cái bồ chứa đầy những cuộn giấy cũ nát vàng khè:\n“Đây thuần là những thơ văn chưa hề đăng báo hay in ra sách, xuất-bản được hết kể cũng còn chán.”\nThì ra trong khi quên đời mình, nhà thi-sĩ đã rút hết ruột tằm ra để ru đời, vẫn muốn làm ích cho đời. Cao-thượng thay, tấm lòng thủy-chung ấy!\nSong còn một tấm lòng hào-hiệp cũng giúp vào sự lôi kéo thi-sĩ Tản-Đà ra ngoài cái “bể quên” ấy là ông Lê Thanh, tác giả cuốn sách nhỏ mọn này.\nÔng Lê thanh không đành tâm để thi-sĩ kéo dài cái mẩu đời vô-vị ở giữa làn không-khí lãnh-đạm của người đời. Ông muốn người ta nhớ đến thi-sĩ, gọi là đem lại một chút an-ủi cho kẻ đã bao năm làm rung động tơ lòng ta. Ông muốn nhắc lại cái công của ông Nguyễn-khắc-Hiếu làm văn viết báo đối với tiền-đồ quốc-văn.\nNgay từ hồi báo “Tin Văn” của tôi còn xuất bản, ông đã làm việc ấy trong thiên khảo cứu “Sóng rợn sông Đà”. Đầu năm nay ông đã định xuất-bản những bài báo đó để gọi là giúp thêm chút đỉnh vào sự sống eo-hẹp của Tản-Đà tiên-sinh, hồi ấy phải dạy Hán văn và quốc-văn bằng cách hàm thụ mà chẳng được các ông học-trò trả học-phí nên lại phải kiêm thêm cả nghề thầy số nữa.\nTiếc thay, công việc chưa xong thì nhà thi-sĩ của ta đã qua đời! Nay ông lại để cho Tản-Đà thư-cục làm tiếp việc ấy.\nTrong bài tựa trước, tôi có viết “… Nhưng than ôi! Tiếng đàn vừa rứt dư âm, trái tim người ta vừa thôi hồi-hộp, ấy là người ta đã quên ngay nhà nghệ-sĩ mất rồi! Thói đời như vậy. Biết bao nhiêu văn-sĩ, nghệ-sĩ, thi-sĩ đã nhắm mắt trong cảnh khốn cùng, trước sự thờ-ơ của người đời, để mãi mấy trăm năm sau mới có người nhắc đến!” Thế mà nay ông Tản-Đà lìa bỏ chúng ta chửa bao lâu, cuốn sách này đã ra đời để đánh dấu lấy cái bước đã qua của ông trên đường văn-học và để gợi mãi mãi trong trí nhớ của người đời cái bóng của một con họa-mi vừa lướt qua, sau khi đã kêu hót đến rã-rời, thì tác-giả thiên khảo cứu này lại thêm có chút công với nền quốc văn hiện lúc này đang ở trong một cơn khủng-hoảng đáng sợ.\nTập “Thi sĩ Tản-Đà” này, bởi sự nghiên-cứu có phương-pháp và sự phê-bình xác lý, sẽ đem lại cho người đọc một cái hứng thú vô song là mãi mãi sống với một Thi-sĩ Tản-Đà có trái tim bị phân tích. Đọc nó, ta sẽ hiểu Tản-Đà hơn, ta sẽ thấy yêu nhà thi-sĩ của ái-tình lý-tưởng, ta sẽ thấy mờ hết cái hình-ảnh xấu-xí của một Tản-Đà đã bị đem ra chế-diễu trên những tờ báo khôi-hài.\nHanoi, ngày 4 Aout 1939\nTHÁI-PHỈ\n\nĐầu thế-kỷ thứ hai mươi, cái cảnh xã-hội ta là cảnh một xã-hội đang đổ nát trong bầu không khí một chiều thu. Nước ta vốn một nước trọng văn-học. Thi đỗ làm quan là nguyện-vọng chung của mọi người cắp sách đi học. Thế mà bao nhiêu người thông minh anh-tuấn xây cái hi vọng kia trong mười lăm, hai mươi năm trời, nay hi vọng chưa đạt hẳn, bỗng nhà nước bãi khoa cử bằng chữ nho; tiếp đấy những người đỗ đạt cũng “nằm co” ở nhà.\nGiữa trận phong ba ấy họ theo cũ, cũ không hợp thời nữa; theo mới, mình không phải là người theo mới được; cái dư-luận nghiêm khắc kia bao giờ cũng chực sẵn để mỉa mai những kẻ “quên đạo” theo cái nghiệp “thầy ký” “cậu bồi”. Thôi đành ôm cái mớ học thức thu lượm trong mười năm hai mươi năm, ở nhà làm một ký-sinh-trùng, trong gia-đình, xã-hội. Họ đành nằm ở nhà uống rượu ngâm thơ để quên những nỗi buồn rầu đau khổ, sống cho qua những ngày vô vị, khỏi phải để ý đến những cuộc tang thương.\nMột hạng đàn em, tuy đã có nếm qua mùi khoa cử, nhưng nho học chưa thâm tuổi vẫn còn ít, có thể học chữ Pháp trong ít lâu rồi vào làm trong một công sở. Họ tuy được hưởng một cuộc đời khá đầy đủ về vật chất, được “Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò” nhưng họ vẫn tưởng đến quãng đời mà họ đã qua; họ trông thấy những cuộc cái cách đột ngột trong chính-giới, trong xã-hội, họ bùi ngùi. Sự thay đổi dẫu rằng sự thay đổi ấy sẽ có kết quả tốt đẹp, cũng không khỏi đem đến cho người ta những nỗi buồn rầu.họ như loài cây mọc trên núi, quen với khí-hậu trên núi bị đánh xuống giồng dưới đồng bằng vậy.\nCòn hậu sinh chúng ta được hấp thụ ngay văn-minh âu-tây, được học ngay chữ Pháp chúng ta không phải sống vào buổi giao thời. Chúng ta có thể tự lấy làm sung sướng hơn phụ-huynh chúng ta; chúng ta có thể có một cuộc đời hoàn toàn mới. Nhưng khốn nỗi, nếu chúng ta không học sách nho, chúng ta lại phải tiếp súc với đồ-đệ của nho giáo. Mỗi ngày chúng ta mục-kích biết bao nhiêu cuộc sung đột của cái mới mà ta vừa hấp thụ được và cái cũ còn lại. Chính cái cảnh ngộ của người thất vọng, những cuộc sung đột ấy đã gây nên cho gia-đình và xã-hội ta một bầu không khí nặng nề chán nản.\nTrong bầu không khí ấy, người ta chỉ sống cho qua ngày tháng. Người ta bắt đầu không thích những ý tưởng khô khan của luân-lý cũ, người ta không cần để ý đến đời vật chất, và không cần săn sóc đến đời tinh-thần của mình.\nMột đời tình cảm cẩu thả và hỗn độn. Con tâm thắng lẽ phải. Luân lý tính cảm thắng luân-lý nghĩa-vụ.\nNgười ta đọc sách không phải để học kinh luân mà để chiều một vài xu-hướng. Những ý tưởng trong sách Pháp về thế-kỷ thứ mười chín lúc bấy giờ mới tự do chiếm lấy những không khí dễ thở hơn. Trào lưu lãng-mạn lan mãi ra. Cái bệnh khủng-hoảng về tinh thần không còn có cơ hội nào hơn để phát ra nữa.\nNgười ta không thích suy-nghĩ, chỉ thích mê man trong đời tình-cảm.\nNgười ta mong đợi một người có thể tả được những nỗi chán nản, những điều ước vọng của mình, có thể ru được mình trong giấc mộng triền-miên.\nThi-sĩ Nguyễn khắc-Hiếu ra đời!\nThi-sĩ ra đời giữa sự mong đợi của cả một thế-hệ.\nNhững bản đàn lòng du dương như “Khối tình” được đặc biệt hoan nghênh. Trước cái thiên-hạ sống vì tình cảm ấy, ông là người có cuộc đời thích hợp với những tư tưởng mới, cuộc đời họ đang mơ ước.\nÔng là một nhà văn lãng-mạn. Sớm ông đã mắc cái thời-bệnh mà hầu hết các văn-gia ở Âu-châu về thế kỷ thứ mười chín không tránh được.\nÔng chán đời, ông muốn mê man chán đời.\nNgày như đêm, ông vẩn vơ, chẳng có ý định gì chắc chắn, chẳng có ý tưởng gì sáng suốt “bụng không biết no, không biết đói, người không biết vui, không biết buồn”. Ông dùng những ngày dài dằng-dặc, phẳng lì-lì của ông để làm những việc không đáng làm nghĩ những việc không đáng nghĩ. Ông mơ mộng.\nNếu chàng René vẩn vơ ngồi nhìn chiếc lá khô bay trước mặt, ngọn rêu xanh rung rinh trước gió, hoặc ngồi tần ngần để ý đến những lá liễu trôi dưới nước thì thi-sĩ Tản-Đà cũng “đem chõng ra nằm dưới cây ngọc-lan, nghe những con chim kêu trên cành cây hoặc là xem những đám mây đi trên trời, con chim bay trên không, xem kết cục đến đâu là hết (Giấc Mộng Lớn), hoặc tìm một nơi tĩnh mịch ngồi tư lự:\nChiều qua khách chơi về đã vãn.\nGốc cây thơ thẩn một mình ngồi.\nCây xanh nước biếc hồng tung bụi.\n(K.T.C. II)\nSầu là cái bệnh của ông. Lúc nào ông cũng sầu, một việc không vào đâu cũng làm ông sầu: “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, giăng trong gió mát mà sầu; một mình tịch-mịch mà sầu, đông người cười nói mà sầu, nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu.” (Giải sầu)\nNhiều khi cái sầu không theo dõi ông mà chính ông tìm đến nó. Ông thích buồn; những lúc buồn ông cảm thấy một sự êm đềm man mác nó ru ông, nó đưa ông đến những thế-giới xa lạ.\nÔng lại cho rằng: “Ở đời chỉ những sự buồn mới là thật, còn những chuyện vui phần nhiều là giả dối cả” (Trần ai tri kỷ) và “bao nhiêu sự phiền não đều để cho ta luyện trong bụng, cái đó tức là một cái nhà học Giời cho tự nhiên (Giải sầu). Như vậy sầu là một cái thú, lại là một cái hay thì việc gì lại không tìm đến nó, giữ lấy nó và giải nó đi chẳng phải là dại hay sao?\nNhưng đây ta nên hiểu câu trên này là ông viết khi đã quên được cái buồn, hoặc viết vào thời kỳ đang vơ vẩn buồn mà thôi. Có lúc ông muốn giết cái buồn ấy đi, mà cái buồn vẫn không chịu thua ông, cứ lôi cuốn ông đi. Ông không phải như Tú-Xương, hễ buồn thì xuống Hàng-Thao để mua vui. Ở xóm bình-khang ông còn có câu:\nĐời đáng chán hay không đáng chán?\nCất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.\nCái sầu của ông không dễ mà giải được.\nĐôi lúc ông liên-miên nghĩ ngợi, một chuyện con con lọt vào trí ông, những tư tưởng của ông nhuộm chuyện ấy một màu ảm-đạm. Rồi ông buồn.\nLại có khi trầm ngâm; không có chuyện gì làm cho ông buồn mà ông cũng buồn; ông tự nghĩ trơ trơ giữa một bể người, cảnh vật, không biết đưa mắt vào đâu; ông tìm đến cái chết : “Cái bụng chán đời đến cực điểm, quyết mong tịch cốc để từ trần. Tiếc không nhớ bắt đầu từ ngày nào, thôi sự ăn cơm, chỉ khát chịu không được còn phải uống nước.” (Giấc Mộng Lớn).\nÔng Nguyễn khắc-Hiếu đã sáng tạo ra một cách lãng-mạn.\nTâm tính của người ta có thể do sự học và ảnh hưởng của người đồng thời đào tạo. Như tính lãng-mạn của ông Tản-Đà thì thật không phải vì sự học hay ảnh hưởng của người đồng thời đào tạo nên.\nNhững sách Tàu mà ông bó buộc phải học tự khi lên năm tuổi, những ý tưởng nghiêm khắc về Khổng-giáo không có thể làm cho mầm lãng-mạn của ông nảy nở, ông cũng như hầu hết các nhà nho, học để đi thi, thì còn có thì giờ đâu mà đọc và nghiên-cứu những sách ngoài sách học.\nHoặc bảo, ông cũng có đọc những bản dịch những sách Âu-tây như sách của Stuard Mill, Rousseau, Montesquieu nhưng những sách ấy ông chỉ đọc khi đã bỏ khoa cử, và lúc bấy giờ những tư tưởng lãng-mạn đã in sâu vào tâm hồn ông rồi.\nÔng cũng không chịu ảnh hưởng của tiền nhân và người đồng thời. Sự chơi của ông Tô Đông-Pha trên sông Xích-Bích, của ông Nguyễn công Trứ trong rừng thông chỉ do ở tình lãng-mạn sáng suốt thôi. Lãng-mạn như vậy ông cho là chưa đủ. Ông cần tự vạch lấy một cách lãng-mạn hợp với lý-tưởng của ông hơn.\nNhững “lúc bóng tà dương một mình trên con đường đê cao, bên nọ sông Đà, bên kia núi Tản” ông bị cảnh nó lôi cuốn ông, nó làm cho ông phải tan hòa với nó.\nÔng sống ở một nơi tịch mịch “bốn bề phong cảnh, gió mát trăng treo, rừng reo suối chảy”. Ông thích sống vì tưởng tượng, ông tạo ra những cảnh tuyệt đẹp, thế mà ông bị giam hãm vào những cảnh trật hẹp buồn tẻ, hoặc bó buộc phải sống với sự thật ở đời; ông muốn bay theo mây gió để đi tìm một cuộc đời khác ở nơi mịt mù xa tắp:\n“Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,\nCánh chim bằng chín vạn những chờ mong”\nÔng muốn:\n“Làm đôi chim nhạn tung giời mà bay,\nTuyệt mù bể nước non mây…”\nHoặc: “Đôi lúc sông Đà mùa nước, nước rộng mênh mông gió cuốn mặt sông, sóng nhô giòng nước, cái cảm tình phấn khích lại cũng theo với những sóng gió, nước mà tưởng như phá lãng thừa phong.”\nNhưng:\nÔng lãng-mạn, ông phải đem cái bản-ngã của ông ra mà hiến thiên hạ. Ông muốn diễn những tư tưởng lãng-mạn của ông, ông phải dùng một thứ văn xuôi dịu dàng, bóng bẩy, hoặc vận văn.\nKhó cho ông lắm!\nÔng sinh trưởng vào hồi mà ảnh hưởng của văn-hóa âu-tây ở xứ ta chưa rõ rệt cho lắm, lúc bấy giờ mỗi người còn như đang sống vào thời cổ điển, còn khư khư giữ lấy những ý tưởng nghiêm khắc, cho cái ta là đáng ghét”: Một người nói đến cái bản ngã của mình là một người tự đắc bất lịch sự.\nKhi ông Nguyễn khắc-Hiếu xuất-bản tập “Giấc Mộng Con”, ông Phạm-Quỳnh phê-bình:\n“Người ta, phi người cuồng, không ai trần chuồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem cái thân thế mình mà làm chuyện cho người đời xem.”\nÔng làm thơ nôm giữa lúc người ta cho rằng “Vận văn chỉ là cái đồ thích tính đào tình, tiêu khiển trong lúc trà-dư tửu-hậu “ hay là:\n“Tiểu-thuyết-ký-sự, luận thuyết, diễn thuyết là những văn chương hữu dụng, còn thơ phú, ca dao, có vần có điệu chỉ dùng để ngâm nga, không suy ra sự thực… những lối ngâm hoa vịnh nguyệt dù hay cho quỷ khóc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”. ( Nguyễn-bá-Trác)\nGiữa lúc ai ai cũng sốt sắng nâng cao trình độ quốc-văn, hấp thụ lấy văn mình âu-tây, ông sống biệt một nơi để phụng sự những ý tưởng lãng-mạn của ông. Ông mang tiếng là một người “ngồi không ăn dưng”.\nThời gian qua, người ta bắt đầu hiểu ông ca tụng ông và chịu ảnh-hưởng của ông.\n\nÔng Nguyễn khắc-Hiếu nói: “Mộng là mộng, đời người cũng là mộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn chỉ khác nhau vì giài ngắn lớn nhỏ mà thôi”.\nCái quan-niệm về đời người ấy không phải ông Hiếu đã có đầu tiên; từ hai ba mươi thế kỷ, người ta đã lẩm bẩm “đời là giấc mộng”, người ta đã không tin ở phần vật chất của đời.\nNhưng trái hẳn với tiền-nhân, ông Nguyễn khắc-Hiếu không đem cái quan-niệm ấy ra làm một quan-niệm triết-lý, một lý-thuyết hẳn. Ông là một nhà ngụy-thuyết (un sophis-te). Khi ông nói đời là một giấc mộng, ông còn nhìn thấy mảnh giấy, cán bút, ông còn đang nghĩ một cách thông suốt, ông không phải ở trong một cõi mộng. Ông biết thế nhưng ông cũng cố tưởng rằng ông đang ở trong mộng ông muốn đánh lừa trí tưởng tượng của ông rồi, ông mới đếm cái quan-niệm kia ra để phụng sự một vài trí hướng của ông.\nÔng mộng. Đời ông là một giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn ông lại có những giấc mộng con, có giấc mộng con thứ nhất rồi lại giấc mộng con thứ hai, rồi lại giấc mộng con thứ ba, ông mộng rồi ông lại mộng, ông chỉ sống vì mộng mà thôi.\nVì thế mỗi khi đọc ông, người ta tưởng tượng ngay một người nét mặt hàng giờ không thay đổi, trí “tiêu dao những chốn mộng ảo bất kinh”.\nTa có thể tìm được những cớ nó đem ông vào “cõi hư tưởng” như ông Phạm-Quỳnh đã nói.\nTheo ông thì “đời là một chỗ bắt người ta phải ở”. Sống riêng với cái đời vật chất, người ta chỉ thấy những cái nhỏ nhen đáng chán. Sống như vậy thì còn ý-vị gì nữa.Muốn tìm thấy ý-vị người ta phải thoát-ly cái đời vô vị ấy, người ta phải vượt khỏi cái đời bao la, tuy thân ta vẫn phải nhẫn nại ngồi trong ấy. Ta chỉ cần rời hẳn cái đời mà ta đang sống mà thôi. Tìm một thế giới khác đó là một sự nhu-cầu của một linh hồn đã chán cái đời hiện tại.\nNhưng nếu một lần ông đã xa hẳn cái thế giới ta đang sống, ông lại sống vào những cảnh đáng buồn thứ hai, thứ ba nữa… Không, khi ông mộng, ông được sống những cuộc đời mới mẻ đẹp đẽ, tự ông vẽ ra theo trí tưởng tượng của ông. Chính trong những cuộc đời ấy, ông mới có thể có được “cái tự do trong sạch, cái độc lập thanh nhàn” mà từ trước đến nay óc lãng-mạn của ông vẫn ao ước. Chính trong những lúc ông ngao du như vậy, ông mới có thể thấy những “cảnh bao la bát ngát” mà trí tưởng tượng của ông vẫn khát khao, nào núi tuyết, nào rừng băng, nào sông Ngân-Hà, nào bể Nam-Minh. Lại trong mộng ông mới có thể gặp được những người lý tưởng.\nÔng cho tình ở hạ giới là hèn ông tự vẽ ra một người vừa đẹp, vừa giỏi văn-chương. Rồi ông cũng bắt tình với người ấy, ông cũng thư từ thăm hỏi, ông cũng biệt cũng ly, ông cũng cùng tình nhân ngao du trên mặt sông: “Một giải nước trong không đáy, hai thuyền con nhè nhẹ cùng bơi; ra đến giữa dòng sông thật là “thu thủy trường thiên nhất sắc”, khi đó gác rầm cùng buông thuyền cho trôi xuôi”.\nNhưng cái động-lực nó bắt ông mộng mị luôn có lẽ là tính ngông của ông. Cái gì thuộc của ông là ông muốn cho khác đời, cái tình của ông cũng lạ; văn-chương thi-ca của ông, ông cũng muốn nó là văn-chương độc nhất; thi tứ của ông, cũng muốn từ xưa đến nay chưa từng có. Ông dùng cái mộng của ông để cho đời biết rằng văn của ông là “văn có số hạn”, từ xưa đến nay từ nay về sau chắc không ai bằng, ý ông nghĩ là những ý tưởng ly kỳ người tri thức tầm thường không thể thấu được”; những văn ấy có trời hiểu và trời đã phê-bình một cách xác đáng:\n“Giời lại phê cho: văn thật tuyệt!\nVăn trần được thế chắc có ít\nNhời văn chuốt đẹp như sao băng\nKhi văn hùng mạnh như mây chuyển\nÊm như gió thoảng! tinh như sương\nDầm như mưa sa! Lạnh như tuyết”.\nNhững văn thơ của ông không thể bán ở trần gian, đã mấy lần ông đem nó lên tận chợ giời để bán.\nVề phương diện tư-tưởng, cái quan-niệm về đời thường của ông Tản-Đà thật đáng trách. Ông là người có thiên tài, lúc nào ông cũng có cái mộng làm một nhà văn-học kiêm triết-học, ông lại có những tư tưởng ly-kỳ ấy được. Ông là người lúc nào cũng toan ghé vai vác quả địa cầu thế mà vì chán đời ngồi rồi mơ tưởng đến những sự không có, để mất thì giờ. Ông viết:\n“Nhân hồi trong từ nửa đêm nay thuộc năm Quí-dậu trở về trước, giấc mộng con là mộng, giấc mộng lớn cũng là mộng. Duyên trái Hà-Thành, thì bay Nam-Định đã là mộng, chủ bút báo Hữu-Thanh, chủ sự báo An-nam chẳng qua cũng là mộng. Diễn thuyết Tri-tri giảng học Hồng-bàng đã là mộng; thư điếm phố Hà-nội, biệt thự Vĩnh-yên chẳng qua cũng là mộng. Nghĩ vậy thời lại thấy bao nhiêu năm trước Quí-dậu đó đều cũng chẳng có chi là giá trị mà cứ gì Quí-dậu một năm”. (Tản-Đà Xuân Sắc). Nếu như vậy không kể những năm đã qua, còn những năm sẽ tới ông còn coi nó ra gì, nghĩ mà tiếc cái tài của ông.\nKhi quyến Giấc Mộng Con của ông xuất bản, ông Phạm-Quỳnh chủ nhiệm báo Nam-phong, có đứng về phương diện tư tưởng mà phê-bình một cách cay nghiệt ông, coi quan niệm của ông Tản-Đà là một quan niệm đứng đắn, một quan niệm triết lý, một lý thuyết và “lý thuyết ấy có nhiều người công nhận không, hay chỉ là sự mơ tưởng của một bọn chán đời, của mấy tay yêu quái trong làng văn”. Ông coi quyển Giấc Mộng Con là một tập văn nghị luận, vì thế ông HIếu nói chơi ông bắt buộc lời ông phải thật, rồi ông cứ đem những văn chơi ấy ra mà bẻ, bẻ một cách hóm hỉnh:\n“Ông đương ở Sài-Sơn, hốt nhiên thấy vào Sài-gòn, đương ở Sài-gòn hốt nhiên thấy sang Đại-Pháp, đang ở Đại-Pháp hốt nhiên thấy sang Mỹ-châu, đang ở Mỹ-châu hốt nhiên thấy lên Bắc-Cực, đang ở Bắc-Cực thẳng tới bể Nam-Minh như chim bằng trong sách Trang-Tử. Vùn vụt lại vùn vụt, chẳng biết đầu đuôi duyên cớ làm sao. Nhưng lạ thay! Đã đi đến thế sao không quá bước lên cung mây hỏi thăm chú Cuội” (Nam-phong 1918).\nÔng quên rằng những quyển Giấc-Mộng đều kê vào loại tiểu thuyết của ông Hiếu cả, có trách chỉ nên trách ông Hiếu đã tự đem ông ra làm vai chính trong tiểu thuyết của ông. Khi viết tiểu thuyết, ông lại quên rằng ông viết cho đồng-bào xem, ông cứ tự tiện tán tụng ông, khen ông, đặt ông lên trên mọi người.\nNay ta thử đứng riêng về phương diện văn chương mà xét mấy Giấc Mộng của ông.\nTa không nên tin ở cái đầu đề ông đã chọn, ông nói cuốn “Ba mươi bảy năm Nguyễn Khắc-Hiếu” của ông là Giấc Mộng Lớn, nhưng ta đọc Giấc Mộng Lớn ta không thấy gì là mộng cả. Nó không khác gì những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ Âu tây. Nó là “một phiến ảnh của tác giả đưa cùng các bạn tương thân tương ái ở gần xa, có quen biết hay không quen biết”. Nó có thể gọi là tập ký ức viết bằng quốc văn thứ nhất của ta. Từ khi nó ra đời, người ta đã bắt đầu mạt sát nó, ngày nay người ta đem nó lên xe lửa bán giao, nhưng sau này nó sẽ rất có giá trị cho ai muốn khảo cứu về thân thế và văn chương của ông.\nCòn mấy quyển Giấc Mộng Con chẳng qua chỉ là một phương tiện để cho cái tâm hồn thi sĩ của ông phát triển. Trong ba Giấc Mộng, cảnh và nhân vật đều có vẻ nên thơ. Những bức thư của tác giả, của những người trong mộng như Chu Kiều Oanh đều đầy một thứ tình êm đềm và ý vị. Những bài thơ làm trong khi ông mộng hoặc khi ông đã tỉnh mộng đều là những áng thơ tuyệt tác. Ta hãy giở trong tập thơ của ta từ mấy trăm năm nay, ta tìm thế nào cho thấy những bài thơ như bài:\n“Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,\nTỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi,\nNghĩ đời lắm lúc không bằng mộng\nTiếc mộng bao nhiêu dễ chán đời.\nNhững lúc canh gà ba cốc rượu\nNào khi canh điệp bốn phương giời\nTìm đâu cho thấy người trong mộng\nMộng cứ mê đường biết hỏi ai”.\nĐể mà kết, ta không nên quá nghiêm khắc khi xét mấy cái mộng của ông. Khi ta đọc xong, ta không xét xem có phải “mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn” hay không, ta chỉ nên biết rằng ông đã tìm được trong cái quan niệm của ông những thi tứ lạ và đáng yêu mà thôi.\n\nÔng Nguyễn khắc-Hiếu cũng thờ ông Khổng ông Mạnh, nhưng ông không thể sai khiến được tình-cảm của ông. Ông là đồ chơi của tình-cảm của ông. Ông là một nhà văn hoàn toàn trữ-tình lạc vào một thế-giới khô khan, sống vì đạo lý.\nTrong tập Nhàn Tưởng của ông, ông viết: “Lấy cảm tình mà nghĩ thời cân cả thế giới với một người chưa hẳn đã bên nào nặng hơn” Chỉ xét câu ấy cũng đủ biết cái tình của ông nặng đến bực nào và muốn biết thế không gì bằng tìm những nguồn tình cảm của ông, cách phát triển của những tình-cảm ấy.\nCứ tin ở Giấc Mộng Lớn của ông thì văn nghiệp của ông bắt đầu bằng hai câu thơ:\n“Đêm thu buồn lắm chị hằng ơi,\nTrần giới em nay chán nửa rồi.”\nNăm ấy ông mới mười chín tuổi theo học trường Quy-thức ở phố Gia-Ngư. “Ở phố Hàng-Bồ số nhà hơn hai mươi về bên lẻ có một người con gái ngồi bán hàng tạp hóa không biết có phải người tuyệt-sắc hay không mà tự con mắt mình khi bấy giờ thì như ngoài người ấy không có ai là người con gái”.\nÔng đem lòng yêu.\nRồi “mỗi buổi chiều tan học ở Gia-Ngư về phố Hàng-Nón trừ khi trời mưa gió, thường tất phải đi quanh qua phố hàng Bồ”\n“Tấm lòng ao ước ngỏ cùng một người bạn học đồng canh. Người bạn đi nói giúp việc mối. Cứ bên nhà người con gái thời việc có lẽ xong: Bên nhà ông, thời ông anh chỉ bảo một câu rằng: “nhà ta nghèo như thế lấy đâu song-mã mà cưới”.\nÔng bị thất-vọng vì tình khi ông 20 tuổi.\nÔng vốn đa tình từ bé, khi còn đi học, học “Ấu học ngũ ngôn thi”, ông ưa nhất hai câu:\nHoa cù hồng phấn nữ.\nTranh khán lục y lang.\nTả lúc học trò thi đỗ về, con gái thành phố ngấp nghé nhìn.\nMột người như ông mà mãi đến 20 tuổi mới yêu? Không. Ông đã yêu, một cách kín đáo và từ khi mới 13 tuổi. Về sau khi ngồi buồn, ông lại nhớ đến mối tình ngây-thơ của ông:\n“Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,\nViết bức thư này gửi đến ai,\nNon nước thề nguyền xưa đã lỗi!\nÂn tình nay có bốn xu thôi”\n(K. T. C. II)\nTrong văn-nghiệp của ông, chỉ có dấu vết của hai mối tình trên.\nĐối với một người trong lòng lúc nào cũng mang nặng cái “khối tình”, thì tôi thiết tưởng hai mối tình cũng chưa thể làm “vợi được cái nguồn thương nỗi nhớ “ của ông.\nÔng phải tưởng-tượng ra, một tình nhân, một tình nhân … không quen biết; ông tưởng-tượng ra rồi ông cũng yêu, cũng nhớ, rồi ông:\n“Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi.\nViết bức thư này gửi đến ai,\nNon nước xa khơi tình bỡ ngỡ,\nAi tri âm đó! Nhận mà coi.”\n(K. T. C. II)\nTrong thư ông tỏ rõ rằng ông nhớ, ông mong. Một sự kỳ dị trong sự nhớ mong của ông là ông nhớ một người ông chưa từng gặp, mà sự nhớ của ông cũng man-mác lâm-ly mới lạ :\n“Giải sông cũ đầy vơi cữ nước,\nĐỉnh non xưa tản mác ngàn mây.\nNước mây ngày tháng đổi thay.\nNon sông ngày cũng một ngày khác xưa.\nTình thư gửi đến chưa? Chưa đến?\nNước non này ai hỏi hỏi ai!\nNgư nhàn trông mất tăm hơi,\nNước mây man mác cho người sầu thương…\nThế mà gửi tình thư hai bức\nNhững là mong tiêu tức tám năm\nPhải rằng ai hẳn vô tâm,\nNúi sông mây nước cũng nhầm bấy nay.”\nÔng viết đến bức thư tình thứ ba thì thôi vì không có ai trả lời cho ông cả; ông coi như trên đời ông không có ai là “người tình nhân không quen biết”.\nSau đấy ít lâu, bà Song-Khê, em ruột Tương-Phô nữ-sĩ dưới cái biệt hiệu Đỗ-tang-Nữ gửi tặng ít rau sắng; kèm với rau có mấy câu:\n“Kính dâng rau sắng chùa Hương,\nTiền đò đỡ tốn, còn đường đỡ xa,\nKhông đi thì gửi lại nhà,\nThay cho dưa khú cùng là cà thâm.”\nBà giả lời mấy câu của ông viết trong tập Khối Tình Con:\n“Muốn ăn rau sắng chùa Hương,\nTiền đò ngại tốn, con đường ngại xa,\nNgười đi ta ở lại nhà\nCái dưa thời khú, cái cà thời thâm.”\nBà Song Khê tức là một người tình nhân không quen biết của ông vậy. Ở trên đời, còn có bao nhiêu người cũng yêu ông, mến ông nhưng chưa hề quen ông.\nCâu chuyện tình trên này của ông sẽ được người ta nói đến mãi.\nNhư thế không những là vì mấy lá thư của ông gửi cho tình-nhân của ông lời lẽ lâm-ly mà lại vì nó là một chuyện tình oái oăm. Nó sẽ được người ta nói đến chẳng khác gì mối tình của Arvers bên Pháp.\nYêu một số đông người người không quen biết còn chưa thể nhẹ được cái khối tình của ông, ông còn yêu độc giả An-nam tập-chí, “yêu không lúc nào rước“, như ông thường nói, yêu tất cả mọi người:\n“Kể từ độ lọt đầu se tóc,\nCũng cùng mang tiếng khóc mà ra.\nCõi sầu ta lại với ta,\nLọ quen biết mới gọi là tương tri.”\n(K. T. C. II)\nYêu hết người sống, ông yêu đến người chết; ông nhớ chị Xuân-Hương, nói chuyện với Hàn-Thuyên, với Nguyễn-Trãi.\nYêu hết người sống và người chết, như đã nói, ông yêu người trong mộng.\nCô Chu-kiều-Oanh là một người yêu lý-tưởng của ông. Ông rất yêu phục cô, trái lại cô cũng rất mến yêu ông. Cô là người có sắc lại giỏi văn-chương. Ông được gặp cô trong mấy giấc mộng của ông. Cô gửi cho ông những bức thư đầy rẫy tình yêu, ông cũng gửi cho cô những bức thư rất thân mật.\nNgười ta thường nói “yêu nhau một cách cao thượng“ yêu bằng một mối tình lý-tưởng. Nếu ở trên đời thực có tình lý-tưởng thì mối tình của ông Tản-Đà phải là một.Còn gì cao thượng bằng yêu một người mình tưởng-tượng ra, còn gì nên thơ bằng yêu một người mà mình chỉ có thể gặp được ở trong mộng.\nNếu những mối tình với cô bán hàng tạp-hóa ở Hàng-Bồ… mà được người ta nhắc đến, thì mối tình Chu-kiều-Oanh phải được người ta ca tụng đời đời.\nĐã có người nghi rằng cái tình của Tản-Đà không thực, những tình-cảm của ông là những tình tiểu thuyết. Khi ông nói rằng ông nhớ ông thương, ông chỉ nói thế cho có chuyện mà thôi, thực ra ông không nhớ không thương; ông cần nặn ra thơ, thì ông phải tìm đề trong sự nhớ thương.\nVề phần tôi, tôi không nghĩ thế. Tôi tin rằng, khi ông nhớ người tình nhân có quen biết hay không quen biết, ông có cảm thấy sự nhớ nhung khi lâm-ly khi man mác:\n“Mình ai chiếc bóng đêm thâu,\nNỗi riêng, riêng một mối sầu vì ai.\nTâm sự ấy nói dài sao xiết,\nGiấy mực đâu vẽ hết du mà\nDở dang là chữ tài hoa,\nChắp tay vái lạy giăng già chứng cho\n………………………………………\nGập tờ giấy niêm phong hạt lệ,\nNhờ cánh tem bay độ cung mây.\nÁi ân thôi có ngần này,\nThề nguyền non nước đợi ngày tái sinh.”\n(K. T. C. II)\nHoặc:\n“Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt\nNgắm non sông tám mặt sầu treo.\nĐường xa gánh nặng bóng chiều;\nCơn giông biển lớn, mái chèo thuyền nan.\n… Nghĩ thân thế mềm gan lắm lúc\nNhìn giang-san bạc tóc như chơi.\nMong ai mỏi gối chân trời,\nNhớ ai đi dứng ăn ngồi thẩn thơ.”\n***\nVăn-chương thời nôm na,\nThú chơi có sơn-hà.\nBa-vì ở trước mặt,\nHắc-giang bên cạnh nhà,\nTản-Đà.\nÔng Tản-Đà sinh trưởng ở chốn nguồn sông kẽ núi từ bé ông đã luôn luôn thấy Ba-vì ở trước mặt, Hắc-giang bên cạnh nhà.\nSau này khi ông đã trưởng-thành, ông vẫn luôn luôn nhớ đến những cảnh nó đã bao bọc ông khi còn ngây thơ. Ông vẫn tự cho là hơn người ở chỗ được sinh vào nơi ấy:\n“Sông-Đà núi Tản đúc nên ai,\nThân thế xưa nay được mấy người… “\nCái tình của ông đối với nước non một phần nẩy ra từ đó.\nÔng lại còn là một nhà nho đã đọc nhiều sách Tàu và ta ông chịu rất nhiều ảnh-hưởng lãng-mạn sáng suốt của họ.\nTheo các cụ nho, thì sông núi gió giăng là những vật có thể gợi cho các cụ cái quá khứ hoặc êm đềm, hoặc cay đắng. Nhưng nó không được làm bận trí các cụ, khi các cụ không đứng vào những cảnh ấy.\nSông núi đối với các cụ là biểu hiện quốc-gia, biết bao nhiêu thi-sĩ đã đem những nỗi đau thương vì nước để gửi vào non sông. Bao nhiêu người đã đứng lặng ngắm non sông mà không khỏi tưởng đến những cuộc tang-thương ở đời, và gẩy những khúc nhạc ai oán.\nỞ cái tình đối với non nước của ông Tản-Đà, tôi phải phân biết tình tự nhiên mà có và tình do sự học đào-tạo ra.\nTình tự nhiên của ông rất phức tạp, khi nó man mác khi nó đắm đuối, khi nó có vẻ không thành thực. Có một điều chắc chắn nhất là cái tình đối với non nước của phần nhiều là do ở “lòng quê” mà ra. Ông là một làng-sĩ\n[2] lang-thang quản bút với sơn-hà.Mỗi khi ông nhắc đến sông Đà núi Tản là ông nhắc đến quê-hương của ông.\nMà có lẽ ông chỉ nhắc đến là vì thế : “Từ bấy đến nay, tính ra đã bảy tám năm giời, chưa từng về đến gia-hương; mây non Tản, sóng sông-Đà, chỉ tưởng xa trông mà nhận đó là nơi cố hương vậy… “\n“Sóng dợn sông Đà con cá nhảy,\nMây chùm non Tản cái diều bay.”\nYêu non nước không phải vì non nước ấy đẹp mà vì non nước ấy là cửa quê-hương; tình non nước phối hợp với lòng quê, kể cũng là một cái đặc-sắc trong cái tình đối với non nước của một nhà nho.\nMột đặc điểm nữa: Có khi ông đứng trước một cảnh, ông thấy tâm hồn ông rung động mạnh, hình như có một tiếng huyền bí nó gọi ông, nó dục ông tan hòa vào với nó.\n“Hằng khi dưới bóng tà dương, một mình lơ lửng trên con đường đê cao, bên nọ sông Đà, bên kia núi Tản. Một mối cảm tình thanh thượng, lơ thơ như tơ liễu chiều xuân…\n“Lại đôi lúc sông Đà mùa nước, nước rộng mênh mông, gió cuốn mặt sông, sông nhô giòng nước, cái cảm tình phấn khích lại cũng muốn theo những sóng gió nước, mà tưởng như phá lãng thừa phong”.\n“Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,\nCánh chim bằng chín vạn những chờ mong.”\nChịu ảnh hưởng của sách, ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng có những tình non nước mà tôi đã gọi là tình tiểu-thuyết.\nNhững câu, đoạn văn gợi cái tình ấy ra chỉ là những cái khung cho một bài thơ, hoặc một đoạn văn:\n“Đỉnh non Tản mấy giờ man mác,\nGiải sông Đà bọt nước lênh đênh\nBao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình,\nNước kia mây nọ như mình với ta”\nHoặc:\n“Bước chân ra khỏi cổng Hàn,\nNước non man mác muôn ngàn dặm khơi.\nGánh tình nắng lắm ai ơi!\nTiền mang bạc giắt thuê ai đỡ cùng”.\nNhưng đối với ông Tản-Đà cái tình tiểu-thuyết có vẻ thực hơn rồi:\n“Hỏi mây nước mây xanh chẳng biết\nHỏi cùng sông, nước biếc không hay.\nSông nước chảy, núi mây bay.\nMình ơi có biết ta đây nhớ mình”.\nLại như trong bài thơ tuyệt tác “Thề non nước” có mấy câu:\n”Non cao những ngóng cùng trông\nSuối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.\nSương mai một nắm hao gầy,\nTóc mây một mái đã đầy tuyết sương.\nGiời tây chiếu bóng tà dương\nCàng phai vẻ ngọc nét vàng phôi pha.\nNon cao tuổi vẫn chưa già,\nNon thời nhớ nước, nước đà quên non”.\nĐọc mấy câu thơ này, ta thấy cái tình của non đối với nước nặng bao nhiêu thì cái tình của thi-sĩ đối với non nước nặng bấy nhiêu.\nTuy thế, ông Tản-Đà cũng không khỏi rơi vào những cái sáo của tiền-nhân, ông dùng thơ tả cảnh làm mũ cho bài thơ:\n“Trông giăng lại nhớ đến người”\n“Trông thấy giăng mà nhớ đến ai”…\nNhưng khi ta xét cái tình của ông, ta có đôi chút quan-niệm về lịch-sử, ta đặt ta về hai mươi năm về trước, ta công nhận cách tả cảnh tổng hợp của tiền-nhân, ta sẽ thấy ông có một ngọn bút tài tình:\n“Con sông xuân nước chẩy lờ đờ\nThuyền trôi lững thững, giăng tờ mờ soi…\nNước tuôn ngòi biếc trong trong vắt,\nĐá hỏm hom đen tối tò mò…\nDưới đường sóng bể nhấy reo\nNhư mừng bạn mới, như chào khách xa.”\nKhi ông tả cảnh cũng như khi ông gợi tình, ta nhận thấy cái đặc điểm “chơi” của nhà thi sĩ. Mà thật ra thì ông cũng như hầu hết các nhà nho, tả cảnh gợi tình chỉ để mà chơi thôi:\nChơi cho biết mặt sơn-hà\nCho sơn-hà biết ai là mặt chơi\n\nNgông, làm thơ để ví mình với vua, tiên, làm văn để tỏ mình khác người, hơn người, đó là cái bệnh chung của các nhà nho, thứ nhất là các nhà nho yếm-thế, quay lưng lại thời cuộc, đi sống một đời riêng của mình.\nTừ Chu-mạnh-Trinh, Nguyễn-Du qua Nguyễn-Công-Trứ, Cao-Bá-Quát, Tú-Xương, bao nhiêu là kiểu-mẫu của cái ngông ấy trong lịch-sử văn-học.\nTôi còn chưa kể thi-sĩ Tản-Đà.\nÔng Tản-Đà vốn giòng giõi quyền quí, tổ tiên xưa đã thi đỗ đỗ làm quan; ông thân sinh ra ông làm đến chức ngự-sử trong kinh, thế mà có bao giờ ông nói đến; ông không cho thế là hơn người. Ông chỉ tự-hào ở chỗ ông là người của núi Tản sông Đà.\n“Sông Đà núi Tản đúc nên ai,\nThân thế xưa nay được mấy người!”\nNgười ta tượng-trưng cái cao-thượng của người, ở đám mây trắng, cái quan-tử, bằng cây thông, ông tượng-trưng cái to lớn hùng vĩ của ông bằng cả quả núi ngọn sông.\nÔng là thi-sĩ, văn của ông là văn có số hạn, người ta khen ông cũng nhiều, chê ông cũng nhiều, nhưng ông tỏ vẻ khinh đời, không hề để ý đến những lời khen chê ấy.\nVăn-thơ của ông ế, ông đem lên chợ giời để bán cho tiên, cho giời. Và theo ông, các ngài có biết giời phê thế nào không? Giời lại phê:\n“… Văn thật tuyệt,\nVăn trần được thế chắc có ít,\nNhời văn tốt đẹp như sao băng,\nÝ văn hùng mạnh như mây chuyển,\nÊm như gió thoảng, tình như sương,\nĐầm như mưa sa, lạnh như tuyết.”\nVà lại có dịp để giời hỏi:\n“Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?\nNgười ở phương nào ta chưa biết.”\n-Dạ bẩm lạy trời con xin thưa:\nCon tên Khắc-Hiếu họ là Nguyễn,\nQuê ở Á-Châu về Địa-cầu,\nSông Đà núi Tản nước Nam-Việt,\nThiên-Tào tra sổ, xét vừa song,\nĐệ sổ lên trình Thượng-Đế trông:\n“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc-Hiếu,\nĐày xuống hạ giới vì tội ngông.\nTrời rằng không phải là trời đày,\nTrời định sai con một việc này,\nLà việc thiên-lương của nhân loại,\nCho con xuống thuật cùng đời hay”.\nCả cái ngông cuồng nhà thi-sĩ là ở đoạn thơ tôi trích trên đây. Tôi không cần bàn luận thêm nữa.\nHai lần hỏng trường Nam đem lại cho ông sự thất vọng về công danh, lại đem cho ông sự tuyệt-vọng về tình-ái.\nKhông được “võng anh đi trước võng nàng đi sau“, cô hàng tạp-hóa ở Hàng-Bồ đã để cho trái tim ông một vết thương nặng. Sự thật là thế, nhưng cứ căn-cứ ở văn-thơ ông thì đó chỉ là một truyện vặt ông đã kể qua khi ông viết Giấc Mộng Lớn mà thôi.\nMột mối tình của con người trần tục đâu ông thèm để ý đến. Sau này ông không có cô hàng tạp-hóa ở hàng Bồ nhưng ông có bao nhiêu mối tình “tiên” hơn.\nMột mỉm cười, một e-lệ của con người chưa thoát được vòng danh-lợi làm cho ông cảm động đâu bằng một nắm rau sắng chùa Hương của người tình không quen biết (!)\nNhững lời thỏ thẻ của người con trần tục có mãnh lực đâu bằng những bức thư tâm-huyết của Chu-Kiều-Oanh, một người tình lý-tưởng của ông, một vị tiên đã cùng ông ngao du trên sông Ngân-Hà, ngoài bể Nam-Minh.\nLại có lần ông cho ông là một vị tiên ăn trộm đào bị đầy xuống hạ-giới, còn nhớ trời có hai đứa con gái, Chức-Nữ với Hằng-Nga, ông viết thư lên hỏi, để cho trời mắng:\n“Tình riêng ra ngẩn vào ngơ\nNgồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi giời.\nXem thư giời cũng bật cười\nCười cho hạ-giới có người oái-oăm.\n***\nKhách hà-nhân giả\nCớ làm sao xuồng-xã dám đưa thư\nChốn thiên cung ai kén rể bao giờ\nChỉ những truyện vẩn vơ cùng giấy má,\nChức-Nữ tảo phùng giai-tế giá,\nHằng Nga bất nại bảo phu miên.\nMở then mây quăng giả bức hồng-tiên\nMời khách hãy ngồi yên trong cõi tục\nNgười đâu kiếp trước Đông-phương-Sóc\nĂn trộm đào quen học thói ngày xưa,\nTrần gian đầy mãi không chừa.\nChắc mỗi lần nghĩ đến những giấc-mộng, những người tình của ông, ông phải hỏi: “Có ai tiên như ta, có ai được yêu như ta không?”\nTa để ông trả lời, để ông được hơn người cho toại cái ngông của ông.\nĐã có lần tôi nói đến cái sứ-mệnh mà thi-sĩ đã tự đeo lên lưng thi-sĩ. Trừ việc thiên-hương trên, tôi còn muốn chép lại một vài câu chuyện, hoặc đã được đọc trên báo, hoặc đã được nghe người kể lại. Nghe đâu một người đàn bà vì yêu thơ của ông, muốn có một bức ảnh của ông. Người ấy viết thơ đến hai lần, thi-sĩ mới trả lời, mà trả lời ở đâu, ở trên An-Nam tạp-chỉ. Đại khái ông nói rằng đã từ hai ba mươi năm ông không hề chụp ảnh, vì vậy ông không có ảnh cho. Mà cần gì phải có ảnh của ông, văn-thơ của ông tức là hình ảnh của ông vậy. Nếu khó tính chưa được toại lòng về bức ảnh ấy thì ông lại xin cho một bức ảnh khác rõ hơn: Hình ảnh người gánh sách ở bìa An-Nam tạp-chí và tất cả các sách của ông. Hình ảnh ấy, ai cũng rõ, tượng-trưng công-việc của ông, sứ-mệnh của ông.\nThế vẫn chưa hết.\nÔng Tản-Đà cũng như mỗi nhà nho ta, trong bụng có một ông vua. Ông cũng làm thơ khẩu-khí vịnh “bù-nhìn”, “giang-san”, ngông-nghênh coi như đất nước là của mình. Theo người bạn kể lại thì khi ông có cái đồn điền ở Vĩnh-Yên, ông sửa-sang làm như xứ-sở riêng của ông. Ông sung-sướng được làm chủ An-Nam với ngọn Cờ-Vàng. Ông có trách nhiệm bồi bổ xứ-sở làm cho mỗi ngày một tốt đẹp hơn.\nTôi muốn ngừng lại đây để có thì giờ đi sâu vào những chuyện đã kể hơn là kể thêm những chuyện ngông còn lại của thi-sĩ.\nTản-Đà là một nhà nho, khí-khải, quân-tử. Tản-Đà là một thi-sĩ có chân tài. Tản Đà là một khách đa-tình thất vọng vì tình, một người rất có chí, một kẻ chiến-bại trên đường công-danh. Tất cả cái ngông của Tản-Đà là ở đấy.\nCái ngông đã giúp Tản-Đà khinh những cái mà đời trọng, tọng những cái cao quá sức người đời. Cái ngông đã giúp thi-sĩ Tản-Đà bầy tỏ cái chân-tài, cái khác đời của thi-sĩ. Cái ngông đã giúp khách đa tình của sông Đà núi Tản biểu-lộ những mối tình ly kỳ trên lớp trần-tục. Vì có cái ngông, con người bất đắc-chí ở trường Nam, kẻ chiến bại trên trường ngôn luận đã tỏ được rằng mình hơn người, ít nhất là bằng người trong học-vấn và sự làm việc.\nNói như vậy chắc có người hiểu rằng ngông tức là kiêu căng. Không, ta nên phân biệt; những chuyện tôi vừa kể trên chứng nhận một cách rõ ràng. Một thí dụ: Tản-Đà không đặt danh giá vào gia-thế, ông chỉ tự cao một cách nên thơ rằng ông hơn người ở chỗ ông là của núi Tản sông Đà. Mà của núi Tản sông Đà thì đã hơn ai. Một chuyện gần như khôi-hài. Chính cái nên thơ và khôi-hài ấy đem lại cho cái tự-cao của ông một tính cách riêng; nó không phải cái tự-cao ta thường hiểu, mà là cái ngông của ông vậy.\nTự cao người ta ghét, ngông người ta yêu, bác Tản-Đà của chúng ta vẫn được người ta yêu, không vì một cớ gì mà mỉa-mai nhà thi-sĩ của chúng ta được.\nTôi viết câu này để trả lời mấy câu phê-bình khắc-nghiệt của một nhà văn mà tôi đã nhắc đến nhiều lần trong tập này:\n“Ông tự cao tự đại… thứ nhất là làm sách để tán tụng mình thì lại càng khó nghe lắm”.\n\nÔng Tản-Đà là một nhà văn lãng-mạn.Đã từng tế nàng Chiêu-quân ở Non-tiên. Vì chán đời có phen định tịch cốc để từ trần. Ông là tác giả những Khối-tình, Giấc-Mộng, Thề Non Nước, Trần Ai Tri Kỷ. Ông sáng tác ra thuyết thiên-hương.\nÔng là một nhà văn duy-tâm.\nNhưng ông không phải là nhà văn duy-tâm thuần túy, Nếu văn thơ, đạo lý đem sự đầy đủ say-sưa cho tinh thần ông, sự ăn uống cũng đem sự khoái-lạc cho thân thể ông. Ông thích làm thơ, tan-hòa vào những cảnh đẹp, nhưng ông cũng thích uống rượu, ăn ngon.\nTrong văn-chương và tư tưởng của ông đã hơn một lần ông để lộ một bản-tính duy-vật rõ rệt chẳng kém gì bản tính duy-tâm.\nTa không lấy làm ngạc nhiên. Sự mâu-thuẫn và phức-tạp của bản-tính ấy không phải là không thể có. Thứ nhất là ở một thi-sĩ, nghĩa là một người mà ta có thể ngờ được tất cả.\nCó người bảo rằng những tư-tưởng duy-vật của ông chỉ là kết quả của một đời lãng-mạn. Nhà nho Nguyễn Khắc-Hiếu chán đời mà mách ông cách quên đời bằng rượu. Nhà thi-sĩ Tản-Đà bi-quan bảo ông rằng thì giờ đi mau quá, ông chóng già và đời chỉ là một giấc mộng, không có một ý nghĩa gì khác, ông phải tận hưởng lấy những sự khoái-lạc, mê ly mà “giấc mộng” ấy có thể tạo cho ông.\nÔng tiếc khoái-lạc, tham đời, khát khao sự sống tự đấy.\nNói như vậy là không công bằng với bản tính duy-vật của ông, hay nói cho đúng chỉ công nhận nó là một cái phụ của bản tính duy-tâm. Tôi không đồng ý về chỗ ấy, hơn thế nữa tôi đã có những suy nghĩ trái ngược lại. Tôi muốn xếp theo thứ tự về can hệ:\nBản tính duy-vật\nTâm hồn thi sĩ\nSự đào tạo của nho-giáo\nSự đào tạo của cuộc-đời.\nBấy nhiêu đặc-tính đúc thành nhà thi-sĩ Nguyễn khắc-Hiếu của chúng ta.\nVì cái giá trị của người ta là ở chỗ người ta có tâm hồn thi sĩ, người ta là một tín đồ của đạo giáo, một thức-giả trước cuộc đời đang thay đổi chứ không phải ở chỗ người ta là một người tôn thờ khoái-lạc, nên ở ông Tản-Đà, thứ nhất là trong văn thơ, nhà thi-sĩ, nhà nho yếm-thế lúc nào cũng lăm-le bóp chết Tản-Đà, môn-đồ trung thành của chủ-nghĩa khoái-lạc, hoặc khoác cho môn-đồ ấy chiếc áo của một con người ngông, của một văn-sĩ giác-ngộ.\nBản-tính của ông là thích uống rượu, ưa ăn ngon, ham chơi. Muốn tìm một bài thơ vịnh rượu, ca tụng vịnh rượu, ca tụng cái say trong văn-nghiệp của ông là một việc ai cũng có thể làm được một cách dễ dàng. Ông thích rượu đến nỗi, gần đây bao nhiêu người hễ nói đến ông chỉ nói đến be lớn be con để mua lấy một nụ cười.\nNhưng hãy khoan đã. Ta chớ vội cười ông, ông là giòng dõi lưu-linh nhưng ông đâu phải như những phường cục-mịch chỉ biết có cái thú say trơn.\nÔng thích rượu vì rượu là nguồn mộng, và nguồn cảm-hứng của thơ ông. Ta hãy nghe ông đại khái kể:\nVề sự uống rượu thì có kỷ-niệm sau này là lý thú hơn cả. Khi còn An-Nam tạp-chí mà ông in ở Vinh, tòa báo thì ở ngoài Bắc, ông thường phải đi từ Hà-Nội vào Vinh và từ Vinh ra Hà-Nội luôn. Hôm ấy trời hơi mưa. Ở Hà-Nội lên xe lửa ông có đem theo một chai rượu. Xe chạy quá Nam-Định có người con gái đẹp mang nem lại mời ông. Ông mua, nhưng không giả tiền ngay cứ bắt người con gái ngồi trước ông. Rượu say, hình người con gái mỗi ngày một mờ, một đẹp hơn. Thi-sĩ hứng thú, tưởng không bao giờ có dịp thứ hai như thế nữa; ông ngồi uống mãi cho đến lúc say quá nằm xuống xe, bên be rượu để ngủ.\nTàu đỗ ở vinh, thi-sĩ vẫn ngủ.\nĐến Huế tàu bỏ toa lại, thi-sĩ vẫn ngủ. Đến sáng mặt giời đã lên cao, có người phu quét toa vào đánh thức thi-sĩ dậy.\nSự thật hay là một giấc mộng đẹp! Thi-sĩ kết câu chuyện một cách mến tiếc.\nÔng uống rượu là để quên sự tang-thương ở đời. Ta hãy nghe ông ngâm:\n“Công danh sự nghiệp mặc đời\nBên thời be rượu, bên thời bài thơ”\n“… cho vơi hũ rượu cho đầy túi thơ,\nTrăm năm thơ túi rượu vò\nNghìn năm thi-sĩ sửu đồ là ai.”\nTín-đồ của chủ-nghĩa khoác-lạc ngồi uống rượu đã khoác chiếc áo của thi-sĩ Tản-Đà và nhà nho yếm-thế Nguyễn khắc-Hiếu.\nÔng thích ăn ngon; ông thận trọng ở sự ăn. Đã có lần ông viết: “Đồ ăn không ngon thời không ngon, giờ ăn không ngon thời không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon thời không ngon, không được người cùng ăn cho ngon thời không ngon” – Ăn ngon.\nNói chuyện văn-chương thi-sĩ còn viết:\n“Văn-chương có giống như mâm gỏi. Đĩa cá lạng, đĩa giấm ngọt thời người thường để ăn, còn miếng mắt, miếng xương phải đợi con nhà gỏi.\nVăn-chương có giống như thịt chim, sào thuôn, nướng chả thì dễ chín, hấp cách thủy lửa không đến mà nhừ hơn.\nVăn-chương có giống như ngũ-vị…”\nVà:\n“Từ khi về ở quê, đương ăn rau đổi ra ăn thịt. Mỗi ngày cũng chỉ có một bữa ăn; mỗi bữa ăn hoặc là cái thủ heo hoặc con gà, con vịt, hoặc con cá, tất toàn thể đặt trong mâm với con dao đĩa muối; rượu thì uống hũ không uống chai. Bữa ăn cũng rất vô thường; nếu về phần đêm thời có khi thắp hai mươi tám ngọn nến gọi là nhị-thập-bát-tú, thắp bảy ngọn nến gọi là thất-đình-đàn. Bữa ăn nếu về phần ngày, thời sau khi ăn xong tất phải có con dao thanh quắm đi chém phạt ít nhiều cành cây như không thế thời không thấy sướng. Lại như những con gà con vật nếu không được tự tay mình cắt tiết thời ăn không thấy ngon “Giấc Mộng Lớn”.\nĐó, ông thích ăn nhưng cái thú, ông không đặt ở miếng ngon như người ta, ông đặt ở nghệ-thuật ăn. Một công việc ở miếng đất của vật-chất, ông nhắc lên miếng đất của tinh-thần.\nÔng tưởng-tượng một ngày kia ông già, hơn thế nữa, một ngày kia ông chết, ông sẽ không được hưởng những sự khoái-lạc ở đời… Nghĩ thế ông sợ già, sợ chết. Ông càng sợ bao nhiêu, ông càng vồ-vập tham lam trong cuộc đời vật-chất bấy nhiêu.\nTôi nói vậy nhưng các ngài đừng vội đi tìm một sự biểu-lộ sống sượng của tâm-lý ấy.\nNhà nho Nguyễn khắc-Hiếu đâu có quyền khát sống và sợ chết.\nTâm-lý ấy chỉ được biểu-lộ một cách dụt dè trong một thi-tứ cũ-kỹ của cổ nhân truyền lại: Tiếc xuân.\n“Người có tình xuân không có tình. Mình tiếc xuân, xuân tiếc chi mình; mình thương xuân, xuân chẳng thương mình, thời mình thương tiếc mình hơn tiếc xuân:\nXuân kia sáu bẩy mươi lần\nCủa giời tham được độ ngần ấy thôi.\nChơi hoang mất nửa đi rồi\nNgẩn ngơ ngồi nghĩ thân đời mà lo.\nTrông gương luống đã thẹn thò\nMột mai tóc bạc vai gù mới dơ.\nThương thay xuân chẳng đợi chờ\nTiếc thay xuân những hững hờ với xuân…\nCái tài của ông Tản-Đà, con người phức tạp là ở chỗ ấy. Ta phải khen Tản-Đà thi-sĩ văn-sĩ đã khéo lợi dụng để Tản-Đà thờ khoái lạc phải giúp mình trong việc xây một sự-nghiệp văn-chương tinh-túy.\n\nVào đầu thế - kỷ thứ hai mươi, giữa lúc người ta còn say mê khoa-cử, giữa lúc người ta còn cho tiếng ta là một thứ tiếng nôm na không đáng để ý, một số ít người dám đứng lên hô hào vun đắp thứ tiếng ấy để sau này có thể thành một nền văn-chương.\nNgày chủ-nhật 4 Aout 1907 ở hội quán hội Trí-tri Hà-Nội, ông Nguyễn văn-Vĩnh đã đọc bài diễn-văn nói nước ta muốn tiếp kịp người phải hấp-thụ lấy những tư-tưởng mới và muốn những tư-tưởng ấy được phổ thông thì phải dùng những sách dịch ở chữ nước ngoài ra tiếng An-nam làm phương-tiện truyền bá.\nÔng khởi-xướng công việc dịch sách, vấn đề dùng chữ quốc-ngữ thay chữ nho, hai thức chữ khó học và khó hiểu.\n“Nước Nam ta mai sau này, hay dở là ở như chữ quốc ngữ “ đó là câu tâm-huyết của ông.\nNăm 1917, Ông Phạm-Quỳnh xuất bản tạp-chí Nam-Phong với mấy lời nói đầu:\n“Mục này sẽ mở để hoan nghênh các nhà văn-sĩ mới nước ta, nhất là những nhà đã khéo đào luyện cái chất nôm mở đường cho lối văn-chương riêng bằng quốc-ngữ. Chúng tôi mong ở các nhà văn-sĩ mới ấy lắm, vì bao giờ lời nôm ta có được bằng nhập-tịch vào cõi văn-chương thì sự học trong nước mới có cơ phát-đạt lên được. Văn-chương vốn là cái máy truyền đạt tư tưởng rất nhậy. Cái trất nôm tuy còn mộc mạc như xúc gỗ chưa thành đồ nhưng nếu khéo đẽo trạm thì có ngày “trắc gụ” cũng nên”.\nN.P. số 1, 1917\nÔng Nguyễn khắc-Hiếu cùng với các ông Vĩnh, Quỳnh, là người đã gây cái mầm quốc-văn ấy.\nViệc xây đắp một nền thi-ca mới, tôi sẽ nói đến trong một mục sau, bây giờ tôi hãy chỉ nói đến cái công việc của ông đối với văn xuôi ta.\nÔng đã viết được: Ba Giấc-Mộng-Con, Giấc-Mộng-Lớn, Thề-Non-Nước, Trần-Ai, Tri-Kỷ…\nÔng dịch Đại-Học, Đàn-Bà-Tầu, Đài Gương. Đó là mới kể những văn đã in thành sách. Nếu ta lục những tập báo cũ như Hữu-Thanh, Đông-Pháp thời-báo, An-nam tạp-chí, ta còn thấy bao nhiêu công-trình trứ-tác, đáng giữ một địa vị quan-trọng trong nền văn-chương Việt-Nam.\n… Người học trò bậc trung đẳng nào chẳng thuộc lòng, hoặc nhớ những bài “Cái chưa trong bụng người”, “Đánh bạc…”\nKhi Tản-Đà thư-cục vừa thành lập, ông gom góp nhiều bài tản-văn ngắn dài, luận về tình-cảm, sự đời, in thành tập Tản-Đà tản-văn. Người phê-bình sách vào thời bấy giờ còn ít, chúng ta không có một dấu vết gì về dư luận, tôi không căn cứ vào đâu mà định cái giá trị và ảnh-hưởng riêng cuốn sách đó về thời bấy giờ. Tôi chỉ có dịp chép ra đây mấy lời tựa của ông Dương bá-Trạc :\n“Nước ta xưa nay trước-thuật thuần dùng chữ Tàu, văn quốc âm chỉ văn vần còn có đôi bài mà tản-văn bói không ra một quyển. Mới mười lăm năm nay sĩ-phu trong nước mới có cái khuynh hướng về văn quốc âm, lấy bút sắt thế bút lông, mà dóng trống mở cờ cùng nhau đua đuổi trên trường hãn-mạc. Giọng Hàn-Thuyên, hồn Đại-Việt đã lập lòe có một tia lửa sáng xuất-hiện trong văn-giới hoàn-cầu. Ông Nguyễn khắc-Hiếu Sơn-Tây chính là một kiện-tướng trên trường hãn-mạc ấy.”\nMột vài nhà phê-bình trước tôi, cho rằng văn suôi của ông Tản-Đà không được minh-bạch và chính xác; không được thâm thúy như văn ông Phạm-Quỳnh, dản dị như văn ông Nguyễn văn-Vĩnh.\nNgười ta có ý chê ông.\nNhưng ông là một thi-sĩ, chịu ảnh hưởng của nho học hơn là tây-học. Tuy đã có lần ông nói rằng về văn xuôi, ông nghĩ thế nào viết thế nhưng không nên tin ở lời ông làm.Ở ông cũng như bất cứ như thi-sĩ nào khác ý muốn viết cho dản dị và chính xác, nhưng cái thi-năng ẩn núp trong ngòi bút bắt ông phải viết cho có âm-điệu. Ông là một cây đàn ngàn phím. Khi ông nghiêm-nghị chỉnh tề, ông gẩy thành những khúc nhạc đã đành, khi ông cầm đàn lơ đễnh vuốt phải sợi tơ, nó cũng nổi lên những điệu déo dắt.\nVì vậy muốn thưởng thức văn ông, tôi không muốn tìm những đặc-sắc khác cái đặc-sắc của nhà thi-sĩ làm văn suôi.\nẢnh hưởng của văn suôi của ông có lẽ không mạnh bằng văn của các ông Quỳnh ông Vĩnh. Nhưng từ 1920 hình như nhà văn ta bắt chước lối hành-văn của ông cũng nhiều, những cuốn tiểu-thuyết như “Giọt lệ sông Hương” của Tam-Lang, “Kiếp hồng nhan“ của Nguyễn công Hoan có lẽ chỉ là những tiếng dội của lối văn Tản-Đà.\nNhưng có một điều ta có thể chắc chắn hơn là văn suôi ấy có ảnh-hưởng rất lớn cho sự đào tạo cái nhạc-năng của các thi-sĩ ở những lớp sau này.\nTa hãy đọc:\n“Ông Nã-phá-Luân khi ở đảo Thanh-hy-Liễn, mây giời man mác, nước bể mênh-mông tiếng sóng sa tai ngọn cờ khuất mắt, mà tưởng-tượng công việc trên mặt đất cõi Âu-châu.\nBà Chiêu-Quân khi ở đất Hồ, mặt đất cát bay đầu non gió thổi mà nhớ đến cung-điện trốn Trường-An.\nVua Đường-Minh-Hoàng khi vào Ba-Thục, chuông chùa khuya đưa, mây ngàn sớm đuổi mà thương người dưới dốc lê…\nVà :\n“Thử trèo bức tường đổ trông quãng đường sa, mồ con mả lớn, chỗ năm chỗ ba, chẳng quan thì dân, chẳng trẻ thì già, trước cũng người cả, bây giờ đã ma! Nào tiền nào của, nào cửa nào nhà, nào con nào vợ, nào lợn nào gà, nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa, nào đâu đâu cả mà chỉ thấy sương mù nắng dãi với mưa sa! Cuộc nhân thế từ xưa mãi thế, làng chơi ta phải biết, trăm năm khôn dại dễ ru mà.”\nTa đừng vội tìm tư-tưởng trong những câu ấy, ta lắng nghe cái dư âm của lời ta đọc đang dắt déo như là cung đàn. Và ta hãy bằng lòng nhận lấy có thế, thứ nhất là ta khi còn phải chờ ở ông một sự nghiệp về triết-lý và thi-ca nữa.\n\nTác giả: Lê Thanh Nghiên cứu & Phê bình: Trần Huệ Phong Tản Đà Thư Cục 1939 Nguồn: Tve-4U.org Đánh máy: quyche Trình bày & Hiệu đính: VC Tạo bìa: inno14 - Tạo ebook: tna\n\n… Nhưng nếu sau này ông sẽ được cùng thời gian mà sống thì có lẽ ông chỉ sống vì thơ của ông mà thôi. Còn những tập tản văn, những tiểu-thuyết, tập An-nam tạp-chí của ông, hậu-sinh sẽ chỉ giờ bằng mấy ngón tay vô tình.\nÔng Nguyễn Khắc-Hiếu là một thi-sĩ có tài.\nXét tác-giả những tập Khối tình xin phân biệt nhà sáng-tác thi-đề và người “thợ thơ”.\nNgười ta nói ông Tản-Đà không có tư tưởng, ông không thích suy-nghĩ, ông thích mơ-mộng, ông thích sống trong cõi mông-lung.\nNói vậy không phải là không đúng. Ta cứ giở mấy tập thơ của ông đọc qua mấy đầu-đề, ta chỉ thấy nào là nhớ chị hàng cau, nhớ độc-giả An-nam tạp-chí, nhớ ông Trâu-Quỳ, nhớ người không quen biết, nhớ người ông đã gặp trong mộng, nào là nói chuyện với gió, với trăng, với bóng, ông không bao giờ đem những tư tưởng về nước, về đời, những tư-tưởng đúng đắn làm tài-liệu cho bài thơ. Đọc thơ ông người ta không cần phải ngừng lại ở một chỗ nào để suy-nghĩ, để nhận lấy một vài tư-tưởng mới lạ. Đọc một bài thơ của ông chỉ như hát một khúc ly-tao, ngâm một câu hát vặt?\nNếu ông không chú-trọng về tư-tưởng chỉ cốt gọt câu cho đẹp, ghép vần cho hay là vì tuy ông là một con hoang của thời-đại nhưng ông vẫn còn giữ được những ảnh-hưởng của thời-đại nó đã nuôi ông.\nÔng vẫn còn cái quan-niệm về thơ của tiền nhân: Thơ nôm chỉ là một đồ chơi làm ra trong những phút an-nhàn lãng-mạn, sau những giờ khô khan với kinh-luân, sử; những thi-đề thông thường là con sông dẫy núi, cái quạt giấy, thẳng bồ nhìn… những chuyện đứng đắn không được đem ra làm đồ chơi cho một lũ ăn không ngồi dưng.\nCũng như vua Lê thánh-Tôn, ông vịnh thằng bồ nhìn, cũng như ông Nguyễn công-Trứ, ông vịnh phỗng đá, vịnh hoa sen, nhưng ông cũng đã tìm ra được thi-đề mới; những thi-đề này rất cần cho cái trữ-tình của ông, ông đã ngâm những sự nhớ nhung thương tiếc kỳ-dị; ông nhớ người chưa từng quen biết, người trong mộng, ông cho non nước mượn những tình lâm-ly, những ước vọng mơ hồ, Những bài Thư đưa cho người chưa quen biết, Thề non nước, là những bài thơ chưa từng có trong văn thơ Việt-Nam.\nNói về thi-đề của ông Tản-Đà, ta nên nhận kỹ cái đặc-sắc này với những câu chuyện sống qua, ông là một thi-sĩ thường, nhưng khi ông nói ông nhớ mà không biết nhớ ai, ông thương mà không biết thương ai, ông than mà không biết than về cái gì, thì ông là thơ sống, và thơ của ông là chất thơ trong như lọc, với những cảnh-tượng không rõ rệt, với những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ nên những bức tranh tuyệt bút, với những tư-tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ màng, ông làm nên những câu thơ tuyệt-mỹ.\nNhưng giá-trị trong thơ của thi-sĩ Tản-Đà không phải tư-tưởng, giá trị phần nhiều ở tiếng, ở câu, ở điệu thơ.\nĐối với thi-sĩ mỗi tiếng có một chất thơ riêng.\nKhi muốn tả một cảnh ngoạn mục, một cảm-giác lâng lâng man-mác, thi sĩ dùng những tiếng rất dịu dàng:\n“Nước đi, đi mãi không về cùng non…\n“Nước kia dù hãy còn đi\n“Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui…”\nKhi muốn tả một cảnh đặc sắc về hình tượng, thi sĩ tìm những tiếng chỉ mới nghe đọc cũng đã nhận được cái đặc sắc ấy rồi, ông phối hợp “âm” với “ý” :\n“Con sông xuân nước chẩy lờ đờ\n“ Thuyền trôi lững thững, giăng tờ mờ soi…\n“ Nước trong xanh lơ lửng con cá vàng,\n“ Mưa mưa mãi giời mưa rả rich\n“ Hạt mữa thu dạ khách đầy vơi.\nVề điệu thơ.\nMột hôm, một nhà thơ “tự-do” ngồi đàm luận về văn-chương nói rằng: Thơ đường-luật mà cứ đem đọc lên thì bài nào cũng giống bài nào; bài của một đại thi-hào cũng giống bài của một người thợ thơ tập-sự.\nBây giờ ta đưa cho một người tốt giọng đọc, hay hơn nữa, ngâm hai bài thơ, một bài làm đúng luật của một thi-sĩ vô danh nào đó, ta sẽ thấy hai bài tương tự giống nhau và đều có một điệu mềm mỏng nên thơ. Thơ thường làm để mà đọc, để ngâm, thế mà đọc, ngâm lên người ta khó lòng mà nhận được cái giá-trị đặc-biệt của bài thơ, đó chẳng phải là một điều khuyết-điểm hay sao.\nSự khuyết-điểm ấy do luật thơ mà ra. Luật thơ Đường cũng nhất định như các luật thơ khác, nhưng nghiêm-khắc quá.\nSố tiếng, số câu nhất định, âm-thanh nhất định, chỗ “nghỉ” cũng nhất định.Ngoài cái “nhất tam ngũ bất luận” ta không còn một sự xuất-qui nào nữa. Cái luật bằng trắc chỉ là một cái khuôn mà mỗi thợ thơ phải dùng.Điệu thơ là ở vần, ở chữ và chỗ nghỉ thề mà vần, chữ, chỗ nghỉ đã định trước cả rồi, thì cái điệu cũng phải định trước rồi. Vì thế, một thi-sĩ ta không như một thi-sĩ Pháp, Anh… có thể đem diễn cái đặc sắc của mình trong điệu thơ được.\nBao nhiêu năm, người ta vẫn ngâm những điệu đã có sẵn, người ta ngâm mãi mà không chán, không hề nghĩ đến sự thay đổi, người ta cho những luật ấy là thần thánh, bất di-dịch.\nÝ kiến này là của những người không yêu thơ cũ, biện-luận để đánh đổ thơ cũ, nhưng tôi thiết tưởng cũng có một phần chân-lý.\nTuy nhiên ta không nên tin hẳn ý ấy và vội vàng kết tội một thể thơ đã làm vinh-dự cho bao nhiêu thi-sĩ.\nVới những thi-sĩ có chân tài, những luật nghiêm-khắc chỉ làm tăng giá trị của thi-sĩ mà thôi.\nVả lại, trong một bài thơ đường-luật bằng trắc có nhất định nhưng vẫn còn một sự tự do rất lợi cho sáng-tác điệu thơ.\nTrong chữ hán, nói về thanh của tiếng, có bốn loại: Bình-thanh, thượng-thanh, khứ-thanh, nhập-thanh.\nLoại trên thuộc về loại bằng, và ba loại dưới thuộc về loại trắc của ta. Nhưng ở quốc văn ta, ta lại có thể phân biệt trong bình-thanh hai loại: Tiếng bình-thanh không dấu, thí dụ âm, và tiếng bình-thanh có dấu huyền, thí dụ: Ầm.\nTrong những thanh về sau cũng thế, cứ một thanh của Tàu là có hai thanh của ta.\nKhi làm thơ, thí dụ trong luật bắt buộc chỗ này phải là tiếng bằng, thi-sĩ ta có thể đặt một tiếng bằng không dấu, hay bằng có dấu huyền được. Chính sự tự do này làm cho âm điệu của thơ có đặc-sắc riêng.\nNhư thi-sĩ Tản-Đà đã nói trong một số An-nam tạp-chí, luôn luôn thi-sĩ lợi dụng sự tự-do ấy. Trong bài thơ Ngày xuân tương tư:\nTrách cái tầm xuân nhả mối tơ,\nLàm cho bối dối mối tương-tư.\nSương mù mặt đất người theo mộng\nNhạn lảng chân trời kẻ đợi thư.\nNghìn dặm dám quên tình lúc ấy,\nTrăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.\nTương-tư một mối hai người biết,\nAi đọc thư này đã biết chưa…\nNếu ta đổi câu thứ tư như sau này:\n“Nhạn lảng chân mây kẻ đợi thư “, như thế nghĩa không khác mấy, luật cũng đúng, song tiếng “mây” điệp-thanh với “thư” ở vần, như thế điệu không được mềm mỏng bằng điệu của câu trên.\nLàm thơ thi-sĩ Tản-Đà, không những chú-trọng về toàn bài mà lại chú trọng về điệu từng câu, một phần câu nữa.\n“Đỉnh non Tản mây giời man mác,\nGiải sông Đà, bọt nước lênh đênh;\nBao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình,\nNước kia mây nọ như mình với ta…\n“Hỏi cùng núi mây sanh chẳng biết,\nHỏi cùng sông nước biết không hay\nSông nước chảy núi mây bay,\nMình ơi có biết ta đây nhớ mình.”\n(Thư trách người tình-nhân không quen biết)\nTrông mây nước bốn bề lạnh ngắt,\nNgắm non sông tám mặt sầu treo,\nĐường xa gánh nặng bóng chiều,\nCơn going biển lớn mái trèo thuyền nan.,\nNghĩ thân-thế mềm gan lắm lúc,\nNhìn giang sơn bạc tóc như chơi,\nMong ai mỏi gối chân trời,\nNhớ ai đi đứng ăn ngồi thẩn thơ.\n(Thư lại trách người tình-nhân không quen biết)\nNói về điệu của toàn bài, thì như điệu của bài\nThề non nước có thể gọi là hoàn toàn:\n“Nước non nặng một lời thề\nNước đi đi mãi không về cùng non,\nNhớ lời nguyện nước thề non,\nNước đi chưa lại non còn đứng trông\nXuối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày\nXương mai một nắm hao gầy;\nTóc mây một mái đã dầy tuyết-sương\nGiời tây chiếu bóng tà-dương,\nCàng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.\nNon cao tuổi vẫn chưa già\nNon thời nhớ nước, nước đà quên non\nDù như sông cạn đá mòn.\nCòn non còn nước, hãy còn thề xưa,\nNon xanh đã biết hay chưa?\nNước đi ra bể lại mưa về nguồn.\nNước non hội ngộ còn luôn,\nBảo cho non chớ có buồn làm chi,\nNước kia dù hãy còn đi\nNgàn dâu xanh tốt non thì cứ vui,\nNghìn năm dao ước kết đôi,\nNon non nước nước không nguôi lời thề.”\nKhi muốn tả những tình lâm-ly thì giọng điệu cũng lâm-ly, khi muốn tả những cảnh ảm đạm thì hình thơ cũng có vẻ ảm đạm:\n“Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà,\nĐường xa người vắng, bóng chiều tà.\nMột dãy lau cao làn gió chạy,\nMấy cây thưa lá sắc vàng phai”\n(Thăm mả cũ bên đường)\nKhi muốn giọng thơ tự nhiên, thi-sĩ làm những câu thơ như những câu chuyện nói:\n“Nguyên lúc anh ba nằm một mình,\nVắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.\nNằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,\nUống xong ấm nước, nằm ngâm văn.”\n(Hầu giới)\nTrái lại, đôi lúc cái tài nó bỏ ông với kiên-nhẫn của ông thì ông là một người thợ vụng về.\nNhưng không phải vì đó mà ông là một thi sĩ có thiên-tài và có ảnh-hưởng đến thi-ca Việt-Nam hiện-đại.\n\nÔng Tản-Đà là một thi-sĩ, một văn-sĩ. Nhưng cái mộng của ông là làm “một thi-sĩ, văn-sĩ kiêm triết-học” chứ như ông đã nói trong một bức thư gửi cho Chu-Kiều-Oanh, chỉ đem hai chữ văn-sĩ mà gói cái đời phù sinh thì thế nào gọi là đủ được.\nNhững tư-tưởng triết-lý dải dác ở các sách không kể, những bài luận về thuyết thiên-lương của ông có thể gọi là một công trình sáng-tác về triết-lý có giá trị. Tôi nói “sáng tác” với một sự dè dặt mà tôi có thể có.\nThiên-lương là gì?Thuyết của ông thế nào? Phân-tích và phê-phán rõ ràng, đó là một công việc trên cái sức lực của tôi, tôi chỉ tóm tắt và luận qua về thuyết ấy.\nThiên lương là cái “tốt” của người ta. Nó là động-lực của tất cả những việc hay của người. Không phải giáo-dục mới có, nó có trong lòng người ta từ khi mới lọt lòng.\nVà nó sẽ còn mãi mãi nếu người ta biết gìn giữ; nó sẽ sáng dần ra nếu người ta biết cách trông mong nó; nó sẽ lu mờ đi và có khi mất hẳn nếu người ta không bồi-dưỡng nó.\nÔng so sánh thiên-lương với cái bọng dầu cay của con cà-cuống. Cà-cuống mất cái bọng cay thì không còn giá-trị nữa. Ông khuyên người ta rằng “cái bọng” giời cho rất quí-báu, nó đặt ta lên trên mọi vật, phải giữ thiên-lương của người ta có cái to, cái nhỏ, cái to tức là thiên-lương của những bậc xuất-chúng thánh-hiền, thiên-lương nhỏ của những người bán-khai ăn lông ở lỗ, chưa thấy được thế nào là đạo-lý.\nViết đến đây tôi nghĩ Rousseau. Và tôi có quyền nghĩ đến vì theo lời ông thì ông có đọc Rousseau bằng những văn dịch chữ Hán của Tàu. Ông rất phục Rousseau và hình như ông chịu ảnh hưởng của Rousseau nhiều lắm. Tác-giả Emile và những Discours có giúp nhà triết học Nguyễn Khắc-Hiếu được phần nào trong thuyết thiên-lương không?\nRousseau đề sướng rằng con người ta sinh ra vốn có một cái bản-chất tốt trong lòng. Nếu người ta đừng bị giáo-dục, đừng bắt trước những người khác thì có lẽ người ta chỉ biết làm có điều lành mà thôi. Bản chất tốt ấy ví như một hạt ngọc đã sáng, người ta không biết đem mân mê, mài dũa làm lu-mở đi mất.\nTa thấy thuyết của ông Tản-Đà giống thuyết của Rousseau ở bản chất tốt giời phó cho, khác ở chỗ thể-lực của người trong sự gìn giữ thiên-lương.\nTôi không nói thêm về thuyết của Rousseau vì có nói thêm tôi cũng chỉ đến chỗ kết-luận: Rousseau là một nhà ngụy-thuyết đáng là tác-giả những Mộng-Lớn, Mộng-Con của ta. Hai tiếng ngụy-thuyết tôi đã dùng vào cho nhà nho Nguyễn Khắc-Hiếu và có lẽ tôi sẽ phải dùng một lần nữa khi kết-luận bài này.\nNhững chỗ yếu của thuyết thiên-lương là người nào đã không gìn giữ nó để đánh mất nó đi thì không thể lại nói tới được nữa.Mất là hết. Mất thiên-lương là mất bản tính con người.\nKết quả, người đã làm tội ác, đinh ninh rằng mình chỉ còn cái thể-lực làm tội ác. Sự thật có phải thế đâu. Biết bao nhiêu người đã phạm những tội tầy đình sau này lại trở nên những người có đức, có lương-tâm.\nĐiểm thứ hai là có sự hơn kém trong việc trời ban thiên-lương cho nhân loại. Ông Tản-Đà chỉ mới đặt một giả-thuyết căn cứ vào việc ở đời có những bực thánh-hiền và những người ăn ở thất đức; từ giả-thuyết ấy, một số người có thể tưởng mình kém thiên-lương không chịu tìm đường tiến thủ chỉ bo bo giữ lấy những cái mà mình đã có, với một tư-tưởng oán hận trong lòng.\nBác là bác vậy, thuyết thiên-lương chưa viết xong. Thuyết ấy có đứng vững hay không, việc ấy ta phải chờ câu trả lời của người đã khởi xướng ra nó.\nMột điều đó làm cho ta băn khoăn hơn, là ông Tản-Đà đã đặt viên đá đầu tiên cho cái lâu đài triết-học của ông từ lâu, nay cách mười lăm năm, mà ta cũng chỉ mới có viên đá đầu tiên ấy. Bây giờ giữa lúc trí còn hăng hái, ông đã xa lánh chúng ta.\nBây giờ ông đã trông thấy đó chỉ là một ngụy thuyết chăng?\nÔng muốn quay lưng về tương lai, giữ cái chủ nghĩa yếm-thế để giả thủ bọn hậu-sinh bạc bẽo là chúng ta chăng?\nBao giờ nhà triết-học Tản-Đà của ta mới trở lại với chúng ta làm nốt cái công việc bỏ dở từ mười lăm năm nay?\n\nHành động! Đó là một phong-trào rất mạnh nổi lên ở xã-hội ta, sau thời kỳ binh lửa ở Âu-châu. Đã gọi là tai mắt của quốc dân, ai cũng muốn đem tài lực của mình ra thi thố để gây ảnh-hưởng. Giờ an nhàn mơ-mộng cũng có, giờ bôn tẩu phiêu-lưu cũng nên có. Giữa lúc ấy, ông Tản-Đà, một người sống vì mộng, lúc nào cũng mơ ước làm được những công kia việc nọ, chẳng lẽ lại chỉ ngồi để cho giăng gió ru hồn.\nÔng bước chân vào làng báo với cái nhiệm vụ chủ bút báo Hữu-Thanh (1920).Trước khi ra đời, ông khua chuông gõ trống, diễn-thuyết ở hội Tri-trí. Nhưng khi tiếng ông còn văng vẳng ở tòa nhà phố hàng Nón thì ông đã đi theo “ tiếng gọi đàn xa núi Tản xanh”.\nĐến năm 1926, ông ra chủ-trương tờ An-nam tạp-chí. Tờ tạp-chí ấy là con cưng của ông. Nó đã chết đi sống lại mấy lần và vẽ thêm cho ông mấy nét nhăn trên trán. Nó không cho ông an cứ bên núi Tản với sông Đà, bắt ông nay đây mai đó, lang thang quản bút với sơn hà.\nÔng bị thất bại.\nTheo ông thì ông bị thất bại vì “ông không có đất làm báo cũng như Tào-Tháo ngày xưa không có đất dụng võ vậy”.\nTrong một tiểu thuyết của ông, ông đã tỏ lòng hối hận của ông, ông biết công việc của ông không phải ở đó:\n“Sông Đà-Giang ở Bắc-Kỳ, một là Hắc-giang chữ tây là Rivière Noire; tục thường gọi là Sông-Bờ, lấy vì có chảy qua tỉnh Bờ. Con sông ấy truyền vào hạt Sơn-tây qua chỗ Đá-chông, xuống đến ghềnh La-phù, bờ bên tả là huyện Thanh-thủy, thuộc tỉnh Hưng-hóa; bờ bên hữu là huyện Bất-bạt, Sơn-tây.\n… “ Một khúc Sông-Đà đó, mỗi mùa nước, nhất là tối hôm trước mưa to gió lớn, sáng hôm sau đầy sông trôi củi, cái lớn có thể sẽ làm được nhiều tấm ghế ngựa, hoặc có thứ gỗ quý, như vàng tâm; những cái bé thuôi thuổi như cột nhà; nho nhỏ như ống thổi, gỗ, nứa, bương, sậy, cành, lá ngọn gốc, ngang dọc, chìm nổi, loạn giòng sông cùng trôi…\n…” Cách nay chừng khoảng mười lăm năm, trong thôn đó có một nhà thi-sĩ, sinh nhai bằng thơ văn, đêm đêm đóng cửa làm văn, thường ngâm nga suốt sáng. Một đêm, chính cũng về mùa nước, giời gần sáng, thấy mưa gió dữ dội. Êm cơn gió, giời vừa sáng, nghe người làng gọi nhau đi vớt củi, tình-trạng rất náo nhiệt. Nhà thi sĩ lúc ấy cao hứng, liền khóa cửa buồng văn, cũng theo chúng lên mạn sông, thì thấy người làng đã đầy bờ, những chiếc thuyền ở giòng xa đang nhấp nhô trên mặt sông. Củi đầy rẫy từ thượng lưu trôi về. Cái hứng thú lúc ấy lại càng cao lắm, anh chàng ta chạy thẳng lên chỗ vở thật trên ngược đứng, nhắm thấy một cái hình trôi mập mờ thật to mà đen, cách vở sông chừng độ ba sào nửa. Nhìn đã rõ, anh ta cởi quần áo bơi ra, thời quả là một cái gỗ rất to, mà hình thể như sao thì không biết được rõ. Trong cơn đắc-ý, anh chàng hết sức vần vào lúc bám ở bên trong mà lôi, lúc đè ở bên ngoài mà đi. Người và gỗ theo giòng nước trôi xuôi thật nhanh mà phần chuyển vào bờ thì thấy không được mấy; vì nước to gỗ lớn mà người không cả sức vậy. Tuy vậy có lôi có đẩy thời cái gỗ cũng phải có chuyển dần dần vào cách bờ chừng còn một sào nữa, sức nước càng mạnh, sự trôi xuôi cũng càng mạnh, thế nhưng khó chuyển vào cho đến bờ được. Người trên bờ đứng xem, ai nấy lấy làm rất nguy hiểm, kêu anh chàng ta phải buông bỏ cái gỗ ra mà y cứ một mực lôi rồi lại đẩy. Anh ta kêu chúng ở trên bờ đưa con sào nứa ra cho để nắm, để nhờ chúng lôi vào. Không ngờ cái sào nứa đưa ra anh ta vừa nắm tay , bị sức ở cái gỗ lôi xuôi, vặn rập nứa mà tay tóe những máu. Ấy là một tay bên phải đã phải buông con sào nứa ra. Còn tay bên trái, y lại kêu chúng đưa sào cho để cầm, cũng lại vặn rập và tóe máu như vậy. Lúc đó tình thế thấy nguy cấp, người như đã gần hết sức, ôm theo cái gỗ cũng trôi xuôi.\nCác người trên bờ không sao bảo hắn ta buông bỏ cái gỗ được, cũng không thể đành tâm mà nhìn vậy, chúng nhân cùng chạy theo trên bờ. Sau cuối cùng, một người ném ra cho một đầu giây thừng, anh ta cầm quấn vào một chỗ vấu của cái gỗ, rồi chúng cùng lôi vào.\nKhi đã vào đến bờ, các người cùng níu lấy cái gỗ, còn anh chàng thi-sĩ thời ngoi ngóp đi lên, được có người đưa quần áo cho mặc, rồi đi luôn vào trong chỗ lò gạch ở gần đấy, nằm sóng sượt không muốn thở. Mỗi người cùng trông mặt anh ta, trắng nhợt không còn có sắc màu. Chúng hãi, lấy rơm lửa chất đốt ở bên. Hồi lâu hắn ta đã giậy được.\nAnh chàng đó sau lúc đã giậy, đi ra ở bờ sông, để xem cái gỗ của mình vớt thời thấy là một cái gốc cây rất to, gồ ghề những vấu, xét ra như nguyên là cái cây to trên rừng, người ta đã ngả lấy làm gỗ, mà đó là cái gốc còn lại, lâu ngày, bị nước lũ, rữa đất đem xuống, cho nên còn cả vấu rễ vậy. Cứ cái gốc ấy, nói về sự làm củi thì bổ ra cho được cũng khó… ( Vớt củi).\nÔng Tản-Đà, người đã chủ-trương tờ An-nam tạp-chí, chính là anh vớt củi trên này. Ông đuổi theo một gốc cây, ông đuổi theo một cái mộng.\nCó người cho ái tình mơ-mộng của ông là nguyên nhân sự thất bại của ông trong nghề báo.\nThi-sĩ là thi-sĩ, ông chủ báo là ông chủ báo. Hai người cần phải có những đặc-tính khác nhau, có thể nói là mâu-thuẫn với nhau được; một người cần phải sống với cái đời gần như đời lý-tưởng, một người cần phải sống cái đời thực-tế, cần phải hành-động.\nMỗi khi ông chủ-trương một tờ báo, ông không nghĩ đến tiền nhiều hay ít. Năm mươi đồng bạc cũng đủ để tổ chức một tờ báo của ông, ông tự cao, cứ tưởng tượng như tờ báo của mình ra thì thế nào cũng được quốc-dân hoan nghênh.\nÔng chỉ tưởng-tượng đến cái vinh của nghề báo mà thôi. Trên con tầu An-nam của ông, ông chỉ tưởng tượng đến những cảnh tuyệt đẹp của nó sẽ đưa ông đến chứ ông không nghĩ đến than củi cần dùng cho con tàu của ông.\nÔng không hề nghĩ đến sự thất-bại ở đời.\nNói thế không phải là không đúng, nhưng tôi thiết tưởng cũng không đúng hẳn. Cái tính mơ-mộng của ông không phải là cái nguyên-nhân chính của sự thất-bại của ông.\nSự thất-bại của ông là sự thất-bại chung của mọi người “buôn văn bán chữ” của những thân tằm “ăn dâu xanh để rút giả sợi tơ vàng”:\nDâu xanh rút giả sợi tơ vàng\nThân thế con tầm những vấn vương\nTớ nghĩ thân tầm như tớ nhỉ\nTơ tầm như tớ mối văn-chương.\n***\nBao nhiêu củi nước mới thành văn\nĐược bán văn ra chết mấy lần\nÔng chủ nhà in, in đã đắt\nLại ông hàng sách máy mươi phân!\n***\nCàng đau mà vẫn phải càng theo\nTheo mãi cho nên cứ vẫn nghèo\nNghèo chỉ có văn, văn lại ế,\nẾ văn cho tớ hết tiền tiêu.\nẤy là mấy lời than của ông khi ông thất-bại về việc xuất bản sách của ông; nó cũng là tiếng than chung của mọi nhà làm báo ở xứ ta.\nKhông nói gì đến mười năm về trước, người đọc văn và yêu văn ta còn ít, ngay bây giờ có ai đã dám tự hào rằng mình ra đứng chủ-trương một tờ báo mà không thất bại… huống gì thi-sĩ Tản-Đà.\nĐem cái mơ mộng của ông để đổ tội cho ông, để quên cái lãnh đàm của quốc dân đối với ông, như thế tôi tưởng là một sự hẹp hòi, trong sự phê-bình ông.\nTa nên nói rằng sự thất bại của ông phần lớn là ở độc giả mà bao lần ông tỏ rằng ông nhớ và ông yêu:\nNhớ ai chẳng nhớ những là ai,\nMáy nước xa trông luống ngậm ngùi\nTạp-chí mười kỳ duyên đã nhạt\nAn-nam hai chữ mực hồ phai\nBa thu ngày tháng la-đà uổng\nBốn bể âm thư vắng vẻ hoài\nBóng lặn tà dương giời sầm tối\nẾch kêu đầy phố tiếng xe hơi.\n(Nhắc các bạn đọc giả An-nam tạp-chí)\nCó người cho rằng ông bỏ cái đời mộng của ông để bước vào con đường thực tế là ông đi lầm đường, ông đi vào con đường cạnh tranh thì cái thi-cảm của ông nó cũng “lên mây”.\nVề phần tôi, tôi không tin thế. Việc ông ra làm báo là một việc tự nhiên. Ông Tản-Đà lúc nào cũng muốn “vác quả địa cầu trên vai”, lúc nào cũng mơ làm những việc to tát. Những ước vọng của ông, ông đã bầy tỏ trong một bức thư gửi cho Chu-kiều-Oanh; ông đã có một chương-trình.\nNếu cái chương-trình của ông chưa được đem thực hành cả, ông cũng đã làm được nhiều việc đáng ghi.\nNhững mục văn-đàn, thi-đàn của ông trong An-nam tạp-chí không phải là không có ảnh hưởng cho văn thơ ta.\nVả lại dẫu công cuộc của ông không có kết quả đi nữa, nó cũng có thể là một tấm gương nghị-lực và nhẫn nại cho ai đang dụt dè bước vào con đường văn-học.\nMỗi lần hi vọng là một lần thất vọng.\n\nÔng Nguyễn Khắc-Hiếu là một thi-sĩ, một văn-sĩ có chân-tài.\nÔng là một nhà làm báo có tin-tưởng và kiên-nhẫn.\nVới bấy nhiêu, ông đã có thể chiếm một chỗ danh-dự trong làng văn. Nhưng còn một quan điểm nữa ở đời ông nó sẽ làm cho lịch-sử phải mắc-nhở đến ông luôn, ấy là cái công của ông đối với văn-học Việt Nam.\nTừ khi Tú-Xương qua đời, để lại một chỗ trống lớn bên chúng ta. Ông Tản-Đà là nhà thi-sĩ độc nhất của chúng ta. Nói thế không khỏi có người phản đối rằng hãy dở tạp-chí Đông-Dương, Nam-Phong, mỗi kỳ người ta được ngâm hai ba trang thơ viết bằng quốc-văn; những bài thơ ấy phải đâu đều ký tên Nguyễn Khắc-Hiếu cả. Vâng, ở những tạp-chí ấy người ta có thể lấy thơ ra chất thành đống, nhưng đó chỉ là những viên đá, đã bao nhiêu thể kỷ lăn từ nguồn lễ-giáo về đến đấy xếp thành hàng, ngang bẩy dọc tám. Đó chỉ là những cái xác không hồn sinh ra bởi những nhà nho sống vào thời buổi tàn-tạ.\nLục trong đống thơ lớn ấy, ta tìm được bao nhiêu bài thơ, thơ như thơ Tản-Đà.\nÔng Tản-Đà là người thứ nhất và là người độc nhất của cái thế-hệ ông đã làm sống lại cái hồn thơ Việt-Nam đang hấp hối – tôi không muốn nói đã chết rồi. Ông ra đời đem cho chúng ta một thi-sĩ thành-thực dám ca hát cái đời sống của lòng. Ông đã mơ-mộng đã chán đời, yêu đời, thiết-tha với đời một cách tự-do. Ông đã dám ngông, dám có một bản-ngã, dám công nhiên để cho cái trữ tình mê man của mình dãi trong văn thơ.\nÔng đã sống một đời thi-sĩ và đã dám có một tâm hồn thi-sĩ.\nThơ của ông là tiếng nói dịu dàng trong trẻo của Nàng thơ Việt-Nam.\nVăn-học Việt-Nam ta bao giờ mới lại có một thi-sĩ như thi-sĩ Tản-Đà!\nThế mà, khi thi-sĩ mới ra đời, phê-bình thi-sĩ ông Phạm-Quỳnh còn viết:\n“Nay cứ hiện-tượng quốc-ngữ mà xét thì ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng là một tay sành làm văn trong buổi bây giờ, ví như một tay thợ khéo trong bọn xây cái “nhà quốc văn” ngày nay. Nhưng đương khi những người thợ kia kẻ gánh vôi, người gánh cát, kẻ lợp ngói, người xây gạch, kẻ leo chót-vót trên ngọn tường, người ngồi éo le trên đầu nóc thời ông đem một phiến gụ ngồi biệt ra một nơi xa mà chạm cái cửa võng, chạm rất chăm-chỉ rất công phu, chạm lòng rồi lại chạm tỉa, thiệt là tinh, thiệt là sảo, các thợ đi qua dù bận đến đâu cũng phải dừng lại xem mà khen là đẹp, ông chạm xong cái cửa võng ông lại chạm đến cái bao-lơn, cũng vẫn kỹ-càng công tế như thế. Nhưng trong khi ấy nhà vẫn chưa dựng xong, không biết đặt cửa võng vào đâu và đóng bao-lơn vào chỗ nào.\nThôi thì ông đã có công chạm, ta nên lượng cái công cho ông.\nNhư thế thì ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng có công với quốc-văn vậy…\nXong, nếu tôi có quyền khuyên được những nhà thiếu niên mới tập làm văn quốc-ngữ thì tôi xin khuyên đừng nên vội học cái nghề chạm của ông Nguyễn khắc-Hiếu mà hãy ra công cố sức gánh gạch, quẩy vôi xây tường, lợp nóc cho cái nhà ta thành đã. Đến bấy giờ trên kín dưới cao, trong ngăn ngoài nắp bà con ta được thảnh thơi khỏi phải cực đi ở nhờ thì lúc ấy những cửa võng bao-lơn mới thật là có giá trị vậy”.\nNam-Phong 1918\nÔng Phạm-Quỳnh đã không nhận rằng cái công của ông Tản-Đà là thực dụng. Ông đã phê-bình ông Tản-Đà qua quan-niệm, văn-chương của ông.\nNếu những nhà thiếu-niên đã nghe ông, không vội học cái nghề chạm của ông Nguyễn khắc-Hiếu thì làm gì chúng ta có một cái di-sản về thơ quí-báu như bây giờ.\nCàng nghĩ đến những lời phê-bình khắc-nghiệt của ông, ta càng lượng được một cách chính xác cái công của ông Tản-Đà.\n***\nNgày nay thi-sĩ của chúng ta đã về sống những ngày lạnh-lùng thanh-bạch trong tháp-ngà ở Khê-Thượng, Sơn-Tây. Thi-sĩ muốn quay lưng lại với người đời, mặc để cho người đời quên thi-sĩ, không biết đến thi-sĩ.\nMặc để cho người đời nói đến cái say, cái mơ-mộng, cái nghèo của thi-sĩ, đem thi-sĩ mua lấy một nụ cười cho người vô ý thức.\nMặc để cho người đời hăm hở hoan-nghênh những tập thơ, những tiểu-thuyết có cái tên đẹp, có cái vẻ hào nháng, còn những tập thơ Khối Tình Con, những tiểu-thuyết như Thề Non Nước, mặc để cho người đời đem bán giao, kèm những hộp sáp thơm, lọ dầu soa, trong ga xe lửa, ngoài bến ô-tô.\nThật là bạc bẽo! Thật là đau đớn!\nCòn đâu là thời-kỳ lừng lẫy xưa kia. Cái ngày mà mỗi một lời thơ của thi-sĩ là một tiếng tơ réo rắt làm rung động bao nhiêu tâm hồn, nay đã thuộc hẳn về quá khứ rồi!\nBiết làm thế nào…\nNgười ta kể rằng ở một xứ văn-minh kia có một thi-sĩ, mang một bộ quần áo bẩn-thỉu, rách-rưới, thi-sĩ không gia-đình, không bà con anh em, một mình thui-thủi trên con đường đời.\nAnh làm thơ theo luật cổ-điển. Trong thơ anh, anh chỉ nói đến giăng hoa, mây gió, đến giọt mưa… ngâu rơi bên cửa sổ, đến ánh sáng mặt trời lạnh lùng trong cụm lá vàng mùa thu, đến người đàn bà yêu trong giấc mộng.\n… Và mỗi đêm, vào khoảng mười giờ đêm, ở những vỉa hè, những tụm người chen chúc thành vòng hỗn độn ở giữa một người rách rưới, miệng hát tay đánh đàn. Bài hát tả cái buồn não nùng của một đô-thành đã chịu bao nhiêu cuộc tang-thương. Giọng hát vụng về, nhưng thiết tha xuất tự một tâm hồn đầy vơi điên đảo, gợi lên trong trí của người nghe hình ảnh một người đàn bà yêu quí.\nMấy đồng trinh ở trên tay rơi lả tả xuống lòng nón trả cái bài hát kia đương bay khắp thành phố như con chim lạc đàn.\nRồi một người đàn ông bật ra tiếng thở dài, một người đàn bà nhỏ một vài giọt lệ.\nRồi đến đêm khuya người ta vẫn nghe cái tiếng hát ấy nó hòa lẫn với sương sa gió lạnh, luồn qua khe cửa vào làm tê-tái lòng người.\nRồi, ngày một ngày, bài hát ấy cứ bay qua các con đường vào tận chỗ hang cùng ngõ hẻm.\nThi-sĩ làm ra những bài hát bán cho con hát cứ đêm đến là lại lang thang đi kiếm ăn ở những đầu đường.\nNhưng ở đời, tiếng thở dài của người tài-tử, giọt lệ của kẻ giai nhân hồ dễ bán được.\nThi-sĩ vẫn nghèo, vẫn để cho cái thiếu thốn ngày ngày đục khoét cái thân thể trầm-luân.\nThi-sĩ là một người đến chậm ở cuộc đời và đã mất hết tính cách của người đời; thi-sĩ đã thành ra một trò cười cho thiên hạ.\nThân-thể thi-sĩ như xác con ve cuối hè. Cái nghèo ăn cái thân của thi-sĩ cũng như thơ ăn cái óc của thi-sĩ.\nThế mà cái nghiệp văn thơ vẫn không bỏ được, động nói là thơ với thơ.\nThật một anh chàng giá trị không bằng một bó rau, một đồng kẽm mà đã dám để cả tâm hồn vào một nghệ-thuật.\nCái đời của thi-sĩ là một buổi hoàng-hôn mà sự thực đã phủ lên một màu ảm-đạm. Cái tâm hồn thi sĩ là do những câu thơ kết thành, như một vòng hoa héo lả đặt trong cõi hư-vô.\nVới tâm-hồn ấy thi-sĩ phiêu lưu đem đời mình hiến cho một lý-tưởng, và sau bao nhiêu năm lê-la trong cuộc đời, trải bao nhiêu năm dầm mưa dãi nắng, cái thân của thi-sĩ đã tàn, cái tâm hồn của thi-sĩ đã dạn vỡ, thi-sĩ chỉ còn đem sẻ cái thân tàn ấy, cái tâm hồn dạn vỡ ấy vứt chỗ này một mảnh, chỗ kia một mảnh, thế là hết chuyện.\n… Mấy năm sau, thi-sĩ mất tích để lại trong thành phố mấy bài thi ca bơ-vơ như đàn chim lạc mẹ.\nCũng thời kỳ ấy, ngoài đường người rao: “Bánh! Bánh! Một xu hai cái!”\nVà ở những nơi lịch-sự người ta nhỏ nhẻ kể rằng trong thành phố sở cảnh sát hợp lực với sở liêm-phóng mới bắt được một bọn làm nghề chôn người chết vô thừa nhận ở nhà thương, lâu nay thường dấu thây rồi mang đi băm ra làm nhân bánh, bán một xu hai cái. Mà trong số những người bất hạnh ấy có cả thi-sĩ nói trên.\nRồi người ta hỏi, ai đã ăn cái tai của thi-sĩ, ai đã ăn cái mắt của thi-sĩ. Một con chó của một nhà giầu nào đó. Ai đã ăn bộ óc của thi-sĩ, ai ăn quả tim của thi-sĩ. Một anh chàng say rượu nào đó.\n[3]\nNhà thi-sĩ của chúng ta, nghe câu chuyện kể trên đã rõ cái giá trị và cái công dụng của thi-sĩ ở đời này. Thi-sĩ của chúng ta phải bùi-ngùi thương người đồng điệu, nghĩ đến cái mẩu đời còn lại của mình, tự tìm cho mình một câu an-ủi: Đó là số phận chung của những con tằm ăn lá dâu xanh để nhả sợi tơ vàng, những người mang cái thiên-chức thiêng-liêng, đem những nỗi đau đớn của mình ra để ru người đời, và để sau cùng, nhận lấy sự quên bỏ, sự bạc bẽo của người đời.\n***\nChiều hôm ấy, tôi đi chơi định qua mấy hàng sách xem có gì lạ, và thứ nhất là để tìm mua những cuốn sách, tập báo quốc-văn in từ lâu.\nTôi vào một hiệu nhỏ ở đầu phố Hàng-Bông.\nLục ở trồng sách báo cũ nằm lộn-xộn dưới một làn bụi mỏng, một cuốn sách nhỏ đã cũ lắm nhưng vẫn còn giữ được vẻ xinh-xắn, tập Nhàn-tưởng của ông Tản-Đà hiện trước mắt tôi.\nTôi vội cầm lấy vật quý-báu ấy.\nTôi hỏi, bà chủ hiệu bảo cho tôi biết rằng bà chỉ bán cuốn sách ấy có hai xu.\nTôi còn vừa lục ở trồng sách, vừa nhắc lại trong trí mấy tiếng nó đã làm cho tôi ngạc-nhiên một cách buồn rầu: “Ông cho hai xu”, một người ở trên gác đi xuống rồi vào thẳng trong nhà khiến cho tôi phải chú ý. Bà chủ nói:\n- Đó là Tản-Đà tiên-sinh.\n- Tản-Đà tiên sinh!\nNgay từ lúc ấy tôi đã nhận được hình ảnh của tiên-sinh, hình ảnh của một thi-sĩ bị quên bỏ, đang sống những ngày tàn.\nHình ảnh ấy đã cùng sự công-phẫn, sự bùi-ngùi phảng-phất trong trí tôi, mỗi khi tôi cầm bút viết tập nghiên-cứu và phê-bình này.\nViết xong năm 1936\n\nTừ 1936, cùng gia-đình, ông lang-thang nay Quảng-Yên, mai Hà-đông, sống cái đời của một gia-đình giang-hồ lãng-sĩ.\nTrong thời kỳ ấy nhiều lần tôi được gặp ông, vì thế tôi được hiểu ông và văn-chương của ông hơn.\nĐáng lẽ tôi phải viết ra đây.\nNhưng cán bút tôi cầm muốn rời khỏi tay tôi. Tôi muốn làm một việc gì hơn là ngồi chép những ý-nghĩ mà tôi đã có về cái Giấc-Mộng-Lớn của ông.\nVì nay giấc mộng ấy đã tàn rồi.\nThi-sĩ của chúng ta đã qua đời, giữa lúc mặt giời của sinh-mệnh chưa sế bóng, để lại cho chúng ta một vết thương.\nCách đây hai tháng, theo lời thúc-dục của an hem, tôi dự-bị giao cho một nhà xuất-bản in tập văn nghiên-cứu và phê-bình này.\nBuổi chiều hôm ấy tôi tìm xuống thăm thi-sĩ ở dưới xóm Bạch-Mai định xin một tấm ảnh về in vào tập sách của tôi.\nỞ xe điện xuống, đi bộ một quãng nữa tôi đến một ngôi nhà, bề ngoài cũng khá rộng rãi trên tường có hai chữ TẢN-ĐÀ kẻ dở. Cứ trông màu mực thì hai chữ ấy kẻ từ lâu, và chắc không bao giờ thi-sĩ nghĩ đến việc kẻ nốt hai chữ ấy nữa.\nCó lẽ ở đời Tản-Đà tiên-sinh việc gì cũng phải bỏ dở. Không ngờ ở cái công việc nho nhỏ ấy, ta đã thấy một tượng-trưng rõ rệt.\nTôi vào, rồi theo người nhà lên gác.\nThi-sĩ đang nằm ở giường.\nTôi cảm thấy hình như xung quanh tôi cái gì cũng đang chán nản chờ một ngày mai tươi đẹp hơn. Tôi bùi ngùi nghĩ đến mấy câu trong bài tựa mà ông Thái-phỉ vừa đưa cho tôi hôm trước:\n“Thi-sĩ Tản-Đà hiện đang sống những ngày tàn ở dưới xóm Bạch-mai bằng nghề đoán vận mệnh cho người.”\n“Đó cái kết cục khốc tàn của đời một thi-sĩ.”\n“Còn đâu là thời kỳ trìu-mến xưa kia”.\nThi-sĩ tiếp chuyện tôi. Nhưng lần này kém sự vui vẻ. Mà vui làm sao được. Thi-sĩ đang ở trong sự thất-bại. Chua chát nhất là thi-sĩ bị thất-bại trong nghề đoán số, đã không có duyên với văn-tự lại vô duyên với cả cái nghề đoán số mệnh. Những câu như “mạch Thái-tố, số Hà-lạc“ mà thi-sĩ thường đọc, cái trí thông minh của thi-sĩ, không đủ làm quảng cáo cho cái nghề của thi-sĩ. Thôi đành mở cửa hàng xem số để xem số cho mình, và để biết rõ thêm về cái số phận lênh đênh của mình…\n“Có lẽ ông giời muốn suốt đời tiên-sinh phải sống cái đời thi-sĩ”, tôi an ủi thi-sĩ, rồi kể qua công việc tôi định làm. Tôi ngỏ lời xin thi-sĩ một bức ảnh.\nThi-sĩ nghiêm nghị giả lời tôi:\n“Ngài lại xin tôi một bức ảnh in vào tập sách ngài viết để nói về thân-thế và văn-chương tôi. Ngài làm cho tôi giật mình; mỗi lần có ai muốn giữ một cái gì của tôi để kỷ-niệm, tôi lại tưởng như tôi sắp chết đến nơi. Vì mình sắp xa người ta, và vì người ta quí mình, người ta mới xin mình kỷ-niệm. Mà tôi thì tôi còn thấy khỏe lắm. Chính bây giờ mới đến lúc tôi góp các văn thơ của tôi lại, chia ra từng loại định in ra tất cả. Tôi đã gói riêng ra và định in dần. Tôi chưa làm được. Thuyết thiên-lương tôi cũng chưa viết xong. Từ biệt các ngài thế nào được. Cứ ở sự tôi chưa làm xong những việc tôi phải làm là giời chưa cho tôi chết rồi”.\nNói đến đây có lẽ thi-sĩ nghĩ đến cái sứ mệnh của mình, ha hả cười. Tôi cũng cười theo. Thi-sĩ hạ giọng:\n“Nói là nói cho vui, thực tình chắc ngài cũng biết cho rằng đã lâu lắm tôi không chụp ảnh, mà bây giờ thì tôi không muốn chụp. Cho thấy cái thân già yếu của mình, thấy sự thanh bạch của mình, e mất cảm tình của quốc dân. Từ nay không làm được công việc cho quốc dân quí mến hơn nữa thì được quốc đã quí mến bao nhiêu nên giữ lấy bấy nhiêu.”\nTôi phản đối những tư-tưởng bi-quan của thi-sĩ, làm cho thi-sĩ phải nhận lời hứa, một hôm nào thi-sĩ khăn áo chỉnh tề sẽ đi chụp ảnh để cho tôi in vào sách.\nTôi cáo từ; ra đến cửa thi-sĩ còn cho tôi biết rằng vài ngày nữa thi-sĩ sẽ xuống ngụ tại Ngã-tư-Sở, số nhà 71, và dặn tôi lần sau có xuống thăm thi-sĩ thì xuống đấy. Đi xe điện cũng tiện.\nTôi không ngờ rằng hôm ấy tôi xuống xin thi-sĩ một bức ảnh lại cả xuống để ghi lấy ảnh cuối cùng của thi-sĩ.\nTôi không ngờ thi-sĩ dặn tôi lần sau có xuống thăm thi-sĩ thì xuống Ngã-tư-Sở, lần sau tôi xuống lại là để đưa thi-sĩ ra chỗ ở cuối cùng của thi-sĩ.\nThi-sĩ đã từ trần một ngày mồng bảy tháng sáu.\nĐám tang thi-sĩ là đám tang thi-sĩ của muôn đời. Sau linh-cữu, lẻ tẻ một số bạn-hữu và nhà-văn, âm thầm đi hai bên đường, người đời nghểnh cổ lạnh lùng nhìn.\nTôi muốn giữ người đi đường kia lại hỏi xem người ta có biết đó là đám tang một thi-sĩ mới qua đời không. Tôi muốn chạy lại cô Hồng, cô Tuyết kia bảo cho họ biết rằng đó là đám tang thi-sĩ, tác-giả những câu mà đêm đêm họ hát theo với dịp phách cung đàn của họ.\nNhưng thôi mặc.\nSẽ có hậu sinh làm cái gì ta đang mong đợi.\nHọ sẽ nhớ công của thi-sĩ, sẽ đặt tên thi-sĩ lên trang đầu của cuốn sử văn-chương Việt-Nam cận-đại. Họ sẽ tìm đến mộ thi-sĩ, khắc vào một tảng đá mấy chữ: Đây là chỗ an-nghỉ của nhà thơ Việt-Nam, Nguyễn khắc-Hiếu.\nVà một ngày kia, người đi qua, đứng dừng lại đọc mấy chữ ấy. Sau một phút âm-thầm thấy tâm hồn rạo rực… một vài giọt lệ rỏ. Những giọt lệ ấy, giọt lệ của người đời sẽ kết lại thành một vòng hoa bất-diệt, trăm năm đặt trên mộ thi-sĩ…\nVới những ý nghĩ ấy ta có thể an ủi, chấm dấu chấm hết trên trang giấy này và, để vĩnh-biệt, nghiêng đầu viếng lần cuối cùng thi-sĩ thân yêu của chúng ta.\n******\n\n[1] Truyện này ông Tản-Đà đã thuật lại với ông Trương-Tửu – Uống rượu với Tản-Đà. Bà thân sinh ra ông Tản-Đà cũng hay chữ. Cụ làm nhiều thơ lắm, nhưng thường làm để chơi. Khi quan Huyện Trịnh đình-Kỳ, tri-huyện Bất-Bạt, thường cụ vẫn có thơ xướng họa với bà Nhàn Kanh, chính thất cụ huyện. [2] Chủ nghĩa Bohemian là lối sống tự do phóng túng, không theo khuôn phép của xã hội. [3] Theo truyện ngắn của Umberto Salvador, một văn-sĩ có tiếng ở Nam-Mỹ là tiên-viên diễn ra quốc-văn.", "file": "books_text_final/ebooks.epub_20337.txt"} {"text": "NAM HẢI DỊ NHÂN LIỆT TRUYỆN\n(In lần thứ năm)\nTác giả: Phan Kế Bính\nLê Văn Phúc,\n*hiệu chính*\nSửa và thêm nhiều bài\nOnvrage inscrit au programme du\nSách có dự vào chương-trình học thi tú-tài\nHANOI\nIMPRIMERIE TONKINOISE\nLê Văn Phúc\n1930\nNguồn: http://tve-4u.org/\nĐánh máy: Dovuhai\nĐăng lên Wiki: rito_1522\nSoát lỗi: vancuong7975\nBổ sung, tạo ebook (16/01/‘16): QuocSan.\n\n*Hào-kiệt anh-tài là khí tinh-anh của một nước; cho nên nước nào cũng có, mà thời nào cũng có. Nhơn khi xây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông; nhỏ thì lập nên công nghiệp, để danh tiếng về sau; cũng là làm gương cho người đời cả.* *Nước Nam ta từ xưa đến nay trải hơn 4.000 năm chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng; nhưng bởi vì sự tích xa xôi mà không rõ, hoặc vì sử sách biên sót mà không tường. Chỉ còn người nào ghi vào sử, hoặc chép vào ký-tái của các tư gia thì còn có thể lưu truyền vào được.* *Nhưng lại ngặt vì sách ít, cho nên lưu truyền ra không được rộng. Người ta nói truyện cổ-tích chẳng qua chỉ một vài người được trông vào sách, rồi thì truyền khẩu cho nhau, lõm bõm người nhớ khúc này, kẻ nhớ khúc kia, mỗi người truyền đi lại sai một tí, té ra nhầm lẫn sai cả sự thực của người xưa. Vả chăng mình là người nước Nam mình không biết, hóa ra kiến thức của mình kém lắm dư.* *Vì vậy chúng tôi kê cứu trong chính-sử và các tạp-ký tìm những người có danh vọng, có sự tích lạ lùng, chia ra từng môn từng mục, cứ theo thể thức trước sau mà đặt, gọi là *“Nam-hải dị-nhân liệt truyện”, *trước là để lưu cái sự tích của người trước, sau là để các văn-nhân tài-tử xem cho biết anh tài nước mình, thì chẳng những là giúp được khi vui cười, mà cũng có thể tư ích trí khôn cho người ta nữa.* *Còn như những sự quái lạ, là lời tục truyền để lại, thì chúng tôi cũng theo mà chép vào đây, hoặc có, hoặc không, tùy người xem nên lấy lý mà đoán, chớ cũng không dám chắc là có những việc ấy cả.* *Ngày 27 tháng sáu năm Nhâm-tí, niên-hiệu Duy-tân thứ sáu (le 9 April 1912).*\nPHAN-KẾ-BÍNH\n*cẩn tựa*LÊ-VĂN-PHÚC\n\nSách này có dự vào chương-trình học thi tú-tài, lần này là lần in thứ tư, có hiệu chỉnh lại, và có kê cứu chép thêm vào để ghi cho đủ các bậc anh-hùng hào-kiệt nước Nam ta, như là sự tích Đức Gia-long cùng các bậc danh-thần, danh-tướng.\nXem sách này có thể biết được đại-lược lịch-sử nước nhà, chẳng khác gì đối với các bậc cổ-nhân tự bốn nghìn năm về trước, mà ngắm làm gương chung về sau; không những là giúp về việc vấn-đề thi-cử, mà về phần trí-dục, đức-dục cũng có tư-ích được ít nhiều.\nNay kính dẫn\nKim-giang LÊ-VĂN-PHÚC hiệu chính\nDécembre 1916\nN.B. – Những bài mới thêm có để dấu (*)\n\nXưa về thời nội-thuộc nhà Đông-Hán, ở huyện Mê-linh, đất Phong-châu (tức huyện An-lãng, tỉnh Phúc-yên bây giờ), có quan Lạc-tướng họ Hùng sinh được hai người con gái, chị tên là Trắc, em tên là Nhị; hai chị em vốn có tiếng anh-hùng.\nChị lấy chồng tên Thi-Sách, về dòng dõi vua Hùng-vương, làm quan châu ở bộ Chu-diên (bây giờ là phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-yên).\nQuan Thái-thú bấy giờ tên là Tô-Định, tính tham tàn hay hại người, thấy Thi-Sách lấy được bà ấy, sợ về sau có mưu phản gì chăng, mới kéo binh vây thành Chu-diên, giết mất Thi-Sách.\nBà ấy tức giận lắm, cùng với em là Nhị chiêu binh tập mã để đánh báo thù cho chồng. Các hào-kiệt trong nước ai cũng có bụng oán Tô-Định, tranh nhau kéo đến theo bà ấy; không bao lâu được hơn 10 vạn quân, bà ấy mới mang quân đến đánh Tô-Định. Tô-Định chống giữ không nổi, phải chạy về bể Nam-hải rồi lẻn về Tàu. Bà ấy thừa thế đánh tràn, hạ được 56 thành ở xứ Lĩnh-nam (thuộc hạt Quảng-Đông, Quảng-Tây,\n*nước Tàu); *mới đổi là họ Trưng, tự lập lên làm vua, gọi là Trưng-vương, bấy giờ là năm Canh-tí niên-hiệu Kiến-võ thứ 16 đời vua Quang-vũ nhà Hán, (sau Thiên-chúa 40 năm).\nBà Trưng-vương làm vua được 3 năm, vua Quang-vũ sai quan Phục-ba tướng-quân là Mã-Viện đem binh sang đánh. Bà Trưng-vương đem quân chống nhau với quân Tàu ở hồ Lãng-bạc (tức hồ Tây, Hà-nội). Mã-viện tài kiêm văn võ, mà lại khéo dùng binh, đánh nhau mấy trận thì quân của bà Trưng-vương cũng thua cả, mới lui về giữ Cấm-khê (bây giờ thuộc phủ Vĩnh-tường, tỉnh Sơn-tây). Bà ấy nghĩ mình là quân ô-hợp, không thể đương được với quân Mã-viện, mà hàng thì bà ấy cũng không chịu hàng. Sau mới rút quân về đến xã Hát-môn, huyện Phúc-lộc (tức huyện Phúc-thọ, thuộc Sơn-tây), thì bà ấy bức chí nhảy xuống sông Hát-giang tự tận.\nEm là Trưng-Nhị thấy chị đã liều mình xuống sông, cũng liều mình xuống theo chị nốt.\nThan ôi! Một đôi nữ anh-hùng nước Nam, tuy vì tài liễu yếu đào tơ, không làm được công nghiệp oanh-oanh liệt-liệt, nhưng biết giận kẻ tàn ác, khởi binh đánh đuổi đi, cũng lừng lẫy được một thời mà lưu danh thiên cổ, gây dựng nền độc-lập cho đời sau; khá khen thay, khá khen thay!\nTừ lúc hai bà ấy xuống sông, rồi hóa ra hai người bằng đá, nổi lênh đênh trên mặt nước trôi đi. Các làng quanh sông thấy vậy, tranh nhau ra khấn để vớt về thờ, nhưng chỉ có làng Đông-nhân ở huyện Thanh-trì (bây giờ thuộc về tỉnh Hà-đông) vớt được, mới lập đền thờ ở bãi làng ấy. Dân xã Hát-môn thấy sự thiêng làm vậy, cũng lập đền thờ vọng ở bên sông.\nĐến thời vua Anh-tôn nhà Lý, chỗ bãi Đồng-nhân lở gần đến miếu thờ. Vua sai làng Hưng-viên bên trong đê, ra đền rước tượng hai bà ấy vào, rồi vua ban tiền bạc cho dân lập miếu mà thờ, phong sắc là “\n*Trinh-linh chi phu nhân*.” Đền ấy bây giờ vẫn còn, tục gọi là đền Hai-bà.\nĐến đời nhà Trần, lại phong thêm tám chữ: “\n*Uy liệt chế thắng thuần trinh bảo thuận*.” Đến bây giờ vẫn còn anh linh lắm.\nVề thời nội thuộc nhà Đường ở quận Đường-lâm, (bây giờ là làng Cam-lâm thuộc huyện Phúc-thọ, Sơn-tây), có ông Phùng-Hưng, nguyên đời đời được tập phong làm Tù-trưởng châu ấy (tức là quan-lang).\nNhà ông Phùng-Hưng giàu có quyền hành nhất vùng ấy, lại có sức khỏe lạ thường, có thể đấm chết hổ, đẩy ngã trâu. Em tên là Phùng-Hải, cũng có sức khỏe đội nổi nghìn cân, đi hơn 10 dặm. Các người rợ đâu đâu cũng phục nhà ông ấy.\nTrong năm Trinh-nguyên nhà Đường (791), nước Nam có đám loạn-quân khởi biến. Hai anh em ông Phùng-Hưng nhân dịp ấy, mới đem quân đi dẹp loạn các nơi lân-ấp, đi đến đâu dẹp tan đến đấy.\nÔng ấy đắc chí rồi, đổi tên gọi là Cự-Lão, tự xưng là Đô-quân. Em thì đổi tên là Cự-Lực, tự xưng là Đô-Bảo. Nhân dùng mẹo của bộ-tướng tên là Đỗ-anh-Luân, đem quân tràn ra các châu quận, người theo về càng ngày càng nhiều, có ý muốn đến phá phủ Đô-hộ.\nQuan Đô-hộ bấy giờ là Cao-chinh-Bình, đem quân đi đánh bị thua, rồi lo lắng thành bệnh mà chết. Ông Phùng-Hưng mới chiếm giữ phủ-thành, tự coi việc Đô-hộ, được 7 năm thì mất.\nChúng muốn lập em là Hải lên nối ngôi, nhưng trong bọn bầy-tôi có người đầu-mục tên là Bồ-phá-Lặc, có sức khỏe đạp đổ núi, nhấc nổi vạc, người ấy nhất định không nghe, mới lập con ông Hưng tên là An lên nối nghiệp, mà đem quân ra cự nhau với Phùng-Hải. Hải chịu thua, Bồ-phá-lặc bắt đầy ra ở đồng Chu-nhan.\nAn được lập rồi, tôn vua cha được gọi là Bố-cái đại-vương (tục bấy giờ gọi cha là Bố, gọi mẹ là Cái). Được hai năm vua Đức-tôn nhà Đường sai Triệu-Xương sang làm Đô-hộ, Triệu-Xương sai sứ đến dụ hàng, An chịu hàng, cơ nghiệp họ Phùng mới đổ.\nKhi trước ông Phùng-Hưng mới mất, thường có hiển linh ở trong dân thôn, hiện hình ra nghìn xe, muôn ngựa, bay ở trên các mái nhà, cùng là trên ngọn cây cổ-thụ, trông tựa hồ đám mây ngũ-sắc. Lại có tiếng đàn sáo bát âm ở trên không, và tiếng quát tháo. Lại thấp thoáng trông thấy cả cờ, tán, võng, lọng. Phàm trong làng có việc gì mừng hay sợ, tất báo mộng trước cho các người hào-trưởng. Dân gian thấy lắm sự hiển linh, mới lập miếu ở mé tây phủ Đô-hộ để thờ. Dân có việc cầu đảo, thường ứng nghiệm lắm.\nĐến thời Ngô-chủ Quyền, có giặc Bắc sang xâm. Ngô chủ nằm mơ thấy một ông cụ đầu bạc phơ phơ, áo mũ tề chỉnh, tự xưng là Phùng-Hưng và nói rằng: “Tôi xin lĩnh một muôn thần-binh, phục sẵn ở chỗ hiểm-yếu, ông nên tiến binh mà đánh giặc đi, đã có tôi giúp, không cần phải lo.” Đến lúc này Ngô-chủ đánh nhau với Hoằng-Tháo ở sông Bạch đằng, quả nhiên nghe trên không có tiếng xe ngựa ầm ầm. Ngô chủ phá được quân Nam-Hán giở về, sai sửa sang đình miếu cho hoa mỹ rồi dùng lễ thái-lao đến tạ ơn.\nTừ bấy giờ chiều nào cũng có phong tặng, phong làm “\n*Phu-hựu chương-tín sùng-nghĩa đại-vương*.”\nTiên-hoàng họ Đinh tên là Hoàn, người ở đổng Hoa-lư, phủ Đại-hoàng (bây giờ là phủ An-khánh, tỉnh Ninh-bình), nguyên là con quan nha-tướng của Dương-đình-Nghệ tên là Đinh-công-Trứ.\nTục truyền ở đổng Hoa-lư xưa có con rái-cá cực to, vợ ông Công-trứ một hôm tắm ở dưới suối, bị con rái-cá hiếp, về mới có mang. Khi con rái-cá bị người ta bắt được ăn thịt, quẳng xương ra đường cái, thì bà ấy nhặt về mà gác lên gác bếp.\nVề sau, ông Công-trứ mất rồi, bà ấy mới sinh ra Đinh Tiên-hoàng, Tiên-hoàng nhớn lên, thông minh nhanh nhẹn, mà tài nghề lội nước. Nhà nghèo, phải nương nhờ ở với chú. Bấy giờ có một thầy địa-lý Tàu sang nước ta xem đất, đi từ Hưng, Tuyên theo long-mạch đến mãi phủ Đại-hoàng, trông xuống dòng sông thấy nước sâu thăm thẳm mà xoáy mạnh lắm, đồ là ở đấy tất có huyệt đế vương. Mới gọi trẻ thuê tiền cho thử lặn xuống chỗ ấy xem làm sao. Tiên-hoàng vốn tài lặn, mới nhận nhời lặn xuống thì sờ thấy có con ngựa bằng đá đứng ở dưới đáy sông, mới lên bờ bảo với người khách, người khách đưa cho nắm cỏ, bảo thử xuống dử vào mồm ngựa xem ra làm sao, ngài cầm nắm cỏ xuống dử thì con ngựa há miệng ra đớp ngay.\nNgài lại lên nói chuyện với người khách, người khách lấy tiền thưởng cho ngài rồi đi. Ngài vốn thông minh, biết ngay chỗ ấy hẳn là đại huyệt, rồi về nói chuyện với mẹ. Xem mả cha ở đâu, để đem táng vào huyệt ấy. Bà mẹ trỏ lên gác bếp, rồi lấy nắm xương đưa cho ngài, ngài đem ra, lặn lại xuống chỗ vực sâu ấy, cũng lấy cỏ bọc nắm xương dử vào mồm ngựa thì con ngựa cũng đớp và nuốt đi.\nTừ đấy ngài sinh ra bạo tợn, các trẻ chăn trâu bò đều sợ, bầu ngài lên làm tướng, bẻ hoa lau làm cờ, chặt tre làm khí-giới, đi đánh nhau với trẻ làng khác. Đi đến đâu, các trẻ phải sợ hãi kinh phục. Một bữa, hội hết trẻ các làng ở ngoài đồng, nhân có con bò của chú cho đi chăn, mổ ngay ra làm cỗ để khao các chúng. Chú ở nhà nghe tin, vác gậy ra đồng xem làm sao, thì thấy chúng đã ăn tiệc xong rồi. Chú tức giận lắm, vác gậy đuổi đánh, ngài sợ hãi, chạy đã bí đường, phải nhảy choàng xuống sông, bỗng dưng có con rồng vàng ở dưới sông hiện ra đội ngài lên, người chú thấy vậy kinh hoảng, vội vàng bỏ gậy mà lạy phục xuống đất.\nTừ bấy giờ danh tiếng ngài lừng lẫy, các hào-kiệt trong nước để lòng trông mong về ngài. Nhân bấy giờ cuối đời Nam-Tấn, nước Nam có 12 ông sứ-quân nổi lên, mỗi người chiếm giữ một phương, như là:\n1. Ngô-xương-Xí giữ ở Bình-kiều.\n2. Kiểu-công-Hãn giữ ở Phong-châu (nay là Bạch-hạc, Vĩnh-yên), tự xưng là Tam-chế.\n3. Nguyễn-Khoan giữ phủ Tam-đái, (nay là phủ Vĩnh-tường, Vĩnh-yên) tự xưng là Thái-bình-công.\n4. Ngô-nhật-Khánh giữ châu Đường-lâm (nay là làng Cam-lâm, huyện Phú-thọ, Sơn-tây) tự xưng là Anh-hiền-công.\n5. Đỗ-cảnh-Thạc giữ ở Tương-giang (tức là Đỗ-động Giang nay thuộc Thanh-oai, Hà-đông).\n6. Lý-khuê giữ ở Siêu-loại (Thuận-thành, Bắc-ninh).\n7. Nguyễn-thủ-Tiệp giữ ở Tiên-du, (thuộc Bắc-ninh), tự xưng là Nguyễn lịnh-công.\n8. Lã-Đường giữ ở Tế-giang, (nay thuộc Văn-giang, Bắc-ninh), tự xưng là Tá-công.\n9. Nguyễn-Siêu giữ Tây-phù-Liệt (thuộc Thanh-Trì, Hà-đông), tự xưng là Nguyễn-thạch-công.\n10. Kiểu-Thuận giữ ở Hồi-hồ (nay thuộc huyện Cẩm-khê, Phú-thọ) tự xưng là Kiểu-linh-công.\n11. Phạm-bạch-Hổ giữ Đằng-châu (nay là Khoái châu, Hưng-yên), tự xưng là Phạm-phòng-át.\n12. Trần-Lẫm giữ ở cửa Bố-chính (nay là Kỳ-bố thuộc phủ Kiến-xương), tự xưng là Trần-minh-công.\nTiên-hoàng nhân dịp ấy, theo về nương nhờ với Trần-minh-công. Trần-minh-công thấy ngài là dòng dõi tướng võ, và có tài cán, mới dùng cho cai quản binh lính. Không bao lâu, Trần-minh-công mất, ngài thay lĩnh hết cả quân quyền, tự xưng là Đinh Bộ-lĩnh, dần dần đem quân đi dẹp các nơi, thì đi đến đâu dẹp tan đến đấy, tự xưng là Vạn-thắng-vương. Rồi lại nhất thống được hết mọi nơi, mới lên ngôi thiên-tử đóng đô ở Hoa-lư, sửa sang thành quách, cung điện, đặt quốc-hiệu là Đại-cồ-việt.\nKhi trước thày địa lý Tàu về lại giở sang, toan mang mả tổ táng vào thủy-mã huyệt, sang đến nơi thì đã thấy ngài nổi lên hùng-dũng, biết là ngài được đất ấy rồi. Người khách không sao được, muốn lập mưu để phản lại, mới vào hầu mà nói rằng:\n- Ngài được ngôi đại địa ấy, cũng bởi lúc phúc nhà ngài mà giời cho đấy; nhưng có ngựa phải có kiếm thì mới tung hoành ra bốn bể, vậy ngài lên để thanh kiếm lên cổ ngựa thì mới hay.\nTiên-hoàng tưởng nó nói thật, mới lấy thanh gươm gác lên trên cổ ngựa, không ngờ kiếm có sát khí,\n[1] có kiếm tuy làm được lừng lẫy, nhưng không làm được lâu dài. Vì thế ngài ở ngôi được 11 năm thì bị Đỗ-Thích giết mất, mà đến đời con là Vệ-vương, thì cơ nghiệp lại về tay triều khác.\nThái-tổ họ Lý tên là Công-Uẩn, người làng Cổ-pháp, tỉnh Bắc-ninh.\nTục truyền đời ông thân-sinh ra ngoài, nhà nghèo khó, đi làm ruộng thuê ở chùa Tiêu-sơn, huyện An-Phong, phải lòng một người tiểu-nữ có mang,\n[2] nhà sư thấy thế đuổi đi chỗ khác. Hai vợ chồng mang nhau đi, đến chỗ rừng Báng, mỏi mệt ngồi nghỉ mát. Chồng khát nước đến chỗ giếng giữa rừng uống nước, chẳng may sẩy chân xuống giếng chết đuối. Vợ ngồi chờ lâu không thấy, đến giếng xem thì đất đã đùn lấp giếng rồi, ngồi khóc lóc một hồi, rồi vào ngủ nhờ trong chùa Ứng-tâm ở gần đấy. Ông sư chùa Ứng-tâm, đêm hôm trước nằm mê thấy ông Long-thần báo mộng rằng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng-đế đến.” Nhà sư tỉnh dậy, sai tiểu quét dọn sạch sẽ, chực đợi từ sáng đến chiều, chỉ thấy một người liền-bà có mang xin vào ngủ nhờ.\nNhà sư thấy làm lạ hỏi rằng:\n- Chồng con quê quán ở đâu?\nNgười liền-bà kể tên họ nhà chồng, và nói lại chuyện sa xuống giếng. Nhà sư cho ở nhờ ngoài cửa tam quan. Được vài tháng, có một đêm, thơm nức cả chùa, nhà sư thức dậy trông ra tam-quan, thì thấy sáng rực lên. Nhà-sư sai bà hộ-chùa ra thăm, thì người liền-bà ấy đã sinh ra một đứa con giai. Bà hộ-chùa bế đứa bé vào chùa cho nhà-sư xem thì thấy bàn tay có bốn chữ son: “\n*sơn-hà xã tắc* 山河社稷.” Xem rồi, bỗng nhiên trời nổi cơn mưa to gió nhớn. Đến lúc bà hộ-chùa trở ra, thì người liền bà đã chết rồi, nhà-sư sai đem chôn ở đàng sau vườn.\nTừ đấy, nhà-sư nuôi người con giai, lên sáu tuổi đã có khí phách thông minh. Một hôm nhà-sư sai mang oản lên chùa dâng cúng, thì chú nhỏ đã khoét lấy ruột oản ăn trước. Sáng mai, nhà-sư gọi mắng chú nhỏ ấy. Chú nhỏ hỏi:\n- Ai nói với ông như thế?\nNhà-sư kể sự ông Long-thần báo mộng, chú kia tức lắm, lên chùa đánh vào cổ ông Long-thần ba cẳng tay, rồi viết vào sau lưng bốn chữ rằng: “Lưu tam thiên lý.” Đến đêm ông Long-thần lại báo mộng cho ông sư rằng: “Hoàng-đế đã đuổi ta đi rồi, thì ông nghỉ lại để tôi đi.” Nhà-sư thức dậy sớm, vội vàng lên chùa soát xem, thì thấy sau lưng ông Long-thần có mấy chữ ấy, mới bắt tiểu lấy nước vào rửa, thì rửa làm sao cũng không sạch. Nhà-sư bảo chú nhỏ ấy rửa, thì chỉ nhổ ít nước bọt chùi đi sạch ngay.\nKhi 8, 9 tuổi, nhà-sư cho chú nhỏ ấy theo học ông sư ở chùa Tiêu-sơn tên là Vạn-Hạnh. Một khi học không thuộc, phải ông thầy trói lại bắt nằm dưới đất một đêm, mới ngâm một câu thơ rằng:\n*Cảnh khuya không dám giang chân ruỗi,Vì ngại non sông, xã tắc xiêu.*\nVạn-Hạnh thấy có khẩu khí thiên-tử, tự bấy giờ có lòng kính trọng lắm.\nNgài nhớn lên, khảng khái có chí khí to, nhân có công, làm quan thời vua Thiếu-đế nhà Lê. Khi vua Thiếu-đế bị giết, thì ngài nằm ôm lấy thây vua mà khóc. Vua Ngọa-triều khen là trung, nhắc lên làm Tứ-tướng quân-chế chỉ-huy sứ, thống lĩnh hết quân túc-vệ.\nBấy giờ ở làng Cổ-pháp có cây gạo cổ thụ, bị sét đánh tước lần da ngoài, trong thân cây có mấy câu sấm rằng:\n*Mộc côn* [3] * liểu liểu*樹根杳杳\nVạn-Hạnh xem câu sấm ấy, biết rằng điềm nhà Lê đổ mà nhà Lý sắp lên, bảo riêng với ngài rằng:\n- Xem câu sấm ấy, thì chắc nhà Lý lên làm vua. Thiên-hạ tuy cũng nhiều họ Lý, nhưng xem ra thì không ai bằng ngài có bụng nhân từ khoan thứ, vả lại lòng dân tin mến nhiều, thì phi ngài không ai làm nổi.\nNgài thấy nói làm vậy, sợ nói lộ chuyện ra ngoài, phải giấu Vạn-Hạnh ở chùa Tiêu-sơn. Đến khi vua Ngọa-triều mất vua kế tự còn nhỏ, ngài cầm quân túc-vệ trong chốn cung cấm. Có quan chi-hậu là Đào-cam-Mộc mưu với các quan triều, lập ngài lên làm thiên-tử.\nNgài đã lên trị vì, thấy chỗ kinh-đô Hoa-lư hẹp hòi lắm, mới thiên lên đóng đô ở Đại-la thành, nhân có điềm rồng vàng hiện ra, mới đổi tên gọi là thành Thăng-long (tức thành Hà-nội bây giờ).\nNgài ở ngôi được 18 năm thì mất.\nXét ngôi huyệt chỗ giếng trong rừng Báng ấy, những gò ở chung quanh, trông hình như cái hoa sen nở ra tám cánh, cho nên nhà Lý truyền ngôi được tám đời, bây giờ thuộc về làng Đình-bảng huyện Đông-ngàn.\nVì ngài sinh ra ở chùa Ứng-tâm, cho nên bây giờ thành tên là chùa Dặn.\nThái-tổ nhà Lê tên là Lợi, người làng Lam-sơn, xứ Thanh-hóa, có chí khí to từ thuở nhỏ.\nTục truyền ông tổ tam đại nhà ngài nguyên là người làng Như-áng, một bữa đi qua Lam-sơn, thấy có đàn quạ xúm xít bay liệng trên một cái gò. Ông cụ ấy nói rằng: “Chỗ này là chỗ đất hay đấy!” mới đem làm nhà ở dưới cái gò, từ bấy giờ con cái làm hào-trưởng ở xứ ấy. Được ba đời thì sinh ra ngài.\nCuối đời nhà Trần, Hồ-quí-Ly cướp ngôi, nhà Minh sai bọn Trương-Phụ, Mộc-Thạnh sang đánh, bắt được cả hai bố con Hồ-quí-Ly đem về Tàu rồi chiếm giữ lấy nước Nam, làm ra lắm sự tàn ác: Nào là bắt dân khai mỏ vàng, săn voi trắng; nào là bắt dân mò hạt trân-châu. Lại cấm dân không cho nấu muối riêng. Bắt phải nộp cống hươu trắng, rùa-rùa chín đuôi, vượn bạch, trăn to. Lại lắm chinh sự tàn ác, thuế má nặng nề, hơn 20 năm, dân sự lấy làm khổ ải, bởi vậy trộm giặc chỗ nào cũng nổi lên như ong, dân gian lại càng khốn đốn lắm.\nThái-tổ trông thấy tình hình làm vậy, có chí muốn ra dẹp loạn để yên dân.\nNgười nhà Minh vốn biết ngài là hào-kiệt nước Nam, muốn dụ ngài ra làm quan, ngài không thèm ra, nói rằng:\n- Đại trượng phu nên giúp lúc nạn to, lập nên công nhớn, chứ lại thèm làm đầy tớ người ta à!\nĐến năm Mậu-tuất (1418), ngài nhân được thanh thần-kiếm, và được bọn Nguyễn-Trãi, Trần-Hãn đến giúp nhận mới mộ quân khởi nghĩa chiêu dụ hào-kiệt. Đánh nhau với quân nhà Minh, lắm trận gian truân, mà chí ngài vẫn không núng.\nMột khi, ngài thua trận ở Côi-huyện, quân sĩ tan chạy mất cả, chỉ còn độc một mình chạy trốn. Tướng nhà Minh đem quân đuổi theo, ngài túng thế không biết làm thế nào, xảy gặp một ông lão nhà quê đang tát ruộng cấy mạ, ngài nhẩy ngay xuống ruộng cầm mạ cấy đỡ cho ông ấy. Một lát, quân Minh đuổi đến nơi, thấy người làm ruộng, hỏi thăm rằng:\n- Có thấy ai chạy qua đây không?\nÔng lão làm ruộng đã biết ý, chắc ngài là vua Lê, mới trỏ tay về phía trước mặt nói rằng:\n- Tôi vừa thấy một người chiến-tướng, hớt-hơ hớt-hải chạy về mé trước kia kìa!\nQuân nhà Minh tưởng thực, kéo cả đi về mé trước ngài nhân thế được thoát.\nLại một bữa quân Minh đuổi kíp quá, phải núp mình vào trong bụi rậm. Quân Minh có con chó săn cực khôn, lồng lẫy cắn vào trong bụi. Quân Minh cầm giáo xỉa vào, bỗng thấy một con cáo chạy ra, quân mới bỏ đám ấy mà đi, nhân thế lại được thoát.\nLại một buổi đánh nhau với Tham-tướng Minh là Phùng-Quí, thua trận chạy về đến núi Linh-sơn, quân hết lương ăn, phải nhịn đói mất hơn hai ngày, chỉ đào củ chuối và hái rau ăn trừ bữa.\nTuy vậy, càng thua lại càng phấn chấn, chớ không ngã lòng, vả lại được các tướng giúp đỡ, như bọn Lê-Sát, Đinh-Lễ, Nguyễn-Xí, Lê-Triện, ai nấy cũng giốc một lòng; cho nên dần dần lại chuyển thua thành được. Về sau đánh được Trần-Trí, đuổi được Phương-Chính, chém được Liễu-Thăng ở núi Mã-an bắt được bọn Thôi-Tụ Hoàng-Phúc, trong mười năm giời quét sạch bờ cõi, bấy giờ ngài mới lên ngôi Hoàng-đế.\nKhi ngài thành công rồi, một bữa ngự thuyền rồng chơi trong hồ Tả-vọng, bỗng thấy một con rùa to bơi trên mặt nước, ngài cầm thanh thần-kiếm chỉ xuống, không ngờ bị con rùa ấy đớp lấy rồi lặn mất, bởi vậy đổi tên hồ ấy là hồ Hoàn-kiếm, nghĩa là giả gươm của giời.\nNgài đem lại nước Nam, làm nên công nghiệm hiển hách, truyền đời ngót năm giời, thật là một vị đại-anh-hùng đệ nhất nước Nam.\nBắc-bình vương tên là Nguyễn-văn-Huệ, người làng Tây-sơn tỉnh Qui-nhân, em vua Tây-sơn là Nguyễn-văn-Nhạc.\nBắc-bình vương tiếng to như chuông mắt sáng như điện, sức khỏe tuyệt trần, mỗi khi lâm trận, chỉ hai tay cầm hai dùi đồng, phi ngựa xông vào giữa trận, hàng mấy nghìn người cũng không địch nổi. Lại có trí mưu quyền biến, mẹo mực như thần.\nKhi trước giúp anh khởi loạn ở trong Qui-nhân, về sau giữ từ Thuận-hóa giở ra, tự xưng là Bắc-bình vương.\nTrong năm Bính-ngọ thời Cảnh-hưng (1786), đem quân ra Bắc-hà, mưu trừ họ Trịnh để giúp nhà Lê. Giết được Trịnh-Khải, lập vua Chiêu-thống nhà Lê, rồi đem binh về đóng ở Phú-xuân, mà sai bộ tướng và Võ-Văn-Nhậm đóng quân ở Nghệ-an, để rình tin tức ngoài Bắc-hà.\nNăm sau, nhân có Nguyễn-hữu-Chỉnh muốn giúp vua Chiêu-thống để cự nhau với mình, mới sai Văn-Nhậm đem quân ra đánh Hữu-Chỉnh, đuổi mãi đến núi Tam-tùng bắt được, giải thây giết chết. Rồi lưu Ngô-văn-Sở cùng Ngô-Nhậm ở lại trấn thủ Thăng-long, lập Sùng-nhượng công Duy-Cẩn giám-quốc.\nVua Chiêu-thống chạy sang Tàu cầu cứu. Vua Càn-long nhà Thanh sai Tổng-đốc lưỡng Quảng là Tôn-sĩ-Nghị đem quân lưỡng Quảng cùng Vân, Quí hơn 20 vạn chia làm hai đường kéo sang.\nNgô-văn-Sở đem quân lui vào đóng ở Tam-điệp, Biện-sơn, đưa tin vào cáo cấp.\nBắc-bình vương được tin cả giận nói rằng: “Những quân Ngô-cẩu này sao dám dông đỡ làm vậy!” Bèn sai hạ lệnh khởi binh, các tướng-sĩ đều xin trước chính vị hiệu, để hệ nhân-tâm, rồi sẽ đem quân ra. Ngày hôm 25 tháng 11 năm Mậu-thân (1788), Bắc-bình vương lên ngôi Hoàng-đế, kỷ-nguyên là Quang-trung. Rồi khởi hết cả quân Thuận, Quảng, Thanh, Nghệ đem ra Bắc-hà, ngày 20 tháng chạp, kéo đến núi Tam-điệp, khao-thưởng quân-sĩ, truyền cho ba quân tạm làm lễ tết nguyên-đán, hẹn đến mồng 7 tháng giêng, ra thu phục được thành Thăng-long rồi sẽ mở tiệc khai-hạ. Tức thì chia quân các đạo kéo ra. Mồng ba tháng giêng năm Kỷ-dậu (1788) kéo quân đến vây đồn Hạ-hồi, (bây giờ thuộc phủ Thường-tín, Hà-đông), truyền loa gọi dạ ầm ầm, đến hàng vạn người; quân Tàu trong đồn sợ run cầm cập, bỏ tan mà chạy, bắt được giết sạch, không còn tên quân Tàu nào chạy lọt mà về báo Thăng-long được nữa.\nVua Quang-trung thừa thắng đánh tràn đến đồn Ngọc-hồi, Văn-điển, Yên-Quyết, giết được tướng Tàu là Đề-đốc Hứa-thế-Hanh, Tổng-binh Trương-triều-Long, Thượng-duy-Thăng, Tri-phủ Điền-châu Sầm-nghi-Đống. Tôn-sĩ-Nghị đóng quân ở bến sông Nhị, nghe tin báo vội vàng lên ngựa qua phù-kiều chạy sang bắc, quân sĩ tranh cầu đổ xô nhau mà chạy, cầu đổ, chết hàng mấy vạn người, nước sông Nhị đến nỗi không chảy đi được; hôm ấy là mồng 5 tháng giêng, vua Quang-trung mặc áo chiến bào xông pha trong trận, thẳng vào thành Thăng-long, mà áo chiến bắt hơi súng sám đen cả lại. Vua Quang-trung lại sai quân đuổi theo quân Tàu đến cửa Nam quan tỉnh Lạng-sơn, nói phao lên rằng: sắp kéo tràn qua cửa quan đuổi giết, để theo tìm vua Chiêu-thống. Người Tàu cả sợ, già, trẻ, nhớn, bé, cõng nhau mà chạy, từ cửa Nam-quan giở về bắc, vài trăm dặm, vắng ngắt, không còn có hơi khói lửa người ở.\nVua Quang-trung đánh được trận ấy, sai người nhặt thây quân Tàu chất lại thành đống, rồi đắp đất lên, tục truyền là gò đống-Đa ở huyện Vĩnh-thuận (bây giờ là huyện Hoàn-long, Hà-đông).\nKhi Tôn-sĩ-Nghị bỏ chạy, vua Quang-trung bắt được những tờ sắc dụ của vua Tàu, biết được ý Tàu chỉ giả dạng đồ lợi, chứ chẳng có ý gì phù Lê. Nhân khi ấy Tàu đã sai Phúc-khang-An ra thay Sĩ-Nghị làm lưỡng Quảng Tổng-đốc, chuyên ý giảng-hòa. Vua Quang-trung mới sai sứ sang giảng hòa, và cấp lương ăn cho những quân Tàu bắt được hơn 800 người mà đưa sang giả Tàu.\nVua tàu dụ phải thân sang chầu. Năm Canh-tuất, vua Quang-trung đổi tên là Nguyễn-quang-Bình, sai cháu là Phạm-công-Trị trạng mạo giống mình, đội tên sang thay mình để triều cống; ngoại thức cống-phẩm lại đưa sang cống hai cặp voi đực, quân Tàu phải đưa đón đi dọc đường rất khổ sở. Khi đến nơi hành-tại trên sông Nhiệt-hà, vào chầu vua Tàu. Vua Tàu tưởng thực vua Quang-trung, thưởng cho rất hậu, ngự bút lại đề bốn chữ đại-tự và thơ, câu đối ban cho. Khi vào bệ-kiến từ về, lại ban cho áo mũ đồ đạc, bằng các vị thần-vương, và vời đến gần sập-ngự, vỗ vai phủ dụ ôn tồn, lại họa ngự-cảnh ban cho.\nVua Quang-trung từ đấy lập Nghệ-an làm Trung-đô, đổi Thăng-long làm Bắc-thành, dựng sổ đinh, điền; đinh chia làm ba hạng, điền chia làm ba đẳng. Lại lập ra\n*tín bài, *đề bốn chữ: “ *Thiên hạ đại tín* 天下大信” bắt dân-đinh nộp thuế phải đề rõ tên họ, niên canh, quán chỉ, cặp chỉ làm tin, nếu người nào không có thẻ thì là lậu-đinh, bắt phải sung dịch, mà lý trưởng phải phạt. Lại-dịch nhân thế xét bắt quấy dân, có kẻ phải chui vào hang để trốn rất là khổ sở.\nVua Quang-trung lại muốn thừa cơ, lấy lại đất Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam của nước Nam khi xưa, đã mộ binh đóng tàu chiến, sắp sửa làm biểu sai sứ sang Tàu cầu hôn, để dò ý vua Tàu, mượn chuyện để khởi binh, chẳng may gặp phải bệnh mất, việc ấy lại phải dìm đi. Vua Quang-trung lên ngôi được 3 năm, thọ 40 tuổi.\n**Bản-triều Thế-tổ Cao hoàng-đế**\nĐức Gia-long là con giai thứ ba đức Hưng-tổ, là cháu đức Duệ-tôn. Khi đức Hưng-tổ băng, thì ngài mới lên 4 tuổi. Khi nhớn lên, ngài thiên-tư thông tuệ khác thường, đức Duệ-tôn lấy làm khí-trọng lắm.\nKhi ấy đức Duệ-tôn nối nghiệp chúa ở Thuận-hóa. Nhưng có kẻ quyền-thần là Trương-phúc-Loan chuyên quyền; mà trong Qui-nhân thì anh em Tây-sơn là Nhạc, Huệ nổi lên; ngoài Bắc-hà thì Trịnh chúa sai Hoàng-ngũ-Phúc vào xâm lấn; Thuận-hóa thất thủ, ngài theo đức Duệ-tôn chạy vào Quảng-nam, rồi lại vượt bể vào Gia-định. Đức Duệ-tôn cho ngài làm Chưởng-sử, coi một đạo quân Tả-dực. Ngài liệu tính việc quân không sai một ly nào, các hàng chư tướng đều giốc lòng theo ngài.\nMột hôm, ngài hộ giá đức Duệ-tôn đương đi nửa đường, chợt nghe có quân giặc đuổi theo. Đức Duệ-tôn thấy nguy cấp lắm, mới nhường con ngựa cho ngài cưỡi, giục ngài đi lên trước; ngài bất đắc dĩ phải nhận ngựa cưỡi đi lên. Đi một lát, lại dừng ngựa đợi. Khi đức Duệ-tôn theo lên kịp thấy ngài vẫn đứng đợi ở ven đường. Đức Duệ-tôn nói rằng: “Cháu ta có bụng tốt như vậy, giời thực chứng giám cho.”\nNăm Bính-thân, ngài đến Tam-phụ (tục gọi Ba-đống, thuộc Định-tường), chiêu mộ quân Đông-sơn (là bọn Đỗ-thanh-Nhân, tự xưng là Đông-sơn tướng-quân). Sực có quân Tây-sơn vào cướp Sài-gòn, đức Duệ-tôn phải chạy đến Đăng-giang, ngài đem quân Đông-sơn đến ứng viện, rước đức Duệ-tôn chạy đến Cần-thơ; rồi lại chạy đến Long-xuyên, thì đức Duệ-tôn bị nạn. Đang đêm, ngài muốn vượt thuyền ra bể để tránh giặc, khi thuyền quay mũi ra thì có con cá sấu ba lần đến ngăn trở thuyền ngài lại, không đi được. Sáng hôm sau, cho thám xem, mới biết đêm qua có thuyền giặc đón eo ở mé trước. Ngài phải chạy ra cù-lao Thổ-châu.\nSau ngài lại đảo về cử nghĩa-binh ở Long-xuyên, đánh phá quân Tây-sơn ở doanh Long-hồ (bây giờ là Vĩnh-long), thu phục được thành Sài-gòn lần thứ nhất.\nNăm Mậu-tuất (niên hiệu Lê Cảnh-hưng thứ 39, lịch tây 1777), chư tướng tôn ngài lên làm Đại nguyên-soái, nhiếp quốc-chính, khi ấy ngài mới 17 tuổi. Đến năm Canh-tí (1779), tháng giêng, ngài lên ngôi vua ở Sài-gòn.\nNăm Nhâm-dần, quân Tây-sơn kéo vào cửa bể Cần-thơ, ngài sai Chưởng-cơ Tống-phúc-Thiêm điều bát quân thủy ra cự-chiến. Quân Tây-sơn thừa thế tiến vào hăng lắm. Cai cơ Mạn-Hòe (Ma-nuel, người Pháp) cưỡi tàu xông vào cự địch, quân giặc ném thuốc súng xuống đốt tàu, Mạn-Hòe tử tiết. Ngài thân đốc binh thuyền ra ứng tiếp, mình mặc nhung-y, đầu đội nón chiến, tay cầm súng đứng trên mũi thuyền, bắn sang thuyền giặc. Ngài bắn súng cực giỏi, không phát nào sai, (tay súng ấy phong là:\n*Võ-công lương-khí)* hô chư quân vừa đánh vừa lui, rồi ngài ngự đến Tam-phụ, thành Sài-gòn lại mất về Tây-sơn.\nSau ngài ngự thuyền ra cù-lao Phú-quốc. Tháng tám năm ấy, Chu-văn-Tiếp cử binh kéo cờ hiệu bốn chữ: “\n*Lương-sơn tá quốc*” lại về thu phục được thành Sài-gòn lần thứ hai. Ngài ngự giá từ Phú-quốc trở về, sai sứ sang Xiêm-la thông hiếu.\nNăm Quí-mão, Tây-sơn Nguyễn-văn-Huệ đem quân vào đánh phá cửa Cần-thơ, ngài phải ngự đến Tam-phụ, bày tôi theo hầu ngài chỉ còn có Nguyễn-kim-Phẩm và năm sáu người mà thôi, ngài đi đến sông Lật-giang, quân giặc đuổi theo kíp lắm, mà nước sông chảy xiết quá, không có đò sang, ngài vốn tài bơi lội, bèn bơi vượt sang được bờ bên kia sông. Khi chạy đến Đăng-giang, khúc sông ấy nhiều cá sấu lắm, không thể bơi sang được, may có con trâu nằm ở bờ sông, ngài mới cưỡi trâu sang sông, đến giữa dòng nước chiều dâng lên to, chìm cả trâu, may có con cá sấu đưa giạt vào bờ, ngài ngự đến Mỹ-tho, rồi rước cả Quốc-mẫu và cùng gia-quyến ra trú ở cù-lao Phú-quốc. Quân Tây-sơn chợt kéo đến, ngài phải chạy ra cù-lao Côn-lôn (Poulo-condor).\nNguyễn-văn-Huệ đem quân thủy bổ ra bao vây Côn-lôn, thế rất nguy cấp, bỗng đâu giời nổi cơn mưa bão, mây kéo mù mịt, thuyền ghe giáp nhau mà cũng không trông rõ mặt người, sóng bể ầm ầm, thuyền giặc chìm đắm không biết bao nhiêu mà kể. Ngài ngự một chiếc thuyền vượt ra ngoài trùng-vi, bạt phong đến cù-lao Cổ-cốt. Ít bữa lại về Phú-quốc, lương thực hết cả, quân lính đến nỗi phải đào rễ cỏ, củ-mài mà ăn. Lúc bấy giờ có một nàng lái buôn là thị Uyển người Hà-tiên chở một thuyền gạo lại hiến.\nKhi ấy ngài nghe ông Bá-Đa-lộc (Evêque d’Adran) ở Chân-bôn, bèn sai người đến bàn tính, rồi giao ông hoàng-tử Cảnh mới lên bốn tuổi cho ông Bá-đa-Lộc đưa sang Pháp-quốc để cầu viện.\nHoàng-tử Cảnh đi rồi, ngài đem ra 20 lạng vàng, chia đôi đưa cho bà Nguyên-phi (Tống-thị sinh ra ông hoàng-tử Cảnh) một nửa mà bảo rằng: “Con ta đi rồi, ta cũng phải ra đi, Phi phụng dưỡng quốc-mẫu ở đây, chưa biết sau này ngày nào lại gặp được nhau mà ở tại chỗ nào, thì cứ lấy vàng này mà làm tin.”\nNói rồi, ngài ngự thuyền vào cửa bể Ma-li, để dò thám quân giặc; chợt gặp hơn hai mươi chiếc thuyền giặc đến vây; thuyền ngài vội vàng giương buồm cứ trông theo phương đông mà chạy, phiêu lưu ngoài bể bảy ngày đêm, trong thuyền hết cả nước uống, quân sĩ đều khát. Ngài mới mật khấn rằng: “Nếu ta có phận làm vua, thì giạt thuyền vào bờ, để cứu lấy mạng người trong thuyền này. Nhược bằng không thì đánh chìm đắm ở giữa bể này, cũng cam tâm vậy!”\nVụt chốc, gió lặng, sóng yên, trông thấy trên mặt nước, hắc, bạch chảy rẽ đôi dòng, một bên nước trong leo lẻo, trong thuyền một người nếm thử thấy ngọt, hô lên rằng: “Nước ngọt…!” Rồi tranh nhau múc uống, khỏi cả phiền khát, vừa múc được bốn năm chĩnh, thì nước bể lại mặn như trước.\nKhi giặc lui đi rồi, ngài lại ngự thuyền về Phú-quốc. Quốc-mẫu thấy ngài về cả mừng. Ngài mới kể lại tình trạng lúc bạt phong giữa bể, để quốc-mẫu nghe. Quốc-mẫu than rằng: “Con ta bên giời, góc bể, lịch duyệt gian nan. Nhưng xem như trận gió Côn-lôn, nước ngọt giữa bể, thì ý giời khá biết, chớ thấy gian hiểm mà ngã lòng.” Ngài bái tạ xin vâng lời dạy.\nLúc ngài đi bể, chỉ dùng muối, ớt, gừng, tỏi, hồ tiêu, hồi hương, quế-chi, ô-mai, bẩy tám vị ấy đều tán nhỏ trộn lẫn với nhau để làm thức ngự-thiện. Ngài thường ban cho các tùng-thần, và bảo rằng. Đi chốn sơn, hải lam chướng, nên ăn những thức này, và tỏ ý rằng ta cùng với các ngươi cũng cam khổ vậy.”\nNăm Giáp thìn, ngài sang Xiêm-la cầu viện. Vua Xiêm cho hai tướng đem 20.000 thủy binh, 300 chiến thuyền sang giúp. Nhưng bị Nguyễn-văn-Huệ phục binh đánh tan cả. Ngài lại ngự sang thành Vọng-các (Bangkok, kinh đô Xiêm).\nKhi ấy ngài có giúp Xiêm đánh tan quân Miến-điện. Vua Xiêm cảm tạ lại muốn giúp binh. Nhưng ngài biết rằng dẫu quân Xiêm có giúp cũng vô ích. Mà Nguyễn-văn-Thành cũng tâu rằng: “Ta nên dưỡng sức đợi thời, có thể tự làm lấy được, không nên dẫn quân rợ vào chốn trọng địa nước mình.” Ngài lấy làm phải.\nBấy giờ nghe tin anh em Tây-sơn khích-bác nhau, ngài mới quyết kế kéo quân về, nghĩa-binh các đạo đều đến họp tập, thanh thế lừng lẫy. Tháng tám năm Mậu-thân, lại thu phục được thành Sài-gòn lần thứ ba. Tháng sáu năm Kỷ-dậu, Bá-đa-Lộc đưa ông hoàng-tử Cảnh tự Tây về, và đưa hai tướng là Nguyễn-văn-Chấn (Vannier), Nguyễn-văn-Thắng (J-B. Chaignau\n[5]) sang giúp.\nNăm Canh-thân, ngài thống suất thủy, bộ chư quân ra cứu viện thành Bình-định, Thị-nại dùng chước hỏa công đánh phá thủy đồn.\nNăm Tân-dậu, ngài kéo quân ra thu phục được Phú-xuân. Từ đấy đánh tràn đi, diệt Tây-sơn, định Bắc-hà, nhất thống cả Nam, Bắc\nNăm Nhâm-tuất, (năm thứ 7 vua Gia-khánh nhà Thanh lịch Tây 1802) kỷ nguyên\n*Gia-long*, đưa thư sang Tàu định quốc hiệu là Nam-việt, nghĩa là ngài mở rộng được cõi Nam-kỳ, mà có cả toàn việt. Nhưng vua Gia-khánh lại đổi lại để chữ Việt trên chữ Nam, cho là triều Nguyễn ta trước chiếm có đất Việt-thường, nay có cả cõi An-nam. Ngài đưa thư sang chiết biện mãi rồi mới đặt quốc-hiệu là *Việt-nam.*\nNgài mở mang cõi nước Nam ta thêm rộng ra được 6 tỉnh Nam-kỳ, buổi đầu rất là gian lao, nào là đặt quan Điền-tuấn; mở đất đồn điền; phân hoạch địa giới Gia-định Định-tường; đào thông ngòi lạch Hà-tiên, Châu-đốc. Lại còn đặt ra tòa đệ-chỉnh ở Bắc-thành định ra đê-thức; soạn ra bộ nhất thống địa-dư; định ra điều lệ hương đảng; định phép tuyển-duyệt; nghiêm cấm đổ bác; định luật lệ 398 điều. Đó là qui-mô khai-quốc, kể lược qua như vậy. Lại còn công việc ngài giao thiệp với nước Xiêm-la; thông hiếu với nước Đại-pháp; xử trí nước Chân-lạp, Vạn-tượng, đều qui phục cả.\nCông đức ngài kiêm cả trung-hưng, sáng nghiệp triều Nguyễn ta, trong 22 năm mới thu phục được cựu-kinh, lên ngôi được 18 năm, thọ 58 tuổi, miếu hiệu là Thế-tổ Cao hoàng-đế, ngài thực là một vị vua khai sáng anh-hùng.\n\nThường-Kiệt tự là Hi-liệt, người làng Thái-hòa huyện Thọ-xương, (tức là thành phố Hà-nội bây giờ), có tài kiêm cả văn võ. Khởi thân làm Thái-giám. Đến thời vua Nhân-tôn nhà Lý, làm đến chức Thái-Úy, Trong năm Thái-ninh, nước Chiêm-thành đến quấy nhiễu xứ Nghệ-an, vua sai Thường-Kiệt cầm quân đi đánh, Thường-Kiệt đánh đuổi về mãi nước Chiêm, lấy được châu Bố-chính, châu Địa-ly và châu Ma-linh, mới sai vẽ địa-đồ ba châu ấy, đổi châu Địa-ly làm phủ Tân-bình, châu Ma-linh làm châu Minh-linh, (tức Quảng-bình, Quảng-trị bây giờ) chiêu mộ dân nghèo cho sang ở đấy khai khẩn.\nĐến năm Thái-ninh thứ tư, vua Thần-tôn nhà Tống sai Thẩm-Khởi, Lưu-Lộng ra coi Quí-châu, có ý muốn dòm nom nước Nam. Vua Nhân-tôn sai Thường-Kiệt đem quân đi cự quân Tống, Thường-Kiệt đánh tràn sang nước Tàu, hạ được châu Khâm, châu Liêm, và vây hãm châu Ung, giết hại quân nhà Tống hơn vạn người.\nNăm sau, vua Tống sai Quách-Quì làm Chiêu-thảo-sứ, đem 9 tướng chia đường đi sang hội với nước Chiêm-thành, nước Chân-lạp, để quấy nhiễu nước Nam. Vua lại sai Thường-Kiệt đi đánh, đánh trận nào được trận ấy, quân nhà Tống chết hơn nghìn người, phải bỏ mà về.\nKhi ấy, Lý-Giác khởi loạn ở xứ nghệ, Giác có yêu thuật, làm cho cỏ cây biến thành binh mã, quan quân đánh mãi không phá được. Thường-Kiệt bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, tình nguyện xin đi đánh, thì mới dẹp tan được đám ấy.\nNhân có nhưng công to ấy, được tiến tước phong làm đại-vương. Về sau mất được phong làm thượng-đẳng-phúc-thần.\nTô-hiến-Thành là bậc trung thời đời vua Anh-tôn nhà Lý, tài kiêm văn, võ, có công đánh phá Ai-lao cùng rợ Ngưu-hống (bây giờ thuộc huyện Hưng-hóa An châu). Lai nã bắt được đảng giặc Thân-lị, làm đến chức Thái-úy.\nKhi ấy có quân Chiêm-thành thường vượt bể vào cướp bóc nhân-dân ở miền ven biển. Hiến-Thành phụng mạnh đi đánh, kéo quân vào đến nước Chiêm (bây giờ là Bình-định Phú-an), đưa thư thiết trách chúa Chiêm, không giữ lễ phiên-thần triều cống, lại bày tỏ điều lợi hại để chiêu dụ, chúa Chiêm sợ phải sai sứ đem trân-châu phẩm-vật, vào cống hiến xin giảng hòa. Hiến-Thành mới phụng mệnh đem quân về.\nBấy giờ Thái-tử Long-Xưởng bị xử tội tư thông với cung phi, phải truất phế làm thứ dân. Vua Anh-tôn mới họp các tể-thần lại dụ rằng: “Ngôi thái-tử là cội rễ trong nước, nay Long Xưởng đã làm điều bất đạo, trẫm muốn lập Long-Cán để nối đại-thống, nhưng e tuổi còn thơ ấu, sợ rằng không kham nổi chăng?” Vừa khi ấy quan nội nhân ẵm Long-Cán mới lên ba tuổi ra chơi, trông thấy khăn ngự của vua đội, nhất định đòi cho được, vua chửa kịp cho, thì lại càng khóc thét mãi lên. Vua phải hạ khăn xuống đưa cho, thì Long-Cán cả cười. Vua Anh-tôn lấy làm lạ, mới quyết định lập Long-Cán làm thái-tử. Bèn cho Tô-hiến-Thành làm Thái-phó, gia phong vương tước, để phù lập Long-Cán nối ngôi.\nKhi Anh-tôn mất, Thái-hậu muốn lập Thái-tử cũ là Long-Xưởng sai đem vàng hối-lộ cho vợ Hiến-Thành là Lã-thị phu-nhân. Hiến-Thành nói rằng: “Ta là đại-thần, nhận tờ di-chiếu giúp ngôi ấu-chúa; nếu lại tham lấy của hối-lộ, bỏ vua này, lập vua khác, thì còn mặt mũi nào trông thấy đấng tiên-đế ở dưới suối vàng nữa.”\nThái-hậu lại vời Hiến-Thành đến khuyên dỗ trăm đường, Hiến-Thành nhất định không nghe, nói rằng: “Làm điều bất nghĩa mà được phú, quí, người trung-thần, nghĩa-sĩ không thèm làm. Phương chi lời đấng tiên-đế dặn lại hãy còn văng vẳng ở bên tai, tôi đâu lại dám cải lời; Thái-hậu lại chẳng nghe chuyện Y-Doãn, Hoắc-Quang\n[6] đời trước à!” Thái-hậu khuyên dỗ mãi cũng không chuyển.\nKhi Cao-tôn lên nối ngôi, Thái-hậu lại họp cả quần-thần lại để mưu phế, lập; các quần-thần điều thưa rằng: “Quan Thái-phó đã tuân tờ di-chiếu, lập ngôi ấu-chúa, chúng tôi không dám trái lời.” bởi vì khi ấy Hiến-Thành quản cấm-binh, phụ quốc-chính, hiệu lịnh nghiêm mật, thưởng phạt công bình, trong nước đều qui phục cả, cho nên không ai dám có mưu gì khác nữa.\nKhi Hiến-Thành phải bệnh gần mất, có quan Tham-chi chính-sự là Vũ-tán-Đường thường ngày đêm xuống hầu hạ thuốc thang luôn, còn quan Gián-nghị đại-phu là Trần-trung-Tá vì bận việc ít khi đến. Một hôm Thái-hậu ra thăm, hỏi Hiến-Thành về sau ai có thể thay ông được? Hiến-Thành thưa rằng: “Có người Trung-Tá.” Thái-hậu ngạc nhiên nói rằng: “Tán-Đường hầu thuốc thang luôn ở đây, sao ông không cử đến.” Hiến-Thành đáp rằng: “Ngài cốt hỏi người thay tôi để giúp nước, thì tôi cử Trung-Tá. Nếu ngài hỏi người hầu hạ, thì tôi mới cử Vũ-tán-Đường.” Thái-hậu khen là trung trực.\nHiến-Thành là bậc cố-mệnh nguyên-thần, hết lòng trung thành giúp ngôi ấu-chúa, thời bây giờ lấy làm ỷ-trọng; lại khéo xử lúc biến cố, chẳng chút chuyển di, người đời sau thường ví Tô-hiến-Thành cũng như ông Gia-Cát Vũ-hầu giúp vua hậu-chủ nhà Hán.\nVương họ Trần tên Quốc-Tuấn, quê ở làng Tức-mặc, tỉnh Nam-định, con ông An-sinh vương Liễu, (anh ruột vua Trần Thái-tôn).\nKhi trước An-sinh vương phu nhân, nằm mơ thấy một ông thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh-tiên đồng-tử phụng mệnh Ngọc-hoàng xuống xin đầu-thai, nhân thế có mang. Đến lúc sinh ra vương, có hào-quang sáng rực cả nhà và có mùi hương thơm ngào ngạt.\nVương, khôi-ngô kì-vĩ, thông minh sớm lắm, lên 5,6 tuổi, đã biết làm thơ ngũ-ngôn, và hay bày chơi đồ bát-trận. Khi gần nhớn, học rộng các sách, thông hết lục-thao, tam lược có tài kiêm cả văn võ.\nTrong năm Nguyên-phong thứ bảy thời vua Thái-tôn (1257). Có giặc Mông-cổ lấn vào phận Hưng-hóa, vua sai vương cầm quân lên giữ mặt thượng-du.\nĐến đời vua Nhân-tôn, Mông-cổ lại sai Thoát-Hoan đem bọn Toa-Đô, Ô-mã-Nhi chia đường sang đánh nước Nam, vương phụng mệnh thống lĩnh các quân của vương, hầu, hội cả ở trại Vạn-kiếp, để chống nhau với quân Mông-cổ. Bấy giờ thanh thế Mông-cổ đang mạnh, vương phải rước xa giá Hoàng-đế lánh vào Thanh-hóa. Hoàng-đế thấy sự-thế nguy cấp, muốn hàng, vương không nghe, tâu rằng:\n- Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hết chặt đầu thần đi đã, rồi sẽ hàng cũng chưa muộn. Đầu thần còn thì xã-tắc cũng còn, xin bệ-hạ chớ lo.\nVua thấy nói cứng cỏi làm vậy, trong bụng cũng yên. Đến tháng tư, phá được quân Mông-cổ ở cửa sông Hàm-tử. Tháng năm, lại đánh vỡ quân Mông-cổ và chém được Đại-tướng là Toa-Đô ở đất Tây-kết, Thoát-Hoan phải rút quân về Tàu.\nNăm Trùng-hưng thứ ba, Thoát-Hoan lại đem bọn Ô-mã-Nhi, A-bát-Xích sang quấy thứ nữa. Vương sai Trần-khánh-Dư phục quân chặn đường, đốt phá được hết thuyền lương của giặc ở cửa bể Lục-hải, (thuộc huyện Hoành-bồ, tỉnh Quảng-yên). Thoát-Hoan cạn lương, muốn rút quân về, vương phục sẵn quân ở sông Bạch-đằng, đóng cột chông ngầm dưới nước, chờ lúc thủy-triều lên ra khơi chiến, dử cho quân giặc đuổi đến chỗ mai phục, thì nước vừa xuống, thuyền giặc vướng mắc cột chông chìm đắm rất nhiều, mới thả quân mai phục ra đánh, bắt sống được Ô-mã-Nhi, và bắn chết được Trương-Ngọc, còn A-bát-Xích, Thoát-Hoan trốn được về Tàu.\nTự bấy giờ quân Mông-cổ sợ uy-danh của ngài, không dám gọi tên, chỉ gọi là Hưng-đạo-vương, và không dám sang quấy nhiễu nữa.\nKhi Thoát-Hoan sang xâm thứ sau, có một tên ti-tướng là Nguyễn-bá-Linh, (tức Phạm-Nhan), có yêu thuật, biến hiện trăm chiều, vương phải lập trận cửu-cung mới phá được. Khi bắt được Bá-Linh rồi, chém thế nào cũng không chết, vương lại phải dùng đến thần kiếm chém nó mới chịu.\nVương ba thứ phụng mệnh chống nhau với quân Mông-cổ, trải lắm phen gian truân, mà vẫn vững vàng niềm không núng, cho nên về sau phá được quân giặc, lập nên công to, để cho nước Nam lại vững như cái âu vàng.\nNgài nhân có công ấy, được tiến phong làm Thái-sư thượng-phụ Hưng-đạo đại-vương. Vua tôn kính coi như đạo cha, lập ra miếu sinh-từ ở Vạn-kiếp và khắc văn bia để tỏ công đức của ngài.\nNgài thường soạn ra một quyển sách gọi là: “\n*Binh-pháp yếu-lược*”, để ban cho các tướng, lại lập ra trận đồ cửu cung bát quái, thần diệu vô cùng.\nKhi ngài già, về trí-sĩ ở Vạn-kiếp, hưởng thọ ngoài 70 tuổi mới mất, trên từ vua cho chí các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng thương tiếc.\nBây giờ mỗi năm về hôm 20 tháng tám là ngày húy nhật ngài, thiện-nam tín-nữ đến lễ bái đến Vạn-kiếp thành ra một ngày hội to.\nNguyễn-Trãi hiệu là Ức-trai tiên-sinh, cha ông ấy là Tự-khanh công, nguyên người ở huyện Phượng-nhỡn. Ông cụ ấy hay địa-lý, mới đem tiên-phần sang táng ở làng Nhị-khê, huyện Thượng-phúc, rồi làm nhà và nhập tịch làng ấy.\nĐời con là Nguyễn-Trãi, đỗ tiến-sĩ về thời nhà Hồ, làm đến Ngự-sử-đài chánh chưởng. Đến lúc nhà Hồ mất, ông ấy về ẩn ở núi Côn-sơn, có bụng muốn ra dẹp loạn cứu đời.\nBấy giờ có người ở làng Hoắc-xa tỉnh Sơn-tây tên là Trần-nguyên-Hãn, đi bán dầu kiếm ăn. Một bữa giời tối, đi làng Chèm, mới vào đền Chèm nằm ngủ. Nửa đêm nghe có tiếng ông thần làng khác vào rủ ông Chèm lên chầu giời. Ông Chèm nói có quốc-công ngủ trọ không đi được. Đến gà gáy ông thần kia giở về. Ông Chèm hỏi trên giời có việc gì, thì ông kia nói rằng:\n- Thượng-đế thấy nước Nam chưa có chúa, có cho ông Lê-Lợi (tức Lê Thái-tổ) làm chúa, mà ông Nguyễn-Trãi thì làm bày tôi.\nTrần-nguyên-Hãn nghe rõ câu ấy, chịu khó dò hỏi tìm đến nhà ông Nguyễn-Trãi, kể lại truyện ấy. Nguyễn-Trãi không tin, lại về đền ông Chèm cầu mộng, thì thấy thần báo mộng rằng:\n- Việc thiên-đình bí mật lắm, không dám nói lộ ra ngoài. Có chị Tiên-Dong biết tường việc ấy, vả lại là liền bà, thì giời không trách đến, ông nên đem vàng đến đền ấy mà hỏi.\nÔng Nguyễn-Trãi nghe nhời ấy, đến cầu mộng đền bà Tiên-Dong, thì mơ thấy bà ấy gọi bảo rằng:\n- Nguyễn-Trãi! Lê-Lợi làm vua, mà anh thì làm bày-tôi, anh chưa biết truyện ấy à?\nÔng ấy hỏi cặn kẽ lại thì mới biết ông Lê-Lợi là người làng Lam-sơn tỉnh Thanh-hóa. Mới cùng với Trần-nguyên-Hãn vào Lam-sơn, hỏi thăm đến nhà ông Lê-Lợi. Bấy giờ Thái-tổ còn hàn vi, khi hai ông kia đến, thì ngài đang mặc cái áo cánh cộc, vai vác bừa, tay dắt bò ở ngoài đồng về. Hai ông xin vào hầu, Thái-tổ mời nghỉ lại trong nhà. Xảy gặp hôm ấy nhà có giỗ, hai ông kia xuống bếp thổi nấu, trông trộm lên nhà trên, thì thấy ngài ấy cầm giao thái thịt, đang vừa thái vừa ăn.\nHai ông bàn riêng với nhau rằng:\n- Bà Tiên-Dong nói lừa chúng ta đây, có lẽ đâu khí tượng thiên-tử mà lại thế kia bao giờ?\nLiền cáo từ ra về, lại đến cầu mộng đền bà Tiên-Dong, thì thấy báo mộng rằng:\n- Lê-Lợi làm vua, giời đã nhất định như thế rồi chỉ vì chưa có thiên-tinh giáng đấy thôi.\nHai ông lần sau lại đến thăm Thái-tổ, thì bấy giờ ngài đã được quyển thiên-thư. Khi ấy đang đêm đóng cửa xem sách. Nguyễn-Trãi đứng ngoài cửa dòm vào, rồi đẩy cửa, hai ông cùng vào. Thái-tổ cắp thanh gươm đi ra, hai ông cùng lạy phục xuống đất và nói rằng:\n- Chúng tôi xa xôi lặn ngòi noi nước đến đây, là vì thấy ngài làm được chúa thiên-hạ, xin cho chúng tôi được theo hầu.\nThái-tổ cười lưu hai người ở lại, mưu việc khởi binh. Ông Nguyễn-Trãi lấy mỡ viết vào lá cây tám chữ: “Lê-Lợi vi quân, Nguyễn-Trãi vi thần.” Về sau sâu cắn những lá ấy rụng xuống, người ta thấy vậy cho là sự giời định, đồn rực cả lên, bởi thế nhân dân tranh nhau kéo theo về với ông ấy, quân thế mỗi ngày một thịnh.\nĐến năm Mậu-tuất, mới bắt đầu ra đánh nhau với quân nhà Minh, ông Nguyễn-Trãi bàn mưu lập kế giúp vua Thái-tổ đánh hơn 20 trận. Năm Bính-ngọ, quân ta thắng trận, tiến sát đến Đông-đô, tướng nhà Minh là Vương-Thông giữ vững trong thành. Nhà Minh lại sai An-viễn hầu là Liễu-Thằng và Kiềm quốc-công là Mộc-Thạnh chia quân làm hai đường sang cứu Đông-đô. Thái-tổ đón đánh ở núi Mã-an, chém được Liễu-Thăng, và bắt sống được bọn Hoàng-Phúc, Thôi-tụ hơn 300 người, Mộc-Thạnh phải trốn về nước, Vương-Thông mở cửa thành ra hàng.\nTự bấy giờ hai nước lại thông hiếu, nội là tờ giao thiệp với Tàu, do tự một tay Nguyễn-Trãi cả.\nVì có công được phong quốc-tinh, gọi họ là Lê, mà thăng lên làm Vinh-lộc đại-phu nhập-nội-hành-khiển, coi cả việc trong ba quân và được phong là Tế-văn-hầu.\nTrần-nguyên-Hãn thì được phong làm quốc-công, đến khi mất, lại được phong làm thành-hoàng, bây giờ còn đền thờ ở làng Hoắc-xa.\nNguyễn-Trãi văn chương hùng dũng, có khí-lực, phàm các bài như là văn “\n*Bình ngô đại-cáo*” cùng là văn bia “ *Lam kinh thần-đạo*” *, *có chép vào bộ thực-lục, là tự tay ông ấy soạn ra cả.\nTính ông ấy điềm đạm, không ham mê danh lợi, thường có chí muốn từ chức về nhà. Ông ấy có một trại riêng ở tỉnh Bắc, gọi là Tiêu-viên. Đến thời vua Thái-tôn, Nguyễn-Trãi trí sĩ về ẩn ở trại ấy. Cuối đời Thiệu-bình, vua Thái-Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi trại Tiều-viên, Nguyễn-Trãi đi vắng, có người nàng hầu là Thị-Lộ, ở nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất, nịnh-thần cho là Thị-Lộ giết vua, vì thế cả nhà ông Nguyễn-Trãi phải chịu tội chu di.\nKhi trước đánh nhau ở núi Mã-an, Nguyễn-Trãi bắt được thượng-thư nhà Minh là Hoàng-Phúc, Hoàng-Phúc nguyên giỏi nghề địa-lý, khi ở nước Nam, bao nhiêu chỗ kiểu đất hay, đã biên ký lấy cả. Bấy giờ phải bắt, Nguyễn-Trãi có ý khinh bỉ. Hoàng-Phúc cười bảo rằng:\n- Mả tổ nhà tôi có Xá-văn-tinh, chẳng qua chỉ phải nạn trong năm ngày là cùng, không đến nỗi như ông có đất phải chu di tam tộc.\nBấy giờ cũng cho nhời ấy nói xằng, về sau quả nhiên Hoàng-Phúc được tha về, mà Nguyễn-Trãi thì mắc nạn, mới biết nhời ấy là nghiệm.\nTục truyền khi ông Nguyễn-Trãi chưa đỗ, dạy học ở làng Nhị-khê, thường có sai học-trò dọn cỏ một cái gò ở ngoài đồng để làm trường dạy học. Đêm hôm trước, mơ thấy một người đàn bà vào kêu rằng: “Tôi, mẹ yếu con thơ, xin ông khoan cho ba ngày để tôi đem con tôi đi chỗ khác, rồi ông sẽ sai dọn cỏ.” Sáng sớm, thức dậy ra đồng xem thì học-trò đã dọn sạch rồi, và bắt được hai cái trứng rắn.\nÔng Nguyễn-Trãi hỏi học-trò thì nói rằng:\n- Ban nẫy con thấy con rắn ở trong đám cỏ rậm, đánh nó đứt đuôi mà chạy mất, chỉ bắt được hai cái trứng ở đây.\nNguyễn-Trãi nghĩ con rắn hẳn là người đàn bà báo mộng hôm qua, phàn nàn không ngần nào, mới đem hai cái trứng về nhà nuôi cho nở. Đêm hôm ấy, đang ngồi xem sách, có con rắn trắng leo lên xà nhà, rỏ máu trúng vào chữ\n*đại* (代)\nKhi Nguyễn-Trãi đã hiển đạt. Một bữa, ở trong triều về, đi qua hàng chiếu, giời đã tối sâm sẩm, gặp một đứa con gái đi bán chiếu, nhan sắc tuyệt trần, Trãi đọc lên bốn câu thơ để hỏi đùa.\nThơ rằng:\n*Ả ở đâu đi bán chiếu gon?Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi?Đã có chồng chưa được mấy con?*\nNgười con gái ấy cũng đọc lên một bài đáp lại:\nThơ rằng:\n*Tôi ở Tây-hồ bán chiếu gon,Nỗi chi ông hỏi hết hay còn?Xuân thu tuổi mới giăng tròn lẻ,Chồng còn chưa có, có chi con!*\nNguyễn-Trãi thấy nói đối đáp ngay được, lấy làm khoái chí lắm. Hỏi tên thì nói tên là Thị-Lộ, mới đem về cho làm nàng-hầu.\nVua Thái-tôn nghe tin nàng ấy đẹp và hay chữ, sai làm nữ-học-sĩ, thường thường cho ra vào trong cung.\nKhi vua vào chơi nhà ở Tiêu-viên, thì ông Nguyễn-Trãi đi vắng, chỉ có Thị-Lộ ở nhà. Nàng ấy pha nước dâng lên vua xơi, vua uống phải thì mất ngay. Nguyên Thị-Lộ tức là con rắn hiện hình ra làm người để nó báo thù. Khi nó pha nước thì đã nhả cái nọc độc vào trong chén nước, cho nên vua trúng độc mà mất.\nCác quan bắt con Thị-Lộ vào tra hỏi, thì nó xưng là ông Nguyễn-Trãi sai nó, định-thần mới chiểu luật bắt tội nhà ông ấy, mà đem con Thị-Lộ vào cũi đem quẳng ra sông Nhị-hà, thì nó lại hóa ra con rắn ở trong cũi chui ra đi mất.\nLúc nhà ông Nguyễn-Trãi đang phải nạn, có người vợ lẽ đang có mang, chạy trốn xuống ở tỉnh Nam. Về sau sinh được người con giai đặt tên là Anh Võ. Ở đã lâu, chủ nhà mới biết là vợ lẽ ông Nguyễn-Trãi.\nĐến thời Quang-thuận, vua Thành-tôn thương ông ấy mắc phải tội oan, và phong tặng làm Thái-sư Tuệ-quốc-công. Sai tìm dòng dõi nhà ông ấy, thì mới tìm thấy Anh-Võ. Vua phong quan chức cho Anh-Võ, để nối dõi nhà ông ấy. Đến sau Anh-Võ sang sứ Tàu, đi qua hồ Động-đình, bỗng thấy con rắn ở dưới nước bò lên, rồi thì phong ba nổi lên ầm ầm. Anh-Võ biết lại là con rắn trước báo oán, mới khấn rằng: “Xin cho trọn việc nước, rồi đến lúc giở về sẽ xin chịu tội.” Khấn vừa đoạn thì sóng gió lại yên. Đến lúc việc sứ xong giở về, quả nhiên lại nổi cơn sóng gió, đắm thuyền mà mất.\nVua Thái-tôn truy tặng cho làm Thái-sư Sùng-quốc-công.\nTrong năm Cảnh-hưng, triều đình duyệt lại các sắc phong của ông khai-quốc công-thần. Khi duyệt đến sắc ông Nguyễn-Trãi, thì quan thị lang là ông Lê-quí-Đôn xé đạo sắc ấy ra nói rằng:\n- Bọn loạn-thần tặc-tử, còn để cáo sắc làm gì nữa.\nNói vừa buông nhời, bỗng nhiên ngã gục ngay xuống, rồi thấy hai tên lính bắt đi, đưa đến một chỗ đền đài, tường dễu xung quanh, có các cây cổ thụ hàng mười ôm. Trong đền có vài chục chiếc ỷ. Ở mé hữu có một tấm sập, trên sập có một ông quan ngồi, đầu đội mũ, mình mặc áo bố-tử. Lính hầu xúm xít xung quanh. Hai tên lính bắt ông Lê-quí-Đôn quì ở dưới thềm, rồi ông quan ngồi trên sập thét lên rằng:\n- Ta là Tế-văn-hầu đây, người là sơ học tiểu-sinh, sao dám bỉ báng người có công tiền-triều, tội ngươi đáng chết!\nLê-quí-Đôn ngồi nín lặng, không dám ngẩng mặt lên nhìn. Bên cạnh có người đội khăn lượt mặc áo xanh, kêu van thay cho Lê-quí-Đôn, ông quan lại nói rằng:\n- Công danh sự nghiệp của ta, không thèm so sánh với ngươi, ngươi đừng tưởng ngươi đỗ Bảng-nhỡn mà đã khinh người, cho ngươi về mà thử xem bài “\n*Bình-ngô đại-cáo*” của ta, nếu ngươi làm hay hơn được bài ấy, thì xé sắc của ta cũng phải.\nLê-quí-Đôn tỉnh dậy, kinh hãi lắm, lập tức viết lại sắc của ông Nguyễn-Trãi. Vì thế sắc của công-thần không ai phải tước cả.\nTrịnh-Kiểm người làng Sóc-sơn, huyện Chân-phúc, tỉnh Thanh-hóa. Khi còn hàn vi, nhà nghèo lắm, mà thờ mẹ rất hiếu. Mẹ tính hay ăn thịt gà, mà nhà thì không có, ngày nào cũng phải ăn trộm một con gà của láng-giềng để nuôi mẹ. Láng-giềng ai cũng ghét, một bữa nhân ông ta đi chơi vắng, bắt mẹ ông ta ném xuống vực Tôm ở cạnh làng, để khỏi phải ăn trộm gà nữa. Không ngờ lòng giời run rủi, chỗ vực ấy là một huyệt to. Đêm hôm ấy, giời nổi cơn mưa gió nhớn, rồi vực ấy bỗng nổi đất lên thành mộ. Về sau có người địa-lý Tàu xem ngôi mộ đất ấy, nói rằng: “Ngôi đất này phát ra không phải đế, cũng không phải bà, mà có quyền nhất cả thiên-hạ; truyền được tám đời, rồi vạ tự trong nhà sinh ra.”\nTrịnh-Kiểm tự khi mẹ mất, đi lơ bờ kiếm ăn, nấn ná sang Ai-lao, ở chăn ngựa cho đức Triệu-tổ đương làm Điện-tiền tướng-quân, rước con cả vua Cung-đế nhà Lê là vua Trang-tôn chạy sang Ai-lao, tìm kế khôi phục, cho nên ở bên ấy.\nMột hôm, đang đêm Triệu-tổ đứng dậy mở cửa ra sân, trông xuống dưới trại, thấy có hai khối tinh đỏ đòng đọc, tựa hồ hai bó đuốc, sai người đánh đuốc xuống xem cái gì, thì té là Trịnh-Kiểm đang ngủ ở chỗ ấy, hào quang từ trong mắt ánh ra. Triệu-tổ lấy làm kỳ, gọi lên hỏi truyện, thì ứng đối giỏi giang, tài đảm hơn người.\nTriệu-tổ thấy người có tướng lạ, biết không phải người tầm thường, đem lòng yêu mến, cử lên làm tướng bộ-hạ và gả con gái là nàng Ngọc-Bảo cho Trịnh-Kiểm.\nTự khi ấy, Trịnh-Kiểm theo Triệu-tổ đi đánh giặc, lập được nhiều công trạng to, Triệu-tổ lại càng kính trọng lắm, cử lên làm đại-tướng, sai đốc binh ra đánh Nghệ-an, dần dần tiến ra đến Thanh-hóa khôi phục được Tây-đô.\nĐến khi Triệu-tổ mất bao nhiêu quyền chính của ngài, vua Trang-tôn giao phó cả về tay Trịnh-Kiểm, Trịnh-Kiểm có quyền to tự đấy.\nTrịnh-Kiểm tuy người võ, nhưng mưu trí hơn người, giúp vua Trang-tôn, đánh nhau với nhà Mạc, lập lên công trạng, được tiến vị phong làm Thái-sư, Dực-quận-công, sau lại thăng làm Lang-quận-công. Đến đời con là Trịnh-Tùng lại sắc xảo lắm, giúp vua Anh-tôn phá được quân nhà Mạc ở cửa bể Thần-phù, dần dần tiến binh ra thành Thăng-long, bắt được Mạc-mậu-Hiệp, đem lại được giang sơn cho nhà Lê, được tiến phong làm Bình-an vương.\nTừ bấy giờ con cháu họ Trịnh, đời đời tập phong tước vương, quyền chính lấn cả thiên tử. Trải 200 năm, tám đời truyền kế nhau, đến đời Trịnh-Khải bị Bắc-bình-vương giết mất, bấy giờ mới hết.\nChi họ Lương ở Thanh-hóa, phong phú có tiếng nhất ở vùng ấy. Tổ họ ấy khi xưa sinh được ba con giai, thành ra ba chi. Đang khi cuối đời nhà Trần loạn lạc, một chi xiêu dạt sang Tàu, ở ngụ tỉnh Vân-nam. Có người làm nên, đời đời được tập phong tước vương. Một chi thiên ra ở xã Tào-sơn huyện Ngọc-sơn, cũng kế thế đăng khoa. Còn có một chi thì ở xã Hội-trào, huyện Hoằng-hóa, sinh ra ông Lương-đắc-Bằng, đỗ Bảng-nhãn trong thời Cảnh-thống đời vua Hiến-tôn nhà Lê.\nLương-đắc-Bằng vì có người họ ở Tàu, mới mua được nhiều thứ sách quí, cho nên học giỏi về nghề lý số. Ngoại 50 tuổi, chưa có con giai, chỉ có người vợ lẽ có mang được 3 tháng. Khi gần mất, dặn vợ lẽ rằng:\n- Nếu mai sau sinh được con giai, thì tất nó làm nên công danh sự nghiệp, tỏ rạng cửa nhà. Khi nào con nhớn, thì nên cho đến học ông Trạng Trình ở huyện Vĩnh-lại, thì mới giữ được nền nếp nhà ta.\nNói đoạn thì mất. Về sau quả người vợ lẽ sinh được con giai, mới đặt tên là Hữu-Khánh.\nHữu-Khánh thông minh sớm, mười tuổi đã biết làm văn; mà sức ăn cực khỏe, thường ăn gấp ba bốn phần người thường mới no. Mẹ lắm khi nhịn đói để con ăn.\nNhà ông ấy nghèo, mới bảo với mẹ rằng:\n- Cha tôi khi xưa làm quan thanh liêm, đến nỗi con cháu không đủ cơm cháo mà ăn, vậy mẹ cho tôi đi nơi khác, tùy đường kiếm ăn, kẻo để phiền đến bụng mẹ.\nMẹ buồn rầu nói rằng:\n- Mẹ con không nuôi được nhau, đến nỗi để con đi tha phương cầu thực, mẹ lấy làm đau xót ruột lắm.\nNói thế rồi, ứa hai hàng nước mắt. Ông ấy từ mẹ đi ra, sang các nhà học-trò bên cạnh huyện ngâm thơ làm phú để độ thân.\nMột khi đi qua bến đò sông Tam-kỳ, gặp 5,6 nhà sư tự đám chay về, mang một cái đẫy có 100 phẩm oản. Ông ấy từ nói rằng:\n- Học-trò nghèo nhịn đói đã mấy hôm nay, may gặp được Đại-bồ-tát, tưởng là có bụng bố-thí làm sao, lại bủn xỉn cho được vài phẩm oản, thì ăn chả bõ dính mồm.\nCó một nhà sư già cười nói rằng:\n- Thầy kia đã gọi là học-trò, thì thử làm một bài thơ “Học-trò đi thuyền chung với nhà sư”, hễ sang khỏi sông mà xong bài thơ, thì có bao nhiêu oản xin biếu cả.\nÔng ấy ngồi trong thuyền, ngâm ngay một bài thơ như sau này:\n*Một pho kinh sử bộ kim-cương,Đây đấy cùng thuyền khéo một đường!Trong hội cổ đàm ngươi thảo thích;Trên ngôi đài-các tớ nghênh ngang.Truyện xưa người vẫn căm Hàn-Dũ,*\nChưa sang khỏi đò đã vịnh xong bài thơ. Nhà sư mừng rỡ, giốc cả đẫy oản ra cho ông ấy. Ông ấy ngồi ngay đầu thuyền ăn một lúc hết 80 phẩm oản. Người trong thuyền ai cũng ngạc nhiên, nhà sư lấy làm kỳ dị, lại tặng thêm một quan tiền và nói rằng:\n- Thầy có tài như thế, nay tuy còn ở trong trần ai, nhưng tất có ngày làm nên hách dịch. Sư nghèo này xin dâng một bữa, ngày sau có đắc chí, đánh dẹp đốt phá ở đâu, thì xin chừa những nơi chùa chiền ra, mới là ân huệ.\nSang khỏi đò, ông ấy từ bọn sư đi rồi. Bấy giờ đang lúc Lê, Mạc đánh nhau, dân xã điêu tàn, ông ấy đi đến đâu không kẻ nào nhìn đến, có khi ba ngày mới được ăn một bữa, thường vẫn phải làm mướn kiếm ăn.\nMột buổi, sớm đến làng Vĩnh-trị, gặp một bà già ra chợ, gọi người thuê làm ruộng hoang. Hỏi mấy mẫu, thì bà già đưa đến chỗ ruộng sâu, trỏ ra bảo rằng:\n- Chỗ ruộng kia nước sâu, mà cỏ mọc lùm tùm, ước chừng năm mẫu.\nÔng ấy bảo rằng:\n- Bà cụ về nhà, thổi cơm độ mười người ăn, và đem sẵn tiền gạo thuê công đến bờ ruộng này, để tôi gọi giúp người làm cho.\nBà kia y nhời ấy giở về làm cơm. Ông ấy mới cầm một con dao to lội xuống ruộng dọn cỏ, chưa đến buổi trưa, đã dọn quang cả 5 mẫu ruộng. Dọn xong, nằm ngủ dưới gốc cây, tiếng ngáy như sấm.\nMột lát, bà già sai người nhà đem cơm đến, gọi ông ấy thức dậy, ông ấy ăn một lúc, hết cả hai mâm cơm, rồi lấy tiền gạo mà đi.\nChúng tưởng là thần, dần dần mới biết là con quan Bảng-nhãn ai nấy phàn nàn không ngần nào.\nĐến năm 18 tuổi, nhớ nhời cha dặn, mới đến học quan Trạng Trình. Bấy giờ học-trò quan Trạng hơn 3.000 người, duy có ông Kế-Khê là hay chữ nhất trường, khi ông Hữu-Khánh đến học, mới làm ba kỳ văn, đã đè lên ông Kế-Khê.\nTrình tiên-sinh vốn là học-trò ông Lương-đắc-Bằng khi xưa, nay thấy con thầy đến học, hay chữ như thế, có bụng quí trọng trăm phần, thường tư cấp cho để mà học.\nBấy giờ nhà Mạc mở khoa thi, ông Lương-hữu-Khánh vốn không có bụng làm quan với nhà Mạc, nhưng ngặt vì nhà nghèo và còn mẹ già, bất-đắc-dĩ phải ra thi. Khi thi thì bốn kỳ cùng thứ nhất, mà văn ông Kế-Khê thì đỗ thứ nhì. Đến lúc hồi phách,\n[10] quan Tràng thấy ông ấy là người Thanh-hóa mới đánh xuống thứ nhì mà ông Kế-Khê lên đỗ thứ nhất (vì bấy giờ tự Thanh giở vào thuộc nhà Lê, tự Ninh-bình giở ra thuộc về nhà Mạc). Ông Hữu-Khánh thấy xử thiên tư làm vậy, mới bỏ không vào thi đình nữa, vì thế ông Kế-Khê mới đỗ Trạng-nguyên.\nKhi ấy, Hữu-Khánh trọ ở hàng Bông, một hôm để dành được 6,7 đấu gạo, và hai lọ nước mắm. Thổi cơm rồi giải chiếu xuống đất ngồi ăn, rung đùi đắc chí, cười vang lên nói rằng:\n- Thế này chẳng kém gì mâm cơm nhà quan!\nXẩy có một ông quan tự trong triều trở về, nghe thấy tiếng cười nói, dừng xe lại nhìn, lấy làm kỳ dị, cho 5 quan tiền, rồi tiến lên với vua nhà Mạc.\nVua Mạc sai sứ đến nhà trọ, khuyên dụ trăm triều, Hữu-Khánh nhất định không ra làm quan. Tự bấy giờ lại đi bơ vơ, nay đây mai đó, con một nơi, mẹ một nẻo, trông cảnh động lòng, lắm phen chua xót.\nNhà Lê bấy giờ khởi quân ở phủ An-tràng, vốn nghe tiếng ông Hữu-Khánh là người tài lạ, nhiều khi muốn sai người ra đón về giúp, nhưng vì đường xá xa khơi, đi lại gian hiểm, cho nên chưa có dịp nào mà đem về được.\nVài năm sau, Kế-Khê được cầm quyền chính nhà Mạc, sai người tìm Hữu-Khánh thì gặp cả hai mẹ con ở huyện Lục-ngạn tỉnh Bắc đem về, Kế-Khê nghĩ tình bạn, lưu ở trong nhà, cung đốn tử tế, và khuyên dỗ cho ra làm quan, nhưng Hữu-Khánh biết cơ nhà Lê sắp trung hưng, có ý muốn phò nhà Lê, cho nên không ra làm quan với nhà Mạc.\nKế-Khê biết ý Hữu-Khánh, muốn đuổi đi nhưng không nói ra, nhân một bữa ở trong triều về, giả tảng nói rằng:\n- Tôi hôm nay phụng chỉ làm một bài phú, nhưng việc quan bận bội lắm, nhờ anh làm giúp cho tôi.\nNói rồi, thò tay vào túi, lấy ra một mảnh giấy đầu bài, đưa cho ông Hữu-Khánh, Hữu-Khánh thấy đầu bài: “\n*Tần quan văn kê*”, [11] biết ý là muốn đuổi mình, lập tức dặn mẹ đi lẻn ra bến Hoàng-liệt về Thanh-hoá trước, mà mình thì mật đưa một bài biểu bào An-tràng, hẹn ngày ấy thì đem thuyền ra đón tại cửa Thần-phù.\nĐược vài hôm, làm xong bài phú, để trên đầu giường, rồi lẻn ra đi gấp đường xuống cửa bể Thần-phù. Khi Kế-Khê ở trong triều giở về, đến nhà học, không thấy ông Hữu-Khánh đâu, cho đi hỏi khắp các nhà anh em bạn học, cũng không thấy tin tức gì cả. Xẩy thấy trên đầu giường có bài phú, trong bài có câu rằng: “\n*Lưu khách hóa ra đuổi khách đi*.” Kế-Khê ngạc nhiên nói rằng:\n- Anh này đi mất, triều-đình còn là nhiễu về anh này!\nLập tức sai quân đi các ngả đuổi theo bắt về. Khi Hữu-Khánh đến cửa Thần-phù, thì vua Lê đã sai năm chiếc thuyền chiến và 1.000 quân ra đón. Hữu-Khánh vừa bước chân xuống thuyền thì quân nhà Mạc đuổi theo vừa đến.\nHữu-Khánh ngồi trong thuyền gọi to lên bảo rằng:\n- Gửi nhời các anh, về ta ông Kế-Khê, ngày sau ta sẽ xin đền giả ơn.\nKhi về đến cửa phủ An-tràng, Vua Lê mừng rỡ lắm, cử làm Thị-lang, cho tham tá việc quân cơ. Hữu-Khánh bầy ra mưu mẹo gì cũng đắc cả, vua tin dùng hơn cả mọi người, sai cầm riêng một đạo quân đi dẹp giặc. Hữu-Khánh nhớ đến nhời nhà sư khi trước, phàm các trận mạc, thấy chỗ nào đồn giặc đóng cạnh chùa chiền, thì rút quân lảng đi không đánh, để tránh sự phá hại nhà chùa.\nVề sau làm đến Binh-bộ thượng-thư, công nghiệp hiển hách vào bậc danh-thần đời trung-hưng.\nPhạm-đình-Trọng người làng Kinh-dao, huyện Giáp-sơn, tỉnh Hải-dương.\nTục truyền ngài là thần Ngũ-hồ giáng sinh.\n[12] Năm 26 tuổi, đỗ Tiến-sĩ, quan trường là Nguyễn-trọng-Quát xem văn của ngài, đã mừng cho triều-đình được người kinh-luân giỏi.\nNăm Cảnh-hưng thứ nhất (1740), được cử làm Giám-sát ngự-sử, một khi ở kinh về, ngủ trọ làng Hoàng-xá, huyện Kim-thành, trông thấy một người nằm núp trong đống củi, bắt ra tra hỏi, thì là tướng giặc tên quận Gió, ngài bắt đem nộp, được thưởng 300 quan tiền.\nNăm Tân-sửu, ngài làm Hiệp-đồng, kiêm chức Phòng-ngữ-sứ, phải đi dẹp giặc, bắt được hai tướng giặc là ngụy Cừ và ngụy Tuyển ở núi Ngọa-vân, đóng cũi đem về kinh-đô, được phong làm Công-bộ Hữu-thị-lang.\nBấy giờ trong nước lắm giặc, mà kiệt hiệt nhất là quận He tên chữ là Nguyễn-hữu-Cầu, quận He là người làng Lôi-đỗng, huyện Thanh-hà có sức khỏe như thần, mỗi khi lâm trận, chỉ cắp hai thanh siêu-đao phi ngựa xông vào, quan quân tan giãn, không ai địch nổi, đã có tiếng gọi là Hạng-võ nước Nam. Tục truyền là thần cá bể sinh ra, cho nên lại tài nghề lặn nước.\nQuận He quấy nhũng vùng đông-nam, quan quân đánh mãi không trừ được. Ngài phụng mệnh đúc quân thủy; đóng ở bờ sông cạnh núi Đồ sơn, huyện Đông-triều. Một hôm, ngài đang ngồi trong thuyền, không ngờ quận He lặn ngầm dưới nước, nhẩy vọt lên thuyền, giết chết một tên lính. Ngài vội vàng đóng cửa thuyền hô to lên rằng:\n- Tao đã chém được quận He rồi đây!\nChúng tưởng thực xô cả lại, quận He phải nhẩy xuống sông, núp dưới bánh lái. Ngài sai quân cầm giáo đâm xỉa xuống, quận He chạy mất.\nLại một hôm, ngài chỉ có một chiếc thuyền đóng ở bến Triều, bất-thình-lình giặc kéo 3 thuyền đến vây lại đánh, ngài xuất thủ-hạ đánh hăng sức quá, giặc phải bỏ mà chạy, vua khen là mưu dũng hơn người, phong làm Giao-lĩnh hầu.\nNăm Nhâm-tuất, vua triệu ngài về sai làm chủ khảo thi hội. Thi xong, lại sai cùng với Tuân quận-công tiến quân đi đánh giặc. Vua hỏi những cơ mưu đánh giặc, ngài tâu tường tận lắm, vua mừng mà thưởng cho 3 cấp và 300 quan tiền.\nNăm Giáp-tí, quận He chiếm giữ núi Đồ-sơn ở phủ Kinh-môn, tán tí, tàn vàng, lừng lẫy một vùng bãi bể, tự hiệu là nhà Triều, thủ-hạ có 18 quận-công, và bốn trăm vạn quân, thanh thế rất là hách dịch.\nNgài phụng mệnh làm Thống-lĩnh Bình-khấu đại-tướng-quân được quyền sai phái binh mã thủy bộ các xứ Hải-dương, Kinh-bắc, Sơn-mam, An-quảng. Ngài nhận chức, coi việc đánh giặc là trách nhiệm của mình. Khi cất quân ra khỏi cửa phủ, đóng cờ ở đình Quảng-văn, rồi vào hầu hoàng-thượng ở trong đền chính. Hoàng-thượng an ủy một hồi, rồi ngự viết một đạo sắc ban cho.\nSắc rằng:\n“\n*Trăm họ đâu cũng là binh, kho tàng đâu cũng là của, cho người tùy tiện mà làm được việc, nhất thiết giao phó cho ngươi cả đó*.”\nNgài lạy từ đi ra, tiến binh đến thẳng núi Đồ-sơn, chiếm chỗ núi cao hạ trại, rồi dùng mẹo đánh phá, sai quân thủy chặn đường tải lương của giặc ở các cửa bể; mà ngài mang một đạo binh, đi ngầm đàng mé sau núi, chặt cây cối mở lối đi, rồi xe súng nhớn lên đỉnh núi, bắn vào trong trại giặc, giặc phải trốn đi nơi khác, lại chiếm giữ mạn sông Thương ở tỉnh Kinh-bắc; đắp thành Thọ-xương, dần dần lại chiếm được hết tự bờ sông giở sang bắc.\nBấy giờ Hoàng-ngũ-Phúc (quận Việp) đang làm thống lĩnh tỉnh Bắc, đem quân đánh nhau với giặc, đánh ba trận thì thua cả ba, vì thế giặc lây láng ra mọi nơi.\nNăm Ất-sửu, ngài lại phụng mệnh đốc chiến. Một hôm, ngài đang ngồi ở mé nam bờ sông Thương, cùng với một người khách uống rượu, bàn việc binh. Giặc ở bên kia bờ sông, bắn sang một phát, chết mất một tên lính hầu. Người khách xin ngài hãy tạm lánh đi. Ngài nói rằng:\n- Ba quân hay dở, quan hệ về một ông tướng, nếu mà ta lui đi, thì giặc tất kéo sang sông ngay.\nBấy giờ giặc giàn chiến-thuyền ở mé bắc; mà cắm cờ ở cửa sông để phòng quan quân tràn vào, ngài sai đắp lũy ở trên bờ sông làm kế vững bền; một mặt thì sai kéo tự trên thượng-lưu, di chuyển đường bộ kéo xuống, đến làng Đa-mai, huyện An-dũng, thủy bộ giáp hai mặt lại đánh. Giặc núng thế, muốn phá cừ để chạy ra ngoài, nhưng không ngờ cừ đã bị quân của ngài đóng kĩ lại từ bao giờ không sao phá mà ra được, giặc phải bỏ cả thuyền chạy lên bộ, quan quân đuổi đánh, bắt được rất nhiều.\nVua được tin mừng lắm, thưởng cho 10 lạng vàng và vài trăm thẻ bạc, để tùy ý thưởng cho tướng-sĩ. Vua lại viết bốn chữ “\n*Văn võ toàn tài*” ban cho.\nKhi ấy lại có đám nghịch Ngũ chiếm giữ làng Ngọc-bội, đã được vài năm, thế cũng hùng dũng. Phan-phái hầu là Nguyên-Phan đem quân đi đánh, bị giặc vây ở làng Hương-canh. Vua sai ông Quốc-cữu cầm 18 cơ binh lên đánh giải vây, đánh hơn một tháng giời không được. Vua thấy mặt đông-bắc đã hơi yên, mới triệu ngài về sai lên dẹp mặt Sơn-tây.\nKhi ngài về vào chầu, vua ban cho một thanh gươm bảo rằng:\n- Từ phó-tướng trở xuống, hễ ai không tuân nhời, cho phép cứ chém; còn cái áo gấm ban cho tướng trước sai đi, làm không nổi việc, cho người lên mà đòi lấy, hẹn cho 10 hôm thì phải xong việc.\nNgài cứ mang quân đi. Khi đến gần chỗ đất giặc, ngài cưỡi voi trèo lên trái núi trông xem, thì thấy khu giặc ở có 15 ngọn đồn, liên-tiếp với nhau; mà chung quanh ngoài lũy thì toàn đồng lầy cả. Ngài mới truyền cho quân mỗi người phải mang một bó củi và một bó đuốc, nửa đêm kéo quân vào, sai ném củi xuống, đồng lầy làm đường đi, rồi phá trộm lũy vào chính trại to của giặc, phóng hỏa đốt trại, rồi thì trong ngoài đánh ập vào, đốt luôn cả các đồn khác. Giặc đánh không nổi phải tan chạy, mới giải được vây cho Phan-phái hầu.\nNgười ngồi trên đầu voi, thảo biểu dâng về tâu công, và sai người lại đòi áo gấm của tướng trước, rồi đem quân về chầu, bấy giờ mới có 6 ngày.\nVua mừng lắm, cho ngồi ăn yến cùng một chiếu với Việp quận-công.\nVua bảo rằng:\n- Nghịch Ngũ tuy nhiên dông dỡ, nhưng chẳng qua chỉ là giặc giữ nhà mà thôi. Còn như nghịch He, nó còn ra vào bất trắc lắm, ngươi phải lưu tâm mà đề phòng, vậy ngươi nên về ngay dưới mặt đông-nam mới được.\nNgài lạy tạ, lập tức lên đường, về đến trại cũ ở làng Bối-thị huyện Vĩnh-lại, khao thưởng quân sĩ, nói phao lên rằng: cho quân vui chơi ăn uống năm ngày.\nBỗng dâng đến nửa đêm hôm thứ ba, nghe tiếng trống om sòm, thì ra ngài đã mang quân thủy đuổi đánh quận He ở ngã ba sông Tranh. Các tướng cũng kéo quân bộ ra đánh, quận He phải chạy trốn mất. Các tướng ai nấy mừng rỡ, nhưng không biết vì cớ gì mà ngài biết trước giặc đến mà đánh ngay được như thế.\nCác tướng hỏi thì ngài bảo là:\n- Ta mới tự kinh-đô lại đây, giặc tất có người do thám. Hôm thứ nhất, nó xem ta động tĩnh thế nào. Nó thấy ta nói phao lên cho quân ăn uống năm ngày, tất nó đồ rằng quân ta trễ nhác. Sang ngày thứ hai, nó tất đem ngầm quân đến đánh quân ta, ngày thứ ba thì nó đến nơi, cho nên ta đón đường trước mà đánh. Đó là phép binh dử cho người đến mà đánh đấy.\nCác tướng ai cũng chịu là mẹo cao. Ngài lại sai đem quân chia giữ các nơi xung yếu; và sức cho dân phải giữ giúp cho nhau, hễ có giặc phải báo quan ngay, để đem binh đến tiễu. Từ đấy thế giặc mỗi ngày một kém, dần dần quân thưa lương cạn.\nMột hôm, quận He sai người cầm giấy lại trình ngài, trong giấy viết ra một câu đối rằng:\n-\n*Ngọc tàng nhất điểm; xuất vi chúa, nhập vi vương*. [13]\n[玉藏一點出爲主入爲王。]\nNgài lập tức viết lại đối rằng:\n-\n*Thổ tiệt* *bán hoành; thuận giả thượng, nghịch giả hạ*. [14]\n[土截半橫順者上逆者下。]\nQuận He trông thấy, vừa sợ vừa thẹn, không dám đánh nhau nữa. Mới sai người đem vàng bạc hối lộ cho người quyền-thần phủ chúa tên là Đỗ-thế-Giai, giả tiếng xin ra hàng, mà kì thực muốn dùng chước hoãn binh. Đỗ-thế-Giai nhận lễ, nói với chúa Trịnh. Chúa Trịnh tin nhời cho hàng, và phong cho quận He làm Ninh-đông hầu, truyền đem thủ-hạ lại chầu.\nPhạm-đình-Trọng khăng khăng một mực xin đánh, thề không chịu cùng với giặc sống ở đời. Có quan Thự-phủ nhân có hiềm riêng với ngài, gièm pha với chúa Trịnh, để chúa Trịnh triệu ngài về kinh. Ngài thì biết cơ quận He trá hàng, mới đóng quân lại ở đồn Bôi-thị, và chiêu mộ thêm quân cường tráng các huyện Thanh-hà, Tứ-kỳ, Thượng-hồng, Vĩnh-lại, chia làm hai cơ nghĩa-binh, đặt tên gọi là cơ Thanh-kì và cơ Hồng-vĩnh, sai hai tướng thủ-hạ thống lĩnh hai cơ ấy.\nQuan Thự-phủ gièm với chúa Trịnh rằng:\n- Phạm-đình-Trọng chẳng khác gì Huyền-Đức, mà Thanh-kì thì là Quan-Võ, Hồng-vĩnh thì như Trương-Phi. Nay ông ta cầm đại binh ở ngoài, hoặc sinh bụng bất trắc thì làm thế nào?\nChúa Trịnh vốn tin ngài, không nói gì đến, lại đưa cho một bài thơ để ngài yên tâm.\nVề sau quận He quả nhiên không ra hàng, cướp bóc vùng đông-nam lại càng nhũng lắm. Triều-đình sai quận Côn lĩnh binh đi đánh. Khi sang qua sông Nhị-hà, đến trạm Điên-dao, bị giặc đánh lừa, bắt sống được quận Côn, chư quân tan vỡ mất cả. Giặc bắt triều-đình phải chuộc quận Côn 300 lạng bạc, Kinh-thành nhao nhác cả lên.\nChúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài lập tức phái binh các đạo và quân nghĩa-binh tiến tiễu, đánh nhau ở Gia-phúc, Quảng-xuyên, An-ninh, Tông-hóa trận nào cũng được, giặc phải trốn đi nơi xa, dân vùng ấy được yên ổn.\nKhi trước ở bến Hồng-đàm châu Vạn-ninh, là một nơi rất hiểm ở miền bể đông. Có đám giặc Quan-lan, tụ đồ đảng giữ chỗ ấy làm sào huyệt, cướp bóc các thuyền buôn đường bể, việc buôn bán ta với Tàu đọng cả lại. Quan Tổng-đốc Quảng-đông, không sao trừ được, nhiều lần đưa giấy sang cho quan Tuần-phủ Yên-quảng, hợp binh tiễu giặc, đánh luôn mấy năm vẫn chưa xong. Khi ấy ngài đi tuần mặt bể đông, sai thuộc-tướng là Vinh-thọ hầu đem chiến thuyền đóng ở châu Vạn-ninh, nói phao lên rằng đánh giặc, hẹn ngày với quan Tàu để hợp tiễu. Mà ngài thì mật đem đội thuyền từ dưới núi Đề-thi, ra đường Bạch-long-vĩ, đến thẳng bến Hồng-đàm, đánh phá trại giặc, bắt được tướng đầu đảng và 7 người đồ đảng, đóng cũi nộp cho quan Tàu. Ngài thân đến chơi với quan Trấn-thủ Long-môn, người Tàu trông thấy ngài lấy làm lạ lùng, tiếc thay cho ngài lạ đại tài mà sinh về nước nhỏ, chính-nhân mà thời người quyền-thần.\nQuan Tàu tâu việc ấy lên vua Tàu. Vua Tàu khen nước Nam có người giỏi, yên được cõi ngoài ven, sai quan sang ban thưởng cho ngài áo đai, trăm tấm gấm, mười lạng vàng và phong làm Thượng-thư. Chúa Trịnh cũng phong cho ngài làm Binh-bộ Thượng-thư, bởi thế gọi là Thượng-thư hai nước.\nSực lại có tin quận He quấy nhiễu các huyện Thần-khê, Thanh-lan, dân sự tàn hại. Chúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài đi gấp đường đến huyện Ngự-thiên, đang cùng bàn mưu với quận Việp, xảy đâu giặc kéo đến vây kín làng ấy. Ngài sai chư quân giàn trận, cầm giáo trông về phía giặc. Một mặt sai quân đắp lũy. Ngài ngồi ngay trong trận thảo tờ hịch, sai đòi tướng tá lại hội. Đang khi ấy, giặc bắn chết một tên lính cầm nghiên mực, ngài sai tên khác thay vào, mà ngài thì cứ ngồi vững vàng như không, trỏ bảo các quân. Giặc thấy vậy không dám đến gần, phải tháo vây mà chạy. Ngài đem quân các đạo, thừa thế đuổi đánh, phá được giặc ở sông Lộng-khê (về huyện Phụ-dực). Lại đuổi đến làng An-vệ, huyện Quỳnh-côi, vây bọc được giặc hai ba từng. Quận He sai quân bó nhiều đình-liệu, nói phao lên rằng đến đêm thì đốt đình-liệu mà đánh ra, quân sĩ không ai dám chống lại, chỉ có một mặt của ngài vây mé ngoài thì giặc không dám cửa ấy.\nVề sau quận He trốn về Nghệ-an, hợp đảng với nghịch Diên, quấy nhiễu trong vùng Thanh, Nghệ, ngài đem quân vào Nghệ, đốt phá được trại giặc ở làng Hưng-lãm, rồi đánh tràn vào đến Bạch-đường, Bào-giang. Ngài suất bộ-tướng là quận Trân làm tiên-phong, sai quận Viên làm hậu-quân, đuổi giặc mãi đến huyện Quỳnh-lưu, qua làng Hoàng-mai, ở đấy có một trái núi rậm, ngài đồ rằng giặc tất núp vào trái núi ấy, mới đổi tiền-quân làm hậu, hậu-quân làm tiền, sai vây bọc chung quanh dưới chân núi. Bấy giờ quận He thế lực đã kiệt lắm rồi, biết thân không còn thể nào chạy thoát, mới đến tiền-quân xin hàng.\nKhi trước quận Trân cầm tiền-quân, vốn quen nhau với quận He. Không ngờ tiền hậu mới đổi, té ra quận Viên cầm tiền-quận. Quận Viên mới sai đóng cũi giải nghịch He về Kinh-sư.\nTừ đấy ngài mới thành công giở về, được gia chức là Thiếu-bảo, phong làm Dương-võ tuyên-lực công-thần, ban cho 12 xã dân và 150 mẫu ruộng để làm ruộng thế-nghiệp.\nNăm Cảnh-hưng thứ 12, ngài phụng mệnh trấn thủ tỉnh Nghệ-an và châu Bố-chính. Một khi ngài đang ngồi coi việc trên phủ-đường, bỗng dưng có một con rắn to tự ngoài sân bò vào, quân sĩ toan đánh, ngài không cho đánh, thử để xem ra làm sao, thì thấy con rắn bò quanh chỗ sập ngài ngồi, rồi leo lên tràng áo ngài. Ngài cứ ngồi nghiễm nhiên không động, một lát nó lại bò xuống, rồi bò vào hồ Bán-nguyệt đi mất.\nNgài có ý buồn rầu, biết là cái điềm nó đến đón mình. Ngài mới đi khắp trong thuộc hạt, khuyên dân làm ăn yên nghiệp.\nMột hôm, ngài đang nằm trong màn, đang đêm bỗng dạ to lên một tiếng, cả nhà giật mình. Hỏi cớ làm sao thì ngài nói rằng:\n- Thượng-đế sai đòi ta về rồi.\nChúng ngạc nhiên, chưa biết thế nào. Đến ngày mùng một tháng giêng năm sau là năm Giáp-tuất, ngài mặc áo chầu ra giữa phủ-đường, ngoảnh mặt về bắc lễ vọng Thiên-tử, rồi lên giường nằm, tự nhiên thiếp dần đi rồi mất.\nVua được tin thương xót vô cùng, sai quân thủy bộ hộ tống linh-cữu về làng ngài an táng, và sai quan Thượng-thư là Trần-Cảnh đến nhà dự tế.\nChúa Trịnh cũng sai Thượng-thư là Nguyễn-công-Thái đến tế, và tặng 16 chữ: “\n*Phủ dân, tiễu khấu, cố bản, an biên, ái quốc, trung quân, hoàn danh, cao tiết*.” Lại gia tặng chức Thái-phó, phong làm Hải quận-công thượng-đẳng phúc-thần, sai lập đền thờ ở làng Giáp-sơn.\nChúa Trịnh lại ba cho một câu đối thờ rằng:\n*Cái thế anh-hùng kim cổ thiểuTại nhân công đức địa thiên tràng*.\nĐào-duy-Từ người Ngọc-sơn tỉnh Thanh-hóa, cha là Đào-tá-Hán vốn dòng con hát. Khi Duy-Từ sinh ra, thông minh dĩnh dị, học thông kinh sử; làm văn hay, thuật-số, sấm-vĩ, đều tinh hiểu cả. Ra ứng hương-thi đời nhà Lê, quan trường cho là con nhà hát xướng đánh hỏng. Duy-Từ bực mình trở về. Nghe đức Thái-tổ triều Nguyễn ta có lòng yêu kẻ hiền-sĩ, nhiều người về theo, bèn quyết chí vào trong Nam.\nNghe thấy quan Thám-lý Trần-đức-Hòa ở Qui-nhân là người nhà chúa thân tin, mới đi vào Qui-nhân, ở chăn trâu cho một nhà giàu ở Tùng-châu.\nMột hôm, phú ông mở tiệc rượu, mời các danh sĩ đến uống rượu làm thơ. Xế chiều, Duy-Từ chăn trâu về, thấy các danh-sĩ đương bàn luận, Duy-Từ cầm roi vào đứng trước án, cùng các danh-sĩ bàn luận cổ, kim, cùng là bách gia kinh sử, đều thông suốt cả; cả tiệc đều thất kinh. Phú ông lấy làm kỳ dị, mới nói chuyện với Đức-Hòa. Đức-Hòa đến hỏi truyện Duy-Từ, thấy là người học-vấn rộng, kiến thức nhiều, bèn mời đến nhà dạy học, gả con gái cho.\nDuy-Từ thường ngâm bài ca\n*Ngọa-long-cương*, diễn ra ca quốc-âm, là có ý tự tỉ với Gia-cát-Lượng. Đức-Hòa trông thấy nói rằng: “Duy-Từ có lẽ là Ngọa-Long đời nay chăng?”\nTriều đức Hy-tôn thứ 14 năm Đinh-mão, Đức-Hòa vào yết kiến, dâng bài ca\n*Ngọa-long-cương*, tâu rằng: “Bài ca đó là của thầy đồ dạy học nhà tôi có tên là Đào-duy-Từ làm ra.”\nĐức Hy-tôn xem lấy làm lạ, lập tức cho đòi vào yết kiến.\nKhi Duy-Từ vào, thấy đức Hy-tôn mặc áo trắng, đi giầy xanh, đứng đợi ở cửa dịch-môn. Duy-Từ lùi lại không vào. Đức Hy-tôn biết ý, bèn chỉnh áo mũ đòi vào yết kiến. Duy-Từ trần thuyết, đức Hy-tôn cả mừng nói rằng: “Người lại đây sao muộn vậy?” Liền cho làm nha-úy nội-tán, tước Lộc-khê hầu, kiêm quản cả việc quân cơ trong ngoài, thường triệu vào hầu trong, bàn định quốc chính.\nNăm Kỷ-tị, Trịnh-Tráng mưu muốn vào xâm trong Nam, bèn sai Nguyễn-khắc-Minh cầm tờ sắc-thư vào trước tấu phong đức Hy-tôn làm Thái-phó quốc-công, và giục ngài ra Đông-đô để đi đánh giặc. Đức Hy-tôn hội quần-thần lại bàn. Duy-Từ tâu rằng: “Đó chẳng qua là họ Trịnh mượn sắc mệnh vua Lê, để lừa ta ra. Nếu nhận sắc-thư mà không ra, thời kẻ kia có lẽ bẻ mình được; nếu không nhận, thời kẻ kia ắt động binh vào đánh. Đã sinh hiềm khích ra, thì không phải phúc cho đâu, Vả lại ta thành quách chửa bền, quân sĩ chửa luyện, lấy gì mà chống chế với quân thù địch. Không gì bằng hãy nhận lấy sắc-thư, cho họ không ngờ; để ta được chuyên ý sửa sang bờ cõi cho kiên cố; rồi sau dụng kế trả lại sắc-thư, thì kẻ kia không làm gì ta được nữa.”\nĐức Hy-tôn theo lời, nhận lấy sắc-thư hậu đãi sứ-giả cho về.\nDuy-Từ lại khuyến đức Hy-tôn từ rầy không nộp thuế má cho họ Trịnh nữa, và tâu xin phái dân-binh đắp lũy Trường-dục, tự chân núi Trường-dục đến bãi Hạc-hải, để phòng thủ bờ cõi.\nDuy-Từ lại tâu xin làm một cái mâm đồng hai đáy, để tờ sắc-thư vào giữa, rồi sắp phẩm-vật đựng trên mâm, sai Lại-văn-Khuông đem ra Đông-đo tạ ân, Duy-Từ lại nghĩ sẵn mười điều vấn, đáp, dặn Văn-Khuông trước.\nKhi Văn-Khuông đến Đông-đô, Trịnh-Tráng đòi vào hỏi, Văn-Khuông biện bác không chịu khuất; Tráng cả sợ, đãi Văn-Khuông rất hậu. Văn-Khuông hiến mâm phẩm-vật, rồi lẻn ra về.\nĐến khi Trịnh-Tráng sai tách đáy mâm, thấy có một tờ sắc-thư và một cánh thiếp đề chữ rằng: “Mâu 矛 nhi 而 vô 無 dịch 腋, mịch 覓 phi 非 kiến 見 tích 跡, ái 愛 lạc 落 tâm 心 tràng 腸 lực 力 lai 來 tương 相 địch 敵.”\nTráng hỏi các bầy tôi, không ai biện ra nghĩa gì, chỉ có quan Thiếu-úy Phùng-khắc-Khoan đoán ra là chữ “\n*Dư* 予 *bất* 不 *thụ* 受 *sắc* 勅.” [16]\nTráng cả giận sai người đuổi theo Văn-khuông, thì đã đi xa rồi. Tráng muốn đem binh vào đánh, gặp khi ấy Cao-bình, Hải-dương có giặc, bèn thôi.\nNăm ấy Duy-Từ lại tâu xin đem quân ra lấy Nam-bố-chính châu, chiếm đất từ sông Linh-giang giở vào, tuyển dân đặt ra binh-thuyền 24 đội.\nNăm Tân-mùi, Duy-Từ lại tâu xin đắp một cái lũy dài tự cửa bể Nhật-lệ đến núi Đâu-mâu, cao 1 trượng 5 thước dài hơn 3000 trượng, (tục gọi là lũy Thầy) tiệt nhiên là một chốn hiểm yếu ngăn trong Nam ngoài Bắc.\nDuy-Từ lại đặt ra phép tuyển-duyệt, để kén kẻ đinh tráng, lập ra phép khảo-thí, để thu kẻ nhân-tài.\nMột hôm, Duy-Từ nằm mộng thấy có con hổ đen tự phương Nam chạy vào, chợt lại sinh hai cánh mà bay lên được. Sực tỉnh lại thì thấy Nguyễn-hữu-Tiến mặc áo thâm, cầm quạt cánh từ ngoài vào, đứng hầu ở dưới thềm. Duy-Từ thấy người trạng mạo phi thường, hỏi bao nhiêu tuổi, thì nói là tuổi\n*Nhâm-dần*. Duy-Từ mới hỏi truyện, lấy làm trọng lắm, cho là hợp với mộng, rồi tiến lên làm đến Tiết-chế, tướng lược rất giỏi, ngoài Bắc-hà vẫn gọi Nguyễn-hữu-Tiến là Nam-triều hổ tướng.\nDuy-Từ phụ chính 8 năm, huân nghiệp rỡ rệt, có làm ra sách\n*hổ-tướng sư-sơ tập, Ngọa-long-cương ngâm, *thọ được 63 tuổi, thực là đầu bạc công thần triều Nguyễn ta.\nTrịnh-hoài-Đức trước tên là An, tên chữ là Chỉ-sơn, hiệu là Cấn-trai. Tổ tiên trước là người Phúc-kiến, vốn dòng dõi họ nhà quan, đời ông tổ gặp lúc nhà Thanh mới khai sáng, không chịu theo kết bím, để tóc sang nước Nam ở đất Trấn-biên. Cha là Khánh, học giỏi, chữ đại-tự tốt, đánh cờ tướng cao, có danh tiếng ở đời bấy giờ. Triều đức Thế-tôn, khánh quyên làm chức cai-thu ở An-trường, sau thiên làm cai-đội ở trường Qui-nhân, Qui-hóa, Bản-canh, rồi mất.\nKhi ấy Hoài-Đức mới lên 10 tuổi, dốc lòng chăm học, bấy giờ gặp thời buổi nhiễu-nhương, người mẹ mới đem Hoài-Đức đến ở Phiên-trấn, cho theo học ông xử-sĩ Võ-trường-Toản, học càng ngày càng giỏi.\nNăm Mậu-thân, đức Thế-tổ về thu phục được thành Gia-định, Hoài-Đức bèn cùng với Lê-quang-Định ra ứng cử, được bổ làm Hàn-lâm viện chế-cáo, sang năm sau, làm quan Điền-tuấn huyện Tân-bình, khuyên dân chăm chỉ việc nông, tang. Sau lại theo làm việc bộ Hình, xét nghĩ văn án, luyện tập chính sự, càng ngày càng giỏi.\nRồi lại sung làm Đông-cung Thị-giảng, theo Đông-cung ra trấn-thủ thành Diên-khánh, (tức Khánh-hòa). Đến khi Đông-cung tiến binh ra Phú-an, Hoài-Đức dự bàn giúp việc cơ-mật.\nNăm Giáp-dân, Hoài-Đức làm Ký-lục doanh Trấn-ninh, rồi lại thăng làm Hộ-bộ Hữu tham-tri. Năm Tân-dậu, Hoài-Đức coi việc thu thuế thóc ở Quảng-nam, Quảng-nghĩa để cấp cho quân, sau lại cùng Nguyễn-văn-Thành coi về việc Hộ. Tháng năm được thăng làm Hộ-bộ Thượng-thư (Nguyễn triều ta có lục bộ Thượng-thư bắt đầu từ đây), sung chức chính-sự, cùng với Binh-bộ Tham-tri Ngô-nhân-Tĩnh, Hình-bộ Tham-tri Hoàng-ngọc-Uẩn sang sứ nhà Thanh, đệ tờ quốc-thư, phẩm vật, và đem nộp cả ấn sách của Tàu phong cho Tây-sơn, cũng giải nộp lũ tướng giặc bể là Đông-hải vương Mạc-quan-Phù, Thống-binh Lương-văn-Canh, Lương-văn-Tài. Tháng bảy mới sang đến Hổ-môn quan; quan Tổng-đốc Lưỡng-quảng là Giác-Là-Cát-Khánh tâu lên vua Tàu, vua Tàu truyền dụ cho đưa sứ-bộ đến Quảng-tây, rồi vào Bắc-kinh.\nKhi ấy đức Thế-tổ vừa ra bình định xong Bắc-hà, lại sai Binh-bộ Thượng-thư Lê-quang-Định sang sứ cầu phong. Bọn sứ-bộ Trịnh-hoài-Đức còn đợi ở Quảng-tây, tháng tư năm Gia-long thứ hai, cả hai bọn sứ bộ cùng tự Quảng-tây đi thuyền qua Hồ-bắc đến Hán-khẩu, rồi lên bộ qua Vạn-lý tràng-thành, qua cửa Cổ-bắc, tháng tám đến sông Nhiệt-hà (thuộc Mãn-châu, các sứ bộ đời nhà Lê chửa từng đến đấy bao giờ), vào bệ kiến vua Gia-khánh ở nơi hành-tại. Rồi lại cùng với sứ Tàu sang tuyên-phong là Án-sát Quảng-tây Tề-bố-Sâm, tự cửa Nam-quan trở về nước. Khi về lại vẫn giữ chức bộ Hộ, rồi vào làm Hiệp-trấn Gia-định, lại thăng làm Lễ-bộ, Lại-bộ Thượng-thư.\nĐến năm đức Thánh-tổ lên ngôi, Hoài-Đức thường nhân việc ngăn gián tỏ lòng trung thành, Thánh-tổ đều nghe theo cả. Rồi lại được thăng làm Hiệp-biện đại-học-sĩ, kiêm lĩnh Lại-bộ, Binh-bộ Thượng-thư. Bấy giờ chửa có ai được thụ hàm nhất phẩm bao giờ, Hoài-Đức mới được thụ hàm Hiệp-biện là một. Khi tại chức bàn tán giúp việc quân quốc rất nhiều.\nHoài-Đức là người cẩn thận, phong độ trầm tĩnh, học vấn rộng rãi, bàn bạc điều gì vẫn giữ đại thể. Đức nghiệp văn chương ông ấy, người đời đều tôn trọng cả. Hoài-Đức có làm sách\n*Gia-định thống-chí, Cấn-trai thi-tập, Bắc-sứ thi-tập, Gia-định Tam-gia thi-tập*. [17] Khi mất 61 tuổi, truy tặng Thiếu-phó cần-chính điện đại-học-sĩ, thực là một bậc danh-thần, trải hai triều vua đều quyến cố cả.\n\nMạc-đĩnh-Chi tự là Tiếu-phu, người làng Lũng-đỗng, huyện Chí-linh (Hải-dương), nguyên về dòng dõi quan Thượng-thư Mạc-hiển-Tích về triều nhà Lý, (Hiển-Tích đỗ Trạng-nguyên đời vua Trung-tôn nhà Lý, làm đến Lại-bộ Thượng-thư).\nTục truyền làng Lũng-đỗng có một thung rừng rậm, cây cối bùm tùm, lắm giống hầu (con khỉ) ở. Mẹ ông ấy thường khi vào rừng kiếm củi, phải con hầu to bắt hiếp. Về nói với chồng, chồng ăn mặc giả làm đàn bà, giắt sẵn con dao sắc vào rừng, con hầu quen thói lại ra, bị ông kia chém chết bỏ thây ở đấy. Sáng mai ra xem thì thấy mối đã đùn đất lấp hết, thành một gò mả.\nBà kia từ đấy thụ thai, đủ tháng sinh ra Mạc-đĩnh-Chi, mặt mũi xấu xí, người nhỏ loắt choắt tựa như giống hầu.\nÔng cha đến lúc gần mất, dặn lại táng lên mả con hầu, vì biết chỗ ấy là chỗ đất kết (ngôi mả bây giờ vẫn còn).\nMạc-đĩnh-Chi nhớn lên, năm tuổi, tư chất thông minh hơn người. Bấy giờ Hoàng-tử là Chiêu-quốc-công mở trường dạy học-trò, Đĩnh-Chi vào học. Đến năm gần 20 tuổi, là năm Giáp-thìn đời vua Anh-tôn nhà Trần, Đĩnh-Chi thi đình, văn đáng đỗ đầu cả mọi người, nhưng vua trông thấy người hình dạng xấu xa, toan không cho đỗ Trạng-nguyên. Đĩnh-Chi làm một bài phú “\n*Ngọc-tỉnh-liên*” để ví vào mình, vua mới lại cho đỗ Trạng-nguyên.\nKhi Đĩnh-Chi phụng mệnh sang sứ nhà Nguyên bên Tàu, đã hẹn ngày với người Tàu đến hôm ấy thì mở cửa ải, vì gặp phải trời mưa gió sai hẹn, người Tàu đóng cửa không cho vào. Đĩnh-Chi nói tử tế xin cho mở cửa. Người Tàu đã ra một câu đối tự trên ải ném xuống, và bảo hễ đối được thì mở cửa.\nCâu ra:\n“\n*Quá quan trì, quan quan bế; nguyện quá-khách quá quan*.” [18]\nĐĩnh-Chi viết ngay một mảnh giấy đối lại đưa lên:\n“\n*Xuất đối dị, đối đối nan; thỉnh tiên-sinh tiên đối*.” [19]\nNgười Tàu khen có tài nhanh nhẩu, mới mở cửa ải cho vào. Khi đến cửa Yên-kinh, người Tàu thấy xấu xa, có bụng khinh bỉ. Một hôm, quan tể tướng Tàu mời vào phủ-đường ngồi chơi. Đĩnh-Chi trông thấy trên bức trướng có thêu con chim-sẻ vàng đậu trên cành trúc, tưởng là con chim thực, đứng dậy chạy lại bắt. Người Tàu cười ầm cả lên, Đĩnh-Chi xé tan ngay bức trướng ấy ra.\nChúng ngạc nhiên hỏi cớ làm sao thì thưa rằng:\n- Tôi có nghe người ta thường vẽ chim-sẻ đậu cành mai, không ai vẽ đậu cành trúc bao giờ. Nay Tể-tướng sao lại cho vẽ thế? Trúc là giống cây quân-tử, chim sẻ là loài vật tiểu-nhân, vẽ thêu như thế, thì cho tiểu-nhân ở trên quân-tử, tôi e rằng đạo tiểu-nhân mỗi ngày thịnh lên, mà đạo quân-tử mỗi ngày mòn đi, nên tôi trừ giúp cho thánh-triều đấy thôi.\nChúng chịu là biện bác có lẽ.\nĐến khi vào chầu, nhân có ngoại-quốc dâng một đôi quạt quí. Vua sai Đĩnh-Chi và một người sứ Cao-ly, mỗi người đề một bài tán vào quạt.\nSứ Cao-ly làm xong trước.\nNhời tán rằng:\n“\n*Uẩn long trùng trùng, Y-Doãn, Chu-Công, Vũ tuyết thê thê, Bá-Di, Thúc-Tề*.” [20]\nBấy giờ Mạc-đĩnh-Chi chưa nghĩ ra ý tứ làm sao, nhác trông sang quản bút bên kia viết, biết là nhời nhẽ như thế, mới suy ra mà đề một bài như sau này:\n“\n*Lưu kim thước thạch thiên địa vi lô; nhĩ ư tư thời hề, Y Chu cự-nho! Bắc phong kì lương, vũ tuyết tái đồ; nhĩ ư tư thời hề Di, Tề ngã-phu; Y!dụng chỉ tác hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù?*” [21]\nĐề xong dâng lên, vua Tàu cầm bút khuyên chữ Y, phê rằng: “\n*Lưỡng quốc trạng-nguyên*” (Nghĩa là trạng-nguyên hai nước).\nThường khi cưỡi lừa đi đường, chạm phải ngựa của người Tàu. Người kia đọc lên một câu đối rằng:\n“\n*Súc ngã kị mã, Đông-di chi nhân dã! Tây-di chi nhân dã!*” [22]\nĐĩnh-Chi ứng khẩu đối rằng:\n“\n*Át dư thừa tư, Nam phương chi cường dư! Bắc phương chi cường dư!*” [23]\nLại thường đối đáp với người Tàu, Tàu ra rằng:\n“\n*An, nữ, khứ; thỉ nhập vi gia*.” [24]\nĐối rằng:\n“\n*Tù, nhân xuất; vương lai thành quốc*.” [25]\nNgười Tàu phê rằng:\n- Con cháu về sau, tất có người làm đến đế vương, nhưng hiềm về chữ quốc (国) đơn, thì nước không được tràng cửu mấy nỗi.\nLại ra:\n“\n*Nhật hỏa vân yên; bạch chủ thiêu tàn ngọc thỏ*.” [26]\nĐối:\n“\n*Nguyệt cung tinh đạn; hoàng hôn xạ lạc kim-ô*.” [27]\nNgười Tàu phê rằng:\n- Con cháu về sau, tất có người cướp nước. (Mạc-đăng-Dung giết vua Lê cướp nước).\nLại ra:\n“\n*Li, vị, võng, lưỡng, tứ tiểu quỉ*.” [28]\n魑(si)魅(mị)魍(võng)魉(lượng)四小鬼\nĐối:\n“\n*Cầm, sắt, tì, bà, bát đại vương*.” [29]\n琴瑟琵琶八大王\nTàu phê rằng:\n- Đời sau làm được phúc-thần, hưởng người ta tế bái (Về sau quả nhiên làm thành-hoàng làng Cổ-trai).\nLại ra:\n“\n*Điểu tập chi đầu đàm Lỗ-luận: Tri chi vi tri chi, bất trí vi bất tri, thị tri*.” [30]\nĐối:\n“\n*Oa minh trì thượng độc Châu-thư; Lạc dữ tiểu lạc nhạc lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?*” [31]\nLại ra:\n“\n*Lạc-thủy thần-qui đan ứng triệu, thiên số cửu, địa số cửu, cửu cửu bát thập nhất số, số số hỗn thành tam đại đạo, đạo hợp Nguyên-thủy thiên-tôn, nhất thành hữu cảm*.” [32]\nĐối:\n“\n*Kì-sơn minh phụng lưỡng trình tường, hùng thanh lục, thư thanh lục, lục lục tam thập lục thanh, thanh thanh ưởng triệt cửu trùng thiên, thiên sinh Gia-tĩnh hoàng-đế, vạn thọ vô cương*.” [33]\nMột khi bà Hoàng-hậu ở Tàu mất, vua Tàu sai ông Mạc-đĩnh-Chi vào đọc văn-tế. Đến lúc quì xuống cầm bản văn đọc thì chỉ thấy một tờ giấy trắng, có bốn chữ\n*nhất* (一) mà thôi. Đĩnh-Chi không nghĩ ngợi gì, đọc ngay rằng:\n“\n*Thanh thiên* nhất *đóa vân, hồng-lô* nhất *điểm tuyết, ngọc uyển* nhất *chi hoa, giao-trì* nhất *phiến nguyệt. Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết*.” [34]\nBài văn ấy còn chép vào sử Tàu. Người Tàu ai cũng chịu tài ứng biến nhanh.\nTục truyền rằng Mạc-đĩnh-Chi ở Tàu, ai cũng chịu là người tài, mà xét đến tướng mạo, thì không có gì làm quí cách, mới cho người rình, lúc đi đại-tiện thấy tiện ra hình vuông, mới biết có ẩn tướng ở đấy.\nĐến lúc đi sứ về, người Tàu lại theo sang xem địa-lý, xem đến ngôi mộ thân phụ ông ấy, chịu là ngôi đất hay và có nói rằng ngôi mộ ấy hình thế rất đẹp, chỉ hiềm không có nước tụ, thiếu mất thổ-thủy, cho nên quí mà vẫn nghèo.\nĐĩnh-Chi làm quan liêm quá, vua Minh-tôn biết tính ông ấy; thường sai người đem 10 quan tiền, rình lúc tối bỏ vào cửa nhà ông ấy. Sớm mai, Đĩnh-Chi vào tâu ngay với vua, xin bỏ tiền ấy vào kho.\nVua bảo rằng:\n- Tiền ấy không có ai nhận, thì cho ngươi cứ việc mà tiêu.\nBấy giờ Đĩnh-Chi mới lấy, đại để thanh liên như thế cả. Đến triều vua Hiến-tôn, làm nên đến chức Tả-bộc-xạ (Tể-tướng). Văn-chương lưu truyền lại về sau rất nhiều, mà bài nào cũng vui thích cho tai mắt người ta cả. Vả lại có đức hiền-hậu, cho nên để phúc mãi đến đời con cháu. Con ông ấy là Khản, Trực, cũng làm đến Viên-ngoại-lang. Cháu là Địch, Toại, Viễn, cùng có quyền thế làm quan đương lúc nhà Minh cai trị. Đời cháu chắt thiên sang ở làng Cổ-trai huyện Nghi-dương, thì có Đăng-Dung là cháu bảy đời ông ấy làm vua nhà Mạc.\nNhà Mạc lên làm vua, truy phong Đĩnh-Chi làm Huệ-việt linh-thánh đại-vương, bây giờ ở làng ấy còn thờ làm phúc-thần.\nTiên-sinh húy là Văn-An, tự là Linh-triệt. Người làng Quang-liệt, huyện Thanh-trì, đỗ Tiến-sĩ về triều nhà Trần.\nNgài tính ngay thẳng mà điềm đạm, không ham đường danh lợi, chỉ cốt lấy sự tỏ đạo thánh-nhân mà triệt mối dị-đoan làm việc mình.\nNgài mở một trường dạy học ở cạnh đầm thôn Cung-hoàng làng ấy. Học-trò đến học rất đông, mà nhiều người làm nên hiển đạt, như là Phạm-sư-Mạnh, Lê-bá-Quát làm đến Tể-tướng, mà vẫn phải giữ phép học trò, đứng hầu dưới đất. Trong bọn học-trò, ai có điều gì không phải, thì lập tức quát mắng đuổi đi ngay.\nTrong năm Khai-thái đời vua Minh-tôn, vua nghe tiếng ngài là bậc đạo-học mô-phạm, vời vào làm Quốc-tử-giám Tư-nghiệp để dạy Thái-tử học. Đến năm Đại-trị đời vua Dụ-tôn, chính sự triều đình mỗi ngày một suy đốn, bọn quyền-thần lắm kẻ sinh ra kiêu ngạo, ngài dâng sớ xin chém 7 người gian nịnh, thì toàn những người quyền thế hách dịch bấy giờ. Vua không nghe, vì thế ngài cởi mũ giả chức quan, xin về làng cũ.\nNgài trí-sĩ rồi, nhân ra chơi làng Ái-kiệt, huyện Chí-linh (Hải-dương), thấy có phong cảnh lạ lùng, núi non vui vẻ,\n[35] mới làm nhà ở trong khoảng núi Lân-phụng, tự hiệu là Tiều-ẩn tiên-sinh. Mỗi khi nhàn ngài ra thẩn thơ chơi trên đầm Miết và trong sông Thanh-lương, ngâm thơ uống rượu làm vui. Khi nào có việc triều-hội gì, thì lại vào chầu. Vua Dụ-tôn muốn dùng ngài làm tướng, nhưng ngài nhất định không làm quan nữa.\nBà Hiếu-từ Thái-hậu nói rằng:\n- Người ấy là bậc cao-hiền, thiên-tử không có quyền bắt người ta làm tôi được, giao thế nào được chính sự cho người ta!\nVua mới sai đem áo mũ đến ban cho ngài, ngài nhận lấy nhưng lại lấy đem cho người khác, thiên-hạ ai cũng khen ngài là cao. Học-trò bấy giờ coi ngài như núi Thái-sơn, như sao Bắc-đẩu, trọng vọng vô cùng.\nKhông bao lâu, ngài mất ở nhà, vua Nghệ-tôn sai quan đến dự-tế, ban cho tên gọi là Văn-trinh-công, và cho hiệu là Khang-tiết tiên-sinh, cho được tòng tự vào bên hữu-võ đền Văn-miếu (đền thờ đức thánh Khổng-tử) ngang hàng với các bậc tiên-nho.\nTục truyền khi ngài dạy học ở cạnh làng Cung-hoàng, có người học-trò trẻ tuổi, mặt mũi phương phi, sáng nào cũng đến nghe sách, ngài khen là người siêng năng, mà không biết là người ở đâu, mới sai người rình, xem lúc về đi đường nào, thì thấy đi đến đầm Cung-hoàng rồi biến mất.\nNgài biết người ấy tất là thủy-thần, nhân bấy giờ giời nắng mãi, ngài mới bảo người ấy rằng:\n- Thiên tai khi nắng, khi lụt, số giời không biết đâu mà nói, nhưng mắt trông thấy dân phương này tiều tụy lắm, ai là chẳng thương tình. Anh cho phép gì làm mưa, giúp cho thầy mà cứu lấy dân này không?\nNgười học trò ấy có ý khó lòng, nhưng nể nhời thầy, không biết nói làm sao, mới mài mực đen ra giữa sân, hòa với nước phun ra, một lát mưa to như chút nước xuống. Dân được trận mưa ấy, lúa má đỡ hại nhiều.\nNgười ấy từ về, sáng mai, thấy một con thuồng-luồng to chết nổi ở trong đầm, mới biết tức là người học trò ấy.\nNgài thấy vậy thương xót lắm, sai học-trò vớt xác thuồng-luồng lên chôn cho tử tế. Bây giờ vẫn còn gò mả thuồng-luồng.\nTiên sinh tên húy là, hiệu là Bạch-vân cư-sĩ, người làng Trung-am, huyện Vĩnh-lại, tỉnh Hải-dương. Tiên-thế nhà ngài có âm-đức, đời ông là Văn-Tĩnh được phong tặng Thiếu-bảo Tư-quận-công, được ngôi dương-cơ, hợp vào kiểu đất của Cao-Biền. Đời thân-phụ ngài là Văn-Định được phong tặng làm Thái-bảo Nghiêm-quận-công. Mẹ ngài là Từ-thục phu-nhân họ Nhữ, nguyên là con gái quan Hộ-bộ thượng-thư là Nhữ-văn-Lan, ở làng An-tử, huyện Tiên-minh. Bà ấy thông kinh-sử, giỏi văn-chương, mà lại tinh nghề tướng số.\nBà ấy kén chồng đến ngoài 20 tuổi, thấy ông Văn-Định có tướng sinh ra quí-tử mới lấy. Về sau lại gặp một chàng trẻ tuổi đi qua bến Hàn, ngạc nhiên nói rằng: “Tiếc thay! Khi trước không gặp người này!” Hỏi ra thì chàng ấy là Mạc-đăng-Dung (về sau làm vua nhà Mạc). Bà ấy phàn nàn không ngần nào.\nBỉnh-Khiêm sinh về năm Tân-hợi đời Hồng-đức (niên hiệu vua Lê Thánh-tôn); đẫy đà to lớn, mặt mũi khôi ngô, chưa đầy tuổi đã biết nói. Một khi Văn-Định đang ẵm trên tay cho trông ngóng bỗng dưng nói rằng: “\n*Mặt giời mọc về phương đông*.” Văn-Định lấy làm kỳ-dị. Đến năm bốn tuổi, phu-nhân dạy ngài học chính-văn trong kinh truyện, dạy đến đâu thuộc đến đấy. Bà ấy lại dạy học thuộc lòng vài mươi bài thơ nôm.\nMột bữa, phu-nhân đi vắng, Văn-Định kéo một cái dây đùa với con, rồi ngâm đùa một câu rằng: “\n*Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung*.” Đương đọc dở dang, thì con tiếp theo mà ngâm rằng: “ *Vén tay tiên hốt hốt rung!*” Văn-Định thấy con thông minh mừng lắm, về khoe truyện với phu-nhân. Phu-nhân giận nói rằng:\n- Mặt giăng là phận bày tôi, sao ông lại dạy con điều ấy?\nVăn-Định thẹn thò xin chịu lỗi, nhưng bà ấy vẫn còn căm tức, xin từ về, nhất định không ở đấy nữa, về sau bà ấy già đời ở nhà bố mẹ đẻ.\n[36]\nKhi Bỉnh-Khiêm còn để hai trái đào, cùng bọn trẻ con tắm ở bến Hàn, có người đi thuyền trông thấy nói rằng:\n- Tiếc thay cho thằng bé này, bộ da dày lắm, chỉ làm được Trạng-nguyên Tể-tướng là cùng!\nKhi ngài bé thì học ở nhà, đến lúc nhớn, nghe tiếng ông Bảng-nhãn Lương-đắc-Bằng hay chữ, mới vào Thanh-hóa theo học ông Bảng-nhãn.\nLương-đắc-Bằng vốn ở làng Hội-trào, huyện Hằng-hóa. Nguyên có một chi họ lạc sang ở Vân-nam, đời đời làm quan bên Tàu. Khi Đắc-Bằng sang sứ nhà Minh, gặp một người cùng họ là Lương-nhữ-Hốt cho một quyển “Thái-ất chân-kinh.” Đắc-Bằng đem về học tập, cho nên tinh nghề lý-số, việc gì cũng tính biết được trước.\nNguyễn-bỉnh-Khiêm học hết được phép thuật của ông Lương-đắc-Bằng. Khi ông Đắc-Bằng mất, dặn lại Nguyễn-bỉnh-Khiêm về sau phải trông nom cho con mình là Lương-hữu-Khánh.\nTrong năm Quảng-thiệu (Lê Chiêu-tôn), có việc biến loạn, Nguyễn-bỉnh-Khiêm ở ẩn một chỗ, không muốn cầu tiếng tăm với đời. Bấy giờ, Trịnh-Tuy, Mạc-đăng-Dung cùng có ý muốn tranh quyền, đánh nhau luôn mấy năm. Ngài tính số Thái-ất, biết cơ nhà Lê lại khôi phục được.\nNgài có thơ cảm hứng sau này:\n*Non-sông nào phải buổi bình-thời,Thù đánh nhau chi khéo nực cười!Cá vực, chim rừng ai khiến đuổi?Núi xương, sông tuyết thảm đầy nơi!Ngựa phi chắc có hồi quay cổ*.\nVề sau, nhà Mạc chiếm giữ Kinh-thành, bốn phương đã hơi yên ổn, các bạn bè nhiều người khuyên ngài ra làm quan. Ngài bất-đắc-dĩ phải ra thi, thi đỗ Trạng-nguyên năm Đại-chính thứ sáu nhà Mạc. Bấy giờ ngài đã 44 tuổi.\nVua nhà Mạc cất ngài làm Tả-thị-lang, Đông-các đại-học-sĩ, Ngài làm quan được 8 năm, trước sau dâng sớ hạch 18 người lộng-thần, nhân có chàng rể là Phạm-Dao cũng kiêu hoạnh, ngài sợ phải vạ lây, mới từ quan cáo về dưỡng lão.\nKhi ngài trí sĩ rồi, làm nhà chơi mát mẻ ở mé dưới làng, gọi là am Bạch-vân, lại bắc hai dịp cầu gọi là cầu Nghênh-phong và cầu Tràng-xuân, thường thường ra chơi hóng mát. Lại làm một cái quán Trung-tân ở bến sông Tuyết-giang, dựng bia kí sự mình. Khi thì ngài bơi thuyền chơi ở bể Kim-hải và bể Úc-hải; khi thì đi với một vài nhà-sư chơi ở các núi An-tử, núi Ngọa-vân, và núi Đồ-sơn. Đi đến đâu làm thơ ngâm vịnh đến đấy, hoặc gặp chỗ nào có cây cối mát, chim kêu ríu rít, thì lấy làm khoái chí lắm, nhởn nhơ cả ngày.\nNgài tuy ở nhà, nhưng vua nhà Mạc vẫn coi ngài quí trọng, nhà nước có công việc gì to, thì sai sứ đến hỏi tận nhà, hoặc khi mời về Kinh mà hỏi. Ngài bàn định lắm điều ích lợi cho nhà nước, nhà Mạc phong ngài làm Lại-bộ thượng-thư, Thái-phó Trình-quốc-công, vì thế ta thường gọi là Trạng-Trình.\nNăm Ất-dậu, ngài phải bệnh, Mạc-mậu-Hiệp sai sứ đến thăm và hỏi việc hậu sự.\nNgài bảo rằng:\n- Ngày sau, nước có việc, ở xứ Cao-bình tuy nhỏ, nhưng cũng có thể hưởng phúc được vài đời nữa.\nĐến sau nhà Mạc mất nước, chạy lên Cao-bình, quả nhiên còn giữ được 4 đời, rồi mới tuyệt.\nNgày 28 tháng một năm Ất-dậu ngài mất, thọ 95 tuổi. Học-trò gọi ngài là Tuyết-giang phu-tử.\nNgài học tinh về thuật số, phàm các việc tai, tường, họa, phúc, cùng là ngày mưa, ngày nắng, việc gì cũng biết trước. Có một người học-trò tên là Bùi-Sinh, ngài bảo người ấy về sau tất phú quí. Đến khi Bùi-Sinh gần 70 tuổi vẫn còn nghèo hèn, cho là ngài đoán số mình sai. Ngài cười không nói gì. Một hôm ngài bảo Bùi-Sinh mượn lấy 10 chiếc thuyền đánh cá, cho bơi ra bến Hồng-đàm bể Vạn-ninh, dặn đến giờ ấy… hễ gặp cái gì thu lấy đem về, chắc được thưởng to. Bùi-Sinh tuân nhời, quả nhiên gặp một bà cụ già, áo mũ chỉnh tề, thuyền bạt phong đến đấy. Bùi-Sinh đem về phụng dưỡng coi như mẹ. Được vài hôm có quan Tổng-đốc Quảng-đông sai người sang nói với vua rằng: “\n*Thái phu-nhân chơi bể bạt phong, xem thiên văn thì thấy ở phương nam, xin nhà vua vì nghĩa làng giềng mà tìm giúp cho*.” Ngài sai Bùi-Sinh đem bà cụ ấy dâng lên, vì thế được phong tước là Thao quận-công.\nNăm Thuận-bình thứ 8 nhà Lê (1556), vua Trung-tôn mất không có con, bấy giờ Trịnh-Kiểm đang cầm quyền, có bụng hồ nghi, không biết nghĩ ra thế nào. Hỏi Phùng-khắc-Khoan, Khắc-Khoan cũng không biết thế nào cho phải, mới sai người đi lẻn ra Hải-dương để hỏi ngài, ngài chẳng nói câu gì, chỉ ngoảnh lại bảo đầy tớ rằng:\n- Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ.\nNói rồi, sai tiểu quét dọn đốt hương, để ngài chơi chùa và bảo tiểu rằng:\n- Giữ chùa thờ phật thì ăn oản.\nĐó là có ý khuyên Trịnh Kiểm tìm lấy dòng dõi nhà Lê mà lập lên, mà phải giữ đạo làm tôi ăn mày phật thì mới được hưởng phúc.\nSứ-giả về nói với Trịnh-Kiểm, Trịnh-Kiểm hiểu ý, mới đón vua Anh-tôn lập lên, quả nhiên dựng lại được cơ đồ nhà Lê mà họ Trịnh cũng đời đời được vinh-hiển.\nKhi ấy đức Dụ-tổ triều Nguyễn ta (Đức Nguyễn-Hoàng) đang có hiềm với Trịnh-Kiểm. Trịnh-Kiểm có ý muốn âm hại, đức Dụ-tổ lo sợ, không biết nghĩ mưu gì cho tránh được nạn, mới sai người đi hỏi ngài. Bấy giờ ngài đang chống gậy chơi trong vườn cảnh. Trong vườn có vài mươi ngọn núi non-bộ, lại chồng chất đá làm một rặng núi ngang. Trên núi cây cối rườm rà, có đàn kiến đang bò trên tảng đá, ngài nhìn xem đàn kiến, rồi tủm tỉm cười nói rằng:\n- Một dải núi Hoành-sơn (núi ngang) kia có thể yên thân được muôn đời.\nNgười kia thấy nói vậy, về nói với đức Dụ-tổ. Đức Dụ-tổ biết ý, mới xin vào trấn thủ trong Thuận Quảng (trong ấy có dải núi Hoành-sơn), quả nhiên mỗi ngày một thịnh, mở ra cơ nghiệp Nguyễn-triều.\nHọc-trò ngài rất nhiều, nhưng chỉ có Phùng-khắc-Khoan, Lương-hữu-Khánh, Nguyễn-Dữ, Trương-thời-Cử là làm nên to mà có danh vọng hơn cả. Phùng, Lương thâm thúy về nghề lý-học, cùng làm danh-thần lúc nhà Lê trung-hưng.\nKhi trước ông Phùng-khắc-Khoan thuê nhà đến học ngài. Lúc học giỏi rồi, ngài đang đêm đến chơi nhà chọ, gõ cửa mà bảo rằng:\n- Gà gáy rồi, sao không đứng dậy mà thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư?\nNhời ấy có ý giục ông Khắc-Khoan vào Thanh-hóa giúp nhà Lê. Ông Khắc-Khoan cũng biết ý thế, mới cùng với Nguyễn-Dữ vào giúp nhà Lê, làm đến công thần.\nTính ngài thuần nhã, không hay nói, mà đã nói câu nào thì là đích đáng. Ngài làm ra thơ từ rất nhiều, đến nay vẫn còn một tập thơ Bạch-vân và một quyển sấm ký truyền lại.\nKhi ngài mất rồi, người làng nhớ ân đức của ngài, lập miếu ở nơi nhà cũ cho ngài, bốn mùa cúng tế. Miếu ấy đến bây giờ vẫn còn.\nĐặng-đình-Tướng người làng Lương-xá, huyện Chương-đức.\nTục truyền đời tổ-mẫu nhà ông ấy nghèo khó, phải đi ăn xin. Trong làng có một cái đầm, bốn mùa không lúc nào cạn nước. Những người cấy gặt thường phải bơi thuyền thúng đi làm. Giữa đầm có một gò cao, chúng thường tụ ở đấy ăn cơm. Bà cụ kia cũng thường theo người ta vào đấy kiếm ăn. Một hôm giời rét lắm, bà già ấy không chịu được, nằm xuống ở đấy. Khi chúng trở về, không ai bảo. Đến lúc bà ấy đứng dậy thì không còn người nào. Giời hôm đấy rét lại thêm mưa phùn, bà kia chết ở đấy. Hôm sau chúng trở lại, thì thấy mối lấp đất lên lù lù một đống to, mới biết bà ấy chết mà được ngôi thiên táng.\nTừ khi ấy con cái làm ăn mỗi ngày một khá. Đến đời cháu là Đặng-đình-Tướng học hành thông thái rồi thi đỗ Tiến-sĩ năm Canh-tuất đời Cảnh-trị (đời vua Lê Huyền-tôn). Từ đấy ra làm quan, rồi phụng mệnh sang sứ Tàu, được thiên lên làm Lại-bộ Thị-lang. Lâu mãi làm đến Thái-phó, phong tước Quận-công. Sau lại làm đến Đại-tư-đồ.\nTính ngài nhân hậu phúc đức lắm, chỉ mong làm những việc cho dân được nhờ. Trên từ vua, các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng có lòng kính trọng. Đến lúc ngoài 70 tuổi thì ngài làm trí sĩ, về làng Lương-xá chơi bời sông núi, xem phong cảnh cho vui tuổi già. Nhưng cứ đến ngày sóc vọng thì lại vào chầu vua một lần.\nTrong lòng ngài lúc nào cũng thương đến dân. Khi ngài từ quan về rồi, treo hai cái rỏ tre ngoài cổng ngõ, phàm dân gian ai có điều gì oan uổng, cho bỏ giấy vào hai cái rỏ ấy. Mỗi khi ngài vào chầu Kinh-đô, thì tâu lên vua để gỡ hết oan cho người ta. Tuy vậy, ngài không thèm kể ơn với ai, cứ đạo công bằng mà cứu cho thôi, nếu ai đến tạ ơn thì ngài lấy làm ghét lắm, và không cho ai đến cửa. Vì thế ai cũng phục bụng ngài.\nNgài thọ 80 tuổi mới mất. Vua nhớ người nhân-đức, phong làm Thành-hoàng làng ấy, sai dân lập miếu thờ.\nTừ khi ấy nhà ngài thịnh vượng lắm, con cháu làm quan khắp triều-đình, mà thời nào cũng có người hiển-đạt, hơn 200 năm, không lúc nào hết người làm quan. Tục có câu rằng: “\n*Đánh giặc họ Đinh, làm quan họ Đặng*.”\n\nNguyễn-Hiền quê ở làng Hà-dương, huyện Thượng-nguyên (Nam-định). Đỗ thủ-khoa năm Bính-ngọ thời vua Thái-tôn nhà Trần, đến năm sau thi đình đỗ Trạng.\nNguyễn-Hiền thông minh từ thuở nhỏ. Khi 6,7 tuổi học nhà sư ở chùa, nhà sư mỗi buổi dạy 10 tờ giấy, Nguyễn-Hiền chỉ học qua là thuộc lòng.\nMột hôm, nhà sư tụng kinh vừa xong, vào phòng nằm nghỉ, mơ thấy phật giáng xuống bảo rằng: “\n*Nhà sư sao không biết bảo Trạng, cứ để cho lên chùa nhờn với Phật*.” Nhà sư tỉnh dậy soi đèn xem các tượng phật, thì thấy sau lưng một tượng có chữ đề: “ *Phạt 30 trượng*” và sau mình hai tượng hộ-pháp thì có chữ đề: “ *Phạt 60 trượng*.” Nhận nét chữ thì đúng chữ ông Nguyễn-Hiền. Nhà sư quở mắng Nguyễn-Hiền, bắt phải lấy nước tẩy đi.\nNguyễn-Hiền học các sách, qua mắt một lượt là nhớ ngay. Thơ từ phú sách, nói ra tức là văn chương. Năm 11 tuổi, đã nổi tiếng thần đồng, bấy giờ có người học-trò ở Kinh-bắc tên là Đặng-Tính, tự thị tài mình hơn cả đời. Nghe tiếng Hà-dương có thần-đồng, đến chơi tận nhà, thử xem tài học ra làm sao. Khi đến ra một bài phú:\n“\n*Phụng-hoàng sào vu A-các, Kì-lân du vu Uyển-hựu*.” [39]\nNguyễn-Hiền đọc ngay bốn câu rằng:\n*a) Qui phi Lạc-thủy,* [40] *b) Long bất Mạnh-hà.c) Ý bỉ Hữu-hùng chi quốc,d) Ấp vu Trác-lộc chi a.*\nĐặng-tính mới nghe được bốn câu, đã lắc đầu le lưỡi nói rằng:\n- Thiên tài xin nhường bác trẻ tuổi này!\nNăm đấy thi đỗ thủ-khoa. Năm sau vào thi đình, vua ra bài phú: “\n*Áp tử từ kê mẫu phi hồ*.” [41] Văn Nguyễn-Hiền hay nhất, vua cất lên đỗ Trạng-nguyên, bấy giờ mới 12 tuổi.\nTrạng vào bái mạng vua trong sân rồng, vua thấy còn bé loắt choắt, lấy làm lạ, hỏi rằng:\n- Trạng nguyên học ai ở nhà?\nTrạng thưa rằng:\n- Tâu bệ-hạ, tôi sinh ra đã biết ngay, chỉ còn chỗ nào tôi không biết, thì hỏi nhà sư một vài chữ mà thôi.\nVua thấy trạng ứng đối, chưa biết lễ-phép, ăn nói không được khiêm tốn, mới cho về học lễ-phép, ba năm rồi mới dùng làm quan.\nNguyễn-Hiền về nhà ở không được bao lâu, có sứ Tàu đem một bài thơ ngũ-ngôn sang thử nhân tài nước Nam.\nThơ rằng:\n*Lưỡng nhật bình đầu nhật,*兩日平頭日\nVua hỏi các quần-thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao. Phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn-Hiền mời vào triều để hỏi. Hai quan sứ đến làng Hà-dương, gặp một đứa trẻ trong nhà hàng, mặt mũi phương phi. Sứ-giả hỏi thì đứa trẻ ấy không thèm đáp lại. Mới đọc câu đối nôm rằng:\n“\n*Tự *(字) * là chữ, cất giằng đầu chữ tử *(子) * là con: Con ai con ấy?*”\nĐứa trẻ đối ứng khẩu ngay rằng:\n“\n*Vu *(于) * là chưng, bỏ ngang lưng chữ đinh *(丁) *là đứa: Đứa nào đứa này?*”\nSứ-giả biết đứa trẻ ấy tức là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà, thì thấy Trạng đang lúi húi ở dưới bếp, nhân lại đọc một câu rằng:\n“\n*Ngô văn quán-tử viễn bào trù; hà tu mị táo*.” [42]\nTrạng ứng khẩu đối rằng:\n“\n*Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại; khả tạm điều canh*.” [43]\nSứ-giả thấy ứng đối nhanh nhẩu và có ý cao, chịu là giỏi, mới bày kể ý vua xin mời vào kinh.\nTrạng nói rằng:\n- Thiên-tử trước bảo ta chưa biết lễ-phép, nhưng chẳng những là Trạng chưa biết lễ-phép, cả đến thiên-tử cũng chưa biết lễ phép.\nNói thế rồi nhất định không chịu đi. Sứ-giả về tâu lại với vua, vua phải sai đem xe ngựa và đồ lễ đến đón, bấy giờ Trạng mới đi.\nKhi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tàu ra hỏi, Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng:\n- Câu thơ thứ nhất nghĩa là chữ\n*nhật* (日) ngược xuôi bằng đầu nhau; thứ nhì là bốn chữ *san* (山) ngược xuôi cùng là chữ *san* cả; thứ ba hai chữ *vương* (王) tranh nhau ở trong một nước; thứ tư là bốn chữ *khẩu* (口) ngang dọc cùng thành chữ *khẩu *cả. Tóm lại chỉ là một chữ *điền* (田).\nGiải xong đưa cho sứ Tàu xem, sứ Tàu phải chịu. Vì thế vua cử Nguyễn-Hiền làm Kim-tử-vinh-lộc đại-phu. Sau lại làm đến Công-bộ thượng-thư, không được bao lâu thì ông ấy mất.\nVua thấy người đại tài như thế mà không được thọ, thương tiếc vô cùng. Huyện ông ấy nguyên tên là huyện Thượng-Hiền, vua mới kiêng tên ông ấy, đổi ra gọi là Thượng-Nguyên. Lại cấp cho năm mẫu ruộng tư-điền, bắt dân ấy phải lập miếu thờ.\nLương-Thế-Vinh hiệu là Thụy-hiên, người ở làng Cao-hương, huyện Thiên-bản, tỉnh Nam-định. Khi còn bé, đã có tiếng đồn là thần-đồng. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng-nguyên trong năm Quang-thuận đời vua Thánh-tôn nhà Lê.\nTục truyền Thế-Vinh đã thác sinh ở huyện Nam-xang. Khi lên 7,8 tuổi, cùng với trẻ con đi học. Bên cạnh đường có một con chó đá, mỗi khi Thế-Vinh đi qua, thì con chó đá vẫy đuôi mà mừng.\nVề nói truyện với cha, cha bảo rằng:\n- Nó đã biết vẫy đuôi, thì hẳn nó cũng biết nói, thử hỏi vì cớ gì mà mừng.\nHôm sau, Thế-Vinh đi qua, con chó ấy lại vẫy đuôi. Thế-Vinh hỏi, thì nó nói rằng: “\n*Ngày sau ông đỗ Trạng-nguyên cho nên tôi mừng thay ông*.”\nThế-Vinh về nhà lại nói với cha như thế. Cha tự bấy giờ chắc ngày sau con làm nên, sinh ra kiêu ngạo, thường hay tranh cạnh với người ta và đe rằng:\n- Mai sau con ông đỗ Trạng, ông sẽ hỏi tội cho chúng bay.\nThế-Vinh thấy cha như thế, can mãi mà cha không nghe, có ý không bằng lòng, buồn rầu mà bảo với mẹ rằng:\n- Mẹ có đức hiền hậu mà cha thì kém đức. Con không ở đây nữa,xin từ đi chỗ khác đây.\nMẹ ngạc nhiên thất sắc nói rằng:\n- Sao con nói gở ra thế? Công chăng nuôi con bấy lâu nay, mong con mai sau khá giả, để mà nương nhờ, con đã lấy gì giả được ơn cha nghĩa mẹ, mà dám nói càn như vậy?\nThế-Vinh khăng khăng một mực xin đi. Mẹ khuyên dỗ trăm chiều, nhưng cũng không sao giữ được, mới khóc mà bảo rằng:\n- Vậy thì con định đi đâu? Con bảo cho mẹ biết.\nThế-Vinh dặn mẹ cứ ngày ấy tháng ấy đến làng Cao-hương, huyện Thiên-bản thì biết, và dặn giữ lại các sách của mình học. Nói xong thì mất.\nBấy giờ vận nước Nam đang thịnh, người tàu xem thiên-văn, thấy văn-tinh giáng xuống nước Nam, mới sang nước ta, tìm phương trấn áp. Khi Thế-Vinh còn ở Nam-xang, đi chơi với một lũ trẻ con. Người Tàu trông sao, biết văn-tinh ở trong đám trẻ con ấy, nhưng chưa biết đích đứa nào. Mới lấy một quả bưởi bỏ vào hố sâu, đố đám trẻ ấy lấy được quả bưởi ra thì thưởng tiền. Thế-Vinh không ra mặt lấy, nhưng xui một đứa khác múc nước đổ vào hố cho đầy, rồi quả bưởi nổi lên thì lấy. Người khách gạn hỏi đám trẻ, biết là mưu mô tự ông Thế-Vinh, muốn tìm phương kế để trừ ông ấy đi.\nNgười khách chưa kịp dùng mẹo thì ông ấy mất. Trông xem thiên-văn, biết thần ấy chạy sang làng Cao-hương, mới đuổi theo đến tận làng ấy, thì thấy thần ông ấy đã nhập vào trong hòn đá to. Người khách hỏi người chủ có hòn đá, xin mua. Người chủ tưởng nó hỏi đùa mình, mới nói bỡn rằng: “\n*Hòn đá này phải 100 quan tiền mới bán*.” Người khách giả đến 70 quan, người chủ không biết thế nào, tưởng là nó đến cợt mình, nhất định không bán. Người khách thấy không bán, giả tảng đi nơi khác. Xảy có người liền bà ở ngoài đồng đi về, thấy chúng xúm xít lại nói truyện người khách hỏi mua hòn đá. Người liền bà mới giẫm chân vào hòn đá mà nói rằng:\n- Hòn đá này quí hóa gì mà nó mua đắt đến thế?\nKhông ngờ thần ông ấy ở trong hòn đá, từ bấy giờ đầu thai ngay vào người liền bà ấy. Hôm sau người khách trở lại, toan cố vật nài để mua hòn đá cho được. Người có đá cũng định bán vậy cho nó. Nhưng khi đến nơi thì người khách trông hòn đá, biết thần đã xuất mất rồi, mới nói rằng:\n- Bây giờ một đồng cũng chẳng mua nữa.\nNgười khách biết không thể nào trấn áp được, mới trở về Tàu.\nKhi Thế-Vinh mới sinh ra, ngày đêm chỉ một vị khóc, cha mẹ, hàng-xóm thay nhau ôm ẵm cũng vậy. Người mẹ trước nhớ nhời con dặn, hỏi thăm đến tận làng ấy, nghe có một nhà mới đẻ con giai, mà chỉ khóc cả ngày lẫn đêm. Hỏi đến tận nhà vào chơi, xin chủ nhà ẵm đứa bé một tí, từ đấy đứa bé mới thôi khóc. Bà kia mới kể truyện đầu đuôi con mình với nhà chủ, từ đó thường thường đi lại coi như con mình.\nĐến khi Thế-Vinh mới nhớn lên, bảo với bà mẹ trước rằng:\n- Những sách của tôi thủa trước, cùng là tôi có món tiền chôn ở dưới gốc cây chuối thì đem đến đây cho tôi.\nBà kia về đào dưới gốc cây chuối, thì quả nhiên thấy có món tiền, mới đem cả sách và món tiền sang đưa cho Thế-Vinh. Cha mẹ đẻ mới lấy làm tin, nuôi bà kia ở đấy một thể.\nThế-Vinh học đến đâu, như người học ôn lại. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng-nguyên.\nVua Thánh-tôn thấy Thế-Vinh là người hay chữ, dùng làm chức Hàn-lâm thị-thư chưởng-viện. Bao nhiêu tờ bồi giao thiệp với nhà Minh tự tay Thế-Vinh soạn ra cả. Người Tàu phải chịu nước Nam có tay văn-chương giỏi.\nBộ đại-thành toán-pháp, là của Thế-Vinh làm ra.\nThế-Vinh làm quan không được bao lâu thì về trí-sĩ. Tính hay khôi hài, lúc về quan rồi, thường chỉ mặc cái áo vải, chơi bời với người trong làng.\nMột hôm, ngồi chơi với một vài người ở trong làng, xảy nghe có quan huyện đi qua. Quan huyện xưa nay hách dịch, đi đến đâu rầm rầm đến đấy. Mấy người ngồi hàng đứng dậy tránh cả, chỉ còn một mình Thế-Vinh ngồi chơi. Khi quan huyện đến, sai lính vào hàng bắt phu khiêng võng. Lính không biết ông ấy là ai, bắt ra khiêng, Thế-Vinh cũng khiêng.\nĐi được một lát, ông ấy gặp người làng nhắn bảo rằng:\n- Nhờ bác bảo hộ thằng học-trò tôi là Thám-hoa làng Vân-cát tên nó là Trần-công-Bích, bảo nó ra khiêng đỡ võng quan huyện cho tôi, kẻo tôi mệt quá, không đi được.\nÔng quan huyện nằm trong võng, nghe câu ấy, chẳng khác gì sét đánh ngang tai, giật mình ngã lăn xuống đất, rồi đứng dậy lạy thì thà thì thụp, kêu là không biết, xin thứ tội cho.\nThế-Vinh cười bảo rằng:\n- Ông là quan huyện, bắt tôi khiêng võng thế là phải, có việc gì mà tạ!\nÔng huyện kia vật đầu vật tai kêu van mãi, Thế-Vinh mới bảo rằng:\n- Có phải thế thì từ rầy chớ nên bắt phu khiêng võng nữa bác nhé!\nÔng huyện kia vâng vâng dạ dạ, xin khiêng giả võng rước ngài về nhà. Thế-Vinh không khiến, người trong làng đổ ra đón Thế-Vinh về.\nVề sau Thế-Vinh mất, được phong làm thượng-đẳng phúc-thần. Con là Hiến-Công, có công với nước, cũng được phong làm phúc-thần. Ngôi mộ ông Thế-Vinh đến giờ vẫn còn ở làng Cao-Dương.\nKhoa Thế-Vinh đỗ, Nguyễn-đức-Trinh thi đỗ Bảng-nhãn, Quách-đình-Bảo thì đỗ Thám-hoa, ba người cùng có tiếng hay chữ từ thuở nhỏ. Vua có thêu ba lá cờ ban cho mỗi người một lá, để cho vinh qui.\nTrong cờ thêu bốn câu rằng:\n*Trạng-nguyên Lương-thế-Vinh,Bảng-nhãn Nguyễn-đức-Trinh,Thám-hoa Quách-đình-Bảo,Thiên-hạ cộng chi danh.*\nTục truyền khi Thế-Vinh còn nhỏ, nghe tiếng Quách-đình-Bảo hay chữ, hỏi thăm đến chơi. Đến nhà thấy Đình-Bảo đang học ở trong buồng. Thế-Vinh trở ra về ngay, nói rằng: “\n*Anh ấy không sợ*”, nghĩa là thi đến nơi rồi mà còn phải học thì hèn lắm, không đủ sợ chi. Về sau, Đình-Bảo cũng hỏi thăm đến chơi nhà Thế-Vinh thì thấy ông ấy đi chơi thả diều vắng. Đình-Bảo than rằng: “ *Thi đến nơi rồi mà không cần gì phải xem sách, đó mới thực là thiên tài!*” Nhân thế biết mình không bằng ông ta, xấu hổ trở về.\nCông-Duệ người làng Trình-xá, huyện Sơn-vi, tỉnh Sơn-tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi cầy vắng nhà, Công-Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bướm làm hai tai, cắm con đỉa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông cũng cho là tinh quái.\nMột khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:\n- Bố mày đâu?\nĐáp lại:\n- Bố tôi đi giết người.\n- Mẹ mày đâu?\n- Mẹ tôi đi cứu người.\nNgười đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi mới nói rằng:\n- Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.\nNgười kia mới dỗ bảo rằng:\n- Mày cứ nói đi cho thật, tao sẽ tha nợ cho nhà mày, không đòi nữa.\nCông-Duệ sẵn cầm một cục đất dẻo, bảo người kia in tay vào đây để làm tin.\nNgười kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao, Công-Duệ mới nói rằng:\n- Cha tôi đang nhổ mạ mà mẹ tôi thì đang cấy.\nNgười kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công-Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:\n- Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?\nNgười kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công-Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.\nCông-Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng-đức thứ 23 đời vua Thánh-tôn nhà Lê. Công-Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng-nguyên khoa ấy.\nLúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô-ngự-sử, các quan ai cũng kính sợ.\nĐến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình-thần nhiều người a dua về Mạc-đăng-Dung, ai không nghe phải giết. Đăng-Dung sai người dụ Công-Duệ theo về làm quan với mình, Công-Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch-thần, nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự-sử đâm đầu xuống cửa bể Thần-phù mà chết.\nCách 60 năm nữa, nhà Lê trung-hưng, khôi phục được kinh thành Thăng-long, sai đúc ấn Ngự-sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn. Mới sai người lặn xuống cửa bể Thần-phù, tìm quả ấn trước. Người lặn xuống đến nơi thì thấy Công-Duệ vẫn còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp hằng tròn ở dưới đáy bể như thuở sinh thời.\nNgười ấy sợ hãi, lên tâu truyện với vua Trang-tôn. Vua lấy làm lạ, chắc là bụng tinh thành của Công-Duệ kết lại, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công-Duệ lên, dùng lễ khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình-xá an táng, truy phong làm Thượng-đẳng phúc-thần.\nGiáp-Hải thi đỗ Trạng-nguyên khoa Mậu-tuất năm Đại-chính nhà Mạc (1538) Mẹ Giáp-Hải là người làng Công-luận, huyện Văn-giang. Bà cụ ấy khi còn trẻ nghèo lắm, chỉ có vài gian nhà gianh ở cạnh đường bán hàng nước. Bấy giờ có một người Tàu đi qua đường vào hàng nghỉ, lúc đi bỏ quên một túi bạc. Cách nửa tháng nữa mới hốt hoảng lại hỏi, thì bà ấy đem cả túi ra trả, vẫn nguyên như lúc trước.\nNgười khách xin biếu lại một nửa, bà ấy không lấy, nói rằng:\n- Tôi chỉ vì không ưa của bất nghĩa, cho nên mới nghèo thế này, sao bây giờ tôi có chịu lấy của ông.\nNgười khách cảm tạ bụng ấy, mới hỏi rằng:\n- Mồ mả đấng tiên-nhân nhà bà ở đâu, để tôi tìm giúp cho bà một ngôi đất hay.\nBà kia nói:\n- Tôi là đàn bà, chỉ có trọi một mình, không có anh em nào cả. Nay đã ngoài 40 tuổi, dù được đất hay, thì bao giờ cho phát đạt? Mà phát đạt thì có làm gì nữa?\nNgười khách nói:\n- Nếu được chỗ đất hay, thì dẫu đàn bà cũng phát phúc.\nBà ấy mới đưa người khách đến chỗ ngôi mộ cha bà ấy. Người khách lập tức tìm đất cất cho, rồi dặn rằng:\n- Về sau thấy ai có nạn đến đây, phải sẵn lòng mà cứu người ta, thì sẽ có cát báo.\nBà ấy ở đấy được nửa năm, xảy có người làng Bát-tràng, nhà nghèo đi làm mướn kiếm ăn; khi ấy giời đã tối, gặp phải mưa gió, quần áo ướt lướt thướt, rét run cầm cập, qua hàng bà ấy xin vào trọ một tối. Bà ấy hỏi đầu đuôi cặn kẽ, cho vào ngủ, rồi đốt lửa cho sưởi và dọn cơm cho ăn, đêm hôm ấy rét lắm, mà nhà thì có độc một chiếc chiếu. Người kia thì rét không có chiếu không chịu được, mà bà ấy thì cũng không thể nào mà nhường được chiếu cho. Mà để cho khổ thì chẳng đành lòng, mới cho nằm chung một giường mà ngủ.\nChàng kia đã được no ấm, lại nằm chung với liền bà, lạ gì lửa gần rơm, té ra thành tư thông với nhau. Không ngờ chàng kia bị chứng hàn thấp chỉ một lúc thì tắt hơi. Bà ấy kinh hoảng vô cùng, sợ người ta phát giác ra, đang đêm phải lôi ra đám tha ma vùi xuống; mà bà ta cũng có mang từ đấy.\nĐược vài tháng nữa, người Tàu lại đến, hỏi rằng:\n- Tự khi táng mả đến giờ, đã cứu được việc gì cho người nào chưa?\nBà ấy không giấu giếm gì, kể cả sự trước cho người khách nghe.\nNgười khách hỏi:\n- Chôn chỗ nào, thử chỉ cho tôi xem.\nBà ấy đưa ra chỗ mả chàng kia. Người khách ngắm nghía một hồi rồi nói rằng:\n- Chỗ này là huyệt thiên táng đấy, nếu có thai thì tất sinh ra Trạng-nguyên tể-tướng.\nBà ấy đầy năm, quả nhiên sinh được con giai, cốt cách lạ thường. Khi lên 4 tuổi, ra chơi ngoài bờ sông, xảy có người lái buôn ở làng Sính-kế, huyện Phượng-nhỡn, bơi thuyền qua bến, trông thấy thằng bé nhẵn nhụi, ăn cắp đem xuống thuyền đi mất.\nBà kia tìm con đâu cũng không thấy, tưởng là chết đuối dưới sông rồi, sầu thảm không biết ngần nào.\nNgười lái từ khi đem đứa bé về, yêu mến lắm, khi mới nhớn lên tìm thầy cho đi học. Giáp-Hải học rất thông minh, nổi tiếng thần-đồng. Mỗi ngày học hành một tấn tới, văn chương hay nhất trong đời. Đến năm 23 tuổi, thi đỗ Trạng-nguyên.\nHôm vinh-qui về làng, người trong làng phải phục dịch khó nhọc, có người biết nguyên ủy ông ấy, bảo riêng với nhau rằng:\n- Không biết người ở xứ nào, đến đây mà làm khổ dân ta thế này!\nGiáp-Hải nghe lỏm được câu ấy, không biết vì cớ làm sao. Một hôm, xét xem các mồ mả tổ-tiên, thì không có ngôi nào đáng phát Trạng-nguyên, trong bụng hồ nghi lắm. Nhân mới hỏi những người quen thuộc, có người biết truyện nói với ông ấy. Giáp-Hải mới đến tận làng Công-luận dò xem, thì thấy có bà cụ già ngoài 70 tuổi, bán hàng bên cạnh đường, trông ra tình cảnh khốn đốn lắm.\nGiáp-Hải sai người vào hỏi rằng:\n- Bà cụ kia có chồng con gì không, sao mà khốn khó đến thế?\nBà cụ nói:\n- Tôi là người ở làng này, khi xưa có đẻ được một mụn con giai, đã 4,5 tuổi, chơi với trẻ con ở bờ sông, rồi không biết nó lạc đi đâu mất. Bấy giờ chỉ có một thân, không biết nương cậy vào đâu, tình cảnh sầu thảm, nói ra không xiết.\nGiáp-Hải đồ là mẹ mình, mới sai người bảo rằng:\n- Bà cụ già cả mà không có ai trông nom, thì theo về với tôi để tôi nuôi cho, có bằng lòng không?\nBà kia nói:\n- Nếu quan lớn có bụng thương tôi như thế, thì phúc cho tôi lắm!\nGiáp-Hải mới đem về nuôi nấng, nhưng cũng chưa dám chắc hẳn là mẹ. Chân Giáp-Hải vốn có nốt ruồi đỏ, thường khi ngồi nhàn để lộ ra. Bà cụ ấy một hôm trông thấy, cứ nhìn tròng trọc không chớp mắt.\nNgười nhà quở rằng:\n- Quí thể quan lớn, bà cụ kia sao dám nhìn mãi thế?\nBà kia nói:\n- Tôi khi xưa sinh được một đứa con giai, cũng có cái nốt ruồi như thế, nay tôi trông thấy, tôi lại nhớ đến con tôi, cho nên tôi nhìn ngắm một chút, xin quan lớn thứ lỗi cho tôi.\nGiáp-Hải lập tức gọi bà ấy hỏi cặn kẽ từng tí, bà cụ ấy kể rạch ròi thủy chung, Giáp-Hải buồn rầu mà than rằng:\n- Ta bậy bạ uổng mất một đời, có mẹ mà không biết, nay nhờ giời mà được gặp đây, mới biết đến mẹ.\nTự bấy giờ mẹ con nhìn nhận nhau, hết đạo phụng thờ sớm tối.\nVề sau, Giáp-Hải làm Đề-điệu trường thi-hương ở tỉnh Sơn-nam. Hôm vào trường, Giáp-Hải ra đầu bài hiểm hóc, học-trò nhao nhao, toan sự phá trường mà ra, Giáp-Hải phải điều đình ra đầu bài khác, học-trò mới yên. Sai người dò xét, bắt được người thủ-xướng phá trường, sai điệu ra ngoài cửa trường kết án trảm-quyết. Người học-trò ấy kêu nhà độc đinh, xin nộp nghìn quan tiền chuộc tội, nhưng Giáp-Hải không nghe, nhất định chính pháp.\nĐược ít lâu, con Giáp-Hải là Giáp-Phong, cũng đã đỗ tiến-sĩ, làm quan trong tòa Hàn-lâm, đã ngoại 30 tuổi, bỗng một hôm vô bệnh mà mất. Rồi bốn con giai, hai con gái cũng mất luôn cả một giạo. Giáp-Hải thương xót vô cùng, mời thầy phù-thủy đánh đồng thiếp.\nThầy phù-thủy bảo Giáp-Hải ngồi tĩnh nhắm mắt lại, rồi thư phù niệm chú một lúc, bỗng nhiên Giáp-Hải ngã gục xuống. Trong khi ấy thấy có một người sứ-giả, đưa đến một nơi cung phủ, trong đó có ba bộ ngai ngồi, bên cạnh có một tấm phản, và có một cái gông sơn son đỏ để đấy.\nGiáp-Hải hỏi những người canh cửa rằng dinh tòa nào, thì họ nói rằng:\n- Đây là tòa Diêm-vương hỏi kiện đây, cái gông sơn đỏ để chờ quan Trạng-nguyên ở làng Sính-kế đấy.\nGiáp-Hải nghe nói lập tức ra ngay. Sứ-giả lại đưa đến một chỗ đền đài mát mẻ, phong cảnh lạ lùng. Giáp-Hải trông thấy con là Giáp-Phong đang ngồi đánh cờ với một ông quan khác. Phong trông thấy cũng ngoảnh mặt nhìn ra, nhưng không nói một câu gì.\nÔng quan kia hỏi rằng:\n- Ông cũng quen người ấy đấy ư, sao mà nhìn mãi người ta thế?\nPhong nói rằng:\n- Tôi trước kia ở trên trần, có trọ nhà ông ta hơn 30 năm, vì ông ta giết oan mất một người, cho nên tôi không ở nữa; nay thấy ông ta đến đây, chẳng lẽ không nhìn một chút.\nÔng ấy thấy nói vậy, không hỏi gì nữa đi ra. Sứ-giả đưa về thì tỉnh. Biết là cái nợ oan-gia, mà lẽ báo ứng của nhà Phật cũng có. Vì thế sai gọi nhà người học-trò bị giết khi trước, cho tiền về làm chay cho anh ta. Từ bấy giờ, nhà ông ấy cũng yên ổn không việc gì.\nVề sau, làm đến Lại-bộ Thượng-thư, Thái-bảo Sách quốc-công, về nhà trí sĩ.\nGiáp-Hải nhận tổ-mộ ở làng Bát-tràng, cho nên văn-chỉ huyện Gia-lâm phải thờ ông ấy. Đến sau có ông Tiến-sĩ Nguyễn-mậu-Thịnh, cho Giáp-Hải là người làng Sính-kế, và lại làm quan nhà Mạc, muốn tước tên ông ấy ở trong sổ tiên-hiền huyện Gia-lâm. Đêm nằm mơ thấy Giáp-Hải đòi lại mắng rằng: “\n*Tao tội gì mà dám tước tên tao, mày là bọn hậu sinh, sao dám khinh nhờn tiền bối, sẽ có báo ứng cho mày xem*.” Ông kia vì thế sợ hãi, không dám xóa tên đi nữa. Nay huyện Gia-lâm vẫn còn thờ, mà làng Bát-tràng cũng phải cúng tế\nHuyện Gia-phúc (bây giờ là huyện Gia-lộc), tỉnh Hải-dương, một người tên là Phạm-Trấn ở làng Lâm-kiền; một người tên là Đỗ-Uông ở làng Đoàn-lâm, hai làng giáp giới với nhau.\nLàng Đoàn-lâm có một con yêu-tinh, thường thường biến hiện trăm vẻ, trêu ghẹo người ta, làng ấy tìm phương kế trừ mãi không được.\nÔng Đỗ-Uông khi còn nhỏ, một đêm ngồi học trong nhà, con yêu-tinh thò tay vào trong cửa sổ trước chỗ bàn học để trêu ghẹo Đỗ-Uông. Đỗ-Uông nói truyện với thầy phù-thủy, thầy phù-thủy xui lấy chỉ ngũ-sắc mà buộc lấy tay nó. Đêm hôm sau, con yêu-tinh quen thói lại đến. Đỗ-Uông vội vàng cầm chỉ ngũ-sắc trói lại, buộc vào cửa sổ. Con yêu-tinh quả nhiên không biến được nữa, mới kêu van, Đỗ-Uông nhất định không tha. Mãi đến gần sáng con yêu-tinh lại kêu rằng:\n- Ông ngày sau đại quí, tôi muốn bỡn ông đấy thôi, nỡ nào ông lại hại tôi?\nĐỗ-Uông hỏi:\n- Như tài sức tao, thì có đỗ nổi được Trạng-nguyên không?\nCon yêu nói:\n- Trạng-nguyên đã có một ông họ Phạm, ông chỉ đỗ được Bảng-nhãn mà thôi.\nLại hỏi:\n- Mày có của gì mà thiêng được, hễ cho tao xem thì tao sẽ tha cho mày.\nMột lát, thấy con yêu nôn ọe, nhổ ra một hòn ngọc, cầm ở trong tay, ánh sáng lòe vào trong ngôi nhà, rồi lại nói rằng:\n- Tôi chỉ nhờ có của này mới thiêng, nay xin dâng ông để giúp thêm cho việc học hành.\nĐỗ-Uông cầm lấy hòn ngọc, nuốt vào bụng, rồi mới cởi trói tha cho nó đi. Từ bấy giờ con yêu mất thiêng, không quấy nhiễu gì nữa. Mà ông Đỗ-Uông từ khi nuốt hòn ngọc ấy, văn-chương mỗi ngày một hay, nổi tiếng trong các trường, văn ông Phạm-Trấn vẫn không kịp.\nĐến khoa thi hội thời Quang-bảo nhà Mạc, hai ông cùng trạc 34 tuổi, và cùng đỗ hội. Đến hôm thi đình, Đỗ-Uông trông thấy đầu bài, toàn chỗ nhớ cả, chắc là nắm Trạng-nguyên trong tay. Bấy giờ Phạm-Trấn ngồi trong lều làm văn, phảng phất như có hai người giúp đỡ. Một người là Đông -phương-Sóc, một người là Hàn-Kỳ. Hai người đứng cạnh đọc lên cho Phạm-Trấn viết. Rồi lại thấy Đông-phương-Sóc bảo với Hàn-Kỳ rằng: “\n*Phải có một người sang làm cho Đỗ-Uông đau bụng, để giảm bớt sức văn của hắn đi mới được*.” Một lát sau nghe tiếng Đỗ-Uông ngồi lều bên kia, rên lên khừ khừ, không sao viết được. Đến lúc Phạm-Trấn viết hơn một đoạn, thì Đỗ-Uông mới bớt đau bụng, làm được văn, cho nên nhớ nhiều mà sức văn hơi kém.\nKhi xướng hồi-danh, quả nhiên Phạm-Trấn đỗ Trạng-nguyên, mà Đỗ-Uông thì đỗ Bảng-nhãn, Phạm-Trấn mừng lắm nói rằng:\n- Phen này ta mới đè nổi được Đỗ-Uông!\nĐỗ-Uông nghe vậy tức lắm. Đến lúc vinh-qui, Trạng, Bảng cùng về một đường. Bảng nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ song cương ngựa đi ngang hang nhau. Đi mãi đến chợ Bồng-khê làng Hoạch-trạch, người làng ấy vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay cùng vinh-qui về qua cầu làng, mới ra xin hai ông cho một bài thơ đề vào cầu.\nHai ông bảo nhau rằng:\n- Cầu ngói này hơn mười gian, hạn đi qua bảy gian, thì người vịnh xong một bài thơ, hễ ai làm xong trước thì đi trước, không được tranh nhau.\nPhạm-Trấn y ước, ngồi trên xe ngựa vừa đi vừa vịnh, đi khỏi bảy gian, thì vừa xong tám câu thơ. Ai cũng chịu là tài, chỉ Đỗ-Uông không chịu, nói rằng:\n- Bài ấy chẳng qua làm sẵn tự bao giờ, không phải mới làm, tài gì mà khen.\nNói thế rồi lại cứ đi ngang hàng. Đi đến làng Minh-luân, lại có người mới làm nhà xong, đón đường xin một bài thơ để mừng nhà mới.\nPhạm-Trấn ứng khẩu đọc một bài rằng:\n*Năm năm thêm phú quí,Ngày ngày hưởng vinh hoaXưa có câu như thế,Nay mừng mới làm nhà.*\nĐỗ-Uông hơi chịu tài nhanh hơn mình. Khi đến cầu làng Đoàn-lâm, tục gọi là cầu Cốc. Trong cầu có một người con gái bán hàng, tên là cô Loan. Hai ông mới thách nhau làm bài thơ nôm, đầu bài ra: “\n*Cô Loan bán hàng cầu Cốc*.” Hạn phải mỗi câu dung hai tiếng thuộc về giống cầm, qua cầu phải xong bài thơ, hễ ai xong thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.\nÔng Phạm-Trấn ngồi trên ngựa lại ngâm xong trước.\nThơ rằng:\n*Quai vạc đôi bên cánh phụng phong,Giở giang bán trác tựa đồ công.Xanh le mở khép nem hồng mới,Bạc ác phô phang rượu vịt nồng.Vân vân* …\nĐỗ-Uông bấy giờ mới chịu nói rằng:\n- Thò đọc ra đã thành thơ, nếu không có quỉ ngâm thần trợ, thì sao được thế này?\nTừ đấy mới nhường Trạng đi trước. Một hôm, Đỗ-Uông đi lẻn xem ngôi mả tổ nhà ông Phạm-Trấn, thấy có hai cái gò đất nhỏ ở hai bên ngôi mộ, tục gọi là gò Thần-đồng. Đỗ-Uông trỏ vào nói rằng:\n- Mấy phen thằng ấy nó đè ta là bởi có hai đống đất này đây!\nMới lấy chân đạp vào hai gò đất ấy. Phạm-Trấn từ khi ấy phải bệnh điếc tai, chưa thuốc mãi không khỏi. Có người mách với Phạm-Trấn rằng: Đỗ-Uông đạp vào gò Thần-đồng. Phạm-Trấn kêu với vua, vua bắt Đỗ-Uông phải tạ mả tổ nhà ông Phạm-Trấn bấy giờ mới khỏi.\nLê-như-Hổ người làng Tiên-châu, huyện Tiên-lữ (bây giờ thuộc về tỉnh Hưng-yên). Như-Hổ to lớn đẫy đà, cao 5 thước 5 tấc, lưng rộng 1 thước rưỡi, nhà nghèo mà hay học; ăn thì cực khỏe, mỗi bữa ăn một nồi bảy cơm mà chưa no. Học được nửa năm, vì nhà nghèo không đủ ăn, mới ở gửi rể một nhà giàu ở làng Thiên-phiến. Nhà vợ mỗi bữa cho ăn một nồi năm cơm, thì Như-Hổ thường lơ lửng nhác học.\nBố vợ hỏi bố đẻ Như-Hổ rằng:\n- Trước tôi nghe thấy nói con ông chăm học lắm, sao từ khi hắn đến ở nhà tôi, thì lười biếng không chịu học, là cớ làm sao?\nÔng này hỏi:\n- Từ khi cháu ở nhà ông, ông cho ăn uống như thế nào?\nÔng kia nói:\n- Mỗi bữa nồi năm cơm rồi đấy!\n- Nhà tôi nghèo như thế, mỗi bữa còn phải cho nó ăn nồi bảy cơm. Ông cho nó ăn ít làm vậy, trách nào mà nó chẳng biếng học.\nÔng kia nghe nhời, mới cho ăn hơn khi trước, từ bấy giờ Như-Hổ học thêm được một vài tiếng lại thôi.\nMẹ vợ bảo với chồng rằng:\n- Ông khéo kén được rể quí hóa nhỉ! Chỉ được bộ ăn khỏe thì không ai bằng. Dù có gượng mà học nữa, cũng không làm trò gì được tuồng hay ăn ấy.\nBố vợ biết điều, bảo rằng:\n- Nó ăn hơn người, sức nó tất hơn người, can gì mà lo?\nMẹ vợ hỏi:\n- Có phải sức nó hơn người, tôi có vài mẫu ruộng bỏ cỏ rậm kia kìa, ông thử bảo nó dọn cỏ đi cho tôi, xem nó có làm được không.\nNhư-Hổ nghe thấy nói như vậy, sang sớm mai, lập tức vác dao phát bờ đem ra ruộng. Đến chỗ gốc cây đa to, thấy chỗ ấy mát mẻ, mới nằm ngủ ở dưới gốc cây.\nMẹ vợ thấy rể vác dao ra đồng, cũng đi chợ mua đồ ăn để về làm cơm cho rể ăn. Khi về qua ruộng, thấy rể nằm ngủ khì ở dưới gốc cây, bà ấy điên tiết, chạy tất tả về bảo với chồng rằng:\n- Ông còn bảo thổi cơm nhiều cho nó ăn nữa thôi? Gớm mặt nó! Nó nói ra đồng dọn cỏ, thế mà từ sang sớm đến giờ, vẫn còn nằm chương thây chương xác ra ngoài ấy, rể ông quí thật!\nHai ông bà mới dắt nhau ra đồng xem. Không ngờ từ lúc bà kia đi về, thì Như-Hổ lập tức đứng dậy phát cỏ. Chỉ một lúc, dọn sạch quang cả vài mẫu ruộng. Cá dưới ruộng chạy không kịp, chết nổi lều bều cả lên mặt nước. Khi hai ông bà đến nơi, thì thấy ruộng đã sạch rồi, bấy giờ mới biết tài sức của Như-Hổ.\nKhi lúa chín, mẹ vợ thổi sẵn nồi 20 cơm, sai Như-Hổ ra gọi thợ gặt, Như-Hổ ra ngoài một lát, trở về nói dối rằng:\n- Tôi đã gọi nhưng không ai chịu làm, vậy để tôi ăn xong sẽ gặt giúp cho mẹ.\nNói rồi dọn cơm ra ăn, một mình đánh hết nồi 20 cơm.\nMẹ vợ lấy làm quái lạ, nói rằng:\n- Cối xay nào mà chứa được như thế, có vỡ bụng ra mất không?\nNhư-Hổ nói:\n- Mẹ đừng ngại, việc gặt hôm nay, tôi xin nhận làm một mình.\nMới lấy một cây tre to làm đòn càn, và đem sẵn liềm hái thừng trạc ra đồng. Vừa được nửa buổi thì gặt xong hai mẫu ruộng lúa, bó làm bốn gánh quảy về nhà. Mẹ vợ từ đấy mới có bụng yêu, mỗi bữa cho ăn thật no để mà học.\nLàng bên cạnh có hội đánh vật, năm nào Như-Hổ cũng đến phá giải. Các đô vật ai cũng chịu, không ai dám ganh sức với Như-Hổ, vì thế đặt tên là Như-Hổ.\nĐến năm gần 30 tuổi, văn chương hay lẫy lừng có tiếng ở đời, rồi thi đỗ Tiến-sĩ trong thời Quang-hòa nhà Mạc. Bấy giờ có người đỗ đồng khoa với Như-Hổ tên là Nguyễn-Thanh, ở huyện Hoằng-hóa, tỉnh Thanh, có khi nói chuyện đến gia-tư nhà mình, Như-Hổ nói bỡn rằng:\n- Gia-tư nhà bác, chỉ đủ cho tôi ăn một tháng là cùng.\nNguyễn-Thanh nói:\n- Ông khinh tôi quá làm gì thế, tôi tuy chẳng có gì nhưng cũng đủ cung phụng ông được ba tháng.\n- Thôi đừng nói ba tháng, ông thử cho tôi ăn một bữa xem làm sao.\nÔng kia vâng nhời, hẹn ngày mời Như-Hổ vào chơi. Đến hôm hẹn, Như-Hổ vào nhà Nguyễn-Thanh, không ngờ hôm ấy lại đi vắng.\nNhư-Hổ bảo với người vợ Nguyễn-Thanh rằng:\n- Tôi bạn với quan Nghè đây, nhân có việc quan đi qua đây, có hơn 30 đứa đầy tớ, nhờ phu-nhân một bữa cơm.\nPhu-nhân lập tức sai người nhà làm thịt con lợn, dọn 5,6 mâm cơm mang ra.\nNhư-Hổ bảo người đầy tớ rằng:\n- Mày ra gọi chúng nó vào đây.\nLâu mãi không thấy một người nào, chỉ trọi một mình ông Như-Hổ, ngồi đánh hết cả sáu mâm cơm. Ăn xong, gửi nhời tạ ơn rồi đi.\nChiều tối, Nguyễn-Thanh trở về, vợ nói rằng:\n- Hôm nay có một truyện nực cười quá chừng! Có một người nói là quen nhau với ông, nhân việc quan đem nhiều đầy-tớ đi qua, nhờ một bữa cơm, tôi tưởng là thật, làm 5,6 mâm cỗ. Té ra chỉ một mình người ấy ngồi ăn, tôi ở trong buồng trông ra, cứ mỗi một bát và một miếng, ăn như hùm đơm đó, chỉ một lát hết ba nồi cơm và sáu mâm cỗ, không biết là người hay là quỉ đói.\nNguyễn-Thanh phàn nàn nói rằng:\n- Đấy là người anh em với tôi, trước có hẹn đến chơi, nhỡ ra quên mất, chắc là ông ta lại trách tôi sai hẹn.\nBữa khác, Nguyễn-Thanh nhân việc, đi qua làng Tiên-châu, vào chơi nhà ông Như-Hổ. Như-Hổ sai người nhà làm thịt hai con lợn béo và thổi bốn mâm sôi, dọn ra hai bàn, mỗi bàn một con lợn, hai mâm sôi. Một bàn thết Nguyễn-Thanh, còn mình ngồi riêng một bàn. Nguyễn-Thanh ăn hết một góc mâm và một phần chia tư con lợn. Như-Hổ thì ăn hết sạch cả bàn mình, lại ăn thêm sang một góc xôi thịt ở bàn ông kia, chỉ còn một nửa để cho người nhà.\nNguyễn-Thanh thất kinh nói rằng:\n- Ngày xưa ông Mộ-Trạch đã có tiếng ăn khỏe, mà chỉ hết 18 bát cơm và 12 bát canh là cùng. Nếu ông ấy sinh ra đồng thời với ông, thì cũng phải kém ông ba bậc.\nHai người cùng cười ầm cả lên.\nVề sau Như-Hổ làm đến Thượng-thư, được phong làm Thiếu-bảo Lữ quận-công, rồi về trí-sĩ. Thọ 72 tuổi mới mất.\nKhắc-Khoan người làng Phùng-xa, huyện Thạch-thất, tỉnh Sơn-tây.\nTục truyền Khắc-Khoan tức là anh em cùng mẹ khác cha với ông Nguyễn-bỉnh-Khiêm (Trạng Trình). Nguyên bà ấy từ lúc bỏ ông Văn-Định, lên Sơn-tây lấy chồng khác, rồi sinh ra Khắc-Khoan. Khắc-Khoan sinh ra có tư chất thông-minh. Khi mới nhớn, bà mẹ cho xuống Hải-dương theo học anh là Bỉnh-Khiêm. Bỉnh-Khiêm hết lòng dạy dỗ, mới thành ra một người kiêm đủ văn chương tài đức. Nhân khi bấy giờ nhà Lê giữ ở Thanh-hóa, Bỉnh-Khiêm biết cơ nhà Lê có hồi trung-hưng được, xui Khắc-Khoan vào trong đấy để giúp nhà Lê. Khắc-Khoan vào thì vua Trang-tôn nhà Lê mừng rỡ tin dùng lắm, bàn mưu lập mẹo, giúp lên được lắm việc to tát. Đến thời vua Thế-tôn nhà Lê khôi phục được kinh thành Thăng-long, vua sai Khắc-Khoan sang sứ nhà Minh để cầu phong tước. Nhà vua phong cho vua Thế-tôn làm An nam Đô-hộ-sứ.\nKhắc-Khoan trả lại sắc vua Tàu và dâng biểu nói rằng:\n- Chúa tôi là họ Lê, nguyên là dòng dõi vua nước An nam tôi, không có tội gì như nhà Mạc, mà lại phải chịu chức tước như họ Mạc, thì chúng tôi không dám nhận sắc-mệnh, xin Hoàng-đế thiên triều xét lại cho.\nVì thế vua nhà Minh lại phong cho vua Thế-tôn làm An nam quốc-vương.\nTrong khi đi sứ, gặp ngày tết Nguyên đán, vua Tàu sai các đình-thần và các sứ-thần ngoại-quốc, mỗi người phải dâng bài thơ chúc mừng. Các người kia ai cũng dâng một bài, chỉ Khắc-Khoan dâng lên 36 bài, mà bài nào cũng hay. Vua Tàu phê cho đỗ Trạng-nguyên, bởi thế mới gọi là trạng Bùng. (Bùng tức là làng Phùng-xá, tục gọi là Bùng).\nKhi đi sứ trở về, qua tỉnh Lạng-sơn, gặp khi bà chúa Liễu hiện hình chơi trên đỉnh núi. Đôi bên đối đáp với nhau một hồi, rồi bà chúa Liễu biến mất. Khắc-Khoan lại trông thấy gỗ ngổn ngang dọc đường, nhận ra chữ “\n*Liễu-Hạnh*” và chữ “ *Phùng*”, biết là ý bà chúa Liễu muốn nhờ Khắc-Khoan đứng lên khởi công lập đền thờ bà ấy.\nVề sau, nhân lúc thong thả, Khắc-Khoan đem hai người là Ngô, Lý đi chơi hồ Tây, lại gặp bà chúa Liễu phen nữa, có làm thơ xướng họa liên ngâm.\nKhắc-Khoan làm quan đời trung-hưng, công-nghiệp rất là hiển hách. Dần dần làm đến Thái-phó, được phong làm quốc-công, ngoài 70 tuổi mới mất.\nLê-quí-Đôn quê ở làng Diên-hà, phủ Thái-bình, (bây giờ mới đặt riêng thành tỉnh).\nKhi trước ở phủ ấy có một ngôi đất quí, mà ai táng vào thì dân động, lại phải nhổ đi. Các thầy địa-lý ai cũng khen kiểu đất đẹp mà không ai dám táng vào. Một hôm, có một người say rượu, lập tâm muốn táng vào ngôi đất ấy, mới nằm liều ở đấy, cho chết đi thì thôi. Nửa đêm thấy có thần nói truyện với nhau rằng: “\n*Chúng ta giữ đất này, mà có người muốn liều chết để chiếm lấy, chúng ta chẳng hóa ra phải tội với thượng-đế ư?*” Một ông thần kia nói rằng: “ *Hãy thử xờ vào bụng nó xem còn ấm hay lạnh rồi*.” Mới lấy tay sờ vào bụng anh ta, anh ta sợ phải đứng dậy chạy về.\nĐêm hôm ấy, thần báo mộng cho người đàn anh trong làng rằng:\n- Ngôi đấy này là để dành cho người họ Lê ở làng Diễn-hà, dân chúng mày phải giữ, nếu để cho người khác táng vào thì dân chúng mày sẽ phải vạ cả.\nNgười ấy tỉnh dậy lo lắm, hôm sau hội dân lại bàn rằng:\n- Ngôi đất ấy có thần giữ, người làng ta táng không được, mà để cho người xứ khác đến táng thì dân động. Các nhà địa-lý, thường thường đi lại, chỉ sợ tiếng ấy lộ ra ngoài, thì người quyền thế bắt hiếp dân mà táng, dân ta chẳng thiệt hại lắm ư? Bây giờ thần bảo để dành cho người họ Lê làng Diên-hà, không biết bao giờ cho họ ấy đến táng, để dân ta đỡ một đoạn khó nhọc.\nGiữa lúc đang bàn, thì có một cụ già vào ăn xin. Người làng hỏi:\n- Ông cụ kia ở đâu?\nThưa rằng:\n- Tôi ở làng Diên-hà.\n- Họ gì?\n- Thưa tôi họ Lê.\nCả làng mừng nói rằng:\n- Ở đây có một ngôi đất to, thần cho họ Lê làng Diên-hà. Cụ có phải họ Lê, thì đem tiên-phần lại mà táng, về sau phát đạt, chẳng những cụ khỏi phải khổ sở, mà dân tôi cũng đỡ được một sự quan ngại.\nCụ kia mừng rỡ, về ngay nhà đem tiên-phần lại táng vào huyệt ấy. Về sau, con cụ ấy là Lê-trọng-Thứ quả nhiên đỗ Tiến-sĩ, làm quan rồi sau được phong là Trung-hiếu công.\nTrung-hiếu công muộn con, cùng với phu-nhân cầu tự ở chùa Quang-thừa huyện Kim-bảng. Phu-nhân nằm mơ thấy giời cho một con Kì-lân, mới có thai mà sinh ra Lê-quí-Đôn.\nQuí-Đôn thông minh khác thường, mới lên hai tuổi đã biết được hai chữ “\n*hữu, vô*.” Thử một trăm lượt cũng cứ trỏ vào chữ ấy. Lên 5 tuổi, cho học Kinh-thi, thì học đâu nhớ đến đấy, không chữ gì phải bảo đến hai lượt. Lên sáu tuổi đã biết làm thơ, làm văn.\nKhi 7, 8 tuổi cởi truồng đi tắm, có một quan Thượng vào chơi với ông Trung-hiếu-công. Trông thấy đứa trẻ, hỏi thăm vào nhà ông kia, đứa trẻ ấy đứng giang hai chân ra và bảo quan Thượng rằng:\n- Tôi đố ông biết chữ gì đây, hễ ông biết được thì tôi sẽ đưa ông vào nhà.\nÔng kia thấy đứa trẻ con hỗn sược, không thèm nói gì. Đứa ấy cười ầm lên nói rằng:\n- Chữ\n*thái* (太) thế mà không biết!\nÔng Thượng thấy đứa kỳ dị, hỏi ra mới biết là con ông Trung-hiếu công. Lúc vào chơi nhà gọi lên mắng rằng:\n- Mày là thằng rắn đầu rắn cổ, phải làm một bài thơ tự trách mình, nếu không làm được thì phải đòn.\nQuí-Đôn vâng lời làm một bài thơ nôm rằng:\n*Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,Rắn mà chẳng học chẳng ai tha.Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,Nay thét, mai gầm rát cổ cha.Chém mép chỉ quen tuồng nói dối,Lằn lưng cam chịu tiếng roi tra.Từ rầy Châu, Lỗ chăm nghề học,Chớ để người ta tiếng thế gia.*\nÔng kia thấy bé một tí tuổi, mà văn chương tài hoa, nức nở khen mãi không thôi. Lại một khi, Quí-Đôn đến chơi nhà lý-trưởng, nhác trông thấy một quyển sổ, biên những người thiếu thuế má, kẻ thì một vài quan tiền, người thì năm bảy đấu thóc. Quí-Đôn xem qua một lượt, rồi trả người lý-trưởng. Đến sau nhà ấy bị cháy, mất cả quyển sổ, các món nợ kẻ thiếu người đủ, không biết tra khảo vào đâu. Khi gặp Quí-Đôn phàn nàn về sự mất quyển sổ.\nQuí-Đôn bảo rằng:\n- Quyển sổ ấy tôi đã nhớ cả rồi, để tôi đọc cho mà sao lại, can gì mà lo.\nQuí-Đôn đọc thì không sai lẫn một ly nào, nhưng người lý-trưởng vẫn chưa dám quyết. Đến lúc chiếu sổ ra thu các món, thì phải cả, không ai cãi cọ gì, mới biết là Quí-Đôn sáng dạ.\nNăm 18 tuổi, đỗ Thủ-khoa. Ai cũng chắc Quí-Đôn thi hội thì đỗ Trạng-nguyên. Có một ông quan triều bảo với ông Trung-hiếu-công rằng:\n- Nước ta lâu nay không có Trạng, khoa này hẳn con ông đỗ được Trạng-nguyên.\nLại hỏi rằng:\n- Nội các sách, công-tử đã xem được hết cả chưa?\nÔng kia nói:\n- Sách nhà tôi thì cũng nhiều, duy còn thiếu một bộ “\n*Trinh-quán chính-yếu*”, vậy thì ngài có bộ ấy, xin cho cháu nó mượn xem vài hôm.\nÔng kia cho mượn, nhưng bỏ ra vài tờ, để ra đầu bài, vì thế khoa ấy Quí-Đôn chỉ đỗ Bảng-nhãn.\nKhi đỗ rồi, hai cha con cùng làm quan thời vua Hiếu-tôn nhà Lê. Vua có khen rằng:\n- Hai cha con nhà ngươi, cùng có bụng trung-quân ái-quốc, thế mới gọi là trung-hiếu truyền gia!\nVề sau, Quí-Đôn phụng mệnh sang sứ bên Tàu, các quan Tàu, thấy người thông-minh, ai cũng có lòng kính trọng.\nCó một ông Tú-tài Tàu vào bậc hay chữ, thông cả thiên-văn địa-lý tướng-số. Nghe tiếng Quí-Đôn là người anh-tài nước Nam, có ý muốn thử. Một bữa rủ Quí-Đôn đi chơi chùa xem bài văn bia. Ngọn chùa ấy, ở cạnh bờ sông, cứ mỗi buổi chiều thì có nước thủy-triều tràn lên, ngập cả bia. Khi Quí-Đôn mới xem xong thì nước đã kéo đến, ông Tú-tài dắt Quí-Đôn về chơi nhà, hỏi lại bài văn bia, thì Quí-Đôn đọc cả bài, không nhầm lẫn một chữ nào. Ông kia chịu là thông-minh.\nÔng Tú-tài kia bảo với Quí-Đôn rằng:\n- Tôi xem tướng ông, về sau tất phải chịu tội cách hết chức tước. Tôi có ngôi mộ ở trước chùa Quang-minh bên nước Nam, ông có về nước, trông nom sửa sang giúp cho tôi; sau 20 năm nữa, thì tôi chắc đỗ Trạng mà sang xứ bên ấy, thì tôi sẽ cứu cho ông.\nQuí-Đôn vâng nhời từ về, tìm thấy ngôi mộ ấy sửa sang lịch sự. Về sau, con và một người học-trò Quí-Đôn, cùng có tiếng hay chữ. Đến khoa thi, vua Lê chúa Trịnh đánh cuộc với nhau: vua thì đoán con Quí-Đôn đứng đầu; chúa thì đoán học-trò Quí-Đôn đỗ đầu. Nhưng Quí-Đôn dặn người học-trò đánh tráo văn cho con mình, bởi thế người con đỗ đầu, mà người học-trò thì đỗ thứ hai. Vua được cuộc mà chúa thì thua. Chúa Trịnh xưa nay vẫn biết sức người học-trò hơn mà mình bị thua cuộc, lấy làm tức lắm. Rồi dần dà vỡ cái mưu gian, chúa Trịnh nổi giận, cách chức Quí-Đôn và cách cả khoa-mục của hai người.\nQuí-Đôn phải cách chức buồn rầu lắm. Được vài năm, quả nhiên người Tú-tài Tàu đã đỗ Trạng-nguyên và sang sứ bên nước Nam. Khi sứ vào đến cửa ải, hỏi thăm biết Quí-Đôn phải cách rồi, mới lưu lại ở cửa ải, sai người mang một tấm vóc đề một chữ () và đưa giấy nói rằng:\n- “\n*Đố cả nước Nam biết là chữ gì, nếu không ai biết thì không sang sứ nữa*.”\nVua và chúa hội cả quần-thần lại hỏi, thì không ai biết là chữ gì. Vua và chúa lấy làm lo lắm. Các quan nói với chúa rằng:\n- Việc này phải hỏi đến Lê-quí-Đôn mới xong. Xin chúa phục chức cho Lê-quí-Đôn, rồi triệu đến mà hỏi.\nChúa Trịnh bất-đắc-dĩ, phải trả lại hết chức tước của Lê-quí-Đôn, rồi cho đòi vào triều-đình hỏi chữ ấy.\nLê-quí-Đôn trước còn từ tạ không biết, chúa lại trả khoa-mục cho con và người học-trò. Lê-quí-Đôn mới giải nghĩa chữ ấy và viết bốn chữ: “\n*Phỉ xa bất đông*” (匪車不東) vào tấm vóc sai người đưa lên cho sứ Tàu.\nVua và chúa bây giờ mới nghĩ ra nó đố mẹo; chữ viết không ra hình chữ\n*xa* (車) mà cũng chẳng ra chữ * đông* (東). Mà kinh thi có sẵn câu rằng: “ *Phỉ xa bất đông*.” Đó là đố một câu, nhưng chỉ viết một chữ mà đủ ý cả 4 chữ.\nSứ Tàu thấy nói trúng vào ý mình mới sang sứ, đó là mẹo nó cứu cho Quí-Đôn đấy.\nTính ông Quí-Đôn trung tín thành thực, làm quan được bổng lộc, thường chia cho những người họ hàng thân thích. Dựng vợ gả chồng cho người trong họ, trước sau cả thẩy 18 người. Những vợ con anh em bạn nghèo khó, cũng thường tư cấp cho ít nhiều. Mà xử vào trong mình rất tiết kiệm, thường chỉ mặc cái áo vải ăn cơm rau mà thôi. Lại hay xem sách, đã làm đến khanh-tướng, cũng vẫn học đến nửa đêm mới thôi. Xử với người ta thì cực nhũn, không có kiêu ngạo với ai bao giờ.\nĐến khi trí-sĩ làm một cái nhà gianh, sửa sang vườn cảnh chơi bời, cửa đề hai chữ: “\n*cẩn trai*” để tỏ ý mình. Học-trò nhiều người làm nên đến khanh-tướng.\nMột tay Quí-Đôn làm ra nhiều pho sách quí lắm, như là:\n*Thánh-mô hiền-phạm-lục*, *Kim-kính lục-chú*, *Hoàng-việt văn-hải*, *Vân-đài loại-ngữ*, *Kiến-văn tiểu-lục*, *Thái-ất quái-vận*, *Lục-nhâm hội-thông*, *Kim-cương kinh chú giải*, vân vân.\n\nLê-phụng-Hiểu người làng Băng-sơn, phủ Thanh-hóa, (tức là xã Sơn-dương, huyện Hoằng-hóa, tỉnh Thanh-hóa bây giờ). Người cao lớn to tát, râu ria xồm xoàm, gân sức khỏe mạnh. Khi đang trạc 20 tuổi, có hai tôn Cổ-bi, Đàm-xá tranh nhau địa giới, đem dân phu ra đánh nhau, Phụng-Hiểu vung cánh tay lên bảo với người làng Cổ-bi rằng:\n- Chỉ một mình tôi có thể đánh đổ được muôn người.\nCác cụ làng ấy mừng lắm\nLàm rượu mời Phụng-Hiểu ăn uống. Phụng-Hiểu uống rượu say rồi ăn hết nồi ba mươi cơm mới no. Bấy giờ mới ra khiêu chiến với người làng Đàm-xá. Khi hai xã giáp chiến, Phụng-Hiểu vươn mình lên nhổ một cây to bên vệ đường, cầm ngang trong tay, xông vào đánh dân Đàm-xá. Dân kia rẽ ra mà chạy, không ai dám địch; mà ai địch cũng thua, hoặc chạy không kịp thì chết. Dân ấy sợ hãi, phải nhường trả ruộng làng Cổ-bi.\nBấy giờ vua Thái-tổ nhà Lý, kén người có sức khỏe mạnh, để sung vào quân túc-vệ. Phụng-Hiểu ra ứng mộ, hầu hạ vua đắc dụng lắm, dần dần được nhắc lên làm Võ-vệ tướng-quân.\nKhi vua Thái-tổ mất, vua Thái-tôn nối ngôi, có ba vị vương là Dực-thánh vương, Võ-đức vương và Đông-chinh vương mưu làm phản, đem binh phạm vào cửa cung đại-nội, muốn tranh ngôi vua Thái-tôn.\nVua Thái-tôn lo sợ, vời Phụng-Hiểu mà bảo rằng:\n- Việc kíp đến nơi rồi, trẫm không biết nghĩ ra làm sao nữa, cho ngươi được phép tự tiện mà giúp việc cho trẫm.\nPhụng-Hiểu vâng mệnh, đem quân túc-vệ ra cửa cung, đánh nhau với quân ba phủ kia. Phụng-Hiểu trông thấy Võ-đức vương cưỡi ngựa đứng ngoài cửa Quảng-dương trỏ bảo quân sĩ, Phụng-Hiểu hầm hầm nổi giận, cầm gươm xông thẳng đến trước ngựa Võ-đức vương, trỏ vào mặt mà quát rằng:\n- Các vương dám dòm nom thần-khí, coi thường thiên-tử, trên thì quên ơn Tiên-đế, dưới thì trái nghĩa tôi con. Tôi là Phụng-Hiểu đây, xin dâng đại-vương một thanh kiếm này!\nNói đoạn, xông thẳng vào chém, các quân chống lại không nổi, chạy giãn ra bốn phía. Võ-đức vương toan quay ngựa, nhưng chạy không kịp, bị chém ngã quay xuống đất.\nQuân ba phủ kia thấy vậy, người nào người nấy tìm đường tháo thân, quân túc-vệ thừa thế đánh tràn ra, giết quân ba phủ không còn mống nào, chỉ có hai vị vương kia chạy được thoát.\nVua Thái-tôn thấy Phụng-Hiểu thắng trận, gọi vào an úy rằng:\n- Trẫm nay được thừa đương cơ nghiệp của Tiên-đế, và được toàn vẹn cái thân, toàn do tự sức của ngươi cả. Trẫm xem sử nhà Đường, thấy Uất-trì Kính-đức cứu nạn cho vua Đường Thái-tôn, tưởng là các bầy tôi đời sau không còn ai trung dũng được như Kính-đức nữa, nay ngươi khỏe mà lại trung với trẫm như thế, thì ra hơn Kính-đức ngày xưa.\nPhụng-Hiểu lạy tạ nói rằng:\n- Bệ-hạ, đức cảm đến cả giời đất, uy khắp cả cõi xa; trong triều, ngoài nội, ai ai cũng phải tuân phép; thế mà chư vương dám manh tâm làm phản, thần thánh trên dưới, cũng có bụng muốn giết, cho nên mới trừ được loạn, chứ như chúng tôi thì có công gì.\nVua phong cho làm Đô-thống thượng tướng-quân. Đến năm Thiên-cảnh-thánh-võ, (1044) vua Thái-tôn vào đánh Chiêm-thành, sai Phụng-Hiểu làm tiên-phong, phá tan quân giặc, đánh lừng lẫy đến ngoại-quốc. Khi vua thành công trở về, định phong thưởng cho Phụng-Hiểu, nhưng Phụng-Hiểu từ không nhận tước thưởng, xin đứng ở trên núi Băng-sơn, ném một thanh đao ra ngoài, hễ rơi xuống chỗ nào, thì xin đất đến đấy để lập nghiệp.\nVua ưng cho như thế. Phụng-Hiểu đứng ở trên đỉnh núi, ném một thanh đao ra ngoài mười dặm, xa xuống cắm vào làng Đã-mỹ. Vua mới ban thưởng cho đến nơi cắm đao, tính ra được hơn nghìn mẫu.\nTự đấy ruộng thưởng cho công-thần gọi là ruộng Thác-đao (nghĩa là cắm đao), là do sự tích ấy.\nPhụng-Hiểu hết lòng thờ vua, biết điều gì nói điều ấy, mà động đi đánh trận nào cũng được. Đến năm 77 tuổi mới mất. Dân làng ấy lập miếu thờ làm phúc-thần, lịch triều có phong tặng cả.\nĐoàn-Thượng người làng Hồng-thị, huyện Đường-hào, tỉnh Hải-dương. Thời vua Huệ-tôn nhà Lý, phụng mệnh trấn thủ ở Hồng-châu.\nĐoàn-Thượng có sức khỏe hơn người, gân xương như sắt, mỗi khi lâm trận, chỉ một đao một ngựa, xông vào đánh trăm nghìn người, tung hoành vô địch.\nĐến khi Lý Chiêu-hoàng nhường ngôi cho vua Trần Thái-tôn, Đoàn-Thượng chiếm giữ một châu, không chịu hàng theo về với nhà Trần. Thái-sư nhà Trần là Trần-thủ-Độ sai sứ đến dụ hàng. Thượng nhất định không nghe. Chiêu binh tập mã, tự xưng là Đông-hải vương, có ý muốn khôi phục giang-sơn cho nhà Lý.\nTrần-thủ-Độ đem quân xuống đánh nhau luôn mấy năm không phá nổi, mới lập mẹo sai người đến giảng hòa, mà kì thực sai một đại-tướng là Nguyễn-Nộn đem quân đánh tập công mặt sau.\nĐoàn-Thượng chắc là giảng hòa rồi, phòng bị không được cẩn thận như trước, sực nghe tin Nguyễn-Nộn đến đánh, mới kéo quân ra cự địch. Đôi bên đánh nhau đang hăng, thì Thủ-Độ lại cầm đại-quân tự đường Văn-giang đánh đến mé trước. Quân nhà Trần hai mặt đánh dồn vào một, quân của Đoàn-Thượng kinh hãi chạy tán lạc mất cả. Đoàn-Thượng vội vàng quay ngựa về đánh mặt tiền-quân, không ngờ bị một viên tướng nhà Trần, tự mé sau sấn lên chém với một nhát vào cổ gần đứt, Đoàn-Thượng ngoảnh lại, thì tướng kia sợ hãi mà chạy mất. Đoàn-Thượng mới cởi dây lưng ra buộc vào cổ cho khỏi rơi đầu, rồi hầm hầm tế ngựa chạy về phía đông. Chạy đến đâu, quân nhà Trần phải giãn đường cho chạy, chớ không dám đánh.\nKhi chạy đến làng An-nhân, có một ông cụ già áo mũ chững chạc, chắp tay đứng bên đường nói rằng:\n- Tướng-quân trung dũng lắm, Thượng-đế đã kén ngài làm thần xứ này rồi đây! Có một cái gò bên làng cạnh kia, đó là đất hương-hỏa của tướng-quân, xin tướng-quân để lòng cho.\nĐoàn-Thượng vâng một tiếng, rồi đến chỗ gò ấy, xuống ngựa gối đầu vào ngọn mác mà nằm, một lát thì mất, mối đùn đất lên thành mồ ngay.\nDân làng ấy thấy vậy, lập miếu tô tượng để thờ. Về sau nước lụt vỡ đê, tượng trôi vào làng An-nhân, làng ấy lại lập một tòa miếu khác để thờ. Miếu ở cạnh bờ sông Hồng-giang, mé trước ngoảnh vào con đường cái chính xứ đông-bắc. Thần kinh ứng lắm, lẻ qua lại mà ngạo ngược thì có tai nạn ngay. Các khách buôn thuyền qua lại cửa đền, có đồ lễ vào thì buôn bán đắt hàng. Tục truyền những khách buôn chum vại vào bán chợ Hồng, ai mà vào đền lễ thì buôn bán thông đồng, chóng hết lắm; mà ai không lễ, thì ế mãi không bán được, thường phải quẳng bỏ ngoài bến sông, nếu không thế thì tất lại có sự sóng gió lo lường.\nLịch-triều cũng có phong tặng làm thượng-đẳng-thần. Miếu ấy đến giờ vẫn còn.\nPhạm-ngũ-lão là người học-trò ở làng Phù-ủng, huyện Đường-hào, tỉnh Hải-dương (bây giờ thuộc huyện Ân-thi, tỉnh Hưng-yên), có sức khỏe lạ thường, muôn người khôn địch.\nPhạm-ngũ-lão mặt mũi khôi ngô, đủ cả văn tài võ lược. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến Ngũ-lão mới theo nghề học nho. Trong hai mươi tuổi đã có tính khẳng khái. Trong làng có một người tên là Bùi-công-Tiến đỗ Tiến-sĩ ăn mừng, cả làng kéo đến mừng rỡ, chỉ có Ngũ-Lão không thèm đến.\nBà mẹ Ngũ-Lão bảo rằng:\n- Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút.\nPhạm-ngũ-lão thưa rằng:\n- Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để vui lòng mẹ, mà con đi mừng người ta, thì con lấy làm nhục lắm.\nNgũ-Lão tính hay ngâm thơ, thường ngâm một bài rằng:\n*Ngọn giáo non sông trải mấy thâu,Ba quân tỳ hổ át sao Ngâu.Công danh nếu để còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe truyện Võ-hầu*.\nNhà ở bên cạnh đường cái, có một khi Phạm-ngũ-lão ngồi vệ đường vót tre đan sọt, sực có Trần Hưng-đạo vương tự trại Vạn-an vào kinh, quân quyền kéo đi rất đông. Quân tiền-hô thấy Ngũ-Lão ngồi xếp bằng tròn bên cạnh đường, quát lên bắt phải đứng dạy. Ngũ-Lão cứ ngồi nghiễm nhiên như không nghe tiếng. Quân lính cầm ngọn giáo đâm vào đùi, Ngũ-Lão cũng cứ ngồi vững không động mình. Đến lúc xe Hưng-đạo vương đến nơi, trông thấy thế lấy làm lạ, gọi đến hỏi, thì bấy giờ mới biết là có quan quân đi qua, và quân lính đâm vào đùi mình.\nHưng-đạo vương hỏi rằng:\n- Nhà thầy kia ở đâu, sao ta đi qua đây mà cứ ngồi chững chàng như vậy?\nThưa rằng:\n- Tôi đang mải nghĩ một việc cho nên không biết là ngài chảy qua đây.\nHưng-đạo vương lấy làm kỳ, hỏi đến sự học hành, thì hỏi đâu nói đấy, nội là kinh truyện thao lược, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy.\nHưng-đạo vương mới sai lấy thuốc dấu dịt vào chỗ nhát đâm, rồi cho ngồi xe đem vào kinh, dâng lên vua Thánh-tôn.\nVua thấy người có sức khỏe, lại có học thức, cho vào làm quản vệ-sĩ. Các vệ-sĩ không chịu, xin đấu sức với Ngũ-Lão. Ngũ-Lão xin vâng, nhưng xin vua cho về nhà ba tháng, để thu xếp việc nhà, rồi sẽ xin đấu sức và nhận chức nhân thể. Vua cho về, Ngũ-Lão về nhà ra ngoài đồng, tìm chỗ gò cao tập nhảy, cứ cách mười trượng chạy đến nhảy vót qua gò. Tập luyện thành rồi, vào kinh đấu sức. Khi đấu quyền với các vệ-sĩ thì không ai địch nổi, rồi Ngũ-Lão thách cả các vệ-sĩ cùng ra đấu. Các vệ-sĩ xúm xít xung quanh, hàng trăm nghìn người, Ngũ-Lão tay đấm chân đá, nhảy nhót như bay, chạm phải ai phi chết thì què gẫy, các vệ-sĩ không tài gì mà đánh lại được, bấy giờ mới chịu phục.\nVua thấy người kiêu dũng làm vậy, cho theo Hưng-đạo vương đi đánh giặc Mông-cổ, thì đánh trận nào cũng được, lập nên công trạng rất nhiều. Hưng-đạo vương có lòng yêu mến, gả con nuôi là Nguyên quận chúa cho.\nVề sau, nước Ai-lao đem một vạn voi sang cướp đất Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ-Lão cầm quân đi đánh. Ngũ-Lão sai dân chặt tre đực cứ dài độ một trượng, trồng chất vào các vệ đường. Khi Ngũ-Lão khéo quân vào đánh, giặc thúc voi sấn lên, Ngũ-Lão chỉ chân tay không sấn vào gặp đống tre nào thì vớ lấy cái dóng tre chỗ ấy, đập vào chân voi. Voi bị đau gầm rống lên chạy về, giầy xéo cả vào quân Ai-lao. Ngũ-Lão mới thúc quân đánh tràn sang, quân Ai-lao tan vỡ, phải trốn về đêm.\nVì có những công to ấy, được lên làm Điện-tiền thượng-tướng quân. Đến khi mất, được phong làm thượng-đẳng phúc-thần, người làng Phù-ủng lập miếu thờ ngay ở chỗ nhà Ngũ-Lão.\nNgũ-Lão nguyên là bộ tướng của Hưng-đạo vương, cho nên các đền thờ Hưng-đạo vương, cũng có thờ Ngũ-Lão nữa.\nTục lại truyền khi Ngũ-Lão còn hàn vi, xin với mẹ đi tìm kế lập công danh, ở trong nước chưa có dịp nào, mới sang ở chăn voi cho vua nước Ai-lao. Ngũ-Lão cầm một lá cờ đỏ dạy voi, hễ phất lá cờ thì voi phải quì xuống hết. Đến khi nghe tin có giặc Mông-cổ quấy nước Nam, mới về theo Hưng-đạo vương đi đánh giặc. Về sau nước Ai-lao sang cướp vùng Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ-Lão đi đánh. Ngũ-Lão thấy Ai-lao thúc voi xông vào trận, mới phất lá cờ đỏ, thì voi trông thấy hiệu ông ấy, lại phục cả xuống, vì thế mới phá được quân Ai-lao.\nNguyễn-Xí người làng Sái-xá, huyện Chân-phúc, tỉnh Thanh. Thân phụ Nguyễn-Xí gặp buổi cuối đời nhà Trần, trong nước loạn lạc, không muốn ra làm quan, tu ở chùa làng, gọi là Hòa-nam thiền-sư. Mỗi đêm đến gà gáy thì thức dậy đánh chuông, đốt hương tụng kinh.\nCó hàng thịt lợn ở cạnh chùa, hễ cứ nghe tiếng chuông thì thức dậy giết lợn. Một hôm, nhà hàng thịt mua lầm phải con lợn cái chửa, định để sang mai thì làm thịt bán hàng.\nĐêm hôm ấy, nhà sư nằm mơ thấy một người đàn bà đến kêu khóc rằng:\n- Xin ông đêm hôm nay đừng đánh chuông vội, cứu lấy tám, chín mạng cho mẹ con tôi.\nNhà sư ngạc nhiên không biết sự gì, nhưng cũng nghe nhời không đánh chuông vội. Nhà hàng thịt vì thế dậy trưa, thì con lợn cái đã đẻ ra 8 con. Nhà sư thấy vậy lấy làm kỳ, mới mua cả đàn lợn ấy thả vào trong núi.\nĐược vài tháng, nhà sư phải hổ bắt mất, nó cắn chết bỏ dưới sườn núi. Sáng mai, người nhà đi tìm, thấy mối đùn đất lấp lên thành mồ rồi. Có người biết địa-lý, xem hình thế đất ấy, cho là được ngôi hổ-táng.\nCon ông ấy là Nguyễn-Xí, bấy giờ đã 17 tuổi, vốn có sức khỏe hơn người, tập nghề võ đã giỏi, nhưng vì nhà nghèo khó, phải ra tỉnh Thanh bán dầu kiếm ăn.\nMột hôm, đi qua huyện Lam-sơn, giời đã tối, xung quanh không có cửa nhà nào, chỉ có một ngọn miếu thờ thần, mới vào nghỉ trong miếu ấy. Đến canh ba, phảng phất nghe có tiếng xe ngựa rầm rầm, và nghe có tiếng bảo ông thần trong miếu rằng: “\n*Hôm nay trên thiên-đình hội các bách-thần, định lập thiên-tử nước Nam, việc ấy quan hệ to, mời ngài đi với tôi nhân thể*.” Ông thần trong miếu nói rằng: “ *Tôi dở có quí-khách dưới trần trọ đây, không sao đi được, ông có được nghe điều gì, xin về bảo cho tôi được biết*.” Cuối canh tư lại nghe có tiếng về báo rằng: “ *Thiên-đình đã định xong ngôi Hoàng-đế nước Nam rồi, tức là người ở Lam-sơn, huyện Thụy-nguyên, họ Lê tên Lợi. Thượng-đế cho đến giờ thân, ngày thân, tháng thân thì khởi binh, mười năm mới yên xong thiên-hạ*.”\nNguyễn-Xí nghe rõ ràng các câu ấy, gà gáy thức dậy, tìm đến làng Lam-sơn, hỏi thăm vào nhà Lê-Lợi, kể rõ lại những việc nghe thấy truyện như thế.\nLê-Lợi bấy giờ đã có 300 thủ-hạ, sắp sửa muốn ra dẹp loạn, nghe thấy nói, lập tức khởi binh ngay tháng bảy năm ấy.\nNguyễn-Xí theo giúp Lê-Lợi đánh nhau với quân nhà Minh, xông pha trong mũi tên hòn đạn, đánh đến đâu quân Tàu tan ra đến đấy. Trong 10 năm giời, lập lên rất nhiều công trạng. Đến khi thiên-hạ bình-định, Lê Thái-tổ cho Nguyễn-Xí là sang nghiệp đệ nhất công-thần, và phong làm Nguyễn quốc-công, cho quốc tính gọi là họ Lê.\nNguyễn-Xí làm quan trải ba triều: Thái-tổ, Thái-tôn, Nhân-tôn, khi có giặc giã thì đi dẹp, khi thường lại vào túc-vệ trong cung cấm. Khi vua Nhân-tôn bị Nghi-Dân cướp ngôi (con cả vua Thái-tôn, phải bỏ không được lập), Nguyễn-Xí đem binh dẹp loạn, giết được bọn đồ đảng của Nghi-Dân là Phạm-Đồn, Phan-Ban, rồi bỏ Nghi-Dân đi, đón Bình-nguyên vương lập lên, tức là vua Thánh-tôn. Nguyễn-Xí vì có công ấy lại được tiến lên làm chức Thái-úy, Cương quốc-công.\nBấy giờ, Nguyễn-Xí có 12 con, cũng được phong tước làm quan tại triều, quyền thế hách dịch nhất thời ấy. Vua thấy lồng lẫy quá, sai đào con sông Cấm-giang, ở làng Sài-xá, để triệt long mạch làng ấy, thân long chảy ra huyết ba ngày.\nMột hôm, năm con quan làm trung-úy, cùng chết một ngày, từ bấy giờ con cháu sa sút.\nTử-Nghi người làng Vĩnh-niệm, huyện An-dương, tỉnh Hải-dương, sức khỏe như thần.\nTử-Nghi thường đắp một con đường dài ở trên mặt đê, đôi đầu đắp ụ cao 5 thước rồi vác gậy chạy trên mặt đê, cứ đến chỗ ụ cao thì đánh một cái, ụ lại sạt xuống như đất phẳng.\nKhi sau đến kinh thành Thăng-long, trông thấy hàng trăm người lính đang kéo thuyền rồng ở trên mặt đất xuống sông, mà kéo không nổi.\nTử-Nghi cười nói rằng:\n- Khéo những đồ bị thịt kia! Có một cái thuyền như thế, xúm xít vào kéo mà không nổi, thì làm trò gì được?\nChúng tức giận, kẻ nghiến răng, người trợn mắt, toan xúm vào đánh, thì Tử-Nghi lại nói rằng:\n- Vậy thì các anh để đấy, chỉ một mình ta kéo cho mà xem.\nChúng thấy nói vậy, bỏ đi ra, bắt Tử-Nghi phải kéo thuyền, nếu kéo không xong thì sẽ hay. Tử-Nghi vén tay áo, dung hết sức bình-nhật, chỉ một tay lôi tuột chiếc thuyền rồng xuống sông. Chúng ai nấy lắc đầu le lưỡi, chịu ông ta là có sức khỏe gấp nghìn người.\nBấy giờ nhà Mạc mới lên, nghe có người hùng dũng làm vậy cử làm đại-tướng, cho lên truất-thủ mặt Thượng-du. Tử-Nghi ở trấn vài năm, dẹp tan đám giặc cỏ, có tiếng lừng lẫy đến cả Bắc triều. Về sau nhân dẹp giặc, phá lây đến các tỉnh ven Tàu; Tàu đưa hịch sang trách đến triều-đình nước Nam. Tử-Nghi đến dinh quan Tổng-đốc Quảng-đông, xin chịu tội để cho yên tâm vua nước mình.\nNgười Tàu đem Tử-Nghi ra hành tội, rồi bỏ đầu-lâu và thây vào một cái hòm, che một cái lọng, thả xuống sông cho trôi về nước Nam. Trôi tự Nam-quan về mãi đến giang phận làng Vĩnh-niệm thì đứng lại không trôi nữa, rồi đêm báo mộng cho dân làng ấy phải ra vớt về mai tang, và phải lập đền phụng tự.\nDân làng sáng mai ra vớt, lập miếu thờ ngay bên cạnh sông, từ ấy linh ứng lắm. Về sau, hiển linh bảo các làng ở ven sông, cho nên tự Nam-quan về mãi đến Hải-dương, Sơn-nam, nội chỗ nào có bến, là cũng phải lập miếu thờ cả. Lịch triều phong làm Linh-ứng đại-vương thần.\nVề đời Lê trung-hưng, ở làng Hàm-giang, tỉnh Hải-dương , có người tên là Đinh-văn-Tả, sức vóc mạnh mẽ, tính khí hung hăng. Lúc còn nhỏ, chỉ chơi bời với lũ côn-quan, chúng bầu lên làm đàn anh cả.\nCạnh làng có một con sông to rộng hơn một dặm, ngày ngày ra tắm, bơi vòng tự bên này sang bên kia, chơi bời luyện tập.\nMột hôm, họp bằng bối uống rượu bên cạnh bờ sông, nghe bên kia sông, có tiếng chiêng trống tế thần. Anh em đố nhau lội được qua sông sang ăn trộm cái chiêng của làng kia đem về.\nĐinh-văn-Tả nói:\n- Khó gì việc ấy mà phải đố.\nBấy giờ đang đêm, Văn-Tả lập tức lội xuống sông, vòng sang bên kia, lẻn vào đình, ăn trộm được cái chiêng đem ra, lại lội xuống bơi về. Khi đến giữa dòng sông, khua chiêng vang cả lên, làng bên kia nghe tiếng, mới biết là mất trộm, tìm thuyền đuổi theo thì không kịp.\nVề sau, nhân có tội phải giam trong ngục Đông-môn. Khi ấy triều-đình đang có việc dụng binh, chúa Trịnh sai các tướng võ tập bắn ở lầu Ngũ-long. Văn-Tả và tên lính canh ngục đứng xem, thấy không mấy người bắn trúng bia, cười mà nói rằng:\n- Bia rành rành thế kia, mà bắn không trúng, sao mà họ hèn làm vậy?\nCác tướng võ đứng bắn, nghe tiếng giận lắm, đưa súng cho Văn-Tả và bảo rằng:\n- Anh nói khoác làm gì thế, súng đây, anh thử bắn đi này!\nVăn-Tả không thèm cầm súng nhỏ, xin mượn khẩu súng to, cắp lên trên mang tai, bắn ra ba phát, vỡ ba cái đích. Các người kia ai cũng chịu là tài; rồi lại sai bắn thử lần nữa xem làm sao, thì bắn phát nào tin phát ấy, mười phát đậu chục. Việc ấy lên đến tai chúa Trịnh, mới tha tội cho theo đánh giặc.\nBấy giờ chúa Trịnh đang chống nhau với chúa Nguyễn ở trong Nam hà. Một bữa quân Bắc đóng ở trên núi, quân Nam đột nhiên đến vây đánh, quân Bắc bị thua tan chạy mất cả, chỉ còn một mình Đinh-văn-Tả phục trong bụi rậm, chờ khi quân Nam đuổi theo, ở trong bụi rậm bắn ra, quân Nam tưởng có nhiều quân mai phục phải lui về; quân Bắc thừa thế quay lại đánh, quân Nam phải chạy. Tự bấy giờ nổi tiếng. Về sau, lại lập được nhiều công chiến trận, chúa Trịnh phong cho làm quận-công. Văn-Tả nộp trả bằng sắc không nhận, chỉ xin rút trong sổ án-từ ra mà thôi, nhưng chúa Trịnh vẫn cứ phong cho.\nĐên thời vua Hi-tôn, dư đảng nhà Mạc là Mạc-kinh-Vũ, vẫn còn chiếm giữ trên xứ Cao-bình. Vua sai Văn-Tả thống lĩnh đại binh đi đánh, phá vỡ quân nhà Mạc. Kính-Vũ phải chạy sang Long-châu, mới trừ hết được đảng nhà Mạc. Từ đấy làm quan đến cực phẩm hàng võ.\nĐến năm 80 tuổi, phải bệnh nặng, chúa Trịnh thân đến tận nhà hỏi thăm, hỏi rằng:\n- Như ngươi thì trong bụng còn muốn ao ước điều gì nữa không?\nThưa rằng:\n- Tôi nhớ ơn nhà chúa, làm quan vinh hiển đến thế này; mà lại được thọ đến 80 tuổi, thì trong bụng cũng đã mãn nguyện rồi; nhưng chỉ còn ao ước một chút, giả thử đang lúc tôi chưa chết, mà chúa phong cho tôi làm phúc-thần, thì tôi nhắm mắt đi, không còn điều gì hối hận nữa.\nChúa Trịnh lập tức sai người thảo sắc, phong ngay tại trước chỗ giường nằm. Văn-Tả tạ ơn chúa rồi mất.\nCon cháu nhà ấy, về sau ai cũng có tài làm tướng, kế thế 18 đời được phong quận-công, đến mãi về đời Đinh-tích-Nhưỡng về cuối đời nhà Lê, vẫn còn lừng lẫy. Tục ngữ có câu: “\n*Đánh giặc họ Đinh*”, tức là chi họ ấy.\nVõ-Tính tổ tiên thuở trước là người Phúc-an, thuộc tỉnh Biên-hòa, sau dời đến Bình-dương.\nTính là người khảng khái, trí dũng hơn người, nhà giầu, không chịu thuần phục Tây-sơn; mới xin với mẹ bỏ ra chiêu dụ hào-kiệt, khởi nghĩa binh ở Phù-viên (thuộc Gia-định); rồi kéo đến Định-tường chiếm giữ Khổng-tước-nguyên (thuộc Tân-hòa), tụ đồ-đảng đến hàng vạn người, hoặc là đạo quân Kiến-hòa, tự xưng làm Tổng-nhung, hễ quân giặc đi qua đất ấy, thì đánh giết sạch. Quân giặc thường bảo với nhau rằng: “Gia-định tam hùng,\n[46] Võ-Tính là một, chớ có phạm vào mà chết.”\nNăm Mậu-thân, Tính đem cả bộ-thuộc đến bái yết đức Thế-tổ ở dưới hành-tại.\n[47] Đức Thế-tổ cả mừng, cho Tính làm tiên-phong doanh khâm-sai Tổng-nhung chưởng-cơ; rồi lại gả em là Trưởng công-chúa Ngọc-Du (con gái đức Hưng-tổ, em đức Thế-tổ) cho.\nKhi ấy tướng Tây-sơn là Thái-bảo Phạm-văn-Tham giữ thành Sài-gòn, Tính đem quân vây đánh. Tham cùng quẫn xin hàng, dẹp yên được vùng Gia-định.\nNăm Quí-sửu, Tính được thăng làm Khâm-sai chưởng Hậu-quân doanh Bình-sơn tham-thặng tướng-quân, theo đức Thế-tổ ra đánh thu phục được Phú-an.\nNăm Giáp-dần, Tính phụng mệnh trấn thủ thành Diên-khánh (bây giờ là Khánh-hòa). Trần-quang-Diệu (tướng Tây-sơn) đem hết cả quân vào vây. Tính kiên thành cố thủ, khi ấy trong thành thiếu lương, quân-sĩ rất kham-khổ, Tính lấy lời trung nghĩa khích-khuyến, tướng sĩ đều cố sức đánh, giặc không thể nào phá được. Mùa hạ, năm Ất-mão, đức Thế-tổ đại cử quân-thủy, bộ ra cứu viện. Tính nghe tin có viện-binh đến, bèn thân đốc tướng-sĩ đương đêm mở cửa thành ra đánh, quân giặc tan chạy. Đức Thế-tổ úy lạo khen Tính rằng: “Tên Diệu là kềnh-địch, mà ngươi hay giữ được thành này, có gặp gió to mới biết được cỏ cứng thật!” Bèn phong cho Tính tước quận-công.\nTính tuổi trẻ, mà lại là bậc thân-quí, lập được nhiều công chiến-trận, vậy nên có ý kiêu căng. Tiền-quân tôn-thất Hội thường chê Tính là người thiển-hiệp, và bảo rằng: “Cậy mình quí mà không xét đến kẻ sĩ, là lỗi quan Phiểu-Kỵ họ Hoắc,\n[48] nay ngươi có bớt kiêu đi, thì mới giữ trọn được tiếng hay.” Tính nghe lời cảm tạ, từ đấy nén bớt kiêu-khí, đều được lòng tướng-sĩ.\nNăm Kỷ-mùi, Tính hộ giá đức Thế-tổ ra thân chinh, hạ được thành Qui-nhân. Đức Thế-tổ vào thành úy lạo, đổi tên là thành Bình-định, lưu Tính cùng Lễ-bộ Ngô-tùng-Chu ở lại trấn thủ.\nMùa đông năm ấy, Trần-quang-Diệu, Vũ-văn-Dũng lại đem hai đạo quân vào vây Bình-định, Tính nghe tin biết thế giặc đương mạnh, chửa có thể đánh được, bèn thu quân giữ thành. Đức Thế-tổ nghe tin báo, đại cử thủy, bộ chư quân ra cứu viện.\nTính kiên thành cố thủ, tùy phương chống chế, quân lịnh nghiêm minh, khích lệ tướng-sĩ đều liều chết mà đánh, nhớn nhỏ cả thảy hơn vài mươi trận, không thua trận nào.\nHoặc có kẻ khuyên Tính vượt vòng vây mà lẻn ra. Tính không nghe, bảo rằng: “Ta phụng mệnh giữ thành này, thì ta nên thề cùng với thành cùng sống thác. Nếu bỏ thành mà lẩn trốn lấy một mình, thì còn mặt mũi nào mà trông thấy chúa-thượng nữa?”\nKhi ấy quan quân đến cứu viện đã non hai năm giời, đánh mãi không tài nào giải vây được. Đức Thế-tổ sai người lặn nước từ cửa bể lẻn vào, bảo Tính bỏ thành mà ra hội với quan quân. Tính nhất định xin cố thủ, sai người cầm tờ mật-biểu ra tâu rằng: “Nay quân giặc tụ vây cả ở thành này, thì ngoài Phú-xuân hẳn không-hư, xin đem quân thừa hư ra đánh lấy Phú-xuân, chẳng khác gì đổi ngói lấy vàng; dẫu chết một mạng tôi, mà đổi lấy được Phú-xuân, cũng phải.”\nĐức Thế-tổ được tờ mật-biểu, ngài mới quyết ý đem quân do đường thủy kéo ra. Đêm hôm ấy đốt lửa ở núi Độc-sơn làm hiệu, Tính thấy hỏa hiệu, lại mở cửa thành ra đánh, giết được vài tên tướng giặc.\nKhi ấy trong thành hết cả lương thực, quân-sĩ phải giết voi, ngựa mà ăn, mà cũng không ai có lòng phản bội gì cả. Tính sợ rằng hãm thành, thì tướng-sĩ chết bại nhiều, bèn đưa thư ra bảo Diệu rằng: “Phận sự ta làm chủ-tướng, thì đành liều chết ở dưới cờ. Còn như các tướng-sĩ không có tội gì, không nên giết hại.” Lại bảo các tướng rằng: “Ta uống thuốc độc, nhảy vào lửa, đàng nào cũng chết. Nhưng ta không muốn cho giặc trông thấy mặt, ta đành chết vào lửa mà thôi.” Mới sai quân lấy củi khô chất đầy dưới lâu Bát-giác, và để thuốc súng vào giữa.\nMột hôm buổi sớm, Hiệp-trấn Ngô-tùng-Chu sang hỏi Tính xem định kế gì? Tính trỏ lẩu bát-giác mà rằng: “Kế tôi đành chịu thác ở đó mà thôi!” Lại bảo Tùng-Chu rằng: “Tôi là võ-tướng, không lẽ cùng sống với giặc được; ông là văn-quan, giặc nó không nỡ giết nào, nên liệu mà tự toàn lấy mình.”\nTùng-Chu cười mà rằng: “Dù văn, dù võ, ai cũng có một lòng trung ái cả, chớ có phân biệt chi? Tướng quân hay liều mình với nước, tôi lại không hay tận trung với vua hay sao?” Nói rồi lui về dinh, uống thuốc độc mà chết.\nTính than rằng: “Ông này lại hơn ta một chước!” Liền thân đến liệm táng cho Chu-Tùng tử tế. Cách hai hôm sau, Tính mặc triều-phục lên lầu hội các tướng bảo rằng: “Ta nhờ có các tướng đồng tâm mới giữ được thành mà chống nhau với giặc. Nhưng nay lương cạn, lực cùng, giữ cũng không được nữa, thôi thì ta liều mình chịu thác, chớ không làm khổ tướng sĩ mãi nữa.” Các tướng nghe nói, ai cũng thương xót, đứng chung quanh lầu mà khóc. Tính khoa tay bảo các tướng lui ra, rồi sai Phó-tướng Nguyễn-văn-Biện châm lửa. Biện cũng khóc mà chạy, Tính bấy giờ đang hút thuốc lá, lấy tàn ném xuống đống thuốc súng, lửa tức thì bốc lên mà thác. Thống-binh Nguyễn-tấn-Huyên ở ngoài chạy vào, cũng nhảy vào lửa mà chết theo, hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân-dậu.\nDiệu đem quân vào thành, trông thấy cũng rỏ nước mắt, sai làm lễ niệm táng tử tế. Còn các tướng-sĩ trong thành, không giết hại người nào cả. Nhưng bọn tướng-sĩ sau đều lẻn về, không có một người nào chịu ở theo giặc.\nĐức Thế-tổ nghe tin Võ-Tính, Ngô-tùng-Chu tử tiết, thương khóc than rằng: “Toàn tiết như thế, dẫu Trương-Tuấn, Hứa-Viễn ngày xưa, cũng không hơn được.”\nGia-long nguyên niên, sai lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát-giác, truy tặng Tính làm Dực-vận công-thần Thái-úy Quốc-công; Chu làm Tán-trị công-thần Thái-tử thái-sư Quận-công; Huyên được tặng làm Chưởng-cơ. Năm Minh-mệnh thứ 12, truy phong Tính làm Hoài quốc-công; Chu làm Ninh-hòa Quận-công; Chu làm Ninh-hòa Quận-công, đều được phối hưởng ở nhà Thái-miếu.\nNguyễn-văn-Thành trạng mạo khôi ngô, tính thâm trầm, cương nghị. Chăm đọc sách, giỏi võ nghệ. Tổ-tiên trước ở Thừa-thiên; cha là Hiền dời vào ở Gia-định.\nĐời vua Duệ-tôn triều Nguyễn. Tây-sơn Nguyễn-văn-Nhạc khởi binh cướp Bình-thuận. Hiền mộ quân hương-dũng theo đi đánh giặc, khi ấy Thành cũng ứng mộ theo cha, đóng quân ở Cầu-giang Tống-phúc-Hợp sai Hiền đem vài nghìn quân đi tải lương, Thành cũng theo đi. Lúc đang đi nửa đường, quân lính già nửa mắc đội thóc, không kịp phòng bị, thì có quân giặc đổ ra chẹn ngang đường. Hiền thấy quân giặc kéo ập đến, liền vẫy Thành lui tránh đi. Thành lẻn ra đàng sau trận, sai những quân đội thóc, giơ sào lên làm giáo, treo áo lên làm cờ, vòng ra đàng trên Sa-đỗng, vừa đánh trống vừa reo mà kéo lên. Giặc ngỡ là có viện-binh kéo đến, phải tháo lui dần. Quan quân thừa cơ lại đánh được toàn thắng. Phúc-Hợp khen Thành còn trẻ mà có trí khôn, thưởng cho 10 lạng bạc, và một cặp áo sa.\nĐến sau, Hiền bị tử trận. Đức Duệ-tôn cho Thành làm cai đội, Thành đi chiêu tập được hơn 800 quân tráng dũng, theo Đỗ-thanh-Nhân thu phục được Sài-gòn.\nNăm Ất-tị, Thành theo đức Thế-tổ sang Xiêm ở thành Vọng-các, lại giúp Xiêm đánh phá được Miến-điện, khi ấy vua Xiêm muốn giúp binh, Đức Thế-tổ họp các tướng lại bàn. Thành tâu: “Quân Xiêm tàn ngược, không nên nhờ họ giúp nữa; nếu nhờ binh lực của họ mà được thành sự, rồi thì tất có lo về sau. Không gì bằng hãy tĩnh để đợi thời.”\nNăm Đinh-mùi, Thành phụng mệnh đi đón Hà-hỉ-Văn, bị bạt phong giạt vào Hà-tiên, tuyệt lương, Thành giả làm thuyền giặc đi tuần, vào cửa bể cướp lương. Khi về đến nơi hành-tại ở Cù-lao Cổ-cốt, đức Thế-tổ biết truyện cướp lương, quở trách Thành, truyền tống giam, sau cho tùng chinh. Khi quan quân thất lợi trận đánh ở Mỹ-tho, có kẻ xui Thành trốn về làng mà ở. Thành bảo rằng: “Vua, tôi nghĩa cả, dù sống, chết cũng phải giữ lấy; còn như sự thành, bại là tại giời, ta liệu trước sao được. Vả lại nhân phải khiển trách mà đi, nhân lúc bại-trận mà trốn, đó là kẻ tiểu-nhân phản phúc, ta không thèm làm.” Bàn cùng với lũ Hỷ-Văn 17 người, vượt bể đi theo đức Thế-tổ. Một hôm gặp bão to, gẫy cả cột buồm, bạt phong giạt vào cửa Bản-phố. Thành chạy vào trong làng, mượn được thuyền, nhờ được lương, lại vượt bể vào Long-xuyên, sau nghe tin đức Thế-tổ đóng ở Ba-lai, bèn theo đến nơi xin đi chiêu tập quân nghĩa-dũng để đánh giặc.\nNăm Quí-sửu, đức Thế-tổ ra thân chinh Qui-nhân, cho Thành làm Khâm-sai Bình-sơn Tiền tướng quân đem bộ binh đi trước, đến đâu giặc đều tan vỡ cả. Khi ấy nghe tin Thái-úy giặc là Nguyễn-văn-Hưng đem quân tự Phú-xuân vào cứu viện Qui-nhân, Thành bèn đem quân đến Thạch-tân án ngữ, năm trận đánh, quân giặc đều phải lui cả. Thành lại do đường bộ kéo đến họp với thủy-quân ở cửa Thi-nạo, rồi phụng mệnh rút quân đến đóng ở Phú-an. Bấy giờ ai cũng sợ rằng quân giặc đuổi theo, Thành nói rằng: “Trong Qui-nhân, ngoài Thuận-hóa, dẫu là thân thích, mà thực là cừu thù, chẳng qua mượn tiếng vào cứu-viện, mà kỳ thực là định nuốt nhau. Nhạc còn tự cứu không xong nữa là đi đuổi theo người.”\nSau Nhạc quả nhiên phải lũ Hưng bức tử, lời Thành nói không sai.\nNăm Đinh-tị, Thành phụng mệnh trấn thủ Diên-khánh, khi ấy có bọn giặc khách tàu-ô thường làm trở ngạnh ngoài bể, Thành dụng mẹo bắt được, đường bể mới yên.\nNăm Kỷ-mùi, Võ-Tính trấn thủ Qui-nhân, bị quân giặc vây, Thành phụng mệnh điều khiển các đạo bộ-binh ra cứu viện, phá tan các đồn giặc. Quân giặc phải lui giữ Chủ-sơn, Thành đánh mãi không vỡ, sau Thành dò được con đường tây, nam, có thể đánh tập hậu được, bèn vẽ hình thế dâng biểu xin thêm quân.\nĐức Thế-tổ sai Tống-viết-Phúc, Lê-văn-Duyệt đem thêm quân đến Thị-dã, đều theo tiết chế Thành. Thành bèn lưu Duyệt đóng quân án ngữ ở Thị-dã, mà Thành thì đem quân qua núi Bột-khê, hơn hai trăm dặm đường, cứ rấn cơn mưa mà đi, vòng qua Đăng-trại đến sau lưng đồn giặc phóng hỏa đốt trại. Mặt trước Lê-văn-Duyệt thừa thắng đánh ập vào. Quân giặc tan chạy.\nTrận này, Thành và Duyệt cùng làm đại-tướng, cưỡi voi cầm cờ, trỏ bảo các tướng. Thành tính hay rượu, lúc sắp vào trận, cầm hồ rót uống, lại rót một chén đưa cho Duyệt, bảo rằng: “Uống chén này lại càng hăng hái thêm lên.” Duyệt cười mà rằng: “Có nhát, thì mới phải mượn rượu, chớ như trong con mắt tôi chẳng cho quân giặc vào đâu, cần gì phải mượn rượu.” Thành có ý thẹn, bởi thế căm giận Duyệt.\nKhi ấy, Thế-tổ sắp khởi trận hỏa-công ở cửa bể Thi-nại, bèn mật báo Thành đem bộ-binh đêm đánh trận giặc, để cho quân giặc mải chống giữ, thì mặt thủy-quân đánh xông vào. Võ-văn-Dũng phải bỏ thủy-đồn mà chạy.\nKhi Thế-tổ đem thủy-quân ra đánh Phú-xuân, lưu Thành đóng quân ở Vân-sơn, để chống nhau với giặc. Lại sai đem ấn sắc đến nơi quân-thứ phong cho Thành tước Quận-công.\nThành cùng Duyệt hội quân hai mặt đánh thành Bình-định. Diệu, Dũng hết lương ăn, đương đêm bỏ thành lẻn qua đường rừng trốn chạy. Thành chiêu hàng dư-đảng được 3000 người, phụng mệnh ở lại trấn thủ.\nThành học sách vở thông thái, am hiểu chính-thể, trong hàng chư tướng, đức Thế-tổ trọng thành hơn cả; không cứ việc nhớn, việc nhỏ, thường hỏi đến Thành để quyết định.\nTháng bảy năm Nhâm-tuất đức Thế-tổ định xong Bắc-thành, triệu Thành cho làm Tổng-trấn, cả thảy 11 trấn đều thuộc về cả.\nNăm Gia-long thứ bảy, Bắc-thành bốn trấn nổi giặc, giả danh tôn Lê. Thành làm khúc hát “Điểm-mê” để hiểu dụ. Dân gian có người làm khúc “Tố-khuất”, đổ tội quan-lại nhũng nhiễu, cho nên nổi giặc. Thành sức các địa-phương quan đi hiểu dụ khắp mọi nơi, và sai các tướng tiến tiễu, đều dẹp yên cả.\nNăm thứ mười, Thành phụng mệnh sung chức Tổng-tài sửa lại luật lệ, định thành 20 quyển, 398 điều, tâu xin in cả để thi hành.\nNăm thứ mười ba, gặp tang đức Thừa-thiên hoàng-hậu (sinh ra ông hoàng-tử Cảnh), đức Thế-tổ muốn để ông hoàng-tử đệ-tứ (đức Minh-mệnh) làm thừa tự, vào chủ tế. Thành ngại rằng lòng văn tế khó xưng hô, đức Thế-tổ bảo rằng: “Con phụng mệnh cha, để mà tế mẹ, danh chính ngôn thuận, can gì mà không nên.” Nhưng Thành vẫn có ý bất mãn. Sau đó khi đương buổi triều, đức Thế-tổ hỏi Thành rằng: “ Nay hoàng-tôn Đán (con ông hoàng-tử Cảnh) còn nhỏ, trong hàng các con, nên lập ai là phải?” Thành thưa rằng: “ Đích-tôn thừa trọng, mới là chính lễ. Nay bệ-hạ muốn chọn người khác, biết con chẳng ai bằng cha, chúng tôi không dám dự đến việc đó.”\nTừ đấy Thành vào triều kiến, thường tâu xin lập ngôi chừ-nhị,\n[49] đức Thế-tổ nín nặng. Thành lại càng nghi sợ.\nCon Thành là Thuyên đỗ Cử-nhân khoa Quí-dậu, hay làm văn thơ, giao thông tân khách, nghe thấy Nguyễn-văn-Khuê, Nguyễn-đức-Nhuận là người Thanh-hóa, hay chữ có tiếng, mới làm một bài thơ sai tên môn-hạ Nguyễn-trương-Hiệu cầm ra mời vào chơi. Hiệu đem bài thơ ấy đưa cho Hình-bộ Thiêm-sự Nguyễn-hựu-Nghi. Nghi vốn oán Thành, xui Hiệu cầm bài thơ ấy mách Lê-văn-Duyệt. Duyệt với Thành hai người vốn không hòa với nhau, mới cầm bài thơ vào triều mật tâu: “Thuyên làm thơ có ý bội nghịch.”\n[50] Đức Thế-tổ cũng không hỏi chi. Sau Hiệu cứ giữ mãi bài thơ ấy làm chứng, đón Thành đi chầu về, nắm áo đòi tiền hối-lộ. Thành bất đắc dĩ phải bắt Hiệu và Thuyên tống ngục, liền vào chầu tâu vua, đức Thế-tổ cho là chứng cứ chưa rõ, tha tội cho Thuyên, mà Thành vẫn tại chức như cũ.\nSau lại có kẻ hạch Thành bất pháp, Lễ-bộ các Thành không được dự tế Nam-giao. Đức Thế-tổ lại sai Lê-văn-Duyệt xét lại án người Thuyên. Thuyên phải thú phục. Thành sợ hãi xin chịu tội. Quần thần đều xin đem Thành tống ngục, đức Thế-tổ nói rằng: “Thành đâu có tội, nhưng cứ lễ đãi kẻ đại-thần, phải nên xử một cách riêng.” Bèn sai thu cả ấn sắc của Thành, cho về ở nhà. Quần-thần lại tâu: “Cha con Thành, cứ phép nên xử tử.” Gặp khi ấy ngoài Bắc-thành kết án Lê-duy-Hoán mưu phản, đệ vào kinh để Hình-bộ xét lại. Duy-Hoán lại chiêu xưng là tự Thuyên xui làm phản. Đình-thần xin bắt Thành và cả các con giam ở nhà Thị-trung quân-xá. Các đình-thần họp lại tra hỏi Thành có làm phản không? Thành thưa rằng: “Không.” Khi Thành trở ra, bảo quan Thống-chế Hoàng-công-Lý rằng: “Thế là thành án rồi, vua bắt tôi chết, tôi không chết, không phải là trung thần.” Rồi liền uống thuốc độc mà chết, thọ 60 tuổi. Khi ấy có tên lính thư-lại nhặt được tờ biểu trần-tình của Thành để lại, Hoàng-công-Lý đem dâng lên, trong tờ biểu có câu rằng: “Sớm rèn tối luyện, kết thành tội cực ác cho cha con tôi, không còn kêu oan vào đâu được nữa, chỉ có chết mà thôi.” Đức Thế-tổ xem tờ biểu, thương tình, sa hai hàng lụy, rồi phán Lễ-bộ xuất tiền kho làm ma tử tế.\nThành có tài lược kiêm cả văn, võ, lâm trận dùng binh, định mưu trước rồi mới đánh, cho nên ít khi thua, huân lao rất to. Còn như mưu mô việc miếu đường, Thành điều trần được nhiều việc, đều thứ đệ thi hành cả, thực là có mưu xa kinh lý việc nước.\nNăm Minh-mệnh thứ mười bốn, nghịch Ngôi khởi loạn ở thành Phiên-an, vì có tên Hàm (con Thành) tùng ngụy, xuống chiếu bắt cả lũ con Thành giết sạch. Đến năm Tự-đức mới lại được truy phục chức tước.\nLê-văn-Duyệt tổ-tích nguyên người Quảng-nghĩa, cha là Toại, thiên cư vào ở Định-tường, sinh được 4 giai, Duyệt là con trưởng. Khi sinh ra vốn người ái-nữ, hình thể ngắn ngủn, nhưng có tài tinh nhanh, sức khỏe mạnh. Khi 14,15 tuổi, thường than rằng: “Sinh ở đời loạn, mà không hay kéo cờ gióng trống làm đại-tướng, để lưu công danh ở sử sách, thì không phải là tài giai.”\nNăm Canh-tí, đức Thế-tổ lên ngôi vua tại Gia-định. Duyệt mới 17 tuổi, được sung làm Thái-giám nội-đình, sau được thăng làm cai-cơ, quản hai đội quân thuộc-nội, theo hầu đức Thế-tổ sang Xiêm-la.\nNăm Đinh-mùi, đức Thế-tổ về thu phục Gia-định, Duyệt thường theo đi chiến trận, cùng chư-tướng bàn luận việc binh, đức Thế-tổ thấy vậy lấy làm trọng, thung dung hỏi rằng: “Ngươi cũng biết việc binh à?” Duyệt thưa rằng: “Biết.” đức Thế-tổ nói: “Binh-cơ là việc lớn, ngươi sao lại nói khinh dị làm vậy?”, Duyệt thưa: “Sơn-tặc là quân vô đạo không bao lâu nữa cũng tự-diệt mà thôi. Nay ta lấy người nhân mà đánh kẻ bạo, thế như chẻ tre, tôi không có gì làm khó cả.”\nNhân xin mộ binh theo về cánh Tả-quân, rồi phụng mệnh ra đánh Qui-nhơn, được thăng làm thượng-nội vệ-úy, theo về quân Thần-sách.\nNăm Kỷ-mùi, đức Thế-tổ sai Duyệt và Tống-viết-Phúc đem quân ra án ngữ Bình-đề. Khi ấy đức Thế-tổ nghe tin có mấy vạn quân Tây-sơn kéo vào đánh, ngài sai Trung-sứ ra hỏi tình trạng. Duyệt cùng Viết-Phúc tâu rằng: “Có hai chúng tôi ở đây, chẳng lo sợ gì giặc.” Lại trỏ núi trước mặt nói rằng: “Đây là chốn hai chúng tôi cùng liều sống thác với giặc đó.” Trận ấy quả nhiên thu phục được Qui-nhơn.\nNăm sau, tướng Tây-sơn lại vào vây Qui-nhơn, quan quân ra cứu viện chỉ lênh đênh ngoài bể, không đánh vào được cửa bể Thi-nại. đức Thế-tổ muốn dùng chước hỏa-công, bèn sai Duyệt cùng Võ-di-Nguy đem thủy-quân xông vào đánh, quân giặc ở trong đồn bắn xuống như mưa, Di-Nguy bị đạn ngã lăn xuống nước. Duyệt cũng không đoái lại nhìn chi, chỉ gia sức xông vào mà đánh. Đức Thế-tổ thấy tướng-sĩ chết hại nhiều, ba lần cho tên tiểu-sai truyền dụ bảo Duyệt tạm lui quân. Duyệt nhất định xin liều chết mà đánh, bảo tên tiểu-sai rằng: “Tôi xin cứ tiến vào, chớ không lui.” Liền thúc ngựa xông vào cửa bể, thuận gió tung lửa ra đốt hết thuyền giặc. Trận này ở sử cho là một trận\n*võ-công đệ-nhất*, khi ấy là 19 tháng giêng năm Tân-dậu.\nBấy giờ các tướng khuyên đức Thế-tổ đem quân ra đánh úp Phú-xuân, nhưng ngài còn dùng dằng chửa quyết, Duyệt tâu rằng: “Việc binh quí hồ thần tốc, mưu mô cốt phải quả quyết. Nay đóng quân mãi ở đây, thời mỏi mệt mà vô công; tiến ra lấy được Phú-xuân, thời thành Bình-định này không phải đánh mà tức khắc giải vây; đó là một trước đánh cờ thí xe vậy.” Đức Thế-tổ nghe lời, quả nhiên thu phục được Phú-xuân.\nNăm Nhâm-tuất, Gia-long nguyên niên, Duyệt được thăng làm Khâm-sai chưởng Tả-quân doanh Bình-sơn tướng quân, tước quận-công, cùng Lê-chất đem bộ-binh đi tiên phong, dẹp yên Bắc-hà.\nKhi ấy có vua Chân-lạp là Nặc-chân phải Xiêm-la đánh đuổi, chạy sang Gia-định. Đức Thế-tổ cho Duyệt vào làm Tổng-trấn Gia-định, để điều đình xử lý việc Xiêm, Lạp, và đưa Nặc-chân về nước. Duyệt tâu xin đắp thành Nam-vang (Phnom-Phenh), thành Lư-yêm để lưu quân bảo hộ Chân-lạp.\nTrước kia Duyệt vốn là tì-tướng, thường phải theo tiết chế Nguyễn-văn-Thành. Lúc lâm trận, tính Thành thường hay trì trọng, mà Duyệt thì quả cảm hăng hái, thường lập được công to, uy danh lừng lẫy cũng bằng Thành. Nhưng Thành gét Duyệt là người quyến giới, bởi thế hai người không hòa với nhau.\nKhi ấy có người Thanh-hóa là Nguyễn-hựu-Nghi trước làm môn-khanh Nguyễn-văn-Thành, vì phải quở trách, trốn sang làm môn-hạ Duyệt. Nghi lại sai tên Nguyễn-trương-Hiện sang theo hầu Thuyên là con Thành, để rình xem Thuyên làm những điều gì. Sau Hiệu lấy được một bài thơ đem đưa cho Nghị. Nghị nói với Duyệt rằng: “Con Thành là Thuyên làm thơ chiêu dụ người đồng quận, lời rất bội nghịch.” Duyệt tin lời Nghi, mật đem bài thơ ấy tâu vua; việc án Thuyên gây ra từ đó.\nNăm Minh-mệnh nguyên niên, Duyệt lại vào trấn thủ Gia-định, dẹp yên giặc sư Kế ở Chân-lạp.\nNăm Minh-mệnh thứ 13, Duyệt thấy ngoài Bắc-thành, chia thành tỉnh, bãi chức Tổng-trấn; chỉ duy thành Gia-định còn có Duyệt cho nên chưa bãi. Duyệt nghĩ mình già yếu, dâng sớ xin từ chức, vua không cho.\nNgày 30 tháng 7 năm ấy (1832), Duyệt mất, thọ 69 tuổi. Duyệt làm việc hay tự chuyên, dụng binh hay quá lạm. Nhưng một lòng báo quốc, phấn chấn chẳng nghĩ chi đến mình, vậy nên được lòng kẻ tướng-sĩ, đem quân đi đánh, không thua trận nào.\nThủy chung bốn lần đi dẹp giặc mán Vách-đá ở Quảng-nghĩa, quân mán rợ đều khiếp sợ uy phong, hễ kéo quân đến thì giặc mán đều tan trốn cả.\nKhi ra kinh lược Thanh, Nghệ, những kẻ đào-phạm ở Bắc-thành cùng kẻ thổ-tù ở mặt thượng-đạo đều về đầu thú.\nHai lần trọng trấn Gia-định, hưng lợi, trừ hại, dẹp giặc, yên dân, uy danh lừng lẫy, người Xiêm khiếp sợ, hễ khi nào có sứ bộ sang, thì người Xiêm lại hỏi thăm rằng: “Lê-công có được mạnh khỏe không?”\nDuyệt mất rồi, thành Gia-định đổi tên thành Phiên-an, đặt ra Tổng-đốc, Bố-chính, Án-sát, Lãnh-binh. Khi ấy Bố-chính là Bạch-xuân-Nguyên sách nhiễu tham lam, tự xưng là phụng mật-chỉ truy xét việc riêng của Duyệt, sai bắt lũ Lê-văn-Khôi\n[51] là bộ-hạ Duyệt để tra hỏi. Khôi sợ phải tội, mưu làm phản; đêm hôm 18 tháng 5 năm Minh-mệnh thứ 14, Khôi ngầm dụ đảng lính Bắc-thuận [52] 27 người vào thành giết Bố-chính Bạch-xuân-Nguyên và Tổng-đốc Nguyễn-văn-Quế, chiếm giữ thành Phiên-an. Quan quân đánh mãi không phá được, đến năm Minh-mệnh thứ 16 mới dẹp yên. Đức Minh-mệnh truy trách là tại Duyệt nuôi lũ phỉ-đảng để gây nên vạ. Các quan nội-các đều dâng sớ kể tội Duyệt. Đình-thần nghĩ xử kết án Duyệt đáng tội trảm 7 điều, tội giảo 2 điều. Sau xử án Duyệt phải truy đoạt quan tước, cuốc phẳng mộ-địa, dựng bia đề tám chữ: “ *Quyền yêm Lê-văn-Duyệt thụ pháp xứ*.” Con nuôi và cháu là Hán, Yên Tề đều phải xử tử.\nMộ Duyệt ở Gia-định, từ đấy thường khi trời tối, đêm khuya, trong mộ hình như có tiếng quỉ khóc, hoặc tiếng người, tiếng ngựa ồn ào, nhân dân ở đấy không ai dám đến gần. Đến sau sai quan địa-phương bỏ cái bia dựng ngày trước đi, và cho con cháu được xây mộ lại, thì tiếng khóc ban đêm mới thôi.\n\nVề đời vua Hùng-vương thứ ba. Vua có một người con gái tên là Tiên-Dong, mới 18 tuổi, nhan sắc xinh đẹp, không muốn lấy chồng, chỉ thường đi chơi các sông núi xem phong cảnh. Vua yêu nàng ấy, mặc ý cho đi chơi không cấm. Mỗi năm trong tuần tháng hai tháng ba, bơi thuyền chơi ở mạn sông làng Chử-xá (tức là làng Chử-xá, huyện Văn-giang bây giờ).\nỞ làng ấy có một người tên là Sử-cù-Vân và người con là Sử-đồng-Tử. Hai cha con thiên tính từ hiếu, gặp khi nhà phải hỏa tai, của cải hết sạch cả, chỉ còn một cái khố vải, cha con thay đổi nhau, ai đi đâu thì đóng. Đến khi Cù-Vân phải bệnh, dặn con rằng:\n- Tao mà chết đi rồi, thì cứ táng trần cho tao, còn cái khố đấy để cho mày.\nCù-Vân mất, Sử-đồng-Tử không nỡ để cha chết truồng, lấy khố quàng cho cha rồi mới chôn. Còn mình thì trần truồng, đói rét khổ sở, ngày ngày đứng náu hình bên sông, chờ có thuyền buôn qua lại thì xin, hoặc là câu cá bán để độ thân.\nMột hôm, nàng Tiên-Dong bơi thuyền đến chơi bến làng Chử-xá, chiêng trống om thòm, đàn sáo rầm rĩ, cờ tán rợp đất, lính tráng rất đông. Sử-đồng-Tử trông thấy sợ hãi ẩn vào trong bãi lau sậy, cào cát lên nép mình xuống dưới, rồi lại lấy cát trùm lên trên.\nTiên-Dong bơi thuyền đến bến ấy, nhìn trông phong cảnh vui đẹp, mới lên bãi cát đứng xem, thấy chỗ ấy sạch sẽ, giăng màn tứ vi trên bãi cát để tắm, Tiên-Dong vào màn, cởi áo xiêm tắm táp một hồi lâu, giội nước trôi cát, Sử-đồng-Tử chồi lên. Tiên-Dong trông thấy giật mình, nhìn ra biết là người con giai, mới gọi hỏi căn cớ làm sao, thì Đồng-Tử cũng thú thật cả đầu đuôi làm vậy.\nTiên-Dong bảo rằng:\n- Ta nguyên không muốn lấy chồng, nay sự đã thế này, tất là Nguyệt-lão xe duyên đây.\nMới sai Đồng-Tử tắm táp, ban cho quần áo, đem xuống thuyền ăn yến vui vẻ. Người trong thuyền ai cũng cho là sự kỳ dị.\nĐồng-Tử nhất định xin từ, không giám lấy, Tiên-Dong bảo rằng:\n- Thiếp với chàng là tự giời xe duyên, can gì mà từ.\nĐồng-Tử từ mãi không được phải nghe. Từ bữa ấy hai người kết làm vợ chồng.\nCó người về tâu với vua Hùng-vương, vua nổi giận nói rằng:\n- Tiên-Dong không biết tiếc danh giá, chơi bời đường-xá, lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà nhìn đến ta!\nTiên-Dong vì thế sợ hãi không dám về, mới cùng với Đồng-Tử lập ra phố xá buôn bán với dân. Buôn bán mỗi ngày một thịnh, dần dần thành ra một làng. Các khách buôn bán ngoại-quốc qua lại, ai cũng coi bà Tiên-Dong làm chủ cả vùng ấy.\nCó một người lái buôn bảo với Tiên-Dong rằng:\n- Nếu được trăm cân vàng, cho người đi với tôi ra ngoài bể, buôn những đồ quí sang năm tất được lãi gấp mười.\nTiên-Dong mừng rỡ, bảo với Sử-đồng-Tử rằng:\n- Vợ chồng ta là tự giời giắt lại, cơm ăn áo mặc cũng là tự giời cho, vậy thì chàng nên đem vàng ra bể mà buôn.\nSử-đồng-Tử đem vàng đi với người lái buôn ra ngoài bể, đến núi Quình-lãng, trông lên trên núi có một am nhỏ. Đồng-Tử trèo lên xem phong cảnh. Trong am có một nhà sư còn trẻ, tên là Phật- Quang, thấy Đồng-Tử có cách điệu thần tiên, muốn truyền phép cho Đồng-Tử. Đồng-Tử ở liền ngay đấy học đạo. Được hơn một năm, Đồng-Tử trở về, Phật-Quang tặng cho một cái gậy, một cái nón, và dặn rằng:\n- Phép linh thông ở cả cái gậy và cái nón này.\nĐồng-Tử vâng lĩnh từ về, đem phật đạo về dạy Tiên-Dong, Tiên-Dong tỉnh ra, mới bỏ cửa hàng buôn, hai vợ chồng rủ nhau đi học đạo. Một hôm đi xa, giời đã tối mà chưa đến chỗ nghỉ. Canh ba đêm hôm ấy, bỗng dưng hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện châu, kho, tàng, dinh, phủ, vàng bạc, châu báu, giường, sập, màn, trướng, lại có tiểu-đồng, ngọc-nữ, tướng-sĩ, thị vệ, hầu hạ xung quanh.\nSáng ngày mai, ai trông thấy cũng lấy làm lạ lùng kinh hãi, tranh nhau mang hương hoa ngọc-thực đến dâng. Lại có đủ văn-quan, võ-tướng, chia quân canh giữ các cửa thành, tựa hồ một nước.\nVua Hùng-vương thấy truyện làm vậy, cho là làm loạn, sai quan quân đến đánh. Khi quan quân sắp đến nơi, chúng tâu xin đem quân ra cự.\nTiên-Dong cười nói rằng:\n- Việc này không phải tại ta làm ra, bởi tự giời xui nên thế. Ta dù sống chết đã có giời, dám đâu cự nhau với cha? Ta chỉ thuận theo lẽ phải, mặc ý cha ta giết chết cũng cam tâm.\nKhi quan quân tiến đến, đóng ở châu Tự-nhiên (bây giờ gọi là Khoái-châu-phủ), còn cách bên này một con sông. Giời đã tối, quân chưa kịp sang sông. Đến nửa đêm, bỗng nhiên giời nổi dông gió, bay cát đổ cây, rồi thì cả một khu bà Tiên-Dong ở, cửa nhà, người, giống súc vật, trong một lúc bay cả lên giời; chỉ còn bãi đất không ở lại trông đầm mà thôi. Bởi thế bãi ấy gọi là bãi Tự-nhiên, đầm ấy gọi là đầm Nhất-dạ (một đêm).\nDân ở đấy thấy sự lạ lùng, mới lập miếu để thờ. Về sau, vua Triệu-việt-vương đóng binh trong đầm, cự nhau với quân nhà Lương. Tướng nhà Lương là Trần-bá-Tiên đánh mãi không được. Đến lúc Bá-Tiên trở về, ủy cho tì-tướng là Dương-Sàn vây đánh. Triệu-việt-vương thiết đàn trong đầm cầu khấn, xin thần giúp cho. Bỗng thấy một ông thần (tức là Sử-đồng-Tử) cưỡi rồng xuống đàn, bảo rằng:\n- Ta tuy đã lên giời, nhưng uy linh vẫn còn ở đây, ngươi có lòng thành cầu đến ta, vậy ta xuống giúp.\nNói đoạn, nhổ một cái vuốt chân rồng, trao cho Triệu-việt-vương và dặn rằng:\n- Ngươi lấy cái vuốt rồng này, cắm lên chỏm mũ đầu-mâu, thì đi đến đâu, giặc phải tan đến đấy.\nNói vừa dứt nhời, rồng bay vụt lên giời biến mất. Triệu-việt-vương nghe nhời, cắm vuốt rồng lên trên chỏm mũ, tự bấy giờ sức khỏe hơn trước, thanh thế mỗi ngày một to, mới đem quân ra đánh nhau với Dương-Sàn, chém được Dương-Sàn tại trước trận, quân nhà Lương phải tan chạy hết về Tàu.\nVề đời vua Hùng thứ sáu. Thiên-hạ thái-bình, dân-gian giàu có; vua không triều cống với nhà Ân bên Tàu. Vua nhà Ân thấy vậy, giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân sang cướp nước Nam.\nVua Hùng-vương lo sợ, vời quần-thần vào hỏi mẹo đánh giữ, có người phương-sĩ thưa rằng:\n- Bệ-hạ nên kêu với Long-quân, thì ngài sai thiên-tướng xuống giúp mới xong.\nVua nghe lời, lập đàn làm chay, cùng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng đâu giời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có một ông cụ già, cao lớn 9 thước, mặt mũi to nhớn, đầu bạc râu trắng, ngồi ở ngã ba đường cái, vừa cười vừa nói, ngợi hát mua mênh.\nAi trông thấy cũng cho làm lạ, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ ấy đến chỗ đàn làm chay, dâng cơm rượu thiết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống và cũng không nói năng câu gì.\nVua hỏi rằng:\n- Sắp có giặc Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế nào xin cụ bảo cho.\nÔng cụ lâu mãi mới nói rằng:\n- Sau ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp cả thiên-hạ, mà cầu lấy người kỳ-tài, phá được giặc, thì nên chia đất phong tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá giặc không khó gì nữa.\nNói đoạn, bay vụt lên giời biến mất.\nVua lấy làm lạ, mới tuân nhời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu người tài. Bấy giờ ở làng Phù-đổng, huyện Võ-ninh (bây giờ là Võ-giàng) có một ông nhà giàu, ngoại 60 tuổi, chỉ sinh được một người con giai, lên ba tuổi chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa, không ngồi đứng lên được. Khi sứ-giả đi cầu người tài, đến làng ấy, người mẹ cười mà nói bỡn con rằng:\n- Đẻ được một chút con giai, chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không được, thì đánh thế nào được giặc, để mà lĩnh thưởng của vua, đền công sinh dưỡng cho cha mẹ.\nNgười con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ-giả lại đây. Mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với người láng giềng. Người láng giềng thấy lạ truyện, xui người nhà thử gọi sứ-giả xem ra làm sao.\nKhi sứ-giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:\n- Tiểu-nhi kia, gọi ta đến làm gì?\nTiểu-nhi ngồi ngay dậy, bảo với sứ-giả rằng:\n- Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa sắt, cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước; và một cái nón sắt, đem lại đây cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy, vua can gì phải lo?\nSứ-giả mừng lắm, về tâu với vua.\nVua mừng rỡ bảo quần-thần rằng:\n- Đây là Long-vương cứu ta đây! Năm ngoái ông cụ già nói truyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hô nghi gì nữa!\nVua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem lại đưa cho tiểu-nhi. Sứ-giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói xằng thì vạ lấy đến cả nhà.\nTiểu-nhi cười ầm lên nói rằng:\n- Mẹ cứ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn việc đánh giặc, mẹ không phải lo.\nTiểu-nhi tự bấy giờ mỗi ngày một nhớn, cơm ăn áo mặc tốn lắm, mẹ tuy nhà giàu mà cũng không đủ nuôi cho con ăn, hàng-xóm láng-giềng, phải tư cấp giúp thêm; nào kẻ đỡ tiền thóc, người dâng rượu thịt, mà ăn vẫn không được no; vải lụa nhiều thế nào cũng mặc không đủ; cửa nhà ở cũng không vừa, phải ken cỏ lau lợp một cái nhà to để ngài ở.\nKhi giặc Ân kéo đến núi Châu-sơn (thuộc về huyện Tiên-du), thì sứ-giả đem ngựa kiếm đến nhà giao cho ngài. Ngài vươn vai đứng lên, cao hơn hai trượng, ngẩng mặt lên giời, gầm lên vài mươi tiếng, rồi rút thanh kiếm cầm trên tay quát to lên rằng:\n- Ta là thiên-tướng nhà giời đây!\nLập tức đội nón nhảy lên ngựa, quất ngựa tế đi. Ngựa hét ra lửa mà chạy như bay, chỉ chớp mắt đã đến chỗ quân đóng. Ngài trỏ gươm đi trước, quan quân kéo theo sau, tiến sát đến trại giặc. Giặc bày trận ở dưới chân núi Châu-sơn, ngài xông vào trận đánh giết một hồi lâu, gẫy mất cả kiếm, mới vớ lấy tre ở bên cạnh đường, cầm cả tảng tre mà quật vào đám giặc. Quân giặc tan nát tựa hồ đất lở ngói tan, tranh nhau lạy phục xuống đất, kêu rằng:\n- Lạy ngài, ngài là thần tướng trên giời, chúng tôi xin chịu hàng cả.\nKhi đánh đến núi Ninh-sóc, thì giặc đã tan hết cả rồi, ngài mới cởi áo bỏ đấy, rồi cưỡi ngựa bay lên giời. Đến bây giờ vẫn còn dấu người, ngựa ở trên núi.\nVua nhớ công, không biết lấy gì báo được, mới phong ngài làm Phù-đổng thiên-vương, lập miếu thờ ngay ở vườn nhà ngài khi trước, ban cho dân một trăm mẫu ruộng tự-điền bắt phải bốn mùa cúng tế.\nTừ đấy, giặc Bắc không dám sang xâm phạm nữa. Bốn phương nghe truyện làm vậy, đâu đâu cũng hòa hiếu với nước Nam.\nĐến đời nhà Lý, gia phong làm Sung-thiên thần-vương. Bây giờ vẫn còn thờ ở làng gióng, mà tượng thì tô ở trên núi Vệ-linh, mỗi năm đến tháng tư, dân làng ấy mở hội to lắm.\nNhững tre ngài nhổ lên đánh giặc, bây giờ thành rừng ở huyện Gia-bình, gọi là tre Đằng-ngà.\nChỗ con ngựa thét ra lửa, cháy mất một làng, cho nên bây giờ làng chỗ ấy gọi là làng Cháy.\nNúi Tản-viên thuộc về huyện Phúc-lộc (bây giờ là huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây), có ba tầng cao chót vót, hình như cái tán, cho nên gọi là núi Tản-viên.\nTục truyền thần núi ấy khi xưa là dòng dõi vua Lạc-long. Nhà nghèo, vào rừng kiếm củi, chặt một cây cổ-thụ, hôm sau lại có sao Thái-bạch xuống cứu cây ấy sống lại, rồi cho ngài một cái gậy, và dặn rằng: “\n*Gậy này có phép cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau, chỉ cần gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế*.” Ông ấy nhận cái gậy, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một hôm, đi qua bờ sông thấy lũ trẻ chăn trâu, đánh chết một con rắn. Ông ấy trông trên đầu con rắn có chữ *vương*, biết là rắn lạ, mới cầm gậy gõ vào đầu rắn, thì con rắn ấy sống lại, bò xuống sông mà đi mất.\nĐược vài hôm, bỗng có một người con giai, đem đồ vàng, ngọc, châu báu đến nói rằng:\n- Thưa ông, tôi là Tiểu-long-hầu, con vua Long-vương bể Nam. Bữa trước tôi đi chơi trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết, nhờ có ông cứu cho mới được sống, vậy tôi có của này đến tạ ơn ông.\nÔng ấy nhất định không lấy, Tiểu-long-hầu mới cố mời ông ấy xuống chơi dưới bể, đưa ra một cái ống linh tê, để ông ấy rẽ nước đi xuống. Long-vương thấy ngài xuống chơi, lấy làm mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba ngày, rồi đưa tiễn những của quí lạ, ông ấy cũng nhất định không lấy gì cả, Long-vương mới biếu một quyển sách-ước, ông ấy nhận sách đem về, giở ra xem, muốn ước phép nào cũng được. Từ bấy giờ cứu được cho dân nhiều lắm, mà các phép thần thông biến hóa, không thần thánh nào theo kịp.\nKhi ngài đã thành thần rồi, đi qua cửa bể Thần-phù lên mạn ngược, tìm chỗ nào cao ráo, phong quang, và được thói dân thuần hậu thì mới ở. Khi đến Thăng-long, xem dân tình ăn ở phù hoa, không bằng lòng mới bỏ mà lên huyện Phúc-lộc, thấy chỗ ấy có núi Tản-viên, ba từng núi xòa xòa, hình như cái tán, phong cảnh vui vẻ, thần mới hóa phép làm một con đường về phía Nam núi, thẳng tự bến Phan-tân đến Tản-viên. Đường qua cánh đồng làng Vệ-đỗng và làng Nham-toàn, hóa phép hiện ra lâu đài để nghỉ ngơi. Lại qua cánh đồng Thạch-bạn, Vân-mông, rồi lên mãi từng núi cao nhất để ở.\nThần tự khi ở núi ấy, thường thường ra chơi sông Tiểu-hoàng xem cá. Chỗ nào có phong cảnh đẹp cũng đến chơi. Chơi đến đâu lại hiện ra đền đài đến đấy để nghỉ ngơi. Các làng trông thấy chỗ nào có dấu đền đài, thì lại lập đình miếu để thờ.\nBấy giờ vua Hùng-vương có người con gái tên là Mị-nương, nhan sắc rất đẹp, thần núi và vua thủy cùng hỏi xin lấy làm vợ. Vua Hùng-vương nói rằng:\n- Một thuyền-quyên không có lẽ sánh được hai anh-hùng, vậy thì ngày mai, ai đem được đủ đồ lễ đến trước thì ta gả cho.\nSáng ngày mai, thần Tản-viên đem những đồ vàng bạc châu báu, cùng các giống chim quí thú lạ lại dâng.\n[53] Vua Hùng-vương y ước gả cho, thần mới đón nàng Mị-nương về ở trên đỉnh núi Tản-viên.\nVua thủy đem đồ lễ đến sau, thấy thần núi đã rước dâu về rồi, tức giận lắm, mới làm ra mưa to gió nhớn, và dâng nước lên để đuổi theo cướp về.\nThần núi thấy vậy, làm ra lưới sắt, chắn ngang đường thượng-lưu huyện Từ-liêm. Vua thủy lại đi đường khác, tự sông Lý-nhân vào sát chân núi Quảng-oai, men bờ lên cửa sông Hát-giang, rồi ra sông Lư, vào sông Đà để đánh mé sau núi Tản-viên. Lại mở ra các sông nhỏ, để đem nước vào đánh mé trước núi. Đi qua các làng Cam-giá, Đông-lân, Cổ-nhạc, My-xá, đi đến đâu xoáy nước xuống thành vực, để làm cho các giống thủy-tộc ở, rồi tiến nước lên đánh nhau với thần núi. Thần núi thì bảo dân xung quanh đến đan phên chắn nước và dùng cung nỏ bắn xuống; lại sai các loài hùm, beo, voi, gấu, bẻ cây cối vận đá ném xuống sông. Mỗi phen đánh nhau, mưa gió sấm chớp ầm ầm, giời đất mù mịt. Đánh nhau xong rồi, thì thấy những loài cá, ba-ba, thuồng-luồng, chết nổi cả trên mặt sông. Từ đấy hai thần thù nhau, mỗi năm đánh nhau một chuyến.\nThần núi linh ứng lắm. Phàm khi nào đảo mưa cầu tạnh, cũng thường ứng nghiệm. Ai nhờn nhỡ đến thì có tai nạn ngay. Mỗi khi tạnh giời, thần thường hiện hình chơi các nơi khe suối, có đám mây phủ như hình tán quạt.\nKhi nước Nam nội-thuộc nhà Đường, Cao-Biền sang làm Đô-hộ, muốn trấn yểm các nơi linh-tích, bắt đứa con gái 17, 18 tuổi chưa có chồng, cho ăn đồ hoa quả, mặc áo xiêm lịch sự, đặt lên ngồi trên ngai, giết trâu bò tế bái để cho thần phụ vào người con gái ấy, rồi rình khi cất nhắc chân tay, thốt nhiên chém đi. Thường hay dùng thuật ấy để trấn áp bách thần. Khi Biền dùng mẹo ấy cúng thần Tản-viên, thì thần cưỡi ngựa trắng ngồi trên đám mây nhỏ vào cỗ tế mà đi.\nCao-Biền than rằng:\n- Linh khí nước Nam còn thịnh vượng lắm, không tài nào mà trừ được!\nThần có phép lạ, biến hóa không biết đâu mà lường. Quan Hàn-lâm là Nguyễn-sĩ-Cố về thời nhà Trần phải đi dẹp giặc, đi qua đền ngài, đem lễ vào khấn, rồi đề một bài thơ rằng:\n*Non ngất, thần thiêng, lẫm liệt thay!Động lòng đã thấu tới cao dày,Mị-nương cũng hiển oai linh lắm,Xin giúp thư-sinh một chuyến này.*\nVề cuối thời vua Hùng-vương, ở làng Thụy-hương (tục gọi là làng Chèm), huyện Từ-liêm, có một người họ Lý tên Thân, hiệu là Ông-Trọng. Cao 2 trượng 6 thước, khỏe mạnh tuyệt trần. Thuở còn hàn vi, nhân có sự giết người, đáng phải tội chết. Vua thấy người cao lớn lực lưỡng, không nỡ giết. Đến đời vua An-dương-vương, vua Thủy-hoàng nhà Tần đem binh sang xâm nước Nam. An-dương-vương xin hàng, rồi đem Lý-ông-Trọng sang cống bên Tàu. Thủy-hoàng được Ông-Trọng mừng lắm coi như của rất quí trong đời, dùng ngay làm Tư-vệ hiệu úy.\nĐến khi Thủy-hoàng đem binh đi đánh dẹp thiên-hạ, thì sai Ông-Trọng trấn thủ đất Lâm-thao, để phòng quân rợ vào quấy nhiễu. Ông-Trọng hùng-dũng, tiếng lừng lẫy một vùng, rợ Hung-nô không dám bén mảng đến cửa ải. Thủy-hoàng mới phong thêm cho Ông-Trọng làm Phụ-tín hầu.\nVề sau, Ông-Trọng cáo lão về nước nhà hưu dưỡng. Không được bao lâu, rợ Hung-nô thấy vắng Ông-Trọng lại vào quấy nhiễu các sứ biên-thùy. Thủy-hoàng nhớ đến Ông-Trọng, sai người sang vời, thì bấy giờ người đã mất rồi.\nSứ-giả về tâu lại, Thủy-hoàng phàn nàn thương tiếc vô cùng, mới đúc tượng Ông-Trọng bằng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư-mã cung Hàm-dương. Trong bụng để rỗng, có máy vặn cho chân tay động đậy được. Thường khi sai vài chục người chui vào trong tượng đồng vặn máy cho rung động, người rợ Hung-nô qua lại, tưởng là Ông-Trọng còn sống, không dám vào quấy nhiễu nữa.\nĐến đời nhà Đường, Triệu-Xương sang làm Đô-hộ, nằm mơ thấy một người to tát cao nhớn, đến chơi bàn giảng nghĩa sách Xuân-thu, Tả-truyện. Hỏi tên họ thì nói là Lý-ông-Trọng ở làng Thụy-hương. Triệu-Xương tỉnh dậy, ngày mai hỏi thăm đến chơi tận làng ấy, tra hỏi sự tích, rồi lập miếu ngay tại khu nhà cũ ông ấy để thờ. Khi sau Cao-Biền sang đánh nước Nam-chiếu, Ông-Trọng hiển linh giúp Cao-Biền, phá giặc thành công. Cao-Biền mới sai sửa sang lại đình đài, tạc gỗ tô tượng, gọi là đền “\n*Lý-hiệu-úy*.”\nTừ bây giờ giở đi, thường linh ứng lắm, dân xã có việc gì cầu đảo đến cũng nghiệm. Lịch-triều cũng phong tặng làm linh-ứng thượng-đẳng-thần. Vì ở làng Chèm cho nên tục gọi là Thánh Chèm.\nKhi xưa có người tên là Tô-Lịch, làm quan Lịch ở huyện Long-đỗ, nhà ở cạnh con sông nhỏ. Nhà ấy ba đời nhân nhượng ở chung với nhau, được cất lên đỗ khoa Hiếu-liêm, và được tinh hiểu cửa nhà, vì thế ở làng ấy cũng đặt là làng Tô-lịch.\nĐến đời vua Mục-tôn nhà Đường, Lý-nguyên-Gia sang làm Đô-hộ, lập dinh phủ ở trong thành Long-biên. Nguyên-Gia thấy cửa bắc thành ấy, có con sông chảy ngược, sơ người sinh ra bụng làm phản, muốn cắm phủ chỗ khác, mà đắp ra thành La-thành.\nKhi sắp xây thành, lập dinh ở cạnh sông Tô-lịch, rót rượu dâng khấn, xin ông Tô-lịch làm thành-hoàng ở thành ấy.\nĐêm nằm mơ thấy thần bảo rằng:\n- Sứ-quân sai tôi làm chủ thành này, vì dù tôi dạy dỗ được dân, để cho biết giữ đạo trung hiếu, thì phải lập miếu mà thờ tôi.\nNguyên-Gia xin vâng nhời. Từ đấy dân gian an nghiệp, không ai sinh ra bụng phản nghịch. Nguyên-Gia mới đắp ra thành nhỏ để ở, và lập miếu để thờ Tô-lịch.\nKhi Nguyên-Gia mới đắp thành có thầy-tướng bảo rằng:\n- Tôi xem tướng ông không đắp nổi thành to đâu, sau năm mươi năm nữa, tất có một người họ Cao, đóng đô lập phủ ở đây, mới đắp nổi được.\nĐến thời vua Ý-tôn nhà Đường, nước Nam-chiếu làm phản, vua nhà Đường sai Cao-Biền sang đánh, dẹp yên được giặc, mới đặt ra Tĩnh hải-quân, mà phong cho Cao-Biền làm Tiết-độ-sứ. Cao-Biền nhân thế giữ phủ Giao-châu, tự xưng là Cao-vương.\nCao-Biền thông hiểu thiên-văn, địa-lý, xem xét tình thế, nhân chỗ thành nhỏ của Nguyên-Gia, đắp rộng thêm ra gọi là Đại-la-thành, chu vi 8.000 bộ.\nMé bắc thành ấy có con sông tự sông Lư (sông cái) vào mé tây-bắc, rồi chảy xuống phía nam, vòng quanh La-thành, rồi lại đổ vào sông Cái. Mỗi năm đến tháng sáu mùa mưa, nước sông tràn lên mênh mông. Có một khi Cao-Biền ngồi thuyền chơi trong sông, bỗng thấy một ông cụ già, đầu bạc phơ phơ, râu mày trắng xóa, hình dung kì dị, đang bơi tắm ở trong sông, cười nói vui vẻ lắm. Biền lấy làm lạ, hỏi tên họ, thì nói là họ Tô tên Lịch; hỏi chỗ ở thì nói là ở trong sông. Nói đoạn, vỗ tay cười ầm cả lên, rồi tự nhiên giời đất tối xầm, ông cụ ấy biến mất.\nCao-Biền biết là thần, nhân thế gọi sông ấy là sông Tô-lịch.\nLại một buổi sớm, Cao-Biền đứng ở cửa đông nam La-thành trông ra sông Tô-lịch, thấy trong sông nổi cơn gió to, sóng đánh bồn cồn, mây kéo mù mịt, rồi có một người dị dạng, đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng; mình mặc áo vàng, đầu đội mũ đỏ, tay cầm một cái hốt vàng, có bóng thấp thoáng như mây phủ, mãi đến lúc mặt giời mọc cao ba trượng mà chưa tan. Cao-Biền lấy làm lạ, muốn dùng thuật trấn áp, đêm hôm ấy, chiêm bao thấy ông thần bảo rằng: “\n*Ta là tinh đất Long đỗ, thần linh xứ này, ở đây đã lâu. Nay thấy ngươi đến đây, cho nên ta mừng quá mà hiện ra, can gì phải trấn áp ta?*” Biền tỉnh dạy sợ hãi, lập tức lập đàn cúng cấp, rồi dùng những vàng bạc đồng sắt làm bùa, cúng ba đêm ngày, rồi mới chôn bùa để yểm.\nĐêm hôm ấy mưa gió sấm sét, có tiếng quỉ thần hô hét quát tháo kinh thiên động-địa. Một lát, những bùa vàng, bạc, đồng, sắt, bật cả lên trên mặt đất, tan ra như gio, rồi bay tản vào trong không khí mất cả.\nCao-Biền lấy làm lạ, than rằng:\n- Ở xứ này có thần thiêng như thế ta nên về Tàu, chớ có ở đây mà sinh vạ về sau.\nTự đấy, Cao-Biền có ý muốn về, mới tôn thần Tô-lịch làm Đổ-phủ thành-hoàng thần-quân.\nĐến thời vua Thái-tổ nhà Lý, thiên đô lên thành Thăng-long. Thần Tô-lịch có thác mộng vào lạy mừng. Vua lấy làm lạ, hỏi họ tên, thì cũng nói rõ họ tên là thế. Vua lại hỏi rằng: “\n*Thần có giúp cho trẫm giữ mãi cơ nghiệp trăm nghìn năm không?*” Thần thưa rằng: “ *Xin bệ hạ hưởng phúc nghìn muôn năm, thì tôi cũng được hưởng trăm năm hương hỏa*.” Vua tỉnh dậy, ngày mai sai sứ đến tế ở đền ấy, tôn làm Đô-quốc thành-hoàng đại-vương. Đến đời nhà Trần, lại phong “ *Bảo quốc định bang đại vương*.” Đền thờ ở làng Đông-ác, huyện Thọ-xương (Bây giờ thuộc về thành phố Hà-Nội).\nKhi Cao-Biền ở trấn nước Nam, giữ phủ xưng vương, đắp rộng thêm thành La-thành. Đắp xong, một buổi trưa, đứng ngoài cửa đông ngóng xem, bỗng nhiên mưa gió ầm ầm, rồi có một đám mây ngũ sắc, tự dưới đất bốc lên, khí sáng ánh ra tứ phía. Lại thấy có một người ăn mặc đường bệ, cưỡi con cầu-long (rồng chưa có sừng) nửa vàng nửa đỏ, tay cầm hốt vàng, đứng trong đám mây, có bóng thấp thoáng lên xuống, lâu lâu thì tan mất.\nCao-Biền lấy làm lạ lùng, nghi là ma quỉ, muốn thiết đàn cúng cấp, dùng phép trấn áp.\nĐêm hôm ấy nằm mơ thấy thần lại bảo rằng:\n- Xin ông chớ nghi tôi, tôi là thần chính-khí ở đất Long-đỗ này, chớ không phải ma quái nào. Tôi thấy ông mới đắp xong cái thành, cho nên mừng mà hiện ra đấy thôi.\nCao-Biền tỉnh dạy, hội các quan lại bảo rằng:\n- Ta không trị nổi được xứ này hay sao? Sao mà lắm ma quỉ hiện ra thế, hoặc là điềm gở gì đây chăng?\nChúng xin thiết đàn, bày hình tượng thần ấy, rồi dùng nghìn cân sắt, làm bùa trấn yểm.\nCao-Biền nghe nhời lập đàn cúng bái, rồi chôn nghìn cân sắt để yểm. Hôm sau, giời đất tối tăm mù mịt, mưa gió ầm ầm, rồi có tiếng sét đánh vào chỗ yểm bùa, sắt tan vụn bay đi mất cả. Biền thấy vậy sợ hãi, mới lập đền ở trong phố để thờ thần ấy. Về sau, vua Lý-thái-tổ thiên đô lên Thăng-long, mơ thấy thần lại mừng. Vua tỉnh dậy, sai các quan đem lễ đến tế, phong làm Thăng-long thành-hoàng đại-vương.\nBấy giờ vua mở ra chợ cửa đông cho dân buôn bán, miếu thờ ngài ở cạnh đường, thường có hỏa-tai, cháy lây cả một dãy phố, chỉ miếu của ngài là không động gì đến. Mỗi khi nhà vua làm lễ nghênh xuân, thường vẫn cúng trong miếu ấy.\nThái-sư là Trần-quang-Khải có đề một bài thơ rằng:\n*Xưa nghe lừng lẫy tiếng anh linh,Ma cũng ghê, mà quỉ cũng kinh.Ngựa lửa ba phen thiêu chẳng tới,Roi lôi một trận đánh không chênh,Chỉ tay đè nén vài trăm quỉ.Quát tiếng trừ tan mấy vạn binh.Nhờ đội oai thần xua giặc Bắc,Khiến cho non nước tại thanh bình.*\nTrần-triều phong là: “\n*Thuận-dụ-phu-ứng đại-vương*.” Đền ở phương Hà-khẩu, huyện Thọ-xương, gọi là thần Bạch-mã (Bây giờ tức là đền Bạch-mã ở phố Hàng-buồm).\nVề thời vua Đại-hành nhà Lê, quan Khuông-việt Thái-sư là Ngô-cảnh-Chân thương hay chơi ở làng Bình-lỗ, ưa phong cảnh chỗ ấy vui đẹp, mới làm một cái am để ở. Một đêm đến canh ba, mơ thấy một ông thần mặc áo vàng giát sắt, tay tả cầm một ngọn thương vàng, tay hữu cầm một hòn ngọc, có vài mươi người lính hầu, mặt mũi hung tợn, trông như quỉ sứ.\nÔng thần ấy bảo với Thái-sư rằng:\n- Ta là Côn-sa môn thiên-vương đây, đầy-tớ ta là thần Dạ-xoa cả đấy. Thượng đế sai ta sang xứ Bắc, coi giữ nhân-dân. Người có duyên với ta, cho nên ta lại đây nói chuyện với ngươi.\nThái-sư giật mình đứng dậy, nghe trong núi có tiếng quát tháo ầm ầm, trong bụng lấy làm sợ hãi. Hôm sau vào núi xem, thì thấy một cây cổ thụ, cành lá rườm rà, và có đám mây đẹp phủ lên trên ngọn cây. Thái-sư sai thợ đẵn cây ấy, đem về tạc tượng như hình dáng trong mộng, rồi lập đền ở trên núi để thờ.\nTrong năm Thiên-phúc thứ nhất (980), có quân nhà Tống vào cướp nước. Vua Đại-hành sai Thái-sư cầu khẩn ở đền thần Côn-sa-môn. Bấy giờ quân nhà Tống đóng ở làng Tây-kết, chưa kịp đánh nhau với quân nhà Lê. Quân Tống bỗng thấy một người ở dưới sông Bạch-đằng nhảy lên đứng trên mặt nước, cao hơn 10 trượng, xõa tóc trừng mắt, quân Tống khiếp sợ tan chạy, phải lui về giữ trên thượng-lưu. Lại gặp cơn phong ba to, thuyền bè chìm đắm mất nhiều, vua Đại-hành thừa thế đốc quân lên đánh, bắt được Chuyển-vận-sứ là Nhân-bảo, vì thế quân Tống phải tan.\nVua thấy thần Côn-sa-môn anh linh làm vậy, sai sửa sang thêm đền đài cho đẹp, rồi phong làm Sóc-thiên-vương, để trấn phương bắc. Đền ấy ở núi Vạn-linh, huyện Kim-hoa tỉnh Bắc-ninh.\nĐến thời nhà Lý, lại lập đền thờ ở mé đông hồ Tây, phong làm phúc-thần, để trấn phương bắc, và để có việc kì đảo cho tiện (tức là đền ở làng Nhật-tảo bây giờ).\nVề thời vua Anh-tôn nhà Lê (1557) ở về thôn Vân-cát, xã Yên-thái, huyện Vụ-bản, tỉnh Nam-định, có một người gọi là Lê Thái công tiên tổ tích đức đã ba đời, đến đời Lê Thái-công cũng hay làm phúc. Ngoài 40 tuổi, sinh được một người con giai. Cách năm sau, Thái-bà có mang được vài tháng thì phải bệnh, ưa những đồ hương hoa, người nhà cho là ma làm, mời thầy phù-thủy cúng cấp mà bệnh lại nặng thêm.\nĐến hôm trung-thu có người xin vào chữa bệnh cho Thái-bà. Thái-công mời vào, người ấy cầm cái búa ngọc, lên đàn niệm câu thần-chú, rồi ném búa xuống đất. Thái-công ngồi cạnh ngã ngay xuống mơ mơ màng màng, thấy có hai người lực-sĩ đưa đi. Đường đi khuất khúc, đến một nơi nhà vàng cửa ngọc, lực-sĩ đưa đi qua chín từng cửa, rồi đến chốn cung đường, thì đứng lại ở dưới hè. Trông lên trên thì thấy có một vị áo mũ đường hoàng, hai bên văn võ cầm hốt đứng chầu, nghi vệ rất thịnh. Sực có một người con gái mặc áo đỏ, bâng chén ngọc dâng rượu thọ, nhỡ tay rơi chén, sứt mất một góc. Tả-ban có một viên mở ngay sổ ra biên vài chữ, rồi thấy hai người sứ-giả và vài chục người thị nữ xúm lại dắt nàng mặc áo đỏ tự cửa nam đi ra. Mé trước có một cái biển vàng, trên có hai chữ “\n*Sắc giáng*”, giữa có hai chữ “ *Nam nam*”, còn các khoản dưới thì mập mờ không rõ.\nThái-công hỏi người lực-sĩ rằng:\n- Đó là việc gì thế?\nLực-sĩ nói:\n- Đây là bà tiên-chúa thứ hai tên là Quỳnh-hoa, chuyến này chắc phải đầy xuống trần.\nNói đoạn, lực-sĩ đưa Thái-công về đến nhà thì tỉnh dậy, mà Thái-bà đã sinh ra một người con gái, nhân thế đặt tên là Giáng-tiên.\nKhi nàng Giáng-tiên nhớn lên, nhan sắc lạ thường, Thái-công cho tĩnh ở trong nhà học hành. Nàng ấy thông minh, mà lại tài nghề âm-nhạc. Thường làm ra ca từ bốn mùa, lựa vào khúc đàn để chơi.\n**XUÂN TỪ (ĐIỆU XUÂN QUANG HẢO)** *Cảnh như vẽ, khéo ai bày? Hoa đào mỉm miệng liễu giương mày. Bướm nhởn bay, oanh vàng líu lo trong bụi, én đỏ ríu rít trên cây. Buồng xuân dìu dặt mối tình ngây, đề thơ này!* **HẠ TỪ (ĐIỆU CÁCH PHỐ LIÊN)** *Giời đất nhiều phần nóng nẫu. Đầu cành rức giọng ve, bãi cỏ vang tiếng chẫu; vò võ quốc kêu sầu, eo éo canh hót ngẫu, Dường bảo nhau *“Chúa xuân về rồi thôi cũng hão!” *Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm lòng khôn đậu. May đâu, thần Chúc dong gảy một khúc nam-huân, hương sen thoảng đáo, một trận gió bay, sạch lòng phiền não.*\nTHU TỪ (ĐIỆU BỘ BỘ-THIỀM)\n*Mặt nước trong veo non tựa ngọc, gió vàng hây hẩy khua khóm trúc. Hoa lau muôn dặm trắng phau phau, cây cối vẻ hồng pha vẻ lục. Cung thiềm sáng quắc ả Hằng ngủ, dạo bước thềm giao tình rạo rạc. Chi bằng đến thẳng dưới giậu hoa cúc thơm, thảnh thơi dạo đàn gảy một khúc.*\nĐÔNG-TỪ (ĐIỆU NHẤT TIỄN-MAI)\n*Khí đen mờ mịt tỏa non sông, hồng về nam xong! Nhạn về nam xong! Gió bắc căm căm tuyết mịt mùng! Tựa triện ngồi trông, tựa triện đứng trông. Sưởi lò mặt vẫn giá như đồng, ngồi chẳng yên lòng, nằm chẳng yên lòng! Dậy xem phong cảnh lúc giời đông, hoa quên lạnh lùng! Người quên lạnh lùng!*\nMột khi Thái-công dạo chơi sau vườn, nghe thấy khúc đàn ấy, trong bụng buồn rầu, nhân có ông bạn quen họ Trần ở cùng một làng, mới cho làm con nuôi ông ấy, và làm riêng một nhà lầu ở sau vườn Trần-công cho con gái ở.\nCạnh nhà Trần-công có một nhà quan, tuổi già chưa có con giai, nhân đêm giăng ra chơi vườn đào, bắt được đứa con giai ở dưới gốc đào, vì thế đặt tên là Đào-lang. Đào-lang mặt mũi tuấn tú. Trần-công thấy Giáng-tiên tư chất khác phàm và lại nết na, có ý muốn kết duyên cho Đào-lang. Hai bên cha mẹ thuận lòng, mà hai người cũng tốt duyên phải lứa, mới gả cho nhau. Tự khi cưới về, Giáng-tiên một lòng hiếu thuận. Năm sau, sinh được một mụn con giai, cửa nhà thêm vui vẻ.\nNgày tháng thấm thoắt, chợt đã ba năm. Hôm mồng ba tháng ba, Giáng-tiên tự nhiên vô bệnh mà mất, bấy giờ mới hai mươi mốt tuổi. Ba nhà sầu thảm vô cùng.\nThái-bà đau xót đêm ngày khóc lóc. Một bữa đang khóc thì thấy con về ôm lấy mẹ mà nói rằng:\n- Mẹ ơi! Con ở đây, mẹ khóc gì thế?\nThái-bà mở choàng mắt ra trông thấy quả là con, cả nhà xúm lại hỏi han.\nTiên-chúa nói rằng:\n- Con là Đệ-nhị-tiên-cung phải đầy xuống trần, nay đã hết hạn, lại phải lên chầu Thượng-đế. Cha mẹ có âm-công, đã vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ, không can gì phải lo sầu.\nNói đoạn lại biến mất.\nChàng Đào-lang tự khi uyên bay, trăm phần sầu não. Một đêm đang ngồi ngâm thơ giải phiền, sực thấy Tiên-chúa đến, chàng kia níu lấy kể lể nỗi đoạn sầu khổ. Tiên-chúa khuyên giải hết điều rồi lại biến mất.\nTự bấy giờ đi mây về gió, chơi xem phong cảnh các nơi. Một hôm, đến tỉnh Lạng-sơn, trông thấy có ngọn chùa trên núi, mới lên xem cảnh, rồi ra nghỉ mát dưới gốc cây thông, gẩy đàn ngợi hát. Xảy có Phùng-khắc-Khoan (Trạng-Bùng) đi sứ về qua, hai bên ngồi đối đáp với nhau.\nPhùng-công đọc trước một câu rằng:\n*- Tam mộc sâm đình; tọa trước hảo hề nữ tử*.\n(三木森庭坐著好兮女子)\nTiên-chúa ứng thanh đối rằng:\n*- Trùng sơn xuất lộ; tẩu lai sứ giả lại nhân*.\n(重山出路走來使者吏人)\nPhùng-công lại đọc rằng:\n*- Sơn-nhân bằng nhất kỉ; mạc phi tiên nữ lâm phàm*.\n(山人憑一几莫非仙女臨凡)\nTiên-chúa lại đọc rằng:\n*- Văn-tử đái tràng cân; tất thị học-sinh thị trướng*.\n(文子帶長巾必是學生侍帳)\nPhùng-công thấy vậy, muốn hỏi lai lịch thì đã biến mất rồi, chỉ thấy gỗ nằm ngổn ngang, hình ra bốn chỗ: “\n*Mão khẩu công chúa*,” (卯口公主) [54] và có một cây gỗ dựng viết bốn chữ “Thủy mã dĩ tẩu.” (水馬已走) [55] Phùng-công đoán ý tứ các chữ ấy, biết là Liễu-hạnh công-chúa nhờ mình khởi công sửa sang chùa ấy, mới xuất tiền cho dân sửa sang.\nLại một khi Phùng-công đem bạn lên chơi hồ Tây, cũng gặp Tiên-chúa, xướng họa liên ngâm với nhau. Về sau Tiên-chúa hiển thánh ở đèo Ngang phố Cát, tỉnh Thanh-hóa, hiện ra làm con gái đẹp bán nước những kẻ đùa bỡn chết hại rất nhiều. Triều-đình nghi là yêu quái, sai thầy phù-thủy và Trịnh hoàng-thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi, tàn phá đền đài. Được vài tháng, dân xứ ấy dịch tễ, lập đàn cầu khấn, thì mới biết là Tiên-chúa hiển thánh tâu lên triều-đình, vua sai sửa sang lại đền miếu, phong làm\n*Mã-vàng công chúa*. Sau lại có công giúp nước phá giặc Mán, được phong làm *Chế-thắng bảo hòa-diệu đại vương*, lập đền trên núi Sùng-sơn, đến giờ vẫn còn anh linh.\n\nTừ-Thức người ở Hóa-châu (Thanh-hóa). Trong thời Quang-Thái, đời vua Thánh-tôn nhà Trần, nhân có chân ấm-sinh, được làm Tri-huyện Tiên-du (Bắc-ninh). Cạnh huyện có ngọn chùa to, trong chùa có một cây mẫu đơn, mỗi khi mùa xuân hoa nở, khách bốn phương đến chùa xem hoa đông như hội, nhân thế gọi là hội xem hoa.\nTháng hai năm Đinh-tị (1396), chính giữa hôm hội, có một cô ả nhan sắc mĩ miều, mới đội 15,16 tuổi, son phấn điểm nhạt, mặt mũi tươi dòn. Đến xem hoa, nhỡ tay vịn gẫy mất một cành, bị nhà chùa bắt giữ lại. Từ-Thức xẩy đi qua trông thấy, hỏi cơn cớ đầu đuôi, rồi cởi áo cẩm bào chuộc cho ả ấy đi.\nTừ bấy giờ ai cũng khen là quan huyện nhân đức, nhưng chỉ vì tính hay uống rượu ngâm thơ, tờ bồi việc quan bỏ đọng cả lại, lắm phen bị quan trên quở mắng.\nTừ-Thức than rằng:\n- Ta không thể nào vì vài đấu thóc lương mà buộc mình vào trong đám danh lợi được mãi, thôi thì một mái chèo bơi về tìm nơi nước biếc non xanh, cho thỏa chí ta còn hơn.\nLập tức cởi ấn giao trả quan trên rồi đi. Tính Từ-Thức ưa chơi những chốn khe động trong huyện Tống-sơn, mới về làm nhà ở huyện ấy, mỗi khi nhàn đi chơi, sai một thằng nhỏ đeo một bầu rượu, cắp một cái đàn và mang một quyển thơ. Đi đến chỗ nào thích ý, thì ngồi chơi đánh chén, hoặc gảy đàn. Phàm chỗ nào có nước non lạ lùng, như núi Chính-trợ, động Lục-vân, sông Lãi, cửa Nga, thì tất tìm đến chơi và có thơ đề vịnh.\nMột khi dậy sớm, trông ra cửa Thần-phù, cách vài mươi dặm, có khi mây năm vẻ, kết lại như hình cái hoa sen. Mới sai bơi thuyền đến tận chỗ ấy, thì thấy có núi rất đẹp. Đỗ thuyền trèo lên núi thì thấy khí núi xanh biếc, cao vời vời ước nghìn trượng.\nNhân đề một bài thơ rằng:\n*Đầu cành thấp thoáng bóng kim-ô,Hoa đỗng vui mừng đón khách vô.Cạnh suối nào là người hái thuốc?Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò.Xênh xang ghê mát cầm ba khúc,Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò.Ướm hỏi Vô-lăng chàng đánh cá,Làng Đào đâu đó cách chừng mô?*\nĐề xong bài thơ nhìn xem phong cảnh một hồi, bỗng thấy trong sườn núi đá, có một cái hang, cửa hang tròn và rộng độ một trượng, thử vào hang xem ra làm sao, vừa đi được vài bước, thì cửa hang bỗng dưng đóng sập lại, trong hang tối mù mịt, không còn biết đường nào mà đi, Từ-Thức chắc chết ở chỗ ấy, nhưng vẫn cứ đi liều xem ra làm sao, mới quờ tay sờ sệt vào sườn đá mà đi, trước còn loanh quanh đi trong khe nhỏ, dần dần thấy có bóng sáng, trông lên thấy núi cao chót vót, đá mọc lởm chởm, mới cố leo vịn lên thì đường đi đã hơi rộng.\nKhi lên đến đỉnh núi, thì lại thấy mặt giời sáng sủa, trông ra bốn bề, cũng có lâu đài cung điện, cửa nhà trang hoàng, cây cối tươi tốt, tự hồ một cảnh chùa chiền.\nTừ-Thức lấy làm lạ lùng, ngắm nhìn phong cảnh, rồi thấy hai ả con gái nhỏ, mặc áo xanh, bảo với nhau rằng:\n- Chú rể mới nhà ta đã đến kia kìa!\nNói thế đoạn, trở vào trong nhà báo tin, rồi lại ra bảo với Từ-Thức rằng:\n- Phu nhân cho chúng tôi ra mời người vào chơi.\nTừ-Thức theo hai đứa con gái đi vào, qua một dãy tường gấm, vào cửa sơn son, thấy đôi bên cung cấm, vàng bạc sáng quắc, có chữ đề rằng: “\n*Quỳnh-hư chi điện, Giao-quang chi các*.” [56] Khi trèo lên gác thì thấy một bà tiên mặc áo lụa trắng, ngồi trên giường thất-bảo. Cạnh giường có đôi kỉ gỗ đàn-hương, bà tiên mời Từ-Thức ngồi trên kỷ và bảo rằng:\n- Người vốn hay chơi cảnh lạ, có biết đây là chốn nào không?\nTừ-Thức thưa?\n- Tôi tuy dong chơi giang hồ đã nhiều, nhưng chưa biết ở đây lại có tiên cảnh, xin bảo cho tôi được rõ.\nBà tiên cười nói rằng:\n- Ngươi biết đâu được chỗ này! Đây tức là hang thứ sáu trong 36 động núi Phi-lai; núi ấy đi khắp các mặt bể, chân không bén đến đất, chỉ theo chiều gió mà hợp tan thôi. Ta tức là Địa-tiên núi Nam-nhạc, gọi là Ngụy phu-nhân đây. Vì thấy ngươi có cao nghĩa, cho nên mới đón đến chơi.\nNhân bảo con hầu gọi một người con gái ra. Từ-Thức trông ra thì chính là người con gái đánh gẫy cành hoa mẫu đơn khi trước.\nBà tiên trỏ vào con gái bảo với Từ-Thức rằng:\n- Con em tên nó là Giáng-Hương, khi trước xem hoa phải cái ách nạn, nhờ người cứu cho, ta vẫn còn hàm cái ân ấy, nay muốn cho nó kết duyên với ngươi để báo ân.\nLập tức đên hôm ấy, truyền sai đốt đèn mỡ phụng, giải chiếu vẩy rồng, cho làm lễ thành thân.\nHôm sau các tiên đến ăn mừng, kẻ cưỡi li vàng (tự rồng mà không sừng), người cưỡi câu đỏ (loài rồng) đến hội. Bà tiên mở tiệc trên gác Giao-quang, nào là rèm ngọc trướng điều, nào là đệm hoa ghế bạc. Các tiên ngồi riêng một bên tả, còn mé hữu Từ-Thức ngồi.\nTrong khi ăn yến, đủ thứ sơn hào hải vị, chả phụng nem công, thơm tho ngào ngạt, toàn những vị dưới trần không có bao giờ. Lại có đàn sáo bát âm rất là vui vẻ.\nChiều tối tiệc tàn, các tiên đâu về đấy. Từ-Thức ở lại đấy được một năm, có ý nhớ nhà, nhân một khi thong thả bảo với nàng Giáng-Hương rằng:\n- Tôi vốn đi chơi, xa xôi đã lâu, khó đè nén được bụng trần, lại tưởng nhớ đến quê cũ, xin cho tôi hãy về thăm nhà một chút.\nGiáng-Hương có ý ngần-ngừ, không nỡ li biệt.\nTừ-Thức lại nói rằng:\n- Thiếp không dám vị tình vợ chồng mà ngăn trở bụng quân-tử; chỉ vì cõi trần bé nhỏ, ngày tháng ít ỏi, nếu có về chăng nữa, chỉ sợ cây cối cửa nhà không được còn như trước nữa đâu.\nNàng ấy mới nói với phu-nhân. Phu-nhân than rằng:\n- Không ngờ gã ấy còn vướng víu trong đám bụi hồng, làm chi mà phải ngậm ngùi như thế?\nPhu-nhân mới cho một cỗ xe cẩm-vân, sai người lên xe ấy mà về. Giáng-hương cũng viết một phong thư buộc kỹ đưa cho, dặn về nhà hãy mở ra mà xem.\nTừ-Thức cáo biệt, ngồi lên xe, đi vừa chớp mắt đã đến nhà. Về đến nơi thì phong cảnh đã khác xưa, nhân dân thành quách, không còn gì là giống khi trước, chỉ còn hai bên khe núi thì vẫn còn nguyên.\nTừ-Thức đem họ tên mình, hỏi thăm các cụ già trong làng, thì có một người nói rằng:\n- Tôi từ lúc còn nhỏ, có nghe cụ tổ ba đời nhà tôi cũng tên họ như thế, sa vào hang núi đã hơn 80 năm nay rồi.\nTừ-Thức buồn rầu lắm, muốn lại ngồi xe đi lên, thì xe đã hóa thành chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thư ra xem, thì có câu rằng: “\n*Trong mây kết bạn loan hoàng, duyên xưa đã hết; trên bể tìm người tiên-tử, hội khác khôn cầu*.” Mới biết là nhời li biệt. Về sau, Từ-Thức mặc áo khinh-cừu, đội cái nón nhỏ, vào núi Hoàng-sơn ở huyện Nông-cống (Thanh-hóa), không biết lên tiên hay đi mất.\nThời nhà Lê, ở làng Bích-câu (tức làng Yên-trạch bây giờ, Hà-nội) có một người học trò, tên là Tú-Uyên, vốn người tài mạo, cha mẹ mất sớm, nhà nghèo, chỉ chăm việc học hành.\nCó một hôm, chùa Ngọc-hồ mở hội, Tú-Uyên đi xem. Đến chiều trở về qua chùa Tiên-tích (ở phố cửa Nam) trông thấy một người con gái đẹp tắm, đang đứng ở dưới gốc cây đu. Tú-Uyên lại gần hỏi truyện, rồi hai người vừa đi vừa đối đáp với nhau, đến chỗ đình Quang-minh thì người con gái ấy biến mất, mới biết là tiên.\nTú-Uyên đứng ngẩn ra một lúc, mới giở về nhà. Từ đấy đêm ngày tưởng nhớ, phải bệnh tương tư thuốc nào chữa cũng không khỏi. Một hôm, nhớ đến sự bói thẻ, mới đến đền Bạch-mã xin thẻ, rồi nằm mộng ở đấy. Đêm thần báo mộng rằng: “\n*Sáng sớm mai, ra cống cầu Đông sông Tô-lịch thì gặp*.” Tú-Uyên mừng lắm, sực tỉnh dậy thì giời đã rạng đông; vội vàng chạy ra đấy, đứng thơ thẩn độ một vài giờ, không thấy gì, toan trở về, thì gặp một ông cụ bán bức tranh. Tú-Uyên cầm mở ra xem, thấy người tố-nữ vẽ trong tranh, giống như người mình gặp khi trước. Mua đem về, treo ở cạnh buồng học, từ bấy giờ mới giải phiền.\nTú-Uyên mỗi khi đến bữa cơm ăn, thì đặt hai cái bát hai đôi đũa, mời người tố-nữ trong tranh, như hai vợ chồng thực. Một hôm, mời thì hình như tủm tỉm cười muốn nói. Hôm sau, đi học về, thấy mâm cơm dọn sẵn, nghĩ không biết thế nào, ăn thì toàn những món ngon vật lạ cả. Hai ba hôm cũng luôn như thế. Bữa sau, giả cách đi học, đứng rình dòm vào trong nhà, thấy người trong tranh hiện ra đang điểm trang, Tú-Uyên rón rén bước vào, hỏi rằng:\n- Duyên sự làm sao, thì nói cho tôi được biết.\nNàng ấy mới nói rằng:\n- Thiếp ở trên cung tiên, tên là Giáng-kiều, vì nhà chàng có phúc-đức nhớn, nên gặp nhau từ khi ấy. Sau lại thấy chàng thương nhớ, cho nên chúa tiên cho thiếp xuống kết duyên với chàng.\nNói vừa xong, rút trâm trên mái đầu, hóa phép hiện ra cửa nhà, lâu-đài, đầy-tớ, đồ-đạc, rồi làm cỗ bàn, mời các bạn tiên xuống ăn cưới. Từ đấy kết duyên làm vợ chồng.\nTú-Uyên tự bấy giờ ham-mê về tửu sắc, cả ngày chỉ uống rượu say sưa, bỏ sự học-hành. Trong ba năm giời, nàng ấy khuyên ngăn mãi mà vẫn không nghe. Mỗi khi say rượu rồi thì lại chửi mắng ỏm tỏi. Nàng ấy giận lắm mới biến đi. Tú-Uyên tỉnh rượu, thấy vợ bỏ mình mà đi, mới hối lại, biết là lỗi tại mình. Đi tìm đâu cũng không thấy, bực mình muốn tự vẫn. Bỗng thấy nàng ấy ở đâu lại về. Tú-Uyên nửa mừng nửa thẹn, lấy nhời từ-tạ, hai vợ chồng lại vui vẻ tử tế như xưa.\nKhông bao lâu sinh được một người con giai, đặt tên là Trân-nhi. Đến sau, con học hành thông minh, đã sắp nên người, nàng ấy bảo với chồng rằng:\n- Ở hạ giới này, một đời người chỉ được bảy tám mươi tuổi mà thôi, kể ra không được là bao nhiêu. Vả lại trong sổ tiên cũng có tên chàng, thì ta đưa nhau lên ở trên cung tiên là hơn.\nLiền đưa cho Tú-Uyên một viên thuốc và một đạo bùa. Một lát thì có hai con hạc xuống đón, hai vợ chồng mỗi người cưỡi một con, ngoảnh lại dặn con rằng:\n- Con hãy ở đây, khi nào thi đỗ thì tao xuống đón.\nNói đoạn, bay cả lên giời.\nDân làng ấy vì thế lập miếu ngay chỗ nhà cũ ông ấy để thờ, gọi là đền Tú-Uyên.\nPhạm-Viên người làng An-bài, huyện Đông-thành tỉnh Nghệ-an. Đời ông tổ Phạm-Viên hiền lành, phúc hậu, gặp được người Tàu để cho ngôi mộ, đoán rằng: “\n*Ngôi này phát một đời Tiến-sĩ, một đời thành tiên*.”\nĐời con ông cụ ấy là Phạm-Chất đỗ Tiến-sĩ về thời vua Thần-tôn nhà Lê, làm đến Tả-thị-lang. Phạm-Chất sinh ra hai con, con cả là Phạm-Tán, con thứ là Phạm-Viên.\nPhạm-Viên nhớn lên, 18 tuổi mà vẫn biếng học, chỉ ham sự chơi bời. Ông bố chửi mắng thì Phạm-Viên nói rằng:\nNgười ta quí thích chi là hơn, phú-quí 80 năm, chẳng qua cũng là một giấc mộng hoàng-lương mà thôi.\n[57]\nTừ đấy bỏ nhà đi, vào núi Hồng-lĩnh hái thuốc. Đi cùng kiệt 3 ngày, vào đến rừng sâu, gặp một cụ già chống cái gậy trúc, mặc áo thầy tu. Viên biết là người lạ, quì xuống trước mặt, kể lể sự mình. Cụ già đem Phạm-Viên về, đi nửa thôi đường, thấy có vài gian nhà gianh cụ già dắt vào trong nhà ấy. Vào đấy chỉ thấy trên bàn có một quyển sách con, bên cạnh có một vò nước, còn thì không có gì cả, và cũng không có một người đầy-tớ nào.\nPhạm-Viên ở đấy, cụ già thỉnh thoảng múc cho một gáo nước, bảo phải uống hết, lại cho một cái túi, bảo rằng:\n- Về cứ mở túi ra mà xem, tự khắc biết.\nNói xong, cụ già và cửa nhà biến mất cả, Phạm-Viên trở ra tìm lối về, cứ trông về phía mặt trời mọc mà đi. Một lát đến đầu làng, về đến nhà thì đã được 12 năm rồi.\nBấy giờ Phạm-Viên đã được 30 tuổi, họ hàng làng mạc ai cũng lấy làm kì, nhưng không ai biết Phạm-Viên đã thành tiên. Phạm-Viên ở nhà, có khi ngủ đến 10 ngày mới dậy, có khi 2,3 tháng mới ăn một thìa cháo. Quan Thị-lang vẫn gọi Phạm-Viên là thằng dồ.\nPhạm-Viên có bà cô ngoài 70 tuổi, không có con cái, Phạm-Viên cho bà cụ 21 đồng tiền, và dặn rằng:\n- Nếu có mua gì, chỉ mua 20 đồng, còn để dành lại một đồng, tự nhiên lại có 20 đồng khác, có thể đủ dùng được trọn đời.\nBà cụ nghe lời ấy, quả nhiên cứ mua buổi sang thì buổi chiều lại đủ 21 đồng tiền. Được một năm, bà ấy mất, món tiền ấy cũng biến đi.\nThường một khi đến chơi núi Ngọc-sơn, nằm trọ trong nhà hàng, bảo với mụ già nhà hàng rằng:\n- Ở gần đây sau tất có hoả-tai, ta cho mụ kia một lọ rượu này, khi nào thấy cháy, thì lấy rượu mà vẩy vào, kẻo gió to thì cháy lây mất cả.\nTháng năm, quả nhiên có hoả-tai, bấy giờ đương mùa gió nồm, không tài nào cứu được. Mụ già nhớ đến lời Phạm-Viên, cầm lọ rượu rảy vào đám lửa, tự nhiên trời mưa xuống như trút nước, lửa phải tắt ngay, nước mưa sặc những mùi rượu ba ngày chưa tan mùi.\nLại một khi Phạm-Viên đi qua huyện Hoằng-hóa thấy một người già ngoài 70 tuổi mà còn phải đi ăn xin, Phạm-Viên thương tình, cho một cái gậy dặn rằng:\n- Hễ đi đến chợ nào thì cắm cái gậy ấy bên cạnh đường, không phải van gì, tự nhiên người ta phải lấy tiền cắm vào đầu gậy, cứ đủ 100 đồng thì nhổ đem đi chỗ khác.\nÔng già kia y nhời ấy, quả được dư ăn thừa mặc, khi ông già ấy chết thì cái gậy cũng biến mất.\nPhạm-Viên thường dạy một người học-trò, chỉ học hai chữ “\n*cát cao*” nghĩa là cái gầu múc nước. Người học-trò xin học chữ khác, Phạm-Viên bảo rằng:\n- Ngày sau phú-quí, chỉ hai chữ ấy đủ rồi, can gì phải học nhiều cho mệt?\nVề sau, người ấy phải đi lính, canh thuyền, xảy khi chúa Trịnh đi chơi, bắt khai các đồ trong thuyền, đến cái gầu múc nước, không ai biết biên chữ gì. Bấy giờ cả quan Tham-tụng là Hà Tôn-Mục ở đấy, cũng không nhớ chữ gì là cái gầu.\nNgười ấy nhàn canh ở đấy mới nói rằng:\n- Khi trước tôi đi học, còn nhớ được hai chữ\n*cát cao* là cái gầu múc nước. Quan Tham-tụng cho là người học rộng, tâu với chúa Trịnh, vì thế được cất lên làm quan lục phẩm.\nĐến năm Phạm-Viên 40 tuổi, ông thân-sinh đang được vua chúa yêu dùng, làm quan tại kinh. Phạm-Viên ở nhà, một hôm bỗng dưng sai người nhà sắm sửa đồ thờ, may áo chế, sắm gậy trúc. Được vài ngày, quả nhiên có tin quan Thị-lang mất tại kinh.\nPhu-nhân làm ma, toan đem xuống thuyền, để đi đường hải-đạo về Nghệ. Phạm-Viên không nghe, sắm đủ minh tinh nhà tang, áo quan võng vì, và đủ các đồ nghi vệ đi đường, xin đến gà gáy thì rước ma đi bộ từ Thăng-long về Nghệ. Ai cũng cười là người gàn. Không ngờ đi tự gà gáy, mới đến lúc mặt giời mọc, đã về đến đầu làng An-bài, chúng bấy giờ mới tin Phạm-Viên có phép tiên.\nTống táng đâu đấy, Phạm-Viên từ mẹ lại đi. Được năm năm thì phu-nhân mất. Chiều hôm cất ma xong, Phạm-Viên về khóc ở trước mồ, rồi để một hòm ở lại đấy mà đi. Sáng hôm sau, người nhà trông thấy mở hòm ra xem, thì thấy đủ cả trâu bò lợn gà, và các thứ giò nem bánh trái, không biết bao nhiêu mà kể. Lại có 500 quan tiền, 100 cân bạc. Trên mặt hòm đề rằng: “\n*Của cô ai tử là Phạm-Viên kính-tế*.”\nTừ đấy trở đi, hoặc khi có người gặp ở Thăng-long, hoặc khi có người gặp ở cửa bể Thần-phù. Trong năm Bảo-thái, có ông Trương-hữu-Điền mở tràng-học ở Hà-nội, có người ăn mặc lam lũ vào làm văn, chỉ chớp mắt xong bài văn rồi biến mất. Ông kia xem văn rồi nói rằng: “\n*Văn chương này cách cục nhà tiên, lại ông Phan-Viên đùa ta đây!*” Biến hoá không biết đâu mà lường được.\nTừ-Lộ tự là Đạo-Hạnh, người làng An-lãng (tức làng Láng) huyện Vĩnh-thuận (Hoàn-long), làm thầy cúng ở chùa Tiên-phúc, núi Phật-tích (tức chùa Thầy ở Sơn-tây). Khi xưa thân-phụ Từ-đạo-Hạnh là Từ-Vinh làm Tăng-quan đô-sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An-lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo-Hạnh.\nĐạo-Hạnh lúc bé hay chơi bời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phí-Sĩ, Phan-Ất, Lê-Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui. Cha vẫn thường trách mắng là biếng học, nhưng sau biết cứ đến đêm thì chăm học lắm, từ bấy giờ không nói gì nữa.\nVề sau, Đạo-Hạnh thi khoa Bạch-liên đỗ Tăng-quan. Không bao lâu cha là Từ-Vinh dùng tà-thuật phản ông Diên-thành hầu, Diên-thành hầu nhờ thầy phù-thuỷ là Đại-Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô-lịch. Thây ông Từ-Vinh trôi qua cầu Yên-quyết, đến bến nhà ông Diên-thành hầu, bỗng nhiên đứng lên trỏ tay vào trong nhà, suốt ngày hôm ấy không đi. Diên-thành hầu mời Đại-Điên đến. Đại-Điên đến nơi quát rằng:\n- Thầy chùa giận không để cách đêm, dù sống dù chết, cũng là một giấc mộng mà thôi.\nNói dứt nhời thì thây ngã xuống trôi đi. Từ-đạo-Hạnh muốn báo thù cho cha, rình khi Đại-Điên đi chơi, muốn đón đường đánh, bỗng nghe trên không có tiếng ngăn rằng: “\n*Chớ! Chớ!*” Vì thế bỏ gậy mà chạy về.\nĐạo-Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn-độ học phép, nhưng đi qua núi Kim-sỉ, hiểm trở lắm phải trở về, Đạo-Hạnh mới vào trong hang núi Phật-tích, kết thành hội Bạch-liên, để học phép Ngũ-giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “\n*Đại-bi-tâm*” và niệm câu thần chú, “ *Bà-la-ni*”, cứ tụng 18 vạn lần mới thôi.\nMột hôm thấy thần báo mộng rằng:\n- Đệ-tử tức là Tứ-trấn thiên-vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh, cho nên lại hầu, tuỳ thầy muốn sai khiến gì, tôi xin vâng lệnh.\nĐạo-Hạnh biết là đạo pháp mình đã thành rồi, có thể phục thù được cho cha, mới đến đầu bến sông Yên-quyết, cầm cái gậy ném xuống sông. Nước sông chảy xuôi mà gậy thì trôi ngược, trông tựa con rồng, đi mãi đến cầu Tây-dương mới thôi.\nĐạo-Hạnh mừng nói rằng:\n- Phép ta hơn Đại-Điên nhiều rồi!\nĐạo-Hạnh mới dùng phép tàng-hình đến thẳng chỗ Đại-Điên ngồi chơi, bảo rằng:\n- Mày có nhớ việc ngày trước không?\nĐại-Điên ngẩng đầu lên trông, không thấy gì, Đạo-Hạnh cầm gậy đánh, Đại-Điên vì thế thành bệnh mà chết.\nĐạo-Hạnh báo xong thù rồi, từ bấy giờ tan hết oán cũ, sạch nhẵn lòng trần, mới đi chơi khắp nơi rừng núi, hỏi tìm ấn chứng. Nghe có Kiều-tri-Huyền tinh thông đạo phép, đến hầu tận nơi, hỏi thế nào là chân-tâm.\nCó câu kệ rằng:\n*Lâu nay vẫn đám hồng trần,Vàng còn chẳng biết, biết chân-tâm nào!Xin cho chỏ bảo làm sao?Cho tìm thấy rõ kẻo nao lòng người*.\nKiều-tri-Huyền cũng đọc một câu kệ đáp lại rằng:\n*Năm-âm bi quyết là vàng,Trông ra đầy mắt rõ ràng thuyền-tâm.Bồ-đề đạo phật u-thâm,Muốn tìm tới đó muôn tầm chẳng xa!*\nĐạo-Hạnh thấy câu kệ như vậy, chưa hiểu ý tứ ra làm sao, mới đến hỏi ông Pháp-Phạm Sùng-Vân rằng:\n- Thưa ông thế nào gọi là chân-tâm?\nSùng-Vân nói:\n- Cái gì chẳng phải là chân-tâm?\nĐạo-Hạnh bấy giờ mới tỉnh ra, lạy từ ông ấy rồi trở về. Tự bấy giờ pháp lực lại càng tấn tới, nội là rắn độc trong núi, hùm dữ trên rừng, cũng có phép sai khiến được cả.\nCó một thầy tăng nói rằng:\n- Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, đó là phật-tâm.\nĐạo-Hạnh đọc câu kệ rằng:\n*Có thì có tự mảy may,Không thì cả thế gian này cũng không.Thử xem bóng nguyệt dòng sông.Ai hay không có, có không là gì?*\nBấy giờ, vua Lý Nhân-tôn chưa có con, có người Thanh-hoá ra tâu rằng:\n- Ở ngoài bãi bể, có đứa con giai lên 3 tuổi, tự xưng là Hoàng-tử, gọi là Giác-hoàng. Nhà vua có những sự gì, y cũng biết cả.\nVua sai sứ đến xem tận nơi, quả nhiên có đứa bé ấy, mới đem về kinh, cho ở trong chùa Báo-thiên. Vua thấy đứa trẻ ấy thông minh thần dị lắm, muốn nuôi làm con.\nCác quan can rằng:\n- Nó tuy linh dị, nhưng tất phải thác sinh vào trong cung cấm mới được.\nVua nghe nhời, thiết tuần chay to bảy đêm ngày, để cho nó làm phép đầu thai.\nĐạo-Hạnh nghe chuyện làm vậy, bảo riêng với chị rằng:\n- Đây tất là Đại-Điên, muốn đầu sinh vào cửa nhà vua để báo thù đây, kẻ kia dùng tà thuật, làm hoặc người ta đã nhiều, tôi sao nỡ ngồi nhìn mà không cứu, để nó làm càn hay sao?\nMới bảo chị mặc giả nhà sư, cầm giấu vài quả ấn pháp-sư, giắt lên mái nhà chỗ đàn chay. Cúng được ba hôm, Giác-hoàng phải bệnh, bảo với người ta rằng:\n- Khắp cả thế giới, chỗ nào cũng chăng lưới sắt, không có đường nào mà đầu thai được.\nNói xong thì mất. Vua sai tìm khắp nơi có bùa bèn gì không, thì bắt được mấy quả ấn kết lại, có tên Từ-đạo-Hạnh. Vua giận lắm, sai bắt Đạo-Hạnh vào lầu Hưng-khánh đánh trượng, rồi hội các quan lại nghị án.\nXảy có Sùng-hiền hầu đi qua, Đạo-Hạnh kêu rằng:\n- Xin ngài rủ lòng thương mà cứu cho tôi, tôi sẽ xin đầu thai vào cung để báo ơn ấy.\nSùng-hiền hầu gật đầu. Đến lúc hội nghị, Kim-hầu xin đem Đạo-Hạnh chính-pháp. Sùng-hiền hầu cười nói rằng:\n- Giác-hoàng nếu có thần lực, thì dù Từ-Lộ giải chú thế nào cũng không việc gì. Nay vì thế mà phải chết, thì Giác-hoàng còn kém Từ-Lộ xa lắm. Tôi thiết tưởng bắt tội hắn, thà rằng cho hắn thác sinh còn hơn, xin bệ-hạ nghĩ cho.\nVua nghe nhời, tha tội cho Đạo-Hạnh, Đạo-Hạnh trở ra, vào hầu nhà riêng Sùng-hiền hầu, nhận thấy phu-nhân đang tắm, đến sát tận nơi đứng xem. Phu-nhân giận lắm, bỗng thấy một đứa trẻ con chạy vào trong thùng tắm, phu-nhân kinh hãi, nói truyện với chồng. Sùng-hiền hầu đã biết rồi, không trách hỏi gì đến. Từ đấy phu-nhân có mang.\nĐạo-Hạnh dặn Sùng-hiền hầu rằng:\n- Khi nào phu-nhân sắp ở cữ, thì phải bảo cho tôi biết trước.\nĐến khi phu-nhân ở cữ, giở dạ đã lâu mà chưa sinh được, Sùng-hiền hầu sai người ruổi mau đến bảo Đạo-Hạnh.\nĐạo-Hạnh vội vàng tắm gội thay áo, dặn học trò rằng:\n- Bụng ao ước của ta vẫn chưa thoả, nay lại thác sinh vào cửa đế-vương, tạm làm thiên-tử 23 năm. Nếu khi nào thân kiếp ta thác đi, thì mới thức là chìm vào bể sâu, không bao giờ sinh diệt được nữa.\nHọc trò nghe câu ấy, ai nấy cùng rỏ nước mắt. Đạo-Hạnh nói an ủi học trò vài câu, rồi lột xác mà hoá. Người làng lấy làm lạ, để cái xác ấy vào khám phụng thờ.\nGiờ ngọ Đạo-Hạnh nhập tịch, đến giờ mùi thì phu-nhân sinh ra đứa con giai, đặt tên là Dương-Hoán, bấy giờ là tháng sáu năm Bính-thân niên hiệu Hội-trường đại-khánh thứ bảy (1116).\nDương-Hoán lên hai tuổi, thông minh lắm, vua yêu mến nuôi ở trong cung cho làm con, rồi lập lên làm Hoàng-thái-tử. Khi vua mất, thái-tử lên ngôi, tức là vua Thần-tôn, đó là kiếp sau ông Từ-đạo-Hạnh.\nKhi xưa Đạo-Hạnh mới vào chùa Thiên-phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá, Đạo-Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo-Hạnh lột xác.\nMỗi năm mùng bảy tháng ba, thiên hạ đến chùa ấy lễ bái đông như hội. Thây Đạo-Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.\nNgười làng Đàm-xá phủ Tràng-an (Nam-định) tên là Nguyễn-chi-Thành. Lúc nhỏ đi học, xẩy gặp Từ-đạo-Hạnh, mới theo học Đạo-Hạnh hơn 40 năm,\n[58] Đạo-Hạnh khen là người có chí cho ấn quyết và đổi tên gọi là Minh-Không thiền-sư cho ở riêng một chùa Quốc-thanh.\nKhi đạo hạnh sắp hoá bảo Minh-Không rằng:\n- Ngày xưa phật Thế-tôn ta, đạo quả đã tròn trặn, mà còn có báo kim-tảo, huống chi lâu nay phép đạo suy mòn, thì ta giữ mình làm sao cho xiết được. Khiếp sau ta ở thế-gian, giữ ngôi nhân-chủ, chắc là không khỏi được bệnh nợ, ngươi nên nghĩ nghĩa thầy trò, đến bấy giờ phải cứu cho ta.\n[59]\nĐến khi Đạo-Hạnh hoá rồi, Minh-Không trở về quê nhà, cầy cấy làm ăn, trụ trì hơn 20 năm, không cầu tiếng tăm với đời.\nNăm Thiên-chương-bảo-tự thứ tư đời vua Thần-tôn (1136), vua bỗng sinh ra bệnh kỳ-dị, thuốc chữa thế nào cũng không khỏi. Tinh thần phiền loạn, tiếng gào thét kinh người (tục truyền vua hoá hổ). Các thầy thuốc, có hàng nghìn muôn người, nhưng không ai biết chữa ra cách làm sao.\nMinh-Không nghe tin làm vậy, mới chống gậy đến chỗ trẻ con chơi, cho chúng nó ăn quà và dạy chúng nó hát rằng:\n- “\n*Tập tành vông, có ông Nguyễn-minh-Không, chữa được Hoàng-thái-tử*.”\nDần dần đám trẻ nào cũng hát câu ấy, tiếng đến tại triều-đình. Triều-đình sai sứ đi hỏi thăm mà tìm được Minh-Không. Minh-Không thấy sứ-giả đến triệu mình, mới thổi một nồi cơm con, cho bọn chở thuyền cùng ăn.\nSứ-giả nói rằng:\n- Bọn chở thuyền đông lắm, có một niêu cơm con thế kia, thì ăn làm sao?\nMinh-Không nói:\n- Hãy cứ ăn đi, lúc nào thiếu sẽ hay.\nMinh-Không mới sai dỡ cơm ra rá, thì càng dỡ càng nhiều, hàng mấy trăm người ăn uống mà cũng không hết. Chúng cùng ngạc nhiên lấy làm lạ. Đến lúc ăn xong, Minh-Không bảo các quân chở thuyền rằng:\n- Các anh hãy ngủ đi một lát, đợi lúc nào có nước thuỷ-triều lên sẽ đi.\nChúng nghe nhời, nằm ngủ cả trong thuyền, một lát tỉnh dậy thì thuyền đã ngược đến Kinh-đô rồi, ai nấy mừng rỡ cho là phép tài.\nMinh-Không đến Kinh, các thầy thuốc cùng các thầy phù-thuỷ đang túc chực cả trên điện, mỗi người dùng một cách chữa bệnh cho vua mà vẫn chưa thầy nào kiến hiệu. Trông thấy Minh-Không đến, ăn mặc quê mùa cộc kệch, chúng ai cũng khinh bỉ, không thèm chào hỏi đến. Minh-Không lấy một cái đanh dài 5,6 tấc, đóng lên trên cây cột, nói to lên rằng:\n- Hễ ai rút được cái đanh này ra, thì mới chữa được bệnh hoàng-đế.\nNói hai, ba câu, không ai thèm trả nhời, Minh-Không mới lấy hai ngón tay trái sẽ nhổ ra, cái đanh ấy bật ngay ra ngoài.\nMinh-Không đến trước mặt vua, thét to lên rằng:\n- Đại-trượng-phu đã phú quí mà làm đến thiên-tử, sao lại còn cuồng loạn như thế?\nVua sợ hãi run lật đật, Minh-Không sai lấy cái vạc to, đổ nước hoà thuốc vào đun lên, đun sôi một trăm giạo, Minh-Không lấy tay khoắng vào trong vạc thuốc hai ba lượt rồi múc ra tắm cho vua, tắm xong thì vua khỏi bệnh.\n[60]\nVua khỏi rồi, phong Minh-Không làm quốc-sư, thưởng cho vài trăm nóc nhà, cho lấy thuế mà ăn.\nĐến năm Đại-Định thứ hai Minh-Không mất, bấy giờ đã bẩy mươi sáu tuổi. Minh-Không mất rồi thiêng lắm, nhiều sự hiển-linh. Phàm dân xã cầu mưa đảo nắng rất nghiệm. Các chùa ở huyện Giao-thuỷ, huyện Phả-lại, có tô tượng Minh-Không để thờ cả.\nLúc nhà Lê trung-hưng, việc binh cách mới yên, sinh lắm yêu quái, dân gian khổ sở. Bấy giờ có người ở làng An-động, huyện Quảng-xương, tỉnh Thanh-hoá, tên là Trần-Lộc, có phép phù-thuỷ. Một bữa, Trần-Lộc đi qua trái núi Na-sơn, đang lúc mùa hè nắng nực mới nghỉ mát ở dưới rặng tre. Sực ngẩng đầu trông lên trên núi, thấy có một ông cụ già, đầu bạc phơ phơ, đang đứng dựa cạnh sườn đá ngóng xem rừng rú, rồi cầm nón vẫy Trần-Lộc lên.\nTrần-Lộc sắn áo trèo lên, chiều tối mới đến đỉnh núi, cúi đầu lạy ông cụ ấy.\nÔng cụ ấy bảo rằng:\n- Bụng thầy mến đạo lắm, giời cũng chứng cho rồi, sai ta xuống cho thầy mấy bài quyết đây.\nNói đoạn, giao cho ấn quyết, rồi lại ghé vào tai dặn rằng:\n- Đây là phép phật Thượng-phương đây, nên nhận lấy mà phải siêng năng tế độ cho đời.\nNói xong thì biến. Trần-Lộc ngẩng lên giời lạy tạ rồi trở về. Từ đấy thí nghiệm phù phép nổi tiếng cao tay bùa bèn. Mới tự xưng mình là Phật-tổ như-lai; hai con gọi là tả-hữu-tôn-thánh; học trò nhớn gọi là tiền-quân-tôn-thánh; học trò khác gọi là bồ-tát, kim-cương, minh-sư, chia làm ba hạng; thượng-thừa, trung-thừa, hạ-thừa.\nTrần-Lộc nghe tin ở núi Mỏ-diều (thuộc về Ninh-bình) có con yêu tinh, thường hại những người đi đường, mới đến núi ấy để trừ nó. Con yêu ăn mặc ra dáng con gái trong cung, giữ trên đầu núi để cự nhau với Tổ-sư ba ngày. Tổ-sư giận lắm bắt một cái quyết Bài-sơn, sạt một góc núi. Con yêu hoá ra con quạ, bay lên trên giời, Tổ-sư lại bắt luôn mấy cái quyết bắn theo, con yêu tinh phải quyết, sa xuống đất chết.\nLại ở nước ta về mặt tây-nam có 12 cửa bể, mỗi cửa bể có một thần sông, chỗ nước cồn như núi rồi đổ xuống, thuyền bè đi qua hại nhiều. Tổ-sư sai học-trò bắn chết chín thần sông, còn sót ba thần chưa trừ xong, xảy có việc phải vào coi Sùng-sơn, mới bỏ sót lại.\nBấy giờ vua Thần-tôn phải bệnh kì quái, có người cho là nhân quả kiếp sau vua Lý Thần-tôn, các quan lấy làm lo lắng. Đại-nguyên-suý là Thanh-vương đã phải xin ngài nhường ngôi cho thái-tử, để ở riêng một cung mà trị bệnh. Vài năm không thuốc nào khỏi. Nghe tin Tổ-sư cao tay phù chú, sai sứ đón ra để trị bệnh. Tổ-sư vì tây-nam có nhiều yêu khí, không thể đi được, sai học trò là Pháp-hộ-kim-cương đi thay. Kim-cương vào cung, vỗ ngực niệm chú, hơn một tháng thì Thượng-hoàng khỏi bệnh, mới cho lập riêng một trường nội-đạo, để cho vinh hiển.\nKim-cương trở về, đi qua làng Bố-vệ, trong làng đang họp uống rượu. Kim-cương vô ý, đứng tiểu-tiện ngay trước cửa đình, bị tuần làng ấy bắt trói lại, van vỉ mãi mới được tha. Kim-cương trở đi, ngảnh lại bắt một cái phộc-quyết, tự dưng già trẻ ở trong đình, ôm cả vào cột, như người bị trói, giằng gỡ ra thế nào cũng không được. Cả làng kinh hãi, đuổi theo tìm Kim-cương nhưng không thấy đâu.\nViệc ấy đến tai vua, vua biết là tự Kim-cương, sai người vào nói với Tổ-sư. Tổ-sư bắt Kim-cương phải giải cái quyết ấy rồi thu cả lấy các pháp bảo của Kim-cương học được, chỉ cho vài quyết trừ tà mà thôi.\nĐạo nội-trường mới có từ đấy.\n\nNgô-Soạn tự là Tử-văn, người huyện An-dũng, phủ Lạng-thương, có khí khái cương trực ghét kẻ gian phi, người ta thường khen là người có thẳng tính.\nCạnh làng ấy có một cái đền, xưa nay linh ứng lắm. Tự khi cuối nhà Hồ, quân Tàu sang xâm chiếm, ở xứ ấy làm nơi chiến -trường. Có tên bộ-tướng của Mộc-Thạch là Thôi bách-hộ chết trận ở đây thành ra yêu quái, dân gian lắm người khuynh gia bại sản để cầu cúng mà không yên.\nNgô Tử-Văn thấy vậy tức lắm, tắm gội khấn trời mà đốt cái đền ấy, Tử-Văn đốt xong trở về, nghe trong mình hơi khác, rồi thì rùng mình rức đầu, nổi cơn sốt rét mà người thì mê mẫn bàng hoàng. Trông thấy một người to lớn lực lưỡng, đội mũ mặc áo, ra dáng người Tàu, tự xưng là Cư-sĩ, bắt phải làm đền lại miếu khác, không có thì sinh vạ.\nTử-Văn không nói làm sao, cứ ngồi nghiễm nhiên như không. Người Tàu nói rằng:\n- Phong-đô (âm-ti địa-ngục) chẳng xa gì đâu, nếu không làm lại đền cho ta, ta sẽ lôi ngươi đến ngục ấy.\nNói đoạn đứng phắt đi ra.\nChiều hôm ấy Tử-Văn lại thấy một người áo vải mũ thâm, cách điệu khoan hoà, đi từ từ vào trong thềm, chào nói rằng:\n- Tôi là Cư-sĩ đây, nghe ông làm được việc sướng quá, nên tôi đến mừng.\nTử-Văn ngạc nhiên nói rằng:\n- Mới rồi người mặc áo khách, tự xưng là Cư-sĩ, có phải là thần thổ địa này không? Sao bây giờ cụ lại xưng là Cư-sĩ?\nÔng cụ ấy nói rằng:\n- Hắn là tướng bại trận ở bên Tàu, hồn nhờ gửi bên nước Nam ta, chiếm lấy đền miếu của tôi mạo tên họ tôi, gian giảo độc ác, trên thì man cả giời, dưới ngược với dân, phàm các sự yêu quái là tự hắn cả, chớ không phải tôi làm điều gì. Tôi là Ngự-sử đời vua Lý Nam-đế, chết vì việc nước, được phong ở đây, giúp dân hộ chúng, đã hơn nghìn năm nay, có điều gì hung dữ như nó đâu. Vì tôi hở cơ không giữ gìn, bị nó đánh đuổi đi, hiện tôi phải nương nhờ ở đền thần Tản-viên đã mấy năm nay rồi.\nTử-Văn nói:\n- Nếu như thế sao không kêu với Thiên-đình, mà chịu bỏ chức vị đi nhờ chỗ khác?\nÔng già nói:\n- Thế lực nó lai láng, khó lòng lay động được nó. Tôi muốn đi kêu, thì nó dùng trăm chiêu ngăn trở lại. Các thần từ bên cạnh, tham của đút lót, tranh nhau đi nhận cho nó, bụng tôi không tỏ giãi được lên, cho nên phải nhịn nhục thế này.\nTử-Văn hỏi:\n- Nó hung dữ như thế, có hại được tôi không?\nÔng già nói:\n- Nó đang muốn cam tâm với ông, thế nào nó cũng kiện ở dưới âm-ti. Tôi xin dò truyện nó, lại bảo cho ông biết mà tìm phương lo liệu, kẻo mà chết oan. Khi nào âm-ti có tra hỏi, thì ông cứ lấy nhời tôi làm chứng, nó có không chịu, thì xin hỏi đến đền Tản-viên, như thế thì không cãi được nữa.\nTử-Văn vâng nhời. Đến đêm, bệnh lại nặng thêm, mơ thấy hai tên quỉ-sứ, bắt điệu đem đến một dinh phủ nhớn, ngoài có tường sắt cao chừng vài mươi trượng. Hai tên quỉ-sứ vào bẩm, rồi ra bảo rằng: “\n*Tội anh nặng lắm, không có phép nào tha được*.” Nói xong, vẫy tay xua sang mặt bắc. Mặt ấy có con sông to, trên sông bắc một dịp cầu dài, ước hơn nghìn độ, sông đen như mực, mùi gió tanh hôi, khí lạnh buốt đến tận xương. Hai bên cầu có vài vạn quân dạ-xoa, mắt xanh tóc đỏ, mặt mũi dữ dội. Hai tên quỉ-sứ lấy trạc to trói Tử-Văn, điệu ra đường ấy.\nTử-Văn kêu to lên rằng:\n- Tôi là người thẳng tính trên dương-gian, có tội lỗi gì, xin bảo cho biết, không nên bắt oan uổng thế này.\nSực nghe trên điện có tiếng truyền rằng:\n- Thằng ấy nó cứng cổ lắm, nếu không phân đoán cho rõ tội, thì sao nó chịu? Vậy thì hãy đem nó vào đây.\nHai tên quỉ-sứ mới dẫn Tử-Văn vào cửa phủ, thì đã thấy người mặc áo khách đang kêu ở ngoài sân.\nDiêm-vương quở mắng Tử-Văn rằng:\n- Cư-sĩ kia hắn là người trung-thần đời trước, có công với nước, Thượng-đế phong cho hắn được hưởng cúng tế ở một phương. Mày là thằng học-trò, sao dám ngạo ngược mà đốt đền của hắn? Thế là mày làm nên tội, còn cãi được nữa không?\nTử-Văn kể rõ lại sự đầu đuôi như nhời ông già nói trước, rạch ròi minh bạch, không có lúng túng câu nào.\nNgười khách đứng nguyên đơn kêu rằng:\n- Nó trốn ở vương-phủ này, mà còn nỏ mồm cãi cọ, gây sự phao vu, huống chi một cái đền hoang của tôi, thì nó còn sợ gì mà chẳng đốt?\nTử-Văn lại kêu lên rằng:\n- Đại-vương nếu không tin nhời tôi, xin hỏi đến thần Tản-viên thì đủ biết hư thực. Tôi nhược bằng nói sai, xin cam chịu tội.\nNgười khách thấy viện chứng đã có ý sợ, mới quì xuống tâu rằng:\n- Thư-sinh kia thực là ngây dại, tội là đáng lắm, nhưng điện-hạ đã quở mắng nó, cũng đủ răn nó rồi, vậy xin ngài rộng lòng cho nó, để tỏ cái lượng nhân từ của ngài, bất tất phải tra cứu cùng kiệt làm gì nữa.\nDiêm-vương nghe nói, biết ý, mới quát lên rằng:\n- Nếu như thế thì tội tại mày rồi đó, luật gian dối còn đủ cả đây, sao mày dám xuất nhập nhận tội?\nLập tức sai người đến núi Tản-viên, xét hỏi tường tận, quả hợp hết cả nhời Tử-Văn.\nDiêm-vương giận lắm, bảo các phán-quan rằng:\n- Các người chia giữ các toà, mỗi người coi một việc, nên phải cầm lòng công bình, thưởng phạt cho đích đáng. Thế mà sao còn để cho bọn gian giảo nó khi trá được? Ấy là ở đây còn thế, huống chi đời Hán, Đường, bán quan mua tước, cái tệ còn nói làm sao cho xiết!\nLập tức sai lấy gông sắt đóng gông và lấy miếng gỗ tròn nhét vào miệng người khách, áp điệu vào ngục cửu-u, mà Tử-Văn thì sai tha cho về.\nDiêm-vương bảo với Cư-sĩ rằng:\n- Tử-Văn kia nó có công trừ hại cho dân, phàm các đồ cúng tế mùng năm ngày tết, ngươi nên xẻ một nửa mà chia cho hắn.\nTử-Văn về đến nhà, thì chết đã hai ngày rồi mới hồi lại. Tử-Văn kể truyện ấy cho người làng biết, người làng mua gỗ chữa lại đền Cư-sĩ. Mà ngôi mả của người khách, tự nhiên trụt đất, xương cốt bật cả lên trên.\nSau một tháng nữa, Tử-Văn lại mơ thấy Cư-sĩ bảo rằng:\n- Lão phu được về miếu cũ, là công của ông cả, không biết lấy gì mà báo được ơn ấy. Hiện nay đền Tản-viên còn khuyết một viên phán-quan, tôi hết sức để bầu cử ông vào chức ấy. Diêm-vương đã ưng cho rồi, xin đem việc ấy để báo cái ơn trước. Người ở đời xưa nay ai chẳng chết, nhưng chết mà tỏ được cái tiếng là hơn, vậy xin ông để lòng cho, nếu chậm nửa tháng nữa thì có người tranh mất đấy.\nTử-Văn mừng rỡ nhận nhời, dặn hết công việc cửa nhà, rồi tự nhiên vô bệnh mà mất.\nVề sau, người huyện Đông-quan biết Tử-Văn, một buổi sớm gặp khi mưa rầm, trông thấy quân quan trẩy đi đông lắm, mà có tiếng quát tháo dẹp đường để quan phán quan đi. Trông lên trên xe thì là Tử-Văn, Tử-Văn cũng chắp tay có ý chào hỏi, nhưng không ai nói câu gì, cứ đi ào ào như gió.\nĐến giờ con cháu nhà ấy, vẫn còn sự tích truyền lại.\nTừ-Đạt người ở Khoái-châu (Hưng-yên), làm quan ở huyện Đông-quan. Gần đấy có quan Thiêm-thư là Phùng-lập-Ngôn. Hai người đi lại chơi bời với nhau thân thiết lắm. Phùng có con giai tên là Trọng-Quì, Từ có con gái tên là Nhị-Khanh, hai bên giai tài gái sắc, tốt lứa đẹp duyên, mới kết duyên Châu Trần với nhau.\nNhị-Khanh tuy còn ít tuổi, nhưng về làm dâu nhà họ Phùng, hiền hậu hoà thuận, ai cũng khen là người nết na. Trọng-Quì tính hay chơi bời, nàng kia khuyên ngăn mãi không được.\nNăm sau, gặp khi ở tỉnh Nghệ lắm giặc cướp, triều-đình cần một quan cai-trị giỏi để bổ vào. Các đình-thần gét Phùng-lập-Ngôn là người thẳng tính, có ý muốn hại ngầm, mới cử Lập-Ngôn vào chức ấy.\nLập-Ngôn sắp đáo lị, bảo với Nhị-Khanh rằng:\n- Đường đất xa xôi, ta không muốn cho con đi theo, vậy thì con hãy tạm ở nhà, đợi khi nào giời đất bình tĩnh, thì sẽ cho con về với chồng con.\nTrọng-Quì thấy vợ không đi, có ý ngần ngại, cũng muốn ở nhà. Nhị-Khanh bảo rằng:\n- Nay nghiêm-đường vì nói thẳng mà người ta ghét, tuy cất vào chỗ quan sang, mà kì thực đưa vào nơi đất chết. Muôn dặm ba đào, hai thân mưa nắng, chàng không đi thì ai là kẻ sớm trưa hầu hạ? Vậy thì chàng phải đi theo, chớ có vì tôi mà bỏ mất đạo hiếu.\nTrọng-Quì bất đắc dĩ phải theo cha mẹ về Nghệ, để Nhị-Khanh ở tại Đông-quan. Không được bao lâu, cha mẹ đẻ của nàng Nhị-Khanh mất cả. Nhị-Khanh đem mả về táng ở phủ Khoái, rồi thì ở nương nhờ với người bà cô họ là Lưu-thị.\nBấy giờ có người quan võ họ Bạch, nguyên là cháu ngoại Lưu-thị, thấy nàng Nhị-Khanh có nhan sắc, muốn lấy làm vợ, nói với Lưu-thị để dỗ hỏi nàng Nhị-Khanh.\nNhị-Khanh nghe tình sợ hãi lắm, bảo riêng người vú già rằng:\n- Ta còn nhẫn nhục đến giờ, là vì vướng có chàng họ Phùng còn đó, nếu không còn thì ta chết theo rồi, chứ không khi nào ta mặc áo xiêm của chồng ta, mà đi làm đỏm cho người khác, mụ ở nhà ta đã lâu, nên nhớ ân tình chủ cũ, vào Nghệ hỏi thăm gọi về cho ta.\nNgười vú vâng nhời. Bấy giờ đang lúc loạn lạc đường sá khó khăn, mụ ấy cố sức tìm vào đến Nghệ, hỏi thăm thì ai cũng nói rằng: “\n*Quan Tuyên-phủ Lập-Ngôn đã mất rồi, gặp phải con giai chơi bời, cửa nhà sa sút mất cả*.” Người vú đi đường, gặp Trọng-Quì ở trong chợ. Trọng-Quì đem về chỗ ở, thì chỉ còn một túp nhà gianh, bốn bề bỏ trống, mà đồ đạc chỉ còn cái bàn cờ, bộ ấm chén uống rượu, và con gà chọi con chó săn mà thôi.\nTrọng-Quì bảo người vú rằng:\n- Ta vì đường xá xa xôi không sao về được, tuy ở chỗ này, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nhà.\nNgười vú cũng nói cả truyện đầu đuôi ở nhà. Trọng-Quì mới định ngày về. Khi về đến nhà, hai vợ chồng li biệt lâu ngày, nay lại xum họp, ân ái biết là đường nào. Nhưng Trọng-Quì đã quen thói chơi bời với người lái buôn là Đỗ-Tam. Trọng-Quì thì tham của nhà Đỗ-Tam. Đỗ-Tam thì tham nhan sắc của vợ Trọng-Quì, mới rủ nhau rượu chè cờ bạc, định lừa lẫn nhau.\nTrọng-Quì đánh bạc thường hay được. Nhị-Khanh can rằng:\n- Lái buôn tính hay lừa lọc, chớ nên chơi bời với hắn nữa, bây giờ tuy được của nó, rồi sau cũng thua hết với nó mà thôi.\nTrọng-Quì không nghe. Một hôm, Đỗ-Tam họp bạn đánh bạc, bỏ ra trăm vạn quan tiền. Trọng-Quì muốn vay. Đỗ-Tam bắt phải viết giấy lấy nàng Nhị-Khanh làm cuộc. Trọng-Quì quen mui hay được, tưởng chừng chẳng đến nỗi thua nào, mới viết giấy cam kết với Đỗ-Tam. Uống rượu rồi đánh bạc. Trọng-Quì thua luôn ba tiếng, hết sạch cả tiền, gọi vợ đến bảo rằng:\n- Tôi vì nghèo ngặt, phải lụy đến nàng, nay đã trót nhỡ thế này, dù hối lại cũng không kịp. Thôi nàng hãy ở lại đây với ông ấy, không mấy bữa tôi sẽ đem tiền đến chuộc.\nNhị-Khanh biết thân không khỏi được về tay nó, mới nói rằng:\n- Bỏ chỗ nghèo theo chỗ giầu, thiếp còn ngại gì, mà cũng là duyên giời tiền định, ví dù chàng mà có bụng yêu đến thiếp, thì thiếp cũng xin hầu hạ chăn đệm như ở với chồng trước. Nhưng thiếp hãy xin một chén rượu, để biệt chồng cũ, và về nhà từ giã với con một đôi nhời.\nĐỗ-Tam mừng lắm, sai rót vài chén rượu đưa cho uống, rồi về nhà ôm hai con ra vỗ vào lưng mà bảo rằng:\n- Cha con bạc tình, không nương tựa được vào đâu, thôi thì các con ở lại với cha con, mẹ không mặt mũi nào bỏ con mà đi với người khác nữa.\nNói rồi tự vẫn. Đỗ-Tam chờ mãi không thấy đến, cho người gọi thì nàng ấy đã chết rồi. Trọng-Quì thương tiếc vô cùng, từ bấy giờ mới ăn năn, chừa chơi bời, nhưng sinh lý mỗi ngày một kém, sớm tối nhờ người, nhân có người bạn cũ làm quan ở Qui-hoá, mới đem con sang đấy để nương nhờ. Đi đến nửa đường, mỏi mệt lắm, nghỉ ở dưới gốc cây bàng, bỗng nghe có tiếng trên không gọi rằng:\n- Có phải chàng Phùng đấy không? Nếu chàng còn nhớ ân tình cũ, thì đến ngày ấy tháng ấy chờ tôi trong đền bà Trưng-vương chớ coi u minh là khác.\nTrọng-Quì nghe rõ rằng tiếng nàng Nhị-Khanh, ngẩng lên trông thì chỉ thấy đám mây đen bay về phương bắc. Trọng-Quì nghĩ lấy làm lạ, y hẹn đến ngày vào đền. Khi đến nơi thì bóng chiều đã xế, phong cảnh đìu hiu, chỉ có tiếng chim kêu ríu rít trên cây cổ thụ, tình cảnh buồn rầu, muốn về thì giời đã tối, mới nằm nghỉ trong nhà tả-mạc. Cuối canh ba, nghe ti tỉ có tiếng khóc, trước còn xa sau đến gần, trông mập mờ thấy rõ mặt, thì chính là nàng Nhị-Khanh.\nNhị-Khanh bảo Trọng-Quì rằng:\n- Từ khi thiếp mất đi, Thượng-đế thương tình, cho giữ riêng một đền, coi về việc tấu sớ, không lúc nào rỗi mà thăm được chàng. Bữa trước nhân có việc đi làm mưa, xảy gặp chàng cho nên gọi lại mà hẹn, nếu không có dịp ấy thì không bao giờ được gặp nhau.\nTrọng-Quì hỏi:\n- Nàng hẹn tôi đến đây có việc gì vậy?\nNhị-Khanh nói:\n- Thiếp thường được hầu cạnh Ngọc-Hoàng có nghe các tiên nói chuyện rằng: “\n*Vận nhà Hồ đã hết, đến năm Bính-tuất có việc binh đao, chết hại hơn 20 vạn người, ai mà không vun giồng cây đức, thì sợ mắc vào nạn ấy. Bao giờ có chân nhân họ Lê khởi lên thì mới yên*.” Vậy chàng cố dạy hai con, phải vững lòng mà theo ông ấy, thì thiếp chết cũng được cái tiếng về sau.\nHai vợ chồng truyện trò đến gần sáng mới biệt. Trọng-Quì từ khi ấy hết sức dạy bảo hai con, cho đến lúc thành người. Đến khi vua Thái-tổ khởi nghĩa trong Lam-sơn, hai con mộ quân vào theo, về sau cũng làm đến Thị-nội, bây giờ ở phủ Khoái, con cháu nhà ấy vẫn còn thịnh.\nNgười làng Tả-Ao, huyện Nghi-xuân, tỉnh Nghệ-an, tên là Nguyên-đức-Huyền (có bản nói là Hoàng-Chỉ). Nhân tên làng, cho nên tục gọi là Tả-Ao. Lúc còn trẻ nhà nghèo lắm, mẹ phải bệnh loà mắt, Tả-Ao mới theo người khách buôn ở phố Phù-thạch về Tàu, để lấy thuốc chữa mắt cho mẹ. Thầy thuốc khen là người có hiếu, mới dạy cho phép làm thuốc. Học thành nghề mới trở về, xảy có một thày địa lý chính tông đau mắt, sai người mời thầy thuốc đến chữa, thầy thuốc già yếu không đi được, mới sai Tả-Ao đi chữa thay. Thầy địa-lý khỏi đau mắt, thấy Tả-Ao có ý tứ khôn dễ dạy, và cảm cái ơn chữa khỏi cho mình, mới truyền cho Tả-Ao phép làm địa lý, Tả-Ao học hơn một năm đã giỏi, thầy địa muốn thử xem sức học làm sao, đổ cát làm ra hình sông núi, rồi yểm 100 đồng tiền xuống dưới cát, và cho Tả-Ao 100 cái kim, sai tìm huyệt mà cắm kim vào lỗ đồng tiền.\nTả-Ao xem các huyệt, cắm trúng 99 cái kim vào 99 lỗ đồng tiền, chỉ sai mất một cái cắm ra ngoài.\nThầy địa-lý nói rằng:\n- Nghề ta sang phương Nam mất rồi!\nMới cho Tả-Ao một cái tróc-long và các câu thần-chú hô thần để cho về nước Nam. Tả-Ao vâng lời từ về; về đến nhà thì mẹ vẫn còn mạnh, mới chữa thuốc cho mẹ khỏi loà.\nMột khi đi qua núi Hồng-lĩnh, trông lên xem, thấy có kiểu đất “\n*Cửu-long tranh-châu*”, mừng mà nói rằng:\n- Huyệt đế-vương ở đây rồi!\nLập tức nhổ ngôi mộ của cha, cất vào huyệt trên núi. Không bao lâu, sinh được một đứa con giai. Người Tàu xem thiên-văn, thấy các vì sao chầu cả về phương Nam, biết là người nước Nam được đất. Chính-phủ Tàu truyền cho các nhà địa-lý, ai để đất cho người An-nam, thì phải sang nước Nam dùng thuật mà phá đi, nếu không thì chu di cả ba họ.\nThầy địa-lý trước, biết chắc là ông Tả-Ao được đất mới sai con sang tìm đến nhà Tả-Ao, lập mưu mà triệt đi.\nNgười ấy tìm đến nơi, vào chơi nhà mà bảo rằng:\n- Từ khi đại huynh ở Tàu về, đã cất được ngôi tiên phần nào chưa?\nTả-Ao nói thực cả truyện trước. Con thầy Tàu mới dùng mẹo đào lấy ngôi mộ ấy, mà bắt đứa con của Tả-Ao đem về Tàu.\nĐược ít lâu, mẹ Tả-Ao mất. Tả-Ao tìm một ngôi đất ở bãi bể, kén ngày kén giờ để hạ huyệt. Đến giờ sóng gió ầm ầm, người anh Tả-Ao giữ áo quan của mẹ, không cho hạ xuống, một lát sóng gió yên thì ở đấy nổi lên thành bãi rồi.\nTả-Ao than rằng:\n- Đây là hàm rồng đây, cứ 500 năm mới há miệng ra một lần, mà há chỉ trong một lát mà thôi. Bây giờ đã ngậm lại rồi, còn táng làm sao được nữa. Giời không cho thì chỉ uổng mất công ta mà thôi.\nTự bấy giờ Tả-Ao không chịu làm ăn gì cả, chỉ lang thang đi làm đất cho người ta, một bữa đi xem xét đất đến làng Bút-sơn, huyện Hoằng-hóa, thấy có một huyệt đất hay, bèn bảo người ta rằng: “\n*Có ngôi đất, táng giờ Dần đến giờ Mão thì phát, nếu ai táng ngôi ấy tất được của, hễ ai chịu nhường cho ta một phần chia mười, thì ta cho ngôi đất ấy*.” Có một người xin táng, Tả-Ao đặn đến sáng sớm mai thì cất. Táng xong mặt trời mới mọc. Người ấy vác cuốc ra rửa chân ngoài sông, thấy có một người chết trôi, nhân thể có cuốc, mới vớt lên chôn cho xác ấy, thấy trong bọc người chết có hai túi bạc, mở ra đếm thì được 50 nén, mới biết Tả-Ao là tài.\nKhi đến huyện Thanh-liêm lại tìm được một ngôi, bảo người ta rằng: “\n*Đây có ngôi đất, chỉ táng trong một tháng thì phát quận-công, nếu ai cho ta 100 quan tiền, thì ta táng cho*.” Có một ông nhà giầu xin táng. Bấy giờ chúa Trịnh đang đánh nhau với nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Mạc-kinh-Độ thua trận ở huyện Kim-bảng chạy chốn. Chúa Trịnh giao ai bắt được thì thưởng cho làm quận-công một đời. Ông nhà giầu ấy táng được 20 ngày rồi. Bỗng một hôm thấy có một người vào nhà bảo rằng: “ *Ta là Mạc-kinh-Độ đây, cho ta đánh một bữa chén, ta sẽ làm ơn mà cho đem nộp lấy thưởng*.” Ông nhà giầu mừng rỡ, làm cơm thiết đãi. Mạc-kinh-Độ ăn uống xong, cho trói mình lại mà đem đến đồn Cầu-châu nộp cho chúa Trịnh. Chúa Trịnh lập tức thưởng cho làm quận-công. Người ấy được thưởng tạ Tả-Ao 100 quan tiền, Tả-Ao chỉ lấy 3 quan để ăn đường, rồi đi chỗ khác.\nTừ bấy giờ danh tiếng đồn khắp thiên-hạ. Tả-Ao đi chu-du bốn phương, phàm 20 năm giời. Đi qua các huyện Gia-bình, Từ-liêm, Đông-ngạo, Siêu-loại, Gia-lâm, táng cho nhà nào cũng được, nhớn thì làm đến Tiến-sĩ, Thượng-thư; nhỏ cũng làm nên giầu hùng trưởng. Kể ra nhiều lắm, không sao cho xiết.\nKhi đi qua làng Thiên-mỗ, thấy có một ngôi đất to, muốn táng hộ cho nhà họ Trần. Vừa đặt tróc-long xuống đất, tróc-long đổ ba lượt. Tả-Ao niệm phù-chú gọi Thổ-thần lên hỏi, thì thổ-thần nói rằng: “\n*Đất này phát ba đời quốc-sư đại-vương, con cháu công hầu không bao giờ hết. Giời đã để giành cho nhà Nguyễn-qui-Đức; còn nhà họ Trần kia ít hồng phúc, không kham nổi được đất này; nếu ông làm cưỡng của giời thì tất có vạ. Vả lại ông đi khắp thiên-hạ, làm phúc cho người ta đã nhiều, mà không được ngôi nào để táng cho cha mẹ, ông nên nghĩ thế thì biết*.” Vì thế, Tả-Ao từ bấy giờ không dám khinh thường để mả cho ai nữa.\nTả-Ao sinh được hai con giai, nhà thì nghèo mà làm đất không lấy tiền của ai, cho nên con cái thường không đủ bữa mà ăn. Khi đã già, tìm sẵn một ngôi đất sinh-phần cho mình, ở xứ đồng khoai, gọi là cách “\n*Nhất khuyển trục quần dương*” (Nghĩa là một con chó đuổi đàn dê). Nếu táng được ngôi ấy, thì chỉ ba ngày thành địa-tiên. Đến lúc phải bệnh, sai hai con khiêng mình ra đấy, toan phân kim lấy rồi nằm xuống cho chôn; nhưng đến nửa đường thì đã gần chết, không kịp đến được chỗ kia, mới trỏ một cái gò bên cạnh đường, dặn con rằng: “ *Chỗ kia là ngôi huyết-thực* (nghĩa là được hưởng người ta cúng tế), *bất-đắc-dĩ táng ngay ở đấy cũng xong*.”\nNói xong thì mất, bấy giờ mới 65 tuổi. Hai con đem táng vào gò ấy, quả nhiên về sau làm phúc-thần một làng.\nĐịa-lý xưa nay ở nước Nam, không ai giỏi bằng ông Tả-Ao, thế mà chỉ làm phúc cho người, đến mình thì không sao làm được, mà con cái thì vẫn nghèo khổ. Thế mới biết rằng câu tục-ngữ nói “\n*Tiên tích phúc nhi hậu tầm long*.”\nThị-Điểm người huyện Đường-hào, tỉnh Hải-dương,\n[61] em gái ông Tiến-sĩ Nguyễn-trác-Luân. Lúc lên 5,6 tuổi, học sách Hán-cao-tổ, anh có ra câu đố rằng:\n“\n*Bạch-xà đương đạo; Quí bạt kiếm nhi trảm chi*.”\nThị-Điểm đối rằng:\n“\n*Hoàng-long phụ chu; Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết*.” [62]\nAnh chịu câu ấy là tài, tự bấy giờ cho chuyên tập về nghề nghiên bút. Đến năm 15 tuổi, văn chương đã giỏi lắm. Một khi ngồi trước cửa sổ soi gương, anh ra câu đối rằng:\n“\n*Đối kính hoạ mi; Nhất điểm phiên thành lưỡng điểm*.” [63]\nThị-Điểm ứng khẩu đối rằng:\n“\n*Lâm trì ngoạn nguyệt; Chích luân chuyển tác song luân*.” [64]\nThái-học-sinh là Đặng-trần-Côn nghe tiếng Thị-Điểm hay chữ, đưa thơ đến có ý muốn ghẹo.\nThị-Điểm xem thơ cười nói rằng:\n- Trẻ thơ mới học, thơ từ chẳng bõ ngứa tai!\nĐặng-trần-Côn tức giận trở về, cố công đi học, mới thành danh-sĩ.\nBấy giờ tiếng Thị-Điểm lừng lẫy chốn kinh-thành. Các học-trò hay chữ ai cũng muốn trêu ghẹo. Một hôm, có Nguyễn-huy-Kỳ ở Thụy-nguyên, Trần-danh-Tân ở Cổ-am, Nguyễn-bá-Cư ở Cổ-đô, Võ-Toại ở Thiên-lộc, bốn người ấy có tiếng hay chữ, người ta thường gọi là “\n*Tràng-an tứ hổ*” (nghĩa là bốn con hổ ở chỗ Tràng-an). Bốn người đến chơi tận nhà Thị-Điểm, muốn thử làm thơ với nhau.\nThị-Điểm ra câu đối rằng:\n“\n*Đình-tiền thiếu-nữ khuyến tân-lang*.” [65]\nBốn người không đối được, phải xấu hổ trở về.\nLại một khi Thị-Điểm đi thủng thẳng một mình, gặp quan Thượng-thư là Nguyễn-công-Hãng ở ngoài đường. Công-Hãng bắt Thị-Điểm vừa đi vừa ngâm một bài thơ “\n*Đi một mình*.”\nThị-Điểm ngâm ngay rằng:\n“\n*Đàm đạo cổ kim tâm phúc hữu*.” [66]\n“\n*Chu hàm tả hữu cổ quăng thần*.” [67]\nCông-Hãng khen hay hay, thưởng cho 10 quan tiền.\nTrong thời Long-đức (đời vua Thần-tôn nhà Lê) có sứ Tàu sang phong vương. Hoàng-thượng sai Thị-Điểm đứng chực ở ngoài cửa Đoan-môn. Thị-Điểm cố ý trêu ghẹo sứ-giả. Sứ-giả nói đùa một câu rằng:\n“\n*An-nam nhất thốn thổ; Bất tri kỉ nhân canh?*”\nThị-Điểm đối rằng:\n“\n*Bắc-quốc đại trượng-phu; Giai do thử đồ xuất!*”\nSứ-giả thẹn đỏ mặt rồi đi.\nThị-Điểm kén chồng kĩ lắm, không ai lấy được. Ngoài 20 tuổi, mới lấy lẽ quan Thượng-thư ở huyện Từ-liêm là Nguyễn-Kiều. Hai vợ chồng quí trọng nhau như vàng.\nThị-Điểm có làm ra bộ sách “\n*Tục-truyền kỳ*” lưu truyền ở đời. **CHUNG**.\n\nCover\n\n[1] Có bản cho người khách xui đeo thanh kiếm vào tai ngựa, rồi nước ở chỗ ấy soáy mạnh lắm, lâu ngày thanh kiếm cưa đứt cổ ngựa, cho nên mới bại. [2] Ở sử nói là bà mẹ ngài nằm mơ thấy giao cảm với thần núi Tiên-sơn, có mang sinh ra ngài. Ông sư chùa Cổ-pháp tên là Lý-khánh-Văn nuôi ngài làm con nuôi, cho nên theo về họ Lý. [3] Theo Thiều Chửu, chữ 根 đọc là “căn”. [QuocSan] [4] Truyện “Việt-lam Xuân-thu” có kể rõ các trận vua Lê Thái-tổ đánh quân Tàu. [5] Theo sách Gương xứ Nam, thì là Despiau. [6] Y-Doãn giúp vua Thái-giáp nhà Thương; Hoắc Quang giúp vua Chiêu-đế nhà Hán đều là ấu-chúa cả. [7] Truyện “Hưng-đạo vương” tiểu thuyết có kể rõ các trận đánh quân Tàu. [8] Hàn-Dũ đời nhà Đường, xin hủy tượng phật và đốt sách phật. [9] Thủy-hoàng chôn học-trò và đốt sách nho. [10] Quyển thi rọc tên ra, gọi là rọc phách. Đến lúc chấm văn xong lại dán tên lại gọi là hồi phách. [11] Nghĩa là cửa ải nhà Tần nghe tiếng gà gáy. Ngày xưa Mạnh-thường-Quân ở nước Tần trốn về Tề, ra đến cửa ải thì cửa ải còn đóng chưa mở. Lệ lính canh ải, hễ gà gáy thì mới mở cửa cho khách đi lại. Trong bọn đầy-tớ Mạnh-thường-Quân, có người giả làm gà gáy. Các gà canh đấy tưởng là giời sắp sáng, đua nhau gáy ầm cả lên, lính canh mới mở cửa, Mạnh-thường-Quân vì thế chạy được thoát. [12] Lúc ngài còn nhỏ, thường ngâm một câu rằng: “Giời chẳng già, đất chẳng già, năm hồ bảy miếu một mình ta.” Đến sau ngài đi kinh-lược xứ Sơn-nam, có bọn khách Tàu ở phố Hiến vào hầu, trông hình dáng ngài y như tượng thần Ngũ hồ bên Tàu. Nhân hỏi ngài sinh ra ngày tháng nào, thì quả nhiên trúng về ngày tháng Ngũ hồ có sự biến lạ, hiện còn ghi vào bia bảy miếu ở bên ấy, mới biết khi ấy là thần Ngũ hồ giáng sinh. [13] Nghĩa của chữ ngọc giấu đi một nét chấm, thò lên thì là chữ chúa, thụt xuống thì là chữ vương. Có ý khoe mình làm nổi vua chúa. [14] Nghĩa là chữ thổ cắt bỏ nửa nét ngang đi, phải thì là chữ thượng, trái thì là chữ hạ. Có ý chê kẻ kia phản nghịch. [15] Nghĩa là anh-hùng đời xưa nay hiếm có, công đức cho người ta được nhờ dài bằng với giời đất. [16] Nghĩa là chữ mâu (矛) mà không có phẩy (ノ) là chữ dư (予), chữ mịch (覓) mà bỏ chữ kiến (見) là chữ bất (不), chữ ái (愛) mà bỏ chữ tâm (心) là chữ thụ (受), chữ lai (來) ngang cùng chữ lực (力) là chữ sắc (勅). [17] Trịnh-hoài-Đức và Lê-quang-Định, Ngô-nhân-Lĩnh, là ba nhà làm thơ. [18] Quá ải chậm, người coi ải đóng ải, mời khách qua đường qua ải mà đi. [19] Ra đối dễ, làm lại đối khó, xin ông sinh trước đối trước đi cho. [20] Đang lúc nắng nẫu nực, thì như ông Y-Doãn, ông Chu-Công (ý là đắc dụng với thời). Đến khi mưa tuyết lạnh ngắt, thì như ông Bá-Di, ông Thúc-Tề (ý là xếp xó một chỗ). [21] Nắng chẩy vàng tan đá, giời đất như lò lửa, người về lúc ấy ví như Y, Chu hai ông quan to, gió bắc lạnh lẽo, mưa tuyết lấp đường, người về lúc ấy ví như Di, Tề hai người chết đói. Than ôi! Khi dùng đến thì ra, khi không dùng đến thì cất đi, chỉ ta với ngươi được thế thôi. [22] Chạm vào ngựa của ta cưỡi ấy là người Đông-di hay người Tây-di? [23] Chắn đường lừa của ta đi, thử xem người phương Nam khỏe hay là người phương Bắc khỏe?\nCâu ra thì dùng chữ sẵn ở sách Mạnh-tử, câu đối thì dùng chữ ở sách Trung-dung cho nên hay mà tài.\n[24] Chữ an (安) bỏ chữ nữ (女), chữ thỉ (豕) vào thì là chữ gia (家). [25] Chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), chữ vương (王) đến thì là chữ quốc (国). [Ngọc (玉) lai thì giống hơn. QuocSan] [26] Lửa mặt giời, khói đám mây, ngày trắng đốt tàn con thỏ ngọc. [27] Cung mặt nguyệt, đạn ngôi sao, chiều hôm bắn rụng cái ô vàng [28] Bốn chữ LI VỊ VÕNG LƯỠNG cùng có chữ QUỈ. [29] Bốn chữ CẦM SẮT TÌ BÀ mỗi chữ đều có hai chữ VƯƠNG thành tám. [30] Chim đậu cảnh đọc sách Luận-ngữ, có câu chi-tri… (Nghĩa là điều gì biết thì cho là biết, điều gì không biết thì cho là không biết). Có ý chê là tiếng nói như tiếng chim. [31] Ếch kêu trong ao học sách Mạnh-tử, có câu: Lạc dữ… (Nghĩa là nhạc cùng với nhiều người vui nhạc, cùng với ít người vui, thì đằng nào vui?) Có ý chê lại người Tàu nói như tiếng ếch. [32] Con rùa sông Lạc báo triệu tốt, số giời chín, số đất chín, chín chín thành tám mươi mốt số, số số hợp thành ba đạo nhớn, đạo hợp với Nguyên-thủy thiên-tôn, bởi một bụng thành cảm cách lên. [33] Con phụng núi kì trình điềm hay, tiếng đực sáu, tiếng cái sáu, sáu sáu thành ba mươi sáu tiếng, tiếng tiếng suốt đến chín từng giời, giời sinh ra Gia-tĩnh hoàng-đế, cho muôn tuổi thọ dài lâu mãi. [34] Một đám mây trên giời xanh, một giọt tuyết trong lò đỏ, một cành hoa vườn thượng-uyển, một vầng giăng ao Giao-trì. Than ôi! Mây rã, tuyết tan, hoa tàn, giăng khuyết. [35] Núi ấy có 72 ngọn, cây cối rườm rà u uất, mé tả là núi Kì-lân, mé hữu là núi Phụng-hoàng. Trên núi Phụng-hoàng có suối ngọt chảy ra thành nguồn, vòng quanh sườn núi chảy xuống đọng lại một chỗ, gọi là đầm Miết. Nước đầm ấy ngon lắm, rồi lại chảy quanh ra ngoài chân núi thông xuống sông. [36] Tục truyền bà ấy tức ông Văn-Định lên Sơn-tây lấy chồng khác, sinh ra ông Phùng-khắc-Khoan (tức ông Trạng-Bùng). [37] Ứng về sau nhà Lê khôi phục được nước. [38] Ứng về sau nhà Trịnh lại giữ quyền nhà Lê. [39] Nghĩa là chim phụng-hoàng làm tổ trên gác A-các, con Kì-lân ra chơi ở vườn Uyển-hựu, [40] a) Không phải con rùa ở sông Lạc-thủy.\nb) Không phải con rồng ở sông Mạnh-hà.\nc) Ấy kia nước Hữu-hùng (hùng nghĩa là con gấu).\nd) Đống đô ở gò Trác-lộc (lộc nghĩa là con hươu).\nCâu nào cũng có giống cầm thú cho nên hay.\n[41] Nghĩa là con vịt từ giã mẹ gà về hồ. [42] Nghĩa là: Tôi nghe quân-tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp. Có ý chê làm việc đê tiện. [43] Nghĩa là: Ta cốt có chức làm được Tể-tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nếu canh nhạt mặn tại tay, cũng như chức làm tướng. [44] Bài đủ tám câu nhưng tục truyền mất bốn câu dưới. [45] Xem truyện “Hưng-đạo vương” thì rõ sự tích. [46] Đỗ-thanh-Nhân, Chu-văn-Tiếp và Võ-Tính là ba kẻ hùng trong Gia-định. [47] Là nơi vua đi đóng quân ở đó. [48] Là võ tướng đời nhà Hán. [49] Là ngôi Thái-tử. [50] Trong bài thơ có câu kết: “Thử hồi nhược đắc sơn trung Tể, tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.” Nghĩa là: Hồi này nếu được Tể tướng trong núi, giúp ta kinh luân chuyển động cơ trời. [51] Là thổ-mục Cao-Bình, mộ binh theo Duyệt vào Gia-định, làm Phó-vệ-úy. [52] Là những thú-đinh ngoài Bắc, Duyệt mộ làm lính cơ ở Bắc-thuận. [53] Tục truyền đồ lễ: Voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao, và một chĩnh vàng cốm. [54] Gỗ ngổn ngang là hình chữ mộc 木. Chữ mão 卯, chữ khẩu 口 gia thêm chữ mộc, là chữ Liễu 柳 hạnh 杏. [55] Thủy 水 mã 馬 là chữ Phùng 馮; Dĩ 已 tẩu 走 là chữ khởi 起, ý là bảo họ Phùng khởi công. [56] Nghĩa là đền Quỳnh-hư, gác Giao-quang. [57] Hoàng-lương là kê vàng. Xưa có người nằm mộng làm quan phú-quí hơn 20 năm giời, lúc tỉnh dậy, nhà trọ vẫn chưa thổi chín nồi kê. [58] Tục truyền hai ông sang Tây-trúc học đạo, một hôm ông Đạo-Hạnh đội lốt hổ để loè ông Minh-Không. Ông Minh-Không biết ý, nói rằng: “Cầu được ước thấy có khó gì.” Cho nên khiếp sau phải bệnh hoá hổ. [59] Sử cho là Đạo-Hạnh để thuốc lại giao cho Minh-Không. [60] Tục truyền vua tắm xong thì bao nhiêu lông lốt hổ tuốt cả ra, vì thế mới khỏi bệnh. [61] Đăng-khoa-lục cho là người Bình-lao, huyện Cẩm-giàng, tỉnh Hải-dương. Tang-thương-lục cho là người Bắc-giang, chưa biết đích nhời nào là phải. [62] Hai câu cùng chữ sẵn mà chọi nhau từng chữ, cho nên tài. [63] Nghĩa là soi gương, vẽ lông mày, một nét hoá ra hai nét. Điểm là nét vẽ, lại là tên bà ấy, có ý một nàng Điểm hoá ra hai nàng Điểm nữa. [64] Nghĩa là cạnh sông xem bóng giăng, một vầng giống như hai vầng. Luân là vầng giăng, vừa là tên anh. Có ý một ông Luân thành ra hai ông Luân nữa. [65] Thiếu-nữ một nghĩa là gió, một nghĩa là con gái nhỏ.\nTân-lang một nghĩa là cau, một nghĩa là rể mới. Câu này nghĩa là: Trước sân gió động cây cau vì thêm ý con gái nhỏ mời rể mới ăn giầu, cho nên khó đổi.\n[66] Bàn bạc truyện xưa nay, có người lòng ruột. [67] Chung quanh bên tả hữu, có bề tôi chân tay. Hai câu chững chạc, mà rõ là tình cảnh đi một mình.", "file": "books_text_final/ebooks.epub_34419.txt"}